Báo cáo thực tập công ty xây dựng điện VNECO4, báo cáo thực tập hay cho các bạn sinh viên đi thực tập xây dựng điện Báo cáo thực tập công ty dành cho sinh viên các trường đại hocjc ao đẳng Báo cáo thực tập công ty
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Tất cả các hoạt động kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp,ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trìnhkinh doanh Do đó, để phục vụ cho công tác quản lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả cácnhà quản trị cần phải thường xuyên tổ chức phân tích tình hình tài chính cho tương lai Bởi
vì thông qua việc tính toán, phân tích tài chính cho ta biết những điểm mạnh và điểm yếu vềhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như những tiềm năng cần phát huy vànhững nhược điểm cần khắc phục Từ đó các nhà quản lý có thể xác định được nguyên nhân
và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt độngkinh doanh của đơn vị mình trong thời gian tới
Với một doanh nghiệp hay bất kì tổ chức kinh doanh dù lớn hay nhỏ khi hoạt động đềumong muốn làm sao hoạt động có hiệu quả thu về lợi nhuận nhiều nhất và đạt được mục tiêu
mà công ty đề ra Để làm được điều đó đòi hỏi cần có rất nhiều yếu tố cấu thành nên nhưvốn, nhân lực, công nghệ v v Một trong những việc cần làm là phân tích được báo cáo tàichính của doanh nghiệp
Phân tích báo cáo tài chính không những cung cấp thông tin quan trọng nhất cho chủ doanhnghiệp trong việc đánh giá những tiềm lực vốn có của doanh nghiệp, xem xét khả năng vàthế mạnh trong sản xuất kinh doanh mà còn thông qua đó xác định được xu hướng phát triển
Trang 2của doanh nghiệp, tìm ra những bước đi vững chắc, hiệu quả trong một tương lai gần Việcphân tích báo cáo tài chính là một công cụ quan trọng cho công tác quản lí của chủ công tynói riêng và hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung Trong môn học này, em chọn “Công
ty xây dựng điện VNECO4” để làm bài báo cáo của mình
Trong bài phân tích sẽ nêu rõ ưu điểm và nhược điểm cũng như các thông tin cần thiết củadoanh nghiệp để phục vụ cho các đối tượng bên trong doanh nghiệp cũng như các nhà đầu tưkhác
I. Thông tin chung
Tên giao dịch đối
ngoại VNECO4 ELECTRICITY CONSTRUCTION JOINT-STOCK COMPANY
Vốn điều lệ
10.280.000.000 (Mười tỷ hai trăm tám mươi triệu) đồng
NGÀNH NGHỀ KINH DOANH
Sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng và thạch cao
Phá dỡ; bán buôn máy móc; Thiết bị và phụ tùng máy khác; Bán buôn kim loại và quặng kim loại; Bán buôn vật liệu; Thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng
Trang 3hóa; Kho bãi và lưu giữ hàng hoá
Cho thuê máy móc thiết bị và đồ dùng hữu hình khác; Xây dựng công trình kỹ thuật
dân dụng khác
Lắp đặt hệ thống cấp thoát nước; Lò sưởi và điều hoà không khí
Gia công cơ khí ; Xử lý và tráng phủ kim loại
Xây dựng công trình công ích; Chuẩn bị mặt bằng; Cho thuê xe có động cơ; Sản xuất máy chuyên dụng khác; Xây dựng nhà các loại
Dịch vụ lưu trú ngắn ngày; Nhà hàng và các dịch vụ ăn uống phục vụ lưu động;
Hoạt động xây dựng chuyên dụng khác
Bảo dưỡng sửa chữa ô tô và xe có động cơ khác; Buôn đồ dùng khác cho gia đình
II. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty cổ phần xây dựng điện VNECO4 tiền thân là Xí nghiệp cơ điện thuộc Công tyxây lắp điện 3 (nay là Tổng Công ty cổ phần xây dựng điện Việt Nam) được thành lập
từ năm 1989
Ngay sau ngày thành lập, Xí nghiệp bắt đầu triển khai ngay ngành nghề xây lắp đườngdây và trạm có cấp điện áp đến 220kV, gia công chế tạo cột thép mạ kẽm cho đườngdây có cấp điện áp đến 220kV (trong đó có cột vượt sông Gianh của ĐD 220 kV Vinh
- Đồng Hới), chế tạo thành công một số loại phụ kiện điện mà trước đây Công ty phảinhập ngoại từ Liên Xô cũ
Năm 2003, thực hiện chính sách cổ phần hóa các doanh nghiệp của Nhà nước để phùhợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế, Xí nghiệp cơ điện được chuyển đổi thànhcông ty cổ phần với tên gọi Công ty cổ phần xây lắp điện 3.4 theo Quyết định số
Trang 4121/2003/QĐ-BCN ngày 11/07/2003 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp là công ty thànhviên thuộc Công ty xây lắp điện 3.
Năm 2006, Công ty cổ phần xây lắp điện 3.4 được đổi tên thành Công ty cổ phầnxây dựng điện VNECO4 Hiện nay Công ty có biên chế đầy đủ các phòng ban nghiệp
vụ quản lý, các đội xây lắp điện, xưởng sản xuất công nghiệp và đội xe máy thi công.Công ty đã tuyển dụng và đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề có nhiều kinhnghiệm trong nghề xây lắp các công trình tải điện trên không có cấp điện áp đến500kV và xây lắp các trạm biến áp có cấp điện áp đến 220kV Công ty đã tham gia thicông xây lắp các công trình ĐD 500kV Bắc Nam mạch 1; mạch 2; ĐD 500kV Pleiku
Phú Lâm, ĐD 500kV Quảng Ninh Thường Tín ; ĐD 500kV Sơn La Hòa Bình Nho Quan, ĐD 500kV Sơn La - Hiệp Hòa, ĐD 220 kV Tuyên Quang-Yên Bái; ĐD
-220 kV Yên Bái- Lào Cai và nhiều công trình điện trọng điểm khác trên mọi miền đấtnước
Năm 2008, từ vốn điều lệ ban đầu là 5,15 tỷ đồng Công ty đã nâng lên trên 8,2 tỷđồng và hiện nay vốn điều lệ thực góp là 10,28 tỷ đồng Sản xuất kinh doanh củaCông ty liên tục tăng trưởng qua từng năm, sản lượng, doanh thu hàng năm đều tăng,năm sau cao hơn năm trước
Mặc dầu có sự cạnh tranh hết sức quyết liệt trên thị trường xây dựng điện, tuy nhiênCông ty Cổ phần xây dựng điện VNECO4 có đủ năng lực và kinh nghiệm thi công đểtham gia các công trình, dự án điện có cấp điện áp đến 500 kV và thực tế đã chứngminh được thương hiệu của mình trên thị trường xây dựng điện và đã được các Banquản lý dự án các công trình điện và Tập đoàn điện lực Việt Nam đánh giá cao
III. Vị thế của Công ty trong ngành
Qua nhiều năm xây dựng và phát triển, Công ty cổ phần xây dựng điện VNECO4 đã tíchlũy được nhiều kinh nghiệm trong công tác thi công xây dựng công trình điện, côngnghiệp và dân dụng Công ty đã tham gia thi công xây lắp các công trình ĐD 500kVBắc Nam mạch 1; mạch 2; ĐD 500kV Pleiku - Phú Lâm, ĐD 500kV Quảng Ninh -
Trang 5Thường Tín ; ĐD 500kV Sơn La - Hòa Bình - Nho Quan, ĐD 500kV Sơn La - HiệpHòa, ĐD 220 kV Tuyên Quang-Yên Bái, ĐD 220 kV Tuyên Quang- Bắc Cạn -TháiNguyên, ĐD 220 kV Vinh-Bản Lã.v.v .Uy tín của Công ty ngày càng được nâng cao vàkhẳng định.
Trong những năm qua, Công ty được các ngành chức năng đánh giá tốt về chất lượngthi công công trình cung cấp dịch vụ, sản xuất sản phẩm Nhiều công trình của Công
ty thực hiện đã đi vào khai thác và đạt hiệu quả cao Các sản phẩm do Công ty cungcấp luôn đạt được yêu cầu chất lượng của khách hàng và luôn giữ được uy tín vớikhách hàng
Tuy nhiên do xu thế xã hội hóa thị trường xây dựng điện, hoạt động xây lắp điện khôngcòn là ngành kinh doanh độc quyền của ngành điện nên sự cạnh tranh trong ngànhngày càng gay gắt Các đối thủ cạnh tranh của Công ty không những chỉ là nhữngdoanh nghiệp bên ngoài như Công ty cổ phần công trình Việt Nguyên, Công ty xây lắpđiện Long Vân mà còn là các công ty trong Tổng Công ty cổ phần xây dựng điện ViệtNam
B. PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH
I. Cơ cấu nguồn vốn
1. Đánh giá khái quát
Qui mô nguồn vốn của doanh nghiệp có sự thay đổi lớn giữa năm 2011, 2012 so với năm
2010 - tăng khoản 4,515 triệu
- Năm 2011, phần tăng chủ yếu do các khoản người mua ứng trước và khoản phải trảngười lao động tăng Nguyên nhân: 7/2011, VE4 là nhà thầu chính đảm nhận thi công
dự án “ Đường dây 220KV đầu nối Nhà máy thuỷ điện Bản Chát”
- Năm 2012, nguồn vốn tăng thêm 1 phần do doanh nghiệp đi vay nợ ngắn hạn, tỷtrọng nợ ngắn hạn năm 2012 tăng gần 6% so với năm 2010 Cụ thể, doanh nghiệp đã
Trang 6vay 1.452 triệu từ ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam để thanhtoán chi phí phục vụ thi công cho dự án trên.
Giữa năm 2011 và năm 2012 có chênh lệch nguồn vốn không đáng kể
Việc thực hiện dự án vào cuối năm 2011 khiến các khoản nợ phải trả tăng lên Điều này đãlàm cho hệ số nợ của công ty năm 2012 cao hơn nhiều so và các doanh nghiệp cùng ngành.Mức chênh lệch dao động từ 3.45% đến 35.45% Tuy nhiên xét dưới góc độ ngành xâydựng, hệ số nợ của công ty chỉ ở mức trung bình, không phải là quá cao
Xu hướng: hệ số nợ của doanh nghiệp đang có xu hướng tăng qua các năm 2010 đến 2012.Nhìn chung, trong cơ cấu nguồn vốn, phải trả người bán và vốn chủ sở hữu chiếm tỉ trọngcao nhất Điều này cho thấy tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính của công ty là
từ vốn chủ sở hữu và các khoản chiếm dụng được từ khách hàng Cơ cấu nợ của doanhnghiệp chủ yếu là các khoản chiếm dụng được, vốn vay ngắn hạn ngân hàng tương đối thấp,điều đó cho thấy áp lực trả nợ của công ty được giảm bớt vì nợ từ việc chiếm dụng khôngđòi hỏi trả trong thời gian ngắn như nợ ngân hàng
Tóm lại: Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu cao hơn mức bình quân ngành từ 30 – 35% ở năm
2011 và 2012 Hệ số nợ so với tổng nguồn vốn của doanh nghiệp tuy có chênh lệch với công
ty khác nhưng vẫn nằm ở mức bình quân của ngành, được duy trì trong khoảng 60 – 70 Tuynhiên doanh nghiệp không nên chiếm dụng vốn của khách hàng quá nhiều, nên thanh toánmột phần để giảm hệ số nợ nhằm củng cố uy tín cho công ty
Trang 7vốn chủ sở hữu của công ty chiếm tỉ trọng thấp (chỉ trong tổng nguồn vốn), có tăng qua cácnăm nhưng lượng tăng này không đáng kể.
Xu hướng: Hệ số tài trợ của doanh nghiệp giảm dần qua các năm Năm 2012 giảm 3.36% sovới năm 2010 Tuy vốn chủ sở hữu tăng (393 triệu VND) nhưng mức độ tăng của vốn chủ sởhữu ít hơn mức tăng của nợ phải trả (4.122 triệu VND) Tổng nguồn vốn tăng mạnh nhưngphần lớn dựa vào các khoản nợ dẫn đến hệ số tài trợ bị giảm đi
Tóm lại, việc hệ số tài trợ có xu hướng giảm và thấp hơn doanh nghiệp cùng ngành sẽ gâyảnh hưởng đến khả năng tự chủ tài chính của công ty cũng như tạo rào cản trong quyết địnhcho vay của ngân hàng khi công ty cần vốn
2. Phân tích chi tiết
Bảng cơ cấu Nguồn Vốn
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng
Số tiền
Tỷ trọng
LNST chưa phân phối 3,064 8.48 1,444 3.56 959 2.36 2,105 6.12 485 1.20
a. Nợ ngắn hạn/ Tổng nguồn vốn
Trang 8Nợ ngắn hạn chiếm tỉ trọng khá cao ở các năm (hơn cơ cấu nguồn vốn) Khoản mục nàytăng mạnh vào năm 2011(khoảng 5%) và tiếp tục có xu hướng tăng vào năm 2012
Ở giai đoạn 2012, khoản phải trả người bán, người mua ứng trước, chi phí phải trả và cáckhoản phải trả ngắn hạn khác đều giảm, trong đó có sự giảm mạnh của khoản phải trả ngườibán (6.83% so với năm 2010) Tuy nhiên điều đó không làm nợ ngắn hạn giảm, nguyên nhânchính là do sự tăng mạnh của thuế, khoản mục phải trả người lao động và dự phòng phải trảngắn hạn Trong đó, khoản phải trả người lao động tăng đến 3.709 triệu, dự phòng phải trảngắn hạn tăng 2.101 triệu
Lí do chính khiến khoản phải trả người lao động tăng mạnh:
- Trong giai đoạn này, nhà nước mở rộng xây dựng các dịch vụ công ích, cải thiệnmạng lưới điện – đây cũng là một trong những lĩnh vực chính của công ty Việc nàytạo điều kiện giúp hoạt động của doanh nghiệp được mở rộng, cần 1 lượng lớn nhâncông và chi phí chi trả cho người lao động cũng tăng theo
- Công ty tiến hành trả lương cho CNV( công nhân viên) theo 2 kỳ Kỳ đầu tiên đượctrả cấp ứng từ 1.2 đến 1.5 triệu/ người Kỳ 2 được thanh toán theo quí, tiền lương quínày sẽ được nhận vào quí sau, tức tiền lương quí IV sẽ được chi trả vào quí I năm sau.Chí vì vậy, cuối năm thường tồn đọng số phải trả lớn cho chưa đến hạn công ty thanhtoán lương cho CNV
- Mặt khác, đối với những công trình mà VE4 giao khoán giá trị khối lượng cho cácđơn vị trực thuộc, khi các đơn vị chưa hoàn thành thì công ty chưa trả hết nguồn quỹlương đã lập Do đó, trên sổ sách sẽ có những thời điểm số dư các khoản phải trảCNV cao
Tóm lại:
- Nợ ngắn hạn của doanh nghiệp khi so với các công ty cùng ngành có chênh lệchnhiều, phần lớn do phải trả người lao động, phải trả người bán Việc này cho thấydoanh nghiệp chiếm dụng được một lượng lớn vốn với chi phí thấp Tuy nhiên, áp lực
Trang 9trả nợ không nhiều vì các khoản nợ vay ngân hàng chiếm rất thấp và đây là một công
ty xây dựng, nợ ngắn hạn dao động từ 60 -70% không có gì đáng ngại
- Phải trả người lao động chiếm tỉ trọng cao và tăng nhiều do đặc điểm và các chínhsách trả lương của công ty
VE4 là công ty xây dựng điện với hai lĩnh vực chính là “Thi công xây lắp đường dây” và
“Thi công xây lắp trạm biến áp” Công ty cần thiết phải có nhiều loại TSCĐ như: máy pháthàn, máy ép thuỷ lực, máy tời, máy xiết bu-lông, máy trộn bê tông Khi cắt giảm các khoản
nợ dài hạn, có thể công ty sử dụng nguồn vốn CSH để tài trợ cho TSCĐ
Tuy nhiên nếu VE4 dùng nợ ngắn hạn để mua sắm TSCĐ thì công ty đang sử dụng mộtchính sách tài trợ mạo hiểm Tuy giảm được chi phí trả nợ nhưng làm gia tăng áp lực trả nợcũng như tiềm tàng nhiều rủi ro
c. Vốn vay/ Tổng nguồn vốn
Năm 2012 3.57% 27.88% 15.47%
Dựa vào biểu đồ, ta thấy vốn vay chiếm tỉ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn Năm
2011, doanh nghiệp hoàn toàn không có một khoản vay nào Năm 2012, vốn vay chỉ chiếm3.57% trên tổng nguồn vốn Vào thời điểm này công ty chỉ vay ngắn hạn 1.452 triệu để thựchiện dự án Nhà máy thuỷ điện Bản Chát, ngoài ra không có nợ dài hạn
Trang 10Năm 2012, vốn vay của doanh nghiệp giảm 1.72% Tuy khoản vay ngắn hạn tăng 431 triệu(so với năm 2010) và 1.452 triệu (so với năm 2011) nhưng các khoản vay dài hạn giảmmạnh xuống mức bằng 0, điều đó đã kéo khoản mục vốn vay đi xuống.
Nhìn chung, tỉ lệ vốn đi vay thấp nói lên doanh nghiệp ít gặp rủi ro trong việc thanh toán cáckhoản nợ vay và chi phí lãi vay cũng không cao Tuy nhiên, vốn vay quá thấp khiến doanhnghiệp không được lợi về thuế TNDN
d. Phải trả người bán/ Tổng nguồn vốn
Năm 2012, khoản phải trả người bán tuy tăng so với năm 2011 nhưng giảm đến 6.83% sovới năm 2010 Khoản phải trả người bán chiếm tỉ trọng khá cao trong tổng nguồn vốn (đến16.79%) Điều này cho thấy doanh nghiệp đang tăng cường vốn sử dụng cho các hoạt độngxây lắp và chiếm dụng được một lượng vốn đáng kể của khách hàng
Khoản nợ chủ yếu của doanh nghiệp thuộc vào các công ty như: Tổng công ty cổ phần xâydựng điện Việt Nam; Công ty cổ phần xây dựng điện VNECO2; Công ty cổ phần xây dựngđiện VNECO3; Công ty cổ phần xây dựng điện VNECO5
Các khoản nợ phải trả người bán chủ yếu do công ty thực hiện mua vật liệu xây dựng nhưdây, cột, sắt, thép, xi măng của nhà cung cấp nhưng chỉ mới đặt cọc và chưa thanh toán hết.Tóm lại, được phía khách hàng cho bán chịu nhiều, có thể thấy công ty hoạt động uy tín vàlấy được niềm tin của đối tác Tuy nhiên, việc nợ người bán làm cho doanh nghiệp khôngđược hưởng các khoản chiết khấu khác Doanh nghiệp cần xem xét lại các khoản nợ, cóchính sách chi trả hợp lí để giữ vững uy tín
e. Vốn chủ sở hữu/ Tổng nguồn vốn
Trang 11Năm 2012, vốn chủ sở hữu có tỉ trọng khá thấp trong tổng cơ cấu nguồn vốn Chênh lệch từ16% đến 25% so với các công ty cùng ngành Vốn chủ sở hữu quá thấp sẽ làm cho hệ số tàitrợ của công ty thấp, năng lực tự chủ tài chính đánh giá không cao Đây là một hạn chế đểngân hàng ra quyết định cho doanh nghiệp vay vốn.
Trong cơ cấu vốn chủ sở hữu, vốn đầu tư của chủ sở hữu chiếm một phần tương đối lớn và
có xu hướng tăng Năm 2012, tỉ trọng vốn đầu tư tăng nhẹ mặc dù khoản mục này đúng bằngvới năm 2011 (10.280 triệu), nguyên nhân do sự giảm mạnh của khoản lợi nhuận sau thuếchưa phân phối (giảm đến 2.105 triệu so với năm 2010 và 485 triệu so với năm 2011) Nhìn chung, các khoản mục trong vốn chủ sở hữu đều có sự tăng trưởng qua các năm, chỉduy nhất lợi nhuận sau thuế chưa phân phối bị giảm đi đáng kể Nguyên nhân do phần lợinhuận trong năm 2011 bị giảm mạnh (khoảng 1.620 triệu), còn toàn bộ lợi nhuận sau thuếchưa phân phối ở năm 2010 được công ty sử dụng để trích cổ tức (53%), trích quĩ khenthưởng phúc lợi (5%), trích quĩ đầu tư phát triển (32%) và quĩ dự phòng tài chính (5%)
Kết luận cơ cấu Nguồn vốn
- Tổng nguồn vốn tăng mạnh ở năm 2011 và 2012, chủ yếu do phần tăng của nợ ngắnhạn, cụ thể là khoản mục vay ngắn hạn, phải trả người lao động và các khoản dựphòng
- Việc tăng nhiều nợ ngắn hạn làm cho doanh nghiệp có hệ số nợ cao, hệ số tài trợ bịgiảm xuống thấp hơn mức bình quân của ngành
+ Những yếu tố này gây ấn tượng không tốt với nhà đầu tư cũng như ngân hàng khi
ra quyết định cho vay
+ Về phía doanh nghiệp cũng gặp áp lực cao vì phải thường xuyên thu xếp một lượngtiền tương đối để thanh toán
- Năm 2011, doanh nghiệp không có bất kì khoản vay ngân hàng nào (dài hạn và ngắnhạn) vì đã thanh toán tất cả các khoản nợ của năm 2010, vay từ Ngân hàng ngoạithương Vinh Đến năm 2012, chỉ vay 1.452 triệu để thanh toán chí phí cho dự ánĐường dây 220KV đầu nối Nhà máy thuỷ điện Bản Chát Doanh nghiệp đã giảm
Trang 12thiểu tối đa các khoản vay dài hạn, thực hiện chiếm dụng vốn từ các khoản phải trảngười lao động, phải trả người bán
+ Về cơ bản, việc tăng vốn chiếm dụng và hạ thấp vay nợ ngân hàng giúp doanhnghiệp giảm áp lực trong việc thanh toán vì vốn chiếm dụng được không buộc phảitrả hết trong năm như nợ ngân hàng
+ Tuy nhiên, nếu nợ ngắn hạn từ hoạt động thương mại quá cao thì chi phí sử dụng vốn không tiết kiệm được nhiều mà ngược lại còn chịu sự tác động tâm lý tới nhà đầu
tư (nợ ngắn hạn cao đi kèm rủi ro thanh toán cao, uy tín của doanh nghiệp giảm dẫn đến việc khó huy động vốn tiếp theo) Lúc này, chi phí cho 1 đồng vốn vay hoặc chiếm dụng tăng thêm phải chịu 1 mức chi phí sử dụng vốn cao hơn rất nhiều 1 đồng vốn hiện tại từ đó cũng kéo chi phí sử dụng vốn bình quân tăng lên Xét tổng thể cũngkhông thể tăng được nhiều
Do đó, doanh nghiệp không nên cố tình chiếm dụng vốn từ người khác quá nhiều
để tiết kiệm chi phí sử dụng vốn so với việc huy động các khoản nợ dài hạn
II. Cơ cấu tài sản
1. Đánh giá khái quát
- Nhìn chung, qui mô tổng tài sản có thay đổi vào năm 2011, tăng 4.515 triệu tươngđương 10.94% Nguyên nhân chính là do sự tăng mạnh của tài sản ngắn hạn
- Trong cơ cấu tổng tài sản, tài sản ngắn hạn chiếm tỉ trọng tương đối lớn (gần 90%vào năm 2012) và có xu hướng tăng vào các năm 2011, 2012 (khoảng 6.043 triệu) + Tài sản ngắn hạn tăng phần lớn là do sự tăng cao của khoản phải thu ngắn hạn(6.7% so với 2010) Đây cũng là khoản mục có tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu tài sảnngắn hạn ( chiếm hơn tổng tài sản) Nguyên nhân chính dẫn đến khoản phải thu ngắnhạn tăng chính là sự tăng trưởng của khoản phải thu khách hàng Điều nay cho thấyđồng vốn của doanh nghiệp đang bị chon chân khá lớn
+ Các khoản khác có tỉ trọng tương đối thấp trong cơ cấu tài sản ngắn hạn (dưới 5%).Hàng tồn kho, đầu tư tài chính ngắn hạn, tiền và các khoản tương đương tiền đều có
xu hướng giảm qua các năm
- Ngược lại với tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn chỉ chiếm một phần tương đối nhỏtrong cơ cấu tài sản (chỉ 10% vào năm 2012) và bị giảm đi dần so với năm 2010
Trang 13- Trong tài sản dài hạn, tỉ trọng đầu tư tài chính dài hạn và tài sản cố định tương đương
nhau ở 2012, chênh lệch không đáng kể Nhưng nhìn chung, tài sản cố định có phần
cao hơn các khoản đầu tư TSDH (từ 4% đến 29%) Khoảng chênh lệch đạt cao nhất
vào năm 2010, khi đó tài sản cố định được đầu tư nhiều nhất và giảm dần qua các
năm làm cho chênh lệch bị thu hẹp
+ Ở khoản mục tài sản cố định, doanh nghiệp chỉ có tài sản cố định hữu hình
- Tỉ trọng của khoản mục đầu tư TSDH tăng mạnh vào năm 2011 Tuy trong giai đoạn
này doanh nghiệp chỉ đầu tư tài chính 950 triệu VND, giảm đến 1.050 triệu so với
năm 2010 nhưng tổng tài sản dài hạn bị giảm nhiều nên tỉ trọng của mục này chẳng
những không giảm mà còn tăng 10%
Tóm lại, doanh nghiệp đang có xu hướng chú trọng đầu tư vào tài sản ngắn hạn và cắt giảm
tài sản dài hạn Cụ thể là ở năm 2011 và 2012, tổng tài sản tăng lên, nhưng tài sản dài hạn lại
bị giảm 1.611 triệu, chứng tỏ phần tăng chủ yếu phụ thuộc vào tài sản ngắn hạn và cụ thể là
sự tăng mạnh của khoản mục phải thu khách hàng
CHỈ TIÊU
Cuối năm
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
III Các khoản phải thu ngắn hạn 24,892 68.89 31,260 77.05 30,744 75.64 5,852
Trang 14II Tài sản cố định 3,655 10.12 3,094 7.63 2,951 7.26 704
IV Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 2,000 5.54 950 2.34 1,175 2.89 825
3 Đầu tư dài hạn khác 2,500 6.92 2,500 6.16 2,500 6.15
4 Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính DH 500 1.38 1,550 3.82 1,325 3.26 825
Trang 152. Phân tích chi tiết
a. Tiền và khoản tương đương tiền/ Tổng tài sản
Lượng tiền và khoản tương đương tiền có trong doanh nghiệp chiếm tỉ trọng khá thấp Mứcdao động từ 1.5% đến 2.6%
Năm 2010, khoản mục này chỉ chiếm 1,56% Nhưng sau đó tăng mạnh ở năm 2011 và 2012
- Năm 2012, lượng tiền và các khoản tương đương tiền tăng 1.135 triệu so với năm
2010, và 640 triệu so với năm 2011 Nguyên nhân khiến khoản mục này tăng mạnhchính là nhu cầu cần tiền của doanh nghiệp trong thời điểm hiện tại
- Lượng tiền tăng đồng thời vốn vay và hệ số nợ 2012 cũng tăng theo, chứng tỏ doanhnghiệp thực hiện việc vay nợ của ngân hàng chứ không phải tiền bị ứ đọng Cụ thể,năm 2012 VE4 đã vay 1.452 triệu, một phần được dùng để thanh toán cho các chi phí
từ dự án của năm 2011
- Tiền và các khoản tương đương tiền tăng vào năm 2011 -2012, các tài sản ngắn hạnkhác cũng tăng đáng kể, cho thấy doanh nghiệp đang có kế hoạch tập trung tiền đểđầu tư mua sắm tài sản để phục vụ cho các công trình sắp tới
- Việc tích trữ lượng tiền quá cao, có thể sẽ làm cho đồng vốn nhàn rỗi và lãng phí vốn.Công ty VE4 cần điều chỉnh khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền cho hợp
lí, vừa đảm bảo cho chỉ tiêu thanh toán nhanh, vừa giúp tăng hiệu quả sử dụng vốn
b. Các khoản đầu tư tài chính
Trang 16Công ty đầu tư tài chính ngắn hạn vào 2 mã cổ phiếu là VNE (Tổng công ty cổ phần xâydựng điện Việt Nam) và VNECO9( Công ty cổ phần xây dựng điện VNECO9) Ngoài ranăm 2011, công ty gửi ngân hàng khoản tiền 3.500 triệu đồng do chưa cần sử dụng đến
- Dựa vào biểu đồ ta thấy các khoản đầu tư tài chính giảm mạnh ở 2 năm cuối Từ 910triệu xuống còn 262 triệu ở năm 2010 và 472 triệu ở năm 2012
- Số tiền đầu tư tài chính giảm đồng thời tỷ trọng của khoản mục này trong tổng tài sảncũng giảm tương đương ( năm 2011 giảm 1.87% và 1.36% ở năm 2012) Nguyênnhân chính là do sự giảm mạnh của khoản dự phòng đầu tư tài chính ngắn hạn
Doanh nghiệp đầu tư tài chính dài hạn vào Công ty cổ phần Sông Ba với 2500 cổ phiếu và
số lượng này vẫn giữ nguyên qua các năm
Tuy nhiên tổng giá trị đầu tư tài chính lại có xu hướng giảm ở 2 năm sau, từ 2000 triệu ởnăm 2010 xuống còn 950 triệu (năm 2011) và 1.175 triệu (năm 2012) Nguyên nhân chính là
do sự giảm mạnh của khoản dự phòng đầu tư tài chính dài hạn Năm 2011 giảm 825 triệu sovới năm 2010
- Việc tăng khoản dự phòng đầu tư tài chính trong thời điểm này là hoàn toàn hợp lí.Nguyên nhân chính vì thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn đó đang laodốc, viễn cảnh của các doanh nghiệp Việt Nam cũng như nền kinh tế thế giới đềukhông mấy sáng sủa
- Năm 2012, doanh nghiệp giảm bớt các khoản dự phòng đầu tư nhưng còn hạn chế,nhìn chung trong giai đoạn đó xu hướng vẫn đang giảm Thị trường chứng khoán cóchút khởi sắc tuy nhiên không thể nào lấy lại phong độ như những năm 2007 – 2010
và được đánh giá là năm còn nhiều rủi ro tiềm tàng
Kết luận:
- Các khoản đầu tư tài chính giảm mặc dù số lượng cổ phiếu được giữ nguyên Nguyênnhân chính là do khoản dự phòng tăng mạnh Việc tăng khoản dự phòng trong giaiđoạn 2011 -2012 là đúng đắn, vì đây được cho là giai đoạn tuột dốc và còn tiềm tàngnhiều rủi ro của thị trường chứng khoán
Trang 17- Tuy các khoản đầu tư tài chính trong tổng tài sản chiếm tỉ trọng không cao nhưngcũng được doanh nghiệp quan tâm và sử dụng các chính sách hợp lí để điều chỉnh.Công ty đã tăng/ giảm khoản dự phòng đầu tư của mình một cách đúng đắn, phù hợpvới tình hình thị trường trong nước và kinh tế thế giới.
c. Hàng tồn kho/ Tổng tài sản
Nhìn chung, tỷ trọng hàng tồn kho trong giai đoạn trên có xu hướng giảm rõ rệt Năm 2012,giảm 5.05% so với năm 2010 – tương đương 1.710 triệu và 1.42% so với năm 2011 – tươngđương 573 triệu
Hàng tồn kho năm 2012 giảm gần 2/3 so với năm 2010, nguyên nhân là do sự giảm đều củacác yếu tố bên trong mà quan trọng nhất đó là nguyên vật liệu và chi phí SXKD dở dang.Công cụ, dụng cụ và thành phẩm cũng giảm đồng thời, tuy nhiên phần giảm này không đángkể
- Năm 2010, nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng khá cao (gần 50%) trong khoản mục hàngtồn kho Tuy nhiên, yếu tố này giảm dần về số lượng và tỉ trọng ở các năm sau đó.VE4 là một công ty xây dựng điện với hai ngành chính yếu là “Thi công xây lắpđường dây” và “Thi công xây lắp trạm biến áp” Các nguyên vật liệu chính của công
ty thường là: xi măng, sắt thép xây dựng, sắt hình, xà trụ đỡ thiết bị trạm biến áp, bulông neo, các bê tong, đá hộc, đá dăm, gạch nung, cột bê tông ly tâm,… chủ yếu dùng
để xây lắp nên các nguyên vật liệu không đa dạng và bị tồn nhiều như ngành xâydựng (chung cư, cao ốc,…) trong giai đoạn này
- Chi phí SXKD dở dang có tỉ trọng tăng lên qua các năm nhưng về số lượng vẫn bịgiảm đáng kể (từ 1.185 triệu còn 882 triệu), chính vì thế đã kéo tỉ trọng hàng tồn khoxuống mức thấp
Trang 18Xét riêng giai đoạn 2012, tỉ trọng hàng tồn kho của doanh nghiệp có sự chênh lệch rất nhiều
so với các công ty cùng ngành Thấp hơn VE1 9.84% và VE2 16.2%
Kết luận:
- Hàng tồn kho giảm rõ rệt ở năm 2011 và 2012 do nguyên vật liệu và chi phí SXKD
dở dang giảm mạnh Nguyên nhân khách quan là do tình hình ngành xây dựng giaiđoạn đó không mấy khả quan nên doanh nghiệp chú trọng giảm các loại hàng tồnkho
- Với tình hình trong thời điểm còn ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế, việccông ty thực hiện chính sách giảm hàng tồn kho là hoàn toàn đúng đắn, mức hàng tồnkho thấp có thể giúp doanh nghiệp giảm thiểu các chi phí lưu kho đồng thời thể hiệnvới nhà đầu tư về hiệu quả sử dụng đồng vốn của công ty mình
- Tuy nhiên chỉ nên giảm tới một giới hạn nào đó, đối với trường hợp VE4, lượng hàngtồn kho quá thấp và liên tục giảm qua các năm có thể dẫn tới trường hợp không đủnguyên vật liệu để phục vụ cho các công trình xây lắp khi có hợp đồng
d. Các khoản phải thu/ Tổng tài sản
Nhìn vào biểu đồ, ta thấy các khoản phải thu chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong cơ cấu tổng tài sản và có xu hướng tăng qua các năm Năm 2010, khoản phải thu chiếm 68.89%, hơn phân nửa cơ cấu và tăng 8.81% ở năm 2011, 6.75% trong năm 2012 Khoản mục này so với công ty VE1 có sự chênh lệch khá lớn nhưng cũng chưa phải xấu vì bản chất đây là công ty xây dựng, tỉ trọng hàng tồn kho vẫn nằm trong mức bình quân chung của ngành
Trang 19Các khoản phải thu có tỉ trọng cao hơn vào năm 2011 là do sự tăng mạnh của khoản mụcphải thu khách hàng (5.430 triệu) và trả trước cho người bán (893 triệu)
- Về khoản mục phải thu của khách hàng tăng cao, nguyên nhân vì:
+ Trong giai đoạn này công ty có nhiều hợp đồng xây dựng với các bên liên quan vàcác khách hàng lớn nhưng chưa thu được tiền
+ Đối với một số hợp đồng đã được hoàn thành nhưng chủ đầu tư vẫn còn giữ lại 5%giá trị nghiệm thu để bảo hành và 5% giá trị nghiệm thu để chờ quyết toán Đối vớihai khoản nợ này, chủ đầu tư sẽ giữ lại trong thời gian bảo hành là 1 năm
+ Khoản phải thu khách hàng bao gồm một số khách hàng chính như sau: Tổng công
ty xây dựng điện Việt Nam; Ban quản lí công trình điện miền Bắc; Ban quan lý côngtrình điện miền Trung; Cty TNHH MTV xây lắp điện 4 và một số công ty khác cùng
là công ty con của VNE
- Về khoản mục trả trước cho người bán:
+ Năm 2011 – 2012, số lượng các hợp đồng xây lắp tăng mạnh, để có được số nguyênvật liệu, công cụ - dụng cụ đáp ứng cho các công trình tại thời điểm đó, doanh nghiệpphải mua và thanh toán một phần cho nhà cung cấp nên khoản mục trả trước chongười bán tăng mạnh
Ngoài ra, còn có khoản mục phải thu khác, phần lớn là phải thu từ Tổng công ty cổ phầnXây dựng điện Việt Nam (VNE) Tuy nhiên, yếu tố này chỉ chiếm một phần nhỏ trong cơcấu các khoản nợ phải thu
Nhìn chung, tỷ trọng nợ phải thu của VE4 có chênh lệch lớn với các công ty cùng ngành(cao hơn VE1 30.64% và VE2 21.64%) Khi nợ phải thu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tàisản sẽ cho thấy lượng vốn của doanh nghiệp đang bị chiếm dụng nhiều, vòng quay vốn chohoạt động kinh doanh giảm xuống thấp Nhưng bù lại, khi các khoản phải thu tăng sẽ khuyếnkhích tăng doanh thu Cụ thể là doanh thu năm 2011 (38.236 triệu) cao hơn 4.123 triệu sovới năm 2010
Trang 20Ngoài ra còn có một số điểm tốt như: công ty không có phát sinh các khoản nợ xấu (nợ khóđói, nợ quá hạn) nào Năm 2012, tỷ trọng khoản nợ phải thu giảm nhẹ, có thể công ty đang
áp dụng một số chính sách để thu hồi nợ Cho thấy việc các khoản phải thu tăng không phải
do sự yếu kém của doanh nghiệp trong quản lí nợ
- Để tránh bị chiếm dụng vốn, thu hồi vốn kịp thời, công ty cần đẩy mạnh thu hồi công
nợ bằng cách xây dựng chính sách chiết khấu thanh toán hợp lí Việc làm này sẽ giúptăng vòng quay vốn cho hoạt động kinh doanh và giảm bớt áp lực về nhu cầu vốn lưuđộng Đối với các khoản phải thu có số dư lớn như Tổng công ty xây dựng điện ViệtNam, doanh nghiệp cần thực hiện đối chiếu công nợ theo định kỳ để phục vụ cho việcquản lí và kiểm toán
e. TSCĐ/ Tổng tài sản
TSCĐ của doanh nghiệp chỉ bao gồm tài sản hữu hình và được khấu hao theo phương phápđường thằng Một số máy móc chính hiện đang được sử dụng trong công ty như: máy pháthàn, máy ép thuỷ lực 60 tấn, máy đột dập liên hợp, máy tiện, máy bào, máy khoan, máy búahơi, máy cắt tôn,…dùng để chế tạo cột thép mạ kẽm và gia công các loại phụ kiện Ngoài racòn có máy tời, máy xiết bu-lông, máy ép thuỷ lực, máy trộn bê tông,… dùng trong việc xâylắp đường dây và trạm điện
Nhìn vào biểu đồ ta thấy TSCĐ của doanh nghiệp có một tỉ trọng thấp (chiếm 7.26% tổng tàitài sản năm 2012) Khoản mục này còn giảm đều qua các năm, năm 2012 giảm 2.86% so với
Trang 21năm 2010 đồng thời còn có sự chênh lệch với các công ty cùng ngành (VE1 3.36% và VE24.14%) Nguyên nhân chính là do:
- Năm 2011, 2012 doanh nghiệp có tiến hành nhượng bán đi một phần TSCĐ, chủ yếu
là thiết bị và dụng cụ, quản lí
- Các tài sản hữu hình như: nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc thiết bị và phương tiệntruyền dẫn hầu như không có sự thay đổi lớn Trong giai đoạn trên doanh nghiệp hoàntoàn không đầu tư thêm về TSCĐ mà giá trị hao mòn ngày càng tăng đã làm cho giátrị khoản mục này bị giảm xuống
- Ngoài ra, các công ty VE1 và VE2 đều có các loại tài sản vô hình và chi phí xây dựng
dở dang Ngược lại, VE4 hoàn toàn không có tài sản vô hình hay chi phí dở dang nàonên đã tạo ra sự chênh lệch đó
Nhìn chung, giai đoạn 2011 và 2012 là giai đoạn doanh nghiệp thực hiện công cuộc chuẩn bị
để niêm yết cổ phiếu mình lên sàn, nên tăng cường các loại máy móc, thiết bị cần thiết đểnâng cao chất lượng phục vụ, mở rộng đầu tư
III. PHÂN TÍCH CÂN BẰNG TÀI CHÍNH
Cân bằng tài chính dưới gốc độ ổn định nguồn tài trợ
để tài trợ cho tài sản dài hạn mà còn tài trợ một phần cho tài sản ngắn hạn Vì thế, cân bằngtài chính trong trường hợp này được coi là cân bằng tốt, an toàn và bền vững Tuy nhiên,dùng vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn thường kém linh hoạt, TS thế chấp nhiều vàdoanh nghiệp phải chịu một khoảng chi phí khá cao
Trang 22Công ty VE4 có xu hướng tăng vốn hoạt động thuần Mức tăng cao nhất là trong năm 2011với 1,425 triệu, năm 2012 chỉ tăng 992 triệu
- Vốn hoạt động thuần trong 2 năm sau tăng, phần lớn do sự tăng mạnh của tài sảnngắn hạn, mục nợ ngắn hạn cũng tăng nhưng lượng tăng thêm vẫn ít hơn so với tàisản ngắn hạn
- Năm 2012 tuy tăng so với năm 2010 nhưng lại bị giảm 433 triệu so với năm 2011,nguyên nhân là do khoản mục tài sản ngắn hạn giảm nhẹ nhưng ngược lại nợ ngắnhạn tăng mạnh
- Các công ty cùng ngành hầu như có vốn hoạt động thuần cao hơn VE4 khá nhiều.Nguyên nhân có sự chênh lệch lớn là do khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp caohơn nhiều so với VE1 và VE2 Tuy nhiên điều này không hẳn đã xấu, vì bản chất đây
là các công ty xây dựng, nợ thường cao Vốn hoạt động thuần của doanh nghiệp vẫntrên mức bình quân ngành
Kết luận cơ cấu Tài sản:
Nhìn chung, công ty VE4 có cơ cấu ổn định, cân bằng tài chính ổn định, các chỉ số hầu nhưkhông có chênh lệnh lớn với bình quân của ngành xây dựng Hàng tồn kho, các khoản dựphòng trong đầu tư tài chính (dài hạn và ngắn hạn) đều được điều chỉnh tăng, giảm phù hợpvới tình hình kinh tế Tuy nhiên, còn tồn tại một số điểm đáng chú ý:
- Công ty tồn tại với hai lĩnh vực xây lắp chính, cần nhiều loại máy móc như máy pháthàn, máy ép thuỷ lực, máy tời, máy xiết bu-lông, máy trộn bê tông Nhưng TSCĐchiếm tỉ trọng khá thấp, doanh nghiệp chưa thực sự chú trọng đến việc đầu tư vào