1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận những khó khăn về đảm bảo nguồn nguyên liệu cho liên doanh vrec

17 323 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 860,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Meiwa Corporation là công ty thương mại hoạt động trên nhiều lĩnh vực, bao gồm: khoáng sản, hóa chất, cao su và chất dẻo, thiết bị sản xuất, dầu khí, thực phẩm… Thị trường chính của công

Trang 1

KHOA QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP

MÔN HỌC KINH DOANH QUỐC TẾ (2012 – 2013)

BÀI TẬP NHÓM 7

Gvhd: Ts Vũ Thế Dũng

NHỮNG KHÓ KHĂN VỀ ĐẢM BẢO NGUỒN NGUYÊN LIỆU CHO LIÊN

DOANH VREC

THÀNH VIÊN NHÓM 7:

1.Nguyễn Hoàng Hà 2.Nguyễn Kim Ngân 3.Lê Ánh Vân

4 Đỗ Trần Thanh

5 Trần Duy Khánh 6.Đặng Hồng Phong 7.Trần Thị Tuyết 8.Nguyễn Thị Thùy Trinh

9 Nguyễn Xuân Thuận 10.Đồng Văn Hoàng Ân 11.Nguyễn Hữu Vinh 12.Trần Bảo Anh

Ngày cập nhật: 12/12/2012

Trang 2

2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: THÔNG TIN CHUNG VỀ LIÊN DOANH VREC VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY CHẾ BIẾN SÂU QUẶNG ZIRCONIUM (1 LOẠI TITAN) THÀNH ZIRCONIUM

OXID CHLORUR (ZOC) TẠI VIỆT NAM 3

1.1 Giới thiệu dự án: 3

1.2 Giới thiệu công ty Meiwa Corporation (gọi tắt là Meiwa): 5

1.3 Giới thiệu công ty Daiichi Kigenso Kagaku Kogyo Corporation (gọi tắt là DKK): 5

1.4 Nhu cầu liên doanh và phát triển của Meiwa – DKK tại Việt Nam: 6

CHƯƠNG 2: NHỮNG KHÓ KHĂN VỀ ĐẢM BẢO NGUỒN NGUYÊN LIỆU CHO LIÊN DOANH VREC 7

2.1 Số liệu khảo sát công bố có mức độ tin cậy không cao: 7

2.2 Thị trường bị chi phối, kiểm soát và lệ thuộc hoàn toàn vào các thương nhân Trung Quốc: 9

2.3 Tình trạng quy hoạch khai thác, cấp phép và kiểm soát không đồng bộ, nhất quán và không mang tính chiến lược lâu dài: 10

2.4 Sự không minh bạch, rõ ràng trong việc quản lý hoạt động khai thác và xuất khẩu khoáng sản: 12

2.5 Sự thay đổi chính sách liên tục và không lường trước được từ chính phủ: 13

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HIỆN TẠI CỦA LIÊN DOANH VREC 15

NỘI DUNG THẢO LUẬN:……… ……… 15

PHỤ LỤC 16

Trang 3

3

CHƯƠNG 1: THÔNG TIN CHUNG VỀ LIÊN DOANH VREC VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY CHẾ BIẾN SÂU QUẶNG ZIRCONIUM (1 LOẠI TITAN) THÀNH ZIRCONIUM OXID CHLORUR (ZOC) TẠI VIỆT

NAM 1.1 Giới thiệu dự án:

Dự án xây dựng nhà máy chế biến sâu quặng Zirconium (gọi tắt là Zircon) là kết quả của sự liên doanh giữa công ty Meiwa Corporation và Daiichi Kigenso Kagaku Kogyo Corporation (gọi tắt là DKK) tại Việt Nam Trong đó, công ty DKK chịu trách nhiệm về công nghệ, sản xuất và xuất khẩu sản phẩm về Nhật Bản; công ty Meiwa chịu trách nhiệm đảm bảo cung cấp nguyên vật liệu ổn định và các công việc khác (xin giấy phép đầu tư, hỗ trợ thuê đất, tuyển dụng nhân sự, lựa chọn nhà xử lý chất thải…)

Quy mô dự án như sau:

Nguyên liệu quặng Zircon tiêu thụ dự kiến:

- mở rộng thêm sau 2 năm: 25 000 tấn/năm

- Tổng công suất sau khi mở rộng: 38 000 tấn/năm

Công suất thiết kế:

- tăng thêm khi tăng công suất: 21 500 tấn ZOC/năm

- Tổng sản lượng sau khi tăng công suất: 33 000 tấn ZOC/năm

Nhân sự:

- ban đầu: 60 người

- sau khi mở rộng: 120 người

Diện tích nhà máy:

3 ha, tại khu công nghiệp Cái Mép

Tiêu hao điện:

34 500 Mwh/năm

Nước: 400 000 m3/năm

Hoá chất:

Trang 4

4

- NaOH: 4 400 tấn/năm

- HCl: 13 000 tấn năm

Thải:

- bùn thải: 3 000 tấn/năm

- nước thải: 400 000 m3/năm

Kế hoạch tài chính của dự án:

- Xây dựng: 39,6 triệu USD

- Chi phí hoạt động: 8,4 triệu USD

Nguồn tiền:

- Vốn góp: 12,2 – 15,6 triệu USD

- Vốn vay: 32,4 – 34,8 triệu USD

Thành phần ghóp vốn:

- Meiwa: 2,5 triệu USD

- JBIC: 3 triệu USD (JBIC là Ngân hàng quốc tế của Nhật – là

một đơn vị nhà nước)

- ITRRE: 1 triệu USD (dự kiến)

- Khác:

Vay vốn ở ngân hàng Tokyo-Mitsibishi UFJ: 32,4 – 34,8 triệu USD

Kế hoạch xây dựng nhà máy dự kiến: Đến tháng 9/2011, xin được giấy phép xây dựng, đến khoảng 30/9/2011 bắt đầu xây dựng nhà máy

Các trường hợp tính toán tài chính:

Trang 5

5

TT

chi phí

vốn,

triệu

USD

Giá bán ZOC, USD/tấn

sản lượng

từ năm

2013, tấn/năm

Giá mua nguyên liệu, USD/tấn

overhead costs, triệu USD

NPV@%

Rate of Return, triệu USD

IRR, % (tỷ lệ chiết khấu)

Điểm hoà vốn, năm

1 50,89 2 500 11500 1 815 2,27 95,24 13,9 6,1

2 50,89 3 000 11500 2 300 2,27 140,11 19,2 4,7

3 50,89 2 000 11500 1 000 2,27 80,26 12,0 6,8

Tính toán FS cho trường hợp 1: Giá Zr sand: 1815 USD/tấn, Giá bán ZOC: 2500 USD/tấn: Xem phụ lục1

1.2 Giới thiệu công ty Meiwa Corporation (gọi tắt là Meiwa):

Công ty Meiwa là thành viên của tập đoàn Mitsubishi, được thành lập vào năm

1947 tại Nhật bản Meiwa Corporation là công ty thương mại hoạt động trên nhiều lĩnh vực, bao gồm: khoáng sản, hóa chất, cao su và chất dẻo, thiết bị sản xuất, dầu khí, thực phẩm… Thị trường chính của công ty là Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam

Tại Việt Nam, công ty đã thành lập văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội từ năm 1989 Hoạt động chính của 2 văn phòng này là hỗ trợ hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và đầu tư của Meiwa Nhật Bản, bao gồm: khảo sát thị trường, tìm kiếm và duy trì các đối tác, phát triển cơ hội kinh doanh

1.3 Giới thiệu công ty Daiichi Kigenso Kagaku Kogyo Corporation (gọi tắt là

DKK):

Công ty DKK được thành lập vào năm 1956 tại tỉnh Osaka, Nhật Bản Ngay từ ngày đầu thành lập đến nay, hoạt động chủ yếu của DKK là nghiên cứu, tinh chế, sản xuất các hợp chất từ quặng Titan Các sản phẩm tinh chế của công ty được ứng dụng nhiều trong lĩnh vực hóa chất, xử lý môi trường, cơ khí, luyện kim và điện tử Ngày nay, công ty DKK trở thành nhà cung cấp hàng đầu trong lĩnh vực này với 4 nhà máy chế biến sâu Titan tại Nhật Bản Các đối tác chính của công ty tại Nhật là: Sumitomo, Toshiba, TDK…

Trang 6

6

1.4 Nhu cầu liên doanh và phát triển của Meiwa – DKK tại Việt Nam:

Vì là công ty thương mại đa quốc gia, nên Meiwa luôn tìm kiếm và khai thác

cơ hội kinh doanh tại các địa phương khác nhau trên thế giới, trong đó Việt Nam được xem như là một trong những thị trường tiềm năng chủ lực Với ưu điểm có nguồn nhân công dồi dào, chi phí lao động thấp, nguồn tài nguyên phong phú và các chính sách ưu đãi đầu tư của chính phủ, Việt Nam trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn của các nhà đầu tư Nhật Bản

Vì Nhật Bản không có nguồn tài nguyên Titan phong phú, nên công ty DKK luôn phải mua và nhập khẩu nguyên liệu ZOC từ Trung Quốc Tuy nhiên, quan hệ Nhật – Trung gần đây có những chuyển biến không thuận lợi (như là tranh chấp chủ quyền đảo, sự trổi dậy của chủ nghĩa chống Nhật…) cũng như các chính sách hạn chế xuất khẩu, kiểm soát thị trường Titan của chính phủ Trung Quốc ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài Vì thế, việc tìm kiếm

và chuyển đổi nguồn cung ứng ZOC ở các khu vực khác ngoài Trung Quốc là nhiệm

vụ cần thiết và cấp bách để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho công ty trong tương lai

Hiểu được nhu cầu của DKK, Meiwa đã giới thiệu và hỗ trợ DKK tiến hành nghiên cứu đầu tư xây dựng nhà máy chế biến quặng Zircon thành ZOC tại Việt Nam, nước có trữ lượng Titan lớn thứ 4 trên thế giới Sự liên doanh đầu tư tại Việt Nam sẽ đồng thời đáp ứng được những nhu cầu phát triển của cả Meiwa và DKK như nêu trên

Trang 7

7

CHƯƠNG 2: NHỮNG KHÓ KHĂN VỀ ĐẢM BẢO NGUỒN NGUYÊN LIỆU

CHO LIÊN DOANH VREC 2.1 Số liệu khảo sát công bố có mức độ tin cậy không cao:

Hầu hết các khảo sát thăm dò đánh giá trữ lượng quặng tại Việt Nam đều dừng

ở mức ước đoán có độ tin cậy không cao Ngay tại khu vực Bình Thuận được xác định là nơi có vùng quặng Titan lớn nhất nước cũng chỉ được thăm dò ước đoán như sau: cách khoảng 1 – 2 km tiến hành khoan lấy mẫu quặng, rồi dựa trên kết quả kiểm tra mẫu để ước lượng trữ lượng của vùng mỏ

Hình 1: Các khu vực có tiềm năng đất hiếm ở VN

Trang 8

8

Bảng 1: Tổng hợp trữ lượng và tài nguyên đất hiếm ở VN (Nguồn: Cục kinh tế địa

chất và khoáng sản)

Với kết quả như vậy, hầu hết các chủ đầu tư đều phải khảo sát và đánh giá lại trữ lượng cũng như chất lượng mỏ sau khi nhận được mỏ từ chính phủ Tuy nhiên, do hạn chế về công nghệ, chi phí và thời gian, nên trên thực tế không nhiều chủ đầu tư tiến hành đánh giá chi tiết trữ lượng mỏ Ngoài ra, do giá thắng thầu khai thác khu mỏ thường thấp hơn giá trị thực tế của khu mỏ rất nhiều, nên công tác đánh giá càng bị xem nhẹ và bỏ qua

Trang 9

9

Do đó, công ty VREC rất khó có thể ước lượng trữ lượng vùng nguyên liệu tiềm năng và chuẩn bị kế hoạch thu mua thích hợp

2.2 Thị trường bị chi phối, kiểm soát và lệ thuộc hoàn toàn vào các thương nhân Trung Quốc:

Việt Nam là quốc gia liền kề và có quan hệ hợp tác song phương với Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là khoáng sản Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia

giàu tài nguyên đất hiếm nhất thế giới (chiếm hơn 90% nhu cầu thế giới – xem hình 2)

đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ khoáng sản đất hiếm thô và các loại đất hiếm đã qua chế biến sâu lớn nhất thế giới Để bảo vệ và củng cố thị trường trong nước, Trung Quốc đang áp dụng nhiều chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp trong nước để mua

và nhập khẩu khoáng sản từ nước ngoài, như là: miễn thuế nhập khẩu khoáng sản, hỗ trợ vốn vay lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp nhập khẩu và chế biến…

Hình 2: Biểu đồ trữ lượng đất hiếm năm 2008: Trung Quốc: 57,72%; Mỹ: 9,08%; Australia: 3,76%; Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) 13,62%; Ấn Độ: 0,84%; Brazil: 0,05%; Malaysia: 0,02%; Các nước khác: 14,91% (Nguồn: Cục khảo sát địa

chất Mỹ)

Dựa vào chính sách hỗ trợ từ chính phủ, các thương nhân Trung Quốc đã thâm nhập sâu và tham gia hầu hết các hoạt động khai thác, mua bán khoáng sản tại Việt Nam Cụ thể, các thương nhân Trung Quốc cho doanh nghiệp khai thác Việt Nam vay

ưu đãi (mà thực chất vốn vay này có nguồn gốc từ chính phủ Trung Quốc), hoặc trả

Trang 10

10

tiền trước từ 30% - 50% tổng giá trị hợp đồng mua bán, thanh toán bằng tiền mặt nhanh chóng, đặt mua hàng dài hạn và bao tiêu tất cả sản lượng của nhà khai thác, hỗ trợ công nghệ khai thác, thiết bị máy móc… Đổi lại, doanh nghiệp Việt Nam phải chịu sự chi phối và quản lý của doanh nghiệp Trung Quốc Thậm chí tại nhiều doanh nghiệp khai thác Việt Nam, người quản lý Trung Quốc có toàn quyền quyết định việc mua bán sản phẩm của doanh nghiệp

Ngược lại, do tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam những năm gần đây rất bất

ổn, lãi suất vay vốn của doanh nghiệp có lúc lên đến hơn 20%, làm đại bộ phận doanh nghiệp đuối sức trong việc quy trì hoạt động kinh doanh ổn định Ngoài ra, vì công nghệ khai thác của Việt Nam chưa cao, nên chất lượng sản phẩm không đủ để xuất khẩu đi các thị trường khó tính như Nhật Bản, Mỹ, châu Âu Ví dụ: hàm lượng Fe trong Zirconium Powder của Việt Nam quá cao nên không thể xuất khẩu sang châu

Âu và Nhật Và các doanh nghiệp Nhật Bản, châu Âu, Mỹ cũng không thể hỗ trợ và thực hiện hoạt động mua bán liều lĩnh như doanh nghiệp Trung Quốc

Kết quả là doanh nghiệp Việt Nam càng lúc càng phụ thuộc vào các doanh nghiệp Trung Quốc Và đó là rào cản rất lớn đối với công ty VREC Trong nhiều trường hợp, VREC không thể mua hàng từ doanh nghiệp khai thác được vì tất cả sản phẩm đã được cam kết bán cho doanh nghiệp Trung Quốc Ngay cả trong trường hợp doanh nghiệp có thể cung cấp zircon cho VREC, thì doanh nghiệp cũng không cam kết cung cấp ổn định và lâu dài Do đó, rủi ro về việc thiếu nguyên liệu luôn đe dọa sự thành công cho dự án đầu tư của VREC

2.3 Tình trạng quy hoạch khai thác, cấp phép và kiểm soát không đồng bộ, nhất quán và không mang tính chiến lược lâu dài:

Trong thời gian dài trước năm 2010, việc quy hoạch và cấp phép khai thác diễn

ra không đồng bộ, thiếu sự định hướng mang tính chiến lược và tầm quy hoạch cấp quốc gia Các địa phương tiến hành thăm dò và cấp phép một cách dễ dàng, tự phát Hậu quả là hiện nay tồn tại song song 2 loại giấy phép: giấy phép khai thác tận thu (cho những mỏ trữ lượng thấp, diện tích nhỏ, thời hạn ngắn) và giấy phép khai thác công nghiệp (cho những mỏ trữ lượng cao, diện tích quy hoạch lớn, thời gian khai thác dài) Và đa phần giấy phép của các doanh nghiệp hiện nay đều là loại tận thu Vì thời gian khai thác của mỏ tận thu ngắn, tối đa chỉ khoảng 5 năm, nên các doanh

Trang 11

11

nghiệp chỉ tập trung khai thác, chế biến và xuất khẩu quặng thô, không có sự đầu tư mang tính lâu dài để tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn và định hướng thị trường tốt hơn Việc không đánh giá đúng mức trữ lượng mỏ cùng với cấp giấy phép ngắn hạn, đã khuyến khích các doanh nghiệp chạy đua khai thác theo số lượng hơn là chất lượng, đồng thời xem nhẹ các công tác phụ trợ khác như là: quy trình khai thác, đầu tư cho khu mỏ khai thác, tái tạo cảnh quan và vấn đề môi trường khi khai thác…

Ngoài ra, việc cấp phép không theo quy hoạch và định hướng chiến lược đã làm diện tích khai thác như hình “da beo”, tức là các khu vực mỏ đang khai thác đan xen lẫn lộn với các khu vực không khai thác một cách mất trật tự Điều này là một cản trở lớn đối với công tác cải tạo, định hướng và quy hoạch phát triển ngành chế biến Titan về sau

Nhìn chung, trong ngắn hạn việc thiếu quy hoạch và cấp phép tràn lan là một rào cản lớn đối với nhà đầu tư như VREC nói riêng và sự phát triển của ngành Titan Việt Nam nói chung Các doanh nghiệp khai thác chỉ chạy theo sản lượng, không chú trọng chất lượng, tập trung vào việc xuất khẩu quặng thô, không cải tiến phát triển công nghệ để làm ra sản phẩm có giá trị cao hơn và không chú ý hợp tác với các đối tác chiến lược lâu dài

Vì thế, có thể thấy rõ rằng rủi ro về nguồn cung ứng nguyên liệu trong dài hạn

và chất lượng nguyên liệu không ổn định là điều mà VREC quan ngại

Gần đây, chính phủ Việt Nam thể hiện sự quyết tâm trong việc chấn chỉnh các hoạt động khai thác khoáng sản, đặc biệt là Titan Nghị định 02 năm 2011 nêu rõ định hướng của Chính phủ là: quy hoạch tập trung vùng khoáng sản thành các khu mỏ công nghiệp lớn, định hướng ưu tiên phát triển ngành công nghiệp chế biến sâu tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, từ hạn chế đến ngăn cấm việc xuất khẩu khoáng sản thô Trước mắt, 2 sản phẩm có giá trị và hàm lượng lớn nhất trong Titan là Ilmenit

và Zircon đã bị cấm xuất khẩu thô, chỉ cho phép xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu như Titan Slag (xỉ Titan) và Zircon Powder Tuy nhiên, mặc dù định hướng của Chính phủ

là đúng và cần thiết, nhưng công tác quy hoạch, định hướng cụ thể vẫn còn nhiều bất cập và không phù hợp với thị trường thực tế Vì vậy, Việt Nam vẫn còn cần phải điều

Trang 12

12

chỉnh và tham khảo ý kiến của các chuyên gia nhiều hơn để quy hoạch phù hợp với thị trường

2.4 Sự không minh bạch, rõ ràng trong việc quản lý hoạt động khai thác và xuất khẩu khoáng sản:

Nói thẳng ra, vấn đề ở đây là sự yếu kém của cơ quan quản lý và tình trạng tham nhũng Đây không phải là đặc thù của riêng ngành khoáng sản, mà là vấn đề tồn tại dai dẳng trên nhiều lĩnh vực của Việt Nam Tuy nhiên, đối với ngành Titan, là ngành công nghiệp non trẻ và được xem là tâm điểm của thế giới trong thế kỷ mới, thì tình trạng này rất phổ biến và nặng nề

Thực tế, hầu hết các doanh nghiệp khai thác đều có mối quan hệ “trên mức tình cảm” với các cơ quan công quyền trung ương và địa phương Dựa trên mối quan hệ

đó, vai trò và vị trí của “người bán” – “người mua” gần như bị đảo ngược và không phản ánh đúng mối quan hệ kinh tế thông thường Ngoài ra, những chi phí không tên

để duy trì các mối quan hệ trên làm tăng giá thành sản phẩm và ảnh hưởng đến chi phí mua nguyên liệu của doanh nghiệp chế biến như VREC

Theo http://www.tinmoi.vn/quyet-dinh-tam-ngung-cap-phep-khai-thac-khoang-san-dung-nhung-hoi-muon-12721313.html

“Khai thác tài nguyên từ lâu nay được xem như nguồn lợi béo bở và theo điều tra của Viện Tư vấn phát triển, hoạt động này bùng phát mạnh kể từ năm 2005 Việc cấp phép không theo quy hoạch, vượt quy hoạch là tình trạng phổ biến ở nhiều địa phương Thậm chí không ít địa phương còn cố tình lách luật bằng cách chẻ những mỏ lớn ra thành những mỏ nhỏ để khỏi phải ra xin phép trung ương Ngoài ra, cũng không loại trừ hoạt động cấp giấy phép, khai thác khoáng sản còn bị các nhóm lợi ích thao túng

Kết quả điều tra của Viện Tư vấn phát triển còn phát hiện nhiều doanh nghiệp không đủ năng lực, không có hồ sơ thiết kế mỏ, không làm báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc chỉ làm chiếu lệ theo thủ tục… nhưng vẫn được cấp phép

Trong số hơn 2.000 doanh nghiệp khai thác khoáng sản đang hoạt động, trên 90% là những công ty có quy mô vừa và nhỏ Hầu hết trong số này không đủ khả năng đầu tư thiết bị và công nghệ thích hợp để khai thác hiệu quả Điều đáng nói là cơ

Ngày đăng: 26/06/2014, 06:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Các khu vực có tiềm năng đất hiếm ở VN - tiểu luận  những khó khăn về đảm bảo nguồn nguyên liệu cho liên doanh vrec
Hình 1 Các khu vực có tiềm năng đất hiếm ở VN (Trang 7)
Bảng 1: Tổng hợp trữ lượng và tài nguyên đất hiếm ở VN (Nguồn: Cục kinh tế địa - tiểu luận  những khó khăn về đảm bảo nguồn nguyên liệu cho liên doanh vrec
Bảng 1 Tổng hợp trữ lượng và tài nguyên đất hiếm ở VN (Nguồn: Cục kinh tế địa (Trang 8)
Hình 2: Biểu đồ trữ lượng đất hiếm năm 2008: Trung Quốc: 57,72%; Mỹ: 9,08%;  Australia: 3,76%; Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) 13,62%; Ấn Độ: 0,84%;  Brazil: 0,05%; Malaysia: 0,02%; Các nước khác: 14,91% (Nguồn: Cục khảo sát địa - tiểu luận  những khó khăn về đảm bảo nguồn nguyên liệu cho liên doanh vrec
Hình 2 Biểu đồ trữ lượng đất hiếm năm 2008: Trung Quốc: 57,72%; Mỹ: 9,08%; Australia: 3,76%; Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) 13,62%; Ấn Độ: 0,84%; Brazil: 0,05%; Malaysia: 0,02%; Các nước khác: 14,91% (Nguồn: Cục khảo sát địa (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w