1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng

24 1,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều nghiên cứu cho thấy, nuôi cấy tế bào thực vật là một phương thức hiệu quả trong sản xuất các hoạt chất sinh học hoặc các chất chuyển hóa của chúng.. Xuất phát từ những cơ sở trên,

Trang 1

was suitable for cell growth of Zedoary in flask 250 mL The cell

biomass was maximum with 10.44 g fresh weight (0.66 g dry weight)

after 14 culture days with inoculum size of 3 g

3 The basic MS medium contained 3% sucrose, supplemented

with 0.5 mg/L BA and 1.5 mg/L 2,4-D; agitation speed 150 rpm/min,

aeration rate 2,5 L/min was suitable to growth of Zedoary cells in 10 L

bioreactor The cell biomass was maximum with 603 g fresh weight

(53.25 g dry weight) after 14 culture days with inoculum size of 200 g

4 The concentration of essential oil in cells reached maximum at

2.57% dry weight after 14 culture days, 1.6 times higher than that in

rhizome The concentration of curcumin in cells reached maximum at

1.16% after 14 culture days, 2.7 times higher than that in rhizome

There was a biotransformation of curcuminoid in cell culture The

concentration of polysaccharide in cell was maximum at 6.55% dry

weight after 10 culture days, 1.4 time lower than that in rhizome

There was accumulation of sesquiterpenes in cell culture The

compositions of sesquiterpene distributed in suspension cells was less

than that in rhizome There were 3-4 peaks of sesquiterpene distributed

similar to rhizome There was a biotransformation of sesquiterpene in

cell culture

5 Essential oil could inhibit growth of B cereus ATCC 11778 (31

mm), S aureus ATCC 6538 (22.33 mm) and E coli ATCC 25922

(18.33 mm) Overall, the antibacterial ability of essential oil derived

from culture cell was high

RECOMMENDATION

1 More studies to enhance the accumulation ability of

bioactive compounds in Zedoary cells

2 More studies in composition as well as bioactivities of

curcumin, sesquiterpenes, polysaccharides produced from

Zedoary cells

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực vật là nguồn cung cấp carbohydrate, protein và chất béo làm thực phẩm Hơn nữa, thực vật cũng là nguồn cung cấp phong phú các hợp chất tự nhiên dùng làm dược phẩm, hóa chất nông nghiệp, hương liệu Những sản phẩm này được biết như là các chất trao đổi thứ cấp, chúng được xem là sản phẩm của các phản ứng hóa học của thực vật với môi trường hoặc là sự bảo vệ hóa học chống lại vi sinh vật và động vật Những nghiên cứu về các hợp chất thứ cấp có nguồn gốc thực vật

đã phát triển từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX và đến nay có khoảng hơn 80.000 hợp chất đã đuợc công bố Việc khai thác nguồn dược liệu tự nhiên từ thực vật đang trở thành một vấn đề quan trọng mang tính toàn cầu và chúng ngày càng được thương mại hóa nhiều hơn Vấn đề đặt ra hiện nay là nơi sống tự nhiên của các loài cây thuốc đang bị biến mất nhanh chóng do sự biến động của điều kiện môi trường và địa lý, cũng như sự khai thác bừa bãi của con người Điều này buộc các nhà khoa học cần phải tính đến tiềm năng của kỹ thuật nuôi cấy tế bào thực vật như một sự thay thế để cung cấp nguyên liệu

ổn định cho ngành công nghiệp sản xuất dược phẩm

Nuôi cấy tế bào thực vật đã được quan tâm nghiên cứu từ những năm 1950 Nhiều nghiên cứu cho thấy, nuôi cấy tế bào thực vật là một phương thức hiệu quả trong sản xuất các hoạt chất sinh học hoặc các chất chuyển hóa của chúng Đến nay, người ta đã thành công trong sản xuất rất nhiều loại hợp chất có giá trị theo phương thức này như anthraquinone, vincristine, berberin, diosgenin, taxol, ginsenoside… Nghệ đen là loài thảo dược quý, không độc, có chứa các chất như curcumin, terpenoid và tinh dầu Curcumin của nghệ đen

có khả năng ức chế khối u; chống lại một số dạng ung thư ở chuột như ung thư ruột kết, ung thư dạ dày, ung thư vú và ung thư buồng trứng; curcumin cũng có tác dụng chống đông máu và hạ huyết áp;

Trang 2

curcuminoid và sesquiterpen là những chất có khả năng ức chế sự hình

thành TNF-α của đại thực bào đã được hoạt hóa, do đó có tác dụng

chống viêm nhiễm; curcumin còn là một chất chống oxy hóa có khả

năng bảo vệ tế bào Tinh dầu nghệ đen có tác dụng kháng khuẩn và

kháng đột biến rất cao Bên cạnh đó, polysaccharide của nghệ đen ức

chế hiệu quả sinh trưởng của các bướu thịt (sarcoma 180), ngăn ngừa

đột biến nhiễm sắc thể, có hoạt tính kích thích đại thực bào Trong tự

nhiên, nghệ đen là loài nhân giống bằng thân rễ, phải mất một thời gian

dài để tạo củ nên hệ số nhân kém; năng suất thu hoạch thường thấp, đặc

biệt là phụ thuộc rất lớn vào điều kiện khí hậu, mùa vụ, chi phí nhân

công và vật tư sản xuất Mặt khác, nghệ đen trong tự nhiên còn dễ mắc

các bệnh như thối củ và đốm lá Vì vậy, rất khó có đủ nguồn nguyên

liệu dồi dào và ổn định để sản xuất lượng lớn các hoạt tính sinh học quý

của cây nghệ đen sử dụng trong bào chế dược phẩm

Xuất phát từ những cơ sở trên, chúng tôi thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (Curcuma zedoaria

Roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính

sinh học của chúng”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu thiết lập các điều kiện và môi trường nuôi cấy

thích hợp để sản xuất nhanh sinh khối tế bào, đồng thời xác định

khả năng tích lũy và hoạt tính sinh học của một số hợp chất trong

tế bào cây nghệ đen nuôi cấy huyền phù

3 Nội dung nghiên cứu

- Tạo callus từ bẹ lá của cây nghệ đen in vitro;

- Nuôi cấy huyền phù tế bào cây nghệ đen;

- Khảo sát sự tích lũy các hợp chất có hoạt tinh sinh học của tế bào;

- Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu của tế bào

4 Những đóng góp mới của luận án

- Đã tạo ra dòng tế bào callus (rắn và rời rạc) từ bẹ lá của cây

(22.33 mm) and finally E coli (18.33 mm) Meanwhile, essential oil derived from rhizome can inhibit the growth of B Cereus; E coli; S aureus (16 mm; 17.67 mm and 14 mm) respectively

Table 3.18 The antibacterial ability of essential oil in Zedoary cells

D-d (mm) Bacteria

Control Essential oil of cells Rhizome essential oil

B cereus ATCC 11778 0 22.33b 16.00a

Figure 3.14 Antibacterial ability of essential oil A: E coli ATCC 25922 B:

B cereus ATCC 11778 C: S aureus ATCC 6538 ĐC: control TN: essential

oil of rhizome TB: essential oil of cells

CONCLUSION AND RECOMMENDATION CONCLUSION

1 The basic MS medium supplemented with 3% sucrose, 0.8% agar; 0.5 mg/L BA and 0.5 mg/L 2,4-D was suitable to callus

induction from leaf-base of in vitro Zedoary The yellow compact and

friable callus were most suitable for cell suspension culture

2 The basic MS medium contained 3% sucrose, supplemented with 0.5 mg/L BA and 1.5 mg/L 2,4-D; shaking speed of 120 rpm/min

Trang 3

Figure 3.13 Distribution of sesquiterpene A: Accumulation of sesquiterpene in rhizome;

B: kinetics of sesquiterpene accumulation in suspension cells from day 2 to 18

3.5 Antibacterial activity of essential oil in Zedoary cells

Results performed in table 3.18 indicated that, essential oil

extracted from both cells and rhizome can depress growth E coli, S

aureus and B cereus Overall, essential oil collected from suspension

cells could be antibacterial (Figure 3.14) The essential oil from

culture cells depressed most to S aureus (31 mm), then to B cereus

nghệ đen in vitro thích hợp để nuôi cấy huyền phù, đồng thời xác định

một cách có hệ thống các điều kiện và môi trường nuôi cấy thích hợp cho sự sinh trưởng nhanh và ổn định của tế bào nghệ đen nuôi cấy huyền phù trong bình tam giác và trong hệ lên men 10 lít

- Đã khảo sát sự tích lũy các hợp chất có hoạt tính sinh học như: tinh dầu, curcummin, sesquiterpene và polysaccharide trong tế bào nghệ đen nuôi cấy Nghiên cứu đã xác định được hàm lượng và thời điểm tích lũy cao nhất của các hợp chất này theo đường cong sinh trưởng và đồng thời cho thấy có sự chuyển hóa sinh học các chất như curcumin và sesquiterpene xảy ra trong nuôi cấy huyền phù tế bào cây nghệ đen

- Đã khảo sát được khả năng kháng khuẩn của tinh dầu tế bào cây

nghệ đen nuôi cấy in vitro và nhận thấy, tinh dầu của tế bào có khả

năng ức chế sinh trưởng một số loài vi sinh vật gây bệnh

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

5.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học mới, có tính hệ thống về nuôi cấy tế bào cây nghệ đen và khả năng tích lũy một số hoạt chất sinh học của chúng; đồng thời là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích trong nghiên cứu, giảng dạy về nuôi cấy tế bào và sản xuất các hoạt chất sinh học có giá trị cao từ nuôi cấy tế bào thực vật

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của luận án sẽ là cơ sở khoa học để phát triển nuôi cấy tế bào cây nghệ đen nhằm sản xuất nhanh sinh khối, cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định để chiết tách thu hồi các hợp chất thứ cấp dùng làm dược liệu, góp phần bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng

6 Cấu trúc của luận án

Luận án gồm 105 trang (kể cả tài liệu tham khảo) được chia thành các phần: Phần Mở đầu có 4 trang; Chương 1: Tổng quan tài liệu, 32 trang; Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu, 7

Trang 4

trang; Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận, 36 trang; Phần Kết

luận và đề nghị, 2 trang; Các công trình đã công bố liên quan đến luận án:

1 trang, Tài liệu tham khảo: 23 trang với 193 tài liệu tham khảo bằng

tiếng Việt và tiếng Anh; Luân án có 18 bảng số liệu và 16 hình

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Luận án đã tham khảo 17 tài liệu tiếng Việt và 189 tài liệu tiếng

Anh với các nội dung liên quan gồm: (1) Nuôi cấy tế bào thực vật; (2)

Sự tích lũy các hợp chất thứ cấp trong tế bào thực vật nuôi cấy in

vitro; (3) Giới thiệu về cây nghệ đen

Thử nghiệm đầu tiên về nuôi cấy tế bào bên ngoài một cơ thể thực

vật hoàn chỉnh được công bố vào năm 1902 bởi Haberlandt - nhà Sinh

lý thực vật người Đức, người được biết đến như nhà sáng lập ra

phương pháp nuôi cấy tế bào thực vật Những thử nghiệm đầu tiên

trong nuôi cấy tế bào đơn để sản xuất dược phẩm đã được tiến hành

trong những năm 1950 tại công ty Charles Pfizer Đến nay, một thế kỷ

sau những nghiên cứu của Haberlandt, nhiều hợp chất thứ cấp đã được

sản xuất thương mại bằng con đường nuôi cấy tế bào thực vật

Nuôi cấy tế bào thực vật được khởi đầu bằng việc hình thành các

tế bào không phân hóa, được gọi là callus Nuôi cấy callus đạt được

bằng cách nuôi cấy các mẫu mô tách từ thực vật trên môi trường dinh

dưỡng cơ bản có chất làm rắn là agar Nuôi cấy huyền phù tế bào

thường được khởi đầu bằng cách chuyển các khối callus vào nuôi cấy

trong môi trường lỏng được khuấy bởi máy lắc, quay hoặc màng lọc

xoay Mô callus nuôi cấy nên là loại mô dễ vỡ vụn để có thể thiết lập

được dịch huyền phù tế bào với mức độ phân tán cao nhất Nuôi cấy

huyền phù tế bào trong môi trường lỏng cung cấp một hệ thống duy

nhất cho những nghiên cứu chi tiết về sinh trưởng và sản xuất các chất

chuyển hóa Trong nuôi cấy huyền phù tế bào thực vật cần thiết phải

For examples, peak 1 (retention time 4.7 min) had absorption of 6.05 mAU in rhizome but got just 2.55 mAU in suspension cells, meanwhile, peak 4 (retention time 7.5 min) in suspension cells had absorption of 7.33 mAU and 2.23 mAU in rhizome Some peaks appeared in rhizome (5-8) were absent or trace (< 1 mAU) in suspension cells However, in suspension cells, some new peaks appeared (not numbered) that had retention time about 6.8; 7.8; 8.2 and 9.2 min and the absorption of 1.38-4.10; 5.62-7.54; 1.70-8.41 and 1.06-8.38 mAU respectively These resultd indicated that many biotransformation of sesquiterpene were occuring in process of cell culture, producing different sesquiterpene types compared with the rhizome control

Table 3.17 Comparision of eluted peak heights (mAU) for rhizome control and suspension cells of Zedoary at different culture times

Compound number/retention time (min) Culture

time (day) 1/4.7 2/5.1 3/6.0 4/7.5 5/12.7 6/13.8 7/19.2 8/20.5 9/26.7

Trang 5

Study showed that the appearance of separated peaks in rhizome

was more than that in suspension cells (Figure 3.13) Overall, peaks

had retention time related to sesquiterpene compounds (numbered 1-9)

in the rhizome and in suspension cells had different absorption

spectrums (mAU), particularly peaks numbered 1 and 4 (Table 3.17)

quan tâm đến các yếu tố sau: Môi trường nuôi cấy như các chất điều hòa sinh trưởng, nguồn carbon và các điều kiện nuôi cấy như: cỡ mẫu nuôi cấy ban đầu, sự khuấy trộn, sục khí…Trình tự của một quá trình nâng cấp điển hình bắt đầu từ nuôi cấy tế bào trong các chai, lọ đến bình tam giác nuôi cấy lắc có dung tích 1 L, sau đó đến hệ lên men bằng thuỷ tinh từ 1-10 L, và sau đó nâng cấp đến hệ lên men bằng thép không rỉ từ 30-150 L rồi đến 1000 L Hệ lên men là một hệ thống nuôi cấy tự động mà chức năng chính của nó là cải thiện kiểm soát môi trường để đạt được các điều kiện tối ưu cho sinh trưởng của tế bào và/hoặc hình thành sản phẩm

Trong vài thập kỷ qua, những bằng chứng từ thực nghiệm và trong thực tế cho thấy, các hợp chất thứ cấp ở thực vật có các chức năng cơ bản sau: Bảo vệ cơ thể chống lại các loài động vật ăn cỏ; kháng nấm và vi khuẩn; kháng virus Các hợp chất hóa học này còn được dùng nhiều trong dược phẩm, hóa chất nông nghiệp, thuốc nhuộm, gia vị, chất tạo mùi, thuốc trừ sâu Các hợp chất thứ cấp của thực vật có thể phân thành

ba nhóm chính đó là terpene, phenol và các hợp chất chứa nitrogen Nghiên cứu về khả năng sinh tổng hợp của các tế bào nuôi cấy đã được tiến hành bởi các nhà khoa học thực vật và vi sinh vật ở nhiều quốc gia Hầu hết các ứng dụng nuôi cấy tế bào thực vật trong công nghệ sinh học đều nhằm vào mục đích sản xuất các hợp chất thứ cấp Những thành tựu đạt được trong lĩnh vực nuôi cấy tế bào thực vật để sản xuất các hợp chất dùng để chữa bệnh đã tạo ra khả năng có thể sản xuất trên qui mô lớn các chất thuộc nhóm alkaloid, terpenoid, steroid, saponin, phenol, flavonoid và các amino acid

Ở nước ta, công nghệ nuôi cấy tế bào thực vật phát triển vào những năm 1970 và đến nay đã đạt được một số thành công Một trong những kết quả nuôi cấy tế bào thành công nhất đó là nuôi cấy tế bào cây sâm Ngọc Linh Ngoài ra còn có một số nghiên cứu nuôi cấy tế bào các loài cây thuốc khác như cây thông đỏ, cà gai leo, rau má, dừa

Trang 6

cạn… Nghệ đen là cây thảo dược có chứa các nhóm chất như tinh dầu

bao gồm các chất thuộc sesquiterpene và monosesquiterpene;

curcuminoid Ngoài ra, nghệ đen còn chứa các chất như tinh bột, chất

dẻo và một số chất có vị đắng khác Cây nghệ đen đã được con người

dùng trong bài thuốc Đông y cổ truyền để chữa bệnh Nhiều nghiên

cứu cho thấy, các hợp chất như tinh dầu, curcumin, sesquiterpene của

nghệ đen có các hoạt tính sinh học quý như: kháng ung thư, bảo vệ

gan, kháng loét, kháng viêm, kháng khuẩn và kháng nấm

Có một số công trình nghiên cứu về nhân giống in vitro ở cây

nghệ đen chẳng hạn như tái sinh chồi từ callus nghệ đen; nhân giống in

vitro cây nghệ đen từ chồi Ngoài các nghiên cứu nhân giống in vitro

cây nghệ đen, một số kết quả bước đầu trong nuôi cấy callus và huyền

phù tế bào cây nghệ đen cũng đã được công bố Cho đến nay, công

trình nghiên cứu nuôi cấy tế bào với khả năng tích lũy sinh khối cao

cũng như khảo sát sự tích lũy các hợp chất có hoạt tính học của tế bào

nghê đen nuôi cấy in vitro trong hệ lên men là rất hạn chế

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tương nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là cây nghệ đen Nguyên liệu nghiên cứu là

các tế bào callus được tạo từ bẹ lá của cây nghệ đen in vitro

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Nuôi cấy callus

Bẹ lá của cây nghệ đen in vitro được nuôi trên môi trường MS có

2% sucrose và 0,8% agar, bổ sung 0,5-4,0 mg/L 2,4-D và 0,5-4,0 mg/L

BA để tạo callus

2.2.2 Nuôi cấy tế bào huyền phù

2.2.2.1 Nuôi cấy tế bào trong bình tam giác

Khoảng 2 g callus 2 tuần tuổi được chuyển vào bình tam giác 250

ml chứa 50 ml môi trường MS lỏng có 2% sucrose, bổ sung 0,5 mg/L

speak at 1.16% before gradually decreasing from day 16 to day 18 alongs to cell growth (Figure 3.9) Overall, concentration of curcumin

in culture cell with diferent culture time was higher than that in rhizome (0.43%)

Bảng 3.16 Concentration of curcumin in Zedoary cells cultured in 10L bioreactor Culture time

(day) Retention time (min) Peak square (mAU) concentration (%) Curcumin

Trang 7

3.4.2 Total water soluble polysaccharide

Table 3.15 showed the concentration of total water soluble

polysaccharide (% dry quantity) from Zedoary cells at variety time Overall,

concentration of polysaccharide increased from 2 to 10 and reached a peak at

6.55%, 1.4 time lower than that in Zedoary (9.46%) (p<0,05)

Table 3.15 Concentration of polysaccharide in Zedoary cells

Time (days) Concentration of polysaccharide (%)

Analysis results of HPLC were performed in Figure 3.10-3.12 and

Table 3.16 Standard curcumin has a retention time of 2.05 mins, one

another peak has a similar retention time was found in extractive

solution of rhizome (2.08 mins) and cells were cultured within

different time 2-18 days (1.97-2.09 mins) Besides, extractive solution

of natural Zedoary performed 2 other peaks Of them, one peak had

retention time that was similar to the second peak of culture cell (1.79

min), the another peak had a retention time of 1.21 min The extractive

solution of culture cell had the third peak with retention time of 1.6

minute The disappearance of the third peak of 1.21 min (in extractive

solution of rhizome) in vitro cells can be due to biotransformation

happening in culture process

Results in Table 3.16 showed that, the concentration of curcumin

(% dry weight) increased gradually from day 2 to day 14, reached

2,4-D và 0,5 mg/L BA, nuôi ở tốc độ lắc 100 vòng/phút để thiết lập nuôi cấy huyền phù tế bào Môi trường MS lỏng bổ sung nguồn carbon khác nhau (sucrose, glucose và fructose) và các chất ĐHST BA và 2,4-D ở dạng riêng rẽ hoặc tổ hợp, nuôi ở tốc độ lắc 120 vòng/phút để đánh giá khả năng sinh trưởng của tế bào

2.2.2.2 Nuôi cấy tế bào huyền phù trong hệ lên men

100 g sinh khối tế bào (10 ngày tuổi) thu từ nuôi cấy lắc trong bình tam giác được đưa vào nuôi trong hệ lên men 14 L chứa 10 L môi trường MS lỏng có 3% sucrose, bổ sung 1,5 mg/L 2,4-D và 0,5 mg/L BA; với các điều kiện khác nhau như cỡ mẫu: 100-250 g, tốc độ khuấy: 100-200 vòng/phút và tốc độ sục khí: 1,5-3,5 L/phút Sinh khối tế bào được thu 2 ngày một lần trong suốt 18 ngày để khảo sát khả năng sinh trưởng của chúng

2.2.3 Xác định sinh trưởng của tế bào

Sinh khối tươi của tế bào thu được bằng cách lọc chân không dịch huyền phù tế bào, sau đó rửa bằng nước cất để loại bỏ môi trường và cân xác định khối lượng tươi

Khối lượng khô của tế bào được xác định bằng cách sấy sinh khối tươi trong tủ sấy ở 500C cho đến khi khối lượng không đổi và cân

2.2.4 Định lượng tinh dầu

Tách chiết và xác định hàm lượng tinh dầu theo phương pháp của

Manzan và cs 2003

2.2.5 Định lượng curcumin

Tách chiết curcumin theo phương pháp của Paramapojn và Gritsanapan (2009) Phân tích HPLC để xác định hàm lượng curcumin được thực hiện trên máy Spectra System (Thermo Electron, Mỹ) bằng chương trình ChromQuest (ver 4.2.34)

2.2.6 Định lượng polysaccharide hòa tan trong nước tổng số

Tách chiết polysaccharide theo phương pháp của Sun và cs (2005) Xác định hàm lượng polysaccharide dựa vào đường chuẩn D-

Trang 8

glucose (4-20 mg/ml) theo Chaplin và cs 1994 và tính toán theo hệ số

chuyển đổi sang polysaccharide là 3,168 theo Li và cs 2007

2.2.7 Xác định sesquiterpene

Tách chiết sesquiterpene theo phương pháp của Jang và cs 2004

Phân tích HPLC để xác định sesquiterpene được thực hiện trên máy

Spectra System (Thermo Electron, Mỹ) bằng chương trình

ChromQuest (ver 4.2.34)

2.2.8 Xác định hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu

Hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu được xác định theo phương

pháp khuếch tán đĩa thạch của Lehrer và cs (1991)

2.2.9 Xử lý thống kê

Mỗi thí nghiệm được bố trí lặp lại 3 lần Số liệu thực nghiệm được

tính trung bình mẫu ± sai số chuẩn và phân tích Ducan’s test (p<0,05)

bằng chương trình SAS

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Nuôi cấy callus nghệ đen

Kết quả tạo callus từ bẹ lá của cây nghệ đen in vitro trên các môi

trường khác nhau sau 90 ngày nuôi cấy được ở bảng 3.1 Các môi

trường có bổ sung BA và 2,4-D đều kích thích tạo callus, trong khi đó

môi trường không bổ sung chất ĐTST lại không tạo callus Môi trường

có bổ sung 1,0 mg/L 2,4-D và 1,0 mg/L BA hoặc 2,0 mg/L 2,4-D và

2,0 mg/L BA là thích hợp nhất (tỷ lệ tạo callus từ 40,1-46,01%), callus

có màu trắng, xốp và có khả năng sinh trưởng tốt (Hình 3.1A) Ở các

môi trường còn lại tỷ lệ tạo callus thấp (8,2-15,74%), callus có màu

trắng và mọng nước (Hình 3.1B)

Table 3.13 Effects of aeration rate on cell growth

Aeration rate (L/min) Fresh weight (g) Dry weight (g)

Figure 3.9 Growth of Zedoary cell in 10 L bioreactor

3.4 The accumulation of some bioactive compounds in Zedoary cells

3.4.1 Essential oil

Concentration of essential oil derived from Zedoary cells cultured

in 10 L bioreactor was showed in table 3.14 Overall, concentration of essential oil (% dry weight) of cells increased from 2 to 14 culture days and reached a peak 2.57% (1,61% in natural Zedoary rhizomes)

Table 3.14 Concentration of essential oil in Zedoary cells

Time (days) Concentration of essential oil (%)

Trang 9

Table 3.11 Effects of inoculum size on cell growth

Inoculum size (g) Fresh weight (g) Dry weight (g)

This research showed that, the increase of agitation speed 100-150

rpm/min resulted in the increase of cell biomass as well as can got

peak 561 g fresh weight (50,84 g dry weight) However, at the higher

agitation speed (>150 rpm/min) cell growth decreased with 437 g fresh

weight (37,42 g dry weight) at 200 rpm/min (table 3.12)

Table 3.12 Effects of agitation speed on cell growth

3.3.2.3 Effects of aeration rate

Increasing aeration rate from 1.5 to 2.5 L/min resulted in a

increase of cell growth and reached a peak at 603 g fresh weight

(53.25 g dry weight) However, increasing aeration rate from 3 to 3.5

L/min, cell growth were decreased With aeration rate of 3.5 L/min,

fresh weight of cell was 441 g fresh weight (33,17 g dry weight)

(Figure 3.9 và Table 3.13)

Bảng 3.1 Khả năng tạo callus từ bẹ lá của cây nghệ đen in vitro

2,4-D (mg/L)

BA (mg/L)

% mẫu vật tạo callus

Sinh trưởng của callus Hình thái callus

0,0 0,0 - - - 0,5 0,5 15,74 c ++ Trắng, mọng nước 1,0 1,0 46,01 a ++++ Trắng, xốp 2,0 2,0 40,10 b ++++ Trắng, xốp 3,0 3,0 10,20 d +++ Trắng, mọng nước 4,0 4,0 8,20 cd + Trắng, mọng nước ++++: sinh trưởng mạnh; +++: sinh trưởng khá; ++: sinh trưởng trung bình; +: sinh trưởng kém; - : không xuất hiện callus

Hình 3.1 Callus hình thành từ bẹ lá của cây nghệ đen in vitro (A) callus trắng và xốp,

0,25 0,25 + Trắng và mọng nước 0,50 0,50 ++++ Vàng sáng, rắn và rời rạc 1,00 1,00 ++ Trắng và xốp

2,00 2,00 ++ Trắng và mọng nước 4,00 4,00 - Hóa nâu và chết ++++: sinh trưởng mạnh; +++: sinh trưởng khá; ++: sinh trưởng trung bình; +: sinh trưởng kém; - : không sinh trưởng

B

A

Trang 10

Hình 3.2 Callus có màu vàng, rắn và rời rạc sau 14 ngày nuôi cấy

Callus sơ cấp có màu trắng, xốp và sinh trưởng mạnh được cấy

chuyển lên môi trường MS có bổ sung 2,4-D và BA từ 0,25-4 mg/L

Kết quả cho thấy, các callus sinh trưởng trên môi trường có 2 mg/L

2,4-D và 2 mg/L BA dần dần hóa nâu và chết sau khi cấy chuyển Các

callus trên môi trường có 1 mg/L 2,4-D và 1 mg/L BA phát triển thành

dạng callus thứ cấp tốt nhất trên môi trường có chứa 0,5 mg/L 2,4-D

và 0,5 mg/L BA (Bảng 3.2) Các môi trường còn lại không có tác dụng

kích thích sinh trưởng callus (callus sinh trưởng kém hoặc hóa nâu và

chết) sau 4 tuần cấy chuyển Các calus thứ cấp có màu vàng sáng, rắn

và dễ vỡ vụn (Hình 3.2) thu được trên môi trường MS có bổ sung 0,5

mg/L 2,4-D và 0,5 mg/L BA tạo nguyên liệu cho nuôi cấy tế bào

huyền phù

3.2 Nuôi cấy huyền phù tế bào trong bình tam giác

3.2.1 Ảnh hưởng của cỡ mẫu

Với cỡ mẫu 2 g, sinh khối đạt cao nhất sau 16 ngày là 4,12 g tươi

(0,37 g khô) và chỉ số sinh trưởng là 2,06 Với 3 g tế bào nuôi cấy thì

sinh trưởng của tế bào đạt cực đại chỉ sau 14 ngày là 5,61 g tươi (0,41

g khô) và chỉ số sinh trưởng là 1,87 Khi tăng cỡ mẫu lên 4-5 g, sinh

khối đạt cực đại sau 12 ngày, tương ứng là 6,12 g tươi (0,46 g khô) và

7,22 g tươi (0,51 g khô) nhưng chỉ số sinh trưởng thấp chỉ đạt 1,54 và

1,44 Mặc dù cỡ mẫu 2 g sau 14 ngày cũng có chỉ số sinh trưởng có

cao (2,0), nhưng chất lượng tế bào kém hơn (tế bào có màu vàng nhạt,

dịch huyền phù ít đồng nhất) so với khi sử dụng 3 g (tế bào có màu

3.3 Cell suspension culture of Zedoary in bioreactor

3.3.1 Assessment of cell growth

Study showed that cell mass got maximum on the 14th with 241.67

g fresh weight (22.28 g dry weight), then decreased The fresh cell biomass was 132.67 g fresh weight (10.08 g dry weight) after 18 days

of culture

Figure 3.7 Growth of Zedoary cells in 10 litter bioreactor

Figure 3.8 Fresh weight biomass (A) and dry weight biomass (B)

Based on observating the growth curve of Zedoary cell, we study effects

of some culture conditions on cell biomass accumulation after 14 days

3.3.2 Effects of culture conditions

Trang 11

from 20-60 g/L, the cell biomass also increases and reaches a

maximum of 8.40 g fresh weight (0.62 g dry weight) However, when

the fructose up to 70 g/L, the cell growth slowed (7.65 g fresh weight

and 0.57 g dry weight)

Table 3.10 Effects of fructose on cell growth

Cell culture of Zedoary on MS medium supplemented with 3%

sucrose, 0.5 mg/L BA and 1.5 mg/L 2,4-D, shaking speed 120

rpm/min The maximum biomass was gotten after 14 days with 10.44

g fresh weight (Figure 3.4 and 3.5)

0 0.2 0.4 0.6 0.8

0 2 4 6 8 10 12

Culture time (days)

Fresh cell weight Dry cell weight

Figure 3.4 Growth of Zedoary cells in flask of 250 ml

Figure 3.5 Cell culture of Zedoary in flask of 250 ml

vàng đậm và tươi, dịch huyền phù đồng nhất) Vì thế, theo nhận định của chúng tôi cỡ mẫu 3 g là thích hợp hơn cả

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của cỡ mẫu lên tích lũy sinh khối của tế bào nghệ đen

0,38 b 1,51 5,65 b

0,40 b 1,41 6,09 c

0,47 b 1,22

10 3,50 b

0,33 b 1,75 4,92 b

0,40 a 1,64 6,04 a

0,42 b 1,51 7,02 b

0,48 b 1,40

tế bào sinh trưởng chậm lại, đặc biệt bị ức chế mạnh ở 180 vòng/phút, sinh khối cao nhất chỉ là 4,75 g tươi (0,35 g khô), dịch huyền phù tế bào chuyển sang màu nâu nâu sau 14 ngày nuôi cấy

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của tốc độ lắc lên sinh sinh trưởng tế bào

Kết quả nghiên cứu cho thấy, nồng độ BA 0,25 và 0,5 mg/L có

hiệu quả tương đương (p<0,05), khối lượng tươi của tế bào từ

2,06-2,08 g (0,45-0,46 g khô) và chỉ số sinh trưởng xấp xỉ 2,1 là cao nhất

Trang 12

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của BA lên sinh sinh trưởng tế bào

Khả năng sinh trưởng của tế bào nghệ đen trong môi trường có bổ

sung 2,4-D từ 0,25-2,5 mg/L sau 14 ngày nuôi cấy được trình bày ở

bảng 3.6 Kết quả nghiên cứu cho thấy, nồng độ 2,4-D 1,5 mg/L có

ảnh hưởng lớn nhất, khối lượng tươi của tế bào đạt 6,75 g (0,52 g khô)

và chỉ số sinh trưởng là 2,25, cao hơn các môi trường còn lại

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của 2,4-D lên sinh sinh trưởng tế bào

Tế bào nghệ đen được nuôi cấy trên môi trường có bổ sung BA và

2,4-D nồng độ từ 0,25-2,5 mg/L Kết quả sau 14 ngày nuôi cấy được

culture were showed in figure 3.8

Table 3.8 Effects of sucrose on cell growth

Results showed that, cell growth were slowly at low concentration

of 20 g/L sucrose (7,22 g of fresh weight and 0.55 g dry weight) The medium contained 30 g/L sucrose, cell growth increase dramatically (10.44 g fresh weight and 0.66 g dry weight) with growth index of 3.48, the suspension solution was bright yellow and rather homogenous At the sucrose concentration of 40-70 g/L, cell growth decreased, especially at 70 g/L (6.75 g fresh weight and 0.6 g dry weight)

3.2.4.2 Effects of glucose

Results indicated that cell biomass was rather low when culturing cells on medium contain 20-30 g/L glucose At the glucose of 40-60 g/L cell biomass got maximum (7.32 g fresh weight and 0.59 g dry weight), with growth index of 2.44 At the glucose of 70 g/L, the cell growth was depressed

Table 3.9 Effects of glucose on cell growth

Ngày đăng: 25/06/2014, 12:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.16. Concentration of curcumin in Zedoary cells cultured in 10L bioreactor  Culture time - luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng
Bảng 3.16. Concentration of curcumin in Zedoary cells cultured in 10L bioreactor Culture time (Trang 6)
Hình 3.1. Callus hình thành từ bẹ lá của cây nghệ đen in vitro. (A) callus trắng và xốp, - luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng
Hình 3.1. Callus hình thành từ bẹ lá của cây nghệ đen in vitro. (A) callus trắng và xốp, (Trang 9)
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của chất KTST lên sinh trưởng và phát sinh hình thái của callus  2,4-D - luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của chất KTST lên sinh trưởng và phát sinh hình thái của callus 2,4-D (Trang 9)
Bảng 3.1. Khả năng tạo callus từ bẹ lá của cây nghệ đen in vitro  2,4-D - luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng
Bảng 3.1. Khả năng tạo callus từ bẹ lá của cây nghệ đen in vitro 2,4-D (Trang 9)
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của BA lên sinh sinh trưởng tế bào - luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của BA lên sinh sinh trưởng tế bào (Trang 12)
Bảng 3.6. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nồng độ 2,4-D 1,5 mg/L có - luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng
Bảng 3.6. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nồng độ 2,4-D 1,5 mg/L có (Trang 12)
Hình 3.8. Sinh khối tươi (A) và sinh khối khô (B) của tế bào nghệ đen - luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng
Hình 3.8. Sinh khối tươi (A) và sinh khối khô (B) của tế bào nghệ đen (Trang 15)
Hình 3.7. Sinh trưởng của tế bào nghệ đen trong hệ lên men 10 lít - luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng
Hình 3.7. Sinh trưởng của tế bào nghệ đen trong hệ lên men 10 lít (Trang 15)
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của cỡ mẫu lên sinh trưởng của tế bào - luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của cỡ mẫu lên sinh trưởng của tế bào (Trang 16)
Bảng 3.14. Hàm lượng tinh dầu trong tế bào nghệ đen  Thời gian nuôi cấy (ngày)  Hàm lượng tinh dầu (%) - luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng
Bảng 3.14. Hàm lượng tinh dầu trong tế bào nghệ đen Thời gian nuôi cấy (ngày) Hàm lượng tinh dầu (%) (Trang 17)
Bảng 3.15 trình bày hàm lượng polysaccharide hòa tan trong nước - luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng
Bảng 3.15 trình bày hàm lượng polysaccharide hòa tan trong nước (Trang 18)
Bảng 3.16. Hàm lượng curcumin của tế bào nghệ đen nuôi cấy trong hệ lên - luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng
Bảng 3.16. Hàm lượng curcumin của tế bào nghệ đen nuôi cấy trong hệ lên (Trang 19)
Hình 3.12. Phổ HPLC của dịch chiết tế - luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng
Hình 3.12. Phổ HPLC của dịch chiết tế (Trang 20)
Hình 3.13. Phổ HPLC về sự phân bố sesquiterpene. A: Củ nghệ đen tự nhiên; B: tế - luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng
Hình 3.13. Phổ HPLC về sự phân bố sesquiterpene. A: Củ nghệ đen tự nhiên; B: tế (Trang 22)
Bảng 3.18. Khả năng kháng khuẩn của tinh dầu nghệ đen - luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu nuôi cấy tế bào cây nghệ đen (curcuma zedoaria roscoe) và khảo sát khả năng tích lũy một số hợp chất có hoạt tính sinh học của chúng
Bảng 3.18. Khả năng kháng khuẩn của tinh dầu nghệ đen (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm