1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GÓP PHẦN TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH

151 1,2K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
Tác giả Hoàng Ngọc Vĩnh
Người hướng dẫn Th.S. Hoàng Ngọc Vĩnh
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Huế
Chuyên ngành Lý luận chính trị
Thể loại Tài liệu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 2,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GÓP PHẦN TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH Cuốn sách được hoàn thành chủ yếu dựa vào nội dung cuốn “Tập bài giảng chuyên đề tư tưởng triết học Hồ Chí Minh” của tác giả đã trực tiếp giảng dạy cho sinh viên Triết học K28 và K29 trong các năm học 20072008 và 20082009. Đặc biệt “Góp phần tìm hiểu tư tưởngtriết học Hồ Chí Minh” ra mắt lần này hầu hết là tập hợp các công trình nghiên cứu của tác giả đã được đăng tải trên các Tạp chí, Tập san nghiên cứu khoa học và các Kỷ yếu của các Hội thảo Khoa học trong những năm qua.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

HOÀNG NGỌC VĨNH

GÓP PHẦN TÌM HIỂU

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH

HUẾ, 2010

1

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU -***-

Để đáp ứng kịp thời yêu cầu học tập, nghiên cứu và tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và ôn thi hết học phần môn "Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh” của sinh viên chuyên ngành lý luận Mác-Lênin của các trường Đại học thuộc Đại học Huế, cùng những bạn đọc xa gần có quan tâm đến lĩnh vực này, chúng tôi biên tập và cho ra mắt cuốn "Góp phần tìm hiểu Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh”

Cuốn sách được hoàn thành chủ yếu dựa vào nội dung cuốn “Tập bài giảng chuyên đề tư tưởng triết học Hồ Chí Minh” của tác giả đã trực tiếp giảng dạy cho sinh viên Triết học K28 và K29 trong các năm học 2007-2008

và 2008-2009 Đặc biệt “Góp phần tìm hiểu tư tưởngtriết học Hồ Chí Minh”

ra mắt lần này hầu hết là tập hợp các công trình nghiên cứu của tác giả đã được đăng tải trên các Tạp chí, Tập san nghiên cứu khoa học và các Kỷ yếu của các Hội thảo Khoa học trongnhững năm qua.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song cuốn sách cũng không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp, đọc giả xa gần để cuốn sách ngày càng hoàn thiện hơn

Chân thành cảm ơn!

Th.s Hoàng Ngọc Vĩnh

2

Trang 3

Chương mở đầu: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP, ĐẶC ĐIỂM

NGHIÊN CỨU CỦA TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH

I ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP, ĐẶC ĐIỂM NGHIÊN CỨU CỦA TRIẾT HỌC

1 - Triết học

Theo quan niệm mác-xít thì “Triết học là một trong những hình thái ýthức xã hội, là khoa học nghiên cứu về những con đường chung nhất, nhữngnguyên tắc chung nhất, những biện pháp chung nhất của sự vận động và pháttriển của thế giới”

Triết học là một trong các hình thái ý thức xã hội ra đời khoảng thế kỷ

VI tcn, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, xét đến cùng triết học bị quyđịnh bởi đời sống vật chất của xã hội

Sự phát triển của các tư tưởng triết học bị quy định bởi sự phát triển củanền sản xuất vật chất và phải phụ thuộc vào sự phát triển của cuộc đấu tranhgiai cấp trong xã hội Triết học cũng chính là thế giới quan của những giai cấphoặc tập đoàn xã hội nhất định

Tuy vậy, triết học và sự phát triển của lịch sử triết học vẫn luôn có tínhđộc lập tương đối với đời sống vật chất của xã hội Bởi lẽ, triết học luôn cónhiều mối liên hệ, sự giao lưu tư tưởng khác nhau

Trong một phạm vi không gian, thời gian nhất định, sự giao lưu đó vượt

ra khỏi sự ràng buộc trực tiếp của đời sống vật chất của xã hội như các vấn đềliên quan đến: Nguồn gốc nhận thức của triết học; Nguồn gốc xã hội của triếthọc; Lôgic nội tại của các khuynh hướng và hệ thống triết học (Duy vật, duytâm, biện chứng, siêu hình); Mối quan hệ giữa triết học với các khoa học, vớicác tư tưởng khác

2 – Đối tượng nghiên cứu của triết học.

Từ khái niệm trên, triết học có đối tượng nghiên cứu là những con đườngchung nhất, những nguyên tắc chung nhất và những biện pháp chung nhất của

sự vận động và phát triển của thế giới

Tuy nhiên, trong lịch sử cho đến đầu thế kỷ XIX, loài người đã chưa xácđịnh đúng đối tượng nghiên cứu của triết học Các nhà triết học trong lịch sử đãquan niệm đối tượng nghiên cứu của các khoa học cụ thể đồng thời là đốitượng nghiên cứu của triết học

Quan niệm như vậy là đề cao triết học, làm cho triết học trở thành khoahọc đứng trên mọi khoa học Đồng thời đã hạ thấp triết học, vì không xác địnhđược đối tượng nghiên cứu riêng của triết học

Ngay cả Hêghen là người thành công nhất trong việc tách triết học thànhmột khoa học độc lập và sáng tạo ra ngành lịch sử triết học, nhưng do đứngtrên lập trường duy tâm khách quan nên ông cũng đã không làm cho triết họctrở thành một khoa học đích thực Mãi đến khi triết học Mác-Lênin ra đời thìtriết học mới thực sự là một khoa học độc lập đúng nghĩa

3

Trang 4

3- Phương pháp nghiên cứu của triết học

Trong từng trường phái, ở từng giai đoạn khác nhau, triết học có nhiềuphương pháp nghiên cứu cụ thể, nhưng chung nhất thì triết học có hai phươngpháp nghiên cứu cơ bản:

+ Phương pháp biện chứng: Xem xét sự vật hiện tượng trong mối liên hệphổ biến, quy định ràng buộc lẫn nhau, luôn vận động và luôn phát triển trongmâu thuẫn nội tại của chúng

Trong tiến trình vận động và phát triển của mình, phương pháp biệnchứng đã vận động đi từ thấp đến cao (biện chứng cổ đại, biện chứng duy tâm,biện chứng duy vật), mà đỉnh cao là biện chứng duy vật

+ Phương pháp siêu hình: Xem xét sự vật hiện tượng trong sự tách biệt

cô lập lẫn nhau, hoặc không vận động, hoặc không phát triển, hoặc vận động vàphát triển theo chu kỳ khép kín

Phương pháp siêu hình cũng đã trãi qua nhiều hình thức khác nhau trongtiến trình vận động và phát triển của mình, nhưng nhìn chung là hai hình thức

cơ bản: siêu hình duy vật và siêu hình duy tâm

4- Đặc điểm nghiên cứu của triết học

Khác với các khoa học cụ thể, khi nghiên cứu triết học cần chú ý các đặcđiểm sau:

- Triết học không mô tả thế giới một cách cụ thể, mà chỉ nghiên cứu thếgiới trong tính chỉnh thể, hệ thống và khái quát, nhằm chỉ ra bản chất của thếgiới

- Một tri thức được gọi là triết học phải bao gồm hai yếu tố: Nhận thức:

Phải thể hiện được một sự hiểu biết nhất định (nếu không nói là sự hiểu biết

uyên thâm) về thế giới Nhận định: Phải tỏ rõ được thái độ, hành vi, cách cư

xử, ứng xử, đối xử của con người với thế giới

- Triết học bao giờ cũng mang tính đảng Khi loài người có giai cấp, tínhđảng là một nguyên tắc cao nhất của triết học:

Theo quan điểm mác-xít, lịch sử triết học là lịch sử phát sinh, hình thành

và phát triển của triết học nói chung, của các khuynh hướng và hệ thống triếthọc khác nhau nói riêng trong sự phụ thuộc (suy đến cùng) của nó vào sự pháttriển của tồn tại xã hội Nội dung cơ bản của lịch sử triết học là cuộc đấu tranhcủa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Cuộc đấu tranh này xuyên suốt sựphát triển của triết học và nó phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội.Cuộc đấu tranh này cũng không tách rời cuộc đấu tranh giữa hai phương phápnhận thức biện chứng và siêu hình

+ Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau, vật chấtquyết định ý thức Chủ nghĩa duy vật thường là thế giới quan của lực lượngtiên tiến, tiến bộ của xã hội Chủ nghĩa duy vật khẳng định con người có khảnăng nhận thức thế giới Trong tiến trình phát trển từ cổ đại đến hiện đại, chủnghĩa duy vật đã trãi qua nhiều hình thức khác nhau Nhưng nói chung, nó đã

4

Trang 5

có các hình thức chủ yếu: Duy vật cổ đại; Duy vật tầm thường; Duy vật cơ họcmáy móc; Duy vật siêu hình nhân bản của Phơ bách; Duy vật biện chứng.

+ Chủ nghĩa duy tâm khẳng định ý thức có trước, vật chất có sau, ý thứcquyết định vật chất Chủ nghĩa duy tâm thường là thế giới quan của những lựclượng suy tàn, bảo thủ và phản động của xã hội Chủ nghĩa duy tâm thườngphủ nhận hoặc chỉ thừa nhận một cách rất hạn chế khả năng nhận thức thế giớicủa con người Khi họ thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới thìthực tế đó chỉ là sự tự nhận thức về ý thức của họ về thế giới mà thôi Trong sựphát triển của mình, chủ nghĩa duy tâm cũng đã trãi qua nhiều hình thức khácnhau Nhưng nói chung có hai hình thức cơ bản là duy tâm khách quan và duytâm chủ quan

- Khác với chủ nghĩa duy tâm (Tinh thần là động cơ của phát triển triết

học; phủ nhận sự phụ thuộc của triết học vào đời sống kinh tế-xã hội, phủ nhậntính giai cấp của triết học; phủ nhận những động lực vật chất-xã hội cho sựphát triển triết học ), lần đầu tiên trong lịch sử triết học, Mác là người đặt cơ

sở hiện thực cho lý luận về lịch sử triết học Sau này, trong điều kiện lịch sửmới, Lênin đã bảo vệ những quan điểm của Mác và Ăng ghen về vấn đề này

Lênin đã đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc tính Đảng của lịch sử triết học

là nguyên tắc bất di bất dịch, là cái vốn có của lịch sử triết học từ 2000 nămtrước đây

+ Lịch sử triết học mác-xít công khai trước sau như một, bảo vệ chủnghĩa duy vật trước sự tấn công của những kẻ thù địch với nó, phê phán có cơ

sở xã hội khách quan đối với mọi quan điểm của chủ nghĩa duy tâm trong lịch

sử triết học, nhất là với triết học tư sản hiện đại

Tuy nhiên, không vì thế mà tùy tiện, hời hợt, võ đoán trong việc nghiêncứu các dòng triết học tư sản hiện đại Ở đây, cần có bản lĩnh vạch rõ tất cảnhững gì phản động và phục vụ lợi ích riêng của các giai cấp, các tầng lớpphản động trong xã hội Đồng thời, còn phải biết thận trọng duy trì và bảo vệtất cả những gì tiến bộ, có giá trị trong mọi triết thuyết

+ Nguyên tắc tính Đảng trong lịch sử triết học mác-xít đối lập với mọibiểu hiện của chủ nghĩa giáo điều Nó đòi hỏi tính sáng tạo cao và quan điểmlịch sử cụ thể nghiêm túc Trong điều kiện ngày nay, càng nhận thức rõ hơn ýnghĩa của cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa giáo điều

+ Tính sáng tạo trong lịch sử triết học mác-xít hoàn toàn xa lạ với chủnghĩa xét lại và chủ nghĩa cơ hội đang mưu toan bóp méo, xuyên tạc các sựkiện lịch sử nhằm phục vụ ý đồ chính trị, thực tiễn của các giai cấp, các tầnglớp phản động hiện nay Sáng tạo trong lịch sử triết học mác-xít đóng vai tròquan trọng trong đánh bại các mưu toan đó, đưa lại bức tranh chân thực củalịch sử, thúc đẩy sự phát triển của triết học và tiến bộ xã hội

Ăng ghen chỉ rõ rằng, không nên đọc Hê ghen với mục đích duy nhất làtìm ra ở Hê ghen những điều ngộ biện - đó là công việc của một học sinh Điều

5

Trang 6

quan trọng hơn là dưới cái hình thức không đúng, và trong các quan hệ giả tạo,tìm ra cái đúng và cái thiên tài Chính quan điểm này mà Mác, Ăngghen đã tiếpthu được tất cả những gì có giá trị tiến bộ trong lịch sử phát triển của triết học

và sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng

Lênin cũng chỉ rõ, khi đặt vấn đề phê phán các trào lưu triết học phimác-xít, thì phải phê phán nó trên cơ sở phân tích khoa học Chính lẽ này, khiphê phán chủ nghĩa Cant và chủ nghĩa Makhơ, Lênin đã khiển trách nhữngngười đứng nhiều hơn trên lập trường của chủ nghĩa duy vật tầm thường để phêphán chủ nghĩa Cant Lênin cho rằng, lối phê phán như thế chỉ biết vất bỏnhững lý luận của phái đó, mà không biết sửa sai cho những lập luận ấy, khôngđào sâu, không khái quát hóa và mở rộng chúng, không nêu rõ được mối liên

hệ và những chuyển tiếp của mọi thứ khái niệm Lênin cũng cho rằng, nhữngnhà triết học duy vật siêu hình khi phê phán chủ nghĩa duy tâm, đã không thấy

rõ nguồn gốc nhận thức luận của nó

Như vậy, với lịch sử triết học Mác-Lênin, mọi sự phân tích có phê phánmọi trường phái triết học duy tâm, đòi hỏi phải vạch ra một cách cụ thể chínhnhững giới hạn, những khía cạnh của nhận thức mà mọi sự tách rời chúng khỏivật chất và tuyệt đối hóa chúng một cách phiến diện đã dẫn đến sự xuất hiệnmột trào lưu duy tâm chủ nghĩa nào đó

II/ VAI TRÒ Ý NGHĨA CỦA LỊCH SỬ TRIẾT HỌC MÁC-XÍT.

Lịch sử triết học mác-xít cho ta khả năng hiểu biết và khái quát sự pháttriển của lịch sử tư tưởng triết học nhân loại, nắm được những kinh nghiệm củanhận thức khoa học Lịch sử triết học mác-xít chỉ rõ sự hình thành và phát triểncủa những phương pháp nhận thức khoa học; Dạy ta phương pháp nghiên cứu,đánh giá một học thuyết triết học trong lịch sử, góp phần xây dựng phươngpháp tư duy khoa học

Góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh tư tưởng và lý luận hiện nay Lịch

sử triết học chỉ rõ quá trình đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duytâm, chỉ rõ tính đúng đắn, tiến bộ của thế giới quan duy vật chủ nghĩa và tínhhạn chế, phản khoa học của thế giới quan duy tâm chủ nghĩa

Bằng các sự kiện lịch sử và sự phân tích khoa học, lịch sử triết học xít giúp ta chống lại sự xuyên tạc của triết học tư sản đối với chủ nghĩa duy vật,nhất là đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng; Giúp ta chống lại chủ nghĩa cơhội nhằm biện hộ cho chủ nghĩa tư bản; Giúp ta vạch rõ các thủ đoạn xảo trátrong việc đánh giá vô căn cứ về các nhà triết học tiến bộ nhăm hạ thấp vai tròcủa họ, cũng như việc tâng bốc một số nhà triết học phản động về mặt lịch sử

mác-Lịch sử triết học mác-xít đặt cơ sở khoa học cho việc tiếp tục nghiên cứu

và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng, đó là triết học của đời sống thựctiễn, và cũng chỉ có đời sống thực tiễn mới làm cho triết học phát triển

Lịch sử triết học mác-xít đóng vai trò quan trọng trong việc đánh bại cácmưu toan của chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội đưa lại

6

Trang 7

bức tranh chân thực của lịch sử, thúc đẩy sự phát triển của triết học và do đóthúc đẩy các quá trình nhằm đạt tới tiến bộ xã hội.

III/ ĐỐI TƯỢNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM

1 Đối tượng nghiên cứu của lịch sử tư tưởng triét học Việt nam.

Bất cứ môn khoa học nào cũng phải xác định được đối tượng và phạm vinghiên cứu riêng của mình

- Ở Việt Nam, trong lịch sử do mối quan hệ khăng khít giữa các ngànhVăn, Sử, Triết mà rất khó phân định ranh giới giữa chúng Thậm chí người tacòn thấy chúng thống nhất với nhau bởi “đạo”

Trong sự thống nhất đó, cần phải thấy rằng triết học là cốt lõi của “đạohọc”, văn là phương châm để chuyên chở “đạo”, là phương tiện để truyền bá

“đạo”, còn sử học là lĩnh vực dùng sự kiện để chứng minh cho “đạo” Đạo ởđây không được đồng nhất nó với Đạo Nho, đạo Phật hay đạo Lão, mà đạođược đề cấp đến chủ yếu với tư cách là “đạo người”

Có sự gần gũi giữa lịch sử tư tưởng và lịch sử triết học, nhưng hai mônnày không phải là một: Triết học là thuộc về tư tưởng, nhưng còn nhiều tưtưởng không là tư tưởng triết học

- Hiện có nhiều ý kiến khác nhau về môn học “Lịch sử tư tưởng triết họcViệt Nam” Có ý kiến coi đây là môn lịch sử triết học, có ý kiến coi đây là mônlịch sử tư tưởng Cũng có ý kiến coi đây là môn lịch sử ý thức hệ Thậm chí có

ý kiến cho rằng Việt Nam làm gì có triết học

Chúng ta cần xác định môn học này không phải là môn lịch sử tư tưởngnói chung, cũng không phải là môn lịch sử của các tư tưởng trong ý thức hệ

Đây phải là môn học mà nội dung cơ bản của nó là lịch sử triết học và những

tư tưởng có quan hệ mật thiết với tư tưởng triết học.

Việt Nam trong lịch sử, tuy triết học không phát triển, nhưng đã có tưtưởng triết học của mình Nhưng phải thấy rằng những lý luận ở mức độ kháiquát, những lý luận giữ vai trò thế giới quan chung và phương pháp luận chocác lĩnh vực hoạt động tinh thần và hoạt động thực tiễn dựng nước và giữ nước

đã hình thành và phát triển Những tư duy đó chưa đạt tới trình độ tư duy triếthọc thực thụ, nhưng đã vượt qua giai đoạn tiền triết học Nó chưa là triết họcthuần tuý, nhưng nó đã đề cập đến một số vấn đề của bản thân triết học Ở đó

nó không còn là tư tưởng chung chung nữa mà nó đã là tư tưởng triết học

Năm 1981, trong Nghị quyết của Bộ chính trị về chính sách khoa học và

kỹ thuật đã chỉ ra phải: “Nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học của dân tộc và

sự thắng lợi của tư tưởng triết học Mác-Lênin ở Việt Nam”1

Đối tượng nghiên cứu của lịch sử tư tưởng Việt Nam như vậy phải bao gồm các vấn đề sau: Tiền triết học, tư tưởng triết học, triết học, những tư tưởng chính trị-xã hội gắn bó hữu cơ với triết học Tức là những nội dung xoay

1 LSTTVN - Tập 1 - Nhà xuất bản KHXH - HN 1993 - Tr 13

7

Trang 8

quanh cái trục triết học và thể hiện lên các mức độ phát triển của triết học ViệtNam Người nghiên cứu phải lựa chọn lấy một trong số đó.

- Cần thấy rằng, Việt Nam ở vào giữa Ấn Độ và Trung Quốc là hai nôitriết học của nhân loại, nhất định phải chịu ảnh hưởng tư tưởng triết học củahai quốc gia đó Mặt khác, lịch sử Việt Nam là một quốc gia văn minh hùngcường chúng ta phải có một trình độ lý luận, một tư duy khái quát ngang tầmvới mỗi thời đại Có những nguyên nhân chủ quan và khách quan riêng, nhưngrất tiếc cho đến nay lịch sử chưa đúc kết tư duy lý luận của Việt Nam thànhnhững hệ thống triết học

Triết học phương Đông chủ yếu bàn về nhân sinh quan, ít bàn đến thếgiới quan Ngay cả khi bàn về nhân sinh quan, thì triết học Trung Quốc chútrọng đến đạo đức, chính trị-xã hội, còn triết học Ấn Độ lại chú trọng đến đờisống tâm linh nhiều hơn Giải thoát luận luôn là khuynh hướng nổi trội tronglịch sử triết học Ấn Độ, đặc biệt ở giai đoạn cổ-trung đại Triết học phươngĐông là sự phản tỉnh của đời sống nhân sinh, chứ không chỉ là sự phản tỉnh của

tự ý thức

Triết học phương Đông có sự đan xen rất khó phân biệt giữa duy tâm vàduy vật, giữa biện chứng và siêu hình, giữa vô thần và hữu thần, trong đó triếthọc Ấn Độ là sự đan xen, hòa đồng giữa những tư tưởng triết học với những tưtưởng tôn giáo Sự đan xen thể hiện rõ ngay trong mỗi nhà triết học, mỗitrường phái và mỗi hệ phái triết học trong mỗi thời đại

Ấn Độ và Trung Quốc là hai trung tâm triết học lớn của các dân tộcphương Đông cổ đại nói chung và các dân tộc châu Á nói riêng Tính đa dạng,phong phú, sâu sắc của nền triết học phương Đông nói lên rằng: Bất cứ một sựcoi thường nào về nền văn hóa và tư tưởng của các dân tộc châu Á đều là chủquan trong khoa học về lịch sử, là cắt xén lịch sử, do đó sẽ không thấy đượctính đa dạng trong sự thống nhất của lịch sử tư tưởng triết học nhân loại

Những tư tưởng triết học Ấn Độ và Trung Quốc du nhập vào Việt Nam,dần hòa quyện vào tư tưởng và văn hóa dân tộc Lịch sử triết học cho thấy cầnphải xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa “cái dân tộc“ và “cái quốc tế“, làm chonhững tư tưởng triết học của Việt Nam ngày càng phong phú, sống động hơntrong mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển chung của thế giới, nhằm đạt tớimột nền văn minh hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc

- Đi vào cụ thể: Việt Nam chưa xuất hiện các khái niệm “vật chất”, “tinhthần”, tư duy”, “tồn tại”, “biện chứng”, “siêu hình” như phương Tây, nhưng lại

có các phạm trù và các vấn đề tương đương: “trời-người”, “hình-thần”,

“tâm-vật”, “hữu-vô”, ‘lý-khí” thuộc về vấn đề cơ bản của triết học; “tĩnh-động”,

“thường-biến”, “pháp cổ (bắt chước cổ)”, “pháp tiên vương (bắt chước vua đời

trước)”, “thuận lẽ trời, thuận lòng người” thuộc về phương pháp tư duy; có các

quan niệm về đường lối trị nước, về trị-loạn, về thành-bại, về quan hệ vua-dân

thuộc về triết học về xã hội; có quan niệm về bản chất con người, về đạo làm

8

Trang 9

người, về xây dựng con người, về chuẩn mực đạo đức con người thuộc về triết

học về con người

Đó cũng chính là đối tượng và phạm vi nghiên cứu của môn Lịch sử tưtưởng Việt Nam mà không thể nhầm nó với đối tượng và phạm vi nghiên cứucủa Chính trị học, Luật học, Văn học hay Sử học

2 Đặc điểm nghiên cứu của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam.

Cần phải xác định rõ rằng: Tư tưởng triết học Việt Nam dù được hìnhthành trên cơ sở bản địa hay được kế thừa từ ngoài vào, tất cả đều trải qua mộtquá trình vận động và phát triển ở Việt Nam, đều bị thực tiễn Việt Nam chiphối nên nó có những nét đặc trưng, khác biệt

- Chủ nghĩa yêu nước là đặc trưng cơ bản nhất của lịch sử tư tưởng triếthọc Việt Nam Ở đây không xét chủ nghĩa yêu nước trên phương diện tìnhcảm, tâm trang, tâm lý hay chuẩn mực đạo đức, hiện tượng đạo đức, hành vi

đạo đức mà xét chủ nghĩa yêu nước trên phương diện lý luận Tức phải xét nó

trên phương diện tư tưởng chính trị-xã hội hoặc quan điểm triết học về xã hội.Chủ nghĩa yêu nước phải được đề cập đến với tư cách là một hệ thống những

lý luận, những quan điểm về đánh giặc giữ nước và phát triển đất nước

Lịch sử thế giới cho thấy có nhiều dân tộc có chủ nghĩa yêu nước củamình, nhưng ít thấy có dân tộc nào khác có chủ nghĩa yêu nước như dân tộc

Việt Nam được xét đến ở tất cả các phương diện: ý thức trách nhiệm về nòi

giống, về cộng đồng, về dân tộc; những nhận thức về con đường, biện pháp đấu tranh giải phóng dân tộc, về động lực và khả năng dành lại lãnh thổ và xây dựng đất nước, về quan hệ giữa dân tộc và dân tộc.

- Về kết cấu của tư tưởng, thế giới quan của triết học Việt Nam là thếgiới quan phức hợp, là một thể kết hợp của Nho-Phật-Lão Cùng bàn về nhânsinh quan, nhưng Nho, Phật, Lão đã tạo ra ba thế mạnh khác nhau Phật nặng

về tâm linh, tình cảm tôn giáo; Nho nặng về chính trị, đạo đức; Lão lại chủtrương tự nhiên Sự hội nhập Nho-Phật-Lão đã tạo ra một hiện tượng đặc biệttrong đời sống tư tưởng văn hóa các dân tộc Á Đông, và nó đã bổ túc cho nhautạo ra một thế giới quan “hỗn dung“,”tổng hợp“ - tức là một thế giới quan triếthọc toàn diện hơn

- Về khuynh hướng của tư duy, thế giới quan triết học Việt Nam nặng về

vấn đề xã hội và nhân sinh, mà ít quan tâm đến vấn đề tự nhiên và các hình

thức tư duy của con người

Nó chú trọng xây dựng lý lẽ cho chính trị-xã hội và luân lý, mà ít bàn

đến quan hệ khách thể và chủ thể giữa các thành phần của tư tưỏng để hìnhthành nhận thức luận và lôgíc học

Nó thiên về giáo dục đạo làm người hơn là cung cấp cho con người

những nhận thức mới về thế giới khách quan bên ngoài cũng như thế giới nộitâm

9

Trang 10

Nó thường xuất phát từ những định đề có sẵn hơn là từ sự phát triển của

thực tế khách quan để khái quát lên thành các nguyên lý khác trước làm cơ sởcho luận chứng

Tương ứng với “phương thức sản xuất kiểu châu Á” của Việt Nam là thế

giới quan phong kiến ấy Thế giới quan này là phản ánh của thực trạng phương

thức sản xuất làm cho công thương nghiệp không phát triển, khoa học tự nhiênkhông xuất hiện, tầng lớp trí thức tự do không thể ra đời của lịch sử phong kiếnViệt Nam

- Về quá trình phát triển, thế giới quan triết học Việt Nam trong phạm trùcủa chủ nghĩa phong kiến tuy có phát triển nhưng trong trạng thái khủng hoảngkéo dài: Lúc đầu là những ý niệm thô sơ chất phác của con người bản địa vềthế giới quan và nhân sinh quan, về sau là sự du nhập từ ngoài vào như Nho,Phật, Lão và sau cùng là sự trưởng thành của chế độ phong kiến Việt Nam

Thế giới quan này ban đầu đáp ứng được yêu cầu của công cuộc dựngnước và giữ nước của Việt Nam Nhưng chẳng bao lâu nó trở nên lúng túngtrước những thay đổi của các vấn đề kinh tế-xã hội và chính trị-xã hội của đấtnước từ thế kỷ XVI trở đi

Sự bế tắc cuả thế giới quan biểu hiện trong việc đặt lại vấn đề theo đạonày hay theo đạo kia, hay kết hợp cả ba đạo để trị nước, sự phục hồi khắcnghiệt của Nho giáo ở triều Nguyễn v.v Sự bế tắc đó cũng thể hiện trong thái

độ của nhân dân đối với hệ tư tưởng thống trị của xã hội (sự đả kích châm biếmcủa nhân dân đối với một số giáo điều của Nho giáo hoặc Phật giáo)

Mãi cuối thế kỷ XIX, Việt Nam mới có Nguyễn Trường Tộ do được tiếpxúc với thế giới quan tư bản chủ nghĩa, nên trong các điều trần của mình đã lêntiếng phê phán thế giới quan phong kiến

Rồi đầu thế kỷ XX, với phong trào Đông kinh nghĩa thục ở Hà Nội tamới có sự phê phán truyền thống tư tưởng cũ với mức độ tập trung và sâu sắchơn, nhưng vẫn chưa phá vỡ được tư tưởng phong kiến bảo thủ, trì trệ

Mãi đến khi giai cấp công nhân Việt Nam trở thành người đại diện chođất nước và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, thì thế giới quan phong kiến mới

bị loại trừ, thế giới quan mới khoa học và cách mạng mới được xây dựng vàphát triển ở Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam.

- Phương pháp nghiên cứu xuyên suốt là phép biện chứng duy vật Bởiphép biện chứng duy vật là phương pháp luận khoa học nhất, nó có nhiều khảnăng giải quyết một cách hợp lý nhất những vấn đề do bộ môn lịch sử triết họcđặt ra Chỉ trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì mới có điều kiệnlàm sáng tỏ các vấn đề: hiện tượng tư tưởng, trào lưu tư tưởng, cá nhân nhà tưtưởng, mới có khả năng giải thích tốt các mối quan hệ: Tư duy và tồn tại,lôgíc và lịch sử, cá nhân và xã hội, kế thừa và sáng tạo, cái bản địa và cái ngoại

10

Trang 11

lai, mới có triển vọng trình bày lịch sử tư tưởng như một quá trình phát triểnhợp quy luật.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã giúp các nhà khoa học tạo nên môhình, những dạng thức mẫu mực cho việc nghiên cứu lịch sử triết học châu Âu.Nhưng nếu áp dụng nguyên xi nó vào nghiên cứu lịch sử triết học phươngĐông và đặc biệt là lịch sử tư tưởng Việt Nam thì lại là một việc làm gượng ép,thậm chí là một việc làm sai lầm làm nghèo nàn tư tưởng dân tộc

Mô hình và dạng thức nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam phải lànghiên cứu các vấn đề về triết học xã hội, về đường lối trị nước, về đạo làmngười, mà không nên trình bày lịch sử tư tưởng Việt Nam cũng theo các vấn

đề bản thể luận, nhận thức luận, cũng tập trung vào các trường phái duy vật,duy tâm, kinh nghiệm, v.v

- Đứng ở góc độ phương pháp, thì các triết thuyết Trung Quốc đặc biệtquan tâm đến đời sống thực tiễn chính trị-xã hội, trong khi đó triết học Ấn Độlại thiên về siêu hình học và tôn giáo Triết học phương Đông, nhất là triếthọc Ấn Độ, mà nổi bật nhất là triết học Phật giáo đã bao hàm những tư tưởngbiện chứng sâu sắc Nhưng với tư cách là biện chứng của sự phát triển thì về cơbản nó chưa đề cập tới

Tam giáo là một trong những nguồn gốc của tư tưởng triết học ViệtNam Nhưng không thể vì lịch sử tư tưởng Việt Nam “lấy gốc từ tam giáo”,

“vận dụng tam giáo”, mà lại đi trình bày lịch sử tư tưởng dân tộc như là lịch sử

phát triển của tam giáo Phạm trù triết học Việt Nam tuy chưa phát triển đầy

đủ, chưa hoàn chỉnh, chưa trở thành một hệ thống vững chắc nhưng nó rất quan trọng Vì vậy, trong những trường hợp có thể cần tập trung trình bày

những khái niệm triết học hoặc có tính triết học trong lịch sử tư tưởng dân tộc.Những khái niệm trời-người, tâm-vật, trị-loạn, nhân nghĩa, phải có vai trò nổibật

Trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam khi gặp những khái niệm,phạm trù cùng loại hoặc có nguồn gốc xa xưa từ các khái niệm, phạm trù củalịch sử triết học Trung Quốc hay Ấn Độ, thì phải so sánh để thấy được sự khácbiệt, sự phát triển so với gốc của nó, so với người bạn đồng tông của nó ở các

hệ thống kia

Tuy nhiên, không thể lúc nào cũng truy về nguồn, cũng so sánh Phương

pháp quan trọng trong nghiên cứu không phải là so sánh mà là phân tích Phải

phân tích mới thấy được ý nghĩa của các khái niệm ấy và giá trị của những nộidung ấy F.Enghen viết: “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại nàysang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi đến mức chúngthường trái ngược hẳn nhau.”2

Là một môn khoa học, lịch sử tư tưởng Việt Nam chỉ có thể nêu lên mộtyêu cầu quán xuyến là trình bày sự phát triển của tư tưởng phù hợp với quy

2 C.Mác - Ăngghen - Tuyển tập - Tập V - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1983 - Tr 134 S đ d trang 28

11

Trang 12

luật, quy luật tác động qua lại giữa tồn tại và ý thức, quy luật phát triển của tựbản thân tư tưởng Nếu quả là có một dòng tư tưởng chủ đạo thì nó phải là kếtquả trải qua nghiên cứu chứ không là định đề có sẵn.

- Cuộc đấu tranh trong lịch sử tư tưởng Việt Nam xung quanh vấn đề cơbản của triết học là không trực diện, không rõ Nhưng nếu muốn tránh sự trìnhbày một chiều, đơn điệu, không phù hợp với thực tế và phải làm rõ những giátrị tư tưởng của lịch sử tư tưởng Việt Nam thì phải trình bày và phân tích nóthông qua các mặt đối lập và thấy rằng: Các quan điểm khách quan, duy vậtbiện chứng, vô thần, dân chủ và độc lập thường là tiếng nói của các lực lượngtích cực trong lịch sử, còn các quan điểm chủ quan, duy tâm, siêu hình, hữuthần, chuyên chế và lệ thuộc thường là tiếng nói của các lực lượng tiêu cựctrong lịch sử

- Phân kỳ là một vấn đề quan trọng có ý nghĩa phương pháp luận trong

to lớn trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam Đây cũng chính là vấn đềhiện đang được các nhà tư tưởng quan tâm và có nhiều ý kiến khác nhau Ta cóthể phân kỳ lịch sử theo các triều đại, các thế kỷ, các sự kiện chính trị-xã hội,các hình thái kinh tế-xã hội, nhưng hợp lý hơn cả là phân kỳ theo hình tháikinh tế-xã hội

Nhưng lịch sử Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám 1945 không xuấthiện các cuộc cách mạng xã hội, chính vậy mà việc phân kỳ lịch sử Việt Namcần phải kết hợp các mốc là hình thái kinh tế-xã hội với các mốc là sự kiệnchính trị-xã hội lớn của lịch sử Việt Nam

IV ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐẶC ĐIỂM NGHIÊN CỨU

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH

4.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH

4.1.1 Khái niệm tư tưởng và tư tưởng Hồ Chí Minh

a) Khái niệm tư tưởng

- Khái niệm tư tưởng

+ Hiểu theo nghĩa phổ thông, tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ýthức, là biểu hiện quan hệ của con người với thế giới xung quanh (thôngthường người ta cũng quan niệm tư tưởng là suy nghĩ hoặc ý nghĩ)

+ Khái niệm “tư tưởng” trong “Tư tưởng Hồ Chí Minh” không phải dùng

với nghĩa tinh thần - tư tưởng, ý thức tư tưởng của một cá nhân, một cộng

đồng, mà với nghĩa là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm

được xây dựng trên một nền tảng thế giới quan và phương pháp luận (nền tảng triết học) nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc, được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

+ Khái niệm “tư tưởng” thường liên quan trực tiếp đến khái niệm “nhà tưtưởng”

12

Trang 13

Theo từ điển tiếng Việt, “nhà tư tưởng” là những người có những tư

tưởng triết học sâu sắc

Lênin cũng đã lưu ý rằng: Một người xứng đáng là nhà tư tưởng khi nàobiết giải quyết trước người khác tất cả những vấn đề chính trị - sách lược, cácvấn đề về tổ chức, về những yếu tố vật chất của phong trào không phải mộtcách tự phát

Với hai khái niệm trên chúng ta có thể khẳng định Hồ Chí Minh là mộtnhà tư tưởng thực thụ và tư tưởng của Người đã hàm chứa những tư tưởng triếthọc có vị trí, vai trò và tầm quan trọng to lớn đối với sự nghiệp cách mạng củadân tộc Việt Nam

b) Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

- Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được địnhnghĩa tại Đại hội VII và được hoàn chỉnh thêm ở Đại hội IX

- Tuy nhiên, tư tưởng Hồ Chí Minh đã xuất hiện trên vũ đài chính trị thếgiới từ rất sớm Ở góc độ lý luận (có tác phẩm và có ảnh hưởng đối với một bộphận dân cư nhất định) có thể thấy tư tưởng Hồ Chí Minh đã xuất hiện và ngàycàng hoàn thiện theo các mốc sau: 1919 với “Bản yêu sách tám điểm”, 1927với “Đường kách mệnh”, 1930 với “Cương lĩnh đầu tiên của Đảng”, 1945 với

“Tuyên ngôn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”,

1991 là thời điểm chín muồi về bối cảnh quốc tế và trong nước cho sự rađời khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

- Định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta chỉ rõ:

1 Bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống lý luận phản ánh nhữngvấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam

2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm những vấn đề có liên quan đếnquá trình phát triển từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xãhội chủ nghĩa

3 Chỉ ra nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh: đó là chủ nghĩaMác - Lênin, truyền thống dân tộc, trí tuệ thời đại

4 Mục tiêu của tư tưởng Hồ Chí Minh là giải phóng giai cấp, giải phóngdân tộc, giải phóng con người

- Từ đó (1991) cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều địnhnghĩa khác nhau về tư tưởng Hồ Chí Minh ở các góc độ của mỗi khoa học cụthể Tuy nhiên, từ định hướng của ĐH IX, ở khoa học lý luận thì định nghĩasau đây của Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình Quốc gia các

bộ môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh được in trong Giáo trình

“Tư tưởng Hồ Chí Minh”, dùng trong các trường Cao đẳng và Đại học, năm

2003 (dù đang vận động) được coi là khá hoàn thiện nhất cho đến ngày nay

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN; là kết quả sự vận dụng sáng tạo và phát triển

13

Trang 14

CNMLN vào điều kiện cụ thể của nước ta; đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người” 3

- Dù định nghĩa theo cách nào, thì tư tưởng Hồ Chí Minh đều được nhìnnhận với tư cách là một hệ thống lý luận Hiện đang tồn tại hai phương thứctiếp cận hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh:

1 Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống tri thức tổng hợp gồm: tư tưởng triếthọc, tư tưởng kinh tế, tư tưởng chính trị, tư tưởng quân sự, tư tưởng đạo đức-văn hóa-nhân văn

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm về cách mạng ViệtNam: tư tưởng về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về CNXH

và con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam; về Đảng Cộng sản Việt Nam; vềđại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế; về dân chủ và Nhà nước của dân, dodân, vì dân; về văn hóa và đạo đức

Khi thể hiện cuốn sách này, tác giả tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh theophương thức thứ 2, nhằm giới thiệu với người đọc những nội dung sau:

1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dântộc

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đường quá độ lên CNXH ởViệt Nam

3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản Việt Nam

4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế

5 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và xây dựng Nhà nước của dân, dodân, vì dân

6 Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, đạo đức và xây dựng con ngườimới

- Tư tưởng Hồ Chí Minh như vậy là một bộ phận cấu thành nền tảng tưtưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và của nhân dân ta Tưtưởng Hồ Chí Minh đã đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta vượt qua muôntrùng khó khăn để đi đến những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử vĩ đại và có tínhthời đại sâu sắc

- Tư tưởng Hồ Chí Minh như vậy là một hệ thống lý luận, có cấu trúclôgic chặt chẽ và có hạt nhân cốt lõi, đó là tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ

và chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải

phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người

- Không chỉ ở Việt Nam mà ở cả nhiều nước trên thế giới, nhiều chínhkhách, nhiều nhà nghiên cứu đã nhìn nhận và khẳng định Hồ Chí Minh là mộtnhà tư tưởng, một nhà lý luận cách mạng độc đáo

3 Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003, trang 19.

14

Trang 15

Tóm lại tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh từ góc độ ấy chính là góp phầnlàm rõ tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh.

4.1.2 Đối tượng nghiêm cứu của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Từ khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh đã nêu trên, đối tượng nghiên cứucủa môn học là:

- Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh gắn liền với haicuộc cách mạng ở Việt Nam

- Sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênnin của Hồ ChíMinh vào Việt Nam

- Sự kết tinh tinh hoa văn hoá dân tộc và trí tuệ thời đại của Hồ Chí Minh

Cả ba nhóm đối tượng đó đều nhằm mục đích giải phóng dân tộc, giảiphóng giai cấp và giải phóng con người

(Có thể tiếp cận đối tượng của môn học như Giáo trình Tư tưởng Hồ ChíMinh: Đối tượng của môn học bao gồm hệ thống quan điểm, quan niệm, lýluận về cách mạng Việt Nam trong dòng chảy của thời đại mới, mà cốt lõi là tưtưởng về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH

Hệ thống ấy, không chỉ được phản ánh trong các bài nói, bài viết mà cònđược thể hiện qua quá trình chỉ đạo thực tiễn phong phú của Người, được ĐảngCộng sản Việt Nam vận dụng, phát triển sáng tạo qua các thời kỳ cách mạng)

4.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH

2.1 Cơ sở phương pháp luận (phương pháp chung)

CNDVBC và các quan điểm có giá trị phương pháp luận của Hồ Chí Minh

là thế giới quan và phương pháp luận của môn học Tư tưởng triết học Hồ ChíMinh

a) Đảm bảo sự thống nhất nguyên tắc tính Đảng và tính khoa học.

+ Đứng vững trên lập trường của CNMLN và quan điểm, đường lối củaĐảng CSVN để nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

+ Phải đảm bảo tính khách quan cần nắm vững các quan điểm có giá trịphương pháp luận của Hồ Chí Minh khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

+ Tính Đảng và tính khoa học thống nhất với nhau trong sự phản ánh trungthực, khách quan tư tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở lập trường, phương pháp luận vàđịnh hướng chính trị

b) Quan điểm thực tiễn và nguyên tắc lý luận gắn liền với thực tiễn

+ Quan niệm của CNMLN thực tiễn là tiêu chuẩn, thước đo kiểm tra chân

lý Giữa thực tiễn và lý luận là mối quan hệ biện chứng

+ Hồ Chí Minh luôn bám sát thực tiễn cách mạng thế giới và trong nước,coi trọng tổng kết thực tiễn, coi đó là biện pháp nâng cao năng lực hoạt độngthực tiễn và nhằm nâng cao trình độ lý luận

+ Nghiên cứu, học tập tư tưởng triết học Hồ Chí Minh cần quán triệt quanđiểm lý luận gắn liền với thực tiễn, học đi đôi với hành, phải biết vận dụng

15

Trang 16

kiến thức đã học vào cuộc sống, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của đấtnước.

d) Quan điểm toàn diện và hệ thống

+ Phải đảm bảo mối quan hệ giữa kinh tế-chính trị-văn hóa-tư tưởng vớidân tộc-giai cấp-quốc tế-thời đại, cũng như phải đảm bảo sự thống nhất giữatính Đảng, tính khoa học; lý luận gắn liền với thực tiễn; lịch sử cụ thể khinghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, mà hạt nhân cốt lõi là độc lập dântộc gắn liền với CNXH

+ Nếu tách rời một yếu tố nào đó khỏi hệ thống sẽ hiểu sai tư tưởng triếthọc Hồ Chí Minh

g) Quan điểm kế thừa, phát triển

+ Hồ Chí Minh là mẫu mực về sự vận dụng và phát triển sáng tạoCNMLN vào Việt Nam; là thiên tài của sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc vàtrí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng conngười

+ Học tập, nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh không chỉ biết kếthừa, vận dụng mà còn phải biết phát triển sáng tạo tư tưởng của Người vàođiều kiện mới của đất nước và quốc tế

f) Kết hợp nghiên cứu các tác phẩm với thực tiễn chỉ đạo cách mạng của Hồ Chí Minh.

+ Nghiên cứu và học tập tư tưởng triết học Hồ Chí Minh chỉ dừng ở cácbài nói, bài viết, tác phẩm của Người là chưa đầy đủ, nhiều lắm là mới lĩnh hộimột phần nội dung tư tưởng triết học của Người mà thôi

+ Kết quả hành động thực tiễn của Hồ Chí Minh và chủ nghĩa anh hùngcách mạng Việt Nam theo tư tưởng triết học Hồ Chí Minh mới là lời giải thích

rõ ràng giá trị khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh

2.2 Các phương pháp cụ thể

- Phương pháp là cách thức đề cập đến hiện thực, cách thức nghiên cứucác hiện tượng của tự nhiên và xã hội; là hệ thống các nguyên tắc điều chỉnhnhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn xuất phát từ các quy luật vận động củakhách thể được nhận thức

- Phương pháp nghiên cứu đặc thù của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh làLogic-lịch sử: Phương pháp lịch sử (nghiên cứu sự vật và hiện tượng theo quátrình phát sinh, tồn tại và phát triển) và phương pháp logic (nghiên cứu mộtcách tổng quát nhằm tìm ra được cái bản chất của sự vật hiện tượng và khái

16

Trang 17

quát thành lý luận) là rất cần thiết trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập tưtưởng triết học Hồ Chí Minh.

- Cần vận dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu tư tưởng triếthọc Hồ Chí Minh (vì Hồ Chí Minh là một nhà khoa học, một nhà tư tưởng, tưtưởng triết học Hồ Chí Minh là một hệ thống bao quát nhiều lĩnh vực khoa học:kinh tế, chính trị, đạo đức, triết học, văn học, sử học

- Ngoài ra, những phương pháp khác, như: tổng hợp, phân tích, so sánh,tiếp xúc nhân chứng lịch sử, sẽ làm tăng thêm tính hiệu quả của việc nghiêncứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

4.3 ĐẶC ĐIỂM NGHIÊN CỨU CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH

- Trên cơ sở đối tượng, phương pháp nghiên cứu, môn tư tưởng triết học

Hồ Chí Minh có các đặc điểm sau:

+ Phải nắm vững phép biện chứng duy vật để làm rõ tính khoa học và tínhcách mạng của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

+ Phải nắm vững các phương pháp của Hồ Chí Minh để làm rõ tính kháchquan và tính trung thực của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

+ Phải căn cứ vào những kết luận về Hồ Chí Minh của các lãnh tụ Quốc tếIII và các lãnh tụ của Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩaViệt Nam để làm rõ tính sâu sắc, tính toàn diện của tư tưởng triết học Hồ ChíMinh

- Nhiệm vụ của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là đi sâu nghiên cứu làmrõ:

+ Sự ra đời của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là một tất yếu lịch sử dântộc

+ Nội dung, bản chất cách mạng, khoa học, đặc điểm của các quan điểmtrong toàn bộ hệ thống tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

+ Vai trò nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của tư tưởng triết học

Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam

+ Vận dụng, phát triển tư tưởng triết học Hồ Chí Minh của Đảng và nhànước ta trong công cuộc đổi mới hiện nay

+ Các giá trị lý luận của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đối với kho tàng

tư tưởng lý luận cách mạng thế giới của thời đại

Chương 1: TƯ DUY ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, SÁNG TẠO VÀ ĐỔI MỚI

CỦA HỒ CHÍ MINH.

1.1 MƯỜI NĂM Ở HUẾ VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH *

Năm 1858 Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Năm 1885 thất thủ kinh đôHuế Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp

ở Việt Nam dù nổ ra rầm rộ, dần cao và lan rộng cả nước, rồi trước sau đều lần

* Bài đăng Tạp chí Đại học Huế, số 66, tháng 7-2008.

17

Trang 18

lượt thất bại vì chưa có một đường lối kháng chiến rõ ràng, còn mang nặng tưtưởng tôn quân, chưa thật tin vào lực lượng cách mạng quần chúng nhân dân

Đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân tachuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản, nhưng cũng chỉ rộ lên một thời gianngắn rồi lần lượt bị dập tắt, do chưa lôi cuốn được quần chúng nhân dân và chủchủ yếu vẫn do các sỹ phu phong kiến cựu học truyền bá dẫn dắt

Tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời, trước hết là giải quyết sự khủng hoảng vềđường lối cứu nước của Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Tưtưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, ra đời đápứng yêu cầu khách quan bức thiết của cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ XXđến nay

Cội nguồn của tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng văn hóa truyền thốngcủa Việt Nam, tư tưởng văn hóa phương Đông, tư tưởng văn hóa phương Tây,chủ nghĩa Mác-Lênin và những phẩm chất cá nhân của Người

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ giữa trí tuệ lớn của Hồ Chí Minhvới trí tuệ dân tộc và trí tuệ thời đại Hồ Chí Minh với sự khổ công rèn luyện

có tri thức uyên thâm về nhiều lĩnh vực, với bộ óc phân tích tinh tế, sáng suốt,với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, với tấm lòng yêu thương con người vôhạn, yêu nước nồng nàn, nhiệt thành cách mạng, Người đã hóa giải được tinhhoa văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, trí tuệ thời đại, lãnh đạo cáchmạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm cho dân tộc ViệtNam đang ngày càng sánh vai các cường quốc thế giới

Ở Việt Nam, từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II (1951) của ĐảngCộng sản Việt Nam cho đến nay đã liên tục khẳng định vai trò, ý nghĩa, tácdụng của đạo đức, tác phong cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cáchmạng Việt Nam Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) Đảng Cộngsản Việt Nam đã trân trọng ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của mình: “Đảng lấychủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉnam cho hành động”4 Trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trungương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX,Đảng Cộng sản Việt Nam đã định hướng cho việc định nghĩa khái niệm tưtưởng Hồ Chí Minh5 Từ đó, trên cơ sở những tư liệu đã thu thập được vềNgười, từ những kết quả nghiên cứu được trong những năm qua của nhiềungành khoa học, đặc biệt là ngành lý luận, khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minhbước đầu được định nghĩa như sau: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thốngquan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng ViệtNam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa;

là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào

4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1991, tr

127.

5 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001,

tr 83-84.

18

Trang 19

điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc

và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóngcon người”6

Cội nguồn văn hóa truyền thống dân tộc, văn hóa nhân loại và cội nguồnchủ quan thuộc về các phẩm chất đặc biệt của Hồ Chí Minh có thời điểm xuấtphát rất quan trọng: mười năm Hồ Chí Minh sống và học tập tại Huế (1895-

1901 và 1906-1909)

Sáu năm (1895-1901), tuổi niên thiếu của Hồ Chí Minh đã gắn bó mậtthiết với Huế Ngày ấy gia đình Người đã sống tại ngôi nhà 112 Mai ThúcLoan, mà vốn trước đó là một trại lính của Nha Hộ thành triều Nguyễn bị bỏphế sau sự kiện thất thủ Kinh đô 1885 Nơi đây, chính giai đoạn này, Người đãchứng kiến những tháng ngày tần tảo của mẹ, lo lắng của cha, hạnh phúc và bấthạnh của gia đình, quê hương Người thấm thía nỗi đau mất mẹ, mất em vàcàng thấm thía nghĩa tình sâu nặng mà bà con lao động nghèo xứ Huế đã dànhcho gia đình Người

Lần xa quê đầu tiên này, sống tại Huế, Người đã thường hay lui tới vàtham dự các buổi cúng tế tại Miếu Âm hồn (ngã tư Mai Thúc Loan và LêThánh Tông ngày nay) Miếu được nhân dân Huế tạo dựng vào khoảng năm

1895, nhằm hương khói, thờ cúng các anh hùng chiến sỹ và đồng bào đã anhdũng hy sinh vì nền độc lập của dân tộc trong sự kiện bi hùng thất thủ Kinh đô

23 tháng 5 năm 1885 (âm lịch) Chính những hành động này của mình màNgười đã thấm thía những bài văn tế bi ai về số phận những con người đã hysinh vì đại nghĩa, vì độc lập, tự do của dân tộc Kỷ niệm tuổi thơ này là mộtphần quan trọng khơi dậy và hun đúc chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh saunày

Thời gian này, Người cũng đã được cha đưa về sống và học tập tại ngôinhà của ông Nguyễn Sỹ Độ ở làng Dương Nỗ – Phú Vang (1898 -1900) Tạiđây Người đã được cha và anh trai Nguyễn Sinh Khiêm kèm cặp học chữ Hán.Người cũng đã chứng kiến tinh thần lao động cần cù, nghĩa tình làng xóm củangười dân quê mộc mạc qua vui chơi, nô đùa với bạn bè ở Đình làng, Am Bà

và vùng vẫy trên sông Phổ Lợi Tấm gương vượt khó để thành tài và tinh thầnyêu nước của cha, tình quê mộc mạc ở Huế giai đoạn này là nhân tố quan trọnggóp phần tạo nên tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng của Chủ tịch Hồ ChíMinh sau này

Lần thứ hai đến Huế, bốn năm (1906-1909) sống tại ngôi nhà Dãy Trại(nay là 47 Mai Thúc Loan), Hồ Chí Minh đã học những năm tiểu học tạitrường tiểu học Pháp - Việt Đông Ba (1906-1908), rồi vào học trường QuốcHọc Huế (1908-1909) và đã từng tham gia phong trào chống thuế tháng 4 năm

1908 tại tòa Khâm sứ Trung kỳ (nay là Giảng đường I của Đại học Sư phạmHuế) Giai đoạn này, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã được Triều đình Nhà

6 Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003, trang 19.

19

Trang 20

Nguyễn bổ nhiệm là Thừa biện Bộ Lễ trông coi việc học hành ở Quốc TửGiám

Chính thời gian này, chứng kiến cha mình dù sống trong cảnh làng quan,nhưng vẫn giữ nếp sống giản dị, thanh nhã của đồ nho xứ Nghệ; chứng kiến sựchèn ép của thực dân Pháp với triều đình, cảm nhận và chia sẻ một cách sâusắc những tâm tư của cha “Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ -Quan trường là nô lệ trong đám người nô lệ lại càng nô lệ hơn”; giai đoạn này,hầu như Người đảm nhận chuyện chợ búa, nội trợ giúp cha, hàng ngày tận mắtchứng kiến cuộc sống tối tăm, bạc nhược của đám quan trường nô lệ, v.v, màNgười đã sớm thức tỉnh nỗi nhục của người dân mất nước Từ đó nhen nhóm

và nhân lên lòng căm thù thực dân, phong kiến, lòng yêu nước thương dân ởNgười Đặc biệt, những năm tháng học ở trường tiểu học Pháp – Việt Đông Ba

và trường Quốc Học Huế, Người đã học để nắm vững tiếng Pháp, hấp dẫn bởi

Tự do – Bình đẳng – Bác ái của giai cấp tư sản qua văn hóa Pháp, mà sau khitham gia phong trào chống thuế tháng 4 năm 1908, Nguyễn Tất Thành đã ra đitìm đường cứu nước ở phương Tây vào năm 1911

Những sự kiện liên quan trực tiếp đến đời sống ở Huế của Nguyễn TấtThành nêu trên, cho thấy Huế đã hội gần đủ các yếu tố cấu thành cội nguồn của

tư tưởng Hồ Chí Minh:

1 Nếu Nam Đàn là điểm xuất phát của hầu hết các cuộc khởi nghĩa vũtrang tiêu biểu chống thực dân Pháp của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX và là nơi sinh ra, trưởng thành hoặc là nơi trưởng thành của hầu hết cácnhà yêu nước tiêu biểu của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thì Huếchính là nơi tập trung của hầu hết các cuộc đình công, biểu tình chống sưu caothuế nặng của thực dân Pháp ở Việt Nam vào thời gian ấy Chủ nghĩa yêunước, thương dân của Hồ Chí Minh vì thế nếu được bắt nguồn từ truyền thốngcủa gia đình nhà Nho yêu nước, thì chủ nghĩa yêu nước, thương dân ấy củaNgười được hun đúc, phát triển bởi chính truyền thống cách mạng của hai quêhương Nam Đàn và Huế, đặc biệt là 10 năm sống và học tập ở Huế của Người

2 Nếu bà Ngoại của Hồ Chí Minh là người có công trong hoằng dươngPhật giáo tại Nghệ -Tĩnh vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, màtuổi ấu thơ Người từng được nghe Bà Ngoại ru ngủ bằng kinh Phật, thì mườinăm sống và học tập ở Huế bên cạnh Cha - Cụ Nguyễn Sinh Sắc - không chỉ làmột nhà Nho yêu nước mà còn là người rất mến mộ Phật giáo (Cụ là một trongnhững người đầu tiên dịch kinh Phật từ tiếng Trung Quốc ra tiếng Việt và thựchiện chấn hưng Phật giáo ở Nam bộ năm 1920) Hơn thế, từ cuối thế kỷ IX đếnđầu thế kỷ XX, Huế chính là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của ViệtNam Từ năm 1957, Hồ Chí Minh đã được các vị cao tăng của Ấn Độ phongtặng danh hiệu “vị Phật sống” Bản thân Người, trong các thư gửi đến Giáo hộiPhật giáo Việt Nam và Phật tín đồ Việt Nam, Người luôn coi Đức Phật là tấmgương “đại từ, đại bi, cứu khổ cứu nạn” Sự ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức

20

Trang 21

Phật giáo ở Hồ Chí Minh là rất tự nhiên, và vì thế không thể không kể đến tầmquan trọng của mười năm sống, học tập tại Huế của Người.

3 Cội nguồn Nho giáo của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng có thời gian hìnhthành, phát triển quan trọng là mười năm sống tại Huế: 1895-1901 và 1906-

1909 Khoảng thời gian này, như đã trình bày ở trên, đây là khoảng thời gianNgười bắt đầu đến trường và thành đạt về học tập Giai đoạn này chủ yếuNgười học ở trường làng Người sống, học tập, lao động, rèn luyện bên cạnhngười cha và anh trai mình Tấm gương khổ luyện thành tài của cha, tinh thầnyêu nước, thương dân của cha và anh trai (những nhà Nho yêu nước nổi tiếngcủa Việt Nam) đã tác động lớn đến nhân cách yêu nước Hồ Chí Minh và để lạinhững ấn tượng tích cực của Nho giáo cho Người Bởi họ chính là nhữngngười thầy dạy chữ Hán đầu tiên của Người và cũng là những người đầu tiên

có tác động mạnh nhất đến sự hình thành nhân cách của Người Ngoài ra, Huế

là thủ phủ của các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong và là Kinh đô của triều đìnhphong kiến trung ương tập quyền Nhà Nguyễn của Việt Nam Ảnh hưởng củaNho giáo ở Hồ Chí Minh rất sâu sắc, nhất là triết lý tu thân Người đã cải tạo,phát triển một cách tài tình các phạm trù đạo đức của Nho giáo để quy định cácchuẩn mực đạo đức con người mới XHCN ở Việt Nam

4 Huế còn là một trung tâm lớn của đạo Công giáo ở Việt Nam Mườinăm tuổi vị thành niên và thanh niên của Người tại Huế, vì thế nhất định đãchịu ảnh hưởng ít nhiều đạo đức nhân từ của tấm gương hy sinh vì sự cứu rỗicon người của Chúa Điều này có thể lý giải được bằng 10 năm tìm đường cứunước (1911-1920), thời gian trú chân tại Hoa Kỳ, Người đã đến nhà thờ cầuChúa ban phước lành cho dân tộc Việt Nam Sau này, khi đã là lãnh tụ của dântộc Việt Nam, đã trải nghiệm thực tiễn cách mạng dân tộc và cách mạng thếgiới, Người đã trả lời câu hỏi “Người là ai?” của các nhà báo trong và ngoàinước nước rằng: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức

cá nhân, Ki tô giáo có ưu điểm là lòng bác ái Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưuđiểm chính là chính sách của nó phù hợp với những điều kiện của nước ta Chủnghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng… Tôi cố gắng làmmột học trò nhỏ của các vị ấy”7 Trong các bức thư Người gửi cho Giáo hộiCông giáo Việt Nam và đồng bào Công giáo Việt Nam, Người luôn coi Chúa

là tấm gương nhân từ, hy sinh cao nhất vì sự cứu rỗi con người

5 Khoảng thời gian vào học ở trường Tiểu học Pháp Việt Đông Ba, đặcbiệt là thời gian học tập ở trường Quốc Học Huế, tư duy độc lập tự chủ, sángtạo, đổi mới của Người đã hình thành và phát triển Điều này được chứngminh: khác với những nhà yêu nước tiêu biểu khác của Việt Nam thời ấy, hấpdẫn bởi dân chủ tư sản Người không đi tìm đường cứu nước ở phương Đông,

mà ra đi tìm đường cứu nước ở phương Tây Hành động này, sau này Người

7 Về Tôn giáo, Nxb KHXH, Hà Nội, 1994, tập 1, trang 6-7; Nho giáo xưa và nay, Nxb KHXH, Hà Nội, 1971, trang 16.

21

Trang 22

thổ lộ: Người rất đề cao tinh thần yêu nước của dân ta và khâm phục nhiệthuyết cách mạng của các lãnh tụ yêu nước ngày ấy, nhưng không tán thành conđường, phương pháp của họ Sau này, khi thực thi dân chủ tư sản tại Pháp,Người đã từ bỏ chủ nghĩa dân chủ giả tạo, hình thức ấy để đến với cội nguồncốt lõi của mình là chủ nghĩa Mác-Lênin

Mười năm ở Huế, nhất là từ 1906-1909, Huế - một trung tâm văn hóacủa Việt Nam, đã hội tụ nhiều yếu tố văn hóa Đông-Tây và có bề dày văn hóadân tộc - là một tác động lớn với những dấu ấn sâu sắc đến tinh thần ngườithanh niên ưu tú Nguyễn Tất Thành, là một cội nguồn quan trọng của sự hìnhthành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh

1.2 CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – HIỆN THÂN RỰC RỠ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Các đặc trưng cơ bản chủ yếu của chủ nghĩa yêu nước truyền thống ViệtNam là: một dân tộc yêu hòa bình, ghét chiến tranh; Có lòng nhân ái cao cả;Bất khuất chống giặc ngoại xâm quyết vì độc lập dân tộc; Lao động cần cù vàlao động sáng tạo; Có sự cố kết cộng đồng dân tộc cao

Có người cho rằng, những nét truyền thống ấy thì dân tộc nào mà chẳng

có Đúng thế Nhưng để có được những đặc trưng truyền thống ấy như ViệtNam thì không phải dân tộc nào cũng có được

1) Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân rực rỡ truyền thống của dân tộc Việt Nam “yêu hòa bình, ghét chiến tranh” và có “lòng nhân ái cao cả”

Ngay từ khi sử dân tộc ta mới chỉ lưu truyền bằng văn học miệng, dântộc Việt Nam đã có truyền thuyết Thạch Sanh-Lý Thông:

Khi đất nước bị xâm lăng, vua giao cho Thạch Sanh đánh giặc giữ nước,với sức mạnh và vũ khí thần diệu chém chết trăn tinh, bắn rơi đại bàng, nhưngThạch Sanh không dùng vũ khí đánh bại quân thù, mà dùng tiếng đàn nhânnghĩa khiến quân thù phải hàng phục Khi quân thù thất bại, Thạch Sanh không

để chúng đói ra về, mà ban cho chúng niêu cơm nhân nghĩa của dân tộc, khiến

kẻ thù khiếp sợ vì ăn mãi không hết Tấm lòng nhân nghĩa ấy của Việt Nam,không đụng đến thì thôi, hễ đụng đến thì sinh sôi nảy nở, kẻ thù làm sao ăn hếtđược

Truyền thống ấy đã được chứng minh bởi cuộc kháng chiến chống quânMinh do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo Yêu hòa bình, ghét chiến tranh,thương dân trăm họ lầm than, “đầu vốn không có mưu lấy thiên hạ… Việc khởinghĩa thực là bất đắc dĩ mà phải làm vậy thôi”8, nên các ông “Cứu dân để dạ,chí háo hức chỉ muốn về Đông”9, “Gắng làm điều nhân, gấp hơn cứu đuối”10,

Bài đăng Tập san Cựu chiến binh Đại học Huế, số 6/2010, trang 6-10.

8 Lam Sơn thực lục, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 71.

9 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 78.

10 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 79.

22

Trang 23

phất cờ khởi nghĩa “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân cứu nước trước cầntrừ bạo”11

Phương châm đánh giặc của các ông là “lấy đại nghĩa mà thắng hungtàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”12, “Ta mưu đánh vào lòng, không chiến

mà cũng thắng”13, “Đầu sỏ giặc đã hàng, mảy may không xâm phạm Những kẻtội lớn tội nhỏ đều tha hết”14, “Phục thù báo oán, đó là thường tình của người

ta Không thích giết người, đó là bản tâm của kẻ nhân giả Vả người ta đã hàng

mà lại giết, thì không còn gì không lành hơn nữa Để hả mối giận một sớm, màmang tiếng giết hàng muôn đời, thì sao bằng để sống ức vạn người mà hết mốichiến tranh cho hậu thế, khiến sử xanh ghi chép, nghìn thửa lưu thơm, như thếchẳng là lớn sao!”15;

Nên khi thế ta như chẻ tre, các ông lại sáu lần lăn miệng hổ, quyết nghịhòa để dân hai nước khỏi vạ can qua: “Vì ngài tính kế ngày nay, không gì bằngcởi giáp nghỉ binh, ngồi nhàn mà nhận hàng, đó là thượng sách Thế tuy là maycho bọn tôi cùng ngài, mà cũng là may lớn cho vạn dân thiên hạ vậy”16; “Nhưviệc hòa hảo đã thành… Từ nay về sau, giá ngài bỏ cái lòng nghi hoặc, dốclòng hòa hảo, thì dưới sẽ làm cho An Nam thoát khổ lầm than, trên sẽ khiếnTrung Quốc khỏi nỗi nhọc mệt, thực là phúc cho thiên hạ lắm”17; “Nay cái kếhay hơn cả cho các ngài, chẳng gì bằng sớm bỏ giáp binh, ra ngoài thành cùngquân của Thái đô đốc lục tục kéo về, để trả lại cho ta cảnh thổ nước An Nam,khiến cho hai bên đều tiện, như thế lại chẳng hay ư?18; “Nay cái kế tốt cho cácngươi không gì bằng ra ở ngoài thành, cùng Thái đốc quân quyết định việc về,

để cứu vớt mấy nghìn tính mệnh ở trong thành… Các người nếu biết kéo quân

ra thành, cùng ta hòa hảo thân tình, thì ta coi các ngươi nghĩa như anh em ruộtthịt, nào chỉ những bảo toàn tính mệnh vợ con mà thôi đâu?”19; “Nay kế haycủa các ông chẳng gì bằng thuận theo sở ngộ, nghe theo mệnh trời, nhân thời

cơ này dựng nên công nghiệp, khiến cho dân ta may được thoát khổ làm than,

mà công trạng lớn lao của ông được rạng rỡ trong sử xanh”20

Khi đạt được nghị hòa, các ông đã cấp thuyền bè, lương thảo để giặcđược lui binh an toàn, làm cho kẻ thù hết đổi kinh hoàng: “Tham chính PhươngChính, nội quan Mã Kỳ được cấp năm trăm chiếc thuyền đã vượt biển về màcòn hồn kinh phách lạc Tổng binh Vương Thông, tham chính Mã Anh, đượccấp mấy ngàn ngựa, đã về nước mà còn ngực đập chân run Chúng đã sợ chết

11 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 77.

12 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 79.

13 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 80.

14 Lam Sơn thực lục, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 55-56.

15 Lam Sơn thực lục, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 69.

16 Thư cho Phương Chính, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 104.

17 Lại thư trả lời Vương Thông, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 111.

18 Thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 123.

19 Thư du thành Bác Giang, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 127-128.

20 Thư cho Thái đô đốc, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 141.

23

Trang 24

tham sống mà thực muốn cầu hòa, Ta lấy toàn quân làm cốt mà cho dân đượcnghỉ”21.

Đại nhân, đại nghĩa như vậy xưa nay sử nhân loại chưa từng thấy “Xãtắc do đó được yên, Non sông do đó đổi mới Càn khôn đã bỉ mà lại thái, Nhậtnguyệt đã mờ mà lại trong Để mở nền thái bình muôn thuở, Để rửa nổi sỉ nhụcngàn thu”22

Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dânPháp và đế quốc Mỹ, đã phát huy thành công truyền thống cực kỳ quý báu ấycủa dân tộc Vì kẻ thù man rợ cướp nước ta, giết hại dân ta, dùng bạo lực giànhđộc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân là việc làm bất khả kháng của Người

Vạch trần, tố cáo tội ác của thực dân Pháp trước dư luận thế giới và ngay

cả trong nhân dân lương thiện Pháp, nhằm thức tỉnh cao độ tinh thần quậtcường của đồng bào mình, trong hai tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”

và “Đây Công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương”, Người mô tả cảnh địangục trần gian tối tăm mà thực dân Pháp đang đày đọa dân ta Tội ác ấy nàokhác chi Nguyễn Trãi đã từng kết luận: “Tát cạn nước Đông hải không đủ rửahết vết nhơ; Chặt hết trúc Nam sơn, chẳng đủ ghi hết tội ác”23 Làm như vậy là

vì Người tin vào sức mạnh của chính nghĩa và tiềm năng sức mạnh vô tận vôđịch của nhân loại tiến bộ ủng hộ, giúp đỡ hiệu quả cho sự nghiệp đánh bại chủnghĩa thực dân của dân tộc ta

Chính vậy mà trong cả hai cuộc chiến, Người luôn viết thư kêu gọi đốiphương, ngồi vào bàn hội nghị hòa bình để giải quyết chiến tranh: Trong kếthợp sức mạnh quân sự, chính trị và ngoại giao, thì sức mạnh quân sự chỉ là đònquyết định, sức mạnh chính trị và ngoại giao mới là chủ yếu Trong kết hợp sứcmạnh quân chính quy, quân địa phương và binh vận, thì sức mạnh binh vậnmới là chủ yếu Dù quân và dân ta đang chịu nhiều thiếu thốn về vật chất,Người vẫn ban chính sách đại khoan hồng, để hàng binh giặc được hưởngchính sách nhân đạo nhất Người chỉ thị: “Đối với những người Pháp bị bắttrong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cho cẩn thận, nhưng phải đối đãi họcho khoan hồng, phải làm cho thế giới, trước hết là làm cho dân Pháp biết rằng:chúng ta là quang minh chính đại Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập, tự do, chứchúng ta không vì tư thù, tư oán; làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dântộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước”24 Trong Chỉ thịthành lập “Đội Tuyên truyền giải phóng quân”, Người giải thích nhiệm vụ củaquân đội ta “chính trị trọng hơn quân sự”25 Dù đánh giặc bằng bất cứ phươngpháp, biện pháp gì, ở đâu, lúc nào thì đường lối chiến tranh nhân dân củaNgười là lợi ích của dân phải trên hết

21 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 81.

22 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 81-82.

23 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 78.

24 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr 507.

25 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr 27-28.

24

Trang 25

Khi Bác sang Pháp do Chính phủ Pháp mời, tháng 5/1946, thực dânPháp bội tín Hiệp định sơ bộ 6/3, lập nước Nam Kỳ tự trị, chia rẽ dân tộc ta,gây nguy cơ nội chiến Bác viết thư kêu gọi đồng bào Nam Bộ nén giận, đề caonhân nghĩa, mở lòng bao dung, lấy tình thân ái mà cảm hóa, nhằm có thể cải tàquy chính nhân tâm được đối với Nguyễn Văn Thinh Quả nhiên, chỉ sau mộttháng đã tiêu diệt được mầm họa này.

Thanh niên Việt Nam, thanh niên Pháp hay thanh niên Mỹ ngã xuốngtrên chiến trường, Người đều thương xót như nhau Người đau tất cả các nỗiđau của những cha mẹ mất con, vợ mất chồng, người thân mất người thân, nên kiên định hòa bình, nhân nghĩa trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam Nhântừ, nhân hậu, nhân ái, vì đại nghĩa, mà Người đã nổ lực bằng mọi giá, để kếtthúc chiến tranh bằng các Hội nghị thương lượng hòa bình

Nét tiêu biểu của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là:

a) Người có lòng yêu thương vô hạn đối với con người, thông cảm sâu sắc với mọi đau khổ của con người, từ đó tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân,

đế quốc gây ra cho con người.

Hồ Chí Minh yêu thương mọi đồng bào, đồng chí của mình, không phânbiệt một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗtrong tấm lòng nhân ái của Người Người cũng dành tình yêu thương chonhững người nô lệ mất nước và cùng khổ trên khắp thế gian

Tấm lòng nhân ái bao la của Người được đặt trên một cơ sở khoa học làchủ nghĩa Mác-Lênin Người chỉ rõ nguồn gốc của mọi niềm đau nỗi khổ củacon người nô lệ mất nước và con người cùng khổ là chủ nghĩa thực dân, đếquốc Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã chỉ rõ con đường giảiphóng của con người Việt Nam, góp phần chỉ rõ con đường giải phóng của cácdân tộc thuộc địa và của nhân dân lao động toàn thế giới

Yêu thương vô hạn đối với con người, nên Hồ Chí Minh coi hòa bìnhtrong độc lập tự do là nguyện vọng sâu xa, còn chiến tranh chỉ là bắt buộc.Người hết sức bảo vệ con người như bảo vệ sinh mệnh của cách mạng

Người hoãn khởi nghĩa giành chính quyền ở Cao-Bắc-Lạng tháng 9 năm

1944 là để tránh tổn thất cho các địa phương khác do thời cơ chưa đến Ngườitranh thủ khả năng phát triển cách mạng bằng phương pháp hòa bình là để đỡtốn xương máu cho nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước chính quốc.Người đã làm tất cả những gì có thể làm được để tránh các cuộc chiến tranh.Bất khả kháng, Người và dân tộc ta mới buộc phải tiến hành kháng chiến đểbảo vệ nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc và phẩm giá của con người

b) Người có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh, phẩm giá, khả năng vươn lên chân, thiện, mỹ của con người, dù nhất thời họ còn thấp bé, lầm lạc.

Tấm lòng nhân ái của Người bao dung đối với mọi người Chính tấmlòng nhân ái bao la, khoan dung cao cả, trân trọng cái phần thiện dù nhỏ nhất ởmỗi con người, mà Người đã quy tụ rộng rãi được toàn thể dân tộc

25

Trang 26

Với tấm lòng độ lượng như sông sâu, biển rộng, Hồ Chí Minh đã ban bốquốc lệnh cấm giết hại và ngược đãi đối với tù binh và quy định những chínhsách khoan hồng đối xử nhân đạo đối với họ

Người cũng đã quy tụ quanh mình và phát huy tác dụng của Thượng thưBùi Bằng Đoàn, Khâm sai đại thần Phan Kế Toại, và cả cựu hoàng Bảo Đại

mà bản thân ông ta và triều đình hư vị của ông theo lệnh thực dân Pháp đã ký

án tử hình vắng mặt Nguyễn Ai Quốc

Người nâng niu trân trọng khuyến khích mặt tốt, mặt thiện trong conngười, lấy đó làm biện pháp giúp đỡ những người có thói hư, tật xấu, lầmđường lạc lối Người viết: “đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạngngười phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cáchlàm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ khôngphải đập cho tơi bời”26

Người có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh và tính chủ động sáng tạo củaquần chúng nhân dân Tin dân của Người là xuất phát từ niềm tin vào tình

người Con người luôn có xu hướng vươn lên cái Chân-Thiện-Mỹ

c) Người có lòng khoan dung, độ lượng rộng lớn

Lòng khoan dung rộng lớn, sâu sắc của Hồ Chí Minh thể hiện ở:

Đoàn kết rộng rãi, lâu dài các lực lượng Ở đây, Người đã trân trọngphần thiện dù nhỏ nhất ở mỗi con người Chỉ có lòng độ lượng, chí công vô tư,

Hồ Chí Minh mới quy tụ được nhiều nhân sỹ có danh vọng của chế độ cũ

Vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tiến bộ xã hội, Hồ Chí Minh đã đưa

ra những chủ trương có lý, có tình đối với kiều dân nước ngoài, nhằm bảo vệtính mạng, tài sản của họ Người đánh giá cao vấn đề này và ghép tội tử hìnhđối với ai “vô cớ sát hại kiều dân ngoại quốc”27

Hồ Chí Minh đã có chính sách khoan hồng đại lượng, đối xử nhân đạovới tù binh Người cổ vũ, hướng con người tới cái chân-thiện-mỹ, chú ý giáodục, nhẹ về xử phạt đối với cán bộ, đảng viên có lỗi Người trân trọng mọi ýkiến khác nhau, kể cả những ý kiến không đồng tình, trái với suy nghĩ củaNgười

d) Người có ý chí đấu tranh để giải phóng con người, đem lại tự do, hạnh phúc cho con người.

Đi khắp năm châu, chứng kiến tội ác của chủ nghĩa thực dân, Người kếtluận: ở đâu chủ nghĩa thực dân cũng tàn ác, ở đâu các dân tộc thuộc địa cũngkhổ đau Chính thế mà ở Hồ Chí Minh là sự thống nhất của giải phóng dân tộc,giải phóng giai cấp và giải phóng người

Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, nêu cao tư tưởng giải phóng con người,khẳng định quyền con người, quyền công dân, Người đã hy sinh trọn đời cho

sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người

26 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 558.

27 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 357.

26

Trang 27

2) Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân rực rỡ truyền thống của dân tộc Việt Nam “bất khuất chống giặc ngoại xâm quyết vì độc lập dân tộc” và “cố kết cộng đồng cao”

Cũng từ khi sử nước ta chưa thành văn viết, Việt Nam đã có truyềnthuyết Thánh Gióng: Gióng lên ba, chưa tự và cơm ăn được Thế nhưng, nghegiặc Ân đến xâm lược nước nhà, đã vươn vai trở thành Phù Đổng để đánh giặcgiữ nước Mẹ Gióng quá nghèo, không đủ sức nuôi Gióng ăn và rèn sắm vũ khícho Gióng như Gióng yêu cầu Toàn bộ dân làng đã cùng chung lưng đấu cật,nuôi Gióng ăn và rèn sắm vũ khí cho Gióng đánh giặc giữ nước Ấy vậy màkhi xung trận, với ngựa sắt, giáp sắt, roi sắt, Gióng không thắng được giặc Ân.Gióng chỉ nghiêng mình nhổ bụi tre làng là đã xua tan được giặc Ân Gióng đãthắng giặc Ân bằng chính sức mạnh cố kết cộng đồng dân tộc cao, bất khuấtchống giặc ngoại xâm, quyết vì độc lập dân tộc của dân tộc Việt Nam Cây tre– vũ khí thắng giặc của Gióng – là biểu tượng cho sức mạnh ấy của dân tộcViệt Nam

Truyền thống đó cũng đã được chứng minh hùng hồn bởi cuộc khángchiến chống quân Minh Sở dĩ Lê Lợi và Nguyễn Trãi cùng dân tộc làm nênđược các chiến thắng oanh liệt: Đánh một trận sạch không kình ngạc, đánh haitrận tan tác chim muông, chính là vì các ông đã đoàn kết được toàn dân đánhgiặc giữ nước

Các ông đã “Hòa rượi cùng uống, binh sĩ một dạ cha con”28 được với tất

cả “những con đen đang bị nướng trên ngọn lửa hung tàn, những con đỏ đang

bị vùi dưới hầm tai vạ”29, “những manh lệ tứ phương”30, mà làm nên đượcnhững chiến công: “Trận Bồ Tất như sấm vang chớp giật, Trận Trà lân nhưtrúc chẻ tro bay…Ninh kiều máu chảy thành sông, hôi tanh muôn dặm; Tốtđộng thây phơi đầy nội, thối để nghìn thu”31, “Lãnh câu máu chảy thắm dòng,nước sông ấm ức; Đan xá thầy chồng thành núi, cỏ nội thắm hồng”32, bảo vệthành công khí phách “nước Đại Việt ta, Thật là một nước văn hiến Bờ cõi núisông đã riêng, Phong tục Bắc Nam cũng khác Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần, nốiđời dựng nước, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương”33

Trong thời đại ngày nay, 1919 ở “Bản yêu sách tám điểm”, ngay khi mớibước lên vũ đài chính trị, Hồ Chí Minh là người đầu tiên của Việt Nam đãthống nhất hai nội dung nước phải độc lập và dân phải tự do Trong “ĐườngKách mệnh” và “Cương lĩnh đầu tiên của Đảng”, Người đã nâng mục tiêu cáchmạng ấy của mình lên trình độ mới bằng sự thống nhất hai nội dung độc lậpdân tộc với chủ nghĩa xã hội Và từ “Tuyên ngôn của Nước Việt Nam Dân chủ

28 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 79.

29 Xem Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 77.

30 Xem Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 79.

31 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 79.

32 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 81.

33 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 77.

27

Trang 28

Cộng hòa”, đến các lời kêu gọi sau này, nhất là các lời kêu gọi toàn quốc khángchiến, Hồ Chí Minh đã bổ sung thêm quyết tâm cao nhất của dân tộc trong gìngiữ độc lập dân tộc, với kiên định hai mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội, vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam

Thay mặt cho toàn dân tộc, Người trịnh trọng tuyên bố với toàn thế giới:

“Tất cả các dân tộc sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ quyềnđược mưu cầu tự do sung sướng Việt Nam đã là một quốc gia độc lập Tất cảdân tộc Việt Nam, quyết đem tất cả tinh thần, tính mạng, lực lượng và của cải,

để quyết giữ gìn độc lập dân tộc ấy”34 “Miền Nam là máu của máu Việt Nam,

là thịt của thịt Việt Nam Nam, Bắc là một nhà Sông có thể cạn, núi có thểmòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”35 “Thà hy sinh tất cả chứ nhấtđịnh không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”36 “Dù có đốt cháy cả dãyTrường Sơn, thì cũng phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”37 “Cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm, hoặclâu hơn nữa Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác có thể bị tàn phá, thìchúng ta cũng phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”38

Toàn bộ sự nghiệp cách mạng ấy, Hồ Chủ Tịch nhờ kế thừa và phát huythành công truyền thống quý báu của dân tộc “sử ta dạy cho ta bài học: khi nàodân ta đoàn kết thì độc lập của nước ta được giữ vững, khi nào dân ta khôngđoàn kết thì độc lập của nước ta có nguy cơ bị xâm phạm”39; Người đánh giáđúng, đề cao sức mạnh và phát huy tinh thần quật cường của “nhân dân ta cótruyền thống nồng nàn yêu nước, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng thì triệu ngườinhư một xông lên phía trước, quyết giữ gìn và bảo vệ độc lập dân tộc”40, màluôn thực hiện đường lối cách mạng đại đoàn kết toàn dân, với nguyên tắc “tindân, dựa vào dân”, khẳng định sức mạnh vô tận, vô địch của dân: “Dễ trăm lầnkhông dân cũng chịu Khó vạn lần dân liệu cũng qua”41, “Đoàn kết, đoàn kết,đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”42 Một trong các cơ sởquân sự của tư tưởng Hồ Chí Minh là lấy dân làm gốc theo phương châm

"quân với dân như cá với nước”43, “tất cả sức mạnh đều từ dân mà ra”44; “Đằng

sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục,

34 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 4, trang 1-4.

35 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 246; tập 12, trang 516.

36 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 480; tập 5, trang 767, tập 12, trang 516, 584.

37 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 508; Chỉ từ 1965 đến 1969 Người đã nhắc cụm từ “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” khoảng 60 lần trong các Thư khen và các Lời kêu gọi (xem tập 11 và tập 12).

38 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 108.

39 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 217.

40 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 171.

41 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 212.

42 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 349, 350, 607 Tập 12, trang 517.

43 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 350.

44 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 101; tập 5, trang 55, 409.

28

Trang 29

đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”45; “Trong bầutrời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượngđoàn kết của nhân dân”46; Dân ta tài năng, trí tuệ và sáng tạo, họ biết “giảiquyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tàigiỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”47.

Niềm tin vào sức mạnh của dân ở Người là được nhận thức từ mối quan

hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ: nếu không có nhân dân thì Chính phủ không có đủ lực lượng, nếu không có Chính phủ thì nhân dân không có ai dẫn đường Đã là người cộng sản thì phải tin nhân dân và niềm tin quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh cho người cộng sản.

3) Kết luận: Tư tưởng và hành động cơ bản của Người về độc lập dân

tộc và Cách mạng giải phóng dân tộc là: Độc lập - Tự do là quyền thiêng liêng,bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc; Ở các nước đang đấu tranh giành độclập, chủ nghĩa dân tộc chân chính vẫn là một động lực lớn; Kết hợp nhuầnnhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêunước với chủ nghĩa quốc tế, độc lập cho dân tộc mình đồng thời độc lập cho tất

cả các dân tộc; Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; Cách mạng giảiphóng dân tộc thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản; Cách mạnggiải phóng dân tộc trong thời đại mới muốn thắng lợi phải do Đảng của giaicấp công nhân lãnh đạo; Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kếtcủa toàn dân trên cơ sở liên minh công nông; Cách mạng giải phóng dân tộccần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trướccách mạng vô sản ở chính quốc; Cách mạng giải phóng dân tộc phải được thựchiện bằng con đường bạo lực

Chính tất cả những nội dung ấy, Hồ Chí Minh là hiện thân rực rỡ của chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc Việt Nam Người đã đưa dân tộc

Việt Nam lên ngang tầm thời đại với các chiến thắng vĩ đại: từ Cách mạngTháng 8/1945, chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, đến Đại thắng mùa xuân1975

Và thật tuyệt vời, cả hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp và đếquốc Mỹ của Việt Nam, đều đã kết thúc tại hai hội nghị hòa bình thế giới: Hộinghị Giơ-ne-vơ 1954 và Hội nghị Pa-ri 1973 Độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnhthổ của dân tộc được giữ vững, nhân dân được hoàn toàn tự do, tạo điều kiệntốt nhất cho toàn dân tộc chung sức chăm lo hạnh phúc của đồng bào

Đúng như hai trong sáu tiêu chí tổ chức văn hóa Liên hợp quốc đã côngnhận “Hồ Chí Minh - danh nhân văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam” nhân

kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người là “Hồ Chí Minh kết tinh được những

giá trị truyền thống tiêu biểu của dân tộc Việt Nam: Giá trị truyền thống nhân nghĩa; Giá trị khoan dung của Việt Nam; Văn hóa ứng xử của người Việt

45 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 28

46 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 276.

47 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 295

29

Trang 30

Nam: biết Biến-Hóa-Dừng; ứng xử với con người, biết mình, biết người, biết thời, biết dừng, biết biến.

Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa kiệt xuất bởi vì Người là hiện thân rực rỡ của văn hóa hòa bình, của đường lối ngoại giao hòa bình, đối thoại giữa các dân tộc trong giải quyết mâu thuẫn nhằm xích lại gần nhau để hợp tác trong một cộng đồng thống nhất, và cái cao nhất là chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu Hồ Chí Minh.”

1.3 LUẬN CƯƠNG CỦA LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ DÂN TỘC THUỘC ĐỊA VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA HỒ CHÍ MINH **

Trong “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” (1960), Hồ Chí Minh

đã viết về ảnh hưởng của bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn

đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” của Lênin đối với Người như sau: “Ngồi một

mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo:

“Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây làcon đường giải phóng chúng ta”

Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba.”48

Người đến với Lênin trước hết là sự hấp dẫn của bản “Sơ thảo lần thứ

nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” của Lênin, bởi

ở đó Lênin là người bênh vực cho các dân tộc thuộc địa Điều này đã được HồChí Minh tâm sự, ngay từ 1920 “dù chưa biết đủ tiếng Pháp để nói hết ý nghĩcủa mình, tôi vẫn đập mạnh những lời lẽ chống lại Lênin, chống lại Quốc tếthứ ba Lý lẽ duy nhất của tôi là: Nếu đồng chí không lên án chủ nghĩa thựcdân, nếu đồng chí không bênh vực các dân tộc thuộc địa thì đồng chí làm cáicách mạng gì?”49

Bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân

tộc thuộc địa” gồm 12 luận cương, ở đó Lênin đã đề cập tới những vấn đề cơ

bản sau:

1 Giai cấp tư sản đã giải quyết một cách trừu tượng và hình thức vấn đềdân tộc và quyền bình đẳng giữa các dân tộc Đó là một sự đối trá, thủ tiêu đấutranh giai cấp nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản Thực chất chủ nghĩa dântộc của giai cấp tư sản là vị kỷ, hẹp hòi, cá lớn nuốt cá bé Nó tạo ra nhữngquốc gia độc lập về phương diện chính trị, nhưng hoàn toàn phụ thuộc vào chủnghĩa tư bản về phương diện kinh tế, tài chính và quân sự (Luận cương 1, 9,

10, 11)

2 Lênin đã đặt ra một loạt các vấn đề có tính nguyên lý và nhữngphương hướng giải quyết các vấn đề dân tộc của chủ nghĩa quốc tế vô sảntrong sáng Ở đó các dân tộc đều có quyền bình đẳng và quyền tự quyết về vậnmệnh của dân tộc mình trên tinh thần hợp tác và xích lại gần nhau giữa các dân

** Bài đăng ở Thông tin khoa học, trường Đại học Khoa học, số 15, Huế, 10/2008.

48 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 10, trang 127.

49 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 10, trang 127.

30

Trang 31

tộc Đây là sự phát triển, hoàn thiện lý luận chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộccủa Lênin (Luận cương 2, 3, 4, 7, 8, 10, 11, 12).

Nếu “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” 1848 với các Lời tựa của nó do

Ăngghen viết cho các lần tái bản 1892 và 1893 khẳng định: giải phóng dân tộc

là điều kiện để đoàn kết quốc tế chống chủ nghĩa tư bản, đó là sứ mệnh lịch sử

của giai cấp công nhân Thì “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề

dân tộc và dân tộc thuộc địa” của Lênin đã chỉ ra những nguyên tắc liên quan

trực tiếp đến cách mạng Việt Nam và ảnh hưởng đến tư tưởng Hồ Chí Minh vềcon đường cách mạng Việt Nam Những nguyên tắc đó là:

a Phải phân biệt rõ lợi ích của các giai cấp bị áp bức, bóc lột với lợi ích

của giai cấp thống trị Phân biệt rõ quyền lợi của dân tộc bị áp bức với quyền lợi của các lực lượng đi áp bức Nhờ giác ngộ được nguyên tắc này mà Hồ Chí

Minh đã khác với tất cả các lãnh tụ yêu nước khác của Việt Nam, Người phântích một cách sâu sắc các giai cấp, tầng lớp xã hội ở Việt Nam; phân tích mâuthuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam mà tìm ra phương pháp đúngnhằm giáo dục, tập hợp, tổ chức và lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc.Mẫu số chung của đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc của Hồ Chí Minh là tinhthần yêu nước và ý thức dân tộc Đây là một nguyên tắc tư duy chính trị đặcsắc của Hồ Chí Minh (thêm bạn bớt thù - tác giả nhấn mạnh), có giá trị to lớnđối với sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc của cách mạng Việt Nam

b Gắn kết phong trào công nhân với phong trào giải phóng dân tộc là

vấn đề sống còn, là điều kiện tiên quyết trong sự nghiệp đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Nhận thức được nguyên tắc này, mà năm 1924, trong “Lênin và các dân tộc phương Đông” Hồ Chí Minh đã viết: “Lênin là người đầu tiên đã

hiểu và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân cácnước thuộc địa vào phong trào cách mạng Lênin là người đầu tiên chỉ rõ rằng,nếu không có sự tham gia của các dân tộc thuộc địa, thì cách mạng xã hộikhông thể có được”50

Tuy nhiên, do hạn chế về điều kiện lịch sử, mà dù thấy được vai trò quantrọng của của cách mạng giải phóng dân tộc, nhưng Lênin vẫn khẳng định sựthắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc bị lệ thuộc vào sự thắng lợi củacách mạng vô sản ở chính quốc: “Nếu không có chiến thắng đó thì không thểthủ tiêu được ách áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng”51 Hồ Chí Minhtrong điều kiện lịch sử mới đã phân tích sâu sắc tình hình thuộc địa, nhất là tìnhhình cách mạng Việt Nam mà khẳng định và thực hiện: cách mạng giải phóngdân tộc nếu được tiến hành một cách chủ động, sáng tạo thì có khả năng giành

thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc Trong “Đường kách mệnh”

1927, Người viết: “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư sản Pháp yếu,

tư sản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ”52

50 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 136.

51 Lênin toàn tập, Nxb Tiến Bộ, Matxcova, 1978, tập 41, trang 199.

52 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 266.

31

Trang 32

3 Đề cập về những yếu tố dân tộc của các nước thuộc địa, một mặtLênin phê phán những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa dân tộc tiểu tư sảnnhư “tinh thần ích kỷ dân tộc”, “thành kiến dân tộc tiểu tư sản thâm căn cố đế”;

mặt khác Lênin đặc biệt lưu ý hai vấn đề: Sự nghi kỵ của quần chúng cần lao ở

các nước thuộc địa “đối với các dân tộc đi áp bức nói chung, kể cả với giai cấp vô sản của các dân tộc đó” 53 ; Tình trạng lạc hậu của nước tiểu sản xuất nông nghiệp mang tính chất gia trưởng làm cho “những thành kiến tiểu tư sản thâm căn cố đế nhất như tinh thần ích kỷ dân tộc, hẹp hòi dân tộc có một sức mạnh đặc biệt và có tính dai dẳng” 54 Nhờ những gợi ý quan trọng này của

Lênin mà Hồ Chí Minh sau này, trong “Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam

kỳ” năm 1924, Người đã chủ trương đoàn kết dân tộc phải kết hợp với đoàn kết

quốc tế: “Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sảntoàn thế giới”55, và đã phát hiện ra “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn củađất nước”56, “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộngsản Giờ đây người ta không thể làm gì được cho người An Nam nếu khôngdựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”57

Từ bài học của Cách mạng Tháng Mười Nga, phân tích một cách khoahọc những thất bại và thành công của Quốc tế I, Quốc tế II và Quốc tế III, mà

trong “Đường kách mệnh” 1927, Hồ Chí Minh kết luận: “Xem những việc ấy

thì đủ biết rằng An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tamquốc tế”58 Trong “Chánh cương vắn tắt của Đảng” 1930, sau khi phân tích các

mâu thuẫn trong nước, Người chỉ thị: “Vậy tư bản bản xứ không có thế lực gì

ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thếlực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa, nên chủ trương làm tư sản dânquyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản”59 Người

cũng chỉ thị trong “Sách lược vắn tắt của Đảng” rằng: “Trong khi liên lạc với

các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi ích gì củacông nông mà đi vào con đường thỏa hiệp”60

Như vậy, Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa đã ảnh hưởng sâu sắc tới nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình Người tìm đường cứu nước Qua nghiên cứu Luận cương, Người đã hoàn toàn tin theo Lênin và Quốc tế thứ ba Đồng thời, vận dụng sáng tạo Luận cương của Lênin, khẳng định con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam là

đi theo con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh đã phát triển thêm Luận cương của Lênin cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới.

53 Lênin toàn tập, Nxb Tiến Bộ, Matxcova, 1978, tập 41, trang 205.

54 Lênin toàn tập, Nxb Tiến Bộ, Matxcova, 1978, tập 41, trang 205.

55 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 469.

56 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 466.

57 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 467.

58 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 287.

59 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 1.

60 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 3.

32

Trang 33

1.4 HỒ CHÍ MINH VỚI LÊNIN VÀ CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI ***

1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh trải qua 5 giai đoạn, thì kể từ 1920 trở đi, bất cứ giai đoạn nào Lênin

và Cách mạng Tháng Mười cũng đều ảnh hưởng, tác động sâu sắc đến tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Người.

Từ 1911 đến 1920, đây là giai đoạn Hồ Chí Minh bôn ba năm châu bốn

biển và bước đầu xác định được con đường cứu nước của Việt Nam Việc xácđịnh được con đường cứu nước ở giai đoạn này không chỉ phụ thuộc vào tưduy độc lập tự chủ, sáng tạo và đổi mới của Hồ Chí Minh, mà còn là sự tácđộng rất lớn của Lênin và Cách mạng Tháng Mười đến tư tưởng và sự nghiệp

cách mạng của Hồ Chí Minh, bằng chính “Bản sơ thảo lần thứ nhất những

luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa ” của Lênin Điều này đã

được Hồ Chí Minh thừa nhận trong “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”

(1960): “Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quầnchúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết chochúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta””61 Từ đó Người đến vớiLênin và chủ nghĩa Mác-Lênin và chọn con đường cách mạng Việt Nam theocách mạng vô sản

Từ 1920 đến 1930, là giai đoạn Hồ Chí Minh đã xác định đúng các nội

dung cơ bản của con đường cách mạng Việt Nam Việc xác định cách mạngViệt Nam phải trải qua hai giai đoạn Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân vàCách mạng xã hội chủ nghĩa, ở Hồ Chí Minh tại thời kỳ này không chỉ là nhờtừ chủ nghĩa Lênin Người đến được với chủ nghĩa Mác-Lênin, mà còn ở sự rút

ra được bài học kinh nghiệm của cách mạng thế giới của Hồ Chí Minh, màCách mạng Tháng Mười đã mạng lại cho Người bài học kinh nghiệm quý báunhất: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thìphải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan,phải hy sinh, phải thống nhất Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư

và Lênin”62 Từ đó Người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam và bắt đầu lãnhđạo cách mạng Việt Nam tuân thủ 3 nguyên tắc của cách mạng vô sản: DoĐảng Cộng sản lãnh đạo; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân;liên minh công nông là nguyên tắc cao nhất của cách mạng vô sản

Từ 1930 đến 1945, đây là giai đoạn Hồ Chí Minh phải vượt qua mọi thử

thách, thậm chí phải đơn độc chống lại chủ nghĩa tả khuynh trong Đảng Cộngsản Việt Nam và trong Quốc tế Cộng sản nên phải bị giam lỏng tại Liên Xô, đểkiên định con đường cách mạng mình đã lựa chọn Vượt qua được mọi thửthách, kể cả bị tù đày tại 30 nhà lao của Tưởng Giới Thạch, kiên định với conđường cách mạng đã lựa chọn, là nhờ phần lớn Hồ Chí Minh rất trung thành

*** Bài đăng ở Thông tin khoa học, trường Đại học Khoa học, số 15, Huế, 10/2008.

61 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 10, trang 127.

62 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 280.

33

Trang 34

với chủ nghĩa Mác-Lênin Người từng căn dặn Đảng ta, muốn thực sự đảmđương vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam và làm tròn những nhiệm vụ chínhtrị của Đảng, thì “Đảng phải đấu tranh không nhân nhượng chống tư tưởng bèphái, và phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác-Lênin để nâng caotrình độ văn hóa và chính trị cho các đảng viên”63 Điều này, không những

được Người chỉ ra từ 1939 trong “Những chỉ thị mà tôi nhớ và truyền đạt”, mà

sau này trong nhiều tác phẩm khác, nhất là các tác phẩm bàn về đạo đức cáchmạng, về tư cách đảng viên đều được Người nhấn mạnh

Từ 1945 đến 1969, là giai đoạn Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo thắng lợi

cách mạng Việt Nam theo con đường Người đã chọn Đây cũng là giai đoạnhoàn thiện tư tưởng của Người về vấn đề dân tộc và vấn đề chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam Làm được như vậy chính là nhờ Người đã rất trung thành với Lênin:

“Trước mắt các dân tộc phương Đông, Lênin không chỉ là một vị lãnh tụ, mộtngười chỉ huy Đó cũng là một người thầy có sức hấp dẫn làm cho quả timcủa chúng tôi hướng về Người, không gì ngăn cản nổi Lênin là hiện thân củatình bác ái”64 “Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng những lời dạycủa Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Namngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi to lớn ”65

Về vấn đề dân tộc, tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Lênin vào

Việt Nam, Hồ Chí Minh tuyên bố: Độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khảxâm phạm của mỗi dân tộc và đưa ra chân lý sáng ngời của thời đại “Không có

gì quý hơn độc lập tự do”66 Người đề cao dân tộc nhưng không hạ thấp giaicấp, chủ trương kết hợp nhuần nhuyễn các vấn đề dân tộc với giai cấp, độc lậpdân tộc với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước truyền thống với chủ nghĩaquốc tế vô sản trong sáng vừa giành độc lập cho dân tộc mình, vừa giành độclập cho dân tộc bạn Người đặt cách mạng Việt Nam vào dòng chảy của cáchmạng thế giới: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận cấu thành của cả ba bộphận cấu thành của sức mạnh thời đại (phong trào Xã hội chủ nghĩa, phongtrào Giải phóng dân tộc, sự phát triển của Khoa học kỹ thuật và Công nghệ) Những luận điểm của Người về vấn đề dân tộc đều tập trung đỉnh cao nhất là

sự thống nhất giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Về vấn đề xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, tiếp thu và vận dụng sáng tạo

chủ nghĩa Lênin vào Việt Nam, mà Hồ Chí Minh đã có nhiều định nghĩa khácnhau về CNXH ở Việt Nam Thông qua các định nghĩa ấy mà chỉ ra các đặctrưng bản chất của CNXH ở Việt Nam, đồng thời xác định các mục tiêu vàđộng lực của CNXH ở Việt Nam Đóng góp quan trọng của Người là ở chỗxuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam mà xây dựng những vấn đề

có tính nguyên tắc cho CNXH của Việt Nam Cũng như Mác, Ăngghen và

63 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 139.

64 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 472-473.

65 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 476.

66 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 108.

34

Trang 35

Lênin, Hồ Chí Minh không định sẵn mô hình CNXH và con đường quá độ lênCNXH ở Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đường quá độlên CNXH ở Việt Nam chỉ là vấn đề có tính nguyên tắc vạch phương hướngcho những bảo đảm sự thắng lợi triệt để của cách mạng Việt Nam Nếu Lênin

đã từng chỉ ra: Không có chủ nghĩa xã hội giống nhau cho mọi dân tộc, chỉ cóchủ nghĩa xã hội phù hợp với từng dân tộc Thì Hồ Chí Minh cũng tuyên bố:Liên Xô có đặc điểm của Liên Xô, Việt Nam có đặc điểm của Việt Nam, chúng

ta làm khác với Liên Xô, làm trái với Liên Xô, chúng ta vẫn là mác-xít: “Takhông thể giống Liên Xô ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa

xã hội”67 Quan niệm của Hồ Chí Minh về chia nhỏ thời kỳ quá độ lên CNXHthành nhiều bước đi là sự phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin của Người trong điềukiện lịch sử mới

2 Chủ nghĩa Mác-Lênin là cội nguồn cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh Trong đó, Lênin và Cách mạng Tháng Mười là bộ phận ảnh hưởng sâu sắc nhất đến cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người.

Khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin là cội nguồn cốt lõi của tư tưởng HồChí Minh, bởi lẽ: Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống của Việt Nam, lăn lộntrong phong trào công nhân quốc tế, Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin trởthành người cộng sản Việt Nam đầu tiên; Người tham gia sáng lập ra ĐảngCộng sản Pháp, là người đầu tiên trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin mộtcách có tổ chức và có hệ thống vào Việt Nam, là người sáng lập ra Đảng Cộngsản Việt Nam; Người là một trong những lãnh tụ lỗi lạc của phong trào côngnhân và phong trào cộng sản quốc tế; Người trực tiếp lãnh đạo, vận dụng sángtạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin để đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắnglợi này đến thắng lợi khác theo con đường cách mạng vô sản

Trong tiến trình cách mạng ấy, có thể thấy Lênin và Cách mạng ThángMười là bộ phận ảnh hưởng sâu sắc nhất đến cuộc đời và sự nghiệp cách mạngcủa Hồ Chí Minh:

Các tác phẩm tiêu biểu mà Hồ Chí Minh chuyên viết về Lênin và Cách

mạng Tháng Mười suốt từ 1924 đến 1969 là: “Lênin và các dân tộc thuộc địa” 1/1924; “Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa” 1924; “Tham luận về vấn

đề dân tộc và dân tộc thuộc địa tại Đại hội Quốc tế lần thứ V của Quốc tế Cộng sản” 1924; “Lênin và các dân tộc phương Đông” 7/1924; “Lênin và các dân tộc thuộc địa” 1925; “Lênin và phương Đông” 1/1926; “Trường đại học phương Đông” 6/1927; “Sự nghiệp vĩ đại của Lênin” 1/ 1952; “Chủ nghĩa Lênin và công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức” 1/1955; “Sức mạnh hòa bình của Liên Xô” 5/1956; “Liên Xô vĩ đại” 10/1957; “Cách mạng Tháng Mười

và sự nghiệp giải phóng các dân tộc phương Đông” 11/1957; “Chúc mừng ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại” 11/1958; “Vui vẻ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại” 11/1959; “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”

67 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 8, trang 227.

35

Trang 36

4/1960; “Lênin và thi đua xã hội chủ nghĩa” 4/1960; “Sức mạnh vô địch” 1960;

“Chào mừng kỷ niệm lần thứ 44 Cách mạng Tháng Mười vĩ đại” 11/1961;

“Lênin người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam” 4/1962; “Chủ nghĩa Lênin

vĩ đại muôn năm” 4/1962; “45 năm đấu tranh anh dũng, 45 năm thắng lợi vẻ vang” 11/1962; “Nhân ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại” 11/1963;

“Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc” 11/1967; “Chủ nghĩa Lênin và cách mạng Việt Nam” 7/1969.

Trong các tác phẩm ấy, Hồ Chí Minh không chỉ bày tỏ tình cảm kínhtrọng, ngưỡng mộ của Người đối với Lênin và Cách mạng Tháng Mười, màcòn xác định trách nhiệm, nghĩa vụ cao cả của chúng ta là thực hiện những dihuấn của Lênin Người luôn chỉ ra Lênin và Cách mạng Tháng Mười là ngọnđèn pha soi sáng con đường cách mạng Việt Nam Người viết: “Những người

có tâm huyết làm sao có thể cầm được nước mắt? Những người bị áp bức, hálại không nên nhận lấy nhiệm vụ mà Lênin đã để lại và tiến lên hay sao? Tiếnlên!”68 “Trong con mắt của các dân tộc thuộc địa, trong lịch sử cuộc đời đaukhổ và bị mất quyền của các dân tộc thuộc địa, Lênin là người sáng tạo ra cuộcđời mới, là ngọn hải đăng chỉ dẫn con đường đi tới giải phóng cho toàn thểnhân loại bị áp bức”69 “Đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và bị nô dịch,Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mấtquyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn”70

“Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, nhân dân Việt Nam taluôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại và coi Liên Xô là Tổ quốccủa cách mạng, Tổ quốc thứ hai của mình”71 “Giống như mặt trời chói lọi,Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hành triệu hàngtriệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất Đi theo con đường do Lênin vĩ đại

đã vạch ra, con đường của Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam đãgiành được thắng lợi rất to lớn”72

Trung thành với Lênin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Lênin vào Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợinày đến thắng lợi khác, từng bước xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩatheo cách của Người

Mác-Đó là những khẳng định của Hồ Chí Minh về ảnh hưởng của Lênin vàCách mạng Tháng Mười đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.Điều đó đồng thời nói lên sự ảnh hưởng sâu sắc của Lênin và Cách mạngTháng Mười đối với cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh

68 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 297.

69 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 137.

70 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 220.

71 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 11, trang 166.

72 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 300 và 309.

36

Trang 37

1.5 PHƯƠNG PHÁP KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỒ CHÍ MINH

Về nhân cách, phong cách, tác phong cách mạng thì kế thừa và phát triển

là sự kết tinh tài tình tinh hoa văn hóa dân tộc và trí tuệ thời đại của Hồ ChíMinh Thành công đó của Người đã tạo nên 3 trong 6 tiêu chí mà tổ chức vănhóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Hồ Chí Minh là nhà văn hóakiệt xuất của nhân loại:

1 Hồ Chí Minh là người có học vấn uyên thâm, uyên bác, tích tụ nhiềulĩnh vực, biết nhiều nền văn hóa: Nói chuyện được với mọi tầng lớp trong xãhội như nông dân, chính khách, nhà khoa học Những đối tượng khi được tiếpxúc với Người dù là ai thì bao giờ cũng có những nhận thức mới về thế giới(đặc biệt Người nói chuyện bằng ngôn ngữ chính của đối tượng; Người thôngthạo được nhiều thứ tiếng: Trung, Pháp, Anh, Nga, Đức, Ý, Tây Ban Nha, )

2 Hồ Chí Minh kết tinh được những giá trị truyền thống tiêu biểu củadân tộc Việt Nam: Giá trị truyền thống nhân nghĩa; Giá trị khoan dung của ViệtNam; Văn hóa ứng xử của người Việt Nam: biết Biến-Hóa-Dừng; ứng xử vớicon người, biết mình, biết người, biết thời, biết dừng, biết biến

3 Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa kiệt xuất bởi vì Người là mẫu mựccủa tinh thần khoan dung văn hóa

Phương pháp kế thừa và phát triển đã được Hồ Chí Minh nhận thức vàthực hiện thành công từ rất sớm Nó là một trong các động lực cách mạng quantrọng của sự nghiệp cách mạng Hồ Chí Minh

1) Từ những năm 20 của thế kỷ XX, khi quan sát thấy Chính phủ Trung

Quốc do Tôn Trung Sơn đứng đầu làm điều sai trái loại bỏ các nghi lễ thờ cúngKhổng Tử, Hồ Chí Minh đã viết bài phê phán điều sai lầm ấy và kêu gọi cácchiến sỹ cách mạng Việt Nam ngày ấy rằng: “Với việc xóa bỏ những nghi lễtưởng niệm Khổng Tử, Chính phủ Trung Quốc đã làm mất đi một thể chế cũ vàtrái với tinh thần dân chủ Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoànthiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và vềcách mạng cần đọc các tác phẩm của Lênin”73

Năm 1945, sau khi đọc “Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân

chủ Cộng hòa”, chiều 3/9/1945 trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Lâm

thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người đã trịnh trọng tuyên bố: “Vấn

đề thứ sáu – Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo

và đồng bào lương, để dễ bề thống trị Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: tín

ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”74 Sau này trong “Thư gửi Hội Phật tửngày 30/8/1947” và trong “Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Cộng sản Việt

Bài đăng trên Website của trường Đại học Khoa học Huế tháng 5/2010

73 Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 454.

74 Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 2000, tập 4, trang 9.

37

Trang 38

Nam 3/3/1951”75 và nhiều bài nói bài viết khác, Người cũng thường khẳngđịnh lại lập trường đó.

Trong sắc lệnh số 5 ký ngày 23/11/1945 ở điều 4, Người cấm phá huỷđình, chùa, đền, miếu, hoặc những nơi thờ tự khác: cung điện, thành quách,lăng mộ chưa được bảo tồn Người xem đó đều là di sản văn hóa của dân tộc

mà trách nhiệm của chúng ta là phải gìn giữ, phát huy những giá trị tích cựccủa nó vì Tổ quốc, vì nhân dân

Trong “Thư gửi đồng bào nhân lễ Thiên chúa giáng sinh ” năm 1945,

Người viết: “Gần 20 thế kỷ trước, một vị thánh nhân đã ra đời Cả đời Ngườichỉ lo cứu thế độ dân, hy sinh cho tự do, bình đẳng

Trong lúc này, thực dân Pháp gây cuộc chiến tranh, chúng mong cướp nước

ta lần nữa Chúng làm trái hẳn với lòng bác ái của Đức Giêsu

Toàn thể đồng bào ta, không chia lương giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòngkháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng để giữ gìn quyền tôn giáo

tự do”76

Trong quan niệm của Người, các vị sáng lập ra các tôn giáo đều là các vĩnhân, các đấng chí tôn77, nêu các tấm gương sáng về nhân văn, nhân đạo chohậu thế muôn đời Người đã từng khẳng định “Thiên chúa đã cho loài ngườiquyền tự do và dạy loài người lòng bác ái”78 Người đã viết và ca ngợi "ĐứcThiên Chúa là tấm gương hy sinh triệt để vì những người bị áp bức, vì nhữngdân tộc bị đè nén, vì hòa bình, vì công lý"79 Người cũng đã viết và ca ngợi

"Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn Muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổnạn, Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma"80

Năm 1948, trong bài “Bệnh tự kiêu, tự ái”, Bác viết: “Xưa nay những bực

tài giỏi như cụ Khổng Tử, cụ Lênin cũng không biết hết mọi việc, làm đượcmọi việc Cụ Khổng không biết nấu cơm, cụ Lê không biết may áo Vì vậy, cần

nấu cơm thì cụ Khổng phải học hỏi người làm bếp Cần may áo thì cụ Lê phải

học hỏi người thợ may.

Cụ Khổng và cụ Lê hơn mọi người, không phải vì hai cụ biết hết mọi việc,

làm được mọi việc Mà vì hai cụ không tự kiêu, tự ái, luôn luôn học hỏi.

Lời đầu tiên của cụ Khổng trong sách Luận ngữ, là: "Học mà thường tập,

chẳng cũng vui lắm thay"

Lời cụ Lê thường thường nhắc nhủ mọi người, là: "Học, học nữa, học mãi".

Và "phải học hỏi quần chúng"81

Khi bàn về công tác huấn luyện, Người lại dặn: “Người huấn luyện phải

học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyện của mình Lênin khuyên

Trang 39

chúng ta: "Học, học nữa, học mãi" Mỗi người đều phải ghi nhớ và thực hànhđiều đó, những người huấn luyện lại càng phải ghi nhớ hơn ai hết Người huấnluyện nào tự cho là mình đã biết đủ cả rồi, thì người đó dốt nhất Khẩu hiệu

"Học không biết chán, dạy không biết mỏi" treo trong phòng họp chính là củaKhổng Tử Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử

có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học

"Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điềuhiểu biết quý báu của các đời trước để lại" Lênin dạy chúng ta như vậy”82

Trong “Bài nói chuyện ở lớp chỉnh Đảng trung ương khóa 3”, Người lại

nói: “Trong khi rỗi, Bác thường đọc sách, sách mới có, cũ có Hôm nay Bácnói một câu chuyện về sách cũ

Ngày xưa Khổng Tử có câu: "ôn việc cũ để biết việc mới" nghĩa là taphải ôn những việc đã qua để thấy việc mới”83

Người đã từng trả lời câu hỏi “Người là ai?” rằng: “Học thuyết củaKhổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, Ki tô giáo có ưu điểm làlòng bác ái Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm chính là chính sách của nóphù hợp với những điều kiện của nước ta Chủ nghĩa Mác có ưu điểm làphương pháp làm việc biện chứng Tôi cố gắng làm một học trò nhỏ của các

vị ấy”84

2) Toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là sự kế thừa và phát

triển các giá trị của văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại, rút ra bài học kinhnghiệm từ cách mạng dân tộc và cách mạng thế giới, tạo ra động lực cáchmạng mới mà đưa dân tộc Việt Nam lên ngang tầm thời đại, và đến lượt dântộc Việt Nam đã làm cho Người trở thành “Danh nhân văn hóa nhân loại”

Viết về điều này, các nhạc sỹ Việt Nam đã là những người đầu tiên vàthành công nhất Vào những năm giữa đầu thế kỷ XX, nhạc sỹ Phạm Tuyên đã

viết: “Từ làng Sen/ có một người trai chí lớn/ mang lý tưởng cách mạng/ giải

phóng quê hương/ Ra đi/ tìm khắp bốn phương/ đường đi cho cả dân tộc/ dặm trường mà xông pha/ ” Từ hiện thực nghe hát đò đưa xứ Nghệ, vào thập niên

70 của thế kỷ XX, nhạc sĩ An Thuyên cũng đã viết: “Đêm trăng lên nghe tiếng/

đò đưa ngân rất gần/ nhớ chuyện Người thuở xa xưa…/ Tuổi ấu thơ Bác đã đi/ suốt chiều dài câu đò đưa/ Tuổi ấu thơ Bác đã sống/ suốt chiều rộng câu dân ca / Nay hát câu đò đưa, thấy đời đẹp mênh mang, càng nhớ Bác, nhớ ơn Người sâu nặng quê hương” Những năm cuối thế kỷ XX, nhạc sỹ Trần Hoàn

trong bài hát “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” lại mô tả: Trước lúc qua bên kia thế

giới, Người muôn nghe một câu hò ví dặm, Người muốn nghe một câu hò Huế, Người muốn nghe một đôi làn quan họ Bởi nước non day dứt không nguôi, Người muốn đem tận vô cùng bài ca đất nước đến mêng mông

82 Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 2000, tập 6, trang 46.

83 Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 2000, tập 7, trang 68.

84 Về Tôn giáo , Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 1994, Tập 1, Trang 6-7 Vũ Khiêu, Nho giáo xưa và nay, NXBKHXH, Hà Nội 1971, Tr 16.

39

Trang 40

Chính các kỷ niệm tuổi thơ với những giá trị truyền thống của quêhương, đất nước đã tạo nên một Hồ Chí Minh – vị Cha già dân tộc – với một

tình yêu nước thương dân vô hạn: “Cả cuộc đời, Bác chăm lo cho hạnh phúc

nhân dân/ Cả cuộc đời, Bác hy sinh cho dân tộc Việt Nam/ Bác thương các cụ già, xuân về dâng biếu lụa/ Bác thương đàn cháu nhỏ, trung thu gửi cho quà/ Bác thương đoàn dân công đêm đêm ngủ ngoài rừng/ Bác thương người chiến

sỹ đứng gác ngoài biên cương/ Bác viết thư thăm hỏi gửi muôn vàn tình thương ” (Nhạc sĩ Thuận Yến trong bài “Bác Hồ - một tình yêu bao la” đã suy

tư và khái quát như vậy); Đã tạo nên chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh “Ngườicao hơn núi” như gắn liền với đất trời vũ trụ, giữa thủ đô gió ngàn cách mạng:

“Suối reo dưới chân Người qua/ Đất rung tiếng ca nở hoa tháng Tám/ Bát

cơm mong chờ người già ước mơ/ Líu lo i tờ môi đọng trẻ thơ/ Bác ơi! Tóc sương bạc phơ/ Núi cao, suối sâu, thủ đô yêu dấu/ Khuổi Nậm còn vang lời ca mong nhớ Người” (Nguyễn Tài Tuệ - Tiếng hát giữa rừng PắcPó); Đã tạo nên

Bác Hồ, “Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim

nhân loại”, “Bác như ánh mặt trời xua màn đêm giá lạnh/ Bác như vì sao sáng sáng giữa trời bao la”

3) Trong bài thơ “Bác ơi” (1969) nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“Bác để tình thương cho chúng con

Một đời thanh bạch, chẳng vàng son

Mong manh áo vải, hồn muôn trượng

Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.

Ôi Bác Hồ ơi, những xế chiều

Nghìn thu nhớ Bác biết bao nhiêu?

Ra đi, Bác dặn: "Còn non nước "

Nghĩa nặng, lòng không dám khóc nhiều

Bác đã lên đường nhẹ bước tiên

Mác - Lênin, thế giới Người hiền

Ánh hào quang đỏ thêm sông núi

Dắt chúng con cùng nhau tiến lên!

Nhớ đôi dép cũ nặng công ơn

Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn

Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi

Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn.”

Trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh là trung thành với mục tiêu, lýtưởng của Người Là kiên trì con đường và mục tiêu Người đã chỉ dẫn, đồngthời là sự vận dụng tinh thần và phương pháp kế thừa và phát triển của Chủtịch Hồ Chí Minh để phát hiện ra những quy luật phát triển của cách mạng ViệtNam, tìm ra những luận điểm mới, cách làm mới phù hợp với hoàn cảnh vàđiều kiện mới Là không đi chệch hướng Xã hội Chủ nghĩa, nhưng không phảibám khư khư lấy những câu chữ của Người khi tình hình đã thay đổi

40

Ngày đăng: 24/06/2014, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w