1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân biệt đối tượng của kế toán tài chính và đối tượng của kế toán quản trị

28 636 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 114,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I.Vai trò thông tin của kế toán trong công tác quản lí doanh nghiệp: 1.Khái niệm về kế toán: Kế toán là hoạt động đo lường, mô tả và giải thích cáchoạt động kinh tế có liên quan đến tài

Trang 1

toàn cầu hoá nền kinh tế sự cạnh tranh

mang tính chất lượng và hiệu quả của công tác kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu qủa tâm lí điều hành tổ chức để đạt được các mục tiêu đề ra.

Xuất phát từ nhu cầu tính chất thông tin cung cấp cho các đối tượng bên trong và bên ngoài tổ chức có sự khác biệt nên thông tin kế

toán có sự phân biệt thành thông tin kế toán tài chính và thông tin kế toán quản trị Vì vậy

em chọn đề tài này” Phân biệt đối tượng

của kế toán tài chính và đối tượng của kế toán quản trị” với nội dung gồm hai

Trang 2

PHẦN I: VAI TRÒ VÀ SỰ CẦN THIẾT HÌNH THÀNH KẾ TOÁN TÀI CHÍNH VÀ KẾ TOÁN QUẢN

TRỊ.

I.Vai trò thông tin của kế toán trong công tác quản lí doanh nghiệp:

1.Khái niệm về kế toán:

Kế toán là hoạt động đo lường, mô tả và giải thích cáchoạt động kinh tế có liên quan đến tài sản, nguồn vốn củamột tổ chức hay một doanh nghiệp

Từ khái niệm trên ta thấy :

 Nội dung của công việc kế toán ở các đơn vị là ghi nhận,xử lí và cung cấp thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tếtài chính ở các đơn vị và thông qua đó mà kiểm tra, kiểm soáttoàn bộ hạot động kinh tê,ú tài chính ở đơn vị đó nhằm giúcho người quản lí đang thực hiện và đề xuất được nhữngquyết định kinh tế, những biện pháp quản lí kinh tế tàichính hữu hiệu hơn

 Nhiệm vụ của kế toán trong doanh nghiệp là thực hiệnchức năng cung cấp thông tin và công cụ đắc lực cho quản

lí, bảo vệ tài sản của doanh nghiệp hạch toán kế toán cầnthực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

 Ghi chép và cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời cácthông tin về nghiệp vu kinh tế phát sinh

 Giám sát tình hình thực hiện kế hoạch kinh doanh

 Góp phần tích cực bảo vệ tài sản của doanh nghiệp,ngăn chặn các hiện tượng tham ô, lảng phí tài sản củadoanh nghiệp

 Góp phần ngăn chặn các hành vi vi phạm chê ú độchính sách và pháp luật của nhà nước

 Tham mưa đề xuất các biện pháp nhằm khai thác cóhiệu quả các tim năng của doanh nghiệp

2.Vai trò của thông tin kế toán trong công tác quản lí của doanh nghiệp:

Trang 3

Mục đích chính của kế toán là cung cấp các thông tincần thiết phục vụ cho việc ra quyết định của các cấp quản

lí, có thể noi sẽ không có kế toán nếu như không có quản lí.Giữa các nhà quản lí và các hoạt động kinh tế với kế toáncó mối liên hệ mật thiết với nhau Mối liên hệ của kế toánvơí các hoạt động kinh tế và các nhà quản lí có thể minhhoạ bằng sơ đồ sau:

Trong mối liên hệ này, các thông tin từ các hoạt độngkinh tế được kế toán thu thập và xử lí để cung cấp cácthông tin cần thiết cho các nhà quản lí là đối tươngj sữdụng thông tin ở các cấp độ khác nhau Kết quả tử việc sữdung thông tin này là các quyết định được ban hành và cáchoạt động kinh tế mới diển ra

II.Sự cần thiết hình thành kế toán tài chính và kế toán quản trị:

1 Sự cần thiết hình thành kế toán tài chính :

Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở để tồn tại vàphát triển của xã hội loài người Hoạt động sản xuất vậtchất là cơ sơ tồn tại và phát triển của xã hội loàingười.Hoạt động sản xuất là hoạt động có ý thức và cómục đích của con người Vì vậy khi tiến hành hoạt độngsản xuất kinh doanh con người luân quan tâm đến hao phí bỏ ravà những kết quả đạt được Chính yếu tố này đã đạt ra

Chu trình kế toán

Người ra quyết định

Các hoạt động

kinh tế Thông tin kế toán

Trang 4

nhu cầu tất yếu phải thực hiện yếu tố hoạt động sảnxuất kinh doanh, muốn vậy phải có thông tin về quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh đó đóng vai trò quyết đìnhtrong việc xác định muc tiêu, lập kế hoạch tổ chức thựchiện và kiểm tra, kiểm soát quá trình kinh tế.

Từ yếu cầu trên đã hình thành nên các hoạt động qua sát,ghi chép, do lường, tính toán theo một trật tự và phươngpháp nhất định Đó chính là cơ sơ, sự cần thiết khách quanphải hình thành kế toán trong nền kinh tế

2 Sự cần thiết hình thành kế toán quản trị:

Kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý vàcung cấp thông tin về hoạt động sản xuất một cách cụ thểphuc vụ cho các nhà quản lí trong việc lập kế hoạch vàquản lí hoạt động kinh tế, tài chính trong nội bộ doanhnghiệp Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanhnghiệp phải lập kế hoạch sản xuất cho doanh nghiệp mình.Từ kế hoạch chung của doanh nghiệp, các bộ phận triểnkhai thành các muc tiêu thực hiện và kiểm tra kết quả thựchiện các mục tiêu này Đó chính là kiểm tra quản lí kiểm trahưóng hoạt động của doanh nghiệp Trong quá trính thựchiện các mục tiêu của doanh nghiệp Trong quá trình thựchiện các mục tiêu đề ra cần phải quản lí các quy trình cụthể, chi tiết hơn như quản lí tồn kho, quản lí sản xuất Kếtoán quản trị công cụ đánh giá nhiều muc tiêu thông qua việcgiải quyết các chi phí, là công cụ kiểm tra qúa trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh theo kế họach đã đề ra, tử dó cónhửng quyết định hợp lí để có hiệu quả hơn

Do đó, kế toán quản trị là công cụ chủ yếu để điềuhành quản lí là công cụ quan trọng trong tiếp thị để hoạtđộng sản xuất kinh doanh nhiều hơn hay ít hơn mặt hàng nàyhay mặt hàng khác

III.Phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị :

 Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều đề cập đếncác sự kiện kinh tế doanh nghiệp và đều quan tâm đến tàisản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sỡ hữu, doanh thu,chi phíkết quả hoạt động và quá trình lưu chuyển tiển tệ củadoanh nghiệp Một bên phản ảnh tổng quát và một bên phảnảnh chi tiết, tỉ mỉ các vấn đề đó

Trang 5

 Kế toán quản trị và kế toán tài chính đểu dựa trên hệthống ghi chép ban đầu của kế toán Hệ thống ghi chép banđầu là cơ sở để kế toán tài chính soạn thảo các báo cáo tàichính định kì, cung cấp cho các đối tượng bên ngoài Đối vớikế toán quản trị, hệ thống đó củng là cơ sở để vận dụng,xữ lí nhằm tạo ra các thông tin thích hợp cho việc ra quyếtđịng của các nhà quản trị Kế toán quản trị sữ dụng rộngrải các ghi chép hàng ngày của kế toán quản trị, thương mạidù có khai triển và tăng thêm số liệu cũng như nội dung cácthông tin đó

 Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều biểu hiệntrách nhiệm của người quản lí Kế toán tài chính biểu hiệntrách nhiệm của người quản lí cấp cao, còn kế toán quản trịbiểu hiện trách nhiệm của nhà quản lí cấp bên trong doanhnghiệp Nói cách khác kế toán tài chính hay kế toán quản trịđều tham gia vào qúa trình quản lí doanh nghiệp

2 Những điểm khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị :

 Đối tượng sữ dụng thông tin:

Đối tượng sữ dụng thông tin của kế toán quản trị là cácthành viên bên trong doanh nghiệp, các chủ sở hữu, ban giámđốc, quản lí viên, giám sát viên, các quản đốc, Trong thôngtin các kế toán tài chính chủ yếu lại cung cấp cho các đốitượng bên ngoài doanh nghiệp như các cổ đông, người vay,khách hàng, nhà cung cấp chính phủ( cơ quan thếu, cơ quanquản lí hành chính v.v)

 Nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin:

Thông tin kế toán tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc,chuẩn mực và kế toán hiện hành của mổi quốc gia, kể cảcác nguyển tắc, chuẩn mực về kế toán được các quốcgai công nhận Trái lại trong nền kinh tế thị trường, do yêucầu phải nhạy bén nắm bắt nhanh cơ hội kinh doanh đadạng nên thông tin kế toán quản trị cần linh hạot, nhanhchóng và phù hợp với từng quyết định của cụ thể củangười quản lí, không buộc phải tuân thủ các nguyên tắc cácchuẩn mực kế toán chung Các quyết định của nhà nướcvề kế toán quản trị ( nếu có ) cũng chỉ mang tính chấthướng dẫn

 Tính pháp lí của kế toán :

Trang 6

Kế toán tài chính có tính pháp lệnh, nghĩa là hệ thốngsổ ghi chép, trình bày và cung cấp thông tin của kế toán tàichính đểu phải tuân theo những qui định thống nhất nếumuốn được thừa nhận Ngược lại, tổ chức công tác quảntrị lại mang tính nội bộ, thuộc thẩm quyền của từng doanhnghiệp phù hợp với đặc thù quản lí, yêu cầu quản lí , điềukiện quản lí, khả năng quản lí của từng doanh nghiệp.

 Đặc điểm thông tin :

 Thông tin của kế toán tài chính chủ yếu dưới hìnhthức giá trị Còn thông tin của kế toán quản trị được biểuhiện cả hình thái hiện vật và hình thái giá trị

 Thông tin của kế toán tài chính là thông tin biểuhiện về những nghiệp vụ đã phát sinh, đã xãy ra Trongkhi đó, thông tin của kế toán quản trị chủ yếu đặc trọngtâm cho tương lai vì phần lơn nhiệm vụ của nhà quản trị làchọn phương án, đề án cho một sự kiện hoặc một qúatrình chưa xãy ra

 Thông tin kế toán tài chính chủ yếu là các thông tinkế toán thuần tuý, được thu thập từ các chứng từ banđầu của kế toán Trong kế toán quản trị thông tin thu thậpđược nhằm phục vụ cho chức năng ra quyết định củanhà quản lí và thường không có sẵn nên ngoài việc dựavào hệ thông ghi chép ban đầu của kế toán, kế toán quảntrị còn phải kết hợp với nhiều ngành kế hoạch khác nhưthống kê, kinh tế học, quản lí để tổng hợp, phân tích vàsử lí thông tin thành dạng có thể sữ dụng được

 Phạm vi cung cấp thông tin

Kế toán quản trị chú trọng đến thông tin kế toán tàichính ở từng bộ phận trong tổ chức hơn là doanh nghiệp.Ngược lại, kế toán tài chính chú trọng thông tin ở toàndoanh nghiệp, xem doanh nghiệp là một thể thống nhất

 Các loại báo cáo và kì hạn báo cáo:

 Báo cáo được sữ dung trong kế tóan tài chính làcác báo cáo kế toán tổng hợp ( gọi là báo cáo tài chính )phản ảnh tổng quát về sản nghiệp kết quả hạot độngcủa doanh nghiệp trong một thờØ kì ( gồm bảng cân đốikế toán, bảng kê khai kết qủa hoạt động kinh doanh,báocáo lưu chuyển tiền tệ , thuyết minh báo cáo tài chính)

 Báo cáo của kế toán quản trị đi sâu vào từng bộphận , từng khâu công việc của doanh nghiệp( như báo cáo

Trang 7

chi phí sản xuất và báo cáo nợ phải trả, giá thành, báocáo nhập xuất và tồn của hàng tồn kho.v.v.)

 Kì báo cáo của kế toán quản trị thường xuyên hơncảu báo cáo kế toán tài chính Báo cáo cáo của kế toántài chính được lập theo định kỳ, thường là hằng năm, cònbáo cáo của kế toán quản trị được soạn thảo thườngxuyên theo yêu cầu của doanh nghiệp

 Quan hệ với các lĩnh vực khác

Kế toán quản trị mở rộng hơn hệ thống cổ điển vàđược tạo thành cá ngành khác như kinh tế học, tài chính,thống kê, v.v Kế toán quản trị cần rất nhiều thông tin từnhiều ngành mang lại như thống kê, tài chính, quản trị, v.v

do đó kế toán quản trị quan hệ mật thiết với các ngànhkhác, kế toán tài chính nhằm sắp xếp ghi nhận phân tíchdiển đath các sự kiện kinh tế pháp lí đã diển ra trong quátrình kinh doanh bằng những phương pháp của mình, do đó kếtoán tài chính ít quan hệ với ngành khác

Tiêu thức Kế toán quản trị Kế toán tài chính

Giống nhau -Cùng nghiên cứu và cung cấp thông tin kinh

tế - tài chính gắn liền với các quan hệ kinhtế, pháp lí để quản lí, điều hành tổ chức

-Cùng ghi nhận và thể hiện trách nhiệm ,quyền lợi vật chất, pháp lí của tổ chức,nhà quản trị

-Cùng sử dụng thông tin đầu vào trên hệ

Trang 8

thống thông tin kế toán căn bản( Kế toán đạicương)

Nhà quản trị bênngoài doanh nghiệp

Đặc điểm

thông tin Hướng về tương laiLinh hoạt

Không qui định cụ thể

Phản ánh quá khứTuân thủ nguyên tắcBiểu hiện hình tháigiá trị

Tuân thủ các nguyêntắc, chuẩn mực vàchế độ hiện hànhvề kế toán

Mục đích Cung cấp thông tin cho

những người quản lídoanh nghiệp đểkiểm soát hoạt động,lập kế hoạch chotương lai

Thông tin kế toán quảntrị thường đưa ra đểtrợ giúp, đưa ra cácquyết định quản lí cụ

Trình bày các bảngbáo cáo tài chính,tình hình và kết quảhoạt động toàn bộdoanh nghiệp

Giúp các đối tượngngoài doanh nghiệp

ra các quyết định liênquan đến doanhnghiệp

Trang 9

Phần hai Đối tượng của kế toán tài chính và kế

toán quản trị

I.Đối tượng của kế toán tài chính

1.Những vấn đề chung về kế toán tài chính

Kế toán tài chính được xây dựng trên những nội dungchung nhất của mọi hoạt động kinh doanh của mọi doanhnghiệp Đó là sự tích tụ của các nguồn tài chính từnhững người đầu tư, cho vay, lợi nhuận lưu trữ để tái đầu

tư hoặc cấp phát từ ngân sách Tiếp đến sử dụng nguồnnày để mua đất đai, nhà cửa, thiết bị, máy móc, nguyên vậtliệu, thuê mướn nhân công và cuối cùng là tiêu thụ nhữngsản phẩm hàng hoá, doanh thu được thực hiện, doanh

Trang 10

nghiệp có khoản thu nhập lại chuyển hoá thành các nguồntài chính để có thể hoàn lại cho chủ nhân dưới hình thứctiền lãi hoặc trả tiền vay và thuế.

Mục tiêu của kế toán tài chính là sắp xếp, ghi nhận,phân tích và diễn đạt các sự kiện kinh tế, pháp lý và giaodịch thương mại bằng đơn vị đo lường tiền tệ nhằm cungcấp nhữnh dữ kiện cần thiết giúp cho việc lập báo cáo tàichính Báo cáo tài chính của doanh nghiệp và tiến độ hướngtới các mục tiêu của nó Hay nói cách khác báo cáo tài chínhphải giải đáp được các vấn đề sau:

 Tình hình tài chính của doanh nghiệp

 Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

 Tình hình lưu chuyển và sử dụng vốn của doanh nghiệp

2 Đối tượng nghiên cứu của kế toán tài chính :

Để nghiên cứu quá trình tái sản xuất , hạch toán kếtoán tiến hành nghiên cứu sự hình thành và vận động củavốn Lượng vốn đó biểu hiện dưới dạng vật chất hoặcphi vật chất và được đo lường bằng giá trị gọi là tài sản.Mặt khác vốn của doanh nghiệp được hình thành từ nhiềunguồn khác nhau, vì thế để thuận lợi cho công tác quản lývà hạch toán cần phải tiến hành phân loại vốn của doanhnghiệp theo hai hình thái biểu hiện là tài sản và nguồn hìnhthành tài sản (nguồn vốn), cùng quá trình vận động củavốn trong quá trình kinh doanh

2.1 Tài sản :

Tài sản là toàn bộ các nguồn lực kinh tế của doanhnghiệp được sử dụng cho các hoạt động sinh lợi Được coilà tài sản của doanh nghiệp nếu thoả mãn đồng thời 3 điềukiện sau:

 Thuộc quyền sở hữu và kiểm soát lâu dài của doanh

nghiệp

 Có giá trị thực sự với doanh nghiệp

 Có giá phí xác định

Căn cứ vào mức độ luân chuyển giá trị tài sản và chi phísản xuất kinh doanh ,tài sản của doanh nghiệp được phânthành tài sản lưu động và tài sản cố định

2.1.1 Tài sản lưu động:

Tài sản lưu động là toàn bộ tài sản hữu hình hoặc vôhình có giá trị nhỏ và thời gian sử dụng ngắn (dưới 1 năm).Tài sản lưu động gồm:

Trang 11

 Tiền: tiền của doanh nghiệp bao gồm tiền mặt, tiền gửingân hàng, tiền đang chuyển, vàng bạc kim khí đá quý

Theo vị trí, tiền của doanh nghiệp có thể đang nằm trongkeút của doanh nghiệp, gửi vào tài khoản của doanh nghiệptại ngân hàng hoặc đang trên đường trả cho người bán hoặcvận chuyển từ doanh nghiệp ra ngân hàng hay ngược lại.Tiền gửi ngân hàng bao gồm các loại tiền của doanhnghiệp gửi tại các ngân hàng

Tiền đang chuyển: là các loại tiền của doanh nghiệpđang trên đường vận chuyển để thanh toán cho chủ nợ Đâylà số tiền mà doanh nghiệp đã xuất quỹ nhưng chưa nhậnđược chứng từ xác nhận đã thanh toán hoặc đã nộp vàongân hàng nhưng chưa có giấy báo có

 Hàng tồn kho (còn gọi là tài sản dự trữ): gồm hai loại làtồn kho cho sản xuất và tồn kho chờ tiêu thụ

Tồn kho cho sản xuất gồm các loại nguyên vật liệu, nhiênliệu và công cụ đang dự trữ trong kho chuẩn bị cho sảnxuất

Tồn kho chờ tiêu thụ bao gồm các loại hàng hoá, thànhphẩm đang dự trữ trong kho hoặc đang gửi bán

 Tài sản lưu động trong sản xuất bao gồm các loại nguyênliệu , bán thành phẩm đang trong quá trình chế biến Giá trịcủa các loại tài sản này được gọi là chi phí sản xuất dởîdang

 Các khoản phải thu: bao gồm phải thu của người mua hàng ,phải thu nội bộ của các cá nhân và tổ chức trong doanhnghiệp Đây là tài sản của doanh nghiệp đang trong quá trìnhthanh toán bị các cá nhân và tập thể khác chiếm dụng

 Tài sản tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm cácloại cổ phiếu, trái phiếu ngắn hạn và các khoản đầu tưngắn hạn khác

2.1.2 Tài sản cố định và đầu tư dài hạn.

Tài sản cố định là những tài sản có giá trị lớn và thờigian sử dụng dài ( trên 1 năm)

Tài sản cố định được chia làm hai loại là tài sản cố địnhhữu hình và tài sản cố định vô hình

Tài sản cố định hữu hình là những tài sản cố định cóhình thái vật chất cụ thể, có đủ tiêu chuẩn về giá trị vàthời gian sử dụng quy định cho tài sản cố định Tài sản cốđịnh hữu hình của doanh nghiệp thường bao gồm nhà xưởng,

Trang 12

máy móc thiết bị, kho tàng, phương tiện vận tải, đường xá,các công trình kiến trúc tài sản cố định hữu hình có thể

do doanh nghiệp tự mua sắm hoặc đi thuê dài hạn

Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hìnhthái vật chất cụ thể thể hiện lượng giá trị đã được đầu

tư nhằm có được các quyền hoặc lợi ích của doanh nghiệpnhư chi phí thành lập, chuẩn bị sản xuất , bằng sáng chế ,phát minh, quyền sử dụng đất

Các khoản đầu tư dài hạn là những khoản đầu tư cóthời hạn thu hồi vốn trên một năm Các tài sản tài chínhtrong doanh nghiệp thường bao gồm: các khoản góp vốn liêndoanh, cổ phiếu trái phiếu dài hạn

Việc phân loại tài sản theo từng nhóm như trên cho chúng

ta thông tin về kết cấu và tình hình sử dụng tài sản củadoanh nghiệp Để có thông tin đầy đủ hơn về nguồn gốc tàisản cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp đòi hỏiphải nghiên cứu tài sản của doanh nghiệp theo nguồn hìnhthành

2.2 Nguồn vốn :

Nguồn vốn hay nguồn hình thành tài sản của doanhnghiệp gồm : nguồn vốn của chủ sở hữu và các khoản côngnợ

2.2.1 Các khoản công nợ.

Các khoản nợ phải trả là số tiền mà doanh nghiệp phảithanh toán do vay hoặc chiếm dụng của doanh nghiệp khác.Theo thời hạn phải thanh toán các khoản nợ được chia rathành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn

Nợ ngắn hạnlà các khoản nơ ümà doanh nghiệp phảithanh toán trong thời hạn dưới 1 năm Theo nguồn gốc hìnhthành nợ ngắn hạn được chia thành vay ngắn hạn và phảitrả ngắn hạn

Vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn dưới 1 năm.Khi hết thời hạn vay doanh nghiệp phải trả cả vốn lẫn lãi.Nợ phải trả ngắn hạn gồm các khoản phải trả phát sinhtrong quá trình mua bán vật tư, hàng hoá giữa doanh nghiệpvới các nhà cung cấp Trong thời hạn chưa phải thanhtoándoanh nghiệp có thể sử dụng nguồn vốn này bổ sung vàonguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp mà không phải trảlãi

Trang 13

Nợ dài hạn là các khoản nợ có thời gian phải thanhtoán trên

1 năm Nợ dài hạn cũng gồm hai loại: vay dài hạn và nợ dàihạn

2.2.2 Nguồn vốn chủ sở hữu.

Phần chênh lệch giữa tài sản và công nợ gọi là tài sảnròng hay nguồn vốn Chủ sở hữu

Nguồn vốn chủ sở hữu thể hiện giá trị tài sản đượcđầu tư từ nguồn vốn của chủ doanh nghiệp

Nguồn vốn chủ sở hữu do các chủ sỏ hữu doanh nghiệpđóng góp khi thành lập doanh nghiệp hoặc được bổ sungthêm trong quá trình doanh nghiệp hoạt động Tuỳ theo hìnhthức doanh nghiệp mà nguồn vốn này được hình thành theonhững cách thức khác nhau Doanh nghiệp được toàn quyềnsử dụng nguồn vốn này vào mục đích kinh doanh Nguồnvốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ của doanhnghiệp vì vậy doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán.Tuỳ theo hình thức nguồn vốn chủ sở hữu có thể được chiathành các (nguồn) sau:

Nguồn vốn kinh doanh: Là nguồn hình thành của các tàisản được sử dụng cho mục đích kinh doanh Nguồn vốn nàycó thể tăng thêm hoặc giảm bớt trong quá trình kinh doanhnhưng không được thấp hơn số vốn tối thiểu theo quy địnhcủa pháp luật (nếu có)

Lợi nhuận chưa phân phối: Là phần chênh lệch giữadoanh thu và chi phí của các hoạt động kinh doanh Phần lợinhuận này sau khi nộp thuế lợi tức và trích lập các quỹcủa doanh nghiệp sẽ được phân phối cho các chủ sở hữu.Trong thời gian chưa phân phối doanh nghiệp có thể dùngnguồn vốn này bổ sung cho vốn kinh doanh và coi như nguồnvốn chủ sở hữu

Nguồn vốn chuyên dùng: Là nguồn hình thành của các tàisản dùng cho các mục đích nhất định như dự phòng, pháttriển sản xuất kinh doanh, khen thưởng, xây dựng cơbản, các nguồn vốn này thường có nguồn gốc từ lợinhuận của doanh nghiệp

Nguồn vốn chủ sở hữu khác gồm các nguồn hình thành

do các nguyên nhân khách quan như chênh lệch tăng giá trịhàng hoá, thành phẩm hoặc tỷ giá ngoại tệ

Trang 14

Nguồn kinh phí là nguồn vốn do nhà nước cấp phát chocác doanh nghiệp để sử dụng cho những mục đích nhấtđịnh như: chi sự nghiệp, nghiên cứu, thí nghiệm,

Các thông tin về tài sản và nguồn vốn giúp cho việc đánhgiá tình hình tài chính của doanh nghiệp và là căn cứ choviệc lập kế hoạch huy động và sử dụng vốn của doanhnghiệp

3 Mục đích nghiên cứu đối tượng của kế toán tài chính

a Ý nghĩa của báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính cung cấp thông tin tổng quát về tìnhhình tài sản, nguồn vốn tại thời điểm lập báo cáo và kếtquả kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ báo cáo Cácbáo cáo tài chính cung cấp bức tranh toàn cảnh về tình hìnhtài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.Việc nghiên cứu kỹ các báo cáo tài chính sẽ cho phép nhữngngười có kiến thức về kế toán hiểu và đánh giá được tìnhtrạng tài chính của doanh nghiệp và những sự thay đổi củanó so với kỳ trước Những người sử dụng thông tin kế toánngoài doanh nghiệp gồm các cổ đông, các chủ ngân hàng,những người cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp, các nhàđầu tư tương lai, người lao động, các cơ quan của chính phủvà công chúng Mỗi đối tượng trên sử dụng thông tin kếtoán của doanh nghiệp cho các mục đích khác nhau

b Hệ thống các báo cáo tài chính

b1 Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là báo cáo kế toán tổng thể phảnánh tình hình tài sản của một doanh nghiệp trên hai mặt giátrị và nguồn hình thành tại một thời điểm nhất định

b2 Báo cáo kết quả kinh doanh

Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo kế toán tổng thểphản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, bao gồm kết quả kinh doanh và kết quả khác

b3 báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổnghợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phátsinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ đánh giá được khả năng tạo

ra tiền, sự biến động tài sản thuần của doanh nghiệp, khả

Ngày đăng: 25/06/2014, 08:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w