Phân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thânPhân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thân
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI:
Quy luật từ những thay đổi về lượng chất vào
quá trình học tập của bản thân
HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN:
NGUYỄN LÊ KHÁNH LINH Lớp: ……IBL64ĐH - CTTT14G1……….; Mã sv: …100297… Khoa: ……Viện Đào Tạo Quốc Tế ……….
Khóa năm: 2023 - 2027
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: …Vũ Phú Dưỡng………
Thành Phố Hải Phòng - tháng 10 năm 2023
Không tìm th y m c nh p n o trong m c l c ấy mục nhập nào trong mục lục ục nhập nào trong mục lục ập nào trong mục lục ào trong mục lục ục nhập nào trong mục lục ục nhập nào trong mục lục.
Trang 2Không tìm th y m c nh p n o trong m c l c ấy mục nhập nào trong mục lục ục nhập nào trong mục lục ập nào trong mục lục ào trong mục lục ục nhập nào trong mục lục ục nhập nào trong mục lục.
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề Phép biện chứng duy vật Mac – Lenin là hệ thống tri thức lý luận của con người về những quy luật chung nhất của sự vận động phát triển của tự nhiên xã hội và tư duy nhằm xây dựng thế giới quan bằng phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học
và thực tiễn cách mạng Trong những quy luật của phép biện chứng duy vật từ quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi
về chất và ngược lại là một vấn đề cơ bản phổ biến về phương thức chung của quá trình vận động và phát triển của các sự vật hiện tượng trong tự nhiên xã hội
và trong tư duy của con người
Trong công cuộc mới đất nước tự đổi mới về giáo dục là một trong những yêu cầu cấp thiết được đặt lên hàng đầu Không chỉ đổi mới về quy mô chất lượng giảng dạy mà bản thân người học cũng phải chủ động làm mới mình để đáp ứng với yêu cầu học tập trong thời đại mới Người học nói chung và thế hệ sinh viên hiện nay nói riêng không chỉ kế thừa thành tựu của nền giáo dục nước nhà mà còn phải lĩnh hội những đặc sắc, những tiên tiến của nền giáo dục của các quốc gia khác cùng với việc nắm bắt dòng chảy công nghệ Quá nhiều yêu cầu đặt ra khiến những con
Trang 3người năng động ấy cũng khó lòng đạt được thành quả chỉ trong một sớm một chiều
Học tập là một quá trình tích lũy tri thức vô hạn, bản thân luôn có sự vận động và biến đổi không
ngừng Quá trình tích lũy tri thức ở mỗi người không giống nhau mà còn tùy thuộc vào khả năng tiếp thu mục đích và điều kiện học tập của mỗi người Bất kể quá trình tiếp thu diễn ra dù nhanh hay chậm, dù ít hay nhiều thì sự tích lũy về tri thức ấy đều khiến cho con người đạt đến những thay đổi nhất định Triết học gọi
đó là sự biến đổi về chất Sự vận động biến đổi trong quá trình học tập của con người có tính trật tự và mối liên hệ mang tính lặp lại diễn ra theo một quy luật cụ thể là “quy luật lượng chất”
Việc nhận thức đúng đắn khái niệm mối quan hệ biện chứng va ý nghĩa phương pháp luận của quy luật lượng chất là nền tảng lý luận làm cơ sở để con người vận dụng vào việc giải quyết các tình huống veef tự nhiên xã hội hoặc tư duy nhằm lý giải được sự vận động và phát triển của mọi sự vật hiện tượng để có những phương pháp và cách thức giải quyết một cách đúng đắn những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống cụ thể ở đây là vận dụng quy luật này vào quá trình học tập của sinh viên
Sau khi nhận được nhiệm vụ, em đã nghiên cứu về đề tài “Quy luật lượng chất và sự vận dụng quy luật lượng chất vào quá trình học tập của bản thân” để chuận bị kĩ lưỡng cho bản báo cáo môn Triết học Mác-Lênin.
2 Mục đích và đối tượng nghiên cứu
Với bài tiểu luận này em muốn làm nội dung cùng các
khía cạnh liên quan của quy luật lượng chất để từ đó giải quyết vấn đề sinh viên hiện nay vận dụng quy luâtk này như thế nào Đây là đề tài mang tính lí luận và ứng dụng thực tiễn đòi hỏi tầm nhìn tổng quát khả năng nắm bắt và vận dụng sâu sắc vào quá trình học tập của bản thân nói riêng và toàn thể sinh viên nói chung Vì vậy đối tượng nghiên cứu chính là các khía cạnh của quy luật lượng chất
và sự vận dụng quy luật này vào quá trình học tập của sinh viên hiện nay.
3 Phạm vi nghiên cứu
Dựa theo yêu cầu đề tài tiểu luận này chỉ giới hạn ở
phạm vi phân tích chuyển hóa lượng-chất và vận dụng quy luật lượng chất vào quá trình học tập của thế hệ sinh viên
ở thời đại hiện nay.
Trang 44 Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận được thực hiện với 2 phương pháp
nghiên cứu chính Đầu tiên, phương pháp luận duy vật biện chứng dựa trên những quan điểm về nhân sinh, quan thế giới quan sử dụng nguyên tắc của một hệ thống lý luận nhất định để giải quyết các vấn đề Thứ hai, phương pahps nghiên cứu lí thuyết là phương pháp thu thập phân tích và tổng hợp các thông tin tìm kiếm ở các nguồn tài liệu làm
cơ sở cho lí luận của đề tài.
PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ THUYẾT: QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT
1 Nội dung quy luật lượng – chất
Theo quan điểm Triết học Mác – Lênin, bất cứ một
sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm mặt chất và mặt lượng Hai mặt thống nhất hữu cơ với nhau trong sự vật hiện tượng Từ mối liên hệ giữa chất và lượng hình thành quy luật lượng – chất hay còn gọi là quy lâutj chuyển hóa từ sự thay đổi về chất và ngược lại Đây cũng là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật trong Triết học Mác-Lênin
Mỗi sư vật, hiện tượng là một thể thống chất và lượng nhất định, trong đó chất tương đối ổn định còn lượng thường xuyên biến đổi Sự biến đổi này tạo ra mâu thuẫn giữa lượng và chất Lượng biến đổi đến một mức độ nhất định và trong những điều kiện nhất định thì lượng phá vỡ chất cũ, mâu thuẫn giữa lượng và chất được giải quyết, chất mới được hình thành với lượng mới, nhưng lượng mới lại biến đổi và phá vỡ chất đng kìm hãm nó Quá trình tác động lẫn nhau giữa hai mặt:
Trang 5chất và lượng tạo nên sự vận động liê tục, từ biến đổi dần dần đến nhảy vọt, rồi lại biến đổi dần để chuẩn bị cho bước nhảy vọt tiếp theo Cứ căn cứ thế, quá trình động biện chứng giữa chất và lượng tạo nên cách thức vận động, phát triển của sự vật
Nói ngắn gọn hơn, bất cứ sự vật nào trong quá trình phát triển đều là quá trình biến đổi về lượng dẫn đến biến đổi về chất Biến đổi về lượng đến một mức nhất định sẽ dẫn đến biến đổi về chất, sản sinh chất mới Rồi trên nền tảng của chất mới lại bắt đầu biến đổi về lượng Biến đổi vè lượng là nền tảng và chuẩn bị tất yếu của biến đổi về chất Biến đổi về chất là kết quả tất yếu của biến đổi về lượng Quy luật biến đổi về chất và lượng cho trạng thái và quá trình phát triển của sự vật
Theo quan điểm của Triết học Mác-Lênin : “Bất kì
sự vật nào cũng là sự thống nhất giữa chất và lượng,
sự thay đổi dần dần về lượng vượt quá giới hạn của độ
sẽ dẫn đến thay đổi căn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời sẽ tác động trở lại tới
sự thay đổi của lượng.”
Quy luật lượng – chất hay còn gọi là quy lâutj
chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành
những sự thay đổi về chất và ngược lại là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật trong
Triết học Mác – Lênin, chỉ cách thức thay đổi lượng trong mỗi sự vận động, phát triển, theo đó sự phát triển được tiến hành theo cách thức thay đổi lượng trong mỗi sự vật dẫn đến chuyển hóa về chất của sự vật và đưa sự vật sang một trạng thái phát triển tiép theo
Ph.Ăng – ghen đã khái quát quy luật này :
“ Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức
độ nhất định, sẽ chuyển hóa thành những sự khác
— Ph.Ăng-ghen
2 Phân tích quy luật lượng – chất
a) Phạm trù “chất”
- Khái niệm : “Chất” là một phạm trù triết học dùng
để chỉ quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng ; là sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính, các yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng, làm cho sự vật
là nó mà không phải là cái khác
Trang 6“Chất” là sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính, các yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng, do đó, mỗi
“chất” được tạo thành từ vô số các thuộc tính cơ bản của sự vật, hiện tượng tùy thuộc vào từng mối liên hệ
cụ thể của sự vật, hiện tượng đó với sự vật , hiện tượng khác
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, đó là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính, yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng, nói lên sự vật, hiện tượng đó
là gì, phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác Mỗi
sự vật hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn
có, làm nên chính chúng Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác
Chất có tính khách quan, là cái vốn có của sự vật, hiện tượng, do những thuộc tính, những yếu tố cấu thành quy định Thuộc tính của sự vật là những tính chất, những trạng thái, những yếu tố cấu thành sự vật Đó là những cái vốn có của sự vật từ khi sự vật được sinh ra hoặc được hình thành trong sự vận động và phát triển của nó Tuy nhiên những thuộc tính vốn có của sự vật, hiện tượng chỉ được bộc lộ ra thông qua sự tác động qua lại với các sự vật, hiện tượng khác
Mỗi sự vật có rất nhiều thuộc tính trong đó mỗi thuộc tính lại biểu hiện một chất của sự vật Do vậy, mỗi sự vật có rất nhiều chất Chất và sự vật có mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời nhau Trong hiện thực khách quan không thể tồn tại sự vật không có chất và không thể có chất nằm ngoài sự vật Chất của sự vật được biểu hiện qua những thuộc tính của nó Nhưng không phải bất kỳ thuộc tính nào cũng biểu hiện chất của sự vật Thuộc tính của sự vật có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản
Những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại tạo thành chất của sự vật Chính chúng quy định sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển của sự vật, chỉ khi nào chúng thay đổi hay mất đi thì sự vật mới thay đổi hay mất đi Những thuộc tính của sự vật chỉ bộc lộ qua các mối liên hệ cụ thể với các sự vật khác Sự phân chia thuộc tính thành thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản cũng chỉ mang tính chất tương đối, tùy theo từng mối quan hệ Chất của sự vật không những quy định bởi chất của những yếu tố tạo thành mà còn bởi
phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành, nghĩa
là bởi kết cấu của sự vật Trong hiện thực các sự vật
Trang 7được tạo thành bởi các yếu tố như nhau, song chất của
chúng lại khác nhau
Mỗi sự vật có vô vàn chất: vì sự phân biệt giữa chất và
thuộc tính chỉ có ý nghĩa tương đối, song sự vật có vô
vàn thuộc tính nên có vô vàn chất Chất và sự vật
không tách rời nhau: chất là chất của sự vật, còn sự vật
tồn tại với tính quy định về chất của nó Chất biểu hiện
trạng thái tương đối ổn định của sự vật, là sự kết hợp
tương đối trọn vẹn, hoàn chỉnh, bền vững các thuộc
tính của sự vật, làm cho sự vật này không hòa lẫn với
sự vật khác mà tách biệt cái này với cái khác Chất
luôn gắn liền với lượng của sự vật
b) Phạm trù “lượng”
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định
vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ,
nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các
thuộc tính của sự vật Lượng là cái vốn có của sự vật,
song lượng chưa làm cho sự vật là nó, chưa làm cho nó
khác với những cái khác Lượng tồn tại cùng với chất
của sự vật và cũng có tính khách quan như chất của sự
vật Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn,
số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ
cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm,
“ Những lượng không tồn tại mà những sự vật có lượng hơn
nữa những sự vật có vô vàn lượng mới tồn tại ”
— Engels [2]
Trong thực tế lượng của sự vật thường được xác định
bởi những đơn vị đo lượng cụ thể như vận tốc của ánh
sáng là 300.000 km trong một giây hay một phân tử
nước bao gồm hai nguyên tử hydrô liên kết với một
nguyên tử oxy,… bên cạnh đó có những lượng chỉ có
thể biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát như
trình độ nhận thức tri của một người ý thức trách
nhiệm cao hay thấp của một công dân, trong những
trường hợp đó chúng ta chỉ có thể nhận thức được
lượng của sự vật bằng con đường trừu tượng và khái
quát hoá
Có những lượng biểu thị yếu tố kết cấu bên trong của
sự vật (số lượng nguyên tử hợp thành nguyên tố hoá
học, số lượng lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội) có
những lượng vạch ra yếu tố quy định bên ngoài của sự
Trang 8vật (chiều dài, chiều rộng, chiều cao của sự vật) Bản thân lượng không nói lên sự vật đó là gì, các thông số
về lượng không ổn định mà thường xuyên biến đổi cùng với sự vận động biến đổi của sự vật, đó là mặt không ổn định của sự vật
3 Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất theo quy luật lượng – chất.
a) “Độ”
- Khái niệm : Độ trong triết học là một khái niệm
quan trọng dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng không làm thay đổi cơ bản về chất của sự vật Đây là một khía cạnh quan trọng trong việc hiểu về bản chất và cấu trúc của hiện tượng tồn tại Mô
tả về độ giúp chúng ta nắm bắt sự biến đổi và sự phát triển của các hiện tượng xung quanh một cách sâu sắc
và chính xác
Độ trong triết học là một khái niệm sử dụng để chỉ khoảng giới hạn hoặc phạm trù trong đó sự thay đổi về lượng không làm thay đổi căn bản về chất của sự vật
Cụ thể, độ đề cập đến khoảng thời gian, không gian hoặc mức độ mà sự biến đổi xảy ra trong một sự vật
mà chưa làm thay đổi tính chất cốt lõi của nó
Ví dụ, khi nói về độ trong triết học, ta có thể nói về độ nhiệt độ của nước Nhiệt độ của nước có thể thay đổi
từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn ở 0 độ C Tuy nhiên, sự thay đổi này chỉ ảnh hưởng đến trạng thái của nước, chứ không làm thay đổi tổ chức và tính chất
cơ bản của nước
Độ trong triết học cũng có thể áp dụng vào các khía cạnh khác của sự vật, chẳng hạn như độ sáng tối của một không gian, độ dày của một tấm vật liệu, độ lớn của một sự kiện, và nhiều hơn nữa Điều quan trọng là
độ chỉ định một khoảng giới hạn, mức độ hoặc phạm trù trong đó sự biến đổi xảy ra nhưng không ảnh
hưởng đến bản chất cốt lõi của sự vật
Đó là cách mà độ trong triết học được hiểu và áp dụng trong lĩnh vực triết học Các triết gia sử dụng khái niệm này để thảo luận về các khía cạnh của sự vật và tìm hiểu các quy luật và nguyên lý tồn tại trong thế giới của chúng ta
-Mối liên hệ giữa quy luật lượng chất
và độ trong triết học :
Trang 9Quy luật lượng chất và độ trong triết học có mối liên
hệ chặt chẽ Quy luật lượng chất là nguyên lý căn bản trong triết học mà nói rằng các sự vật tồn tại không đổi về chất, tức là dù có có sự thay đổi về lượng, thành phần hay hình thức, sự thay đổi đó không làm thay đổi bản chất của sự vật đó
Độ là khái niệm dùng để chỉ khoảng giới hạn, khoảng cách mà sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật Độ được sử dụng để đo lường lượng của một đặc điểm hoặc thuộc tính, và nó có thể
áp dụng trong nhiều ngành khoa học và triết học Mối liên hệ giữa quy luật lượng chất và độ trong triết học là khi sự thay đổi về lượng không làm thay đổi căn bản về chất của một sự vật, ta có thể áp dụng khái niệm độ để đo lường và xác định khoảng giới hạn của
sự thay đổi đó Điều này giúp ta hiểu rõ hơn về sự biến đổi của một sự vật mà không làm thay đổi bản
Ví dụ, trong vật lý, khi ta đo lường nhiệt độ của một chất làm việc, ta sử dụng đơn vị độ Celsius hoặc độ Fahrenheit để xác định khoảng giới hạn nhiệt độ của chất Điều này cho ta biết rằng dù nhiệt độ có thay đổi, chất vẫn giữ nguyên bản chất và tính chất của nó Tóm lại, quy luật lượng chất và độ trong triết học có mối liên hệ với nhau Độ được sử dụng để đo lường và xác định khoảng giới hạn của sự thay đổi về lượng, trong khi quy luật lượng chất khẳng định rằng sự thay đổi về lượng không làm thay đổi căn bản về chất của
sự vật
b) Điểm nút
-Khái niệm : “điểm nút" dùng để chỉ giới hạn tại đó với những sự thay đổi của lượng trực tiếp dẫn đến những thay đổi về chất.
- i m nútĐiểm nút ểm nút l ph m trù tri t h c dùng à phạm trù triết học dùng để chỉ điểm ạm trù triết học dùng để chỉ điểm ết học dùng để chỉ điểm ọc dùng để chỉ điểm đểm nút ch i m ỉ điểm đ ểm nút
gi i h n m t i ó s thay ới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng Đà ĐỦ ạm trù triết học dùng để chỉ điểm à phạm trù triết học dùng để chỉ điểm ạm trù triết học dùng để chỉ điểm đ ự thay đổi về lượng Đà ĐỦ đổi về lượng Đà ĐỦ ề lượng Đà ĐỦ ượng Đà ĐỦ i v l ng à Điểm nút Điểm nútỦ
l m THAY à phạm trù triết học dùng để chỉ điểm Điểm nútỔI CĂN BẢN về chất của sự vật, hiện I C N B N v ch t c a s v t, hi n ĂN BẢN về chất của sự vật, hiện ẢN về chất của sự vật, hiện ề lượng ĐÃ ĐỦ ất của sự vật, hiện ủa sự vật, hiện ự thay đổi về lượng ĐÃ ĐỦ ật, hiện ện
tượng ĐÃ ĐỦ ng S thay ự thay đổi về lượng ĐÃ ĐỦ đổi về lượng ĐÃ ĐỦ ề lượng ĐÃ ĐỦ ượng ĐÃ ĐỦ i v l ng khi đạm trù triết học dùng để chỉ điểm ới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng ĐÃ ĐỦ đ ểm nútt t i “ i m nút”,
v i nh ng i u ki n nh t ới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng ĐÃ ĐỦ ững điều kiện nhất định tất yếu sẽ dẫn đến đ ề lượng ĐÃ ĐỦ ện ất của sự vật, hiện định tất yếu sẽ dẫn đến nh t t y u s d n ất của sự vật, hiện ết học dùng để chỉ điểm ẽ dẫn đến ẫn đến đết học dùng để chỉ điểm n
s ra ự thay đổi về lượng ĐÃ ĐỦ đời của chất mới thông qua “bước nhảy” căn ủa sự vật, hiện i c a ch t m i thông qua “bất của sự vật, hiện ới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng ĐÃ ĐỦ ưới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng ĐÃ ĐỦ c nh y” c n ảy” căn ăn
b n v ch t.ảy” căn ề lượng ĐÃ ĐỦ ất của sự vật, hiện
Ví dụ: Người học viên khi ra trường trở thành
người nhân viên chuyên môn kỹ thuật sẽ được bổ sung những yếu tố mới về mặt phẩm chất đạo đức, về năng lực chuyên môn… sẽ giúp người nhân viên biến đổi nhanh hơn về chất.
Trang 10(Nói nhanh cho nó dễ hiểu-nhưng không được ghi vào bài-thì: “Điểm nút” KHÔNG đánh dấu sự thay đổi hoàn toàn về chất của sự vật, hiện tượng mà CHỈ đánh dấu thời điểm sự vật, hiện tượng CÓ THỂ thực hiện bước nhảy làm thay đổi căn bản về chất CHỈ sau khi bước nhảy căn bản về chất ĐÃ được thực hiện XONG, khi đó, sự vật, hiện tượng mới thay đổi HOÀN TOÀN
về chất)
c) Bước nhảy
-Khái niệm : “bước nhảy’’ dùng để chỉ quá trình thay đổi về chất của sự vật diễn ra tại điểm nút.
Ví dụ, xét “nước” (H 2 0) nguyên chất, trong điều kiện
atmotphe ở trạng thái thể lỏng (chất) được quy định bởi lượng nhiệt độ (lượng) từ 0°C đến 100°C (độ) Khi lượng nhiệt độ biến thiên nằm ngoài khoảng giới hạn 0°C hoặc 100°C đó (điểm nút) thì tất yếu xảy ra quá trình biến đổi trạng thái của nước từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn hoặc khí (bước nhảy).
Bước nhảy là một phạm trù triết học được sử dụng để nói đến giai đoạn chuyển hóa về chất của sự vật bởi những thay đổi về lượng trước đó gây nên
Trong lịch sử của triết học, bởi tuyệt đối hóa tính dần dần, tính tiệm tiến của sự thay đổi về lượng nên những nhà triết học siêu hình đã hoàn toàn phủ nhận sự tồn tại của “Bước nhảy” Tuy nhiên, trong triết học Mác – Lenin cho rằng cần phải có “Bước nhảy” thì mới có thể giải thích sự vận động và phát triển của thực tế
Có thể phân loại hình thức của bước nhảy như sau: – Bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần: Sự phân chia này hoàn toàn dựa vào thời gian, tính chất về sự thay đổi của chất của sự vật
+ Bước nhảy đột biến xuất hiện khi chất của sự vật bị biến đổi một cách nhanh chóng ở tất cả các bộ phận
cơ bản cấu thành nên nó
+ Bước nhảy dần dần xuất hiện khi hoạt động thay đổi
về chất được tích lũy, diễn ra dần dần và lâu dài Những nhân tố của chất mới dần thay thế cho những nhân tố của chất cũ
– Bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ: Cách phân chia này dựa vào sự xuất hiện của số lượng bước nhảy tại bộ phận cấu thành sự vật