CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PTDH HIỆN ĐẠI VÀ BẢN ĐỒ TƯ DUY.. Một số định hướng trong việc tổ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LƯU THỊ THU HÕA
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO HỌC SINH THPT QUA DẠY CHƯƠNG "SÓNG ÁNH SÁNG"
VẬT LÝ 12 CƠ BẢN VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PTDH HIỆN ĐẠI VÀ BẢN ĐỒ TƯ DUY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LƯU THỊ THU HÕA
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO HỌC SINH THPT QUA DẠY CHƯƠNG "SÓNG ÁNH SÁNG"
VẬT LÝ 12 CƠ BẢN VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PTDH HIỆN ĐẠI VÀ BẢN ĐỒ TƯ DUY
Chuyên ngành: LL & PPDH BỘ MÔN VẬT LÝ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình của các tác giả nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả luận văn
Lưu Thị Thu Hòa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn khoa học
TS Trần Đức Vượng, đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực
hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Sau đại học, khoa Vật lí, các thầy cô giáo giảng dạy cùng toàn thể các bạn học viên lớp cao học K20 trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và làm luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh của trường THPT Trần Phú- Móng Cái; trường THPT Hải Đảo- Vân Đồn- Quảng Ninh đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Chân thành cảm ơn những tình cảm quý báu của những người thân, bạn
bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên, góp ý và tiếp thêm động lực để tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian có hạn và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế trong kinh nghiệm nghiên cứu, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả luận văn
Lưu Thị Thu Hòa
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1- Lý do chọn đề tài: 1
2- Lịch sử vấn đề nghiên cứu: 3
3- Mục đích nghiên cứu: 4
4- Đối tượng nghiên cứu: 4
5- Giả thuyết khoa học: 4
6- Nhiệm vụ nghiên cứu: 5
7- Phạm vi nghiên cứu: 5
8- Phương pháp nghiên cứu: 5
9- Đóng góp của đề tài: 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PTDH HIỆN ĐẠI VÀ BẢN ĐỒ TƯ DUY 7
1.2 Hoạt động nhận thức và tính tích cực hoạt động nhận thức của HS 9
1.2.1 Hoạt động nhận thức của học sinh 9
1.2.2 Tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh 11
1.2.3 Các biện pháp chung phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh 15
1.3 Vận dụng các phương pháp, phương tiện dạy học nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh 16
1.3.1 Quan niệm về phương pháp dạy học theo hướng tích cực 16
1.3.2 Những đặc trưng của phương pháp dạy học theo hướng tích cực 16
1.4 Phương tiện dạy học hiện đại 17
Trang 61.4.1 Phương tiện dạy học 17
1.4.2 Các loại PTDH truyền thống sử dụng trong dạy học Vật lí 17
1.4.3 Các loại PTDH hiện đại sử dụng trong dạy học Vật lí 17
1.4.4 Vai trò, chức năng của PTDH hiện đại trong dạy học Vật lí 19
1.4.5 Vấn đề sử dụng PTDH hiện đại trong qúa trình dạy học 20
1.5 Bản đồ tư duy 22
1.5.1 Khái niệm bản đồ tư duy 22
1.5.2 Cách đọc bản đồ tư duy 24
1.5.3 Cách vẽ bản đồ tư duy 24
1.5.4 Các ứng dụng của bản đồ tư duy trong dạy học 26
1.5.5 Một số biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của HS với sự hỗ trợ của BĐTD 30
1.5.6 Những chú ý khi sử dụng BĐTD để hỗ trợ cho việc tổ chức hoạt động nhận thức của HS 31
1.6 Thực trạng của việc phát huy tính tích cực nhận thức cho HS với sự hỗ trợ của PTDH hiện đại và BĐTD ở trường THPT 32
1.6.1 Về cơ sở vật chất của trường THPT Trần Phú 32
1.6.2 Về phía giáo viên 33
1.6.3 Về phía học sinh 34
1.6.4 Khả năng ứng dụng PTDH hiện đại và BĐTD trong dạy học Vật lí 35
1.6.5 Một số khó khăn khi sử dụng PTDH hiện đại và BĐTD trong dạy học 36
1.7 Kết luận chương 1 37
Chương 2 XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CHƯƠNG “SÓNG ÁNH SÁNG” -VẬT LÝ 12 CƠ BẢN VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PTDH HIỆN ĐẠI VÀ BẢN ĐỒ TƯ DUY NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO HS THPT 38
2.1 Đặc điểm chương “Sóng ánh sáng” -Vật lí 12 Cơ bản 38
2.1.1 Vai trò của chương “Sóng ánh sáng” trong chương trình Vật lí PT 38
2.1.2 Cấu trúc của chương “Sóng ánh sáng” -Vật lí 12 Cơ bản 38
2.1.3 Chuẩn kiến thức và kĩ năng chương “Sóng ánh sáng”- vật lí 12 cơ bản 39
2.1.4 Nội dung dạy học chương “Sóng ánh sáng” 41
Trang 72.2 Một số định hướng trong việc tổ chức hoạt động nhận thức với sự hỗ
trợ của PTDH hiện đại và bản đồ tư duy để phát huy tính tích cực nhận thức
cho học sinh 47
2.2.1 Định hướng khi sử dụng PTDH hiện đại để hỗ trợ việc tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh 47
2.2.2 Định hướng khi sử dụng BĐTD để hỗ trợ việc tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh 49
2.3 Thiết kế tiến trình dạy học một số bài cụ thể trong chương “Sóng ánh sáng” -Vật lí 12 Cơ bản theo hướng nghiên cứu của đề tài 52
2.3.1 Định hướng chung của xây dựng tiến trình dạy học một số bài cụ thể theo hướng nghiên cứu của đề tài 52
2.3.2 Thiết kế tiến trình dạy học một số bài cụ thể trong chương “Sóng ánh 58 sáng” -Vật lí 12 Cơ bản theo hướng nghiên cứu của đề tài 58
2.4 Kết luận chương 2 79
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80
3.1 Mục đích và nhiệm vụ TNSP 80
3.1.1 Mục đích 80
3.1.2 Nhiệm vụ 80
3.2 Đối tượng và nội dung TNSP 81
3.2.1 Đối tượng 81
3.2.2 Nội dung 81
3.3 Phương pháp TNSP 81
3.4 Đánh giá thực nghiệm sư phạm (TNSP) 82
3.4.1 Phương pháp đánh giá kết quả TNSP 82
3.4.2 Kết quả và xử lí kết quả TNSP 83
3.5 Kết luận chương 3 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 98
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Bảng điều tra phương pháp dạy học của giáo viên 33
Bảng 1.2 Bảng khảo sát thực trạng học tập của HS với môn Vật lí 34
Bảng 1.3 Bảng khảo sát khả năng nhận thức, mức độ tích cực của học sinh 35 Bảng 3.1: Bảng số liệu HS được chọn làm mẫu TNSP 82
Bảng 3.2: Thống kê các biểu hiện của tính tích cực, tự lực của HS 84
Bảng 3.3: Ý kiến của GV sau khi dự giờ tổ chức dạy học có sử dụng PTDH hiện đại và BĐTD 85
Bảng 3.4: Ý kiến của HS sau khi học giờ Vật lí có sử dụng PTDH hiện đại và BĐTD 85
Bảng 3.5: Bảng thống kê điểm số Xi (Yi) của bài kiểm tra ( phân bố tần số) 87
Bảng 3.6: Xếp loại điểm kiểm tra 87
Bảng 3.7: Bảng phân bố tần suất 88
Bảng 3.8: Bảng lũy tích hội tụ 88
Bảng 3.9: Bảng tổng hợp các tham số thống kê 89
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Cấu trúc của BĐTD 23
Hình 1.2 Cách đọc bản đồ tư duy 24
Hình 1.3: Cách vẽ bản đồ tư duy 25
Hình 2.1 Sơ đồ chương “ Sóng ánh sáng” 39
Hình 2.2 Sơ đồ thí nghiệm Iâng về giao thoa ánh sáng 42
Hình 2.3 Máy quang phổ 43
Hình 2.4 Mô hình cấu tạo máy quang phổ 43
Hình 2.5: Các loại quang phổ vạch phát xạ 44
Hình 2.6 Vẽ hình ảnh trung tâm “Bài 24 Tán sắc ánh sáng” 51
Hình 2.7 Vẽ nhánh cấp 1 “Bài 24 Tán sắc ánh sáng” 51
Hình 2.8 Vẽ nhánh cấp 2, cấp 3 “Bài 24 Tán sắc ánh sáng” 52
Hình 2.9 BĐTD thí nghiệm về sự tán sắc ánh sáng của Niu-tơn 62
Hình 2.10 BĐTD thí nghiệm của Niu - tơn về ánh sáng đơn sắc 63
Hình 2.11 BĐTD tổng kết bài Tán sắc ánh sáng 65
Hình 2.12: Cấu tạo và hoạt động của máy quang phổ lăng kính 69
Hình 2.13: Sơ đồ thí nghiệm quang phổ liên tục 70
Hình 2.14: Sơ đồ thí nghiệm quang phổ vạch phát xạ 70
Hình 2.15: Sơ đồ thí nghiệm quang phổ vạch hấp thụ 71
Hình 2.16: BĐTD về các loại quang phổ 72
Hình 2.17: Ống Cu- lit- giơ và cách tạo tia x 75
Hình 2.18: BĐTD về bản chất và tính chất của tia x 77
Bảng 2.1: Bảng thang sóng điện từ 77
Hình 2.19: BĐTD củng cố bài tia x 78
Hình 3.1: Biểu đồ xếp loại kiểm tra 87
Hình 3.2: Đồ thị phân bố tần suất 88
Hình 3.3: Đồ thị lũy tích hội tụ 89
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài:
Chúng ta đang sống trong thế kỷ mà tri thức và kỹ năng của con người được coi là yếu tố quyết định sự phát triển xã hội; Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức của toàn cầu Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục - đào tạo với nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng qui mô, nâng cao tính tích cực trong dạy và học một cách toàn diện, dạy làm sao để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
Trước yêu cầu đó ngành Giáo dục của nước ta cần phải đổi mới toàn diện:
Về mục tiêu, về nội dung và về phương pháp dạy học (PPDH) Trong đó đổi mới PPDH là một khâu quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục
Quan điểm xuyên suốt của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là “dạy
học lấy học sinh làm trung tâm”, tức là dạy học sao cho học sinh phải hoạt
động tích cực, tự lực để chiếm lĩnh kiến thức, từ đó phát triển năng lực sáng tạo, hình thành kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn [19]
Trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông
là tập trung đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của HS với sự tổ chức và hướng dẫn thích hợp của GV, nhằm phát triển cho HS tư duy độc lập, góp phần hình
thành phương pháp và nhu cầu, khả năng tự học, tự bồi dưỡng, tạo niềm tin và vui thích trong học tập [13]
Nghị quyết trung ương 2, khóa VIII đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương
pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, ”.[11]
Trang 12Điều 28 Luật giáo dục đã quy định: “ Phương pháp giáo dục phổ thông
phải biết phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kỹ thuật vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho mọi học sinh” [19]
Ở các trường THPT, đổi mới phương pháp giảng dạy đã được thực hiện với nhiều phương pháp khác nhau song đều hướng tới nhằm phát huy năng lực cá nhân của mỗi HS Việc nâng cao chất lượng dạy - học môn Vật lý ở trường phổ thông đã được chú trọng, đầu tư, tuy nhiên hiệu quả vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu đổi mới trong giáo dục Với thực tế đó, nhiệm vụ đặt ra cho người GV
là phải đổi mới phương pháp dạy học, hướng dẫn, bồi dưỡng cho HS năng lực
tự học tập và giải quyết vấn đề học tập thông qua các nội dung và hoạt động dạy học vật lý, phát huy tính tích cực nhận thức (TCNT) và tư duy sáng tạo cho học sinh…từ đó HS có ham muốn, có khát vọng hiểu biết, có cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về não bộ cho thấy: Thông thường, một người trung bình chỉ sử dụng chưa đến 1% tiềm năng của bộ não trong các lĩnh vực sáng tạo, ghi nhớ, học tập Như vậy, tiềm năng bộ não - tiềm năng trí tuệ - của con người nói chung và HS nói riêng chưa được phát huy một cách tối đa Vậy câu hỏi đặt ra là: Chúng ta sẽ đạt được những gì khi sử dụng nhiều hơn nữa tiềm năng của não? Học tập như thế nào và sử dụng công cụ gì để tận dụng và phát huy tối đa tiềm năng bộ não?
Giải pháp mà luận văn này muốn hướng đến chính là việc sử dụng PTDH hiện đại và nghiên cứu các ứng dụng của BĐTD vào dạy học
Bản đồ tư duy (BĐTD) là phương tiện tư duy mới, đó là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hoá một chủ đề hay một mạch kiến thức bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực BĐTD có thể vẽ trên giấy, bảng… hoặc có thể
Trang 13thiết kế trên powerpoint hoặc các phần mềm bản đồ tư duy như là phần mềm Mindmap, Free Mind, Imindmap, Mindjet mind ManagerPro7… Qua đó, BĐTD giúp khai phá tiềm năng của bộ não, phát huy tối đa năng lực sáng tạo, năng lực
tư duy của con người Mặt khác,việc sử dụng các PTDH, nhất là các PTDH hiện đại trong dạy học là hết sức cần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học nói chung và hỗ trợ trực tiếp cho việc sử dụng BĐTD trong dạy học
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài: Phát huy tính tích cực nhận thức
cho học sinh THPT qua dạy chương “Sóng ánh sáng” -Vật lí 12 với sự hỗ trợ của PTDH hiện đại và BĐTD
(Mind Map) trong dạy học mới được chú ý vào năm 2006, khi dự án "Ứng dụng
công cụ phát triển tư duy- Sơ đồ tư duy" của nhóm Tư duy mới (New Thinking
Group- NTG), Đại học Quốc gia Hà Nội được triển khai thực hiện Một số đề tài mới nghiên cứu hiệu quả hỗ trợ của BĐTD trong dạy học Vật lí đã thu được kết quả thực nghiệm tốt
Các luận văn khoa học có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài:
“Phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học nhằm tích cực hoá
hoạt động nhận thức của học sinh THPT miền núi khi dạy chương Dòng
điện trong các môi trường (Vật lí 11- Cơ bản)” của tác giả Lê Thị Bạch (
2009) [1]; Nguyễn Thị Nguyên (2010), Nghiên cứu sử dụng bản đồ tư duy (Mindmaps) trong dạy học chương “động học chất điểm” vật lý 10 THPT nhằm góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức và bồi dưỡng tư duy
Trang 14cho học sinh, Luận văn thạc sĩ ĐHSP TP.Hồ Chí Minh [21]; “Phối hợp các
phương pháp và phương tiện dạy học khi dạy các kiến thức về Hạt nhân nguyên tử (Vật lí12 nâng cao) theo hướng phát huy tính tích cực sáng tạo
của học sinh”của tác giả Hoàng Hữu Qúy( 2012) [23]; “Phát huy tính tích
cực nhận thức cho học sinh qua dạy chương “Động lực học chất điểm” vật lí lớp 10 cơ bản với sự hỗ trợ của một số phần mềm dạy học và bản đồ tư
duy”của tác giả Bùi Ngọc Anh Toàn (2011)[27]; “Phát huy tính tích cực
nhận thức cho HS THPT qua dạy chương “Dòng điện không đổi” Vật lí lớp 11
NC với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học và BĐTD” của tác giả Trịnh Ngọc Linh (2012)[18];“ Hướng dẫn học sinh ôn tập phần “Quang hình học” Vật lí
11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và bản đồ tư duy” của tác
giả Lại Văn Bắc (2013)[2]; “Hướng dẫn học sinh ôn tập, hệ thống hóa kiến
thức chương "điện học" vật lí 9 với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy”của tác giả
Đào Kiên Cường (2013)[9];
Như vậy, cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề phát huy
tính tích cực nhận thức cho HS THPT qua chương “Sóng ánh sáng” -Vật lí 12
với sự hỗ trợ của PTDH hiện đại và bản đồ tư duy
3- Mục đích nghiên cứu:
Xây dựng tiến trình dạy học chương “Sóng ánh sáng” -Vật lí 12 với sự hỗ trợ của PTDH hiện đại và bản đồ tư duy nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh
4- Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động dạy và học Vật lí theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh với sự hỗ trợ của PTDH hiện đại và bản đồ tư duy
5- Giả thuyết khoa học:
Nếu xây dựng được tiến trình dạy học chương “Sóng ánh sáng” -Vật lí
12 với sự hỗ trợ của PTDH hiện đại và bản đồ tư duy thì sẽ phát huy được tính
tích cực nhận thức cho học sinh, qua đó nâng cao chất lượng dạy học Vật lí ở trường THPT
Trang 156- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy cần phải thực hiện nhiệm vụ sau:
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh với sự hỗ trợ của PTDH hiện đại và bản đồ tư duy
6.2.Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa và xây dựng sơ đồ cấu trúc logic chương “ Sóng ánh sáng” - Vật lí 12
6.3 Nghiên cứu xây dựng tiến trình dạy học chương “Sóng ánh sáng” -Vật lí
12 với sự hỗ trợ của PTDH hiện đại và bản đồ tư duy trong dạy học Vật lí
6.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT để khẳng định tính khả thi của tiến trình dạy học đề xuất và rút ra kết luận
7- Phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ nghiên cứu xây dựng tiến trình dạy học với sự hỗ trợ của PTDH hiện đại và bản đồ tư duy theo hướng phát
huy tính tích cực nhận thức cho học sinh trong chương “Sóng ánh sáng” - ở một số
trường THPT tỉnh Quảng Ninh
8- Phương pháp nghiên cứu:
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu những văn kiện của Đảng, chỉ thị của Nhà nước, văn bản của
Bộ GD-ĐT về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
- Nghiên cứu các tài liệu: về các quan điểm, sự định hướng việc dạy và học tích cực cũng như đổi mới phương pháp dạy học; về lí luận dạy học nói chung và lí luận dạy học môn Vật lí nói riêng
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề phát huy tính TCNT cho học sinh, sử dụng PTDH hiện đại và BĐTD trong dạy học vật lí; các luận văn về đề tài có liên
quan, nội dung chương trình SGK, sách giáo viên và các tài liệu khác liên quan 8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1 Phương pháp điều tra: Tìm hiểu thực trạng của việc phát huy tính
TCNT cho học sinh với sự hỗ trợ PTDH hiện đại và BĐTD trong dạy học vật lí hiện nay ở trường THPT thông qua phiếu điều tra
Trang 168.2.2 Phương pháp quan sát: Quan sát để thu thập thông tin về sự tích cực, sự hứng thú tham gia của học sinh trong giờ học và trong các hoạt động 8.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm có đối chứng tại một số trường THPT ở tỉnh Quảng Ninh để kiểm tra hiệu quả và tính khả thi của đề tài
8.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm và kết quả điều tra, từ đó rút ra những kết luận về sự khác nhau trong kết quả học tập của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm
9- Đóng góp của đề tài:
- Góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận trong dạy học Vật lý ở trường phổ thông với sự hỗ trợ của PTDH hiện đại và bản đồ tư duy để phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh
- Các giáo án xây dựng theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức cho HS THPT qua chương “Sóng ánh sáng” -Vật lí12 với sự hỗ trợ của PTDH hiện đại
và bản đồ tư duy có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên THPT
10- Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy tính tích cực nhận thức cho HS trong dạy học Vật lí với sự hỗ trợ của PTDH hiện đại và bản đồ tư duy
Chương 2: Phát huy tính tích cực nhận thức cho HS qua việc xây dựng tiến trình
dạy học chương “Sóng ánh sáng” -Vật lí 12 với sự hỗ trợ của PTDH hiện đại và
bản đồ tư duy
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PTDH HIỆN ĐẠI VÀ BẢN ĐỒ TƯ DUY 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng bộ môn nói riêng Việc cải tiến phương pháp dạy học là một nhân tố quan trọng, bên cạnh việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, việc phát huy tính tích cực của học sinh có ý nghĩa hết sức quan trọng Học Vật lí lại càng cần phát triển năng lực tích cực, năng lực tư duy của học sinh để không phải chỉ biết mà còn phải hiểu
để giải thích hiện tượng Vật lí cũng như áp dụng kiến thức và kỹ năng vào các hoạt động trong cuộc sống gia đình và cộng đồng Theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học là biến quá trình dạy học thành quá trình tự học, tự khám phá và xây dựng kiến thức của một người học với vai trò dẫn dắt khéo léo của người giáo viên.[15]
Các PPDH là một ngành của khoa học giáo dục, nó nghiên cứu quá trình
DH của các môn học Nhiệm vụ lí luận DH môn là nghiên cứu, áp dụng các PPDH chung đã được nghiên cứu trong lí luận DH vào thực tiễn của môn học
cụ thể, có tính đến các đặc điểm nội dung và PP khoa học đặc trưng cho khoa học tương ứng, trong đó có môn Vật lí Như vậy PPDH luôn là vấn đề hạt nhân quan trọng của nền giáo dục của tất cả các nước trên thế giới, có tầm quan trọng đối với sự phát triển khoa học của nhân loại Định hướng chung về đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, tự học, kỹ năng vận dụng vào thực tiễn, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; môn học, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo được hứng thú học tập cho HS, tận dụng được công nghệ mới nhất; khắc phục lối dạy truyền thống truyền thụ một chiều các kiến thức có sẵn Rất cần phát huy cao năng lực tự học, học suốt đời trong thời đại bùng nổ thông tin [29]
Trang 18Trong quá trình DH thì PTDH đóng vai trò hết sức quan trọng, góp phần hình thành kiến thức mới, làm rõ các sự vật, hiện tượng Vật lí, làm tăng thêm hứng thú trong quá trình hoạt động nhận thức cho HS Hiện nay ngoài các PTDH truyền thống còn các phương tiện hiện đại hỗ trợ DH khác như máy chiếu, tập phim, các phần mềm, máy chiếu đa năng, bảng tương tác thông minh… Nếu vận dụng một cách phù hợp vào từng bài dạy, từng đối tượng học sinh ở từng địa phương sẽ làm thúc đẩy hoạt động nhận thức của HS, tăng hiệu quả học tập cho học sinh và giảm sự vất vả cơ học của giáo viên trên bục giảng
Cùng với sự hỗ trợ của PTDH hiện đại trong dạy học, sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học cũng đang được nhiều giáo viên quan tâm Trong những năm gần đây thuật ngữ BĐTD đã thu hút ngày càng nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu giáo dục Dự án phát triển giáo dục THCS đã tập huấn sử dụng BĐTD, thu hút được sự tham gia đông đảo của các nhà quản lý giáo dục, GV
và HS tham gia Nhiều GV đã nghiên cứu ứng dụng BĐTD vào dạy học và đã đạt được những hiệu quả nhất định trong việc phát huy tính tích cực, tự lực của
HS đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH
Trong các công trình nghiên cứu có sử dụng BĐTD trong dạy học, các tác giả đều sử dụng BĐTD như một công cụ hỗ trợ phát huy tính tích cực, tự lực, tự chủ, sáng tạo cho HS nhằm đáp ứng mục tiêu dạy học và yêu cầu đổi mới PPDH
Với những ưu điểm của BĐTD thì việc sử dụng BĐTD trong dạy học chắc chắn sẽ phát huy tính tích cực, tự lực của HS, góp phần nâng cao kết quả học tập của các em [10]
Chương “Sóng ánh sáng” -Vật lí 12 là một trong những chủ đề khoa học
kĩ thuật quan trọng, gắn liền với cuộc sống, song kiến thức phần này khó và tương đối trừu tượng Khi học phần này HS ít được quan sát các hiện tượng Vật
lý một cách đầy đủ bằng thí nghiệm, chưa hiểu đầy đủ bản chất của các hiện tượng, quá trình, tính chất và ứng dụng của sóng ánh sáng Đối với GV cũng gặp không ít khó khăn khi dạy phần kiến thức chương này Việc sử dụng PTDH
Trang 19hiện đại và BĐTD để phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh khi dạy chương Sóng ánh sáng là cần thiết Qua tìm hiểu chúng tôi thấy có một số luận văn nghiên cứu về kiến thức chương này như: Luận văn của tác giả Ngô Thị
Quyên: “Sử dụng thí nghiệm khi dạy phần tính chất sóng, tính chất hạt của
ánh sáng vật lí 12 THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh”[24]; Lê Thị Thu Ngân: “Lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học tích cực nhằm tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh khi dạy một số kiến thức về “Sóng ánh sáng” (Vật lí 12 nâng cao)”[20]
Như vậy, có thể thấy nghiên cứu việc “Phát huy tính tích cực nhận thức
cho học sinh THPT qua dạy chương “Sóng ánh sáng” -Vật lí 12 Cơ bản với sự
hỗ trợ của phương tiện dạy học hiện đại và bản đồ tư duy” làm một đề tài
nghiên cứu mới
1.2 Hoạt động nhận thức và tính tích cực hoạt động nhận thức của HS 1.2.1 Hoạt động nhận thức của học sinh
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn
V.I.Lênin đã chỉ rõ quy luật chung nhất của hoạt động nhận thức là: “Từ
trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng và từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn,
đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” 16 Hoạt động nhận thức là hoạt động tích cực của chủ thể phản
ánh hiện thực khách quan để thích ứng với nó hoặc cải tạo nó Hoạt động nhận thức đi từ chưa biết đến biết, từ thuộc tính bề ngoài: Cảm tính, trực quan riêng rẽ đến đối tượng trọn vẹn, ổn định, có ý nghĩa trong các quan hệ của nó; sau đó đến thuộc tính bên trong, có tính quy luật ngày đi sâu vào bản chất của cả một lớp đối tượng, hiện tượng…và cuối cùng từ đó trở về thực tiễn, thông qua các quá trình tâm lý như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ
Đối với lứa tuổi học sinh, hoạt động nhận thức chủ yếu của các em là hoạt động học tập Bằng hoạt động này và thông qua hoạt động này, các em chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển năng lực tư duy cũng như nhân cách đạo
Trang 20Động cơ
Mục đích
Hành động Hoạt động
đức, thái độ Hoạt động học tập của học sinh có cấu trúc giống như hoạt động lao động sản xuất nói chung, bao gồm các thành tố có quan hệ và tác động đến nhau: Một bên là động cơ, mục đích, điều kiện và bên kia là hoạt động, hành động và thao tác.[ 25]
Động cơ nào quy định sự hình thành và diễn biến của hoạt động ấy? muốn thỏa mãn được động cơ ấy, phải thực hiện lần lượt những hành động nào để đạt được mục đích cụ thể nào và cuối cùng mỗi hành động được thực hiện bằng nhiều thao tác sắp xếp theo một trình tự xác định, ứng với mỗi thao tác phải sử dụng những phương tiện, công cụ thích hợp
Hoạt động nào cũng có đối tượng Thông thường, các hoạt động khác có đối tượng là một khách thể, hoạt động hướng vào làm biến đổi khách thể Trong khi
đó, hoạt động học lại làm cho chính chủ thể (người học) biến đổi và phát triển Đối tượng của hoạt động học là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần chiếm lĩnh Nội dung của đối tượng này không hề bị thay đổi sau khi bị chiếm lĩnh, nhưng nhờ
có sự chiếm lĩnh này mà các chức năng tâm lý của chủ thể mới được thay đổi
và phát triển
Vật lí học là một môn khoa học thực nghiệm, phương pháp nghiên cứu cũng như học tập đều dựa trên cơ sở quan sát, thí nghiệm để phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trìu tượng hóa thành các khái niệm, định luật, thuyết vật lí…rồi từ lý thuyết vận dụng nghiên cứu các sự vật, hiện tượng ở phạm vi rộng hơn Do vậy, để tổ chức hoạt động nhận thức, tạo điều kiện cho HS tự khám phá kiến thức, GV cần tổ chức tốt quá trình quan sát và tư duy cho HS Trong dạy
Trang 21học vật lí có thể có nhiều loại quan sát như: quan sát thí nghiệm, quan sát hiện tượng tự nhiên, quan sát một bài thực nghiệm…
Để quan sát được sâu sắc cần phải hướng dẫn HS xác định mục đích, nội dung, trình tự quan sát, ghi lại dấu hiệu, phân tích và xử lí số liệu, kĩ năng đặt câu hỏi với một dấu hiệu bất kỳ…Qua nhiều hoạt động và nhiều nội dung mới rèn được óc quan sát cho HS, giúp HS nhận thức tích cực hơn và tạo điều kiện cho tư duy HS phát triển.[28]
1.2.2 Tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh
1.2.2.1 Tính tích cực (TTC)
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống
xã hội Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, sáng tạo nền văn hóa ở mỗi thời đại, chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội
Theo quan điểm của các nhà giáo dục học, tính tích cực là khái niệm biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng TTC cũng là khái niệm biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi thực hiện một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đó Sự nỗ lực ấy diễn ra trên nhiều mặt: 7
Sinh lý: Đòi hỏi chi phí nhiều năng lượng cơ bắp
Tâm lý:Tăng cường các hoạt động cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng…
Xã hội: Đòi hỏi tăng cường mối liên hệ với môi trường bên ngoài…
Vì vậy tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách có quan hệ, chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố như:
Nhu cầu- tích cực nhằm thỏa mãn những nhu cầu nào đó;
Động cơ- tích cực vì hướng tới những động cơ nhất định;
Hứng thú- do bị lôi cuốn bởi những say mê vì muốn biến đổi, cải tạo một
hiện tượng nào đấy;
TTC cũng có mối quan hệ mật thiết với tính tự lực, với xúc cảm và ý chí
Trang 221.2.2.2 Tính tích cực nhận thức (TTCNT)
Tính tích cực nhận thức (TTCNT) là tính tích cực xét trong điều kiện, phạm
vi của quá trình dạy học, chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của
HS Theo giáo sư Trần Bá Hoành “Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt
động của HS, đặc trưng bởi khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao
trong quá trình nắm vững kiến thức” 14
TTCNT bao gồm: Sự lựa chọn đối tượng nhận thức; đề ra cho mình mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượng nhằm cải tạo nó Tính tích cực trong hoạt động cải tạo đòi hỏi phải có sự thay đổi trong ý thức và hành động của chủ thể nhận thức, được thể hiện bằng nhiều dấu hiệu như sự tập trung chú ý, sự tưởng tượng mạnh mẽ, sự phân tích, tổng hợp sâu sắc…
Có thể phân chia TTCNT làm ba mức độ:
Tính tích cực tái hiện: Đó là mức độ thấp của tính tích cực, chủ yếu là dựa
vào trí nhớ để tái hiện những điều đã nhận thức được
Tính tích cực sử dụng: Đây là sự phát triển tính tích cực ở mức độ cao hơn
Qua việc vận dụng các công cụ, các khái niệm, định lý, định luật…vào giải quyết một nhiệm vụ nào đó các em phải phân tích, suy nghĩ tìm tòi để tự lực đưa ra những phương án khác nhau, nhờ đó mà nhu cầu, hứng thú nhận thức và óc sáng tạo phát triển
Tính tích cực sáng tạo: Đây là mức độ phát triển cao nhất của tính tích cực
Nó được đặc trưng bằng sự khẳng định con đường suy nghĩ riêng của mình, vượt
ra khỏi khuôn mẫu, máy móc nhằm tạo ra cái mới, cái bất ngờ, có giá trị Tính tích cực sáng tạo tạo điều kiện cho sự phát triển các khả năng và tiềm năng sáng tạo của cá nhân Nó biểu thị khả năng tự mình tìm kiếm những nhiệm vụ mới, những phương pháp giải quyết mới, khả năng sử dụng những kiến thức, kĩ năng,
kĩ xảo trong những tình huống, hoàn cảnh mới Như vậy tính tích cực sáng tạo không phải là một nét riêng của tính cách cá nhân, mà là một tập hợp những dấu hiệu đặc trưng của một con người [30]
Trang 231.2.2.3 Những biểu hiện của TTC hoạt động nhận thức
Trong học tập, HS chỉ có thể chiếm lĩnh được kiến thức và phát triển được
tư duy của mình khi họ tích cực hoạt động nhận thức Hoạt động nhận thức là nhiệm vụ xuyên suốt trong quá trình học tập của HS Thông qua hoạt động nhận thức, HS chiếm lĩnh được kiến thức và năng lực tư duy đồng thời được phát triển
Để phát hiện xem HS có tích cực hoạt động nhận thức không ta có thể dựa vào các dấu hiệu: [16]
Dấu hiệu bên ngoài (qua hành vi, thái độ, hứng thú):
- Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng
Các em hay đặt những câu hỏi và có những thắc mắc đối với GV Việc đặt câu hỏi của các em thể hiện lòng mong muốn hiểu biết nhiều hơn, sâu hơn về những đối tượng mà các em đang tiếp xúc Những câu hỏi dạng: Đây là cái gì? Dùng để làm gì? Tại sao? Như thế nào? Do đâu mà có? Những thắc mắc các em đưa ra biểu hiện sự tích cực tìm kiếm, lòng ham hiểu biết, trí tò mò đang khuấy động các em Học tập thụ động, không hứng thú sẽ không có câu hỏi và cũng sẽ không có phản ứng nếu câu hỏi không được trả lời
- Chú ý quan sát, chăm chú lắng nghe và theo dõi những gì thày cô làm
- Giơ tay phát biểu, nhiệt tình hưởng ứng, bổ sung ý kiến vào câu trả lời của
bạn và thích tham gia vào các hoạt động cũng là một biểu hiện của hứng thú Thông qua quan sát, thầy giáo có thể xác định được những biểu hiện cảm xúc, hứng thú nhận thức như niềm vui sướng, sự hài lòng khi tự mình tìm ra câu trả lời đúng hay là những thành công trong học tập…
Dấu hiệu bên trong có thể cụ thể hóa qua một số câu hỏi:
- Học sinh có chú ý, tập trung tư tưởng học tập không?
- Có hăng hái tham gia vào các hoạt động học tập không? (Thể hiện ở chỗ giơ tay phát biểu ý kiến, ghi chép…)
- Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không?
- Có thường xuyên hỏi thày cô, trao đổi với bạn bè, tích cực tham gia học nhóm, tổ không?
Trang 24 Dấu hiệu bên trong (sự căng thẳng trí tuệ, sự nỗ lực hoạt động, sự phát triển tư duy, ý chí và xúc cảm…):
Những dấu hiệu bên trong này cũng chỉ có thể phát hiện được qua những biểu hiện bên ngoài, nhưng phải tích lũy một lượng thông tin đủ lớn và phải qua một quá trình xử lí thông tin mới thấy được, cụ thể là:
- Các em tích cực sử dụng các thao tác nhận thức, đặc biệt là các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức
- Tích cực vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng đã tích lũy được vào việc giải quyết các tình huống và các bài tập khác nhau, đặc biệt là vào việc xử lí các tình huống mới
- Phát hiện nhanh chóng, chính xác những nội dung được quan sát
- Hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý của mình
- Có những biểu hiện của tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ nhận thức như tự tin khi trả lời câu hỏi, có sáng kiến, tự tìm ra một vài cách giải quyết khác nhau cho các bài tập và tình huống, biết lựa chọn cách giải quyết hay nhất
- Có những biểu hiện của ý chí trong quá trình nhận thức, như sự nỗ lực, cố gắng vượt qua các tác động nhiễu bên ngoài và các khó khăn để thực hiện đến cùng những nhiệm vụ được giao, sự phản ứng khi có tín hiệu báo hết giờ
Những câu hỏi mà thông qua đó có thể thấy được biểu hiện tích cực hoạt động nhận thức của học sinh qua dấu hiệu bên trong:
- Có biểu hiện hứng thú, say mê, có hoài bão học tập không?
- Có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?
- Có sự phát triển về năng lực phân tích, tổng hợp…năng lực tư duy nói chung không?
- Có thể hiện sự sáng tạo trong học tập không?
Trang 25 Kết quả học tập
Kết quả học tập là một dấu hiệu quan trọng và có tính chất khái quát của tính tích cực nhận thức Chỉ tích cực học tập một cách thường xuyên, liên tục, tự giác mới có kết quả học tập tốt
Dấu hiệu này có thể cụ thể hóa qua các câu hỏi sau:
- Học sinh có hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao không?
- Có ghi nhớ tốt những điều đã học không?
- Có vận dụng được kiến thức đã học vào thực tế không?
- Có phát triển tính năng động sáng tạo không?
- Kết quả kiểm tra, thi cử có cao không?
1.2.3 Các biện pháp chung phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh
Tính TCNT của học sinh chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố: Bản thân học sinh, nhà trường, gia đình, xã hội Vì vậy các biện pháp phát huy tính TCNT của học sinh rất đa dạng và phong phú Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ trình bày nhóm các biện pháp cho giáo viên đứng lớp, chủ yếu được thực hiện trong giờ lên lớp Nhóm biện pháp này rất quan trọng vì nó tác động trực tiếp đến học sinh [5] Nó gồm một số vấn đề sau:
- Giác ngộ ý thức học tập, kích thích tinh thần trách nhiệm và hứng thú học tập của học sinh
- Kích thích hứng thú qua nội dung: Đây là biện pháp mà GV hay sử dụng
nhất Tùy thế mạnh của từng môn học mà cách kích thích hứng thú sẽ khác nhau
- Kích thích hứng thú qua phương pháp dạy học: Để tích cực hóa hoạt
động nhận thức của HS phải phối hợp nhiều phương pháp với nhau, những phương pháp có hiệu quả nhất trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức là: Dạy học nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, thảo luận, tự học, trò chơi học tập…
- Sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là những phương tiện kỹ thuật
dạy học hiện đại Đây là biện pháp hết sức quan trọng nhằm nâng cao TTC của học sinh và giúp nhà trường đưa chất lượng dạy học lên một tầm cao mới
Trang 26- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: Cá nhân, nhóm, tập
thể lớp; làm việc trong vườn trường, phòng thí nghiệm; tổ chức tham quan, các hoạt động nội, ngoại khóa đa dạng
Ngoài ra có thể tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh qua nhiều biện pháp như:[16]
+ Luyện tập dưới nhiều hình thức khác nhau, vận dụng kiến thức vào thực tiễn các tình huống mới
+ Thường xuyên kiểm tra, đánh giá, động viên, khen thưởng HS khi có thành tích học tập tốt
+ Kích thích tính tích cực học tập qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS
1.3 Vận dụng các phương pháp, phương tiện dạy học nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh
1.3.1 Quan niệm về phương pháp dạy học theo hướng tích cực
Khi nói tới phương pháp tích cực, thực tế là nói tới một nhóm các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
Cơ sở của phương pháp luận là lý luận, trong quá trình dạy học cần kích thích sự hứng thú, cần phát huy tính tích cực, tính tự lực sáng tạo trong học tập của HS Để làm điều đó đòi hỏi người thầy giáo phải lựa chọn, tìm tòi những PPDH phù hợp với nội dung bài học, đặc điểm của đối tượng, điều kiện vật chất, và đây là một hoạt động sáng tạo của người thầy trong hoạt động dạy Phương pháp dạy học theo hướng tích cực cần thể hiện được sự phản ánh quá trình hoạt động nhận thức của HS nhằm đạt được mục đích đã đề ra trong đó
GV tổ chức cho HS hoạt động theo hướng tích cực, giúp HS tự giác tiếp nhận kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo nhằm đạt được mục đích đề ra với kết quả cao.[7]
1.3.2 Những đặc trưng của phương pháp dạy học theo hướng tích cực
Phương pháp dạy học theo hướng tích cực có những điểm mạnh riêng của
nó mà các phương pháp khác không thể có được, đó là học sinh lĩnh hội kiến thức bằng chính sự hoạt động tích cực và cao độ của bản thân, tự họ chủ động
Trang 27sáng tạo nn các vấn đề, các tình huống để nghiên cứu Phương pháp dạy học theo hướng tích cực thể hiện bởi các đặc trưng cơ bản sau [14]:
* Dạy học hướng vào học sinh
* Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
* Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tự học, tự nghiên cứu
* Dạy học chú trọng đến việc trau dồi kiến thức và bồi dưỡng kĩ năng, kĩ xảo
* Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
* Kết hợp đánh giá của GV và tự đánh giá của HS
1.4 Phương tiện dạy học hiện đại
1.4.1 Phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học (PTDH) là tập hợp những đối tượng vật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS, và đối với HS, đó là phương tiện để tiến hành hoạt động nhận
thức của mình, thông qua đó mà thực hiện những nhiệm vụ dạy học [12],[36] 1.4.2 Các loại PTDH truyền thống sử dụng trong dạy học Vật lí
Trong dạy học Vật lí, các phương tiện dạy học sau đây thường được xem là các PTDH truyền thống [12],[ [36]
- Các vật thật trong đời sống và kĩ thuật
- Các thiết bị thí nghiệm dùng để tiến hành các thí nghiệm của GV và các thí nghiệm của HS
Phim học tập giúp thu nhận thế giới tự nhiên vào lớp học
Điều chỉnh được tốc độ nhanh chậm, to nhỏ của các hiện tượng, quá trình làm cho học sinh quan sát rõ hơn các hiện tượng, các quá trình vật lí
Trang 28Từ tín hiệu âm thanh, hình ảnh tạo cho học sinh biểu tượng tốt hơn về đối tượng nghiên cứu và còn làm tăng tính trực quan và hiệu quả xúc cảm của phương tiện dạy học
Phim học tập có thể sử dụng ở tất cả giai đoạn của quá trình dạy học (tạo động cơ, đề xuất vấn đề, nghiên cứu vấn đề, cũng cố…), ở trong lớp học hoặc ngoài lớp, giờ học chính khóa hoặc ngoại khóa…[12],[ [36]
Bên cạnh các lĩnh vực sử dụng thường thấy trong các môn học như: học,
ôn tập, kiểm tra đánh giá và xử lý kết quả bằng máy… máy vi tính còn được sử dụng chủ yếu trong dạy học vật lí ở các lĩnh vực quan trọng như sau:
- Sử dụng máy vi tính trong mô phỏng các đối tượng nghiên cứu của vật lí
- Sử dụng máy vi tính hỗ trợ việc xây dựng các mô hình toán học (đồ thị, biểu thức, phương trình) của các hiện tượng, quá trình vật lí
- Sử dụng máy vi tính hỗ trợ các thí nghiệm vật lí
- Sử dụng máy vi tính hỗ trợ việc phân tích băng hình ghi quá trình vật lí thực.[12],[ [36]
1.4.3.3 Bảng tương tác thông minh
Bảng tương tác thông minh là một thiết bị hỗ trợ dạy học hiện đại, có nhiều tác dụng giúp giáo viên thực hành giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả giờ
dạy, học sinh hứng thú học tập [37]
Bảng tương tác thông minh Teach-Pro WB-120RF là hệ thông tương tác
thực tế nhất, hoàn toàn tương thích với nhiều hệ điều hành, sử dụng với bất kỳ
Trang 29máy chiếu nào, chia sẻ ý kiến, thông tin trình chiếu, tài liệu… với mọi người thông qua Internet Biến bảng trắng thành bảng tương tác rộng, làm việc số hóa
Bảng tương tác thông minh gồm bảng thu sóng âm và bút đa năng
Bút đa năng có thể thực hiện được các việc như sau:
- Viết chữ như cây bút bi thông thường: viết chữ trên giấy
- Thực hiện chức năng của chuột máy tính
- Vẽ tranh, vẽ hình toán học, viết công thức toán học phức tạp… Những việc này không thể thực hiện, hoặc vô cùng khó thực hiện bằng chuột máy tính thông thường
- Hiển thị nội dung viết trên giấy sẽ được hiển thị trên bảng/ Trên màn chiếu với sự hỗ trợ của máy chiếu (projector)
- Lưu tác phẩm thực hiện, nội dung bài giảng vào máy tính
1.4.4 Vai trò, chức năng của PTDH hiện đại trong dạy học Vật lí
Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng bề ngoài của đối tượng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng
Làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập bộ môn, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học
Giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có
độ tin cậy )
Giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học Giúp giáo viên điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của các em được thuận lợi và có hiệu suất cao
Việc sử dụng các phương tiện dạy học trong dạy học Vật lý là hết sức cần thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi khoa học kĩ thuật phát triển thì việc tăng cường sử dụng các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học Vật lý là một hướng đi đúng đắn nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở trường phổ
Trang 30thông Về mặt nguyên tắc, chỉ có thể thâu tóm đầy đủ chức năng của phương tiện dạy học trong dạy học Vật lý nếu xem xét việc sử dụng phương tiện dạy học trên nhiều quan điểm khác nhau, nhưng dù xét theo quan điểm nào đi nữa, chức năng chủ yếu của phương tiện dạy học cũng vẫn là tạo điều kiện cho HS nắm vững một cách chính xác, sâu sắc các kiến thức và phát triển năng lực nhận thức và hình thành nhân cách cho HS
1.4.5 Vấn đề sử dụng PTDH hiện đại trong qúa trình dạy học
PTDH hiện đại có ý nghĩa nhất định trong toàn bộ quá trình dạy học, tuy nhiên không phải tự thân nó có toàn bộ ý nghĩa đó Nói cách khác là không phải
cứ sử dụng PTDH hiện đại là có tác dụng dạy học - giáo dục, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc người GV sử dụng nó như thế nào vào cách nghiên cứu, chế biến tài liệu dạy học mà họ sẽ tiến hành [38]
Tiết học với việc sử dụng những phương tiện kỹ thuật dạy học là một kiểu tiết học mới mà trong đó bắt buộc người GV phải sử dụng PPDH phù hợp với chúng Những PTDH, đặc biệt là những phương tiện kỹ thuật dạy học làm thay đổi cấu trúc và cả nhịp điệu tiết học, kết quả là dẫn tới làm thay đổi vị trí người
GV trong tiết học Điều đó đòi hỏi năng lực, trình độ của người GV Hiệu quả sử dụng những PTDH hiện đại càng lớn khi họ có trình độ nghiệp vụ càng cao Khi
sử dụng những PTDH hiện đại, người GV cần chú ý các yêu cầu sau:
PTDH nào cần thiết phải sử dụng, mục tiêu sư phạm sử dụng từng PTDH
- Xác định độ dài thời gian sử dụng phương tiện đó
- Suy nghĩ kĩ về sự phù hợp giữa những PTDH đã lựa chọn với những PTDH khác
Trang 31- Suy nghĩ cẩn thận những biện pháp, cách thức chuẩn bị cho HS tri giác tài liệu học tập cũng như việc nghiên cứu tài liệu sau khi đã quan sát hoặc nghe đầy đủ
- Xây dựng kế hoạch và tiến hành tổ chức tiết học với việc sử dụng phối hợp những PTDH một cách thích hợp, nhằm phát huy tính tích cực, tự lực nhận thức của HS trong việc lĩnh hội tài liệu học tập
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào quá trình giáo dục là xu thế tất yếu Hiệu quả của việc sử dụng công nghệ, các trang thiết bị dạy học hiện đại trong quá trình giáo dục đã được khẳng định trong thực tế, nhất là khả năng làm cho bài giảng trở nên sinh động, giáo viên
có thể định hướng học sinh tiếp cận với một nguồn tri thức phong phú
Mặc dù vậy, qua thực tiễn giảng dạy cho thấy, nếu lạm dụng quá mức, sử dụng không linh hoạt, phù hợp, các phương tiện dạy học hiện đại có thể gây ra những “tác dụng phụ” không mong muốn, làm giảm đi quá trình tương tác cần thiết giữa thầy và trò
Do đó, cần sử dụng công nghệ, các phương tiện dạy học hiện đại sao cho phù hợp là vấn đề cần được quan tâm Trong những năm qua, các phương tiện dạy học hiện đại được sử dụng và dần trở nên quen thuộc trong các tiết dạy của giáo viên, nhất là ở những đơn vị trường học đóng trên các địa bàn có điều kiện kinh tế thuận lợi
Từ việc lên lớp bằng giáo án điện tử, dạy học bằng trình chiếu trên màn hình (power point), thời gian gần đây còn xuất hiện thêm những thiết bị công nghệ dạy học hiện đại mới như: Bảng điện tử thông minh, sách giáo khoa điện tử… Không thể phủ nhận những tiện ích mang lại từ việc ứng dụng các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học Khi sử dụng giáo án điện tử với những môn học, tiết dạy phù hợp, bài giảng của giáo viên có tính trực quan hơn Những hình ảnh, đoạn video clips, đoạn nhạc xen ngang làm cho giờ học trở nên sinh động, có khả năng cuốn hút, tạo hứng thú cho người học
Với việc ứng dụng công nghệ thông tin, trong một tiết dạy, khối lượng kiến thức có thể được truyền đạt tới học sinh nhiều hơn Với những bài giảng
Trang 32điện tử, giáo viên giảm được đáng kể thời gian ghi bảng hoặc đọc cho học sinh chép
Thay cho thời gian đọc chép hay ghi bảng, giáo viên có thể lấy thêm nhiều
ví dụ minh họa, dẫn dắt học sinh tiếp cận với các kiến thức phong phú hơn Mặt khác, việc ứng dụng các thiết bị dạy học hiện đại vào quá trình giáo dục cũng là
cơ hội giúp giáo viên và học sinh có điều kiện tiếp cận được với các phương tiện giảng dạy và học tập tiên tiến trên thế giới
Đây cũng là động lực để cả giáo viên và học sinh đều phải học tập, nâng cao trình độ công nghệ thông tin của bản thân nhằm bắt kịp xu hướng của thời đại Trong quá trình dạy học, sử dụng công nghệ hiện đại đúng cách mang lại nhiều hiệu quả tích cực Tuy nhiên, nếu sử dụng không phù hợp, lạm dụng quá mức sẽ dẫn tới phản tác dụng
Để quá trình dạy học đạt hiệu quả cao, cần có sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt, phù hợp, căn cứ trên điều kiện thực tế của từng đơn vị trường học như: Năng lực tiếp thu của học sinh, khả năng sử dụng phương tiện dạy học hiện đại của giáo viên, đặc thù từng môn học
Nên tránh việc lạm dụng quá mức, ỷ lại vào sự tiện dụng của các phương tiện dạy học hiện đại mà xem nhẹ vai trò của người thầy Công nghệ hiện đại chỉ nên xem là phương tiện hỗ trợ, giúp giáo viên đứng lớp chuyển tải tới học sinh những lượng thông tin mà phấn trắng, bảng đen và các phương tiện dạy học truyền thống khác không làm được [38]
Một vấn đề khác cần được quan tâm là giá thành của các thiết bị dạy học hiện đại không hề rẻ, nhất là đối với những trường học đóng trên các địa bàn kinh tế còn khó khăn Các đơn vị trường học cần dựa trên điều kiện thực tế để tính toán, mua sắm những trang thiết bị dạy học hiện đại thực sự cần thiết, tránh chạy theo phong trào, gây lãng phí
1.5 Bản đồ tƣ duy
1.5.1 Khái niệm bản đồ tƣ duy
Theo Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thuỷ: “Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu,
Trang 33đường nét, màu sắc, chữ viết
với sự tư duy tích cực” [6]
Hình 1.1 Cấu trúc của BĐTD
Kỹ thuật tạo ra loại bản đồ này được gọi là mind mapping và được phát triển bởi Tony Buzan vào đầu những năm 1970
BĐTD là một công cụ thể hiện tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một
kỹ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, màu sắc, đường nét phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khai phá tiềm năng vô tận của bộ não Nó được coi là sự lựa chọn cho trí óc hướng tới lối suy nghĩ mạch lạc Tony Buzan là người đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu tìm ra hoạt động của bộ não Theo Tony Buzan “một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ ” và “màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh Màu sắc mang đến cho BĐTD những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo” [32]
Ở vị trí trung tâm BĐTD là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý tưởng hay khái niệm chủ đạo Từ ý trung tâm hay hình ảnh trung tâm tỏa ra các nhánh chính, ta gọi là nhánh cấp 1, từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các nhánh gọi là nhánh cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được kết nối với nhau tạo ra một
“bức tranh tổng thể” mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng [33] Khi sử dụng công cụ BĐTD để ghi chép, người đọc có thể dễ dàng nhận thấy sự liên kết các ý tưởng dựa trên mối liên hệ của bản thân chúng, nhờ vậy BĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà một bản
liệt kê ý tưởng thông thường không thể làm được [31]
Trang 341.5.2 Cách đọc bản đồ tư duy
Cấu trúc của BĐTD không xuất
phát từ trái sang phải và từ trên
xuống dưới theo kiểu truyền
thống Thay vào đó, BĐTD được
vẽ, viết và đọc theo hướng bắt
nguồn từ trung tâm di chuyển ra
phía ngoài và sau đó là theo chiều Hình 1.2 Cách đọc bản đồ tư duy
kim đồng hồ Các mũi tên xung quanh BĐTD ở hình 1.6 chỉ ra cách đọc thông tin trong bản đồ và các số thứ tự cũng chính là thứ tự ghi và đọc các thông tin trong đó bốn kết cấu chính I, II, III, IV trong BĐTD phía trên được gọi là nhánh chính [31] BĐTD này có bốn nhánh chính vì nó có bốn tiêu đề phụ Số tiêu đề phụ là số nhánh chính Đồng thời, các nhánh chính của BĐTD được đọc theo chiều kim đồng hồ, bắt nguồn từ nhánh I tới nhánh II, rồi nhánh III, và cuối cùng là nhánh IV [32]
1.5.3 Cách vẽ bản đồ tư duy
1.5.3.1 Công cụ vẽ bản đồ tư duy
Có hai cách vẽ BĐTD: Vẽ bằng tay hoặc bằng phần mềm máy tính Nếu
vẽ bằng tay thì người học sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy,…vẽ trên giấy, bìa, bảng phụ,…Nếu vẽ bằng phần mềm người học có thể sử dụng các phần mềm bản đồ tư duy như: bản miễn phí ConceptDraw MINDMAP 5 Professional, Mindjet MindManager Pro7, FreeMind, MindManager, Buzan’s iMindMap… hoặc vẽ bằng chương trình Microsoft Word Đối với học sinh phổ thông thì vẽ BĐTD bằng tay sẽ dễ dàng và thiết thực hơn cho việc học
1.5.3.2 Các bước vẽ BĐTD
Theo Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thuỷ [6], BĐTD được lập theo các
bước sau:
Trang 35 Bước 1: Chọn từ trung tâm (còn gọi là từ khóa) Từ trung tâm là tên của
một bài hay một chủ đề hay một nội dung kiến thức cần khai thác Khi vẽ HS có thể sử dụng hình vẽ, màu sắc mà các em thích để làm nổi bật chủ đề
Bước 2: Vẽ các tiêu đề phụ (nhánh cấp 1) Nội dung của các tiêu đề phụ
chính là các nội dung kiến thức cơ bản của một bài học hoặc một đơn vị kiến thức nào đó của bài học Những nội dung kiến thức này sẽ góp phần làm sáng tỏ nội dung của chủ đề chính ở trung tâm HS vẽ thêm các tiêu đề phụ bàng hình ảnh hoặc chữ xung quanh tiêu đề trung tâm, lưu ý cách bố trí và sử dụng màu sắc Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có
thể vẽ tỏa ra một cách dễ dàng
Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ
trợ (nhánh cấp 2,3…) Sau khi vẽ các tiêu đề phụ, HS xác định những nội dung
kiến thức hỗ trợ cho nội dung của các tiêu đề phụ đó rồi tiến hành vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ Trong khi vẽ HS chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình
ảnh Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh Bước 4: Hoàn thiện BĐTD Học sinh có thể vẽ thêm hình ảnh và sử dụng
màu sắc giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, bổ sung các liên kết cần thiết để hoàn thiện BĐTD Có thể tóm lược cách vẽ bản đồ tư duy bằng một BĐTD như sau:
Hình 1.3: Cách vẽ bản đồ tƣ duy
Trang 361.5.3.3 Nguyên tắc vẽ bản đồ tƣ duy
Để sử dụng công cụ BĐTD một cách có kết quả, trong quá trình lập và sử
dụng BĐTD, cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau: Nhấn mạnh, liên kết và
mạch lạc
Nhấn mạnh có tác dụng tăng trí nhớ và đẩy mạnh sự sáng tạo Mọi kỹ
thuật để nhấn mạnh đều có thể được dùng để liên kết, và ngược lại Muốn đạt hiệu quả nhấn mạnh tối ưu trong BĐTD hãy sử dụng hình ảnh, màu sắc, kích
cỡ của chữ viết một cách thích hợp để thu hút sự tập trung của mắt và não
Liên kết tạo ra mối liên hệ giữa các kiến thức thành phần trong một chủ đề
thống nhất có vai trò tăng trí nhớ và tính sáng tạo của HS Việc dùng kí hiệu để liên kết là quy tắc khá quan trọng Khi dùng kí hiệu, các mối liên kết giữa các
bộ phận trong cùng một trang trong BĐTD sẽ dễ dàng được tìm thấy bất kể chúng
xa hay gần nhau Có thể kí hiệu bằng dấu thập chéo, vòng tròn, tam giác, gạch dưới hay những kí hiệu phức tạp hơn… Kí hiệu cũng giúp tiết kiệm thời gian
Mạch lạc: Sự diễn đạt sáng sủa, dễ nhìn của BĐTD cũng đóng vai trò quan
trọng trong việc tăng cường hứng thú và giúp cho việc ghi nhớ trở nên dễ dàng hơn đối với người học Một ghi chú viết vẽ nghệch ngoạc sẽ gây trở ngại nhiều hơn là giúp cho trí nhớ vì nó đi ngược lại bản tính liên kết của tư duy và hạn chế tư duy mạch lạc [32]
1.5.4 Các ứng dụng của bản đồ tƣ duy trong dạy học
1.5.4.1 Bản đồ tƣ duy hỗ trợ hoạt động dạy
Ngoài việc giúp học sinh làm quen với lý thuyết và thực hành BĐTD, người GV còn có thể sử dụng BĐTD theo nhiều cách thực tế để làm cho việc dạy học dễ dàng, lý thú hơn.[34]
Lập dàn ý cho bài giảng
Dùng BĐTD làm dàn ý cho bài giảng cho phép GV có cái nhìn tổng quát
về chủ đề Nhờ có những đặc tính hỗ trợ trí nhớ, BĐTD cho phép GV chỉ cần xem lướt qua trước khi lên lớp là có thể nắm bắt được trọng tâm Nó giúp GV
Trang 37có khả năng duy trì sự cân đối, sinh động cho một bài giảng với bố cục rõ ràng, hợp lý của một bài thuyết trình Hơn nữa, BĐTD còn cho phép GV giảng bài theo đúng thời gian quy định, hoặc nếu thời gian thay đổi vì một lý do nào đó thì GV cũng có thể chỉnh sửa cho bài giảng dài hơn hay ngắn đi theo yêu cầu
Xây dựng các kế hoạch cho năm học
- Kế hoạch cho năm: Giáo viên có thể dùng BĐTD để có cái nhìn tổng quát về chương trình học của năm, bao gồm các học kỳ và hình thức bài học phải dạy
- Kế hoạch cho từng chương: Đây là một phần của kế hoạch hàng năm, thường có dạng BĐTD nhỏ hơn, và được phát triển từ một hay nhiều nhánh trong chương trình cho năm Kế hoạch của học kỳ có thể cho thấy chủ đề và thứ tự giảng dạy mà GV sẽ theo trong quá trình
- Kế hoạch cho mỗi bài học (giáo án): Ghi lại những chi tiết cụ thể về bài học như thời gian bắt đầu và kết thúc, phòng học, chủ đề giảng…
1.5.4.2 Bản đồ tƣ duy hỗ trợ hoạt động học
Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, HS cần phải tiếp thu một lượng kiến thức đồ sộ Vì vậy, để tiếp nhận lượng thông tin lớn một cách có hiệu quả nhất thì BĐTD với những đặc tính của nó sẽ giúp HS làm tốt công việc trên.[34]
Dễ dàng nhận thấy với cách ghi chú thông thường, hoạt động học thường gặp các bất lợi sau:
Các từ khóa bị chìm khuất Từ khóa truyền tải các ý tưởng quan trọng,
giúp ta nhớ tới những ý tưởng liên kết khi đọc hay nghe thấy nó Theo lối ghi chú thông thường, những từ khóa thường rải ra trên nhiều trang giấy và bị chìm khuất trong một rừng chữ không quan trọng bằng Điều này trở thành trở ngại khi bộ não tìm mối liên kết có ích giữa các khái niệm trọng tâm
Khó nhớ nội dung Các ghi chú bằng một màu đơn điệu dễ gây nhàm chán thị giác, khiến não khước từ và bỏ quên chúng đi
Trang 38 Lãng phí thời gian vì có thể ghi chú cả những cái không cần thiết, hoặc buộc ta phải đọc đi đọc lại những ghi chú không cần thiết…
Không kích thích não sáng tạo
Ghi chép theo BĐTD khắc phục được các hạn chế trên, tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kĩ năng tư duy
1.5.4.3 Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học các loại bài học vật lí ở trường phổ thông
Bản đồ tư duy có thể và cần thiết được sử dụng như một công cụ hỗ trợ hoạt động dạy và học trong các loại bài học vật lí khác nhau.[34]
* Bài học xây dựng kiến thức mới
Mục đích chính là xây dựng kiến thức mới, xác định đặc tính mới của đối tượng hoặc các mối quan hệ trong đối tượng đó, hiểu nội dung cơ bản của kiến thức mới Sử dụng BĐTD có thể dễ dàng giúp HS liên kết và tổ chức tri thức cũng như sự kiện liên quan nhằm tìm ra những đặc tính và mối quan hệ của các đối tượng trong kiến thức mới
Đầu tiên, GV vẽ chủ đề hay từ khóa kiến thức mới cần xây dựng ở giữa bảng, cùng HS đưa ra những ý chính có liên quan Tương ứng với mỗi ý chính,
GV vẽ nhánh chính rồi lan tỏa ra các nhánh con nhờ việc bổ sung các ý tưởng của cả lớp
BĐTD có cấu trúc mở nên mỗi sự đóng góp ý kiến đều có thể hợp nhất trên bản đồ với sự hợp lý nhất định Vì vậy tạo cho HS động cơ, hứng thú, nhu cầu tìm tòi kiến thức Và do quá trình chính bản thân HS tham gia vào xây dựng kiến thức mới sẽ giúp HS ghi nhớ lâu hơn những vấn đề được học
Cấu trúc bài học xây dựng kiến thức mới theo định hướng sử dụng BĐTD:
- Củng cố kiến thức xuất phát, tạo tình huống nhận thức
- Xây dựng kiến thức mới
- Củng cố, hệ thống hóa kiến thức mới bằng việc GV vẽ BĐTD, học sinh thuyết minh hoặc HS vừa vẽ, vừa thuyết minh BĐTD, GV nhận xét, bổ sung, hoàn chỉnh BĐTD
Trang 39- Vận dụng kiến thức
* Bài học luyện tập giải bài tập vật lí
Mục đích chính là làm cho HS hiểu sâu hơn những kiến thức đã học, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập cũng như vào thực tiễn đời sống, sản xuất Việc luyện tập giải bài tập vật lí cũng có nhiều dạng và nhiều cấp độ khác nhau Trong mỗi dạng như vậy BĐTD cũng ít nhiều góp phần hoàn tất công việc một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất
Cấu trúc bài học luyện tập giải bài tập vật lí theo hướng sử dụng BĐTD:
- Củng cố kiến thức, công thức quan trọng (đơn vị, ý nghĩa các đại lượng), công thức suy ra, các công thức liên quan
- Các dạng bài tập thường gặp, cách giải
- Dạng bài tập nâng cao, cách giải
lí những thông tin động để rút ra kết luận khái quát, đáng tin cậy
Cấu trúc bài học thực hành vật lí theo định hướng sử dụng BĐTD:
- Củng cố, hệ thống hóa lý thuyết
- Phân công công việc
* Bài học ôn tập, tổng kết hệ thống hóa kiến thức
Trong dạy học, hệ thống hóa kiến thức có vai trò rất quan trọng, giúp HS hình dung tri thức trong mối quan hệ biện chứng với tri thức khác trong cùng một chủ đề hoặc một nội dung nào đó Việc hệ thống hóa kiến thức đòi hỏi khả năng khái quát hóa, đồng thời phải có hiểu biết nhất định về kiến thức đó Như vậy dùng hệ thống hóa kiến thức không những giúp HS ôn tập mà còn có thể
Trang 40kiểm tra trình độ, thói quen tư duy của HS khi yêu cầu các em tự mình hệ thống hóa một phạm vi kiến thức nào đó
Cấu trúc bài học ôn tập, tổng kết hệ thống hóa kiến thức theo hướng sử dụng BĐTD:
* Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin từ SGK
Nhìn chung, trong bất kỳ một quyển SGK nào cũng chỉ có khoảng 20% trong tổng số từ trong sách là chứa đựng các thông tin HS cần thu hoạch để có toàn bộ kiến thức của môn học, những từ này được gọi là từ khóa Còn 80% các
từ còn lại không bao hàm thông tin hữu ích nào, mục đích của chúng là liên kết các từ khóa lại với nhau nhằm tạo thành câu văn hoàn chỉnh Vì vậy để đạt hiệu quả trong quá trình tự học, tự nghiên cứu SGK, HS phải tách ra được “thông tin” dưới dạng ý chính hoặc từ khóa, sau đó sử dụng công cụ BĐTD ghi chép lại các ý chính và từ khóa Như vậy, khi HS ôn bài chỉ cần ôn lại 20% tổng số
từ mà vẫn nắm bắt được 100% thông tin cần thiết
*Rèn luyện kỹ năng xử lí thông tin (phân tích, so sánh, tổng hợp) thông qua công cụ BĐTD
Trong hoạt động nhận thức, HS phải xử lí những thông tin thu nhận được thì mới có thể biến những kiến thức vật lí đó thành kiến thức của bản thân và vận dụng chúng để giải bài tập vật lí hay lí giải các hiện tượng vật lí mà các em gặp trong cuộc sống hàng ngày Khi xử lí thông tin, HS cần thực hiện một loạt các thao tác trí tuệ như : phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, suy luận diễn dịch,… Từ đó các kĩ năng xử lí thông tin tương ứng như : kĩ năng phân tích,
kĩ năng so sánh, kĩ năng khái quát hóa, … sẽ được rèn luyện cho HS