Vì thị trường chứng khoán sẽ cung cấp nguồn vốn lớn, trung và dài hạn, là nơi tạo ra những công cụ huy động và cung cấp vốn để các nhà đầu tư lựa chọn và sẽ là phương tiện chuyển dịch vố
Trang 2Ị
Trang 3-x>ỠOF
NGUYỄN HẢI THẬP
•
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ QUẢN LÝ
THỊ TRƯỜNG CHÚNG KHOÁN ở MỘT sô Nước
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐÔI VỚI VIỆT NAM
Trang 4Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu ở luận án này là của riêng tôi Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 25 tháng OI năm 2005
Trang 5M Ở Đ Ầ U 1
Chương Ì - Cơ sơ LÝ LUẬN VỀ sự HỈNH THÀNH VÀ QUẢN LÝ TTCK 5
L I - Tính tất yếu khách quan của sự hình thành và phát triển thị 5
trường chứng khoán trong nền kinh tế thị trường
1.2- Những vấn đề cơ bản của thị trường chứng khoán 9
1.2.1- Khái niệm thị trường chứng khoán 9
1.2.2 - Phân loại thị trường chứng khoán 10
1.2.3 - Các loại thị trường chứng khoán chủ yếu 11
1.3 - Vai trò của TTCK trong nền kinh tế quốc dân 29
Ì 4 - Những vấn đề cơ bản về quản lý và quản lý TTCK 31
1.4.1 - Khái niệm cơ bản về quản lý và quản lý TTCK 31
Ì 4.2 - Bản chất của quản lý và quản lý TTCK 31
1.4.3- Vai trò của việc quản lý TTCK 33
Ì 4.4 - Chức năng của quản lý TTCK 34
1.4.5- Các nguyên tắc cơ bản của việc quản lý TTCK 36
1.4.6- Các biện pháp cơ bản quản lý TTCK 41
Ì 4.7 - Sự điều chộnh của pháp luật đối với các chủ thể quản lý 47
TTCK
Ì 4.8 - Một số m ô hình quản lý TTCK trên thế giới 50
Chương 2 - THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH VÀ QUẢN LÝ TTCK MỘT sô NƯỚC VÀ 56
NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐÔI VỚI VIỆT NAM
2.1- ' Thực trạng hình thành và quản lý TTCK một số nước 56
2.1.1- Lịch sử hình thành và phát triển TTCK thế giới 56
Trang 62.1.3- Thực trạng hình thành và quản lý TTCK các nước đang phát 74
triển
2.2 - Những bài học kinh nghiệm về việc hình thành và quản lý 88
TTCK đối với Việt Nam
2.2 Ì - Những bài học về việc hình thành TTCK đối với Việt Nam 88
2.2.2 Những bài học kinh nghiệm về quản lý TTCK đối với Việt 106
Nam
Chương 3 - VẬN DỤNG CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC Đ Ể H O À N 117
THIỆN VIỆC HÌNH THÀNH VÀ QUẢN LÝ TTCK VIỆT NAM
3.1- Bối cảnh ra đời của TTCK Việt Nam 117
3.1.1 - Giai đoạn thực hiện cơ chế kinh tế tập trung, bao cấp 117
3.2- Thực trạng TTCK Việt Nam 130
3.2.1 - Vai trò của TTCK trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 130
3.2.2- Tinh hình hoạt động của TTCK Việt Nam 135
3.2.3- Đánh giá chung về TTCK Việt Nam sau 4 năm hoạt động 146
3.3- Một số giải pháp hoàn thiện việc hình thành và quản lý 151
TTCK V N
3.3.1 - Nhóm giải pháp hoàn thiện việc hình thành TTCK Việt 151
Nam
3.3.2- Nhóm giải pháp hoàn thiện việc quản lý TTCK Việt Nam 155
3.4 - Một số kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà 162
nước có liên quan
KẾT LUẬN 166 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 168
TÀI LIỆU THAM KHẢO 169
Trang 7Trung tâm giao dịch chứng khoán: TTGDCK
Trang 8DANH M Ụ C C Á C sơ Đ ổ T r
Sơ đồ 1.1: M ô hình dòng vốn đầu tư vào ngân sách và các doanh 6
nghiệp
Sơ đồ 1.2: Cơ cấu tổ chức của SGDCK 21
Sơ đồ 1.3: Quy trình giao dịch trên SGDCK 23
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ công bố thông tin tại Trung tâm giao dịch chứng 113
khoán thành phố Hồ Chí Minh
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Ví dụ về xác định giá mở cửa ứng với các lệnh tiếp nhận 25
Bảng 1.2: Ví dụ 2 về xác định giá mở cửa 25
Bảng 1.3: Xác định giá sau khi mở cửa ứng với các lệnh tiếp nhận 26
Bảng 1.4: Sự khác nhau giợa SGDCK và thị trường OTC 29
Bảng 3.1: Tỷ lệ giợa vốn viện trợ và vay nước ngoài so với thu ngân 119
sách
Bảng 3.2: Các số liệu về chỉ tiêu kinh tế năm 1997 121
Bảng 3.3: Tinh hình lạm phát giai đoạn 1985-1997 121
Bảng 3.4: Quỹ tiêu dùng và tích lũy so với GDP giai đoạn 1991 - 122
Trang 9M Ở Đ Ẩ U
Ì Tính cấp thiết của đề tài:
Q u á trình thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước đòi hỏi ngày càng phải có nhiều vốn Nhất là trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, vốn là một trong những yếu t ố rất cần thiết để thúc đẩy sản xuất phát triển; là động lực quan trọng để các ngành kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ hoạt động đạt hiệu quả cao; là một trong những công cụ đồc lực để đảm bảo sự ổn định thị trường tiền tệ đồng thời vốn cũng là công cụ góp phần củng cố và tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước trong m ọ i lĩnh vực đời
sống kinh tế và xã hội Nghị quyết Đ ạ i hội Đảng toàn quốc lần thứ v i n đã chỉ
rõ: "Vốn là chìa khóa để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" Chính vì vậy, việc huy động vốn là rất cần thiết và cấp bách, cho nên thị trường vốn ở nước ta đã xuất hiện Bên cạnh các hoạt động huy động v ố n truyền thống bằng tiền gửi ngân hàng, gửi tín dụng, gửi tiết kiệm thì m ộ t công cụ cực kỳ quan trọng để huy động vốn là phát triển thị trường chứng khoán Vì thị trường chứng khoán sẽ cung cấp nguồn vốn lớn, trung và dài hạn, là nơi tạo ra những công cụ huy động và cung cấp vốn để các nhà đầu tư lựa chọn và sẽ là phương tiện chuyển dịch vốn rất tiện l ợ i v ớ i c h i phí thấp đồng thời tránh dồn gánh nặng về vốn dài hạn cho hệ thống ngân hàng, dễ gây rủi ro cho nền kinh tế
Nhận thức sâu sồc vấn đề đó, Chính phủ đã tiến hành hàng loạt các
bước chuẩn bị và đến tháng 7/2000 Trung tâm giao dịch chứng khoán ở nước
ta đã chính thức ra đời và đi vào hoạt động V ớ i 4 năm hoạt động, khoảng thời gian này chưa phải là nhiều, do vậy, chúng ta còn rất thiếu những k i n h nghiệm thực tiễn về tổ chức, quản lý và điều hành thị trường chứng khoán cũng như việc k i n h doanh chứng khoán Cũng từ thực tế hoạt động của thị trường chứng
Trang 10khoán đã nổi lên rất nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu để có những giải pháp thích hợp nhằm thúc đẩy thị trường chứng khoán nước ta ngày càng phát triển, trong đó có giải pháp về quản lý của Nhà nước đối với thị trường chứng khoán Với mục đích đi sâu tìm hiểu những vấn đề về quản lý nhà nước về TTCK ọ một số nước phát triển và đang phát triển trong khu vực và thế giới nhằm mong muốn rút ra những bài học có thể áp dụng vào Việt Nam, tác giả
đã chọn nghiên cứu đề tài: "Quá trình hình thành và quản lý thị trường chứng khoán ọ một sò nước và bài học kinh nghiệm đỏi với Việt Nam"
2 Tình hình nghiên cứu:
Cho đến nay, trên thế giới và ọ trong nước đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về TTCK, trong đó cũng có nhiều tài liệu viết về lĩnh vực quản lý TTCK Việc nghiên cứu về quản lý TTCK ọ các nước, đặc biệt là những nước phát triển hoàn toàn không phải là mới mà nó đã có từ rất lâu Ở Việt Nam, cũng có một số người nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên sản phẩm nghiên cứu của các tác giả mới dừng ọ mức độ là những bản báo cáo, những bài báo được đăng tải trên các tạp chí khoa học, một phần nhỏ trong giáo trình lưu hành ọ các cơ sọ đào tạo và nghiên cứu khoa học hoặc là những bài viết đăng trên các tờ thời báo Đến nay, chưa có công trình nghiên cứu trong nước nào được thể hiện dưới dạng một luận án tiến sĩ
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án này, tác giả đã gặp rất nhiều khó khăn, vì đây là một đề tài rất phức tạp, các tài liệu trong nước chưa
đề cập một cách sâu sắc về công tác quản lý TTCK Mặt khác, TTCK Việt Nam ra đời và hoạt động mới được 4 năm, đây là thời gian quá ngắn để có thể hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực quản lý nhà nước đối với TTCK Trong phạm vi luận án này, tác giả đặt vấn đề nghiên cứu sự hình thành và quản lý TTCK ọ một số nước để rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc đưa ra những giải pháp và kiến nghị về công tác quản lý nhà nước đối với TTCK Việt Nam
Trang 113 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu sự hình thành, các hoạt động và cách thức quản
lý TTCK ở một số nước phát triển và đang phát triển trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là những nước có đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ mang nhiều sắc thái tương đồng với nước ta, để từ đó rút ra những bài hợc kinh nghiệm bổ ích và đề xuất những giải pháp cho việc hình thành và quản lý nhà nước về TTCK ở Việt Nam
4 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu các vấn đề về sự hình thành và quản lý thị trường chứng khoán; những bài hợc kinh nghiệm và một số giải pháp cho việc hình thành và quản lý nhà nước về TTCK ở Việt Nam
5 Phạm vi nghiên cứu:
- Đ ề tài nghiên cứu về sự hình thành và quản lý thị trường chứng khoán
ở một số nước phát triển và đang phát triển trên thế giới, trong khu vực và Việt Nam
- Đặc biệt đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực quản lý TTCK
6 Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu đề tài này gồm:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh
- Phương pháp chuyên gia
Trang 127 Những điểm mới của luận án:
- Luận án đã trình bày được những vấn đề mang tính lý luận về khoa học quản lý, những vấn đề cơ bản về quản lý TTCK và các m ô hình quản TTCK đang được áp dụng tại một số nước
- Phân tích được vấn đề hình thành, phát triển và quản lý TTCK ở một
số nước và rút ra những bài học kinh nghiệm để có thể áp dụng vào Việt Nam
- Đặc biệt luận án đã đánh giá được thực trạng tình hình hoạt động và quản lý TTCK Việt Nam trong thủi gian 4 năm qua (kể từ khi ra đủi) Đưa ra được 7 giải pháp hoàn thiện việc xây dựng và 7 giải pháp hoàn thiện việc quản
lý TTCK Việt Nam
- Tác giả cũng đã đưa ra được những kiến nghị đối với Chính phủ và các cơ quản lý nhà nước có liên quan về một số vấn đề cần thiết cho việc phát triển và quản lý TTCK Việt Nam
8 Kết cấu của luận án:
Ngoài các phần trình bày về các bản chỉ dẫn, tài liệu tham khảo, phụ lục luận án gồm các phần chính sau:
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về sự hình thành và quản lý TTCK
Chương 2: Thực trạng hình thành và quản lý TTCK một số nước và
những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Chương 3: Vận dụng những bài học kinh nghiệm của các nước để hoàn
thiện việc hình thành và quản lý TTCK Việt Nam
Kết luận
®
Trang 13Chưong Ì - cơ sở LÝ LUẬN VÊ sự HỈNH THÀNH
VÀ QUẢN LÝ THỊ TRƯỞNG CHÚNG KHOÁN
1.1 - TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA sự HÌNH THẢNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỞNG CHÚNG KHOÁN TRONG NÊN KINH TÊ THỊ TRƯƠNG
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh tế tham gia các hoạt động
sản xuất, kinh doanh có thể phân chia thành hai thái cực M ộ t bên là những
người có vốn cần tìm nơi để đầu tư nhằm mục đích tìm kiếm l ợ i nhuện và bên
kia là những người cần vốn đầu tư cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của
mình Có hai kênh để n ố i hai thái cực đó với nhau:
- Kênh dẫn v ố n gián tiếp thông qua hệ thống hệ thống trung gian tài
chính (chủ yếu là ngân hàng) Kênh dẫn vốn này hình thành ngay từ thời kỳ
đầu của sản xuất hàng hóa và lưu thông tiền tệ N ó ra đời nhằm huy động và
tệp trung các nguồn vốn nhàn r ỗ i tạm thời trong xã h ộ i để tái phân phối cho
nền k i n h t ế quốc dân theo nguyên tắc tín dụng Đặc trưng của kênh dẫn v ố n
gián tiếp là nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn r ỗ i hình thành trong xã hội, nguồn
vốn này chủ yếu là ngắn hạn Do đó hoạt động đầu tư của hệ thống ngân hàng
là hoạt động tín dụng, chủ yếu là cho các doanh nghiệp vay để hình thành và
Trang 14A B
Sơ đồ 1.1: M ô hình dòng vốn đầu tư vào ngân sách và các doanh nghiệp
Nguồn: Đinh Xuân Trình, Nguyễn thị Quy (1997), Giáo trình Thị trường
chứng khoán, Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội
Phân tích kênh dẫn vốn theo sơ đổ trên cho thấy
• Theo kênh dẫn vốn gián tiếp (qua hệ thống trung gian tài chính ):
- Phía các nhà đầu tư, những người cho vay, người tiết kiệm (gọi
chung là bên A) nhượng quyền sử dậng vốn cho ngân hàng để ngân hàng tái
chuyển nhượng vốn cho các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn còn quyền sở
hữu vốn vẫn thuộc về bên A Việc chuyển nhượng vốn này có thời hận nhất
định, hết thời hạn theo quy định phía ngân hàng phải hoàn trả cho bên A cả
vốn và lãi
Trang 15- Theo kênh dẫn vốn gián tiếp thì các chi phí đi vay cao, vì các doanh nghiệp không thể vay vốn trực tiếp từ người đầu tư, người cho vay (bên A ) m à phải qua tầng lớp trung gian tài chính là hệ thống ngân hàng
- Nguồn vốn đi vay qua kênh dẫn vốn gián tiếp là nguồn v ố n tạm thời, nhàn r ỗ i hình thành trong xã hội, nguồn vốn này chủ yếu là ngắn hạn hoậc trung hạn, cho nên các doanh nghiệp chỉ có thể huy động để bổ sung vào v ố n
đi vay của mình m à không thể dùng để huy động và bổ sung vào v ố n điều lộ
N h ư vậy hệ thống ngân hàng khó có thể đảm bảo được sự ổn định đầu tư trong điều kiện huy động vốn tạm thời nhàn r ỗ i ngoài xã hội để đầu tư dài hạn cho các doanh nghiệp, đậc biệt là các doanh nghiệp cổ phần có nhu cầu thu hút vốn lớn, dài hạn phục vụ cho sản xuất, kinh doanh
- Mật khác, qua kênh dẫn vốn gián tiếp, phía bên người đầu tư, người cho vay, người tiết kiệm (bên A ) không thể tham gia quản lý các doanh nghiệp
m à mình đầu tư, như vậy đã làm tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng về vốn, làm giảm động lực tiềm năng trong quản lý m à động lực này lại chứa đựng trong quyền sở hữu vốn của người đầu tư Sự tách r ờ i này càng có khoảng cách lớn thì sẽ càng gây nên tính ỳ trong hoạt động quản lý, trong điều kiện xã hội hóa sản xuất chưa cao nó còn gây nên tình trạng ăn b á m của người nắm quyền sở hữu về vốn
• Theo kênh dẫn vốn trực tiếp (thông qua TTCK), người đầu tư, người cho vay, người tiết kiệm (bên A - tức là người có vốn) thực sự được góp quyền
sử dụng và quyền sở hữu về vốn vào các doanh nghiệp để cùng nhau quản lý, khai thác và chia lợi nhuận từ nguồn v ố n đầu tư m à không phải thông qua các trung gian tài chính Đậc biệt là các doanh nghiệp cổ phần rất coi trọng hình thức huy động vốn qua kênh dẫn vốn trực tiếp này Điều này đã được M á c đánh giá rất cao: "Nhờ vào công ty cổ phần m à chủ nghĩa tư bản đã làm được
hệ thống đường xe lửa xuyên Châu  u dễ như trở bàn tay"
Trang 16N h ư vậy, kênh dẫn vốn trực tiếp (TTCK) đã đem lại những ưu điểm hơn hẳn trong việc huy động vốn m à kênh dẫn vốn gián tiếp không thể có được TTCK sẽ là công cụ rất quan trọng cho việc đa dạng hóa các hình thức tạo vốn
và tạo ra môi trường lưu thông các nguịn vốn một cách dễ dàng, là phương tiện rất hữu hiệu nhằm tạo điều kiện cho việc điều hòa, luân chuyển vốn trong nền k i n h tế quốc dân TTCK có một ý nghĩa quyết định trong chiến lược phát triển kinh tế của m ỗ i quốc gia và cũng là tính tất yếu k h i nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường
• Đối với Việt nam, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, để tạo
ra sự ổn định và tăng trưởng kinh tế, đòi hỏi phải có một lượng vốn rất lớn và dài hạn Trong khi đó thị trường vốn ở nước ta chưa phát triển, còn nhiều
k h i ế m khuyết; vì t h ế chưa tìm được nguịn vốn đủ đáp ứng nhu cầu Đ ể khắc phục phần nào tình trạng thiếu vốn, hệ thống các ngân hàng nước ta đã phát hành trái phiếu, kỳ phiếu để huy động nguịn vốn nhàn r ỗ i của dân chúng (kênh dẫn vốn gián tiếp) Nhưng hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng còn nhiều hạn chế, do đó các nguịn vốn huy động được chủ yếu là ngắn hạn và trung hạn, không đáp ứng được các dự án đầu tư lớn và dài hạn Vì thế dẫn t ớ i tình trạng các ngân hàng thừa vốn, nhưng lại thiếu vốn cho hoạt động của nền
k i n h tế
Mặt khác, khả năng thanh khoản của thị trường vốn nước ta thấp, do việc thu hút các nguịn vốn vào thị trường đạt hiệu quả thấp, trong k h i đó các khoản đầu tư đòi hỏi phải có tính ổn định cao nhưng chúng ta chưa đáp ứng được T ị n tại tình trạng này cũng là vì thị trường giao dịch các chứng khoán
đã phát hành, để luân chuyển các nguịn vốn nhằm biến các nguịn vốn ngắn hạn, nhỏ, lẻ tẻ thành nguịn vốn lớn, dài hạn đầu tư cho các d ự án lớn m ớ i được hình thành, còn rất nhiều hạn chế
Qua việc phân tích và đánh giá thực tiễn hoạt động của thị trường v ố n ở
Trang 17nước ta, hiện nay chúng ta thấy còn bộc lộ nhiều yếu kém Đ ể có thể khơi thông các nguồn vốn, thu hút được các nguồn vốn nhỏ, rải rác tập trung thành nguồn vốn lớn và chuyển từ nguồn vốn ngắn hạn thành nguồn vốn dài hạn đầu
tư cho những dở án trọng điểm của nền kinh tế Trong tình hình như vậy rất cần thiết phải xây dởng TTCK (bởi vì TTCK là kênh dẫn vốn trởc tiếp) và đến nay TTCK Việt Nam đã chính thức ra đời và đi vào hoạt động Việc hình thành và phát triển TTCK sẽ đa dạng hóa hình thức tạo vốn và lưu thông các nguồn vốn một cách dễ dàng và có một ý nghĩa quyết định trong chiến lược phát triển kinh tế mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V U I đã đề ra
và đây cũng là tính tất yếu khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị
trường có sở quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
1.2.1 - KHÁI NIỆM THỊ TRƯỞNG CHÚNG KHOÁN:
Có nhiều cách tiếp cận với khái niệm về thị trường chứng khoán, nếu tiếp cận từ góc độ thuần túy thị trường thì:
Thị trường chứng khoán (Securities Market) là thị trường m à ở đó người
ta tiến hành các hoạt động mua bán, chuyển nhượng trao đổi chứng khoán để kiếm lời
Tuy nhiên, nếu chúng ta tiếp cận vấn đề từ góc độ khai thác và quản lý vốn đầu tư thì:
Thị trường chứng khoán là nơi những người có vốn hoặc là góp quyền
sử dụng và quyền sở hữu về vốn cho những người cần vốn để cùng nhau quản
lý, khai thác và chia lợi nhuận từ nguồn vốn đầu tư hoặc là nhượng quyền sử
dụng vốn cho những người cần vốn trong một thời gian nhất định theo nguyên tắc hoàn trả và có đền bù dưới hình thức lợi tức
Trang 181.2.2 - PHÂN LOẠI THỊ TRƯỞNG CHÚNG KHOÁN
1.2.2.1 - Căn cứ vào đối tượng kinh doanh, có 3 loại:
a) Thị trường cổ phiếu (The stock Market) là thị trường phát hành các loại cổ phiếu mới và mua đi bán lại các loại cổ phiếu cũ
b) Thị trường trái phiếu (The Bond Market) là thị trường phát hành các loại trái phiếu mới và mua đi bán lại các loại trái phiếu cũ
c) Thị trường chứng khoán phái sinh là thị trường kinh doanh các chứng
từ phái sinh, như hợp đổng mua bán quyền tự chọn, hợp đồng tương lai, chứng quyền và quyền mua cổ phần
1.2.2.2 • Căn cứ vào nguồn gốc của chúng khoán, có hai loại:
a) T T C K sơ cấp (The primary Market) là thị trường phát hành các cổ phiếu, chứng chố đầu tư và trái phiếu để huy động vốn, còn g ọ i là thị trườnơ phát hành
b) TTCK thứ cấp (The secondary Market) là thị trường m à ở đó các loại trái phiếu, cổ phiếu và chứng chố đầu tư đã phát hanh được mua đi bán lại chuyển nhượng
1.2.2.3 • Căn cứ vào hình thái tổ chức thị trường, có các loại:
a) T T C K tập trung (SGDCK - The Stock Exchange) là thị trường được
tổ chức theo luật chứng khoán, điều lệ của s ở giao dịch Các giao dịch mua bán được thông qua người môi giới theo phương thức đấu giá công khai
b) T T C K phi tập trung (Giao dịch qua quầy-OTC) là thị trường không
có trụ sở riêng, phi tổ chức, không có điều lệ, giao dịch mua bán diễn ra trực tiếp giữa người đầu tư và người nhận đầu tư, giữa người cho vay và người đi vay theo phương thức thỏa thuận thông qua các quầy giao dịch của các trunơ tâm tài chính
Trang 191.2.2.4 - Căn cứ vào kỳ hạn giao dịch, gồm:
a) Thị trường giao dịch giao ngay (Spot market): là thị trường m à tại đó việc thanh toán và giao nhận chứng khoán xảy ra đồng thời T T C K sơ cấp chủ yếu là thị trường giao ngay
b) Thị trường giao dịch kỳ hạn (Forward market): là thị trường m à tại
đó việc giao nhận và thanh toán chứng khoán xảy ra sau k h i ký hợp đồng mua bán chứng khoán một thời hạn nhất định, thường xảy ra trong giao dịch chứng khoán ở thị trường thứ cấp
c) Thị trường giao dịch tương lai (Futures Markeí): là một dạng của thị trường giao dịch kỳ hạn, các hợp đồng mua bán trên thị trường này được tiêu chuẩn hóa nội dung và các điều kiện thực hiện Tể trọng giao dịch nhỏ, chủ yếu là hủy hợp đồng để đòi bồi thường, có thể coi là một loại hoạt động đầu
cơ [28], [44]
1.2.3 • CÁC LOẠI THỊ TRƯỞNG CHỬNG KHOÁN CHỦ YÊU
1.2.3.1 - THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN sơ cfi> (The Primary Market)
a) Khái quát về thị trường chứng khoán sơ cấp:
T T C K sơ cấp là thị trường phát hành các cổ phiếu, chứng chỉ đầu tư và trái phiếu để huy động vốn, do đó thị trường này còn có tên gọi là thị trường phát hành [28, 78] Thị trường này là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán những chứng khoán mới phát hành lần đầu hoặc tái phát hành nhằm tạo vốn cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu đầu tư của chính phủ, chính quyền địa phương Đây là giai đoạn khó khăn nhất vì nếu tính toán không đúng các điều kiện phát hành có thể bị thất bại vì không tiêu thụ được chứng khoán, hậu quả là gây tổn thất tài sản và làm mất
uy tín của tổ chức phát hành [34], [41]
Trang 20Chức năng cơ bản nhất của thị trường sơ cấp là huy động vốn đầu tư Thị trường này là nơi tăng thêm vốn đầu tư cho nền kinh tế từ các nguồn vốn nhàn rỗi mà không làm tăng lượng tiền lưu thông, tức là không phải từ nguồn phát hành thêm giấy bạc ngân hàng Thị trường sơ cấp không nhất thiết phải
có trụ sở cố định và có sàn giao dịch, viặc phát hành có thể trực tiếp tại doanh nghiặp, thông qua trung gian tài chính hoặc thông qua SGDCK Do vậy để đảm bảo cho quá trình phát hành được thực hiặn một cách thuận lợi, thị trường
sơ cấp phải cần đến những người trung gian Thông thường những người trung gian là các ngân hàng, các định chế tài chính với tư cách là người môi giới và các nhà bảo lãnh chứng khoán
Trong thực tế không phải bất cứ ai có tiền nhàn rỗi muốn đầu tư chứng khoán là có thể mua được loại chứng khoán mà mình mong muốn ở thị trường
sơ cấp, mà chỉ có một số người hoặc một số tổ chức như các ngân hàng đầu tư, công ty tài chính là những người đầu tiên được mua loại chứng khoán này Bởi vì viặc bán chứng khoán cho những người đầu tiên mua thường được diễn
ra trong phòng kín, thường kéo dài khoảng vài tuần lễ, bắt đầu từ khi hợp đồng phát hành chứng khoán để huy động vốn giữa người phát hành và người mua chứng khoán lần đầu được ký kết cho đến khi những người đầu tư đến đăng ký
Trang 21chứng khoán được thực hiện, về phương pháp phát hành, về giá bán chứng khoán ban đầu Sự thành công của m ỗ i đạt phát hành là ở chỗ tất cả các chứng khoán sẽ được bán hết được đảm bảo với sự giúp đỡ của các nhà bảo lãnh Có thể nói, sự tham gia của người môi giới chứng khoán là cần thiết vì họ là nhắng người có thể thực hiện được nhắng yêu cầu của SGDCK một cách tốt nhất, m à k h i đó không cần bắt buộc sự có mặt của tổ chức phát hành hay của người bảo lãnh Các công ty thường có một số nguồn huy động v ố n và các phương pháp huy động vốn khác nhau, việc vận dụng chúng tùy thuộc vào vị trí pháp lý và uy tín của công ty Các công ty nhỏ nói chung thường dựa vào nhóm cổ đông hiện hắu giới hạn của họ hoặc là dựa vào khoản tiền vay của ngân hàng Các cồng t y cổ phần trung bình thì có thể bán cổ phiếu m ớ i phát hành hoặc phát hành trái phiếu để vay nợ từ các cổ đông [40]
b) Mục đích phát hành chứng khoán:
Phát hành trái phiếu chính phủ là nhằm để đầu tư phát triển, để cân đối ngân sách nhà nước k h i thiếu hụt hoặc nhằm mục đích thực hiện chính sách tiền tệ của Nhà nước như: kiểm soát và khống chế lạm phát, thu hẹp lưu thông tiền tệ và tín dụng
Phát hành trái phiếu doanh nghiệp là nhằm huy động vốn trung và dài hạn từ các thành phần kinh tế để bổ sung vốn lun động của các doanh nghiệp
và thường xuyên lặp đi lặp lại nhiều lần theo chu kỳ sản xuất, k i n h doanh của mỗi ngành
Phát hành cổ phiếu doanh nghiệp là nhằm mục đích:
- Huy động v ố n điều lệ cho các công ty cổ phần đang trong quá trình thành lập hoặc thành lập mới hoàn toàn hoặc tách một bộ phận của doanh nghiệp nhà nước để thành lập công ty cổ phần mới
- Tăng vốn điều lệ cho các công ty cổ phần đã được thành lập k h i cần
Trang 22- Cổ phần hóa một phần hoặc cổ phần hóa 1 0 0 % giá trị hiện có của doanh nghiệp nhà nước
Phát hành chứng chỉ đầu tư là nhằm huy động các nguồn vốn nhỏ, rải rác trong công chúng tập trung thành nhấng nguồn vốn lớn đầu tư cho các d ự
án phát triển kinh tế cần nguồn vốn lớn
c) Điều kiện phát hành chứng khoán:
• Điều kiện pháp lý đối với tổ chức phát hành chứng khoán:
- Có quyết định thành lập công ty và giấy phép kinh doanh
- Điều lệ công ty; bản điều lệ phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ thực hiện trong quá trình hoạt động của công ty
- Có giấy phép phát hành do cơ quan có thẩm quyền cấp Các công ty khi muốn phát hành chứng khoán phải lập đề án trình U B C K N N xem xét thẩm định và cấp phép
- Các sáng lập viên phải cùng đăng ký mua ít nhất 2 0 % số cổ phiếu d ự tính phát hành Nếu không thì phải công khai gọi vốn từ nhấng người khác
• Điều kiện tài chính đối với tổ chức phát hành chứng khoán:
- Có nhu cầu tăng vốn thực sự và khả năng bán số chứng khoán đó Trong đề án trình U B C K N N phải nêu rõ nhu cầu thực sự về việc tăng vốn đồng thời phải chứng minh được khả năng bán hết được số chứng khoán do công ty phát hành ra
- Đ ã thu hết số tiền cổ phiếu phát hành trong đạt trước
- Đ ả m bảo thời gian liên tiếp kinh doanh có lãi, tính đến thời điểm phát hành theo quy định của pháp luật
- Có phương án kinh doanh cụ thể
- Các điều kiện bảo lãnh cho sự phát hành
Trang 23• Các thủ tục cần thiết để phát hành chứng khoán:
- Đơn và giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của tổ chức phát hành chứng khoán
- Điều lệ công ty đã được cấp có thẩm quyền ra quyết định phê duyệt
- Đ ề án sản xuất, kinh doanh hoặc luận chứng kinh tế - kỹ thuật nhớm đảm bảo cho các mặt hoạt động của công ty theo lộ trình đã định hướng trước
- Báo cáo tài chính của tổ chức phát hành Bản báo cáo tài chính phải được cơ quan kiểm toán hoặc thanh tra tài chính có thẩm quyền thẩm định hoặc được xây dựng trên cơ sở báo cáo kết quả kiểm toán của cơ quan kiểm toán được Nhà nước cho phép hoạt động
- Phương án phát hành chứng khoán và dự thảo thông báo phát hành
d) Phương thức phát hành chứng khoán:
• Phương thức phát hành cổ phiếu doanh nghiệp:
- Phát hành tại doanh nghiệp, cổ phiếu được bán cho các cổ đông của doanh nghiệp Phương pháp này thường áp dụng ở những doanh nghiệp nhỏ
- Phát hành ra công chúng thông qua các tổ chức trung gian tài chính
• Phương thức phát hành trái phiếu:
- Phát hành trực tiếp qua kho bạc nhà nước;
- Phát hành qua các đại lý là các tổ chức trung gian tài chính;
- Phát hành theo phương thức đấu thầu;
- Phát hành ra công chúng thông qua các tổ chức trung gian tài chính Các tổ chức phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu có thể lựa chọn một trong các phương thức phát hành tùy theo điều kiện, năng lực của mình sao cho phù hợp nhớm đảm bảo cho việc phát hành đạt hiệu quả cao nhất, tránh được những rủi ro
Trang 24e) Xác định giá chứng khoán khi phát hành
• Phương pháp định giá chứng khoán k h i phát hành:
- Định giá chứng khoán theo mệnh giá, tức là giá chứng khoán được xác định bằng mệnh giá của nó
- Định giá chứng khoán theo giá thị trường Theo phương pháp này, giá chứng khoán được xác định tùy theo tình hình thực tế trên thị trường N h ư vậy, giá chứng khoán có thể cao hơn, bằng hoặc thấp hơn mệnh giá
- Định giá theo giá đấu thầu Tuy thuộc vào kết quả đấu thầu m à đưa ra giá của chứng khoán
- Định giá bán bao tiêu trọn gói toàn bộ chứng khoán phát hành
- Định giá chứng khoán thấp hơn mệnh giá, có các trường hợp sau: + Giá phát hành nhễ hơn mệnh giá với trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi; + Giá phát hành nhễ hơn giá thị trường Việc định giá thấp hơn giá thị trường nhằm thu hút người mua và như vậy sẽ dễ dàng bán hết số chứng khoán
đã phát hành
+ Giá phát hành bằng mệnh giá nhưng được mua chịu m ộ t thời gian nhất định hoặc không phải trả lãi mua chịu, hoặc trả lãi mua chịu ở mức thấp hơn lãi suất đi vay trên thị trường
• Các yếu tố ảnh hưởng đến giá:
- Giá trị hiện tại của nguồn thu nhập tiền lãi hàng năm, giá trị hiện tại của mệnh giá của trái phiếu và các yếu t ố như trái suất, l ợ i suất yêu cầu và thời hạn của trái phiếu
- Cổ tức và kết quả k i n h doanh của công ty phát hành ra cổ phiếu đó
N ế u như kết quả k i n h doanh của công t y có l ợ i nhuận hoặc cổ tức của cổ phiếu do công t y phát hành cao sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư và như vậy có ảnh hưởng tốt tới giá chứng khoán làm cho giá tăng Ngược lại nếu kết quả k i n h
Trang 25doanh của công ty có lợi nhuận hoặc cổ tức của cổ phiếu do công ty phát hành thấp làm cho giá chứng khoán giảm
- Cung, cầu về chứng khoán và về vốn đầu tư Nếu cung nhiều hơn cầu
có thể làm cho giá chứng khoán giảm xuống, ngược lại cung thấp hơn cầu có thể là cho giá chứng khoán tăng
Tị Vấn để bảo lãnh phát hành chứng khoán:
Ngày nay, rất ít chứng khoán được phát hành trực tiếp đến người đầu tư, hình thức này chỉ còn tổn tại với nhằng công ty quá nhỏ Hầu hết chứng khoán đều được phát hành theo hình thức bảo lãnh Đây là một hoạt động nhằm đảm bảo cho người phát hành chứng khoán xác định được số vốn sẽ huy động để từ
đó có kế hoạch sử dụng vốn Vì vậy, vai trò của tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán là rất quan trọng, tổ chức bảo lãnh sẽ cố vấn về thị trường, giúp
tổ chức phát hành chứng khoán chuẩn bị tài liệu và tư vấn về pháp luật; xem xét các báo cáo tài chính, tư vấn và giúp tổ chức phát hành chuẩn bị tài liệu để trình bày trước các nhà đầu tư và g i ằ vai trò chủ đạo trong việc phân phối chứng khoán Bên cạnh đó việc quản lý các hoạt động của tổ chức bảo lãnh cũng không k é m phần quan trọng so với việc quản lý tổ chức phát hành
Nhằng nước có T T C K phát triển như Anh, Mỹ, Nhật Bản đều có yêu cầu công khai thông tin đối với tổ chức bảo lãnh phát hành cũng như đối v ớ i người phát hành Bản công bố thông tin phải có chằ ký của tổ chức phát hành
và của cả tổ chức bảo lãnh phát hành Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán ở nhằng thị trường này tập trung vào tay một số nhằng công t y chứng khoán hoặc ngân hàng đầu tư lớn có uy tín ở nhằng T T C K m ớ i n ổ i cũng đều
có quy định về hoạt động bảo lãnh phát hành Thông thường, cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ việc cấp phép hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán Chỉ nhằng đối tượng là các công ty tài chính hoặc ngân hàng có nhiều k i n h nghiệm và có khổLĨỊlQ&ĩg ^ chính t ố t m ớ i được cấp g i ấ y p h é p bảo
u R íi.v " O i ,
Lão Ạ: THUÔN?
Trang 26lãnh phát hành chứng khoán N h à nước cũng có thể quy định mức phí bảo lãnh phát hành t ố i đa nhằm giảm chi phí phát hành, bảo vệ quyền l ợ i cho người đầu tư Ví dụ ớ Đài Loan, mức phí này tối đa là 5 % trị giá chứng khoán phát hành, ở Indonexia là 4% Đ ế n nay, việc cấp phép cho các công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán ở T T C K các nước đang phát triển thường là do
Bộ Tài chính chịu trách nhiệm Bên cạnh đó, UBCK có quyền có ý kiến vì ngân hàng đầu tư thường được phép làm dịch vụ này
1.2.3.2 - THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THỨ cn> (The secondary Market)
Thị trường chứng khoán thứ cấp là một bộ phổn của TTCK, là nơi diễn
ra các giao dịch, mua đi bán lại các loại chứng khoán đã phát hành để tạo tính thanh khoản cho chứng khoán Việc mua bán chứng khoán này chính là để duy trì khả năng thanh toán, là để đánh giá các doanh nghiệp và thay đổi cơ cấu sở hữu cồng ty Hoạt động của thị trường thứ cấp không làm tăng thêm vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhưng lại tạo ra sự giao lưu vốn Thị trường thứ cấp thực hiện 2 chức năng sau:
- T T C K thứ cấp tạo ra những điều kiện thuổn l ợ i để mua bán lại các chứng khoán đã phát hành ở thị trường sơ cấp N h ờ có thị trường thứ cấp m à các hộ gia đình, các nhà đầu tư có thể yên tâm vì họ có thể rút vốn ra trước hạn bằng cách bán chứng khoán k h i cần thiết Thị trường thứ cấp có tính thanh khoản cao vì vổy làm cho các chứng khoán có sức hấp dẫn và như thế sẽ tạo điều kiện thuổn tiện và dễ dàng hơn cho các tổ chức phát hành bán chúng ở thị trường sơ cấp
- T T C K thứ cấp xác định trị giá của các loại chứng khoán khá đúng đắn Việc định giá các loại chứng khoán còn tuy thuộc vào sự đánh giá của người mua và người bán trên thị trường đối với thực trạng và triển vọng của doanh nghiệp phát hành chứng khoán đó Giá của loại chứng khoán nào được định giá cao trên thị trường t h ứ cấp thì công ty phát hành các chứng khoán đó sẽ có
Trang 27uy tín lớn hơn trên thị trường và các đợt phát hành chứng khoán sau sẽ được giá hơn [34]
N h ư vậy, sự khác nhau căn bản giữa thị trường sơ cấp và thị trường t h ứ cấp là ở chỗ, chứng khoán được đưa ra mua bán ở thị trường thứ cấp không phải là chứng khoán được phát hành lần đầu Đây là sự khác biệt về bản chất
và mục đích của thị trường thứ cấp Bởi vì việc phát hành cồ phiếu hay trái phiếu ở thị trường sơ cấp là nhằm thu hút m ọ i nguồn vốn đầu tư vào công cuộc phát triển kinh tế, còn ở thị trường thứ cấp dù việc giao dịch rất nhộn nhịp, có thể có số lượng chứng khoán rất lớn được mua đi bán lại, nhưng không có m ộ t đồng vốn nào huy động vào đầu tư Ở đây chỉ có những khoản l ờ i từ chênh lệch giá của việc kinh doanh chứng khoán Mặc dù thị trường t h ứ cấp không làm tăng thêm vốn đầu tư cho nền kinh tế nhưng chính nhờ 2 chức năng này
m à thị trường thứ cấp có vị trí rất lớn trong thị trường tài chính N ó có ý nghĩa
k i n h t ế rất quan trọng, tạo nên một cơ chế thu hút tiền tích l ũ y vào phát triển sản xuất và tạo điều kiện cho người đầu tư có thể rút ra k h ỏ i thị trường vốn, tránh bớt rủi ro
Giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có m ố i quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề, thị trường thứ cấp là động lực Nếu không có thị trường sơ cấp thì sẽ không có chứng khoán để lưu thông mua bán trên thị trường t h ứ cấp và ngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp khó hoạt động trôi chảy, các loại chứng khoán sẽ rất khó khăn trong phát hành, không dễ dàng chuyển hoa được thành tiền k h i người đầu tư có nhu cầu và như vậy không ai d á m mua chứng khoán vì vốn của họ sẽ bị bất động
Sự phân biệt thị trường sơ cấp và thị trường t h ứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết Trong thực tế tồ chức và hoạt động của T T C K không có sự phân biệt rạch ròi đâu là thị trường sơ cấp, đâu là thị trường thứ cấp Nghĩa là trong
Trang 28một T T C K vừa có giao dịch của thị trường sơ cấp vừa có giao dịch của thị trường thứ cấp Vừa có việc giao địch mua bán chứng khoán m ớ i phát hành, vừa có việc giao dịch mua bán chứng khoán theo tính chất mua đi bán lại, vì vậy có thể gọi thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp là cơ cấu của một TTCK
1.2.3.3 - THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Tập TRUNG
a) Khái niệm: T T C K tập trung là thị trường ở đó các hoạt động giao dịch về chứng khoán được thực hiện thông qua Sở giao dịch chứng khoán (The Stock Exchange) Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) là loại hình tiêu biểu của phương thức tầ chức TTCK, là nơi gặp gỡ của các nhà môi giới, thương gia chứng khoán để h ọ có thể đấu giá, thương lượng mua bán chứng khoán theo yêu cầu của công ty chứng khoán và các nhà đầu tư, là tầ chức phục vụ cho hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán ngay tại sàn giao dịch SGDCK tồn tại dưới các hình thức:
- D ư ớ i dạng câu lạc bộ "mini", do các công ty môi giới chứng khoán tầ chức và quản lý theo luật pháp, không có sự can thiệp của N h à nước Hình thức tự quản này có tính tự phát và phầ biến ở giai đoạn đầu k h i xuất hiện TTCK tập trung
- D ư ớ i dạng hiệp hội hữu hạn, các hiệp h ộ i hữu hạn này dần dần hoàn thiện thành công ty cầ phần, cầ đông là các công ty chứng khoán thành viên Trong hình thức này, SGDCK như một doanh nghiệp hoạt động theo luật công
Trang 29+ Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý cao nhất của SGDCK đề ra các chủ trương, kế hoạch và quyết định các vấn đề trọng yếu liên quan đến các mặt hoạt động của SGDCK
+ Ban giám đốc điều hành là cơ quan thường trực của SGDCK, có trách nhiệm thực hiện các chủ trương, chính sách và quyết định của Hội đồng quản trị Ban giám đốc trực tiếp tổ chức, quản lý, giám sát và điều hành toàn bộ hoạt động của SGD;
+ Thành viên của SGDCK là các công ty chứng khoán;
+ Trung tâm thanh toán bù trừ, là cơ quan thực hiện nhiệm vỊ thanh toán và thanh toán bù trừ các giao dịch chứng khoán
+ Trung tâm lưu ký chứng khoán
HỘI ĐỐNG QUÁN TRỊ
ị
BAN GIÁM ĐỐC ĐIÊU HÀNH
THÀNH VIÊN THÀNH VIÊN THÀNH VIÊN THÀNH VIÊN
CÁC ĐƠN VỊ TR TÂM THANH
CH.MÔN CÙA SGD TOÁN BÙ TRỪ
TỊ LƯU KÝ CHÚNG KHOÁN
CÁC ĐƠN VỊ CH.MỐN CÙA SGD
Sơ đổ 1.2 - Cơ Cấu tổ chức của SGDCK
Trang 30c) Nguyên tắc hoạt động của SGDCK:
+ Các hoạt động phát hành chứng khoán, mua bán, trao đổi, chuyển nhượng chứng khoán, quản lý và lưu ký chứng khoán, thanh toán và tư vấn phải tuân theo pháp luật về chứng khoán và TTCK và tuân thủ luật pháp hiện hành có liên quan
+ Mọi giao dịch kinh doanh chứng khoán tại SGDCK phải thông qua người môi giới, gọi là nguyên tắc trung gian
+ Hặu hết các loại chứng khoán khi đưa ra giao dịch trong SGDCK đều phải đăng ký, cũng có nước áp dụng việc cấp phép niêm yết
+ Các hoạt động kinh doanh chứng khoán phải được diễn ra trên sàn giao dịch trong SGDCK hoặc hệ thống giao dịch (đối với những SGDCK không có sàn)
+ Nguyên tắc công khai: Công khai tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành chứng khoán Công khai về: Số lượng, mệnh giá, giá chào bán, giá đặt mua, giá ký hợp đồng, các điều kiện ưu đãi
+ Nguyên tắc đấu giá, vì giá cả của chứng khoán chịu ảnh hưởng bởi lượng cung, cặu, nên giá mua và giá bán chứng khoán phải theo nguyên tắc đấu giá công khai
+ Việc thanh toán khi mua bán chứng khoán được thực hiện qua Trung tâm thanh toán bù trừ (Clearing house center) và thanh toán ngay
+ Chứng khoán được bảo quản và lưu giữ tại Trung tâm lưu ký chứnơ khoán, không giao cho người có quyền sở hữu chứng khoán Việc chuyển quyền sở hữu chỉ thực hiện trên sổ sách và giấy chứng nhận chứng khoán do Trung tâm cung cấp Giấy này có giá trị pháp lý để đặt lệnh mua hoặc lệnh bán trên SGD
d) Quy trình giao dịch trên SGDCK:
Trang 31Sơ đổ 1.3: Quy trình giao dịch trên SGDCK
Nguồn: Trần Đắc Sinh (2002), sỏ giao dịch chứng khoán mô hình và bước
đi, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh
(1) Khách hàng ký kết hợp đồng ủy thác với thành viên của SGDCK,
đây là bản cam kết giữa thành viên của SGD và khách hàng Các thành viên của SGD đóng vai trò là người môi giới Sau khi có hợp đồng, khi cần thiết, khách hàng ra các lệnh mua hoặc bán chứng khoán cho công ty môi giới trực tiếp hoặc qua các phương tiện điện thoội, telex, fax , phòng nghiệp vụ của công ty môi giới lập phiếu lệnh của khách hàng với các nội dung: Tên, số, loội tài khoản của khách hàng, ngân hàng giao dịch, lệnh mua hay bán, số lượng loội chứng khoán, giá và định chuẩn lệnh, lệnh số
Trang 32(2) Thành viên SGD lập phiếu lệnh và thông báo cho đại diện của mình trong SGDCK Phiếu lệnh được chuyển đến phòng giao dịch và đăng ký với chuyên gia để tham gia đấu giá Giá ghi trong lệnh gọi là giá đặt hàng
(3) Đấu giá và công bố giá chính thức
(4) Thông báo kết quả đấu giá lên bảng điện Thông báo này có giá trị pháp lý để tiến hành siao chứng khoán và trả tiền
(5) Các thành viên của SGD báo cáo kết quả cho Trung tâm lưu ký chứng khoán, thanh toán bù trừ và khách hàng để tiến hành giao chứng khoán
từ người bán sang người mua sau thời hạn qui định, kể từ ngày giao dịch
(6) Thanh toán qua hệ thống ngân hàng sau khi bù trừ, Trung tâm thanh toán bù trừ trích chuyển vốn từ tài khoản của người mua trả vào tài khoản của người bán [28]
e) Đăng ký chứng khoán ỵ SGDCK: Các loại chứng khoán khi được đưa
ra giao dịch, mua bán đều phải đăng ký vào danh mục các chứng khoán được giao dịch và yết giá trên thị trường Các chứng khoán phải có đủ các tiêu chuẩn, như: Chứng khoán vô danh hoặc ghi danh, chứng khoán trung và dài hạn, mệnh giá không quá lớn Đ ố i với các loại chứng khoán mới phát hành công tỵ phải có hồ sơ phát hành
f) Phương pháp định giá chứng khoán: Định giá chứng khoán theo nguyên tắc đấu giá công khai và cạnh tranh tự do Lệnh bán nào có giá thấp nhất và lệnh mua nào có giá cao nhất sẽ được ưu tiên trước Nếu cùng một mức giá, lệnh nào đưa ra trước sẽ được thực hiện trước Có 2 thời điểm định giá chứng khoán:
Định giá khi mỵ cửa, tất cả các lệnh giao dịch nhận được trước giờ mỵ cửa được đối xử như nhau, không phân biệt thời gian đặt lệnh trước hay sau Khi so sánh mức giá và số lượng đặt lệnh mà có sự trùng hợp nhau thì giá đó được coi là giá mỵ cửa Đây là giá của đạt giao dịch đầu tiên trong một ngày
Trang 33Bảng 1.1: Ví dụ Ì về xác định giá mở cửa ứng vói các lệnh tiếp nhận:
Ư S D thì cung và cầu về CK bằng nhau và bằng 10.000 cổ phiếu Vậy giá 253
USD là giá duy nhất trước giờ mở cửa ở mức càn bằng giữa cung và cầu, và
được coi là giá mở cửa cạa Hội đồng giao dịch cổ phiếu đầu tiên trong ngày
Định giá sau khi mở cửa phức tạp hơn, gồm khớp lệnh định kỳ
(Periodicable order matching) và khớp lệnh liên tục (Successive order matching):
- Khớp lệnh định kỳ là việc định giá theo từng đạt đấu giá sau khi có
giá mở cửa, tùy thuộc vào lượng chứng khoán giao dịch Tất cả các lệnh trong
đợt đó được đối xử như nhau
Trang 34- Khớp lệnh liên tục là việc định giá liên tục sau khi có giá mở cửa, lệnh nhận tại sàn giao dịch đến đâu thì thực hiện đấu giá đến đấy Loại đấu giá này chỉ áp dụng đối với SGD nào mà lượng CK giao dịch lớn và thường xuyên
Bảng 1.3: Xác định giá sau khi mở cửa ứng với các lệnh tiếp nhận:
Trên cơ sở các lệnh tiếp nhận trên, ta thấy: các lệnh bán cổa các công ty
A, B có giá bán không gặp được các lệnh mua cổa các công ty M, N và p cho nên chưa thực hiện được giao dịch ký kết hợp đồng
Thêm lệnh bán 4000 cổ phiếu cổa c.ty c với giá 254ƯSD và lệnh mua
2000 cổ phiếu cổa c.ty Q với giá 253USD, vẫn chưa thực hiện giao dịch
Thêm được lệnh bán 4000 cổ phiếu với giá 253 USD cổa c.ty D, giá mua và giá bán gặp nhau ở mức 253USD, nhưng cung<cầu Trường hợp này phải áp dụng phương pháp ưu tiên nhận lệnh đặt mua trước Do vậy công ty Q đặt mua 2000 cổ phiếu sau cùng nên chỉ được phân bổ 1000 cổ phiếu Giá này được coi là giá sau khi mở cửa
g) Một số loại giao dịch trong SGDCK:
+ Giao đích trả tiền ngay (Cash transaction) là loại hình giao dịch m à việc xác nhận giá giao dịch, việc giao nhận và thanh toán chứng khoán xảy ra đồng thời với nhau Sự đồng thời này là bao nhiêu ngày còn tùy thuộc vào luật cổa mỗi nước, ở Việt Nam là T + 3
+ Giao dịch thông thường (Regular transaction), đối với loại giao dịch
Trang 35này việc giao nhận chứng khoán và thanh toán thực hiện qua trung tâm thanh toán bù trừ được tiến hành sau k h i ký hợp đồng một số ngày (tùy theo tập quán của các nước)
+ Giao dịch hợp đồng kỳ hạn (Forward transaction) là loại giao dịch m à hợp đồng được ký ngày h ô m nay nhưng việc giao nhận chứng khoán và thanh toán được thực hiện vào một thời hạn trong tương lai và được quy định rõ trong hợp đồng Giao dịch kỳ hạn là giao dịch thực sự, không thể hủy bụ, rất phổ biến, thường áp dụng cho loại bao tiêu chứng khoán, được g ọ i là giao dịch
cố định
+ Giao dịch hợp đồng tương lai (Futures transaction) tương tự giao dịch
kỳ hạn, là giao dịch mua, bán hợp đổng tương lai (Futures contract) về Ì loại chứng khoán nhất định Giao dịch tương lai được tiến hành tại những thị trường giao dịch nhất định, theo phương pháp đấu giá công khai Giá cả chứng khoán biến động theo từng phiên đấu giá Các bên ký hợp đồng phải đặt cọc một khoản tiền theo quy định Việc thanh toán được trả ngay qua tài khoản
mở tại trung tâm thanh toán bù trừ Các bên ký hợp đồng có thể đề nghị hoãn thực hiện hợp đồng nhưng phải tăng số tiền đặt cọc lên bằng số tiền chênh lệch hợp đồng tính theo giá ký kết hợp đồng Cũng có thể hoãn thanh toán đến
kỳ hạn sau và trả một khoản đền bù Nếu bên mua x i n hoãn thanh toán thì phải bù cho bên bán gọi là: "bù hoãn mua (Contango)", ngược lại nếu bên bán
x i n hoãn giao hàng thì phải đền bù cho bên mua, g ọ i là: "Bù hoãn bán (Backwardation)"
+ Giao dịch quyền chọn bán/mua chứng khoán (Option transaction):
Đ ố i với giao dịch quyền chọn bán, cho phép người mua được quyền bán một số chứng khoán nhất định với giá được ấn định trong một thời gian nhất định Đ ể mua được quyền chọn bán này, người mua phải trả cho người bán một khoản lệ phí, gọi là phí chọn bán (Put premium)
Trang 36Đ ố i với giao dịch quyền chọn mua, cho phép người mua được quyền
chọn mua một số chứng khoán theo giá cố định trước tại một thời điểm ấn
định trong tương lai Đ ể có thể mua được quyền chọn mua này, người mua
phải trả cho người bán một khoản lộ phí, gọi là phí chọn mua (Call premium)
[36]
1.2.3.4 - THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI Tập TRUNG (Over the Counter-OTQ:
Là một bộ phận của TTCK, nhưng khác với SGDCK, thị trường chứng
khoán phi tập trung không có trụ sở riêng Các nhà kinh doanh chứng khoán
tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoán tại các quễy giao dịch của các
ngân hàng hoặc qua hệ thống máy v i tính nối mạng chứ không gặp nhau trên
sàn giao dịch hoặc thông qua trung gian
T T C K phi tập trung là loại thị trường "bậc cao", các giao dịch trên thị
trường phi tập trung diễn ra trực tiếp, không thông qua hệ thống đấu giá có yết
giá, không cễn địa điểm cố định, chi phí giao dịch thấp Việc mua bán chứng
khoán ở đây được tiến hành trên nhiều địa điểm khác nhau và danh mục chứng
khoán cũng rất đa dạng Ở thị trường này việc mua bán chứng khoán của các
công ty và các tổ chức ít được biết đến Các giao dịch được thực hiện bởi các
nhà môi giới, các nhà tạo thị trường, những người duy trì thị trường đối v ớ i
từng chứng khoán Khách hàng tiếp cận thị trường phi tập trung dễ dàng hơn
nhiều nhờ vào các điều kiện tham gia thị trường phi tập trung lỏng lẻo hơn so
với SGDCK, nhưng các cổ phiếu được mua ở thị trường phi tập trung thường
có độ rủi ro cao, vì thông thường tham gia vào thị trường phi tập trung là các
công ty nhỏ với một quá trình giao dịch ngắn, mức độ công khai của các công
ty này có giới hạn, tương đối ít cổ phễn được công chúng mua M ặ t khác, thị
trường phi tập trung không có sàn giao dịch, do vậy các nhà môi giới bị ngăn
cách nhau về không gian và trong nhiều trường hợp họ không liên lạc kịp thời
với nhau
Trang 37Bảng 1.4; Sự khác nhau giữa SGDCK và thị trường OTC:
- Chứng khoán của các công ty - Chứng khoán của các công ty không
- Chứng khoán mua qua SGD có - Chứng khoán mua ở OTC có độ rủi ro
độ rủi ro thấp hơn cao hơn
Qua sự phân tích ở trên ta có thể thấy SGDCK là thị trường trung tâm,
là loại hình tiêu biểu của phương thức tổ chức TTCK
ì 3 - VAI TRÒ CỦA TTCK TRONG NÊN KINH TÊ QUỐC DÂN
TTCK là một bộ phận hết sức quan trỦng của thị trường tài chính, có tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế quốc dân và ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển của xã hội, cụ thể ở các mặt sau:
- TTCK giúp chính phủ và các tổ chức kinh tế huy động vốn trung và dài hạn để đầu tư phát triển, làm cầu nối giữa những người thừa vốn với những người thiếu vốn thông qua việc trao đổi, mua bán chứng khoán, bảo đảm cho các loại chứng khoán được phép lưu hành có thể được mua bán, chuyển nhượng thuận tiện theo quy luật cung cầu
Trang 38- T T C K là phương tiện thuận l ợ i để giúp các nhà đầu tư có những thông tin chính xác, kịp thời về tình hình cung cầu về vốn, giá cả của các loại chứng khoán trên thị trường trong và ngoài nước Mặt khác nó cũng là công cụ
để đánh giá hiệu quả hoạt đẩng của các doanh nghiệp và hiệu quả của nền
k i n h tế
- T T C K đóng vai trò tự đẩng điều phối vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, tạo ra sự giao lưu, luân chuyển vốn, là đẩng lực để thúc đẩy hoạt đẩng quản lý nền k i n h tế, là công cụ là giảm bớt áp lực lạm phát
- T T C K có thể được coi là con đường quan trọng để thu hút v ố n đầu tư nước ngoài vào trong nước đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế, đồng thời cũng là phương tiện để hẩi nhập với nền kinh tế thế giới
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, TTCK cũng có những mặt trái đó là môi trường thường xảy ra những hoạt đẩng đầu cơ M ẩ t bẩ phận không nhỏ trong những người kinh doanh chứng khoán dự đoán và phân tích được sự biến đẩng của T T C K nói riêng và thị trường tài chính nói chung, d ự đoán và phân tích được sự vận đẩng của quan hệ cung cầu, họ mạo hiểm, chấp nhận r ủ i ro tiến hành việc tích lũy chứng khoán, tạo ra khan hiếm giả tạo, chờ đợi cơ h ẩ i giá chứng khoán tăng và bán ra nhằm thu lời, làm rối loạn và gây hại cho hoạt đẩng của TTCK
T T C K cũng là nơi diễn ra các hoạt đẩng mua bán n ẩ i gián, người k i n h doanh chứng khoán m ó c n ố i với nhân viên S G D C K đ ể mua vào họăc bán ra chứng khoán của doanh nghiệp nào đó để kiếm lời cho riêng mình hoặc để tránh r ủ i ro, l ỗ vốn
T T C K cũng có thể là mẩt công cụ m à các cổ đông hoặc những người nắm g i ữ chứng khoán lợi dụng để lũng đoạn các doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến ttình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và làm ảnh hưởng đến hoạt đẩng của TTCK [27], [28], [34]
Trang 391.4 - NHỮNG VÂN DỀ cơ BẢN VẾ QUẢN LÝ TTCK
1.4.1 - KHÁI NIỆM Cơ BẢN VỀ QUẢN LÝ TTCK
T ừ k h i xã hội loài người chuyển từ chế độ cộng sản nguyên thủy lên chế
độ chiếm hữu nô lệ, bắt đầu thời kỳ phân chia giai cấp thì nhu cầu về quản lý cũng được xuất hiện Trong giai đoạn đầu, việc quản lý mang tính tự phát Dần dần, cùng với sự phát triển của xã hội qua các thời kỳ khác nhau tương ậng với các phương thậc sản xuất khác nhau thì trình độ quản lý phát triển theo Trong giai đoạn hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão; những tiến bộ của khoa học kỹ thuật được áp dụng mạnh mẽ vào cuộc sống, bên cạnh những yếu tố cơ bản tác động tới sự phát triển của xã hội như sậc lao động, trình độ lao động thì một yếu tố được coi là quan trọng hàng đầu đó là yếu tố quản lý
N h ư vậy, quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng
của chủ thể quản lý lên khách thể bị quản lý trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các biện pháp cụ thể, nhằm tầo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đôi tượng của quản lý [13]
Khái niệm quản lý đối với TTCK: TTCK là một lĩnh vực hoạt động quan
trọng, là thước đo sự phát triển của nền kinh tế của một quốc gia, vì vậy, quản
lý đối với TTCK là sự quản lý vĩ mô của nhà nước đối với các hoầt động xây dựng, vận hành và phát triển TTCK, thông qua hệ thống pháp luật và bằng các biện pháp cụ thể, tầo ra môi trường và điêu kiện cho sự phát triển của TTCK, nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển của nền kinh tế
Như đã trình bày ở phần trên, quản lý thực chất có thể coi là sự tác động
Trang 40của chủ thể quản lý lên các khách thể và đối tượng chịu sự quản lý, làm cho các khách thể và các đối tượng này vận động theo cách thức m à chủ thể mong muốn Bản chất của hoạt động quản lý là quá trình đề ra các luật lệ, quy tắc, quy định và thực hiện việc giám sát, cưỡng chế thực thi các luật lệ, quy tắc, quy định đó nhằm kích thích và phát triển nhỏng yếu tố tích cực đồng thời loại
bỏ nhỏng yếu tố tiêu cực, không mong muốn Hoạt động có sự quản lý là hoạt động phải tuân thủ các luật lệ, các quy tắc do con người là các chủ thể quản lý đặt ra
Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển T T C K của các nước trên t h ế giới cho thấy, việc quản lý T T C K xuất hiện v ớ i mục đích chống l ạ i nhỏng hành v i thao túng, lừa đảo, tiêu cực, chống lại sự l ạ m dụng trong hoạt động kinh doanh chứng khoán trên thị trường Cùng với sự phát triển với quy m ô rộng lớn và ngày càng đa dạng, phức tạp của T T C K thì phương thức, n ộ i dung, chức năng của quản lý ngày càng được hoàn thiện và phát triển N ế u như trong thời kỳ sơ khai của TTCK, việc quản lý chủ yếu là do các tổ chức tự quản đảm trách, không có sự tham gia của các tổ chức quản lý nhà nước và pháp luật, thì cho đến nay ở hầu hết các nước đã có sự tham gia quản lý của N h à nước để tăng cường hiệu quả của quản lý đối với TTCK Nếu như trước đây, chức năng chủ yếu của các chủ thể quản lý là duy trì sự ổn định, kỷ luật của thị trường thì ngày nay ngoài các chức năng đó, các chủ thể quản lý còn đảm trách cả chức năng phát triển thị trường và ngăn chặn nhỏng r ủ i ro lây lan của toàn bộ