Khi các yếu tố khác trong nền kinh tếkhông đổi đối với một nước có lạm phát, sức mua đồng nội tệ giảm, vớiTGHĐ không đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nướcngoài tr
Trang 1Luận văn Ảnh hưởng của đồng nhân dân tệ tăng giá tới xuất nhập khẩu và
đầu tư tại Việt Nam
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU Thế giới đang chứng kiến những thay đổi mạnh mẽ của các nền kinh tế
với xu hướng vận động nhằm xây dựng một nền kinh tế toàn cầu thống nhất.Các nước ngày càng mở rộng việc hợp tác với nhau trên hầu hết các lĩnh vực,đặc biệt là lĩnh vực kinh tế thông qua quan hệ thương mại trao đổi hàng hóadịch vụ Xu thế này mang đến cho các nước những cơ hội lớn để tăng khảnăng phát triển và cũng tạo ra tầm ảnh hưởng đối với các nước khác Trongđiều kiện hàng hóa được trao đổi từ nước này sang nước khác một cách khá
dễ dàng như hiện nay,việc một nước đưa ra những chính sách thay đổi hay cóbiến động trong nền kinh tế cũng gây ra những thay đổi trong quan hệ kinh tếvới các nước khác Mức độ ảnh hưởng này còn phụ thuộc vào nhiểu yếu tốnhư nền kinh tế đó là lớn hay nhỏ, thị trường hàng hóa của nước này trên thếgiới, các quan hệ khác như chính trị, văn hóa, xã hội… và để đánh giá nhữngảnh hưởng này còn phải xột trờn nhiều khía cạnh khác nhau
Chúng ta đã nhìn thấy tầm ảnh hưởng của nền kinh tế một quốc gia tớitoàn thế giới thông qua cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 2008 vừa qua.Nguyên nhân sâu xa của cơn địa chấn tài chính bắt nguồn từ khủng hoảng tíndụng và nhà đất tại Mỹ Bong bóng bất động sản càng lúc càng phình to đãđặt thị trường nhà đất và tiếp đó là tín dụng tại Mỹ cũng như nhiều quốc giachâu Âu vào thế nguy hiểm Khủng hoảng tài chính bựng phỏt tại Mỹ và lanrộng toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ đồng loạt của nhiều định chế tài chínhkhổng lồ, thị trường chứng khoán khuynh đảo Năm 2008 cũng chứng kiến nỗlực chưa từng có của các nền kinh tế để chống chọi với "bão"
Không chỉ những nền kinh tế lớn mới có ảnh hưởng sâu sắc tới cácnước khác mà các nền kinh tế mới nổi có triển vọng tăng trưởng kinh tế hếtsức khả quan, ngày càng tham gia vào việc giải quyết vấn đề toàn cầu, tăngcường hợp tác phát triển Trong số đó phải kể đến một đất nước được xem là
Trang 3cường quốc sau Mỹ hiện nay, đó là Trung Quốc Với diện tích lớn, qui môdân số, tổng lượng kinh tế, dự trữ ngoại hối, vị thế một trong 5 ủy viênthường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc… Trung Quốc ngày càng mởrộng tầm ảnh hưởng quốc tế của mình Đặc biệt trong lĩnh vực tiền tệ quốc tế,Trung Quốc càng nổi rõ thân phận "một nước lớn trên thế giới", không những
vì mức dự trữ ngoại hối rất lớn, mà cũn vỡ Trung Quốc bắt đầu trở thành lựclượng quan trọng để ổn định thị trường tiền tệ quốc tế Thuyết "cân bằngkhủng hoảng tiền tệ" Trung-Mỹ nói từ một khía cạnh khác cho thấy vị thế rấtquan trọng của Trung Quốc trong lĩnh vực này Cũng vì thế, Trung Quốckhông những cần tăng tốc cải tạo và tái tạo thể chế tiền tệ trong nước, mà cònphải phát huy vai trò trong cuộc xây dựng lại trật tự tiền tệ quốc tế, trong đó
cơ chế nhóm G20 vừa thành lập là một vũ đài quan trọng Chính sách phá giátiền tệ trước kia góp phần giúp cho hàng hóa Trung Quốc xâm nhập hiệu quảvào thị trường quốc tế Hiện nay trước những sức ép từ các nước đặc biệt là
Mỹ buộc Trung Quốc phải định giá lại đồng nhân dân tệ cho phù hợp Chínhphủ Trung Quốc đã phải nâng giá nhân dân tệ nhằm làm ổn định nền kinh tế.Điều này tác động không nhỏ tới nền kinh tế Trung Quốc cũng như các nềnkinh tế khỏc trờn thế giới
Việt Nam là một quốc gia láng giềng, có quan hệ lịch sử lâu dài và hiệnnay cũng là một đối tác thương mại quan trọng của Trung Quốc, nhập khẩunhiều mặt hàng từ Trung Quốc Vì thế những thay đổi trong chính sách nóichung và trong chính sách tiền tệ nói riêng của Trung Quốc cũng có nhữngtác động không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam Phân tích những ảnh hưởng củayếu tố này không chỉ giúp chúng ta có cái nhìn sắc nét hơn về quan hệ thươngmại giữa hai nước mà còn tận dụng được những lợi thế từ việc tăng giá nhândân tệ đem lại cho Việt Nam
Trang 4Thêm vào đó Đô la Mỹ có nhiều biến động bất thường như hiện naycùng với xu hướng tăng giá của đồng nhân dân tệ sẽ tạo ra tác động kép tớinền kinh tế Việt Nam Với mong muốn tìm hiểu và đánh giá những ảnh
hưởng này em đã thực hiện đề án “Ảnh hưởng của đồng nhân dân tệ tăng giá tới xuất nhập khẩu và đầu tư tại Việt Nam” nhằm đưa ra một số ý kiến
giúp Việt Nam có những bước đi phù hợp trong việc điều chỉnh tỷ giá để thúcđẩy phát triển kinh tế
Theo tiến trình phân tích từ lý thuyết tới thực tế, đưa ra cái nhìn từ tổngthể tới chi tiết, đề án của em được chia thành ba chương cụ thể như sau:
Chương I: “Khỏi quỏt về Tỷ giá hối đoái” Trình bày những nét kháiquát về Tỷ giá hối đoái, những yếu tố tác động và ảnh hưởng của nó tới cácbiến số trong kinh tế
Chương II: “Ảnh hưởng của đồng nhân dân tệ tăng giá tới xuất nhậpkhẩu và đầu tư tại Việt Nam” Ảnh hưởng của nhân dân tệ trên nhiều lĩnh vựcnhư cán cân thương mại, đầu tư, lạm phát nhưng chú trọng tới ảnh hưởng tớicán cân thương mại giữa hai quốc gia
Chương III: “Giải pháp tận dụng lợi thế và hạn chế những bất lợi từviệc nhân dân tệ tăng giá tới hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư tại ViệtNam” Đưa ra một số giải pháp cụ thể để cái thiện chính sách tiền tệ, hạn chếthâm hụt cán cân thương mại, gia tăng thu hút đầu tư
Trang 5NỘI DUNG CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1 Khái niệm cơ bản về TGHĐ (TGHĐ)
1.1 TGHĐ
Tỷ giá là một trong những vấn đề rất được quan tâm trong một nền kinh
tế, đặc biệt là trong nền kinh tế của các nước đang phát triển, đang từng bướchòa nhập vào nền kinh tế thế giới và tham gia vào phân công lao động quốc
tế Bởi hoạt động thương mại quốc tế của các nước này ngày càng phát triển
và đòi hỏi phải có sự tính toán so sánh về giá cả, tiền tệ với các nước đối tác.Chính vì thế việc hiểu rõ khái niệm về TGHĐ là điều cần thiết trong giai đoạn
tự do trao đổi hàng hóa, tiền tệ như ngày hôm nay
Theo Alan C Shapiro: Multinational Financial management Sixthedition, Page 50: “An exchange is, simply, the price of one nation’s currency
in terms of another” (Nghĩa là: TGHĐ, một cách giản đơn là giá của mộtđồng tiền quốc gia này được biểu thị bằng đồng tiền của quốc gia khác)
Theo pháp lệnh về ngoại hối của Việt Nam được Quốc hội ban hànhngày 13/12/2005, tại Khoản 9, Điều 4: “TGHĐ của đồng Việt Nam là giá củamột đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam”
Theo PGS.TS Nguyễn Công Nghiệp trong cuốn TGHĐ – Phương pháptiếp cận và nghệ thuật điều chỉnh NXB Tài chính, năm 1996, trang 3:
“ Về hình thức, TGHĐ là giá đơn vị tiền tệ của một nước được biểuhiện bằng các đơn vị tiền tệ nước ngoài; là hệ số qui đổi của một đồng tiềnnày sang đồng tiền khác, được xác định bởi mối quan hệ cung cầu trên thịtrường tiền tệ”
“Về nội dung, TGHĐ là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu traođổi hàng hóa, dịch vụ, phát sinh trực tiếp từ tiền tệ, quan hệ tiền tệ (sự vậnđộng của vốn, tín dụng…) giữa các quốc gia”
Trang 6Tuy có cách diễn đạt khác nhau như vậy nhưng thực chất TGHĐ được
hiểu là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một nước được tính bằng tiền tệ của một nước khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của các nước khác nhau Đây chính là giá cả của ngoại tệ trên thị trường và được
xác định dựa trên quan hệ cung cầu về ngoại tệ Được coi là mấu chốt trongquản lý kinh tế vĩ mô, TGHĐ có tác động ngược trở lại đến các mối quan hệkinh tế, lên cán cân thanh toán quốc tế, lên giá cả hàng hoá trong nước và lưuthông tiền tệ
Ví dụ: TGHĐ giữa đô la Mỹ và đồng Việt Nam là 1USD = 19.500VND Nghĩa là 19.500 VND mua được 1USD
TGHĐ của nhân dân tệ và đồng Việt Nam là 1CNY = 2,849.49VND.Nghĩa là 2,849.49 VND mua đc 1 nhân dân tệ
*Phân loại
Nhìn chung, TGHĐ được chia thành nhiều loại khác nhau tuỳ vào mụcđích xem xét, nghiên cứu mà chúng ta quyết định sử dụng loại tỷ giá nào.Thông thường tỷ giá được chia thành tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực tế
TGHĐ danh nghĩa là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo nội tệ vàchưa tính đến sức mua của đồng tiền TGHĐ thực là tỷ giá danh nghĩa đãđược điều chỉnh theo giá tương đối giữa các nước Tỷ giá này tăng lên đồngtiền trong nước được coi là bị giảm giá thực so với đồng tiền nước ngoài vàkhi tỷ giá này giảm thì đồng tiền trong nước được coi là bị tăng giá thực sovới đồng tiền nước ngoài TGHĐ hiệu quả thực là tỷ giá được điều chỉnh theomột số các tỷ giá thực của các nước đối tác thương mại Tỷ giá này được xem
là thước đo hữu hiệu khả năng cạnh tranh của một nước trong quan hệ thươngmại với các nước khác bởi nó xét đến tỷ giá thực giữa đồng tiền của một nướcvới nhiều nước tham gia trao đổi thương mại với nước đó TGHĐ thực cânbằng là mức tỷ giá mà tại đó nền kinh tế đồng thời đạt cân bằng bên trong
Trang 7(cân bằng trên thị trường hàng hoá phi mậu dịch) và cân bằng bên ngoài (cânbằng tài khoản vãng lai) Tỷ giá thực cân bằng có mối quan hệ mật thiết vớicác biến số kinh tế khỏc, nó thể hiện độ nhạy của các biến kinh tế đối vớichính sách kinh tế vĩ mô đặc biệt là trong ngắn và trung hạn.
1 .2 Thế nào là tăng giá đồng tiền
Do chịu sự tác động của nhiều yếu tố nên TGHĐ thường xuyên biếnđộng Sự biến động này xảy ra khi có sự tăng giá hoặc giảm giá các đồng tiền.TGHĐ tăng tức là đồng tiền trong nước giảm so với đồng tiền nước khác.TGHĐ giảm tức là đồng tiền trong nước tăng so với đồng tiền của nước khác
Tăng giá tiền tệ là việc tăng giá trị đồng nội tệ so với các ngoại tệ khác so vớimức mà chính phủ đã cam kết trong chế độ TGHĐ cố định Việc đồng Việt Namtăng giá tức là tăng giá trị so với các ngoại tệ khác như USD, EUR…
Ví dụ đầu năm 1980, đồng frăng trị giá 25xu, và ngày 4/4/1991, nó trịgiá 17,7xu Đồng frăng đã sụt giá 30% Ngược lại, chúng ta có thể nói rằngđồng đụla Mỹ tăng giá 40%
1.3 Các nhân tố tác động làm tăng giá đồng tiền
Sự hình thành TGHĐ là quá trình tác động của nhiều yếu tố chủ quan
và khách quan Những yếu tố này trực tiếp hoặc gián tiếp làm cho TGHĐthay đổi Tỷ giá có thể tăng hoặc giảm theo từng thời kỳ hoặc do chính sách
tỷ giá của nhà nước đưa ra
TGHĐ, tức tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền cao hay thấp được quyếtđịnh bởi các lực lượng thị trường, cung và cầu Cung ngoại tệ là lượng ngoại
tệ mà thị trường muốn bán ra để thu về nội tệ Cầu ngoại tệ là lượng ngoại tệ
mà thị trường muốn mua vào bằng các đồng nội tệ Giá cả ngoại tệ, TGHĐcũng được xác định theo quy luật cung cầu như đối với các hàng hoá thôngthường Khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ sẽ làm cho giá ngoại tệ giảm,tức TGHĐ tăng Ngược lại, khi cầu ngoại tệ lớn hơn cung ngoại tệ giá ngoại
Trang 8tệ sẽ tăng, tức tỷ giá giảm Ở vị trí cung ngoại tệ bằng cầu ngoại tệ xác địnhtrạng thái cân bằng, không có áp lực làm cho tỷ giá thay đổi Ta có thể hìnhdung cơ chế hình thành tỷ giá được hiển thị từ khi cú sốc khác nhau về cung
và cầu ngoại tệ Khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, lượng ngoại tệ mà thịtrường cần bán ra nhiều hơn lượng ngoại tệ cần mua vào, khi đú cú một sốngười không bán được sẽ sẵn sàng bán với mức giá thấp hơn và làm cho giángoại tệ trên thị trường giảm Tư duy tương tự, khi cầu lớn hơn cung, một sốngười không mua được ngoại tệ sẵn sàng trả giá cao hơn và gây sức ép làmgiá ngoại tệ trên thị trường tăng Khi cung ngoại tệ bằng cầu ngoại tệ, lượngngoại tệ mà thị trường cần mua đúng bằng lượng ngoại tệ cần bán làm cho giángoại tệ không đổi, thị trường cân bằng Chúng ta có thể thấy, TGHĐ trên thịtrường luôn thay đổi Có rất nhiều nhân tố tác động gây ra sự biến động củaTGHĐ với những mức độ và cơ chế khác nhau
TGHĐ chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau, mỗi yếu tố tác độngtheo một cách khác nhau, ở những mức độ cụ thể khác nhau Để nhìn nhậnmột cách rõ nét và chính xác thì chúng ta phải tách riêng từng yếu tố, xem xét
nó trờn từng khía cạnh Qua đó ta mới có cái nhìn chính xác nhất về mức độcủa các yếu tố này lên TGHĐ, từ đó xác định biên độ giao động của tỷ giá
Trước tiên ta xét tác động của cỏn cân thương mại đến TGHĐ trongđiều kiện các yếu tố khác không thay đổi Cán cân thương mại của một nước
là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu Một nềnkinh tế khi xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ thu được ngoại tệ Để tiếp tụccông việc kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải bán ngoại tệ lấy nội tệ, muahàng hoá dịch vụ trong nước xuất khẩu ra nước ngoài Trên thị trường cungngoại tệ sẽ tăng, làm TGHĐ giảm Ngược lại, khi nhập khẩu hàng hoá dịch
vụ, các nhà nhập khẩu cần ngoại tệ để thanh toán cho đối tác và đi mua ngoại
tệ trên thị trường Hành động này làm cầu ngoại tệ tăng, TGHĐ tăng Tác
Trang 9động của hai hiện tượng trên là ngược chiều trong việc hình thành TGHĐ.TGHĐ cuối cùng sẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào mức độ tác động mạnh yếucủa các nhân tố, đú chớnh là cán cân thương mại Nếu một nước có thặng dưthương mại, cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, TGHĐ sẽ giảm, đồng nội tệlên giá Khi thâm hụt thương mại, TGHĐ sẽ tăng, đồng nội tệ giảm giá.
Trong điều kiện giá cả trong nước ổn định, tình hình lạm phát ở mứcnhỏ không đáng kể, đầu tư ra nước ngoài cũng ảnh hưởng tới TGHĐ do cưdân trong nước dùng tiền mua tài sản ở nước ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp(xây dựng nhà máy, thành lập các doang nghiệp ) hay đầu tư gián tiếp (mua
cổ phiếu, trái phiếu ) Những nhà đầu tư này muốn thực hiện hoạt động kinhdoanh trên cần phải có ngoại tệ Họ mua ngoại tệ trên thị trường, luồng vốnngoại tệ chảy ra nước ngoài, TGHĐ sẽ tăng Ngược lại một nước nhận đầu tư
từ nước ngoài, luồng vốn ngoại tệ chảy vào trong nước, làm cho cung ngoại tệtăng, TGHĐ giảm Đầu tư ra nước ngoài ròng là hiệu số giữa luồng vốn chảy
ra và luồng vốn chảy vào một nước Khi đầu tư ra nước ngoài ròng dương,luồng vốn chảy vào trong nước nhỏ hơn dòng vốn chảy ra nước ngoài,TGHĐtăng TGHĐ sẽ giảm trong trường hợp ngược lại, đầu tư ra nước ngoài rũng
õm Theo quy luật tối ưu hoá, luồng vốn sẽ chảy đến nơi nào có lợi nhất, tức
là hiệu suất sinh lời cao nhất Một nền kinh tế sẽ thu hút được các luồng vốnđến đầu tư nhiều hơn khi nó có môi trường đầu tư thuận lợi, nền chính trị ổnđịnh, các đầu vào sẵn có với giá rẻ, nguồn lao động dồi dào có tay nghề, thịtrường tiêu thụ rộng lớn, lãi suất cao và sự thông thoáng trong chính sách thuhút đầu tư nước ngoài của Chính phủ
Lạm phát ảnh hưỏng đến TGHĐ Khi các yếu tố khác trong nền kinh tếkhông đổi đối với một nước có lạm phát, sức mua đồng nội tệ giảm, vớiTGHĐ không đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nướcngoài trong khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn trên thị trường trong
Trang 10nước Theo quy luật cung cầu, cư dân trong nước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoạinhiều hơn vì giá rẻ hơn, nhập khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, TGHĐ tăng Tương tự
vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dựng ớt hàng nhập khẩu hơn Hoạt động xuấtkhẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên thị trường giảm, TGHĐ tăng Như vậy lạm phátảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá ngoại tệ, tác độngcộng gộp làm cho TGHĐ tăng nhanh hơn Trên thị trường tiền tệ, lạm phát làmđồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài sản nước ngoài nhiềuhơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy TGHĐ tăng Trong trường hợp các quốc gia đều cólạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát tương đối giữacác quốc gia Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn, đồng nội tệ quốc gia đó sẽmất giá một cách tương đối và TGHĐ tăng
Nhân tố cuối cùng và cũng là nhân tố quan trọng nhất tác động đếnTGHĐ đó là tâm lý số đông Người dân, các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các
tổ chức kinh doanh ngoại tệ là các tác nhân trực tiếp giao dịch trên thị trườngngoại hối Hoạt động mua bán của họ tạo nên cung cầu ngoại tệ trên thịtrường Các hoạt động đó lại bị chi phối bởi yếu tố tâm lý, các tin đồn cũngnhư các kỳ vọng vào tương lai Điều này giải thích tại sao, giá ngoại tệ hiệntại lại phản ánh các kỳ vọng của dân chúng trong tương lai Nếu mọi ngưũi kỳvọng rằng TGHĐ sẽ tăng trong tương lai, mọi người đổ xô đi mua ngoại tệ thì
tỷ giá sẽ tăng ngay trong hiện tại Mặt khác, giá ngoại tệ rất nhạy cảm vớithông tin cũng như các chính sách của chính phủ Nếu có tin đồn rằng Chínhphủ sẽ hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu để giảm thâm hụt thương mại,mọi người sẽ đồng loạt bán ngoại tệ và TGHĐ sẽ giảm nhanh chóng
Trên thực tế, TGHĐ bị chi phối đồng thời bởi tất cả các yếu tố trên vớimức độ mạnh yếu khác nhau của từng nhân tố, tuỳ vào thời gian và hoàn cảnhnhất định Việc tách rời và lượng hoá ảnh hưởng của từng nhân tố là việc làmkhông thể Các nhân tố trên không tách rời mà tác động tổng hợp, có thể tăng
Trang 11cường hay át chế lẫn nhau, làm cho TGHĐ luôn biến động không ngừng Sựbiến động của tỷ giá cũng tác động ngược trở lại các yếu tố trên và một số yếu
tố khác trong nền kinh tế vĩ mô Những ảnh hưởng qua lại này làm cho cácyếu tố khác trong nền kinh tế cũng thay đổi: tăng lên hoặc bị kìm hãm Việcnghiên cứu các tác động của tỷ giá đối với nền kinh tế cũng rất cần thiết vàquan trọng
2 Tác động của TGHĐ tới các quan hệ kinh tế
2.1 Tác động tới các biến số kinh tế vĩ mô
Trong một nền kinh tế mở, có sự giao lưu, thông thương hàng hóa giữacác nước với nhau thì mỗi sự biến động của TGHĐ đều có những ảnh hườngđến các biến số kinh tế cũng như các quan hệ quốc tế về kinh tế với các nướctrên thế giới Trong nhiều trường hợp tác động này là rất mạnh mẽ có thể làmthay đổi vị thế kinh tế của một đất nước, tất nhiên là dưới tác động của nhữngyếu tố khỏc Xột về mặt vĩ mô của nền kinh tế tỷ giá có tác động tới rất nhiềuyếu tố và được sử dụng như một công cụ tương đối hữu hiệu để nhà nước ổnđịnh nền kinh tế Dưới đây ta sẽ tách riêng và phân tích yếu tố tỷ giá tác độngthế nào tới các biến số kinh tế với giả thiết các yếu tố khác không thay đổi
2.1.1 TGHĐ và mức giá cả hàng hóa
Với điều kiện không có lạm phát, các yếu tố về giá trị thực của hànghóa được đảm bảo như ban đầu Tỷ giá giảm làm cho giá hàng hóa nhập khẩubằng nội tệ giám Giá hàng hóa nhập khẩu giảm làm cho mặt bằng giá cảchung của nền kinh tế giảm tạo áp lực giảm lạm phát Ngược lại, khi tỷ giátăng, giá hàng hóa nhập khẩu tính băng nội tệ tăng, tạo áp lực tăng lạm phát.Các tác động này được thể hiện qua công thức sau:
Trang 12(1 – a): là tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu
PD: là mức giá hàng hóa sản xuất trong nước tính bằng nội tệ
P*
M: là mức giá cả hàng hóa nhập khẩu tình bằng ngoại tệ
E : là tỷ giá( số đơn bị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ)
P: là mức giá cả hàng hóa chung của nền kinh tế
Trong trường hợp này TGHĐ được sử dụng như một công cụ hiệu quảnhằm điều chỉnh mức lạm phát trong nền kinh tế, cân bằng giá cả Với điềukiện các yếu tố khác không đổi, nếu muốn kiềm chế lạm phát, NHTW có thể
sử dụng chính sách nâng giá nội tệ; muốn kích thích lạm phát ra tăng, NHTW
sử dụng chính sách phá giá nội tệ; muốn duy trì giá cả ổn định, NHTW phải
sử dụng chính sách tỷ giá ổn định và cân bằng
2.1.2 TGHĐ và tăng trưởng kinh tế, công ăn việc làm
Từ công thức tính thu nhập quốc dân: Y = C + I + G + X – M
Trong trường hợp các yếu tố chi tiêu cho tiêu dùng C, đầu tư I, chi tiêu củachính phủ G không thay đổi, phá giá nội tệ làm cho xuất khẩu X tăng lên và nhậpkhẩu M giảm, tác dụng trực tiếp làm cho thu nhập quốc dân Y tăng lên Phỏ giácũng làm cho các ngành sản xuất các mặt hàng xuất khẩu tăng lên do lợi thế cạnhtranh trên thị trường quốc tế cũng như thị trường nội địa được nâng cao, từ đó mởrộng việc sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động
Ngược lại, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, nâng giá nội tệ sẽlàm giảm tăng trưởng kinh tế và gia tăng thất nghiệp
Như vậy, chính sách tỷ giá có thể được dùng như công cụ làm tăngtrường kinh tế và tạo việc làm Áp dụng chính sách phá giá nội tệ sẽ làm tăngtrưởng kinh tế và tạo việc làm Nếu muốn giảm sức nóng của nền kinh tế thỡnờn sử dụng chính sách nâng giá nội tệ
Trang 132.1.3 TGHĐ và cán cân vãng lai
Chính sách tỷ giá tác động trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu hànghóa và dịch vụ, là hai bộ phận chủ yếu cấu thành cán cân vãng lai Khi chínhphủ định giá nội tệ thấp sẽ tạo điều kiện cho cán cân vãng lai từ trạng tháithâm hụt trở về trạng thái cân bằng hay thặng dư Khi chính phủ áp dụngchính sách nâng giá nội tệ sẽ làm kìm hãm xuất khẩu, kích thích nhập khẩuđiều chỉnh cán cân thương mại từ thặng dư sang cân bằng hoặc thâm hụt Cònvới chính sách tỷ giá cân bằng sẽ có tác dụng làm cân bằng xuất khẩu vànhập khẩu, giúp cán cân vãng lai tự hoạt động cân bằng
2.1.4 TGHĐ và việc thu hút đầu tư nước ngoài
Vốn đầu tư nước ngoài đối với một quốc gia là hết sức cần thiết cho sựvận động của nguồn vốn trong nước Đầu tư nước ngoài chịu sự tác động củanhiều yếu tố trong đó TGHĐ cũng góp phần không nhỏ vào sự thay đổi củahoạt động này
Chớnh sách định giá thấp nội tệ sẽ thu hút được nhiều đầu tư nướcngoài Do đó mỗi đồng ngoại tệ sẽ đổi được nhiều nội tệ hơn mang lại tínhhấp dẫn cho các nhà đầu tư Ngược lại khi định giá nội tệ cao sẽ hạn chế nhàđầu tư nước ngoài bởi vì mỗi đồng ngoại tệ sẽ đổi được ít nội tệ hơn Hơn thếnữa, khi nội tệ được định giá cao sẽ tiềm ẩn một cuộc phá giá nội tệ khiến chocác nhà đầu cơ có thể ồ ạt rút vốn để bảo toàn giá trị đồng tiền của họ
2.1.5 TGHĐ và nợ nước ngoài
Nợ nước ngoài của một nước chịu ảnh hưởng rất lớn từ TGHĐ Nợnước ngoài gồm toàn bộ khoản tiền gốc và lãi phải trả cho nước ngoài khi đếnhạn Giá trị nợ khi qui đổi sang nội tệ sẽ chịu biến động của TGHĐ Nếu nội
tệ giảm giá thì khoản nợ nước ngoài qui đổi ra nội tệ sẽ tăng lên gây áp lực trả
nợ cho đất nước Ngược lại khi nội tệ tăng giá, thì giá trị phải trả bằng nội tệgiảm Một yêu cầu được đặt ra đó là phải sử dụng một cách có hiệu quả khoản
Trang 14nợ nước ngoài này nếu không muốn tạo áp lực trả nợ thậm chí là khủng hoảng
nợ như một số nước đang phát triển hiện nay
2.2 Tác động của TGHĐ tới hoạt động xuất nhập khẩu
Hàng hóa xuất nhập khẩu chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: tìnhhình kinh tế, chính sách thương mại của một quốc gia, thói quen tâm lý tiêudùng, giá cả hàng hóa Trong cỏc nhõn tố cơ bản trên, giá cả là nhân tố màTGHĐ có thể tác động tới Các yếu tố khác tác động tới giá không thay đổithì khi tỷ giá tăng lên tức là đồng nội tệ bị giảm giá, nếu giá bán hàng xuấtkhẩu bằng ngoại tệ vẫn giữ nguyờn thỡ thu nhập của nhà xuất khẩu bằng nội
tệ sữ tăng lên Trong trường hợp này nhà xuất khẩu có thể giám giá hàng hóatính bằng ngoại tệ nhằm kích thích cầu hàng hóa xuất khẩu mà vẫn không làmgiảm lợi nhuận tính bằng nội tệ, tạo điều kiện cạnh tranh cao hơn trên thịtrường nước ngoài Ngược lại, TGHĐ giảm làm cho hàng xuất khẩu tính bằngngoại tệ tăng lên, làm giảm nhu cầu của hàng xuất khẩu dẫn tới giảm khốilượng hàng xuất khẩu trên thị trường thế giới
Những mặt hàng khác nhau thì tác động của tỷ giá tới cầu hàng hóa làkhông giống nhau Mức độ ảnh hưởng của tỷ giá phụ thuộc vào độ co giãncủa cầu hàng hóa đó với giá cả Thêm vào đó, tác động nêu trên của TGHĐmới chỉ xét tới mặt khối lượng mà chưa xét tới tổng giá trị Ví dụ trong trườnghợp tỷ giá tăng, khối lượng hàng hóa xuất khẩu gia tăng mà giá hàng hóa xuấtkhẩu tính bằng ngoại tệ giảm khiến cho chiều hướng biến đổi của tổng giá trịhàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại tệ có thể tăng, giảm hoặc không thay đổi
Để đánh giá ảnh hưởng của thay đổi TGHĐ lên tổng kim ngạch xuấtkhẩu, cần xác định mối tương quan giữa kim ngạch xuất khẩu (nhập khẩu) vàTGHĐ Tương quan này được biểu thị bằng hệ số co giãn của xuất khẩu(nhập khẩu) đối với tỷ giá nx (nm) và được xác định bằng công thức sau:
Trang 15Trong đó: X là tổng kim ngạch xuất khẩu
Trong dài hạn và ngắn hạn thì khối lượng hàng hóa xuất khẩu có sự cogiãn khác nhau Khối lượng xuất khẩu ít co giãn trong ngắn hạn và co giãnnhiều trong dài hạn Điều này là do phản ứng của người tiêu dùng thườngdiễn ra chậm, phản ứng của người sản xuất diễn ra chậm hơn so với thay đổi
tỷ giá, tồn tại cạnh tranh không hoàn hảo trên thị trường
2.3 Tác động của tỷ giá tới khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu
Trên thị trường nước ngoài, một hàng hóa có khả năng cạnh tranh sovới những mặt hàng cùng loại sẽ xuất khẩu được khối lượng lớn và tạo được
uy tín của người sử dụng Một hàng hóa có tính cạnh tranh trên thị trườngphải đảm bảo ba yếu tố: thứ nhất đó là tính đa dạng của hàng hóa đó tại thịtrường nước ngoài, thứ hai là các nhân tố cơ bản tạo ra sức mạnh bền vữngcho hàng hóa liên quan tới chất lượng, thương hiệu, kênh phân phối, thị hiếu
Trang 16thị trường của hàng hóa xuất khẩu, ba là các nhân tố liên quan tới giá cả baogồm chi phí đầu vào sản xuất, năng suất lao động trong ngành sản xuất hàngxuất khẩu và TGHĐ
Để phản ánh sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước với hàng hóanước ngoài về mặt giá cả, chúng ta có thể sử dụng tỷ lệ so sánh giữa giá hàng
hóa trong nước và giá hàng hóa nước ngoài: .Trong đó:
E là TGHĐ danh nghĩa (theo phương pháp yết tỷ giá trực tiếp)
P* là mức giá cả hàng hóa nước ngoài tính bằng ngoại tệ
P là mức giá cả hàng hóa trong nước tính bằng nội tệ
Ví dụ khi so sánh sức cạnh tranh hàng hóa Việt Nam với hàng hòaTrung Quốc ta có: E là TGHĐ danh nghĩa giữa CNY và VND với 1CNY = EVND; P* là mức giá hàng hóa trung bình tại Trung Quốc tính bằng CNY, khi
đú EìP* sẽ là mức giá cả trung bình tại Trung Quốc quy ra VND Với P là
mức giá cả trung bình của hàng hóa tại Việt Nam thì tỷ lệ cho biết mốiquan hệ so sánh giữa giá cả hàng hòa trung bình tại Trung Quốc và Việt Nam
Xột các trường hợp sau đây:
Trường hợp 1: Tỷ lệ >1, ta có mức giá cả hàng hóa trung bình tạiTrung Quốc lớn hơn tại Việt Nam Điều này khiến cho hàng hóa Việt Nam cósức cạnh tranh lớn hơn hàng hóa Trung Quốc về mặt giá
Trường hợp 2: Tỷ lệ ta nói rằng mức giá cả trung bình tạihai quốc gia là như nhau
Trang 17Trường hợp 3: Tỷ lệ <1, ta có hàng hóa Trung Quốc rẻ hơn và có
ưu thế cạnh tranh về mặt giá hơn so với hàng hóa Việt Nam
Mà ta đã biết tỷ lệ chính là công thức tỷ giá thực Như vậy có thểnói tỷ giá thực phản ánh sức cạnh tranh của hàng hóa một nước trên thịtrường thế giới về mặt giá cả
Từ công thức trên ta có thế có những kết luận như sau:
- Tỷ giá danh nghĩa E tăng lên làm cho tỷ giá thực tăng và nhờ đó cảithiện năng lực cạnh tranh quốc tế của hàng hóa trong nước về giá cả
- Tương quan giá cả hàng hóa giữa hai nước thay đổi cũng làm thay đổitương quan cạnh tranh về giá giữa hàng hóa hai nước
Như vậy tỷ giá thực là một biến số phản ánh khả năng cạnh tranh củahàng hóa xuất khẩu một quốc gia và do vậy cần được xem xét trong khi đưa
ra bất kỳ một chính sách nào liên quan đến hoạt động kinh tế đối ngoại Thêmvào đó sự thay đổi TGHĐ của các quốc gia khác cũng ảnh hưởng tới hoạtđộng xuất nhập khẩu của quốc gia mình do nó tác động lên khả năng cạnhtranh của hàng hóa trên thị trường nước ngoài
Trang 18CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ĐỒNG NHÂN DÂN
TỆ TĂNG GIÁ TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU VÀ
ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM
1 Nguyên nhân đồng nhân dân tệ tăng giá
Ngày nay khi nhắc tới Trung Quốc người ta nghĩ ngay đến một “điểmnúng” của nền kinh tế thế giới Sau 30 năm cải cách, chuyển sang nền kinh tếthị trường Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế có mức tăng trưởng đứng đầuthế gới, hàng hóa của Trung Quốc có mặt ở khắp nơi Các nước xem TrungQuốc là một bạn hàng lớn và cũng là đối thủ cạnh tranh trên thị trường Cóđược sự phát triển vượt bậc như vậy phải kể đến thành công từ chính sách màchính phủ Trung Quốc đưa ra Trong số đó, chính sách được xem là đòn bẩy,
bệ phóng cho nền kinh tế nói chung và cho hoạt động thương mại của TrungQuốc nói riêng là chính sách tỷ giá theo hướng phá giá tiền tệ Từ năm 1949đến nay, Trung Quốc đó cú những thay đổi lớn về chính sách tỷ giá Có thểchia thành 3 giai đoạn sau:
Giai đoạn thứ nhất: Từ năm 1949 đến năm 1979 Trong giai đoạn nàyTrung Quốc thực hiện quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung,chính phủ thống nhất và tập trung quản lý các hoạt động ngoại hối TrungQuốc thực hiện chế độ tỷ giá cố định, ngân hàng nhân dân Trung Quốc là cơquan duy nhất công bố tỷ giá mua bán ngoại tệ của cả nền kinh tế Giai đoạnnày nền kinh tế Trung Quốc gặp nhiều khó khăn nếu như không muốn nói làtrì trệ
Giai đoạn thứ hai: Từ năm 1979 đến năm 1993 Năm 1979, TrungQuốc tiến hành cải cách kinh tế Nhiều chính sách kinh tế mới được ban hành
Trang 19nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, Trung Quốc chú trọngphát triển cơ sở hạ tầng, các ngành sản xuất công nghiệp phụ trợ, khuyếnkhích các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là Hoa kiều đầu tư vào trong nước
để xuất khẩu thu ngoại tệ Chính phủ Trung Quốc bảo lãnh việc cân đối ngoại
tệ cho các dự án xuất khẩu thu ngoại tệ Để phù hợp với sự chuyển đổi củanền kinh tế, chế độ tỷ giá cũng có thay đổi, bên cạnh tỷ giá chính thức dongân hàng nhân dân Trung Quốc công bố, sử dụng để hạch toán, tính thuếxuất nhập khẩu, Trung Quốc cho phép một loại tỷ giá thứ hai được tồn tại, sửdụng để mua bán, giao dịch trên thị trường ngoại tệ Năm 1991, Trung Quốcchuyển từ tỷ giá cố định sang chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý, duy trì hai loại
tỷ giá Do tỷ giá thị trường biến động mạnh đã tạo ra khoảng cách giữa hailoại tỷ giá Đến năm 1993, thị trường giao dịch hối đoái giữa các doanhnghiệp phát triển, làm cho chênh lệch giữa hai loại tỷ giá càng gia tăng Trongthời gian này các doanh nghiệp được phép giữ lại một phần ngoại tệ để sửdụng Kết quả là ngoại tệ tập trung vào nhà nước ít hơn so với khu vực dân cưnắm giữ, Trung Quốc gặp khó khăn trong việc cân đối ngoại tệ
Giai đoạn thứ ba: Từ năm 1994 lại đây Để khắc phục các khó khăn dothị trường tự phát gây nên, để thực hiện kế hoạch mở cửa kinh tế đối ngoại,đồng thời tạo điều kiện cải thiện cán cân thương mại, Trung Quốc đã đưa tỷgiá chính thức lên ngang bằng với tỷ giá thị trường Việc điều chỉnh thốngnhất hai loại tỷ giá được thực hiện từ ngày 01/01/1994 Trung Quốc đã chođồng nhân dân tệ phá giá tới 35%, tỷ giá chính thức được điều chỉnh từ mức5,7 CNY/USD lên 8,7 CNY/USD Kèm theo đó là các quy định xoá bỏ chế độ
tự giữ ngoại hối, các doanh nghiệp thực hiện chế độ kết hối ngoại tệ 100%,các doanh nghiệp có nhu cầu ngoại tệ thanh toán hàng nhập khẩu được muangoại tệ tại các ngân hàng được phép Riờng cỏc giao dịch phi thương mạikhông được phép mua ngoại tệ của các ngân hàng Trung Quốc cho phép
Trang 20thành lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng với trung tâm chính tại ThượngHải và một số chi nhánh tại các thành phố lớn để thực hiện các giao dịch giaongay trên thị trường Từ năm 1994 đến nay Trung Quốc đã thực hiện chuyểnđổi tỷ giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, tuy nhiên trênthực tế Trung Quốc vẫn thực hiện cơ chế tỷ giá cố định gắn với đồng USD
Những thay đổi của chính sách tỷ giá bắt đầu từ năm 1994 lại đây đãgóp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc Trướcnăm 1994, Trung Quốc luôn bị thâm hụt thương mại, cán cân vãng lai thiếu
ổn định Từ năm 2003 lại đây, cán cân thương mại Trung Quốc luôn duy trìmức tăng xuất khẩu cao hơn nhập khẩu, đến năm 2008, tổng kim ngạch xuấtnhập khẩu vượt lên đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Mỹ và Đức Đến cuối năm
2009, Trung Quốc đã thay thế Đức trở thành nền kinh tế xuất khẩu hàng đầuthế giới sau Mỹ Trung Quốc vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP caotrong nhiều năm liên tục, tính đến cuối năm 2008 đã vươn lên vị trí thứ ba thếgiới sau Mỹ và Nhật, năm 2009 vẫn đạt tỷ lệ tăng trưởng GDP trên 8% Dựtrữ ngoại hối của Trung Quốc đứng đầu thế giới…
Chớnh vì sự phát triển nóng của đất nước này mà các nước châu Âu,
Mỹ và Nhật Bản cho rằng Trung Quốc đang sử dụng chính sách tỷ giá thấpnhân tạo để đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm với giá rẻ hơn sang các nước, làmmất cân đối nghiêm trọng thị trường vốn, tài chính quốc tế, đây là nguyênnhân chính gây nên khủng hoảng Ngày càng nhiều nước phản đối chính sách
tỷ giá của Trung Quốc Trước sự lo ngại việc hàng hóa giá rẻ của Trung Quốctrên thị trường , các nước gây áp lực mạnh buộc chính phủ Trung Quốc phảiđưa ra những thay đổi cụ thể trong chính sách tỷ giá nhằm xác định lại giá trịthực của đồng tiền nước này
Trước sức ép của các nước khác đồng thời trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế, Trung Quốc đã phải tăng giá CNY để cân bằng xuất nhập khẩu và
Trang 21vẫn hài hòa lợi ích với các đối tác thương mại Nhưng nếu CNY tăng giá hơnnữa có thể khiến kim nghạch nhập khẩu của Trung Quốc tăng mạnh đồng thờigiảm nhập khẩu sẽ dẫn tới giảm phát, giảm thu nhập của doanh nghiệp, tăngcác khoản nợ xấu của ngân hàng Do đó Trung Quốc đã thực hiện nguyên tắc:
“tăng giá CNY phải được tiến hành độc lập, linh hoạt và có thể chấp nhậnđược” Từ năm 2005 trở lại đây, sức ép của các đối tác thương mại ngày cànglớn, Trung Quốc dần từng bước nâng giá đồng nhân dân tệ Thời gian vừaqua, CNY đã tăng giá khá mạnh Từ năm 2005 đến nay, CNY đã lên giá 17%theo tỷ giá danh nghĩa, và theo tỷ giá thực song phương với USD đã tăng giákhoảng 12%
Đồ thị 1: tỷ giá danh nghĩa USD/CNY và CNY/VND từ năm 1995 –
2009 (Nguồn FED, NHNN và Vietstock tổng hợp)
Ngày 22-6-2010, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBC) đó nõng
tỷ giá giao dịch chính thức giữa nhân dân tệ và đô la Mỹ thêm 0,43% từ 6,827lên 6,7980, đánh dấu lần điều chỉnh đầu tiên kể từ tháng 7-2008 sau khi tăng21% từ ba năm trước đó Quyết định này được đưa ra sau thời gian dài Mỹ vàcác nước phương Tây chỉ trích Trung Quốc duy trì giá đồng nhân dân tệ ởmức thấp vô lý, tạo cạnh tranh không lành mạnh
Trang 22Dưới đây là bảng tổng hợp biến động tỷ giá ba tháng qua qua từ ngày27/07/2010 đến ngày 25/10/2010 của USD/CNY.
Biểu đồ 1: Xu hướng biến động tỷ giá USD/CNY từ ngày 27/7 đếnngày 25/10/2010 (Nguồn: www.oanda.com/currency/converter/)
Từ biểu đồ trên cho thấy xu thế giảm giá của đồng Đô la Mỹ so vớinhân dân tệ hay nói cách khác là đồng nhân dân tệ đang trên đà tăng giá Có
sự biến động qua từng ngày nhưng trên khoảng thời gian 3 tháng qua kể từsau khi Trung Quốc đưa ra quyết định nâng giá mạnh đồng nhân dân tệ thì tỷgiá có xu hướng giảm xuống
Trên thực tế, quyết định tăng giá nhân dân tệ xuất phát từ yêu cầu kiềmchế bong bóng tài sản và tăng trưởng nóng của kinh tế trong nước hơn là áplực từ bên ngoài Tuy nhiên, do kinh tế Trung Quốc dựa quá nhiều vào xuấtkhẩu, nên Trung Quốc cũng không muốn để nhân dân tệ tăng giá mạnh màtìm biện pháp thay thế nhằm tăng thu ngoại tệ, đảm bảo nguồn vốn cho việc
mở rộng đầu tư ra nước ngoài, đồng thời đẩy mạnh mua thêm euro và bảngAnh, khi những đồng tiền này đang mất giá, góp phần cải thiện cơ cấu dự trữ
Trang 23ngoại hối Trung Quốc đang đẩy mạnh công nghiệp khai khoáng tại các nướcđang phát triển, qua đó làm tăng giá trị nhập khẩu và giảm thặng dư thươngmại Theo đánh giá của Mỹ, việc tái cân bằng cán cân thương mại với TrungQuốc sẽ hỗ trợ xuất khẩu và việc làm tại Mỹ, nhưng tỷ giá nhân dân tệ vẫnthấp sau khi Trung Quốc nới lỏng tiền tệ
Trung Quốc đã thực hiện hết sức thành công chính sách TGHĐ phùhợp với mục tiêu phát triển kinh tế Việc điều chỉnh tỷ giá theo hướng nânggiá tiền tệ hiện nay cho thấy chính phủ Trung Quốc đã cố gắng kiểm soát lạmphát trong nền kinh tế sau thời gian phá giá và tác động của các nền kinh tếkhác trong thời gian qua Quan trọng hơn Trung Quốc đã đưa ra và phối hợpmột cách hiệu quả những chính sách kinh tế vĩ mô đồng thời chủ động thựchiện kế hoạch của chính mình mà không chịu ảnh hưởng từ yếu tố bên ngoài.Tuy nhiên chính sách này của chính phủ Trung Quốc đã vi phạm vào nguyêntắc thị trường đó là để tự giá trị của tiền thay đổi theo cung cầu thị trường.Chính phủ đã can thiệp sâu vào vấn đề tỷ giá nhằm mang lại nguồn lợi lớncho xuất khẩu hàng hóa, chiếm ưu thế ở nước ngoài Việc ép tỷ giá không dựatrên sự vận động tự nhiên này sẽ mang tới những nguy cơ tiềm ẩn đó là sự trảđũa của các nước khỏc trờn thị trường nước ngoài
* Ảnh hưởng của việc đồng nhân dân tệ tăng giá với hoạt động kinh
tế của Trung Quốc
Sau ba tuần kể từ khi quyết định trên được ban hành và có hiệu lực,nhân dân tệ đã tăng 0,8% và đang đổi được 6,7746/đô la Mỹ và có thể lờn 6,5/
đô la Mỹ vào cuối năm 2011 Công ty Morgan Stanley tại Hồng Kụng chorằng, nhân dân tệ có thể tăng 4% trong năm nay và 6% trong năm 2011.Trong khi đó, Tập đoàn Ngân hàng DBS cho rằng, nhân dân tệ sẽ tăng 1,2%trong năm nay khi PBC hành động để kiềm chế lạm phát