Tiểu luận của nhóm 1 sẽ góp phần hữu ích đối với các bạn sinh viên, đặc biệt làlớp Tài chính Ngân hàng K09 để có được một góc nhìn trước hoạt động của các Ngânhàng Thương mại nước nhà..
Trang 1Tiểu luận: Thực
trạng của các Ngân hàng Thương mại
Việt Nam
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Mục lục 2
Nội dung: thực trạng và giải pháp 5
I Vốn và các vấn đề về vốn 5
1 Vốn tự có 5
1.1 Tổng quan 5
1.2 Thực trạng 6
1.3 Giải pháp 11
1.3.1 Đối với NHTM 11
1.3.2 Đối với ngân hàng nhà nước 11
2 Vốn pháp định 12
2.1 Khái niệm 12
2.2 Thực trạng 12
2.3 Ứng xử NHTM 13
3 Huy động vốn và lãi suất huy động vốn 13
3.1 Thực trạng 13
3.2 Nguyên nhân 17
3.3 Giải pháp 18
4 Cổ phiếu và trái phiếu 19
4.1 Cổ phiếu 19
4.1.1 Thực trạng 19
4.1.2 Giải pháp 20
4.2 Trái phiếu 20
4.2.1 Khái niệm trái phiếu 20
4.2.2 Thực trạng 21
4.2.3 Giải pháp 21
II Hoạt động tín dụng của ngân hàng 22
1 Rủi ro tín dụng 22
1.1 Khái niệm chung 22
1.1.1 Tín dụng, tín dụng ngân hàng 21
Trang 31.1.2 Rủi ro tín dụng 21
1.2 Rủi ro gắn với hoạt động của ngân hàng thương mại 22
1.2.1 Các hình thức rủi ro tín dụng 22
1.2.2 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 23
1.2.2.1 Nguyên nhân từ phía khách hàng 23
a Khách hàng gian lận, cố ý lừa ngân hàng 23
b Khách hàng không gian lận 23
1.2.2.2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng 23
1.2.2.3 Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh 24
a Môi trường kinh tế 24
b Môi trường pháp lý 24
1.2.2.4 Nguyên nhân từ môi trường xã hội 25
1.3 Giải pháp hạn chế, phòng ngừa rủi ro tín dụng 25
1.3.1 Nghiên cứu khách hàng 25
1.3.2 San sẻ rủi ro 26
1.3.3 Thực hiện bảo đảm rủi ro tín dụng 26
1.3.4 Giám sát và cưỡng chế thi hành những quy định hạn chế 27
1.3.5 Hạn chế tín dụng 27
1.3.6 Đa dạng hóa đầu tư 27
2 Lợi nhuận thu được của các ngân hàng thương mại 27
III Dịch vụ chăm sóc khách hàng 28
1 Dịch vụ ngân hàng qua Internet 29
2 Dịch vụ thẻ ATM 30
IV Mạng lưới 31
1 Mạng lưới NHTM ở Việt Nam 31
2 Giải pháp cho hệ thống NHTM ở Việt Nam 38
V NHTM VN cạnh tranh với NHTM nước ngoài 39
1 Việt Nam gia nhập WTO: cơ hội và thách thức 39
2 Cạnh tranh với NHTM NNg: thách thức lớn đối với NHTM VN 41
2.1 Năng lực tài chính 41
2.2 Năng lực công nghệ 43
Trang 42.3 Nguồn nhân sự 43
2.4 Năng lực quản lý điều hành 44
2.5 Mạng lưới hoạt động 44
2.6 Mức độ đa dạng hóa sản phẩm 44
3 Giải pháp cạnh tranh 45
3.1 Tiếp tục tăng cường năng lực tài chính 45
3.2 Tiếp tục đầu tư đổi mới công nghệ ngân hàng 46
3.3 Chú trọng chiến lược phát triển nguồn nhân lực 47
3.4 Tăng cường năng lực quản trị điều hành theo tiêu chuẩn quốc tế 47
3.5 Mở rộng mạng lưới ngân hàng, đa dạng hóa sản phẩm 48
3.6 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền tệ NH và dịch vụ NH 48
Kết luận……….50
Trang 5Ngân hàng thương mại là loại hình Ngân hàng xuất hiện đầu tiên và phổ biếnnhất hiện nay Hơn 20 năm sau khi đổi mới đất nước, hệ thống Ngân hàng Thương mại
đã góp vai trò không nhỏ trong sự phát triển nền kinh tế nước nhà:
Thứ nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng
bước duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỉ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ mô, môitrường đầu tư và sản xuất kinh doanh
Thứ hai, góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh vàhoạt động xuất nhập khẩu
Thứ ba, tín dụng Ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng trưởng
kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục
Thứ tư, đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và thu hút lao động, góp
phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững
Thứ năm, góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo pháttriển bền vững
Tuy nhiên, các Ngân hàng Thương mại nước ta hiện nay còn gặp nhiều khókhăn trong hoạt động cũng như trong quản lý Do đó chúng có những thực trạng đángbuồn mà không ít người quan tâm Đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giớihiện nay
Nhận thấy tầm quan trọng cũng như những hạn chế của các Ngân hàng Thươngmại Việt Nam, chúng em quyết định chọn đề tài “Thực trạng của các Ngân hàngThương mại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
Thực tế có nhiều sinh viên cũng như những chuyên gia kinh tế đã nghiên cứu vềvấn đề này Đây là thuận lợi cho chúng em trong quá trình tìm kiếm, thu thập thông tin;
kế thừa những kinh nghiệm trong việc nghiên cứu khoa học Nhưng đó cũng chính làkhó khăn khi thời gian có hạn mà trình độ, kiến thức tích lũy cũng như kinh nghiệmnghiêm cứu của chúng em chưa nhiều Cho nên, bài tiểu luận của chúng em sau đâychắc chắn sẽ còn thiếu sót Chúng em rất mong nhận được lời góp ý của cô và các bạn
để bài làm được hoàn thiện hơn
Tiểu luận của nhóm 1 sẽ góp phần hữu ích đối với các bạn sinh viên, đặc biệt làlớp Tài chính Ngân hàng K09 để có được một góc nhìn trước hoạt động của các Ngânhàng Thương mại nước nhà Đồng thời bổ sung thêm nguồn tài liệu học tập cho cácbạn học tốt hơn môn học này
Trang 6NỘI DUNG: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
I THỰC TRẠNG VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 Vốn tự có
1.1 Tổng quan
Thực tế cho thấy, trong khoảng thời gian những năm gần đây, khối Ngân hàngThương mại cổ phần (NHTM CP) đã có những bước tiến ngoạn mục, đóng một vai tròkhông nhỏ vào sự phát triển chung của ngành Ngân hàng và nền kinh tế đất nước Tuynhiên, khi mà cánh cửa hội nhập đang đến “gõ cửa” từng doanh nghiệp và lộ trình của
nó đang ngày một rút ngắn về thời gian thì các NHTM nói chung và khối các NHTM
CP nói riêng đang phải đối mặt với những thách thức nhất định Trong đó vấn đề nănglực tài chính là vấn đề trọng tâm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN VN) đã đưa
ra nhiều biện pháp để thực hiện những chủ trương, chỉ đạo của Nhà nước nhằm giúpcác NHTM mở rộng quy mô hoạt động, hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả năng cạnhtranh và hòa nhập tốt với nền kinh tế khu vực và thế giới Một trong những giải pháp
để nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM CP Việt Nam trong thời gian tới làtăng vốn tự có
Về mặt kinh tế, vốn tự có là vốn riêng của Ngân hàng do các chủ sở hữu đónggóp và nó còn được tạo ra trong qúa trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại
Vốn tự có cơ bản bao gồm vốn điều lệ (vốn ngân sách cấp, vốn cổ phần thường,vốn cổ phần ưu đãi vĩnh viễn), quỹ dự trữ, dự phòng, lợi nhuận không chia và cáckhoản khác (các tài sản nợ khác theo qui định của NHNN)
Với nền kinh tế thị trường, vốn tự có là cơ sở hình thành pháp lý kinh doanh chocác doanh nghiệp, đồng thời cũng là yếu tố tài chính quan trọng nhất trong việc đảmbảo các khoản nợ đối với khách hàng Với lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, vốn tự có còn làyếu tố có ý nghĩa quyết định sống còn đến sự hình thành và phát triển lâu dài của Ngânhàng Giai đoạn từ năm 2006 cho đến nay đã chứng kiến việc đua nhau tăng vốn củacác Ngân hàng cổ phần, nhất là khối các NHTMCP trong nước
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, mặc dầu vốn tự có bình quân của các NHTMCP
có tăng nhưng kết quả việc tăng vốn vẫn chưa đáp ứng hết được những mong đợi củacác Ngân hàng Việc tăng vốn tự có nhanh trong một khoảng thời gian ngắn mà khôngkèm theo những thay đổi chưa chắc đã giúp các NHTMCP nâng cao vị thế và tạo ranhững ảnh hưởng tốt đến các quyết định của thị trường, ngược lại có thể tạo thêmnhiều nguy cơ rủi ro tiềm ẩn lớn hơn Để rõ hơn về thực trạng nguồn vốn tự có củadoanh nghiệp, dưới đây là một số kết quả đã đạt được của các NHTM trong thời gianqua, bên cạnh đó là những mặt còn hạn chế, nguyên nhân và giải pháp để từng bướckhắc phục những hạn chế đó
1.2 Thực trạng
Điểm đáng nổi bật trên thị trường tài chính thời gian qua là Nghị định141/2006/NĐ-CP, đến cuối năm 2010 vốn điều lệ của các NHTM CP phải đạt 3.000 tỷ
Trang 7đồng Các tổ chức tín dụng (TCTD) đều rất nỗ lực để hoàn thành việc tăng vốn điều lệtheo đúng lộ trình quy định của Chính phủ Tuy nhiên, quá trình tăng vốn điều lệ đãchịu tác động của một số nguyên nhân khách quan như bối cảnh nền kinh tế thế giớisau khủng hoảng chưa có dấu hiệu thực sự khả quan.
Bên cạnh đó, việc Chính phủ có chủ trương hạn chế các Tổng công ty, doanhnghiệp Nhà nước góp vốn ra ngoài lĩnh vực chính cũng là một khó khăn lớn cho cácTCTD cổ phần có cổ đông hiện hữu là các Tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước khithực hiện tăng vốn điều lệ Ngoài ra, một số TCTD cổ phần đã niêm yết cổ phiếu trênthị trường chứng khoán cũng gặp phải một số quy định về thời gian khi phát hành cổphiếu ra công chúng mà không thể hoàn tất việc tăng vốn điều lệ đúng thời hạn quyđịnh
Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận đề xuất giãn lộ trình tăng vốn điều lệ lên3.000 tỉ đồng đối với các ngân hàng thương mại đến 31-12-2011 theo như đề xuấtcủa ngân hàng Nhà nước
Cho đến thời điểm có quyết định gia hạn, có khoảng 17 trên tổng số hơn 40Ngân hàng và các tổ chức tín dụng vẫn chưa thể hoàn thành mục tiêu tăng vốn điều lệtheo Nghị định 141 Mặc dù lộ trình tăng vốn điều lệ của các Ngân hàng đã được Ngânhàng Nhà nước chấp thuận ngay từ cuối tháng 9, vẫn có khá nhiều nguyên nhân khiếnviệc thực hiện kế hoạch gặp nhiều khó khăn ở một số Ngân hàng
Để tăng vốn điều lệ, các Ngân hàng chủ yếu huy động từ 3 nguồn chính: pháthành ra công chúng qua thị trường chứng khoán, phát hành cho các cổ đông hiện hữu
và phát hành cho các cổ đông chiến lược nước ngoài
Tuy nhiên, bất ổn kinh tế vĩ mô trong nước khiến thị trường chứng khoán trongnăm trồi sụt và ảm đạm, các cổ đông hiện hữu là các tổng công ty, doanh nghiệp nhànước hay Ngân hàng lớn của nhà nước bị hạn chế góp vốn cho các hoạt động ngoàilĩnh vực chính, thậm chí còn bị yêu cầu thoái vốn từ các tổ chức tài chính, trong khikinh tế thế giới phục hồi chậm lại khiến sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài khôngcòn mặn mà
Các nguồn huy động này còn đặc biệt khó khăn hơn nữa đối với các Ngân hàngnhỏ, chưa có thương hiệu và còn đang gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh Ước tínhcòn khoảng 10 nghìn tỷ đồng mà các Ngân hàng này cần phải huy động thêm nếumuốn thực hiện đúng quy định, điều mà khó có thể hoàn thành trong khoảng thời gianngắn ngủi còn lại của năm 2010
Rõ ràng, việc giãn thời gian tăng vốn điều lệ là không thể tránh khỏi, nếu Ngânhàng Nhà nước không muốn những biến động khó kiểm soát trong hệ thống tài chínhtrong bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước năm 2010 vẫn chưa ổn định
Ví dụ, ở thời điểm hiện tại, việc sát nhập những Ngân hàng nhỏ và năng lựcđiều hành kém có thể sẽ là giải pháp mang lại nhiều xáo trộn, Ngân hàng Nhà nướckhó giám sát phòng ngừa và ngăn chặn rủi ro
Trang 8Vậy, việc gia hạn thêm thời gian cho các NHTM hoàn thành lộ trình tăng vốnđiều lệ theo Nghị định là một việc làm mang lại lợi ích hay gây khó khăn cho cácNHTM? Để trả lời cho câu hỏi đó, ta cần xét đến tác động của nó trong ngắn hạn và dàihạn.
Trước hết, trong ngắn hạn, tác động dễ thấy nhất của quyết định gia hạn trên thịtrường chứng khoán là do không còn áp lực tăng vốn, hiện tượng phát hành ồ ạt thêm
cổ phiếu hoặc trả cổ tức bằng cổ phiếu của các Ngân hàng và áp lực bán tháo cổ phiếuNgân hàng để cổ đông có tiền cho những đợt tăng vốn sẽ không còn
Ngoài ra, những dòng vốn từ công chúng hay cổ đông hiện hữu, thay vì phảiđược huy động vào hệ thống Ngân hàng để đáp ứng nhu cầu tăng vốn điều lệ, thì nay
có thể tìm đến thị trường chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận Cộng với tâm lý khôngcòn quá bi quan với cổ phiếu ngành Ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nóichung, thị trường chứng khoán trong ngắn hạn sẽ hưởng lợi từ việc hoãn hạn chót tăngvốn
Mặc dù các Ngân hàng vẫn phải tăng vốn cho đến 31/12/2011, nhưng với số vốn
bổ sung thêm chỉ còn 10 nghìn tỷ đồng, hiện tượng cổ phiếu ngành Ngân hàng bị phaloãng có thể sẽ không tái diễn, khi các Ngân hàng có tới một năm để thu xếp các nguồnvốn cần thiết, trong kỳ vọng chính sách tiền tệ có thể không còn quá thắt chặt vào quý
2 năm 2011
Trong khi đó, các Ngân hàng quy mô nhỏ có thể quẳng gánh lo tăng vốn điều lệtrong ngắn hạn để tập trung khả năng và nguồn lực để giải quyết những vấn đề nội tạinhư đảm bảo các điều kiện an toàn theo Thông tư 13, đảm bảo thanh khoản cho thờiđiểm cuối năm và giáp Tết, hoàn thành các chỉ tiêu tín dụng và lợi nhuận và củng cốkhả năng cạnh tranh trong bối cảnh lãi suất gia tăng
Một phần nguồn tiền của các cổ đông hiện hữu, bên cạnh đầu tư vào thị trườngchứng khoán, cũng có thể tìm đến hệ thống Ngân hàng như những khoản đầu tư tiếtkiệm, và theo đó, sức ép thanh khoản đáp ứng nhu cầu vốn cuối năm của hệ thống sẽđược giảm nhẹ, cuộc đua lãi suất có thể vì thế mà bớt đi căng thẳng
Tuy nhiên, việc hoãn tăng vốn điều lệ đến một năm có thể phải trả giá trong dàihạn Không phải vô cớ mà Ngân hàng Nhà nước muốn các Ngân hàng thương mại tăngvốn điều lệ năm 2010 là 3.000 tỷ đồng, và có lộ trình tăng lên 5 nghìn tỷ (năm 2012) và
10 nghìn tỷ (năm 2015)
Một hệ thống tài chính gồm quá nhiều Ngân hàng quy mô nhỏ, năng lực tàichính yếu luôn là một rủi ro đến an toàn hệ thống Những hiện tượng như cuộc đua lãisuất bắt nguồn từ những Ngân hàng nhỏ do tình trạng khát vốn, cho vay lãi suất caotrong khi khả năng quản trị điều hành kém, vay ngắn hạn trên thị trường liên Ngânhàng để cho vay dài hạn và đẩy lãi suất liên Ngân hàng tăng cao là những ví dụ chothấy việc tồn tại song song những Ngân hàng có quy mô khác biệt lớn có thể gây bất
ổn đến hệ thống như thế nào
Trang 9Việc trì hoãn tăng vốn trong vòng 1 năm tới cũng đồng nghĩa với việc nhữnghiện tượng trên nhiều khả năng sẽ còn tiếp tục tái diễn, và theo đó, nỗ lực giảm lãi suất
và bình ổn thị trường vốn sẽ còn gặp rất nhiều cam go
Ngoài ra, quy định hệ số an toàn vốn CAR trong Thông tư 13 sẽ tiếp tục là cảntrở các Ngân hàng không thể tăng mạnh được tài sản đã điều chỉnh rủi ro, nếu phần tử
số - vốn tự có - vẫn ở quy mô thấp
Do đó, mức lãi suất đầu ra ở các Ngân hàng, đặc biệt các Ngân hàng nhỏ, sẽ tiếptục gặp khó trong quá trình điều chỉnh giảm Hơn nữa, động thái gia hạn thêm với thờigian tương đối dài là không cần thiết, khi các Ngân hàng nhỏ đã có rất nhiều nỗ lực đểtăng vốn điều lệ trong suốt năm qua, và số vốn mà các Ngân hàng còn thiếu thực rakhông quá lớn, nếu có với quy mô và khả năng của cả hệ thống tài chính
Và cuối cùng nhưng chắc chắn chưa phải là hồi kết, những quan ngại “kinhniên” về tính nhất quán và hiệu lực của các quy định hay chính sách của Ngân hàngNhà nước tiếp tục ám ảnh thị trường Niềm tin, điều tối quan trọng để điều hành chínhsách tiền tệ có hiệu quả và theo đó ảnh hưởng đến ổn định trong dài hạn, vẫn tiếp tục làđiều phải chờ đợi
Vấn đề cơ bản của quy định về vốn điều lệ của một Ngân hàng không hẳn ở chỗmột nền kinh tế có quá nhiều hay quá ít Ngân hàng, hay Ngân hàng quá nhỏ Mấu chốtcủa vấn đề vốn điều lệ là đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính, nên việc tăng vốntheo quy định cần thực hiện đồng bộ với các giải pháp như phân loại và quản lý nợtheo chuẩn mực quốc tế thì mới đạt mục đích đề ra
Một hệ thống tài chính an toàn khi các Ngân hàng có hệ số an toàn vốn (CAR –capital adequacy ratio) cao, nói cách khác có đủ vốn để “chịu trận” khi lỗ Nếu vốnthấp mà lỗ nặng, Ngân hàng sẽ phá sản và vì đặc thù của loại hình kinh doanh này sẽrất dễ kéo toàn hệ thống sụp đổ theo, liên luỵ cho cả nền kinh tế
Hệ số an toàn vốn (vốn tự có/tổng tài sản có rủi ro, capital adequacy ratio –CAR) là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh năng lực tài chính của các Ngân hàng Chỉtiêu này được dùng để xác định khả năng của Ngân hàng trong việc thanh toán cáckhoản nợ có thời hạn và đối mặt với các rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vậnhành
Điều quan trọng là hệ số này phụ thuộc vào hai yếu tố: tử số là vốn điều lệ vàmẫu số là tổng tài sản Như vậy để tăng độ an toàn cho một Ngân hàng hay toàn bộ hệthống, nhà quản lý hoặc chặn không cho Ngân hàng tăng tổng tài sản quá cao hoặc yêucầu Ngân hàng phải tăng vốn Việc NHNN yêu cầu các Ngân hàng tăng vốn tối thiểulên 3.000 tỉ đồng có thể coi là một vế của kế hoạch tăng hệ số an toàn vốn cho toàn hệthống, nhưng chỉ yêu cầu tăng vốn điều lệ tối thiểu là không đủ và có thể còn làm tăngrủi ro
+ Thứ nhất, nếu Ngân hàng tăng vốn điều lệ đồng thời tăng tổng tài sản thì hệ số
an toàn vốn có thể không tăng Đây là khả năng rất dễ xảy ra vì một Ngân hàng khi đihuy động vốn điều lệ họ không thể nói tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Trang 10của Ngân hàng này sẽ giảm, như thế không ai bỏ tiền mua cổ phiếu của Ngân hàng đó.
Để ROE không giảm trong khi hệ số an toàn vốn tăng, Ngân hàng buộc phải tăng tỷsuất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), một điều không dễ trong hoàn cảnh hoạt độngNgân hàng ở Việt Nam còn rất khó khăn như hiện nay Liệu có ai tin một Ngân hàngkhông mấy tên tuổi có ROA cao hơn hẳn mặt bằng chung của toàn hệ thống? Ngượclại, để thu hút nhà đầu tư trong khi hàng loạt Ngân hàng đang phải cạnh tranh nhau huyđộng vốn, các Ngân hàng nhỏ sẽ phải quảng cáo ROE cao, cổ tức cao, bằng cách âmthầm giảm bớt hệ số an toàn vốn (tăng đòn bẩy – leverage) Nghĩa là cuộc chạy đuatăng vốn điều lệ sẽ làm hệ thống Ngân hàng rủi ro hơn
+ Thứ hai, vấn đề phân loại nợ xấu và trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu
đó của các Ngân hàng vẫn còn khoảng cách so với chuẩn mực quốc tế Cứ giả sửNHNN thành công trong việc tăng hệ số an toàn vốn của toàn hệ thống, nhưng nếu nợxấu vẫn được giấu kỹ ở đâu đó thì hệ số an toàn vốn mà các Ngân hàng báo cáo chỉ là
số ảo, con số thực sẽ thấp hơn nhiều và rủi ro tiềm ẩn cao hơn nhiều Tạm thời bỏ quacác khoản nợ xấu trong lịch sử, việc yêu cầu tăng vốn điều lệ sẽ buộc các Ngân hàngphải chạy đua tăng ROE/ROA như đề cập ở trên để cạnh tranh thu hút vốn Trườnghợp này rủi ro nợ xấu sẽ tăng lên, do vậy không giải quyết được vấn đề phân loại vàtheo dõi nợ xấu Yêu cầu tăng vốn điều lệ (để tăng hệ số an toàn vốn) do đó không giảiquyết được bài toán an toàn cho hệ thống
+ Thứ ba, khi các Ngân hàng không đáp ứng đủ điều kiện về vốn điều lệ, thìbuộc phải sáp nhập Về mặt số học, đây là giải pháp sai lầm vì hai Ngân hàng có hệ số
an toàn vốn thấp sau khi sáp nhập hệ số này không thể tăng dù vốn điều lệ tăng Kể cảnếu bỏ qua hệ số an toàn vốn, liệu rủi ro hệ thống có giảm đi khi các Ngân hàng nhỏsáp nhập lại với nhau không? NHNN lập luận rằng với số Ngân hàng ít đi họ sẽ giámsát chặt chẽ hơn và bản thân các Ngân hàng sẽ cẩn thận hơn và điều hành tốt hơn lànhững Ngân hàng nhỏ manh mún hiện nay Trước hết cần xác định, Ngân hàng cànglớn thì hoạt động và sản phẩm càng phức tạp, NHNN sẽ càng khó giám sát và kiểm tra
để phòng ngừa hay ngăn chặn rủi ro Ngoài vấn đề quá lớn để thất bại (too-big-to-fail),nhiều nhà kinh tế như Krugman, Johnson đã cảnh báo hiện tượng “quá lớn để quản lý”(too-big-to-regulate) Nghĩa là Ngân hàng lớn sẽ có nhiều cách để “lách luật”, hoặc tệhơn nữa là tìm cách ảnh hưởng tới quá trình làm luật và các chính sách để có lợi chomình
Lập luận cho rằng các Ngân hàng nhỏ hiện nay thiếu chuyên môn và hoạt động quáliều lĩnh có một phần chính xác Tuy nhiên giải pháp sáp nhập các Ngân hàng nhỏvà/hoặc buộc tăng vốn điều lệ không giải quyết được nguyên nhân căn bản Chuyênmôn và nghiệp vụ Ngân hàng không phải là điều quá khó để các Ngân hàng nhỏ có thểhọc được (với sự giúp đỡ của NHNN) Việc điều hành những Ngân hàng nhỏ có 1 – 2chi nhánh đơn giản hơn nhiều so với một Ngân hàng lớn có chi nhánh toàn quốc và cả
ở nước ngoài Việc tăng chuyên môn phụ thuộc vào sự đào tạo, giúp đỡ, giám sát củaNHNN nhiều hơn là vào việc sáp nhập Các Ngân hàng nhỏ sau khi sáp nhập với nhaukhông có nghĩa đội ngũ nhân viên và lãnh đạo tự nhiên có trình độ chuyên môn tănglên
Trang 11+ Thứ tư, điểm cuối cùng và không kém phần quan trọng, cần phải xác định đâu
là nguyên nhân chính khiến các Ngân hàng nhỏ hoạt động quá rủi ro (ví dụ chạy đua lãisuất hay vay ngắn hạn trên thị trường liên Ngân hàng để cho vay dài hạn) Đó khôngphải là vì họ nhỏ và thiếu chuyên môn mà đó là hậu quả tất yếu của việc các Ngânhàng quốc doanh và một vài Ngân hàng lớn được hưởng nhiều ưu đãi (vô tình hay cốý) nên các Ngân hàng nhỏ không còn cách nào khác là phải liều lĩnh hơn để đạt đượcROE như đã hứa với các cổ đông
Tỷ trọng vốn tự có/tổng tài sản của các Ngân hàng thương mại nhìn chung cònthấp chỉ đạt trên dưới 5% Để đảm bảo hiệu quả sử dụng các nguồn vốn và đảm bảophòng ngừa rủi ro trong kinh doanh thì các Ngân hàng thương mại nên tăng tỷ lệ nàylên khoảng từ 8% - 10 % là hợp lý
Mặt khác vốn tự có/ nợ phải trả cho ta biết được cán cân vốn_nợ của Ngânhàng Khi các Ngân hàng sử dụng các biện pháp tăng vốn, huy động vốn sẽ gây ra sựmất cân đối cán cân này
Nếu tỷ lệ vốn tự có/nợ phải trả quá cao thì tức là Ngân hàng đang kinh doanhphần lớn bằng nguồn vốn của mình, khá độc lập với thị trường vốn, nhưng nếu như vậylại dẫn đến chi phí sử dụng vốn cao vì không tận dụng được vốn của người khác đểkinh doanh
Nếu vốn tự có/nợ phải trả thấp tức là Ngân hàng phụ thuộc khá nhiều vào thịtrường vốn dẫn đến sức ép của nợ nần, tăng rủi ro cho hoạt động kinh doanh Song nếuquản lý và sử dụng tốt nguồn vốn vay thì sẽ mang lại khoản lợi nhuận lớn
1.3 Giải pháp
1.3.1 Đối với từng Ngân hàng thương mại
Phối kết hợp các biện pháp tăng vốn (phát hành cổ phiếu, trái phiếu ) một cáchhiệu quả, phù hợp với tình hình của mỗi Ngân hàng trong từng giai đoạn nhằm pháthuy tối đa ưu điểm của các biện pháp này và hạn chế các nhược điểm của từng biệnpháp
Sau mỗi lần tăng vốn cần sử dụng một cách hiệu quả nguồn vốn bổ sung, kếthợp với việc cải cách Ngân hàng theo hướng nâng cao năng lực quản trị điều hành,năng lực tài chính, mở rộng quy mô và năng lực cạnh tranh cho Ngân hàng làm tănglợi nhuận cho Ngân hàng dẫn đến tăng thêm vốn từ lợi nhuận giữ lại
Các Ngân hàng thương mại cần củng cố và hoàn thiện mạng lưới chi nhánh (thếmạnh của NHTM VN), đi liền với chính sách chăm sóc khách hàng và tăng cườngcông tác tiếp thị; Các Ngân hàng thương mại Việt nam cần tiếp tục đa dạng hóa các sảnphẩm dịch vụ Ngân hàng Tất cả nhằm mục đích làm tăng uy tín của Ngân hàng - điềunày rất quan trọng đối với những lần tăng vốn tiếp theo
1.3.2 Đối với Ngân hàng nhà nước
Quản lý thật tốt thị trường chứng khoán vì đây là một kênh huy động vốn hiệuquả cho các doanh nghiệp nói chung và cho các Ngân hàng TMCP nói riêng Thị
Trang 12trường chứng khoán phát triển sẽ rất thuận lợi cho các NHTMCP phát hành thêm cổphiếu mới để tăng vốn tự có và nâng cao năng lực tài chính của mình Việc cho phépcác nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các Ngân hàng thương mại trong nước (tối
đa 30%) cũng góp phần tăng nhanh vốn điều lệ của các NHTMCP VN
Đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại hệ thống NHTM VN, cải cách Ngân hàng theohướng nâng cao năng lực quản trị điều hành, năng lực tài chính, mở rộng quy mô vànăng lực cạnh tranh cho NHTM VN Hình thành các tập đoàn tài chính -Ngân hàng đủlớn, mạnh dạn sắp xếp lại NHTMCP theo hướng thanh lý, giải thể những Ngân hàngyếu kém, sáp nhập những Ngân hàng nhỏ không đủ vốn pháp định vào những Ngânhàng lớn (vốn pháp định NHTM đô thị cần điều chỉnh trên 200 tỷ đồng)
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng theohướng hội nhập Hai luật Ngân hàng cần khẩn trương hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi saocho phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Tất cả nhằm tạo cơ chếthông thoáng, môi trường pháp lý ổn định, chặt chẽ cho các Ngân hàng cạnh tranh côngbằng và cùng nhau phát triển
Nếu các giải pháp trên đây được thực hiện đồng bộ, chắc chắn sẽ góp phần nângcao năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại VN trong tiến trình hội nhậpquốc tế
2 Vốn pháp định
2.1 Khái niệm
Theo quy định tại Điều 4 Luật Doanh nghiệp (2005) thì khái niệm vốn phápđịnh được hiểu là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lậpdoanh nghiệp Điều này có nghĩa là Nhà nước sẽ đặt ra mức sàn tối thiểu về vốn đốivới một số ngành nghề cụ thể và nhà đầu tư phải đáp ứng số vốn đó từ bằng hoặc lớnhơn mức mà nhà nước đặt ra thì mới được thành lập doanh nghiệp và hoạt động trongngành nghề đó
Quy định về vốn pháp định là việc làm cần thiết để nhằm tạo ra sự an toàn cho
xã hội và đảm bảo trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp trước đối tác và chủ nợ Vìthực chất những ngành nghề như kinh doanh tiền tệ – tín dụng, kinh doanh bảo hiểm,kinh doanh chứng khoán trên thế giới nhiều quốc gia cũng đã và đang áp dụng mứcvốn pháp định, cho nên ở Việt Nam cũng không là ngọai lệ
2.2 Thực trạng
Theo Nghị định 10/2011/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghịđịnh số 141/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2006 về ban hành Danh mục mức vốnpháp định của các tổ chức tín dụng Theo đó, tổ chức tín dụng được cấp giấy phépthành lập và hoạt động sẽ phải có biện pháp bảo đảm số vốn điều lệ thực góp hoặcđược cấp tối thiểu tương đương mức vốn pháp định theo quy định, chậm nhất vào ngày31/12/2011, thay cho quy định cũ thời hạn này là ngày 31/12/2010
Trang 13Với các Ngân hàng thương mại, mức vốn pháp định áp dụng cho đến năm 2011
là 3.000 tỷ đồng; chi nhánh Ngân hàng nước ngoài là 15 triệu USD; với Ngân hàngchính sách, Ngân hàng phát triển là 5.000 tỷ đồng; Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng hợptác và quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương là 3.000 tỷ đồng; với công ty tài chính là 500
tỷ đồng; công ty cho thuê tài chính là 150 tỷ đồng
Theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP, các NHTM có thời gian 4 năm để thực hiệnviệc tăng vốn điều lệ với 2 giai đoạn cụ thể (giai đoạn 1 kết thúc 31/12/2008 và giaiđoạn 2 kết thúc 31/12/2010)
Tuy nhiên, quá trình tăng vốn điều lệ đã chịu tác động của một số nguyên nhânkhách quan, khiến việc tăng vốn điều lệ từ các nguồn khác nhau của nhiều NHTMtrong nước gặp phải một số khó khăn
Vì vậy, việc gia hạn thời gian tăng vốn điều lệ cho các NHTM đến 31/12/2011
là một trong những chủ trương đúng đắn Bởi sẽ giảm bớt áp lực về thời gian tăng vốncho các NHTM chưa thể tăng đủ ngay mức vốn pháp định, nhưng đảm bảo có sự côngbằng đối với những NHTM thời gian qua đã nỗ lực tăng vốn để đảm bảo đủ mức vốnpháp định theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước
2.3 Ứng xử của NHTM
Dù được gia hạn việc nâng vốn pháp định lên 3.000 tỉ đồng thêm một năm nữanhưng kết thúc năm 2010 (31-12), nhiều Ngân hàng thương mại vẫn nâng vốn phápđịnh đảm bảo quy định pháp luật
Như Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (VIETBANK) đến ngày 30-12mới chính thức hoàn thành các thủ tục pháp lý tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỉ đồng
VIETBANK cho biết việc tăng vốn điều lệ này được thực hiện theo công vănchấp thuận tăng vốn lên 3.000 tỉ đồng của Ngân hàng Nhà nước ngày 21-9 và nằmtrong kế hoạch của Ngân hàng theo đúng lộ trình Không chỉ có VIETBANK mà Đại Á
và Tiên Phong cũng nâng vốn đúng thời hạn
Các Ngân hàng trên cho biết dù được gia hạn thời gian thêm 12 tháng nhưng có
ít Ngân hàng ỉ lại và nhiều Ngân hàng vẫn hoàn thành việc tăng vốn theo đúng lộ trình(31-12-2010) Việc tăng vốn như quy định nhằm nâng cao năng lực tài chính cũng như
vị thế cạnh tranh trong những năm tới
Và quan trọng, là vẫn đảm bảo tiếp tục duy trì mục tiêu tăng vốn điều lệ để nângcao năng lực tài chính của các NHTM, tiếp tục khuyến khích các NHTM tăng vốn điều
lệ để sớm đạt được mức vốn pháp định
Trang 143 Huy động vốn và lãi suất huy động vốn
3.1 Thực trạng
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu vàthường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng sốtiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán Hầuhết các Ngân hàng thương mại chỉ có từ 20-30 % là vốn tự có, còn lại là vốn đi vay.Vìvậy, việc thu hút vốn là vấn đề hàng đầu của các Ngân hàng thương mại và vốn cũng là
một câu hỏi lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam
Những năm gần đây tốc độ tăng trưởng nguồn vốn đầu tư khá cao, tuy nhiên tỷtrọng nguồn vốn trung và dài hạn lại thấp, mà chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn
Có nhiều hạn chế gây khó khăn trong việc huy động vốn của cac NHTM, trước hết
là về phía bản thân các NHTM
Thứ nhất, mức độ cạnh tranh trên thị trường vốn ngày càng cao.Việc huy động vốn của các NHTM phải cạnh tranh với các kênh thu hút vốn khác nhưtiết kiệm bưu điện, bảo hiểm nhân thọ, hoạt động đầu tư bất động sản, đầu tư cổ phiếu,trái phiếu trên thị trường tài chính
Thứ hai, nội lực của chính các Ngân hàng, với quy mô vốn nhỏ, nguồn nhân lựchạn chế, trình độ công nghệ còn chậm tiến so với các nước trong khu vực
Công nghệ Ngân hàng hiện đại và dịch vụ tuy đã có bước phát triển, nhưng vẫnchưa đáp ứng được yêu cầu
Hệ thống dịch vụ Ngân hàng trong nước còn đơn điệu, chất lượng chưa cao,chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng và nặng về dịch vụ Ngân hàng truyền thống.Các Ngân hàng huy động vốn chủ yếu dưới dạng tiền gửi chiếm 94% tổng nguồn vốnhuy động
Chưa có sự phân đoạn thị trường để có những sản phẩm huy động vốn, sảnphẩm dịch vụ riêng cho từng nhóm khách hàng riêng biệt Một chính sách Marketingtốt phải đưa ra chiến lược quản lý khách hàng, trong đó việc thực hiện phân đoạn thịtrường theo các tiêu chí như vùng địa lý, các yếu tố nhân khẩu học, các yếu tố tâm lý,các yếu tố thuộc thói quen hành vi… Không phải mọi khách hàng đều có nhu cầu nhưnhau đối với các dịch vụ Ngân hàng và mang lại lợi nhuận như nhau cho Ngân hàng,nên cần có sự phân đoạn để có những chính sách chăm sóc khách hàng phù hợp Cácsản phẩm hiện nay mà các Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng cung cấp ra thịtrường mang tính chất đại trà cho tất cả các khách hàng, không có sự phân biệt tới từngnhóm đối tượng
Thứ ba, dựa vào công cụ lãi suất để cạnh tranh thu hút khách hàng Tuy nhiên,công cụ này cũng chỉ có tác dụng ở mức giới hạn nhất định
Trang 15Do không thể đa dạng hóa các loại hình dịch vụ Ngân hàng đã khiến các Ngânhàng thương mại Việt Nam chủ yếu dựa vào công cụ lãi suất để cạnh tranh thu hútkhách hàng
Lãi suất là một trong những công cụ để các NHTM thu hút vốn, tuy nhiên, công
cụ này cũng chỉ có tác dụng ở mức giới hạn nhất định Sức ép cạnh tranh đã khiến cácNgân hàng gần như đồng loạt công bố tăng lãi suất huy động vốn Đáng lo ngại trướctình trạng lãi suất đang chạm sát với giới hạn sinh lãi, khả năng an toàn các các Ngânhàng và tác động tới tăng trưởng kinh tế Cạnh tranh trong việc thu hút vốn đã tạo racuộc chạy đua lãi suất trên thị trường nhằm giảm bớt những nguy cơ rủi ro thanh khoảnđang có chiều hướng gia tăng
Nhiều NHTM đã liên tục tăng lãi suất với tần suất thay đổi có khi tới 3 đến 4lần/tuần, và không chỉ diễn ra ở các NHTM cổ phần nhỏ mà còn đối với cả các NHTM
Tuy nhiên, quan trọng hơn là nguyên tắc lãi suất dương cần được thực hiện phùhợp với thực tế thị trường để tạo cơ sở bảo đảm cho thị trường tín dụng tăng trưởngtrong thế ổn định Đó chính là lý do vì sao Hiệp hội Ngân hàng đã đưa ra và kêu gọiđồng thuận với mức lãi suất trần huy động là 12%/năm vào những tháng đầu năm
2010 Nhưng diễn biến lãi suất, cả huy động và cho vay hiện nay, lại không theo cái "lẽphải thông thường" đó Biểu hiện bất thường, ẩn chứa nhiều bất ổn của lãi suất có thểthấy ở hai khía cạnh lớn của vấn đề Thứ nhất là nhiều NHTM, tuy chỉ niêm yết mứclãi suất huy động 12%/năm, nhưng cộng thêm các chi phí khuyến mãi (bằng cả thưởngtiền "nóng", thưởng lãi suất…) khiến lãi suất huy động trong thực tế đã vượt xa niêmyết Có Ngân hàng thực hiện ghi lãi suất huy động trên sổ chỉ 12%/năm, nhưng lại kèmtheo cam kết bằng văn bản trả thêm 3% lãi suất cho món tiền gửi đó khi đáo hạn Tìnhtrạng khuyến mãi huy động không chỉ diễn ra đối với NHTM nhỏ, mà ở cả các NHTMlớn Thứ hai là có một số NHTM công khai "vượt trần" lãi suất huy động 12%/năm
Trường hợp “xé rào" đầu tiên là NHTM CP Sài Gòn (SCB) Từ ngày 7/4/2008,SCB đã triển khai kế hoạch phát hành 3.000 tỷ đồng kỳ phiếu kéo dài cho tới 4/6/2008
Kỳ phiếu có thời hạn 270 ngày và 360 ngày, với lãi suất trả trước là 1%/tháng, tươngđương 12%/năm Như vậy lãi suất thực khách hàng được trả khi mua kỳ phiếu lên tớitrên 13%/năm Đặc biệt là khách hàng còn được khuyến mại thông qua tham giachương trình quay số dự thưởng của SCB với tổng trị giá giải thưởng là 2,5 tỷ đồng;
Trang 16trong đó có giải đặc biệt là 2kg vàng SJC trị giá hơn 1 tỷ đồng, kèm theo rất nhiều giảikhác có giá trị.
NHTM CP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) cũng triển khai chương trình tiết kiệmnhận ngay tiền lãi, với 7 loại gửi tiết kiệm đồng Việt Nam kỳ hạn từ 1 tháng đến 6tháng trả lãi trước là 10,5%/năm; các kỳ hạn từ 7 đến 13 tháng cũng trả lãi trước, vớilãi suất 11,0%/năm Nhìn bề ngoài thì lãi suất của SHB thực hiện theo đúng thoả thuậngiữa các NHTM thành viên do Hiệp hội Ngân hàng chủ trì, nhưng do lãi trả trước nêntính thực ra lãi suất khách hàng được hưởng lên tới 12%/năm
Một số NHTM cổ phần quy mô nhỏ khác, hay NHTM CP nông thôn, NHTM
CP nông thôn mới chuyển lên thành NHTM CP đô thị cũng cho biết đang chuẩn bịđiều chỉnh lãi suất huy động vốn đồng Việt Nam lên trên 11%/năm Các NHTM CPnày kêu ca rằng họ đang ở vào thế bất lợi so với các NHTM NN và NHTM CP quy môlớn, quy mô khá, do đó vốn huy động từ khi áp dụng trần lãi suất thỏa thuận khôngtăng, thậm chí cá biệt có Ngân hàng còn giảm
NHTM CP nào cũng vì lợi ích kinh doanh của mình, của cổ đông Thêm vào đó,lãi suất trần huy động vốn tối đa chỉ mang tính thỏa thuận giữa các thành viên do Hiệphội Ngân hàng, không mang tính ràng buộc, không phải là quy định của cơ quan quản
lý Nhà nước, tức là không có tính pháp lý và không có chế tài xử phạt Nên việc thựchiện đúng các thỏa thuận đó là điều khó có thể đảm bảo
Thực tế đã chứng minh, trong quá trình hoạt động cũng đã nảy sinh nhiều diễnbiến phức tạp như đã trình bày, khiến 2 tháng cuối năm hoạt động của thị trường tíndụng dường như đã có lúc nằm ngoài tầm với của chính sách kinh tế Lại một lần nữavấn đề lãi suất thực dương đã được các chuyên gia kinh tế đưa ra
Việc các NHTM đồng loạt tăng lãi suất đang gây ra nhiều lo ngại Đại diện mộtNHTM phân tích, lãi suất huy động USD tăng cao sẽ ảnh hưởng đến chi phí đầu vàocủa cả doanh nghiệp và Ngân hàng Bởi khi lãi suất huy động tăng thì lãi suất cho vaykhách hàng cũng phải tăng Điều này sẽ khiến chi phí của doanh nghiệp đội lên cao,gây áp lực tăng giá, một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát Cứ như thế, lạmphát tăng buộc các Ngân hàng lại phải tăng lãi suất huy động để đảm bảo thực dương.Đồng thuận với việc cần đảm bảo lãi suất thực dương là câu hỏi: Vậy lãi suất thựcdương ở mức nào thì hợp lý? Lo ngại lớn nhất sau khi lãi suất huy động USD lên caochính là việc tỷ giá VND/USD sẽ chịu nhiều áp lực Bởi khi lãi suất USD tăng cũngđồng nghĩa với việc USD lên giá, khi đó VND bị coi là giảm giá so với USD Điều này
sẽ gây ra nhiều phản ứng tiêu cực trên thị trường tiền tệ đặc biệt là trong bối cảnh kinh
tế đang có nhiều biến động hiện nay
Lãi suất là giá cả của đồng vốn trong nền kinh tế Một khi lãi suất huy động vốncao sẽ dẫn đến lãi suất cho vay cao làm hạn chế nhu cầu vay vốn của các đối tượng sảnxuất kinh doanh, ảnh hưởng tới tăng trưởng chung của nền kinh tế và tạo thêm việc làmmới trong xã hội Mặt khác lãi suất cho vay vốn của NHTM ở mức cao làm tăng chiphí đầu vào, tăng chi phí sử dụng vốn vay của DN, hộ sản xuất kinh doanh, tăng giá
Trang 17thành của sản phẩm và dịch vụ, tăng giá bán trên thị trường, tác động ngược chiều đếnkiềm chế lạm phát.
Sau những ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống kinh tế của cuộc chay đua lãi suất,cuối năm 2010, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận và cùngvới các biện pháp điều hành tiền tệ linh hoạt lãi suất huy động và cho vay VND của cácNgân hàng thương mại giảm dần (mức giảm khoảng 1%) Hiện nay, các Ngân hàng đãthực hiện đồng thuận lãi suất huy động VND không vượt quá 14%/ năm
Thứ tư, những NHTM trong nước hiện đang nắm giữ khoảng gần 90% thị phần.Nhưng đây không phải là lợi thế của chúng ta mà chỉ là kết quả tất yếu của sự bảo hộtrong suốt thời gian qua
Bên cạnh những hạn chế của bản thấn các NHTM, cũng phải kể đến những hạnchế khách quan từ môi trường vĩ mô
Chính sách nhà nước về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (trong đó cóNHTMNN) còn chậm và nhà nước còn can thiệp vào hoạt động kinh doanh của Ngânhàng
Yếu tố giá cả tăng mạnh trong 2 năm gần đây gây ra tâm lý e ngại gửi tiền:Người dân e ngại gửi tiền VND dài hạn vào hệ thống Ngân hàng, dẫn đến việc ngườidân chuyển sang đầu tư vào bất động sản, hoặc tích trữ dưới dạng USD và vàng
Về phía khách hàng, tốc độ tăng trưởng kinh tế dù được duy trì ở mức cao trongnhiều năm nhưng thu nhập quốc dân bình quân đầu người vẫn còn thấp, tiết kiệm vàtích lũy trong dân cư tuy đã tăng nhưng còn ở mức khiêm tốn và dân cư vẫn chưa thực
sự tin tưởng khi gửi tiết kiệm
Chẳng hạn như: Nguồn vốn huy động của các Ngân hàng chỉ tập trung ở đô thị.Trong khi đó, thị trường nông thôn còn bỏ ngỏ, nhưng nơi đây nguồn vốn có nhiềutiềm năng, nhất là mấy năm gần đây nông thôn chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhiều trangtrại, các hộ nuôi thủy sản, trồng cây ăn trái đặc sản, chăn nuôi mỗi năm thu nhậphàng trăm triệu đồng và thậm chí cả tỷ đồng
Có khoản tiền lớn trong tay, họ xây dựng nhà, mua sắm phương tiện sinh hoạt,mua vàng cất trữ, không gởi tiền vào Ngân hàng nhưng đến khi cần vốn đầu tư cho sảnxuất lại tiếp tục vay Ngân hàng Như tỉnh Trà Vinh có hơn 2.300 trang trại vay Ngânhàng gần 200 tỉ đồng, có nhiều trang trại lãi ròng hàng trăm triệu nhưng hỏi ra không
có mấy trang trại gởi tiền tiết kiệm Ngân hàng Không chỉ riêng Trà Vinh mà là thựctrạng chung của các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long Các tỉnh địa bàn nông thôn sâu lạicàng khó huy động vốn Nhiều xã vùng sâu, vùng xa thì nhu cầu vay vốn lớn, nhưngngược lại huy động vốn rất ít
Qua thực tế trên cho thấy hiện nay, các Ngân hàng chưa tiếp cận các nguồn vốn
ở nông thôn, chưa hướng người dân thay đổi tập quán cất vàng chuyển sang gởi tiềntiết kiệm tại các Ngân hàng
3.2 Nguyên nhân
Trang 18Có nhiều nguyên nhân của thực trạng lãi suất cao Phải kể đến những biến độngtăng đột biến của giá vàng thế giới đã khiến giá vàng trong nước tăng vọt trong thờigian qua Bên cạnh đó, biến động tỷ giá ngoại tệ Không thể phủ nhận chính nhữngbiến động của giá vàng và tỷ giá đã làm nảy sinh tâm lý lo sợ lạm phát cao khiến mộtphần tiền gửi bị hút đầu tư vào vàng và đôla, khiến nguồn huy động của các NHTMcũng bị ảnh hưởng Người ta cũng nói đến một nguyên nhân nữa, các NHTM phải thựchiện Thông tư 13 và Thông tư 19 về việc chỉ được cho vay ra tối đa 80% vốn huy độngđầu vào Chỉ tiêu pháp định về an toàn thanh khoản này đã khiến các NHTM phải giatăng nguồn huy động nhằm cân đối với nhu cầu mở rộng tín dụng Đó cũng là áp lựckhiến phải tăng lãi suất huy động.
Ngoài ra, phải kể đến thực trạng mất cân đối trong cơ cấu nguồn vốn tại nhiềuNHTM hiện nay Đây là hệ quả của một thời gian khá dài các NHTM tập trung huyđộng kỳ hạn ngắn, đến mức đã kéo thẳng đường cong lãi suất Phần vốn ngắn hạn buộcphải đáp ứng nhu cầu cho vay trung - dài hạn đó đã tạo áp lực đẩy lãi suất huy độngtăng cao nhằm bù đắp thiếu hụt thanh khoản vốn ngắn hạn đáo hạn Chính hiện tượnglãi suất trên thị trường liên Ngân hàng tăng đột biến vào trung tuần tháng 11 mới đây
đã cho thấy hệ lụy khó lường của tình trạng mất cân đối kỳ hạn về nguồn vốn nói trên.Cũng lại nhờ có sự can thiệp kịp thời bơm vốn giải quyết thanh khoản qua thị trường
mở nên lãi suất thị trường liên Ngân hàng đã giảm hẳn và đang vận hành ổn định Cuốicùng, theo các chuyên gia, lãi suất huy động vốn vẫn giữ xu hướng tăng được cho làbởi kỳ vọng lạm phát vẫn tăng Theo Tổng cục Thống kê tháng 11 đã tăng tới 1,86% sovới tháng 10, đưa CPI 11 tháng tăng tới 9,58%
Bên cạnh đó, NHTM cổ phần quy mô nhỏ có mạng lưới hẹp, năng lực tài chínhhạn chế, uy tín và thương hiệu chưa được nhiều người biết Do đó cùng lãi suất huyđộng vốn như nhau, các NHTM Nhà nước, các NHTM cổ phần có mạng lưới rộng, cóthương hiệu và uy tín, có năng lực tài chính mạnh, có điều kiện tăng chi phí cho quảng
bá, tiếp thị… sẽ huy động được nhiều vốn hơn
Nên cuối cùng các NHTM cổ phần nhỏ lại phải đi vay lại vốn của các NHTMkhác trên thị trường liên Ngân hàng với lãi suất cao Đây cũng là lý do tại sao sau hơn
2 tuần thực hiện trần lãi suất của Hiệp hội Ngân hàng nhưng lãi suất trên thị trường liênNgân hàng thì vẫn nóng vào những tháng đầu năm 2010 Lãi suất cho vay qua đêm vẫnlên tới 10% - 14%, lãi suất cho vay kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần lên tới 15% -16%/năm.Trong khi đó thoả thuận trần lãi suất huy động vốn tối đa giữa các NHTMthành viên do Hiệp hội Ngân hàng chủ trì không có tính ràng buộc, không phải là quyđịnh của cơ quan quản lý Nhà nước, tức là không có tính pháp lý và không có chế tài
xử phạt
NHTM cổ phần nào cũng vì lợi ích kinh doanh của mình, của cổ đông Sau hơn
2 tuần thực hiện thoả thuận nhưng một số NH thành viên nhận ra sự bất lợi trong cạnhtranh nên đã tự ý phá vỡ thỏa thuận, đẩy mức lãi suất huy động lên cao hơn rất nhiều sovới thỏa thuân ban đầu
3.3 Giải pháp
Trang 19Các NHTM có kinh nghiệm có thể hạn chế sự chuyển dịch tiền gửi của kháchhàng vì mục tiêu tìm kiếm lãi suất cao bằng các giải pháp khác thay vì tăng lãi suất.Người gửi tiền thực chất đang thực hiện hành vi đầu tư, điều này chỉ ra rằng lợi nhuậncao cũng đi liền với rủi ro cao.
Để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, Nhà nước đã có chính sách bảo hiểmtiền gửi Theo đó, hạn mức chi trả ngay tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền hiệnnay tối đa là 50 triệu đồng đã được quy định rõ tại Nghị định số 109/2005/NĐ-CP củaChính phủ về bảo hiểm tiền gửi, phần tiền gửi vượt hạn mức chi trả sẽ được thanh toántiếp cho người gửi tiền theo quy định về giải quyết các nghĩa vụ nợ của Luật phá sản.Với quy định này, bản thân người gửi tiền cũng phải có trách nhiệm trong việc lựachọn ngân hàng để gửi tiền và việc tuyên truyền nhằm nâng cao hiểu biết về chính sáchbảo vệ quyền lợi người gửi tiền cũng cần được các NHTM thực hiện một cách đầy đủ,tích cực
Bên cạnh đó, để nâng cao niềm tin của công chúng, các NHTM có thể minhbạch hóa tối đa hoạt động của mình, nhằm chỉ ra độ an toàn trong hoạt động đối vớikhách hàng gửi tiền
Mặt khác, cũng nên đưa ra các khuyến cáo về mức lãi suất mất an toàn tronghuy động vốn đối với hoạt động ngân hàng, khi mà đầu ra đã được chốt chặt bởi lãisuất cơ bản đã được Ngân hàng Nhà nước công bố
Trước diễn biến căng thẳng của thị trường lãi suất cũng như giải quyết một sốmâu thuẫn nói trên đòi hỏi việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô cần linh hoạt và sátthực tiễn hơn, phù hợp với những diễn biến của thị trường, đảm bảo lợi ích chung củanền kinh tế, của người gửi tiền và cạnh tranh bình đẳng giữa các NHTM
4 Cổ phiếu và trái phiếu
4.1 Cổ phiếu
4.1.1 Thực trạng
Cổ phiếu là giấy chứng nhận số tiền nhà đầu tư đóng góp vào công ty phát hành
Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xácnhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ đông của công ty đó Nguời nắm giữ cổphiếu trở thành cổ đông và đồng thời là chủ sở hữu của công ty phát hành
Thực tế không chỉ những cổ đông cá nhân thoái vốn, các NHCP lớn trước đây
đã mạnh tay đầu tư vốn vào các Ngân hàng nhỏ cũng đang tìm cách thoái vốn để đảmbảo chỉ tiêu an toàn vốn (CAR) theo quy định tại Thông tư 13 của NHNN (có hiệu lực1-10-2010)
Sức cung cổ phiếu ngày càng tăng trong khi tỷ suất cổ tức của các Ngân hàngnhỏ vẫn ở mức thấp so với lãi suất Ngân hàng, dù cổ tức ngành này tương đối ổn định
Trang 20Nhưng thực tế từ đầu năm 2010 đến nay các NHTM đang phải nỗ lực chạy đuatrước hàng loạt chỉ tiêu cơ quan quản lý quy định, đã tác động không chỉ đến hoạt độngkinh doanh của Ngân hàng mà còn ảnh hưởng tâm lý nhà đầu tư quan tâm đến cổ phiếungành này.
Cổ phiếu ngành Ngân hàng lình xình trong một thời gian dài đã khiến thị trườngchứng khoán (TTCK) Việt Nam chưa thể có một đợt sóng lớn trong năm 2010 Nhiều
số liệu cho thấy cổ phiếu Ngân hàng (CPNH) đang được giao dịch ở mức giá hấp dẫnnhưng vẫn không thuyết phục nhà đầu tư mua vào
TTCK Việt Nam hiện tại vẫn chưa phản ánh hết toàn bộ giá trị của các Ngânhàng vì nhiều CPNH vẫn chưa niêm yết đầy đủ
Với một thị trường mà nhà đầu tư, các công ty chứng khoán và quỹ đều chấpnhận chơi ngắn hạn sẽ rất khó để CPNH được ưa chuộng Khối lượng cổ phiếu lưuhành quá lớn khiến cho những yếu tố đầu cơ rất khó “đụng” đến CPNH
4.1.2 Giải pháp.
Từ thực trạng trên, nhiều chuyên gia khẳng định không nên tìm cách “kích”CPNH trong ngắn hạn CPNH có sức ì cũng tốt, nó là một cái đáy, cái nền của TTCK
và trở thành của để dành cho nhà đầu tư
Các Ngân hàng sẽ phải nỗ lực hơn nếu muốn cổ phiếu của mình tăng trưởng,không thể cứ mãi tìm cách mở rộng mạng lưới, gia tăng tổng tài sản mà đi vào chiềusâu, tìm kiếm nguồn thu từ dịch vụ, không tiêu tốn quá nhiều vốn hoặc đòi hỏi chênhlệch giữa đầu vào đầu ra
Cũng với những con người, hạ tầng đó nhưng nếu năng động hơn, chuyênnghiệp hơn, nguồn thu sẽ được cải thiện đáng kể Những Ngân hàng nào sớm tái cấutrúc được mô hình hoạt động của mình sẽ có lợi thế cạnh tranh, gia tăng lợi nhuận độtbiến
4.2 Trái phiếu
4.2.1 Khái niệm trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành(người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoảntiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoảncho vay ban đầu khi nó đáo hạn
Phát hành trái phiếu là đi vay vốn Mua trái phiếu là cho người phát hành vayvốn, và như vậy, trái chủ là chủ nợ của người phát hành Là chủ nợ, người nắm giữ tráiphiếu (trái chủ) có quyền đòi các khoản thanh toán theo cam kết về khối lượng và thờihạn, song không có quyền tham gia vào những vấn đề của bên phát hành
Lãi suất của các trái phiếu rất khác nhau, được quy định bởi các yếu tố:
Trang 21+ Cung cầu vốn trên thị trường tín dụng Lượng cung cầu vốn đó lại tuỳ thuộc vàochu kỳ kinh tế, động thái chính sách của Ngân hàng trung ương, mức độ thâm hụt ngânsách của chính phủ và phương thức tài trợ thâm hụt đó.
+ Mức rủi ro của mỗi nhà phát hành và của từng đợt phát hành Cấu trúc rủi ro củalãi suất sẽ quy định lãi suất của mỗi trái phiếu Rủi ro càng lớn, lãi suất càng cao
+ Thời gian đáo hạn của trái phiếu Nếu các trái phiếu có mức rủi ro như nhau, nhìnchung thời gian đáo hạn càng dài thì lãi suất càng cao
4.2.2 Thực trạng
Trong quá trình cổ phần hóa NHTMNN hiện nay sự thiếu minh bạch trong quátrình phát hành trái phiếu tăng vốn gây rủi ro cho các nhà đầu tư và làm ảnh hưởng đến
uy tín của Ngân hàng trong tiến trình cổ phần hóa
Hiện tượng phát hành trái phiếu không minh bạch như trên có nhiều lí do
Về phía Ngân hàng, do sức ép tài chính và yêu cầu đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa màphải tăng vốn càng nhanh càng tốt, lãi suất huy động càng thấp càng tốt Về phía nhàđầu tư, do chưa tìm hiểu kĩ về cơ chế phát hành cũng như tâm lí đầu tư theo đám đôngmua trái phiếu của Ngân hàng
Cách thức phát hành trái phiếu huy động vốn như vậy có thể giúp choNHTMNN đạt được mục tiêu tăng vốn một cách nhanh chóng với lãi suất thấp Nhưng
về lâu về dài mà nói thì nó sẽ gây ảnh hưởng rất lớn tới uy tín của Ngân hàng
4.2.3 Giải pháp
Việc phát hành trái phiếu tăng vốn là rất cần thiết nhằm nâng cao năng lực tàichính của NHTMNN để thực hiện chương trình cổ phần hóa Tuy nhiên, trong quátrình phát hành trái phiếu tăng vốn như đã trình bày ở trên có nhiều hạn chế khiến chocác nhà đầu tư phải gánh chịu nhiều rủi ro, gây ảnh hưởng xấu đối với uy tín củaNHCP Để khắc phục tình trạng đó, cần bổ sung quy định khi các NHTMNN phát hànhtrái phiếu tăng vốn thì cần phải có văn bản nói rõ về những đặc điểm của loại trái phiếunày Các thông tin về trái phiếu phải được công bố rộng rãi trên các phương tiện thôngtin đại chúng, trên trang web chính thức của Ngân hàng cũng như trong bản cáo bạch
Mặt khác, cần quy định rõ về việc phát hành trái phiếu tăng vốn của Ngân hàngthương mại nhà nước theo hướng xích lại gần hơn với các thông lệ quốc tế cả về chuẩnmực lẫn cách thức phát hành Các Ngân hàng thương mại nhà nước phải có các giảipháp hỗ trợ đảm bảo tính thanh khoản của trái phiếu như ủy quyền cho các công tychứng khoán mua hoặc bán trái phiếu làm tăng giao dịch tại thị trường, thành lập một
bộ phận tại công ty chứng khoán có chức năng hỗ trợ, chắp nối các nhà đầu tư có nhucầu mua và bán trái phiếu Các trái phiếu này sẽ được lưu kí và giao dịch trên thịtrường chứng khoán và sẽ trở thành cơ hội đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư Việcphát hành trái phiếu tăng vốn thành công trái phiếu tăng vốn sẽ giúp cho các Ngânhàng thương mại cổ phần nâng tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn, đảm bảo khả năngcân đối nguồn vốn để đầu tư trung và dài hạn
Trang 22Tóm lại, trái phiếu là một hàng hoá phổ biến và không thể thiếu của thị trườngchứng khoán và thị trường tài chính Tuy nhiên, thị trường trái phiếu hiện nay chưatương xứng với tiềm năng của nó Những giải pháp trên đã tập trung vào những vấn đềnổi cộm nhất hiện nay cần tập trung giải quyết ở tầm vĩ mô.
II HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
1 Rủi ro tín dụng
Trong nền kinh tế xuất hiện nhu cầu cần vốn và “nhu cầu” cho vay vốn Hai nhucầu này đều giống nhau ở chỗ để thu lợi nhuận và mang tính chất tạm thời Nhưngchúng khác nhau về chiều vận động và quyền sở hữu Do đó, trong nền kinh tế tất yếutồn tại quan hệ tiêu dùng và tín dụng Vì vậy, việc nâng cao chất lượng tín dụng có ýnghĩa to lớn đối với NHTM (NHTM) trong chiến lược huy động vốn và phát triển
1.1 Khái niệm chung
1.1.1 Tín dụng, tín dụng Ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hànghóa Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội Quan hệ tín dụngđược phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã Khi chế độ
tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hànghóa Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật -hàng hóa Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ
Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tàichính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên
cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất Do hoạt động này
làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con
nợ Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là người cho vay, vàmột bên là người đi vay Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏathuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với các tổ chức kinh tế
và các cá nhân Trong thực tế hoạt động tín dụng rất phong phú và đa dạng nhưng bất
kỳ hình thức tín dụng nào cũng có hai giai đoạn: người cho vay chuyển giao vốn chongười đi vay sử dụng trong một thời gian nhất ịnh, và sau khi đến thời hạn do hai bênthoả thuận người đi vay sẽ trả lại cho người cho vay một khoản giá trị lớn hơn, phầntăng thêm gọi là tiền lãi
1.1.2 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận khoảnvốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với Ngân hàng, gây tổnthất cho Ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn
cả gốc và lãi cho Ngân hàng Từ đó, có nhiều tiêu chí phản ảnh rủi ro tín dụng củaNHTM như:
Trang 23- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trờn tổng dư nợ.
- Tỷ lệ nợ xấu trờn vốn sở hữu
- Tỷ lệ nợ xấu trờn quĩ dự chủ phũng tổn thất
- Nợ đỏng nghi ngờ (nợ cú vấn đề) – cú khả năng chuyển thành nợ xấu cao
- Nợ khụng cú tài sản đảm bảo
Khụng một loại hỡnh doanh nghiệp nào mà khụng phải đối đầu với nguy cơ rủi
ro trong quỏ trỡnh hoạt động kinh doanh Nhưng với cỏc dặc điểm , đặc thự của NHTM
cú thể kết luận hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ –tớn dụng của Ngõn hànggặp phải nguy cơ rủi ro cao hơn cả
1.2 Rủi ro gắn với hoạt động tớn dụng của NHTM
Tớn dụng Ngõn hàng tham gia vào toàn bộ quỏ trỡnh sản xuất lưu thụng hànghoỏ, ngay cả những hoạt động phi sản xuất cũng khụng thể thiếu sự hỗ trợ của tớn dụngNgõn hàng Chớnh vỡ tớn dụng Ngõn hàng tham gia vào mọi doanh nghiệp, mọi ngành,mọi lĩnh vực của nền kinh tế, mà mỗi ngành mỗi lĩnh vực kinh doanh lại cú tớnh đặcthự, cú sự phức tạp riờng, cú những rủi ro riờng nờn rủi ro tớn dụng của Ngõn hàngmang tớnh tổng hợp và khả năng xuất hiện là lớn hơn cỏc ngành khỏc
NHTM khụng chỉ chịu rủi ro trong việc lựa chọn khỏch hàng mà cũn chịu rủi ro
của khỏch hàng rủi ro tớn dụng xảy ra khi bờn vay trong giao dịch khụng thực hiệnđươc theo thời gian và điều kiện hợp đồng làm người cho vay phải chịu tổn thất tàichớnh
1 Nợ không
có khả năng thu hồi
Không thu đủ lãi Không thu đủ
vốn (Mất vốn) Rủi ro tín dụng
Trang 241.2.2 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
1.2.2.1 Nguyên nhân từ phía khách hàng
Nếu đứng trên góc độ tư cách đạo đức của người đi vay (khách hàng) thì nguyênnhân dẫn đến rủi ro tín dụng từ phía khách hàng có thể chia làn hai trường hợp lớn:Khách hàng gian lận hoặc khách hàng không gian lận
a Khách hàng gian lận, cố ý lừa Ngân hàng
Điều này được thể hiện qua việc gian lận về số liệu, giấy tờ ,quyền sở hữu tàisản Doanh nghiệp có thể nộp báo cáo tài chính không chính xác, cố ý đưa ra số liệu sai
sự thật, phản ánh không đúng thực trạng sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính củađơn vị Những món cho vay trên cơ sở nnhững thông tin giả như vậy dễ đưa đến rủi rocho Ngân hàng Bên cạnh đó lợi dụng khe hở về giấy tờ sở hữu tài sản, doanh nghiệp
có thể đem thế chấp một tài sản ở nhiều Ngân hàng khác nhau Khi không thu được nợ,các NHTM phát mãi tài sản thì mới biết bị lừa
Ngoài ra, khách hàng có thể gian lận Ngân hàng thể hiện qua việc sử dụng vốnvay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng phương án
đã nêu nên không trả được nợ đúng hạn hoặc không trả được nợ Doanh nghiệp có thểvay vốn ngắn hạn nhưng lại dùng để mua sắm tài sản cố định và bất động sản Việc giánhà đất đột ngột giảm xuống làm doanh nghiệp kinh doanh nhà đất bị thua lỗ nặngkhông thể trả được nợ Ngân hàng Ngân hàng có phát mại tài sản thế chấp đi nữa cũngkhông đủ khoản cho vay vì tài sản thế chấp cũng là nhà đất nên cũng giảm giá trị
b Khách hàng không gian lận
Không chỉ khi khách hàng có ý không tốt Ngân hàng mới gặp rủi ro mà ngay cảkhi khách hàng đi vay có đủ tư cách, không có ý gian lận, Ngân hàng vẫn có thể gặprủi ro tín dụng Đó là khi khách hàng có trình độ kém, năng lực quản lý yếu, không cóđầu óc kinh doanh nên không thể đưa phương án kinh doanh của mình đạt hiệu quả,không thể đưa doanh nghiệp của mình thắng trong cạnh tranh nên việc trả nợ Ngânhàng là rất khó khăn
Ngoài ra, nếu doanh nghiệp bị lừa đảo trong kinh doanh hoặc bạn hàng củadoanh nghiệp gặp rủi ro thì Ngân hàng cũng gặp khó khăn trong việc thu nợ đúng hạn
Bên cạnh đó, nhiều nguyên nhân rủi ro khách quan như thiên tai, trộm cắp cóthể gây thiệt hại cho doanh nghiệp và có nguy cơ dẫn đến rủi ro tín dụng cho Ngânhàng
1.2.2.2 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng
Các khoản cho vay có vấn đề và các thiệt hại cho vay có thể xảy ra do sơ hở vềthủ tục trong nội bộ Ngân hàng Đây được gọi là các hoạt động cho vay không hoànhảo và nó xuất hiện do các nguyên nhân sau đây:
Trang 25- Do thông tin tín dụng không đầy đủ Ngân hàng có một cái nhìn không toàndiện về bản thân khách hàng cũng như tình hình tài chính của họ Điều đó dẫn đến sựsai lệch trong việc đánh giá hiệu quả của các khoản vay, cho vay quá khả năng chi trảcủa khách hàng.
- Trình độ chuyên môn của cán bộ Ngân hàng nói chung và của cán bộ tín dụngnói riêng còn hạn chế
Hiện nay nhiều cán bộ tín dụng Ngân hàng thiếu năng lực xử lý các thông tin tíndụng để bảo vệ và giám sát khoản vay Cán bộ tín dụng không có khả năng phân tíchthẩm định dự án; kiến thức thị trường, kiến thức xã hội cũng bị hạn chế nên nhều khicho vay mà không đánh giá được liệu dự án hay phương án đó có khả thi không
- Ngân hàng quá chú trọng về lợi tức, đặt mong muốn về lợi tức cao hơn cáckhoản cho vay lành mạnh, do vậy rủi ro của khoản vay càng cao
- Sự cạnh tranh không lành mạnh với các Ngân hàng khác để mong muốn có tỷtrọng cho vay nhiều hơn Cạnh tranh không lành mạnh ở đây có thể hiểu rằng Ngânhàng đã bỏ qua một số bước kiểm định các khoản cho vay, hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng,đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhằm lôi kéo khách hàng
- Hoạt động kiểm tra, kiểm soát chưa được tiến hành thường xuyên Nhân viêntín dụng không nắm bắt được tình hình tín dụng của khách hàng cũng như môi trườngtín dụng của nền kinh tế nên hoạt động sai sót, không nắm bắt kịp thời các khoản chovay có vấn đề
1.2.2.3 Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh
a Môi trường kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ đóng vaitrò quyết định đối với hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung và lĩnh vực kinhdoanh tiền tệ, tín dụng của các NHTM nói riêng
Chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ bao gồm các chính sách về kinh tế, tàichính tiền tệ, kinh tế đối ngoại Chỉ cần chính phủ thay đổi một trong các chính sáchtrên, lập tức sẽ có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
và người chịu tác động trực tiếp là các NHTM và hoạt động kinh doanh của Ngân hàngkhác nhau luôn gắn bó mật thiết với hoạt động của các doanh nghiệp Chính vì vậy nếuchính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ đúng đằn phù hợp với thực tiễn thì nó sẽ gópphần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp làm
ăn có hiệu quả, nhưng ngược lại cũng sẽ kìm hãm sự phát triển sản xuất kinh doanhlàm cho các doanh nghiệp gặp khó khăn thậm chí thua lỗ, phá sản
b Môi trường pháp lý
Trong hoạt động kinh doanh, song song với hoạt động mang tính kĩ thuật nghiệp
vụ và các hoạt động mang tính pháp lý như kí kết hợp đồng kinh tế, đầu tư tài chính tíndụng Tính pháp lý thể hiện ở các hoạt động kinh doanh luôn tiến hành dựa trên cácquy định pháp luật, hay noí cách khác bị giới hạn trong khuôn khổ pháp luật