1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giới thiệu một số tác phẩm kinh điển Tư Tưởng Hồ Chí Minh

235 954 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giới thiệu một số tác phẩm kinh điển Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả ThS Hoàng Ngọc Vĩnh, TS Thái Ngọc Tăng
Trường học Đại học Khoa Học Huế
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2010
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 235
Dung lượng 4,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở kế thừa cuốn sách Giới thiệu các tác phẩm kinh điển tư tưởng Hồ Chí Minh của TS Thái Ngọc Tăng, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế 2003, cuốn sách này gồm 2 phần, phần 1: Đôi nét về hoàn cảnh ra đời của tư tưởng Hồ Chí Minh; phần 2: Giới thiệu một số tác phẩm kinh điển tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Yêu sách của nhân dân An Nam; Bản án chế độ thực dân Pháp; Đường Kách mệnh; Bốn văn kiện vắn tắt được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng; Tuyên ngôn Độc lập; Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 1946; Sửa đổi lối làm việc; Đạo đức cách mạng 1955 và Đạo đức cách mạng 1958; Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân; Di chúc.

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU *

Để phục vụ cho việc học tập của sinh viên chuyên ngành Triết học và học viên các lớp Bồi dưỡng Giảng viên Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Đại học Khoa Học Huế, được sự phân công của Khoa, tôi biên soạn cuốn Giới thiệu một số tác phẩm kinh điển tư

tưởng Hồ Chí Minh

Trên cơ sở kế thừa cuốn sách Giới thiệu các tác phẩm kinh điển tư tưởng Hồ Chí

Minh của TS Thái Ngọc Tăng, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế 2003, cuốn sách này gồm

2 phần, phần 1: Đôi nét về hoàn cảnh ra đời của tư tưởng Hồ Chí Minh; phần 2: Giới thiệu một số tác phẩm kinh điển tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Yêu sách của nhân dân An Nam; Bản án chế độ thực dân Pháp; Đường Kách mệnh; Bốn văn kiện vắn tắt được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng; Tuyên ngôn Độc lập; Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 1946; Sửa đổi lối làm việc; Đạo đức cách mạng 1955 và Đạo đức cách mạng 1958; Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân; Di chúc.

Những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phản ánh trong Giáo trình Giới thiệu một số tác phẩm kinh điển tư tưởng Hồ Chí Minh là: “Muốn cứu nước và giải

phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” Đó là nội

dung tổng quát của tư tưởng Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là điểm xuất phát và là sự xuyên suốt của tư tưởng Hồ Chí Minh Độc lập dân tộc gắn bó

thống nhất với chủ nghĩa xã hội là luận điểm trung tâm của tư tưởng Hồ Chí Minh, nó

thâm nhập và xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người trong các thời kỳ và trên các lĩnh vực Phương pháp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một hệ thống được thể hiện đa dạng và phong phú ở các thời kỳ, các giai đoạn khác nhau, trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, lấy mục tiêu không thay đổi là độc lập, thống nhất của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân làm gốc Lần đầu tiên trong các đảng cộng sản cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên tư tưởng: Đảng phải xứng đáng vừa là người lãnh

đạo sáng suốt, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân Tư tưởng đại đoàn kết

Hồ Chí Minh mãi mãi là một sức mạnh làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân là sự vận dụng sáng

tạo học thuyết về nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lênin, chọn lọc, kế thừa cả những tinh hoa trong việc xây dựng nhà nước đã có trong lịch sử dân tộc và nhân loại Tư tưởng

đạo đức của Hồ Chí Minh là một thể thống nhất giữa đạo đức với chính trị, đạo đức với

tài năng, giữa nói và làm, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường: Suốt đời phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân

Để hiểu rõ những giá trị phong phú và toàn diện của tư tưởng Hồ Chí Minh, cần đọc, tìm hiểu và nghiên cứu Hồ Chí Minh toàn tập, trọn bộ 12 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 (2000, 20002) Cuốn Giáo trình giới thiệu một số tác phẩm kinh điển tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ phản ánh một phần nội dung bộ sách kinh điển lớn nhất, có giá trị lý luận và thực tiễn cao nhất ấy về cách mạng Việt Nam.

Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp, đọc giả gần xa

để cuốn sách ngày càng được hoàn thiện hơn.

Huế, tháng 08 năm 2010

Tác giả ThS Hoàng Ngọc Vĩnh, TS Thái Ngọc Tăng

Trang 6

MỤC LỤC

Lời mở đầu

Phần 1: Đôi nét về bối cảnh ra đời của tư tưởng Hồ Chí Minh

Phần 2: Giới thiệu một số tác phẩm kinh điển tiêu biểu tư tưởng Hồ Chí Minh

Giới thiệu tác phẩm Yêu sách của nhân nhân An Nam

Giới thiệu tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp

Giới thiệu tác phẩm Đường Kách mệnh

Giới thiệu tác phẩm Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

Giới thiệu tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập

Giới thiệu tác phẩm Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 1946

Giới thiệu các tác phẩm về đạo đức tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Kết luận

Trang 7

PHẦN 1 ĐÔI NÉT VỀ BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

1 Hoàn cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Gia Long là người đầu tiên đã thống nhất đất nước sau hơn 2000 năm bị chia cắt

Đề cao Nho giáo lên địa vị độc tôn, nhưng Gia Long (1802 1820), Minh Mạng (1820 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847) đều là những người biết giương cao ngọn cờ Phật giáo đểthu phục nhân tâm với ý thức dân tộc cao, dù chưa được lòng dân thì độc lập nước ta vẫnđược giữ vững

-Tự Đức (1848 - 1882) là người không thích làm vua chỉ thích làm thơ, sao nhãngviệc nước, lại thi hành những chính sách không phù hợp với tình thế làm cho đời sốngcủa nhân dân, trước hết là nông dân trở nên rất cơ cực Mâu thuẫn giữa nhân dân với bọnvua quan nhà Nguyễn trở nên hết sức gay gắt Đất nước Việt Nam vì thế đã nhanh chóngbị thực dân Pháp xâm lược

Từ tháng 7 năm Mậu Ngọ (31-7-1858) năm Tự Đức thứ 11, tư bản Pháp bắt đầuxâm lược Việt Nam Tháng 1 - 1859, chúng đánh chiếm Gia Định Năm 1862, chúngbuộc triều đình nhượng đứt ba tỉnh miền Đông Nam Bộ bằng hoà ước Nhâm tuất (1862).Ngày 25 – 6 - 1867, chúng lấy nốt ba tỉnh miền Tây Sau khi thôn tính xong các tỉnhNam Kỳ, ngày 15 - 10 năm Quý dậu (1873), chúng bắt đầu đánh chiếm Hà Nội

Năm 1883, quân Pháp khởi binh đánh vào cửa Thuận An (Thừa Thiên Huế) vàbuộc triều đình nhà Nguyễn phải ký Hoà ước Hácmăng (1883) Năm sau, ngày 6 - 6 -

1884, Pháp tiếp tục uy hiếp và buộc triều đình Huế phải ký hiệp ước Patơnốt, thừa nhậnnước Pháp “bảo hộ” cả Trung Kỳ và Bắc Kỳ Nền thống nhất Tổ quốc do nhân dân tabao đời xây đắp bằng mồ hôi và xương máu đã bị Hiệp ước Pa-tơ-nốt làm tan vỡ Đấtnước rơi vào tình trạng chia ba bởi chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp

Khuất phục được triều đình nhà Nguyễn, nhưng khắp nơi từ Nam chí Bắc thựcdân Pháp đã vấp phải ý chí chống xâm lược kiên cường của nhân dân ta Năm 1862,Trương Công Định bất chấp là quan lại của triều đình, tự nguyện ở lại với nghĩa quân đểchống giặc Pháp với tinh thần: lấy lau làm cờ, gậy tầm vông làm binh khí, nhất địnhkhông bao giờ ngừng chiến đấu chống quân cướp nước Nguyễn Trung Trực đã lãnh đạokháng chiến ở các địa phương Tân An, Rạch Giá, Thủ Thừa, Bến Lức, Long Thành, TânUyên v.v , khi bị giặc bắt đã hiên ngang tuyên bố: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nướcNam thì mới hết người nước Nam đánh Tây” Nguyễn Hữu Huân (tức thủ khoa Huân)lãnh đạo phong trào chống Pháp ở các vùng Mỹ Tho, Mỹ Quý, Tam Bình, Rạch Gầm,Cai Lậy, trong những năm 1868 -1875

Giặc Pháp phải mất gần 30 năm (1858 -1884) mới chiếm được nước ta Nhưng,chưa đầy một năm sau hiệp ước Patơnốt, vua Tự Đức chết, Hàm Nghi lên nối ngôi(1885) đã cùng với Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn ra mật lệnh cho quân dân cácđịa phương không được hợp tác với Pháp Năm 1886, Hàm Nghi rời khỏi kinh thành, lậpcăn cứ kháng chiến ở Tân Sở (Quảng Trị) và hạ Chiếu Cần vương cứu quốc

Chiếu Cần vương đã cổ vũ phong trào kháng Pháp làm bùng lên một phong tràokhởi nghĩa khắp nơi: Tiêu biểu là khởi nghĩa Đinh Công Tráng ở Ba Đình, Thanh Hoá(1886 - 1887); của Phan Đình Phùng ở Vụ Quang, Hà Tĩnh (1885 -1896); của NguyễnThiện Thuật ở Bãi Sậy, Hưng Yên (1885 -1889); khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa

Trang 8

Thám ở Yên Thế, Bắc Giang (1885 - 1913); khởi nghĩa của vua Duy Tân (5 - 1916);v.v…

Tuy lòng yêu nước và dũng cảm có thừa nhưng tất cả những phong trào yêu nướcnói trên cuối cùng đều thất bại Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thànhthuộc địa của thực dân Pháp Dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam cónhiều thay đổi do chính sách cai trị của chúng gây nên

Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên chế điển hình Mọi quyềnhành đều nằm trong tay người Pháp Vua, quan Việt Nam chỉ đóng vai trò bù nhìn.Chúng thi hành chính sách “chia để trị”, hòng làm suy yếu truyền thống đoàn kết dựngnước và giữ nước của nhân dân ta Chúng chia rẽ cả ba dân tộc anh em trên bán đảoĐông Dương, rồi lập ra xứ Đông Dương thuộc Pháp nhằm xoá tên các nước Việt Nam,Lào, Campuchia khỏi bản đồ thế giới Nói về chính sách này của bọn thực dân, Nguyễn

Ái Quốc đã viết: “Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn “chia đểtrị” của nó Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung mộtdòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung mộttiếng nói, đã bị chia năm, sẻ bảy Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy, người ta hyvọng làm nguội được tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng người An Nam và tạo ramối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau Sau khi đẩy họ chống lại nhau, người talại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại, lập nên một “liên bang” gọi là Liên bangĐông Dương”1

Về văn hoá, chúng thi hành chính sách ngu dân hòng nô dịch nhân dân ta trongvòng ngu tối Các quyền tự do đều bị cấm Chúng xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học

và bệnh viện Chúng bưng bít, ngăn cản ảnh hưởng văn hoá tiến bộ trên thế giới, kể cảvăn hoá tiến bộ Pháp dội vào Việt Nam, nhưng lại khuyến khích văn hoá đồi truỵ, mê tíndị đoan

Về kinh tế, tư bản Pháp không phát triển công nghiệp nặng mà chỉ mở mang mộtsố ngành trực tiếp phục vụ cho bộ máy thống trị và khai thác tài nguyên để cung cấpnguyên liệu cho nền công nghiệp của nước Pháp Song, những xưởng máy tại chỗ nàyvẫn phụ thuộc vào các cơ sở kinh tế ở chính quốc Các ngành kỹ thuật khác như khaithác mỏ thiếc, kẽm, chì, vàng, phốt phát, than đều thuộc quyền các công ty tư bản Phápđộc quyền Những ngành kỹ nghệ như vận tải (hoả xa, xe điện, tàu thuỷ, ), nhà máyđiện, đều do các công ty người Pháp kinh doanh

Chính sách độc quyền kinh tế của thực dân Pháp đã biến Việt Nam thành thịtrường, nơi vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân dân bằng thuế khoá nặng nề và nhân công

rẻ mạt của chính quốc

Bên cạnh sự bóc lột lao động, cướp đoạt tài nguyên, đất đai, thực dân Pháp cònduỳ trì chế độ phong kiến để giúp chúng bóc lột bằng địa tô, lợi tức và các hình thức thuếkhoá rất nặng nề

Các mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc

Trong khi mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân, với giai cấp địa chủphong kiến chưa được giải quyết, thì mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với bọn đế quốc

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 116.

Trang 9

Pháp thống trị và phong kiến tay sai của chúng lại phát sinh, càng đẩy nhanh quá trìnhcách mạng hoá nhân dân Việt Nam.

Đánh giá thực trạng xã hội nói trên, Nguyễn Ái Quốc đã có một phát hiện độcđáo có ý nghĩa khái quát về mặt lý luận: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bịđất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giảiphóng nữa thôi”2

Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa theo mô hình Pháp trùm lên phương thứcsản xuất phong kiến Việt Nam lỗi thời đã làm biến đổi và phân hoá các giai cấp trong xãhội Việt Nam:

Giai cấp địa chủ phong kiến đã từng giữ vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử

Từ khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp, bản thân giai cấp này cũng bịphân hoá mãnh liệt Một bộ phận nhỏ can tâm làm tay sai cho thực dân Pháp để duy trìquyền lợi của mình Một bộ phận không nhỏ tiếp tục truyền thống dân tộc, đề xướng vàlãnh đạo các phong trào Văn thân, Cần vương, chống đế quốc Pháp xâm lược, mongmuốn khôi phục lại triều đại phong kiến Một số trở thành lãnh tụ của phong trào quầnchúng nông dân vừa đấu tranh chống thực dân Pháp vừa chống triều đình bán nước Mộtbộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa

Giai cấp tư sản Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ trong thời gian Chiến tranh thế giớithứ nhất (1914 - 1918) Vừa ra đời, nó đã bị sức chèn ép của tư bản Pháp, làm phân hoáthành hai bộ phận Một số ít ôm chân đế quốc, tham gia vào các cơ quan chính trị và kinh

tế của thực dân Pháp Họ trở thành lớp tư sản mại bản, có quan hệ chặt chẽ với thực dânPháp Một bộ phận là tư sản dân tộc, tuy có mâu thuẫn nhất định với tư bản Pháp và triềuđình phong kiến, nhưng thế lực kinh tế yếu ớt, què quặt, lệ thuộc, nên khuynh hướngchính trị là cải lương Do vậy, giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam, tuy có tinh thần yêunước, chống phong kiến và đế quốc nhưng họ không có khả năng lãnh đạo cách mạng

Ngoài mong muốn làm giàu theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, lệ thuộc vào

Pháp, họ chưa đề xướng ra được một chủ trương cứu nước tiến bộ nào cả Họ chỉ có thểtham gia cuộc đấu tranh ấy trong điều kiện nhất định

Tầng lớp trí thức và tiểu tư sản là những người vốn được chế độ phong kiến vàthực dân Pháp đào tạo Song, do truyền thống yêu nước chi phối, họ khao khát độc lập,

tự do, dân chủ, nhưng cũng bị phân hoá Một số ít can tâm làm tay sai Số đông vẫn giữđược khí tiết của cha ông ta, dù ở hoàn cảnh nào cũng không nguôi lòng cứu nước Khi

có điều kiện, những trí thức yêu nước thường đóng vai trò truyền bá những tư tưởng mới

và là ngòi pháo của các cuộc đấu tranh

Giai cấp nông dân khao khát độc lập và ruộng đất Họ hăng hái chống đế quốc vàphong kiến Sau các phong trào Văn thân, Cần vương và nhất là sau thất bại của Khởinghĩa Yên Thế (1913), lực lượng phong trào nông dân bị phân tán

Nông dân là lực lượng đông đảo, yêu nước, là chỗ dựa của các cuộc kháng chiếnchống lại sự xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc trong lịch sử Nhưng, khiđối đầu với một kẻ thù mới - tư bản phương Tây, họ không thể vạch ra đường lối đúngđắn để tự giải phóng và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập1, trang 28.

Trang 10

Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thácthuộc địa của thực dân Pháp Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khithực dân Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp, dồn trại và thành phố, phục vụ chocuộc xâm lược và bình định nước ta Trước chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918),giai cấp công nhân còn ít, chỉ khoảng hơn 10 vạn người và trình độ tập trung còn thấp,phần lớn là công nhân các đồn điền cao su và khai thác mỏ than Qua thời kỳ khai thácthuộc địa lần thứ hai của đế quốc Pháp (1924 - 1929) số công nhân chuyên nghiệp đã cótới 22 vạn người, chiếm 1,2% số dân Việt Nam Nếu tính số người làm thuê trong cáchãng kinh doanh tư nhân vừa, nhỏ và số người vô sản, nửa vô sản sống ở thành thị vànông thôn, thì đội quân vô sản ở Việt Nam trước năm 1930 có đến hàng triệu người.

Sinh trưởng trong một nước thuộc địa, nửa phong kiến, cũng như nông dân và cáctầng lớp lao động khác, giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng lớp bóc lột của đế quốc,phong kiến và tư bản bản xứ Phần lớn họ xuất thân từ nông dân, có quan hệ ruột thịt, giađình với nông dân Đó là cơ sở khách quan thuận lợi làm cho hai giai cấp cơ bản này có

sự liên minh tự nhiên từ khi ra đời và phát triển trong quá trình đấu tranh giải phóng dân

tộc

Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, chưa có cơ sở xã hội cho chủ nghĩa côngđoàn và chủ nghĩa cải lương thâm nhập, lũng đoạn từ bên trong, do vậy, tuy còn trẻ, sốlượng còn ít, trình độ khoa học và kỹ thuật còn thấp, nhưng giai cấp công nhân ở ViệtNam là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất, sống tương đối tập trung,

có ý thức tổ chức kỷ luật, có năng lực cách mạng triệt để và có tinh thần quốc tế vô sản

Là con đẻ của một dân tộc anh hùng, lớn lên trong hoàn cảnh giai cấp công nhânNga dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Bônsêvích đã giành được chính quyền, Quốc

tế cộng sản đã thành lập, lại được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giáo dục và lãnh đạo, giaicấp công nhân Việt Nam sớm giác ngộ dân tộc và giác ngộ giai cấp đã từng bước phát

triển từ tự phát sang tự giác Tháng 11 năm 1922, 600 thợ nhuộm Chợ Lớn (Nam Bộ) vì

bị bớt lương nên quyết định bãi công Từ năm 1920 đến năm 1925 có đến 25 cuộc bãicông trong cả nước Nổi bật nhất là cuộc bãi công của công nhân Ba Son nổ ra từ ngày 4

- 8 đến ngày 28 - 11 - 1925 đã “kìm chân” chiếc tàu J.Mit-sơ-lê của đế quốc Pháp chuẩnbị đưa quân sang đàn áp cách mạng Trung Quốc Cuộc đấu tranh này có tổ chức, chỉ đạo

và biểu hiện tinh thần quốc tế cao cả Tuy vậy, chỉ đến những năm 1928 - 1929 khi ViệtNam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội (Hội Việt Nam cách mạng thanh niên) chủtrương “vô sản hoá” mới tạo điều kiện cho phong trào công nhân nhanh chóng trưởngthành

2 Hoàn cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Giai đoạn này, thế giới có những thuận lợi: Phương Đông đã thức tỉnh; Chiếntranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Quốc tếcộng sản được thành lập; Các Đảng cộng sản đã lần lượt ra đời ở một số nước châu Âu

và châu Á

Ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã hoạt động trong phong trào côngnhân và lao động một số nước trên thế giới, đến với nhân dân cần lao ở các nước thuộcđịa học tập, nghiên cứu các trào lưu tư tưởng, các thể chế chính trị, tiếp thu tư tưởng cáchmạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc

là con đường cách mạng vô sản

Trang 11

Nguyễn Ái Quốc bước lên vũ đài chính trị khi chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế

quốc đã là một lực lượng quốc tế Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở thế kỷ XX không

còn là sự đấu tranh của một nước này chống sự xâm lược của một nước kia nữa, mà đã làcuộc đấu tranh của chung các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thựcdân gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế

Trong điều kiện lịch sử mới, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nếu chỉ tiến hànhriêng rẽ ở từng nước thì không thể đi đến thắng lợi Sự thất bại của các phong trào yêunước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam đều thất bại, không phải vì nhân dân tathiếu anh hùng, các lãnh tụ thiếu nhiệt huyết cách mạng, mà vì các lãnh tụ đã không nhậnthấy được đặc điểm của thời đại, nên chỉ tự nổi dậy như Phan Đình Phùng, Hoàng HoaThám, hoặc đấu tranh không thắng nổi thì đi cầu ngoại viện như Phan Bội Châu

Khi còn trong nước, Nguyễn Tất Thành chưa nhận thức được đặc điểm ấy củathời đại Nhưng từ thực tế lịch sử, Người thấy rõ con đường của các bậc cha anh làkhông đem lại kết quả, vì vậy Người phải ra đi tìm con đường mới cứu nước Người đãvượt qua ba đại dương, bốn châu lục, đặt chân lên khoảng 30 nước, trở thành một trongnhững nhà hoạt động chính trị đã đi nhiều nhất, có vốn hiểu biết phong phú nhất về cácnước thuộc địa và các nước tư bản đế quốc chủ yếu nhất trong nửa đầu thế kỷ XX Nhờ

đó, Người đã hiểu rõ được bản chất chung của chủ nghĩa đế quốc, màu sắc riêng củatừng nước đế quốc; đã hiểu được trình độ phát triển của nhiều nước thuộc địa cùng cảnhngộ; v.v

Khoảng cuối 1917, Nguyễn Tất Thành từ Anh đến sống và hoạt động tại Pari,một trung tâm văn hóa, khoa học và chính trị của châu Âu Ở đây, nhờ lăn lộn trongphong trào lao động Pháp, sát cánh với những người yêu nước Việt Nam và những ngườicách mạng từ các nước thuộc địa khác của Pháp, mà Nguyễn Tất Thành đã nhanh chónggia nhập Đảng Xã hội Pháp, chính đảng duy nhất của Pháp bênh vực các dân tộc thuộcđịa, rồi trở thành một chiến sỹ xã hội chủ nghĩa

Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc nhân danh những người Việt Nam yêu nước, gửi tới

Hội nghị Vécxây (Hội nghị Hòa Bình) bản Yêu sách của nhân dân An Nam, đòi các

quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho Việt Nam Bản yêu sách không được chấp nhận,Nguyễn Ái Quốc đã rút ra được bài học: Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể

trông cậy vào chính bản thân mình Nhưng lúc này, Người vẫn chưa ý thức được đầy đủ

về con đường giải phóng dân tộc phải gắn liền với hai tác động quyết định là cách mạngTháng Mười và Quốc tế III, vì sự tác động của hai sự kiện này đã bị bưng bít bởi báo chí

Là một đảng viên tích cực của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc không đứngngoài cuộc tranh luận ấy Muốn tham gia đấu tranh phải tìm hiểu lý luận Trước khi tiếpcận với Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã sơ bộ

Trang 12

đi đến kết luận: Chủ nghĩa tư bản, đế quốc ở đâu cũng tàn bạo, độc ác, bất công; người

lao động ở đâu cũng bị áp bức, bóc lột, đầy đọa, “dù màu da có khác nhau, trên đời này

chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”.

Từ nhận thức về quan hệ áp bức dân tộc, Người đã đi tới nhận thức về quan hệ ápbức giai cấp, từ quyền của các dân tộc, Người đi đến quyền của con người, trước hết làcủa những người lao động Từ xác định rõ kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc, Người đã thấyđược bạn đồng minh là nhân dân lao động ở các nước chính quốc và thuộc địa Chínhthế, khi đọc Luận cương của Lênin, Người đã mững rỡ đến trào nước mắt, đã reo lên nhưtìm ra được một phát kiến vĩ đại Chính Luận cương của Lênin đã giúp Người tìm ra conđường chân chính cứu nước, cứu dân

Đêm kết thúc Đại hội Tua (30 - 12 - 1920), đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đờihoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc: Từ chủ nghĩa yêu nước đến với Chủ nghĩaMác - Lênin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc mình trong sự nghiệp giải phóng tất

cả các dân tộc, đồng thời mở ra bước ngoặt mới cho bao thế hệ của người cách mạng

Việt Nam: Từ người yêu nước thành người cộng sản

Như vậy, chủ nghĩa tư bản từ cạnh tranh đã chuyển sang độc quyền, xác lập sự

thống trị trên phạm vi thế giới, chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù chung của tất cả các dân tộc

thuộc địa; Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi (1917), “Thức tỉnh của các dân tộc châu Á”, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử nhân loại; Quốc tế III được thành lập (1919), phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa và phong trào giải phóng của các nước thuộc địa càng có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc; là những tiền đề trực tiếp của sự ra đời tư tưởng Hồ Chí

Minh

3 Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, người đầu tiên chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối cứu nước kéo dài gần 100 năm của dân tộc Việt Nam.

Việt Nam kể từ khi thực dân Pháp xâm lược đến những năm hai mươi của thế kỷ

XX đã chứng kiến hơn 300 cuộc đấu tranh anh dũng chống đế quốc Pháp Nhưng cuốicùng đều không giành được thắng lợi, không phải vì nhân dân Việt Nam thiếu ý chígiành độc lập, mà còn thiếu tri thức làm nền tảng tư tưởng cho việc ra đời một đường lốicách mạng đúng đắn

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, giai cấp phong kiến Việt Nam đã bạc nhượckhông thể đảm đương sứ mệnh lịch sử dân tộc Việt Nam Thất bại của phong trào Cầnvương là do thiếu đường lối đúng, thiếu một tổ chức cách mạng có khả năng dẫn dắtnhân dân đến thắng lợi Thất bại của phong trào này đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ đấutranh chống ngoại xâm trong khuôn khổ hệ tư tưởng phong kiến

Thất bại sau ba mươi năm đánh du kích của cụ Hoàng Hoa Thám cũng chứng tỏ

đó không phải là con đường giải phóng có hiệu quả

Sau khi từng bước ly khai con đường giải phóng dân tộc theo hệ tư tưởng phongkiến, nhiều người yêu nước hướng ra nước ngoài, tìm đến những con đường mới đểmong được giải phóng: con đường Nghị viện của tư sản Pháp (1789), con đường DuyTân của Nhật Bản (1860), con đường cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc (1911), v.v

Ý thức hệ của giai cấp tư sản phương Tây đã xâm nhập vào Việt Nam Một số sĩphu tiến bộ tiếp thu trào lưu tư tưởng này đã nảy ra khuynh hướng mong muốn nước

Trang 13

mạnh, dân giàu theo con đường tư bản chủ nghĩa Họ muốn noi theo con đường phát

triển của đế quốc Nhật, dựa vào Nhật để đánh Pháp Tiêu biểu cho khuynh hướng này là

Hội Duy Tân do cụ Phan Bội Châu sáng lập với mục đích cổ động phong trào, tổ chứclực lượng chống Pháp Số khác như các cụ Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, mở trườngĐông kinh nghĩa thục ở Hà Nội nhằm vào việc cổ động yêu nước, bài xích chính sách caitrị của thực dân Pháp, khuyến khích cải cách, chế giễu hủ nho, cường hào, v.v Là mộtngười chân thành yêu nước nhưng chủ trương của cụ Phan Chu Trinh khác hẳn với cụPhan Bội Châu Phan Chu Trinh tiêu biểu cho phái cải cách dân chủ tư sản (1789) phảnđối việc vũ trang bạo động chống Pháp bất bạo động, “bạo động tắc tử, bất vọng ngoại,vọng ngoại tất vong” Sau này trong thư “Thất trảm” gửi vua Khải Định lúc ông ta sangPháp (1922), Phan Chu Trinh đã viết: “mau quay đầu lại mà thoái vị đi, đem chính quyềntrả lại cho quốc dân để quốc dân được trực tiếp ngay với Chính phủ Pháp mà làm việcđặng mưu lợi ích sau này”

Phong trào Đông Du, Đông kinh nghĩa thục, chống đi phu, nộp thuế ở Trung kỳ

là kết quả của khuynh hướng tư tưởng trên

So với trước, phong trào giải phóng dân tộc ở thời kỳ này có chuyển biến về tínhchất Một số tổ chức cứu nước ra đời: Hội Duy Tân (1904), Trường Đông kinh nghĩathục (1907), Hội Đông Á đồng minh (1908), Việt Nam quang phục Hội (1912 - 1924),v.v Song, vì đường lối chính trị của các tổ chức này không rõ ràng, nhất là không dựavào quần chúng lao động, nên không tập hợp được lực lượng nhân dân Họ dựa vào uytín cá nhân như kiểu chủ nghĩa Bơ-lăng-xki, chứ chưa có ý thức lãnh đạo bằng một tổchức tập thể, nên không tạo ra được sự thống nhất trong những người đề xướng phongtrào để phối hợp hành động Vì vậy, khi người thủ lĩnh bị đế quốc Pháp bắt thì phongtrào cũng tan rã theo

Năm 1917, đánh dấu bước ngoặt mới trong lịch sử phát triển của nhân loại Cách

mạng thàng Mười Nga thành công, Quốc tế Cộng sản, Bộ tham mưu của giai cấp vô sản

và các dân tộc bị áp bức toàn thế giới, ra đời (3-1919) Trung Quốc sau phong trào Ngũ

tứ (4 - 5 - 1919) Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập (1920) Ở Pháp, nhữngngười phái tả trong Đảng xã hội đã ly khai Đệ nhị Quốc tế và tán thành Quốc tế Cộngsản do V.I.Lê nin sáng lập, Đảng Cộng sản theo Quốc tế III được thành lập (1920) Sựkiện Đảng Cộng sản Pháp ra đời không chỉ là thắng lợi của giai cấp công nhân và nhândân lao động Pháp mà còn là thắng lợi của các dân tộc thuộc địa Pháp

Đồng thời, với những chuyển biến của lịch sử thế giới, cách mạng Việt Nam lúcnày cũng có những chuyển biến mang tính chất vận động nội tại Đó là việc đồng chíNguyễn Ái Quốc thay mặt cho tổ chức những người Việt Nam yêu nước ở Pháp gửi Bản

Yêu sách của nhân dân An Nam đến Hội nghị Hòa bình ở Pháp (tháng 6 - 1919); đó là sự

kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản tại Đại hội lần thứXVIII của Đảng xã hội Pháp ở Thành phố Tua; đó là sự kiện một người thuộc địa - đồngchí Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, một Đảng Cộng sản ở

“chính quốc” (1920) Sau đó là tin về Người được bầu vào Đoàn Chủ tịch Hội nông dânQuốc tế (tháng 10 - 1923), dự Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản (1924) và các Đại hộiquốc tế khác trên đất nước Lênin mà báo chí của đế quốc Pháp đã đưa tin, theo dõi đểtìm bắt Nguyễn Ái Quốc Chính điều đó đã âm thầm cổ vũ phong trào yêu nước Việt

Trang 14

Nam Gần hơn nữa là tiếng bom Phạm Hồng Thái mưu sát toàn quyền Méclanh (6 1924) ở Quảng Châu mà Nguyễn Ái Quốc đánh giá “như chim én báo hiệu mùa xuân”.

-Tháng 4 - 1921, trên tạp chí của Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc viết:

“Không người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi Sựđầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng khôngthể làm tê liệt tư tưởng cách mạng, của người Đông Dương Đằng sau sự phục tùng tiêucực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ mộtcách ghê gớm khi thời cơ đến”3

Đúng như nhận xét của Người, từ những năm 1920 trở đi, phong trào cách mạngViệt Nam có những chuyển biến mạnh mẽ Bên cạnh những hội, đảng cách mạng mang

xu hướng tư tưởng tư sản đã xuất hiện những tổ chức yêu nước lúc đầu chịu ảnh hưởng

tư tưởng tư sản nhưng đã từng bước tự đổi mới để tiếp thu tư tưởng tiến bộ mới Đặcbiệt, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân - chủ nghĩa Mác - Lênin bắt đầu xâm nhập vàophong trào yêu nước và phong trào công nhân ở Việt Nam

Lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi phong trào Cần vương thất bại chứng minhrằng, giai cấp tư sản dân tộc chưa bao giờ giương được ngọn cờ giải phóng dân tộc.Đảng lập hiến của Bùi Quang Chiêu (1919) về căn bản là một tập đoàn địa chủ “tư bảnhoá”, chưa phải là đảng của giai cấp tư sản dân tộc

Năm 1926, khi họ đưa ra thuyết “Pháp - Việt đề huề” thì họ đã tự tay gỡ bỏ bộmặt yêu nước, lộ rõ tính cách làm tay sai cho đế quốc Pháp “Thuyết trực trị” củaNguyễn Văn Vĩnh, thuyết “Bảo hoàng lập hiến” của Phạm Quỳnh đã lộ rõ chân tướng lànhững người “hợp tác” với đế quốc Pháp Xu hướng quốc gia cải lương của nhóm HuỳnhThúc Kháng cũng ít tiếng vang

Phong trào đấu tranh trong những năm 1923 - 1927 mang tính chất yêu nước, đòi

tự do, dân chủ theo kiểu cách mạng tư sản, nhưng động lực của nó là những người tiểu tưsản chứ không phải do đảng của giai cấp tư sản lãnh đạo Biểu hiện của phong trào này lànhiều hội, đảng yêu nước của thanh niên, trí thức kế tiếp nhau ra đời: Tân Việt Thanhniên đoàn tức Tâm tâm xã (1923 - 1925); Hội Phục Việt (1925); Đảng Thanh niên củaTrần Huy Liệu (1926); Thanh niên Cao vọng Đảng của Nguyễn An Ninh (1926-1929);Tân Việt cách mạng Đảng (1926 - 1930); Việt Nam quốc dân Đảng (1925 - 1930); v.v…

Những tổ chức cách mạng nói trên đã có tác dụng nhất định trong việc truyền bá

tư tưởng mới, giáo dục lòng yêu nước và tập hợp một số quần chúng thanh niên trí thức,tiểu tư sản Nhưng, họ chưa vạch ra được một đường lối cách mạng phù hợp với yêu cầucủa dân tộc Tâm tâm xã nêu cao quyết tâm “khôi phục quyền làm người của người ViệtNam, nhưng chưa bàn đến chính thể”4 Tân Việt Cách mạng Đảng nhận rõ mục đích giảiphóng dân tộc, nhưng chưa thấy vị trí lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam Quốcdân Đảng chủ trương chống đế quốc, chống phong kiến, nhưng lại sao chép, rập khuônChủ nghĩa tam dân của Tôn Dật Tiên (Trung Quốc)

Nhìn chung, các hội và đảng yêu nước nói trên có quyết tâm cứu nước, nhưng

chưa nhận thức được xu thế phát triển khách quan của thời đại sau Cách mạng tháng

Mười Nga; chưa thấy được vấn đề giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nhân

3 Hồ Chí Minh Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 28.

4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Các tổ chức tiền thân của Đảng, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung

ương xuất bản, Hà Nội, 1997, trang 319, 320.

Trang 15

dân lao động, giải phóng xã hội, giải phóng con người, chủ nghĩa yêu nước chân chínhphải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản Họ cũng chưa nhận thức được vấn đề độc lậpdân tộc phải gắn liền với chế độ xã hội mới có khả năng xoá bỏ tình trạng người bóc lộtngười Họ cũng không thấy hết bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc Khôngnhận thức được vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân; vai trò của quần chúng nhân dântrước hết là nông dân trong cách mạng và sức mạnh của đoàn kết dân tộc và đoàn kếtquốc tế vô sản; v.v Bởi những hạn chế đó, những nhà yêu nước trong các tổ chức nàychưa thể xác định một đường lối cách mạng đúng đắn.

Nguyễn Ái Quốc sáng lập “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội” (HộiViệt Nam cách mạng thanh niên) Từ 1925 - 1927, thông qua các bài giảng, bài nói tạicác lớp đào luyện thanh, thiếu niên ưu tú của Việt Nam tại Trung Quốc (được tập hợp

thành tác phẩm Đường Kách mệnh xuất bản tại Trung Quốc năm 1927), Người là người

đầu tiên đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin một cách có hệ thống và có tổ chức vào ViệtNam Khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên

đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối cứu nước của dân tộc Việt Nam kéo dàigần 100 năm Làm cách mạng mà như cụ Phan Châu Trinh thì có khác gì kêu gọi kẻ thù

rủ lòng thương đối với dân ta đâu Làm cách mạng mà như cụ Phân Bội Châu thì có khácchi đuổi hổ cửa trước lại rước beo cửa sau đâu Muốn cứu nước, cứu dân thì không cócon đường nào khác là con đường cách mạng vô sản

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ giữa trí tuệ lớn của Hồ Chí Minh với trí tuệ của dân tộc và trí tuệ của thời đại Hồ Chí Minh từ sự vận động và phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi bắt gặp Chủ nghĩa Mác - Lênin đã hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.

4 Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác phẩm và sự nghiệp cách mạng

Nhân kỷ niệm 110 năm, ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tiến tới Đại hộiĐại biểu Toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, trọn bộ Hồ Chí Minh toàntập gồm 12 tập, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia tái bản đã lần lượt ra mắt độc giả

Bộ Hồ Chí Minh Toàn tập5, xuất bản năm 2000, tập hợp phần lớn những tácphẩm, bài nói, bài viết quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1919 đến năm 1969

đã sưu tầm và xác minh được Đây là một tài sản tinh thần vô giá của toàn Đảng, toàndân ta, là sự phản ánh sinh động, sâu sắc quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm đường cứunước và vạch ra đường lối chiến lược, sách lược cho cách mạng Việt Nam, đồng thờiphản ánh quá trình Người cùng với Đảng ta tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từthắng lợi này đến thắng lợi khác

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận thiên tài của cách mạngViệt Nam Người đã nêu một tấm gương sáng trong việc tiếp thu và vận dụng chủ nghĩaMác - Lênin trên tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo Người đã “nắm bắt sâu sắc bảnchất cách mạng và khoa học, tinh thần biện chứng và nhân đạo của học thuyết Mác -Lênin, vận dụng một cách sáng tạo học thuyết ấy phù hợp với hoàn cảnh thực tế nước ta;đồng thời, Người đã kế thừa, phát huy chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dântộc và tinh hoa của nhân loại Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ những nguồngốc đó Việc Đại hội VII khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là

5 Toàn bộ nội dung này và các trích dẫn tư tưởng Hồ Chí Minh dưới đây của mục này, xem Hô ̀ Chí

Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1, trang VII-XXII.

Trang 16

nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động là một bước phát triển hếtsức quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta.

Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặcbiệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nướcthuộc địa và phụ thuộc Tư tưởng của Người đã và đang soi đường cho cuộc đấu tranhcủa nhân dân ta giành thắng lợi, trở thành những giá trị bền vững của dân tộc Việt Nam

và lan toả ra thế giới”6

Ngày nay, khi sự nghiệp đổi mới ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu, nhữngbiến chuyển trên thế giới ngày càng lớn, những vấn đề mới đặt ra trong đời sống xã hộingày càng nhiều, đòi hỏi phải làm sáng tỏ để tìm ra sự giải đáp, thì việc nghiên cứu, bảo

vệ, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tế cuộc sống, trở thành nhiệmvụ quan trọng, cấp bách trong công tác chính trị, tư tưởng, lý luận của toàn Đảng, toàndân ta

Những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phản ánh trong Hồ Chí

giải phóng con người Đó cũng là nội dung tổng quát của tư tưởng Hồ Chí Minh.

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là điểm xuất phát của tư tưởng Hồ Chí

Minh Dưới ánh sáng Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin

và tấm gương Cách mạng Tháng Mười Nga, Người đã tìm ra con đường giải phóng chodân tộc mình và cho tất cả các dân tộc thuộc địa Người khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa xãhội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp côngnhân toàn thế giới”7 Người đưa ra hình ảnh so sánh nổi tiếng: Chủ nghĩa đế quốc là “conđỉa hai vòi”, do đó cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải thực hiện được sựliên minh chiến đấu giữa vô sản ở thuộc địa với vô sản ở chính quốc nhịp nhàng như haicánh của một con chim Vì bóc lột thuộc địa là một trong hai nguồn sống của chủ nghĩa

tư bản, cho nên muốn đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, trước hết phải xoá bỏ thuộc địa củachúng đi Do đó, cách mạng thuộc địa không chỉ trông chờ vào kết quả của cách mạng vôsản ở chính quốc mà phải tiến hành song song với cách mạng ở chính quốc, hơn nữa nócần phải chủ động và có thể giành thắng lợi trước, và bằng thắng lợi của mình nó có thểđóng góp vào sự nghiệp giải phóng anh em vô sản ở phương Tây Người viết: “Ngày màhàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê

6 Nghị quyết của Bộ Chính trị số 09-NQ/TW, ngày 18-2-1995: Về một số định hướng lớn trong công

tác tư tưởng hiện nay.

7 Từ đây, tất cả những câu trích không có chú thích đều được rút ra từ trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

Trang 17

tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng

lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủnghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệmvụ giải phóng hoàn toàn”

Đó là một luận điểm sáng tạo mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến vào sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa Trên nền tảng lý luận đó, Người đã cùng với Đảng ta đề ra và giải quyết đúng đắn

nhiều vấn đề về chiến lược và sách lược, dẫn đến thắng lợi lịch sử của cuộc Cách mạngTháng Tám

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là luận điểm trung tâm của tư tưởng Hồ Chí Minh, nó thâm nhập và xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người trong các thời kỳ và trên các lĩnh vực Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ phát huy tác dụng trong giai đoạn Đảng ta lãnhđạo nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc (1945 - 1954) mà cònxuyên suốt quá trình tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau, nhưng cóquan hệ khăng khít với nhau - cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cáchmạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (giai đoạn 1954 - 1975) cũng như trong nhiệm vụ xâydựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh là bậc thầy về phương pháp cách mạng Việt Nam Phương

pháp cách mạng của Người là sự vận dụng một cách sáng tạo phương pháp luận phổ biếncủa chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta đểtìm ra những con đường, hình thức, biện pháp, nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dântộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Phương pháp cách mạng của Chủ tịch

Hồ Chí Minh là một hệ thống được thể hiện đa dạng và phong phú ở các thời kỳ, các giaiđoạn khác nhau, trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, lấy mục tiêu không thay đổi

là độc lập, thống nhất của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân làm gốc

Điểm nổi bật của phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh, như Đảng ta đã tổng kếttại Đại hội lần thứ IV, đó là phương pháp sử dụng bạo lực cách mạng, bao gồm lựclượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang của nhân dân, tiến hành khởi nghĩatoàn dân và chiến tranh cách mạng; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị vàđấu tranh ngoại giao; lợi dụng triệt để những mâu thuẫn nội bộ của địch, phân hoá và côlập cao độ kẻ thù, giành thắng lợi từng bước, đánh đổ từng bộ phận, cuối cùng đi đếnthắng lợi hoàn toàn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản lãnh đạo, đặc biệt trong điều kiện

Đảng đã nắm chính quyền, là một đóng góp mới vào lý luận xây dựng chính đảng kiểumới của giai cấp công nhân Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Chủ nghĩaMác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc

thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930” Người nói, Đảng ta là đội

tiên phong của giai cấp công nhân Bản chất giai cấp công nhân của Đảng được thể hiện

ở chỗ nó được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lênin, trung thành với chủ nghĩa quốc tế

vô sản, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh và

“tả” khuynh Người cũng nói rõ: “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp côngnhân, của toàn thể nhân dân lao động chứ không phải mưu cầu cho lợi ích riêng của mộtnhóm người nào, của cá nhân nào”

Trang 18

Lần đầu tiên trong các đảng cộng sản cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên

tư tưởng: Đảng phải xứng đáng vừa là người lãnh đạo sáng suốt, vừa là người đày tớ

thật trung thành của nhân dân Muốn thế, Người đòi hỏi Đảng ta một mặt phải ra sức

nâng cao trí tuệ cho ngang tầm nhiệm vụ lịch sử, mặt khác phải trau dồi đạo đức cáchmạng, không ngừng tăng cường mối liên hệ máu thịt với nhân dân

Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh cùng với đạo đức và nhân cách vô cùng

cao thượng và trong sáng của Người đã quy tụ được khối đại đoàn kết dân tộc, đấu tranh

vì thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Người cho rằng: “hễ là người Việt Nam thì aicũng có lòng yêu nước, ghét giặc”, nên ngay sau khi thành lập Đảng, Người đã đề ra chủ

trương thành lập Hội phản đế đồng minh, một hình thức mặt trận dân tộc thống nhất rộng

rãi chống đế quốc Góp ý kiến về đường lối, chủ trương của Đảng

Thời kỳ 1936 - 1939, Người đã bổ sung vào tên gọi mặt trận thành Mặt trận dân

tộc dân chủ rộng rãi, không những chỉ có nhân dân lao động mà gồm cả giai cấp tư sản

dân tộc và nhắc nhở phải tránh hết sức để họ ở ngoài Mặt trận Ngay sau khi về đến CaoBằng năm 1941, Người đã cho tổ chức thí điểm các hội quần chúng để rút kinh nghiệm

tiến tới thành lập Mặt trận Việt Minh.

Nguyên tắc nhất quán trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh là: lấy liên minhcông nông làm nền tảng, tập hợp rộng rãi nhất mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, vừađoàn kết, vừa đấu tranh; lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dânlao động làm nền tảng, trên cơ sở đó bảo đảm có sự kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân và lợiích tập thể, bộ phận và toàn cục, giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế

Phương pháp đi tới đại đoàn kết của Người là vận động, giáo dục, thuyết phục,nêu gương, lấy thẳng thắn chân thành để đối xử, lấy tin yêu giúp đỡ để cảm hoá, trântrọng phát huy nhân tố tích cực, hạn chế, đẩy lùi nhân tố tiêu cực, giúp cho mọi tổ chức

và cá nhân đều tiến bộ và trưởng thành, đóng góp có hiệu quả vào sự nghiệp cách mạngchung

Đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một chiến lược cơ bản, lâu dài trongcách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa Tưtưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh mãi mãi là một sức mạnh làm nên thắng lợi của cáchmạng Việt Nam

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là tư tưởng về kết hợp đấu tranh chính trị với đấu

tranh vũ trang Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh được thể hiện đặc sắc ở vấn đề xây dựnglực lượng vũ trang cách mạng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” với ba thứquân - bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ; vấn đề xây dựng căn cứ địacách mạng, vấn đề khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân Chính tư tưởng quân sự

ấy đã chỉ đạo nhân dân ta đi tới thắng lợi lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám và tiếpđến tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh lâu dài nhất trong lịch sử Để chống lại những

kẻ thù có sức mạnh kinh tế và quân sự lớn hơn mình nhiều lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính;chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, xây dựng thật tốt mối quan hệ tiền tuyến -hậu phương Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh lấy sức mạnh chính trị, tinh thần của toàndân làm nền tảng Trên cơ sở đó mà phát huy tài thao lược của toàn Đảng, toàn dân, toànquân Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là sự kế thừa truyền thống quân sự quý báu củadân tộc và tiếp thu tinh hoa quân sự của thế giới Chính Người đã cùng với Đảng ta nâng

Trang 19

nghệ thuật quân sự trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh nhân dân ở thời đại Hồ ChíMinh lên một tầm cao mới.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân là sự vận

dụng sáng tạo học thuyết về nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lênin, chọn lọc, kế thừa cảnhững tinh hoa trong việc xây dựng nhà nước đã có trong lịch sử dân tộc và nhân loại

Vấn đề cơ bản của nhà nước là quyền lực thuộc về ai, phục vụ quyền lợi của ai.Đảng ta lãnh đạo nhân dân làm cách mạng là để giành quyền lực về tay nhân dân Ngườikhẳng định “Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạnđều của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra” “Tất cả quyềnlực trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều thuộc về nhân dân”

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước

ta, đồng thời, Người cũng nhấn mạnh tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc của Nhà nước

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, một Nhà nước vững mạnh, có hiệu lực phải là mộtNhà nước làm cho mọi người dân biết sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; mặtkhác Nhà nước đó “phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ýkiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân” Một trong những mối quan tâm của Người là lolàm sao đào tạo và bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ chính quyền phù hợp với bảnchất của Nhà nước ta, thấm nhuần tinh thần “dân là chủ, cán bộ là đầy tớ trung thành củanhân dân” Rất đề cao pháp quyền, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh không lúc nào coi nhẹvai trò của giáo dục đạo đức Trong tư tưởng của Người, nhà nước pháp quyền chỉ pháthuy được đầy đủ hiệu lực khi nó biết coi trọng kết hợp giáo dục đạo đức và pháp luậttrong quản lý xã hội và Nhà nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà yêu nước vĩ đại, đồng thời là nhà quốc tế chủ nghĩa

trong sáng, hiện thân của tư tưởng về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.

Người nói: “Cách mệnh Việt Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới Ai làmcách mệnh trên thế giới đều là đồng chí của dân Việt Nam cả” Vì vậy, trong đấu tranhgiành độc lập dân tộc, một mặt Người nhấn mạnh tư tưởng phải “lấy sức ta mà giảiphóng cho ta”, mặt khác Người luôn luôn kêu gọi phải tăng cường sự đoàn kết, giúp đỡ

và phối hợp nhịp nhàng cuộc đấu tranh của vô sản ở chính quốc với vô sản ở thuộc địa,như hai cái cánh của một con chim Ngay đối với các nước tư bản phát triển, từ rất sớm,Người đã tuyên bố: Việt Nam muốn “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gâythù oán với một ai”, vì mục tiêu độc lập, hoà bình, hữu nghị và tiến bộ xã hội

Một mặt ra sức tranh thủ sức mạnh của thời đại có lợi cho cách mạng Việt Nam,mặt khác, Người không quên nhắc nhở nhân dân ta hết lòng, hết sức làm tròn nghĩa vụquốc tế cao cả của mình đối với phong trào giải phóng dân tộc và phong trào cộng sản,công nhân quốc tế, coi “giúp bạn là tự giúp mình” Hồ Chí Minh chính là biểu tượng củatinh thần “bốn phương vô sản đều là anh em”

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một thể thống nhất giữa đạo đức với chính trị,

đạo đức với tài năng, giữa nói và làm, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường:

Suốt đời phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân Trong khi

sử dụng lại một số khái niệm và thuật ngữ của đạo đức truyền thống vốn đã phổ biến vàquen thuộc trong nhân dân, Người đã đưa vào đó những nội dung mới, mang ý nghĩanhân văn và cách mạng của đạo đức mới Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là bộ phận rấtquan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, có sức sống mãnh liệt, đã sớm đi vào nhân dân,

Trang 20

được nhân dân tiếp nhận, vận dụng và nêu cao Nó đã trở thành một bộ phận của văn hoádân tộc, thành vũ khí của nhân dân trong cuộc đấu tranh chống lại các hiện tượng tha hoá

về đạo đức của xã hội như quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, ức hiếp quần chúng

Cùng với tư tưởng đạo đức, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là một đóng góp rất

có giá trị vào triết học về con người của chủ nghĩa Mác - Lênin Chủ tịch Hồ Chí Minhnói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàntoàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũngđược học hành” Đó là lý tưởng chính trị, lý tưởng đạo đức và cũng là lý tưởng nhân văncủa Người Đối với Hồ Chí Minh, giải phóng con người trước hết là giải phóng họ khỏinhững tai hoạ do cái đói, cái rét, cái dốt gây nên Cuộc chiến đấu đó không thể tách rờicuộc chiến đấu để giải phóng dân tộc Chỉ có thoát khỏi thân phận nô lệ, mỗi con ngườimới lấy lại được phẩm giá làm người Hơn nữa, đó còn là cuộc chiến đấu vì hoà bình vàtình hữu nghị giữa các dân tộc, vì sự giải phóng của toàn nhân loại Đó chính là giá trịcủa nhân văn, một chủ nghĩa nhân văn hành động, chủ nghĩa nhân văn chiến đấu, chủnghĩa nhân đạo hiện thực

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh được biểu hiện vô cùng đa dạng và phong phú,

nó thấm đậm trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Người, được toả sáng trong từngviệc làm, từng cử chỉ, từng mối quan tâm ân cần đối với mỗi con người; tất cả đều toátlên tình yêu thương, sự tôn trọng, thái độ bao dung và niềm tin vào khả năng cải tạo củacon người, dù cho họ có nhất thời lầm lạc Bằng hành động và ứng xử của mình, Chủtịch Hồ Chí Minh truyền lại cho chúng ta một đạo lý làm người là phải biết yêu thương

và sống với nhau có tình nghĩa

Chủ nghĩa nhân văn là bản chất cốt lõi, là kết tinh của văn hoá Chủ tịch Hồ Chí

Minh được loài người tiến bộ suy tôn là một nhà văn hoá lớn còn vì những thành tựu xuất sắc của Người trong lĩnh vực hoạt động và sáng tạo văn hoá Tư tưởng văn hoá Hồ

Chí Minh được biểu hiện ở chỗ Người thấy rõ và khẳng định rất sớm vai trò quyết định

của văn hoá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Người coi dốt nátcũng là một thứ giặc, xem thói quen và những tập tục lạc hậu cũng là một loại kẻ thù.Người khẳng định văn hoá là tinh hoa của dân tộc, văn hoá phải góp phần khẳng địnhdân tộc và bản sắc dân tộc

Tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa kỳ thị độc tôn về văn hoá Là người đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn văn hoá phươngĐông và phương Tây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra chủ trương kế thừa truyềnthống tốt đẹp của văn hoá dân tộc phải đi đôi với việc học tập và tiếp thu có chọn lọc tinhhoa văn hoá của nhân loại Những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hoáđang là kim chỉ nam cho chúng ta trong việc xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc đồng thời không ngừng mở rộng sự giao lưu văn hoá với thếgiới

-Tính khoa học đúng đắn và tính cách mạng sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh

đã được lịch sử kiểm chứng Trải qua những biến động của thời cuộc, tư tưởng Hồ ChíMinh càng chứng tỏ giá trị và sức sống mãnh liệt của nó Tư tưởng Hồ Chí Minh là tinhhoa của dân tộc Việt Nam, là niềm tự hào vô hạn của mỗi chúng ta Dưới ánh sáng củachủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân ta càng vững tinvào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, theo mục tiêu

Trang 21

“dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” Mỗi người Việt Nam hãy học tập,vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy lòng yêu nước, ý chí quật cường bất khuất củadân tộc để xây dựng một nước Việt Nam mới, trong thời đại mới, sánh vai với các nướctiên tiến trên thế giới.

PHẦN 2 GIỚI THIỆU MỘT SỐ TÁC PHẨM KINH ĐIỂN TIÊU BIỂU

CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Trong sự nghiệp cách mạng để giải phóng dân tộc thoát khỏi ách áp bức nô lệ,dem lại độc lập tự do cho dân tộc, xây dựng nước nhà đi lên chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch

Hồ Chí Minh không những là nhà lãnh đạo thực tiễn tài ba mà còn là nhà lý luận kiệtxuất Người đã viết rất nhiều tác phẩm để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin một cách có

tổ chức, có hệ thống vào Việt Nam và tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo cách mạng Việt Namtheo con đường cách mạng vô sản

Trân trọng giới thiệu một số trong những tác phẩm tiêu biểu của Người

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “YÊU SÁCH CỦA NHÂN DÂN AN NAM”

1 Bối cảnh ra đời

Vào những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam rấtsôi nổi, nhưng lại lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối chính trị Tronghoàn cảnh ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộckhỏi ách áp bức của chủ nghĩa thực dân Pháp

Năm 1911, mặc dù đề cao tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam, rất khâmphục nhiệt huyết cách mạng của các lãnh tụ dân tộc, nhưng không tán thành con đườngcách mạng của họ, Nguyễn Tất Thành vì hấp dẫn bởi “tự do, dân chủ, bác ái” của giaicấp tư sản phương Tây đã xuống tàu bôn ba năm châu bốn biển tìm đường cứu nước ởcác nước Tư bản phương Tây Người đã tham gia hoạt động, đấu tranh trong phong tràocách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân bị áp bức các nước châu Á, châu Phi,châu Âu, châu Mỹ Người dừng chân trên đất Pháp để trải nghiệm dân chủ tư sản

Năm 1919, thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam, Nguyễn Ái Quốc gửi

đến Hội nghị Vécxây Yêu sách của nhân dân An Nam (quen gọi là Bản yêu sách tám

điểm).

Tất cả các lãnh tụ của Việt Nam trong lịch sử: Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, LêHoàn, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, cho đếnHoàng Hoa Thám, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, đều mới chỉ nhằm một mục đích

vì độc lập dân tộc Là người Việt Nam yêu nước, thương dân nhất, năm 1919 với Yêu

sách của nhân dân An Nam”, ngay khi mới bước lên vũ đài chính trị, Chủ tịch Hồ Chí

Minh mới là người đầu tiên của Việt Nam đã thống nhất hai nội dung “nước phải độclập” và “dân phải tự do”

Cùng với các tác phẩm Tâm địa thực dân, Vấn đề dân bản xứ, Đông Dương và

Triều Tiên, Thư gửi ông Utơrây và các tác phẩm viết chung Thư gửi Tổng thống Mỹ

(cùng viết năm 1919), ở Yêu sách của nhân dân An Nam, Người đã vạch trần hai chế độ

pháp lý bất bình đẳng ở thuộc địa Đặc biệt, Người đã gắn liền vấn đề độc lập dân tộc với

Trang 22

các quyền tự do dân chủ của nhân dân mà đòi thực dân thực hiện bình đẳng về pháp lýcho dân tộc Việt Nam, đồng thời đòi thực dân trao trả quyền tự do tối thiểu cho nhân dânViệt Nam

Chính thực tiễn này đã cho Người câu trả lời: “Đâu đâu trên thế gian này cũngchỉ có hai hạng người, một hạng người áp bức bóc lột và một hạng người bị áp bức bóclột Đâu đâu trên thế gian này cũng chỉ có một sự thật là tình ái hữu giữa những người vôsản”

Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và Nhà nước công nông đầutiên ra đời, như tiếng sấm báo hiệu mùa xuân đối với nhân dân lao động và các dân tộc bị

áp bức trên toàn thế giới Tiếp theo là Quốc tế thứ ba thành lập, các đảng cộng sản lầnlượt ra đời, trào lưu tư tưởng cải lương, cơ hội và sôvanh trong Quốc tế thứ hai bị đẩylùi Trong hoàn cảnh ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thụ ánh sáng của Cách mạng

Tháng Mười Nga và “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn

đề thuộc địa” do V.I.Lênin soạn thảo Người đã từ bỏ dân chủ tư sản, đến với dân chủ vô

sản không chỉ vì độc lập dân tộc mà chủ yếu còn vì hạnh phúc của nhân dân

2 Nguyên văn của tác phẩm Yêu sách của nhân dân An Nam8

Từ ngày Đồng minh thắng trận, tất cả các dân tộc bị lệ thuộc đều chứachan hy vọng rằng theo những lời cam kết chính thức và trịnh trọng mà các cường quốcĐồng minh đã tuyên bố với toàn thế giới, trong cuộc đấu tranh của Văn minh chống Dãman, thì tiền đồ một thời đại công lý và chính nghĩa nhất định là phải đến với họ

Trong khi chờ cho nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnhvực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thật sự,nhân dân nước An Nam trước kia, nay là xứ Đông - Pháp, xin trình với các quý Chínhphủ trong Đồng minh nói chung và với Chính phủ Pháp đáng kính nói riêng, những yêusách khiêm tốn sau đây:

1 Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2 Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được

quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các

toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trongnhân dân An Nam;

3 Tự do báo chí và tự do ngôn luận ;

4 Tự do lập hội và hội họp;

5 Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;

6 Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh

cho người bản xứ;

7 Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8 Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghịviện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ

Đưa ra những yêu sách trên đây, nhân dân An Nam trông cậy vào chính nghĩa thếgiới của tất cả các cường quốc và đặc biệt tin vào lòng rộng lượng của nhân dân Phápcao cả, tức là của những người đang nắm vận mệnh của nhân dân An Nam, của nhữngngười, do chỗ nước Pháp là một nước Cộng hoà, nên được coi là những người bảo hộ

8 Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 435-436.

Trang 23

cho nhân dân An Nam Khi nhân dân An Nam nhắc đến sự “bảo hộ” của nhân dân Pháp,thì không lấy thế làm hổ nhục chút nào mà trái lại còn lấy làm vinh dự: vì nhân dân AnNam biết rằng nhân dân Pháp đại biểu cho tự do và công lý, và không bao giờ từ bỏ lýtưởng cao cả của mình là tình bác ái toàn thế giới Vì thế, nghe theo tiếng nói của nhữngngười bị áp bức, là nhân dân Pháp sẽ làm tròn nhiệm vụ của mình đối với nước Pháp vàđối với Nhân loại.

Thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụplưu tại Viện Hồ Chí Minh

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “BẢN ÁN CHẾ ĐỘ THỰC DÂN PHÁP”

I – HOÀN CẢNH RA ĐỜI

1 Tác giả, thời gian ra đời và các lần xuất bản của tác phẩm

Những nhà nghiên cứu về Hồ Chí Minh đều khẳng định rằng: Bản án chế độ thực

dân Pháp là một tác phẩm lớn do Người viết Trên bìa tác phẩm xuất bản đầu tiên năm

1925 bằng tiếng Pháp tại Pari in rõ tên tác giả Nguyễn Ái Quốc, còn những bút danhtrong tác phẩm (như Vinhê Dóctong, Emia Sekíp Axlan) qua hồ sơ lưu trữ của Quốc tếCộng sản trao cho Trung ương Đảng ta, đã xác nhận cũng là của Nguyễn Ái Quốc

Bản án chế độ thực dân Pháp được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp trong

khoảng những năm 1921 - 1925 và được những người bạn cùng hoạt động với Ngườixuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Pháp tại Pari vào năm 1925 (ở Thư quán Lao dộng), khi

đó Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc) Bản in lần này có lờigiời thiệu của Nguyễn Thế Truyền (1890 - 1969), người làng Hành Thiện, xã XuânThuỷ, huyện Xuân Hương, tỉnh Nam Định, du học bên Pháp, thời kỳ đấu tranh tham gia

viết báo Le Paria và hoạt động trong Hội liên hiệp thuộc địa do Nguyễn Ái Quốc sáng

lập vào tháng 7 năm 1921, nhưng sau đó đi theo xu hướng chính trị khác tham gia thànhlập Đảng Việt Nam độc lập

Ở Việt Nam, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp được xuất bản lần đầu tiên

bằng tiếng Pháp năm 1946 tại Hà Nội Năm 1960, nhà xuất bản Sự Thật xuất bản lần thứnhất bằng tiếng Việt, đồng thời in trong Hồ Chí Minh tuyển tập

Năm 1975, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 85 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minhcũng là năm kỷ niệm lần thứ 50 năm ra đời của tác phẩm, Nhà xuất bản Sự Thật xuấtbản lần thứ 2 bằng tiếng Việt Lần xuất bản này căn cứ vào bản tiếng Pháp xuất bản tạiParis năm 1925 (hiện còn lưu giữ tại Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam)

Cuối năm 1975 và đầu năm 1976, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp được

Nhà xuất bản Sự Thật xuất bản lần thứ 3 tại Hà Nội và cả ở thành phố Hồ Chí Minh

Năm 1980, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tácphẩm được Nhà xuất bản Sự Thật in trong Hồ Chí Minh tuyển tập và trong Hồ Chí Minhtoàn tập, tập 1

Năm 1995 đến 1996, Hồ Chí Minh toàn tập được xuất bản lần thứ 2 Trong bộ

12 tập Hồ chí Minh toàn tập xuất bản lần này, Bản án chế độ thực dân Pháp được in ở

tập 2 cho phù hợp với thời điểm ra đời của tác phẩm

Trang 24

Để kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chào mừng Đại hộilần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), trọn bộ 12 tập Hồ Chí Minh toàn tập đã

được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia cho tái bản, tác phẩm Bản án chế độ thực dân

Pháp cũng được in ở tập 2, trang 21-133.

2 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

Từ giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và cuối thế kỷ XIXchúng đã đặt xong bộ máy cai trị ở Việt Nam Từ đó, chúng bắt đầu khai thác thuộc địa ởViệt Nam với quy mô lớn Sự bóc lột hết sức tàn ác, dã man của bọn tư bản độc quyềnPháp cộng với sự áp bức bóc lột của bọn địa chủ phong kiến Việt Nam làm cho đời sốngnhân dân lao động vô cùng điêu đứng, khổ cực; nhân dân Việt Nam phải chịu bao sự hàkhắc của một chế độ thực dân phong kiến

Nước mất nhà tan, đời sống bần cùng, không có con đường nào khác, nhân dânViệt Nam phải đứng lên đấu tranh Trong mấy chục năm từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế

kỷ XX các phong trào đấu tranh yêu nước đã dấy lên khắp cả nước Từ thợ thuyền đếnnhà buôn, từ dân cày đến chủ ruộng, từ dân nghèo thành thị, học trò trí thức, tư sản dântộc, thậm chí đến cả vua quan yêu nước Tầng tầng, lớp lớp đứng lên kết thành nhữngđợt sóng đấu tranh liên tiếp, mạnh mẽ chống bắt lính, bắt phu, chống sưu cao, thuế nặng,chống khủng bố, cầm tù Các phong trào yêu nước liên tiếp nổ ra sôi nổi và rộng khắp ởViệt Nam: phong trào Đông Du (1904 - 1908), Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), phongtrào Duy Tân (1906 - 1908); phong trào chống đi phu, chống sưu thuế (1908) và cácphong trào đấu tranh khác

Tất cả các phong trào đấu tranh đó đều thể hiện một tinh thần chung là chống đếquốc, chống bọn phong kiến tay sai phản dân hại nước Tất cả đều thể hiện một ý chíchung là giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân

Mặc dù chưa đạt được mục tiêu, song các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, vềkhách quan, đã tạo tiền đề hình thành một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, bao gồmnhiều giai cấp, nhiều tầng lớp yêu nước trong xã hội Các phong trào yêu nước lúc bấygiờ, kể cả phong trào đấu tranh của công nhân, đều chưa có đường lối đúng đắn nên đãthất bại, bị đàn áp dữ dội Những người cầm đầu các phong trào chưa phân biệt địch, ta,bạn, thù; chưa nhận thức được rằng đế quốc Pháp xâm lược Việt Nam không phải là hiệntượng riêng lẻ, mà là vấn đề thời đại gắn liền với toàn bộ giai đoạn lịch sử của chủ nghĩa

tư bản thống trị thế giới Họ chưa nhận rõ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc này làphải đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc; đồng thời phong kiến địachủ, giành quyền dân chủ cho nhân dân, trong đó giành quyền ruộng đất cho nông dânnghèo là quan trọng nhất Họ càng chưa thể thấy được lực lượng cách mạng chủ yếu làcông nông trong đó giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo

Tóm lại, do điều kiện lịch sử chưa cho phép, những người lãnh tụ các phong tràoyêu nước ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX chưa nhận ra tính chất của thờiđại Vì vậy, họ không thể đưa ra đường lối cứu nước đúng đắn nhằm thực hiện cuộc cáchmạng ở Việt Nam

Do những hạn chế đó, lại bị những đòn tấn công rất ác liệt, bị đàn áp dữ dội củathực dân Pháp cho nên các phong trào yêu nước đều lần lượt thất bại Cũng vì vậy, ách

áp bức của kẻ thù càng thêm nặng, nổi thống khổ của nhân dân ta càng thêm chồng chất,tiền đồ của dân tộc vẫn mờ mịt, đen tối

Trang 25

Nhưng quy luật là càng bị đàn áp, càng bị thất bại, càng bị cùng khổ thì nhân dânViệt Nam càng căm thù giặc, càng nung nấu ý chí đấu tranh, càng khao khát thoát khỏikiếp trâu ngựa, khỏi ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân đế quốc.

Như vậy, một vấn đề lớn mà lịch sử lúc bấy giờ đặt ra là: phải có những người ưu

tú, tiên tiến nhất trong đội ngũ những người yêu nước Việt Nam có khả năng vượt lênkhỏi những hạn chế kể trên của phong trào yêu nước, tìm ra một con đường đúng đắnnhất cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, và lịch sử dân tộc Việt Nam đã có con người ưu

tú như vậy

Nguyễn Ái Quốc, người thanh niên giàu lòng yêu nước đã đã nhận lấy tráchnhiệm đó trước lịch sử Năm 1911, khi đã hiểu rõ về dân tộc mình, Người xuất dương,tìm con đường cứu nước mới để cứu dân Trước lúc ra đi tìm chân lý cách mạng Nguyễn

Ái Quốc đã tiếp thu truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc

Ra đi, dĩ nhiên cũng với tư cách một người yêu nước như bao người đi trước,nhưng Nguyễn Ái Quốc không đi con đường của những lãnh tụ tiền bối Người đi vềphương Tây, nơi lúc bấy giờ có tư tưởng tự do, dân chủ dân quyền; có khoa học, kỹ thuậthiện đại Người đi về phương Tây vì mục đích cách mạng và còn vì sự nhạy cảm cáchmạng làm cho người nhận thức chỉ có nơi đó mới có thể phát hiện ra nguồn gốc sâu xacủa một thảm hoạ đã trút lên đầu lên cổ dân tộc mình và phát hiện cái điều mới của sựnghiệp giải phóng dân tộc

Đi khắp năm châu bốn biển, lăn lộn trong cuộc sống lao động và đấu tranh củaquần chúng lao khổ ở các nước tư bản và thuộc địa, đâu đâu Nguyễn Ái Quốc cũngchứng kiến cảnh sống trái ngược giữa một bên là thiên đường của những kẻ giàu sangsống cảnh đế vương, một bên là địa ngục trần gian của hàng trăm triệu người thuộc đủmọi màu da sống kiếp ngựa trâu, tủi nhục lầm than, đói rách

Với hàng chục năm phấn đấu, rèn luyện gian khổ trong đấu tranh và học tập giữamôi trường công nhân đã làm sáng tỏ chân lý cách mạng mà Nguyễn Ái Quốc đang cầntìm để mong muốn trở về nước giúp cho cách mạng Việt Nam nhanh chóng thành công

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), một mặt bộc lộ đầy đủ bản chất

bóc lột, tàn ác, dã man của chủ nghĩa đế quốc và sự suy yếu của nó, mặt khác lại là cơhội để nhân loại nhận thức được chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, đâu đâu cũng làcội nguồn của mọi sự đau khổ của quần chúng lao động, và quần chúng lao động ở đâucũng chung số phận bị áp bức bóc lột, do đó họ đều là bạn của dân tộc Việt Nam, họchung một chiến tuyến với dân tộc Việt Nam

Sau thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Luận cương củaLênin “về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” và sự kiện Đảng Cộng sản Pháp ra đời, đãquyết định bước ngoặt cách mạng và sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc: Muốncứu nước cứu dân phải đi theo con đường cách mạng vô sản

Từ đó, Nguyễn Ái Quốc càng hoạt động tích cực và sôi nổi trong phong trào cộngsản và công nhân quốc tế, trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam nói riêng vàphong trào cách mạng thế giới nói chung Hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, lãnhđạo Hội Liên hiệp thuộc địa và là Uỷ viên Đoàn chủ tịch Quốc tế Nông dân, Nguyễn ÁiQuốc viết nhiều sách báo tấn công vào Chủ nghĩa đế quốc và Chủ nghĩa thực dân; đồngthời kêu gọi, thức tỉnh lao động các nước thuộc địa, vạch ra phương hướng cho các dântộc ở đây đấu tranh

Trang 26

Thời gian này (1921 - 1925) cũng là lúc mà Nguyễn Ái Quốc viết cuốn sách nổi

tiếng Bản án chế độ thực dân Pháp.

Hồ Chí Minh yêu thương mọi đồng bào, đồng chí của mình, không phân biệt một

ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân

ái của Người Người cũng dành tình yêu thương cho những người nô lệ mất nước vàcùng khổ trên khắp thế gian Tấm lòng nhân ái bao la của Người được đặt trên một cơ sởkhoa học là chủ nghĩa Mác - Lênin Người chỉ rõ nguồn gốc của mọi niềm đau nỗi khổcủa con người nô lệ mất nước và con người cùng khổ là chủ nghĩa thực dân, đế quốc.Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã chỉ rõ con đường giải phóng củacon người Việt Nam, góp phần chỉ rõ con đường giải phóng của các dân tộc thuộc địa vàcủa nhân dân lao động toàn thế giới

Người đã viết Bản án chế độ thực dân Pháp trên tinh thần luận tội kẻ thù đã xâm

phạm quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân con người vàdân tộc, không chỉ ở Việt Nam, Đông Dương mà còn ở cả châu Phi, châu Mỹ Latinh

Nội dung tác phẩm có ý nghĩa hết sức sâu sắc, có giá trị to lớn cả về lý luận-chínhtrị lẫn văn học nghệ thuật và lịch sử

II - NỘI DUNG CƠ BẢN BẢN CỦA TÁC PHẨM

1 Tác dụng của tác phẩm

Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc là sản phẩm tổng

hoà tất cả các tri thức: chính trị, triết học, xã hội, lịch sử, văn học và kinh nghiệm thựctiễn Những tri thức này được tiếp thu, được bồi bổ, được phát triển trong quá trình đấutranh đầy sóng gió của Nguyễn Ái Quốc

Vừa ra đời, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp đã lan truyền rất nhanh và

rộng rãi khác thường Ngay lúc bấy giờ, nhiều người Việt Nam và trên thế giới biết đến

nó Hun đúc trong đấu tranh cách mạng, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp ra đời

như một nguồn ánh sáng mới xé tan đám mây đen bao phủ trên đất trời Việt Nam và đấttrời các nước thuộc địa khác Nơi mà các dân tộc đang bị áp bức, bóc lột tàn bạo của chủnghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân

Tác phẩm ra đời, đáp ứng cả lý trí và tình cảm của hàng triệu quần chúng cáchmạng ngưỡng vọng và khát khao một chân trời mới, nơi đó đất nước được giải phóng,người dân thoát khỏi kiếp nô lệ, dân tộc không còn bị áp bức bóc lột

Như người đi trong đêm tối tìm thấy ánh sáng dẫn lối, tác phẩm đã thu hút mạnh

mẽ sự chú ý của nhiều lớp người tiến bộ đang mơ hồ, đang băn khoăn về một con đưònggiải phóng sáng sủa, tìm đến tương lai với một hướng đi đúng đắn để giải phóng dân tộc

Bản án chế độ thực dân Pháp có tác dụng nhiều mặt như vậy, bởi lẽ:

- Tác phẩm này ra đời lúc mâu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức và chủ nghĩathực dân, chủ nghĩa đế quốc nói chung, giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp nóiriêng, đã đạt tới điểm bùng nổ Lúc bấy giờ tinh thần và ý chí chống đế quốc xâm lượccủa nhân dân Việt Nam và của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên thế giới đã lên cao,đòi hỏi một ngọn cờ hướng đạo đúng đắn để đi vào cuộc chiến đấu quyết định vận mệnhdân tộc

- Tác phẩm này đề cập đến người thật, viêc thật, những chuyện xẩy ra hằng ngày,

“mắt thấy, tai nghe” ở những hoàn cảnh cụ thể nhưng có quan hệ mật thiết đến vận mệnhhàng triệu con người trong cái địa ngục trần gian gọi là “xứ thuộc địa” và lí giải chung

Trang 27

một cách khoa học theo quan điểm Mác - Lênin, một quan điểm tiên tiến nhất của thờiđại.

Bản án chế độ thực dân Pháp và Đây Công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương,

đã mô tả cảnh địa ngục trần gian tối tăm mà thực dân Pháp đang đày đọa nhân dân ViệtNam Tội ác ấy nào khác chi Nguyễn Trãi đã từng kết luận: “Tát cạn nước Đông hảikhông đủ rửa hết vết nhơ; Chặt hết trúc Nam sơn, chẳng đủ ghi hết tội ác”9 Hai tác phẩmnày có mục đích vạch trần, tố cáo tội ác của thực dân Pháp trước dư luận thế giới và ngay

cả trong nhân dân lương thiện Pháp, nhằm thức tỉnh cao độ tinh thần quật cường củađồng bào mình, đồng thời làm như vậy là vì Người tin vào sức mạnh của chính nghĩa vàtiềm năng sức mạnh vô tận vô địch của nhân loại tiến bộ ủng hộ, giúp đỡ hiệu quả cho sự

nghiệp đánh bại chủ nghĩa thực dân của dân tộc Việt Nam Bản án chế độ thực dân Pháp

của Người không chỉ có giá trị tố cáo vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân trước côngluận thế giới, mà còn có tác dụng giúp nhân loại phòng và chống thành công hiện tượngphản văn hóa nhất của thế kỷ XX là chủ nghĩa thực dân

2 Nội dung cơ bản của tác phẩm

Bản án chế độ thực dân Pháp trước hết là một bản cáo trạng tố cáo tội ác của bọn

thực dân Pháp không phải chỉ ở An Nam nói riêng, mà ở tất cả các thuộc địa của thựcdân Pháp ở Đông Dương, ở An-giê-ri, ở Tuy-ni-di, ở Xê-ri, ở Ma-rốc, ở Xê-nê-gan, ởDa-hô-mây (nay là Cộng hòa Bê-nanh), ở Tây Phi, Với những lời lẽ sắc bén và thể hiện

sự tiến công Bản án chế độ thực dân Pháp đã lột mặt nạ chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa

thực dân nói chung và chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân Pháp nói riêng bằngnhững chứng cớ, bằng những tang vật không thể chối cãi được Như các quan toà xét xửnhững phạm nhân trọng tội, tác phẩm đã lôi bọn giết người, cướp của toàn cầu ra trướcvành móng ngựa, bắt chúng phải cúi đầu nhận tội và diễn lại những tội ác tày trời màchúng đã phạm với loài người trong nhiều thế kỷ

Bằng lí lẽ đanh thép, sắc bén và bằng lời văn châm biếm sâu sắc, Bản án chế độ

thực dân Pháp đã bóc trần bản chất bóc lột, tàn ác, dã man của chủ nghĩa đế quốc, chủ

nghĩa thực dân

Trước hết, bản chất của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân là bóc lột bằng

“thuế máu” đoạ đày, coi rẻ mạng sống của những người “dân bản xứ” trên các chiến trường Châu Âu trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất để bảo vệ “công lí và tự do”.

Những người “dân bản xứ” này bị lừa gạt, bị cưỡng bức đi lính, rồi bị đưa sangChâu Âu đánh nhau với quân đội Đức “để bảo vệ cho cái công lí và tự do mà chính họkhông được hưởng một chút nào” và “để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế củacác cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm trên những chiếc gậy của các ngài thống chếPháp” Nhưng rồi khi chiến tranh kết thúc, hay khi “đại bác đã ngấy thịt đen rồi thịt vàngrồi”, thì những người lính thuộc địa còn sống sót, dù là người da vàng hay người da đen,trước khi xuống tàu ở cảng Mác-xây để trở về với chế độ bản xứ, một chế độ không biết

gì đến chính nghĩa và công lí cả, đều mặc nhiên trở lại “giống người bẩn thỉu”, bị đánhđập vô cớ và bị lột hết của cải, từ chiếc đồng hồ, bộ quần áo mà họ bỏ tiền túi ra mua,đến các vật kỷ niệm đủ thứ Lúc này, họ không còn là những đứa “con yêu”, nhữngngười “bạn hiền” của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn

9 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, trang 78.

Trang 28

quyền lớn, toàn quyền bé nữa; và như vậy, lúc này họ không còn mang cái danh hiệu tốicao là “chiến sỹ bảo vệ công lí và tự do” mà nước Pháp đã đột ngột dành cho họ trướckhi đưa họ sang chiến trường châu Âu.

Tuy về vấn đề quê hương với chế độ bản xứ, những người “cựu binh” đúng hơn

là những cái xác còn lại, đã được một viên quan nồng nhiệt đón tiếp bằng một diễn vănyêu nước kết thúc bằng câu: “các anh đã bảo vệ Tổ quốc, thế là tốt Bây giờ, chúng tôikhông cần đến các anh nữa, cút đi”

Để có một số lượng lính “dân bản xứ” trong một thời gian nhất định theo lệnhviên công sứ hay vị “chúa tỉnh”, bọn quan lại dưới quyền không từ một thủ đoạn nào cả,

để cưỡng bức đi lính, vừa “xoay xở làm tiền” cướp của Thủ đoạn nhanh nhất và tiệnnhất mà bọn chúng đã làm ở Xê-nê-gan là “lấy dây chặn hai đầu con đường chính tronglàng lại Thế là tất cả những người đàn ông dân bản xứ ở vào giữa đều coi là chính thứctòng quân”, “rồi nhanh chóng họ được đưa vào trại lính, biến thành vật liệu nói” Bắt línhnhư vậy, bọn thực dân gọi là “chế độ lính tình nguyện” Một nhân chứng đã viết như sau:

“Giữa trưa ngày 3 tháng 3 năm 1923, bọn hiến binh vây ráp các bến cảng Ruyphixcơ vàĐâc rồi tóm tất cả những người bản xứ làm việc ở đó Những anh chàng này vì không tỏ

vẻ sốt sắng đi bảo vệ văn minh ngay, nên người ta rước họ lên ô tô cam nhông mời vềnhà lao Ở đây, sau khi họ có đủ thì giờ để thay đổi ý kiến rồi, người ta mới đưa họ sangtrại lính Ở trại lính, sau những nghi lễ biểu dương tinh thần yêu nước, 29 lính tìnhnguyện được tuyên dương có thể trở nên anh hùng của cuộc chiến tranh cuối cùng ngàymai Bây giờ thì tất cả đều nóng lòng lấy lại miền Ruya cho nước mẹ Nhưng theotướng Mănggianh (Tướng Pháp 1866 - 1925 đã tham gia chiến thắng Vécdông, từng chỉhuy đội quân xâm lược Xuđăng, Bắc Kỳ, Marốc), là người hiểu họ nhất, thì đó chỉ lànhững đội quân để đem nướng trước mùa đông”

Bản chất bóc lột, tàn bạo, dã man của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là

“đầu độc dân bản xứ bằng thuốc phiện, rượu cồn”

Tự tay chính quyền thuộc địa tổ chức buôn bán thuốc phiện đầu độc dân bản xứ.Như thế vẫn chưa thoả, họ còn lôi kéo những thương binh và vợ của tử sỹ quân đội Phápngười bản xứ vào việc làm dã man này bằng cách “cấp một bài bán lẽ thuốc phiện” chohọ để “đền bù một phần thân thế” “hoặc cả mạng sống của một người chồng” họ đã bỏlại trên chiến trường Với việc đầu độc bằng thuốc phiện tính ra, ngài Toàn quyềnĐông Dương như ông Anbe Xaro, mỗi năm đã bán cho người An Nam trên 150 tấnthuốc phiện

Còn việc đầu độc người bản xứ bằng rượu cồn thì toàn quyền Đông Dương trựctiếp chỉ đạo rất chặt chẽ Các quan công xứ và dưới là các công ty độc quyền rượu ngườiPháp phải nhất nhất theo lệnh viên toàn quyền, từ việc kê danh sách cần đặt các đại lýtrong làng xã đến việc phân bố mức rượu tiêu thụ buộc từng người dân bản xứ phải mua

để uống, bất kể người già, đàn bà, em nhỏ còn bú sữa

Chính phủ Pháp tìm mọi cách thúc đẩy các viên chức người Pháp ở thuộc địa, từcông sứ đến nhân viên hạng bét, phải tăng mức tiêu thụ rượu cồn lên Vì vậy các viênquan đã bắt quan tổng lí các phủ khai tăng vọt số dân trong tỉnh, rồi gán tội cho dân nấurượu lậu Để cho yên chuyện, các làng buộc phải mua ngay số rượu quy định theo số dânkhai tăng đó “Đây là một sự kiện đầy ý nghĩa của một viên chức đứng đầu tình Sơn Tây,một tỉnh ở Bắc Kỳ: Số dân tỉnh này ước tính chỉ độ 200.000 người Nhưng để tăng số

Trang 29

lượng rượu phải tiêu thụ lên, số dân ấy bỗng nhiên tăng vọt nhanh như chớp tới 230.000người Nhưng vì 230.000 dân này uống rượu quá ít, viên công sứ Sơn Tây đã ra côngmột năm đẩy tổng số rượu tiêu thụ lên 560.000 lít Ngay lập tức, viên công chức đượcthăng cấp và được khen.”

Phải mua, phải uống nhiều rượu cồn, dân một làng ở Bắc Kỳ xứ An Nam thấytrước nguy cơ đe doạ ấy đã kéo nhau lên cửa quan kêu: “Ngay đến cái ăn, chúng tôikhông có gì cả, lấy tiền đâu mà mua rượu uống?” Quan cai trị đáp ngay: “Chúng màyquen ăn ngày ba bữa, bây giờ bớt đi một bữa hay cần thì bớt đi một bữa rưỡi để có thểmua rượu của nhà nước”

Chính phủ thực dân cưỡng bức “người bản xứ” mua rượu cồn uống theo đầungười khai tăng như vậy ở An Nam cứ 1.000 làng thì có 1.500 đại lí rượu và thuốc phiện,trong khi đó có vẻn vẹn 10 trường học cho trẻ em

Đúng là “bọn cá mập không ngần ngại đầu độc cả một dân tộc để vơ vét cho đầytúi tham”

Bản chất bóc lột, tàn ác, dã man của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là gán vào người dân bản xứ bao thứ sưu thuế “nặng oằn lưng”, công trái, phu phen tạp dịch khốn khổ.

Bọn cai trị thực dân Pháp đoạ đày người dân thuộc địa đủ cách: đặt sưu thuế tuỳtiện, công trái, phu phen, tạp dịch để cưỡng bức dân chúng

Để bù vào chỗ đồng bạc bị xuống giá, viên toàn quyền Đông Dương chỉ cần làmmột việc đơn giản là ghi tăng số dân và ghi tăng diện tích ruộng đất của từng làng lên

Còn công trái, thì chính quyền thực dân dùng mọi thủ đoạn, bắt người dân bản xứphải mua Trước hết những viên quan cai trị đem khoản lợi tức công trái ra để câu nhữngngười bản xứ ngây thơ, sau đó, thấy “ngón” đó không ăn thua, họ bèn bắt các làng xãphải bán tài sản chung để mua công trái

Những viên quan cai trị đòi “những người có máu mặt” đến cửa quan, ấn cho mỗingười một biên lai chuẩn bị trước; thế là những người bản xứ chỉ còn cách chạy vạy nộpcho đủ số tiền ghi sẵn trong biên lai đó Thế cũng vẫn chưa đủ, vì ruột két của chính phủbảo hộ lúc nào cũng rộng thênh thang, cho nên các viên quan lai đến gõ cửa từng nhà dânnghèo, bắt họ cứ hai, ba, bốn người hoặc nhiều hơn nữa, phải mua chung một cổ phiếu

đã ghi trước số tiền

Tạp dịch, phu phen đối với người dân bản xứ cũng là cái hoạ liên miên Để nạovét bung một con sông (mà việc này chính phủ thực dân ít khi quan tâm), hay làm mộtcon đường hoặc xây dinh thự cho một viên quan cai trị hay chuyên chở hàng hoá nhưmuối, vật liệu xây dựng cho nhà đoan hàng nghìn, hàng vạn người bản xứ phải bỏruộng đồng, bị trưng tập không thời hạn; “rồi xác họ rải khắp mặt đường” “Ở tỉnh ThủDầu Một, một viên quan cai trị cần một chiếc xe lu Làm thế nào? Hắn thương lượng vớimột công ty đấu thầu đang cần công nhân rẻ tiền Công ty bỏ tiền ra mua xe lu với giá13.500 phrăng Còn quan thì bắt dân đi tạp dịch cho công ty với giá ngày công 0,50phrăng Ba năm liền, dân Thủ Dầu Một phải đặt dưới quyền sử dụng của công ty kia, làmxâu để trả tiền chiếc xe lu mà quan lớn cai trị thích mua để dùng trong vườn của ngài”

Bản chất bóc lột, tàn ác của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là “chính sách ngu dân”(tức là “Làm cho dân ngu để dễ bề cai trị”) - đó là “chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất”.

Trang 30

Nhằm bóc lột “dân bản xứ” một cách êm thấm và đánh lừa dư luận bên Pháp,ngoài việc dùng thuốc phiện và rượu cồn, “bọn cá mập của nền văn minh” còn thi hànhmột chính sách ngu dân triệt để.

Báo chí bản xứ phải chịu sự kiểm duyệt trước khi in Toàn quyền Đông Dương sẽthẳng tay cắt bỏ những cột báo, những bài báo, hoặc thẳng tay cắt bỏ bất cứ một dòngchữ nào trên báo chí bóng gió về sự thật của chính sách thuộc địa hoặc “không chịu catụng đức độ của các Cụ lớn thuộc địa” Bằng biện pháp này, “chính quyền Đông Dương

có thể ỉm được tất cả mọi nhơ nhớp và tha hồ lạm quyền” “Trong một cuộc bầu cử Hộiđồng thành phố Sài Gòn, viên thống đốc cấm ba ông chủ nhiệm báo tiếng Việt khôngđược đăng lên báo của họ bản sắc lệnh quy định thể lệ bầu cử Hội đồng thành phố ở Nam

Kỳ Họ là ứng cử viên, thế mà báo của họ bị cấm duyệt không được đăng một cái gì dínhdáng, dù xa hay gần, đến chương trình của họ” “Cũng trong lúc ấy, ông thống đốc thôngtri cho các tờ báo tiếng Việt khác biết là sở kiểm duyệt sẽ thẳng tay cắt những tờ báo, cộtbáo, đầu đề hoặc bất cứ những lời bóng gió nào nói đến các cuộc bầu cử thuộc địa hoặcthành phố Một tờ báo tiếng Việt dịch đăng đạo luật nói về việc trừng trị những hànhđộng hối lộ trong bầu cử , bài ấy bị cắt” Thậm chí ngay cả thư tín của cá nhân cũng bịnhà cầm quyền thực dân kiểm duyệt “Sở bưu điện và sở mật thám Nam Kỳ đã nhậnđược lệnh không để lọt - với bất cứ lý do gì - những thư từ, bài vở, v.v gửi cho báo LeParia xuất bản ở Pari hoặc của tờ báo ấy gửi về”

Trường học chỉ được các nhà khai hoá xây dựng rất hạn chế, vì vậy “hàng ngàntrẻ em đành chịu ngu dốt vì nạn thiếu trường” Người dân thuộc địa nào muốn sang Pháphọc, thì “phải được quan toàn quyền cho phép, sau khi hỏi ý kiến quan thủ hiến kỳ vàquan giám đốc nha học chính” Trên toàn Đông Dương đâu đâu cũng thấy nhà tù, trạigiam còn trường học thì rất ít Bọn thực dân không chủ trương xây trường học để mởmang dân trí Chúng dùng chính sách “ngu dân để trị” Người ta bảo ngân sách khôngcho phép chính phủ mở trường mới Không hẳn thế đâu Trong số 12 triệu đồng của ngânsách Nam Kỳ, thì 10 triệu đã tìm đường chui sâu vào túi các ngài viên chức rồi

Bản chất bóc lột, tàn ác, dã man của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là những luật lệ vô tội vạ, hết sức khắc nghiệt, cho phép các nhà cầm quyền hễ ngứa tay thì phạt vạ, tống tù và thảm sát đẫm máu.

Chẳng hạn, bọn thực dân bắt phạm nhân người bản xứ phải ăn khan, nghĩa là cho

ăn mà không cho uống Đến một việc như người dân bản xứ An Nam làm thơ ca tụng tự

do, chỉ thế thôi, chính quyền thực dân cũng “phạt họ 5 năm tù”

Trong khi đó một ông người Pháp nọ bắn vỡ sọ một người dân Trung Kỳ; mộtông viên chức Pháp kia đánh đập tàn nhẫn một người dân Bắc Kỳ; một ông thầu khoánPháp này trói tay một người dân Nam Kỳ cho chó cắn, rồi giết người đó đi; một ông thợmáy Pháp kia “hạ sát” một người An Nam bằng súng săn; một ông nhân viên hàng hảiPháp khác xô người gác cầu bản xứ vào đống than hồng cho chết, v.v và v.v, lại không bịtrừng trị

Để xoay tiền bằng bất cứ giá nào, nhà cầm quyền thực dân chỉ cần đổ vạ cho mộtbản làng bản xứ nào đó không biết ngăn ngừa tội phạm hoặc có âm mưu phiến loạn, rồitống dân làng đó vào tù; sau đó bắt làng phải chịu trách nhiệm nộp phạt mỗi đầu ngườidân một số tiền lớn

Trang 31

Không chịu nổi áp bức, bóc lột, người An Nam đã đứng lên đấu tranh như nôngdân ở Yên Thế (Bắc Giang) do Đề Thám lãnh đạo; như biểu tình ở Nam Trung Kỳ năm

1908 do các văn thân tổ chức, trong đó tiến sĩ Trần Quý Cáp; như cuộc nổi dậy ở HảiPhòng Thế rồi bằng bom đạn, bằng thuốc độc, bằng đặt mìn mà mãi vẫn chưa giếtđược Đề Thám trứ danh, bọn thực dân bèn đào mả cha mẹ ông lên, đem hài cốt đổ xuốngsông Chúng bắt ông Trần Quý Cáp, ghép tội ông là “phản nghịch”, hai bốn tiếng đồng

hồ sau là chém ông ngay (5 - 5 - 1908), không cần xét hỏi, cũng không chịu trao trả thihài ông cho gia đình ông Còn cuộc nổi dậy ở Hải Phòng chưa làm chết một ai trongchính quyền cai trị, nhưng bọn thực dân chém đầu 60 người dân vô tội, cũng không cầnxét xử gì cả Chúng còn áp giải cha mẹ vợ con họ đến pháp trường, bắt mục kích cảnhngười thân bị tàn sát Rồi hàng tuần lễ sau, dọc các đường phố Hà Nội, nhiều đầu lâungười dân An Nam vô tội bị người Pháp giết hại, cau mày, nhăn mặt lên những cọc tre

Sau khi thẳng tay đàn áp nhân dân Trung Kỳ biểu tình rất ôn hoà chống sưu caothuế nặng năm 1908, bọn thực dân đổ trách nhiệm cho các làng ở đây Chúng tra khảohào lý, ai không nói bị xử tử ngay tức khắc Cứ như thế, trong vòng hai tuần lễ, một viênquan giám binh đã xử bắn 75 Lý, Hào vô tội Bằng những thủ đoạn như vậy, bọn thựcdân đã tàn sát không biết bao nhiêu người An Nam vô tội; đồng thời tìm mọi cách để vũtrang cho người An Nam chống lại đồng bào của họ

Đấy là công lý nước Pháp Cái thứ “Công lý được tượng trưng bằng một ngườiđàn bà dịu hiền, một tay cầm cân, một tay cầm kiếm” Nhưng “vì đường từ Pháp đếnĐông Dương xa quá, xa đến nỗi sang được tới đó thì cán cân đã mất thăng bằng, đĩa cân

đã chảy lỏng ra và biến thành tẩu thuốc phiện hoặc những chai rượu ty, nên người đàn bàtội nghiệp chỉ còn lại độc cái kiếm để chém giết Bà chém đến cả người vô tội, và nhất làngười vô tội”

Tóm lại, dưới chế độ thực dân thì pháp luật, công lý không bao giờ có đối vớinhững người dân bản xứ, mà “chỉ có ba toong, súng ngắn, súng dài, đấy mới chỉ là thứxứng đáng với lũ dòi bọ ấy!”

Bản án chế độ thực dân Pháp còn chỉ rõ mặt, gọi thẳng tên những kẻ đại diện cho

“nước mẹ”, cho “tự do”, cho “công lý” , cho “sự nghiệp khai hoá” và “truyền bá văn minh”, đang ra tay hoành hành ở khắp các thuộc địa là chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc.

Tất cả bọn chúng, từ toàn quyền, thống đốc, khâm sứ, công sứ, nhà đoan chođến bọn đội lốt tôn giáo trong các giáo hội và bọn tay sai mạt hạng của chúng đều là lũphản động, vô liêm sỉ, bóc lột tàn ác

Những nhà toàn quyền mà Bản án chế độ thực dân Pháp chỉ rõ mặt, gọi thẳng tên

là Pôn Dume (1857 - 1932) - Toàn quyền Đông Dương trong những năm 1896 - 1902; làAnbe Xarô, viện Bộ trưởng Bộ thuộc địa, Toàn quyền Đông Dương hai lần trong nhữngnăm 1911 - 1914 và 1917 - 1919; là Môrixơ Lông, Toàn quyền đông Dương từ cuối 1919đến đầu năm 1922; là Pôn Bôdoanh, Toàn quyền Đông Dương từ tháng 4 đến tháng 9năm 1922; là “ông” Mácxian Hangri Méclanh, Toàn quyền Đông Dương trong nhữngnăm 1923 - 1925; là “ông” Phuốc, Thống đốc xứ Dahômây; là “ông” Gácbi, Toàn quyềnđảo Madagatxca; là “ông” Giêrêmi Lơme, cựu Thống đốc, cựu nghị viện của Ấn Độthuộc Pháp Và những “tên vô lại” thực dân to nhỏ khác

Trang 32

Còn bọn thực dân đội lốt các giáo sĩ, dù ở Đông Dương, ở Ăngtiơ, ở Mađagatxcahay ở các xứ thuộc địa khác, chúng đều là nhưng tên cướp ngày “đóng vai những kẻ dọnnhà vì lợi ích của Chúa” “Nếu thiên đàng có thật, thì sẽ quá chật không đủ chứa chấp tất

cả bọn tông đồ thuộc địa can đảm đó”, và “nếu Chúa bất hạnh đã chịu đóng đinh trên câythánh giá trở về cõi thế này, thì chắc ngài sẽ vô cùng ngao ngán khi thấy “các tông đồtrung thành” của mình thực hiện đức khổ hạnh mhư thế nào”; chúng đốt nhà, cướp của,chiếm đoạt đất đai của người dân bản xứ và đánh đập họ dã man cũng như những tênthực dân khác hành hạ họ “Nếu kể hết ra đây tất cả những hành vi ác quỷ của bọn tông

đồ xứng đáng của đạo từ thiện này thì sẽ quá dài Nhân đây chỉ kể sơ một vài việc: Mộtcha xứ nọ đã nhốt một em bé bản xứ, trói em và cột; khi người chủ của em, một người

Âu, đến xin em về, thì cha xô đẩy, đánh đấm, rút súng lục doạ bắn ông Một cha xứ khác

đã bán một em bé gái An Nam đi đạo cho một người Âu lấy 300 phrăng Một cha khácđánh gần chết một học sinh chủng viện người bản xứ Dân làng người bị nạn rất cămphẫn, trong khi chờ công lý của Chúa, đã làm đơn kiện tên súc sinh - xin lỗi, tôi muốnnói vị cha đáng kính, thì công lý thế tục đã doạ những người đi kiện ngây thơ ấy rằng:

“Dè chừng! Các con ạ! Chớ có kiếm chuyện, nếu không thì ” Đức cha M chẳng đãtuyên bố rằng nền học vấn Pháp là nguy hiểm cho người An Nam đó sao? Còn đức chaP thì chả đã nói rằng Chúa cho cây mây mọc cạnh m ông người An Nam là Chúa đã

có dụng tâm sáng suốt đó sao?”

Sức tố cáo của tác phẩm càng mạnh mẽ thêm khi mô tả nỗi thống khổ của ngườidân bản xứ, nhất là “nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ” Đối với những người này,

“thói dâm bạo vô độ của bọn xâm lược thật không có giới hạn nào cả Cái tinh vi của mộtnền văn minh khát máu cho phép chúng tưởng tượng được đến đâu thì chúng thực hiệntính tàn ác lạnh lùng của chúng đến đó”

“Tháng 3 năm 1922, một nhân viên nhà đoan ở Bà Rịa (Nam Kỳ) đã đánh gầnchết một phụ nữ An Nam làm phu đội muối, lấy cớ chị đã làm ồn ào dưới mái hiên nhàhắn làm hắn mất giấc ngủ trưa Tuyệt hơn nữa là người phụ nữ ấy còn bị đe doạ đuổikhỏi công trường muối nếu chị ấy kêu kiện

Tháng 4, một nhân viên nhà đoan khác đến thay, cũng tỏ ra xứng đáng với têntrước bởi những hành vi tàn ác của hắn: Một bà cụ An Nam, cũng là phu gánh muối, vìbị khấu lương nên cãi nhau với mụ cai Mụ cai thưa với viên đoan Viên này không cầnxét hỏi gì cả, tát luôn bà cụ hai cái nên thân, và khi bà cụ cúi xuống nhặt nón, thì nhàkhai hoá đó lại đá luôn một caí rất ác vào bụng dưới làm cho máu hộc ra lênh láng Bà cụngã xuống bất tỉnh Đáng lẽ phải đỡ bà cụ dậy thì người cộng sự của ông Xarô lại đòi lýtrưởng sở tại đến và ra lệnh đem người bị thương đi Lý trưởng từ chối không làm Viênđoan liền cho đòi chồng bà đến - ông này mù - ra lệnh đem về”

Dưới nanh vuốt của bọn thực dân, mọi tầng lớp người dân bản xứ, từ vua quan,hào lý, tư sản, tri thức, viên chức đến người công nhân, nông dân, từ cụ già đến trẻ em, đều bị coi là nô lệ thấp hèn, đều bị đối xử như súc vật và tính mạng của họ đều “khôngđáng giá một trinh” Vì vậy, đối với họ, bị cướp đoạt, đốt phá, bị giết chóc, đánh đập, bịhãm hiếp là chuyện hằng ngày

Một trong những nội dung cơ bản, cốt lõi của Bản án chế độ thực dân Pháp là luận điểm quan trọng của Nguyễn Ái Quốc về dân tộc và thuộc địa, về chiến lược và

Trang 33

sách lược của giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa yêu nước truyền thống kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản.

Từ việc mô tả sinh động, cụ thể những cảnh bần cùng, cơ cực của người dân bị ápbức ở các nước thuộc địa như ở Lào, An-giê-ri, Marốc tác phẩm toả ra một mối tìnhđồng cảm sâu sắc, thương yêu dào dạt đối với họ, những người cùng chung số phận vớingười An Nam

Có thể nói, thông cảm sâu sắc với nhân dân trên thế giới bị áp bức trên lập trườngcủa những người vô sản, đó là nội dung của chủ nghĩa nhân đạo cộng sản cao cả Hồ ChíMinh Đó cũng là một biểu hiện của sự kết hợp nhuần nhuyễn tinh thần yêu nước với chủnghĩa quốc tế vô sản trong con người Nguyễn Ái Quốc, mà cuộc đời Người ngay từ buổi

ra đi đã gắn chặt với vận mệnh của dân tộc và vận mệnh của những người cùng khổ trêntoàn thế giới

Giữa những năm màn đêm còn bao phủ khắp các thuộc địa, bọn thực dân Phápcùng bè lũ cơ hội, mà đại diện điển hình là Quốc tế II những năm đầu thế kỷ XX - kẻđang ra sức tuyên truyền những luận điểm thực dân phản động, bênh vực chủ nghĩa đế

quốc - thì Bản án chế độ thực dân Pháp đã giáng vào đầu bọn chúng một đòn tấn công

mãnh liệt, luận tội chúng, và đứng hẳn vào hàng ngũ những người vô sản tiên tiến bênhvực quần chúng lao khổ và các dân tộc bị áp bức Đây là một phương thức cơ bản trongsách lược tấn công của cách mạng lúc bấy giờ Vì vậy, tác phẩm này trở thành tiếng nóitiêu biểu cho thế tiến công của thời đại

Nếu đi xa hơn nữa, nhìn cao hơn nữa, thì Bản án chế độ thực dân Pháp còn vạch

rõ kẻ thù của quần chúng lao động và của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới Đó làchủ nghĩa tư bản Hình hài của nó là con đỉa hai vòi, một vòi hút máu giai cấp vô sản vànhân dân lao động ở chính quốc, một vòi hút máu giai cấp vô sản và nhân dân lao động ởcác nước thuộc địa Sự có mặt và sự ra oai tác quái của con đỉa quái vật này là cội nguồncủa mọi thảm hoạ, mọi nỗi khổ đau trút lên đầu lên cổ nhân dân các dân tộc thuộc địamấy thế kỷ nay10

Đồng thời Bản án chế độ thực dân Pháp cũng vạch ra mâu thuẫn không thể đều

hoà được giữa chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc - kẻ gây thảm hoạ - và giai cấp vôsản và nhân dân bị áp bức - người đã phải chịu mọi thảm hoạ Với tầm nhìn xa trông

rộng ấy thì Bản án chế độ thực dân Pháp đã chỉ rõ rằng: Chính quần chúng nhân dân lao

động là lực lượng cách mạng tiêu diệt chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, và nhữngngười vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng

Từ trong đêm tối của cuộc đời lầm than đau khổ, tác phẩm Bản án chế độ thực

dân Pháp đã mở ra cho nhân dân lao động những người bị áp bức, bóc lột cảnh tương lai

tươi sáng Tương lai đó là hiện thực trên đất nước Nga Xô Viết sau thắng lợi Cách mạngTháng Mười 1917 Tác phẩm khẳng định cho nhân dân các nước thuộc địa một niềm tinson sắt vào tương lai ấy và chỉ rõ rằng, tương lai ấy đang được chuẩn bị ở trường đại họcPhương Đông trên đất nước Nga Xô Viết Trường đại học này đang “ấp ủ dưới mái củamình tương lai của các dân tộc thuộc địa” trên toàn thế giới.11

10 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 120.

11 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 123-124.

Trang 34

“Việc thành lập Trường đại học Phương Đông đánh dấu một kỷ nguyên mới;trong khi tập hợp những người trẻ trung, hoạt bát thông minh của các nước thuộc địa,nhà trường đang tiến hành một sự nghiệp vĩ đại là:

a) Giáo dục cho các chiến sĩ tương lai ấy nắm được nguyên lý đấu tranh giai cấp

là nguyên lý một mặt, những cuộc đấu tranh chủng tộc, mặt khác, những tập tục giatrưởng đã làm cho mơ hồ, lẫn lộn trong đầu óc họ

b) Làm cho đội tiên phong của lao động thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp

vô sản phương Tây để dọn đường cho một sự hợp tác thật sự sau này; chỉ có sự hợp tácnày mới đảm bảo giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng

c) Làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biếtnhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, liênminh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản

d) Nêu lên cho giai cấp vô sản ở các nước mà giai cấp tư sản có thuộc địa, mộttấm gương về những điều họ có thể làm và phải làm cho những người anh em họ đang bị

nô dịch.”

Để hướng tới tương lai đó, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp đã vạch ra

đường lối chiến lược và sách lược cho quần chúng đấu trnah lật đổ chế độ thực dân Tácphẩm đã khẳng định: đã là người dân thuộc địa thì ai cũng bị sống kiếp nô lệ, dù là ngườiĐông Dương, người Đa-hô-mây, người Xê-ri, người An-giê-ri, người Xê-nê-gan hay làngười Tây Phi Tất cả có chung một mối thù không đội trời chung với chủ nghĩa đếquốc quốc tế, và đứng trước con quái vật này, quyền lợi của những người lao động trêntoàn thế giới là thống nhất Vì vậy, tất cả hãy đứng lên thực hiện lời hiệu triệu của CácMác: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”; hãy đi theo con đường của cách mạngTháng Mười, đi theo Quốc tế Cộng sản hay Quốc tế III, đoàn kết đấu tranh chống chủnghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho Tổ quốc,giành lại cơm áo, danh dự cho mọi người.12

Chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản là con đỉa hai vòi, muốn tiêu diệt nó, phải

đồng thời chặt đứt cả hai vòi của nó Như vậy, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp đã

đề ra nhiệm vụ trước mắt cho cả cách mạng vô sản ở chính quốc và cả nhiệm vụ chocách mạng giải phóng dân tộc và ở thuộc địa Mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ cũng nhưmối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở phương Tây và cách mang giải phóng dân tộc ởphương Đông

Cũng với tinh thần ấy, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp khẳng định rõ

nhiệm vụ của giai cấp vô sản ở chính quốc là phải giác ngộ, tổ chức quần chúng ở chínhquốc làm cách mạng vô sản, đồng thời “không được quên” bổn phận của mình là phảiđoàn kết chặt chẽ với “những người lao động thuộc địa”, ủng hộ họ không chỉ “bằng lờinói” mà “phải giác ngộ họ, giáo dục họ về ý thức tổ chức và về phương pháp tổ chức”hay bằng những hành động cách mạng thiết thực, để cùng nhau tiêu diệt kẻ thù chung13

Đồng thời Bản án chế độ thực dân Pháp còn khẳng định rằng, sự nghiệp giải

phóng dân tộc ở Việt Nam, cũng như ở các nước thuộc địa khác, phải là một bộ phậnkhông thể tách rời của sự nghiệp cách mạng vô sản và của cách mạng giải phóng dân tộc

12 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 120-128.

13 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 114-127.

Trang 35

trên thế giới Sự nghiệp giải phóng dân tộc được tác phẩm ví như “là một trong nhữngcái cánh của cách mạng vô sản”.

Trên tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản giữa các dân tộc cùng chung một chiến

tuyến, cùng chung một kẻ thù, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp đã biểu dương sức

mạnh của những cuộc đấu tranh trên các thuộc địa như ở Đông Dương, ở Đa-hô-mây, ởXi-ri, và ca ngợi cuộc đấu tranh của 600 công nhân thợ nhuộm ở Chợ Lớn (Nam Kỳ,Việt Nam) tháng 11 năm 1922, coi đó là “dấu hiệu của thời đại” - thời đại giải phóng cácdân tộc thuộc địa khỏi chế độ thực dân Đó là sự cổ vũ và các cuộc tập dượt cho cuộccách mạng vô sản do Đảng Cộng sản lãnh đạo sau này giành thắng lợi hoàn toàn

III - Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ CỦA TÁC PHẨM

Giá trị sâu sắc nhất, trước hết, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp là một

đóng góp sáng tạo có ý nghĩa lịch sử lớn lao trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lêninvào Việt Nam và các nước thuộc địa khác Tác phẩm đem lại ánh sáng chân lý cáchmạng của thời đại cho nhân dân các dân tộc bị áp bức, làm bừng sáng lên trong nhậnthức của họ về con đường cách mạng duy nhất đúng đắn - đó là con đường chủ nghĩaMác - Lênin và làm cho họ thấy rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là cái mà dân tộc mình đangmong đợi, đang khát khao để được giải phóng

Đối với riêng nhân dân Việt Nam, trong bối cảnh của đêm đen nô lệ, trong sựkhủng hoảng của đường lối đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, tác phẩm đã đápứng được đòi hỏi bức thiết về một con đường cách mạng sáng suốt đúng đắn để thoátkhỏi tình trạng mơ hồ về phương hướng và mục tiêu cách mạng Qua đó cũng chứng tỏđược sự ra đời của tác phẩm là một cái mốc đánh dấu sự trưởng thành trong nhận thứccách mạng của nhân dân Việt Nam Từ xác định mục tiêu, phương hướng, dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh “những thắnglợi đã giành được trong thế kỷ XIX, nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, đãtrở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa nhândân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội”14

Nhằm vào việc giải quyết vấn đề cơ bản của thời đại, tác phẩm Bản án chế độ

thực dân Pháp đã vạch rõ bạn thù, vạch rõ mục tiêu cách mạng và bước đầu vạch ra

chiến lược, sách lược của cách mạng cho nhân dân Việt Nam và cho nhân dân các dântộc bị áp bức; đồng thời ca ngợi phương hướng vận dụng những chân lý phổ biến vàođiều kiện cụ thể của mỗi nước

Như vậy, trên bình diện chính trị, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp là sự

chuẩn bị về tư tưởng, về nhận thức cho các dân tộc bị áp bức đi và cuộc đấu tranh dànhđộc lập; tự do, và dành quyền thống trị xã hội về tay giai cấp công nhân và nhân dân laođộng Đó là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng của cách mạng

Ra đời trong bối cảnh lịch sử cụ thể của thế giới và của đất nước vào những năm

20 của thế kỷ XX, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp có một giá trị lịch sử to lớn.

Nó giải thích một cách khoa học theo quan điểm Mác - Lênin những vấn đề cơ bản màlịch sử loài người đang đặt ra và đòi hỏi phải giải quyết; đồng thời đề cập những vấn đề

có quan hệ đến vận mệnh lịch sử của thế giới, đến con người phát triển tất yếu của lịch

sử loài người trong thời đại ngày nay

14 Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, trang12

Trang 36

Riêng ở Việt Nam, cùng với việc chuẩn bị một đội ngũ tiên phong lãnh đạo cách

mạng đáp ứng những đòi hỏi của lich sử, Bản án chế độ thực dân Pháp đã góp phần

quan trọng thúc đẩy lịch sử Việt Nam đi lên; thức tỉnh và thôi thúc dân tộc ta cùng hoànhập với các dân tộc bị áp bức trên thế giới bước nhanh vào kỷ nguyên mới của loàingười: kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội

Qua nội dung phong phú, sâu sắc của Bản án chế độ thực dân Pháp có thể khẳng

định được rằng: Tác phẩm này là sản phẩm của sự kết hợp biện chứng, sinh động, tài tình

về nguyên lý phổ biến của học thuyết Mác - Lênin về chủ nghĩa đế quốc, về vấn đề dântộc và thuộc địa với thực tiễn của phong trào công nhân, phong trào giải phóng dân tộcdưới ánh sáng của cách mạng Tháng Mười vĩ đại và Luận cương về các vấn đề dân tộccủa Lênin

Do đó, về mặt lý luận, phương pháp luận và về giá trị thực tiễn, tác phẩm đã vượt

ra ngoài khuôn khổ của cái đầu đề Bản án chế độ thực dân Pháp.

Bản án chế độ thực dân Pháp được Nguyễn Ái Quốc viết cách đây gần 90 năm,

và trong khoảng thời gian đó đến nay, thế giới đã biến đổi rất nhiều, dân tộc Việt Nam đãgiành được độc lập hoàn toàn, đất nước Việt Nam đã được thống nhất trọn vẹn Nhưnghiện nay, những năm đầu thế kỷ XXI, Chủ nghĩa thực dân vẫn tồn tại dưới những màusắc khác nhau; nhiều dân tộc trên thế giới, nhất là ở Châu Phi và Châu Mỹ latinh, trênthực tế vẫn chưa thoát khỏi ách áp bức bóc lột của những tên tư bản nước ngoài Vì vậy,

ý nghĩa, tác dụng, giá trị to lớn về lý luận và thực tiễn của tác phâm này không hề bị phaimờ; trái lại, càng được nhận thức đầy đủ, càng trở nên có giá trị hơn

Về giá trị văn học - nghệ thuật, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp nổi bật

lên một nghệ thuật sắc sảo Tác phẩm đề cập những vấn đề lớn của thời đại, nhưng lạikhông phân tích dài dòng, khô khan, mà đi từ việc diễn tả những hiện tượng xảy ra hàngngày trong những hoàn cảnh cụ thể, từ đó đưa ra những nhận xét, những kết luận sắc bénsúc tích

Trên cơ sở diễn tả những sự việc cụ thể, dọi vào những sự kiện này tư tưởng mới,tác phẩm làm cho tư duy của người đọc mở mang, dẫn đến những suy nghĩ rộng lớn, xahơn, rồi lại trở về nội dung trọng tâm của tác phẩm với một nhận thức rõ hơn, sáng hơn

Từ những sự việc riêng lẻ dưới những đầu đề khác nhau nhưng được đặt trongmột kết luận lôgic, tác phẩm hình thành một chỉnh thể, một bức tranh toàn diện về cái địangục trần gian của kiếp người nô lệ; về cái thiên đường của bọn giàu sang; hay về bộ mặttàn ác, dã man, bỉ ổi của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân - kẻ thù của nhân loại

Hình thức thể hiện của tác phẩm, về mọi mặt, từ cách diễn tả, cách sử dụng ngônngữ, cách chọn lọc những chi tiết, những hiện tượng, những hình ảnh, cách sử dụngnhững nghệ thuật của yếu tố châm biếm, đến cách bố cục từng chương, từng mục vàtoàn bộ tác phẩm, đều có những nét hết sức độc đáo

HƯỚNG DẪN HỌC TẬP

1 Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp của

Hồ Chí Minh?

Trang 37

2 Tại sao nói Bản án chế độ thực dân Pháp trước hết là bản cáo trạng tố cáo tội

ác của thực dân Pháp không chỉ ở An Nam nói riêng mà ở tất cả các nước thuộc địa củathực dân Pháp?

3 Trình bày những luận điểm quan trọng về vấn đề dân tộc và thuộc địa trong tác

phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp của Hồ Chí Minh?

4 Phân tích ý nghĩa giá trị của tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp của Hồ

Chí Minh?

NGUYÊN VĂN TÁC PHẨM “BẢN ÁN CHẾ ĐỘ THỰC DÂN PHÁP” (Theo Hồ Chí Minh toàn tập - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Hà Nội, 2000 -

Tập 2 - Trang 21 đến 133)

Chương 1 : THUẾ MÁU

I - CHIẾN TRANH VÀ “NGƯỜI BẢN XỨ”

Trước năm 1914, họ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, những tên “Annamít” bẩnthỉu, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị nhà ta Ấy thế

mà cuộc chiến tranh vui tươi vừa bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa “conyêu”, những người “bạn hiền” của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cảcác quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé nữa Đùng một cái, họ (những người bản xứ)được phong cho cái danh hiệu tối cao là “chiến sỹ bảo vệ công lý và tự do” Nhưng họ đãphải trả bằng một giá khá đắt cái vinh dự đột ngột ấy, vì để bảo vệ cho cái công lý và tự

do mà chính họ không được hưởng một tý nào, họ đã phải đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏmảnh ruộng hoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương, đi phơi thây trên các bãi chiếntrường châu Âu Trong lúc vượt biển, nhiều người bản xứ, sau khi được mời chứng kiếncảnh kỳ diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi, đã được xuống tận đáy biển đểbảo vệ tổ quốc của các loại thuỷ quái Một số khác đã bỏ xác tại những niềm hoang vuthơ mộng vùng Ban căng, lúc chết còn tự hỏi phải chăng nước mẹ muốn chiếm ngôinguyên phi trong cung cấm vua thổ, - chả thế sao lại đem nướng họ ở những miền xa xôiấy? Một số khác nữa thì đã anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát trên bờ sông Mácnơ,hoặc trong bãi lây miền Sămpanhơ, để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế củacác cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế

Cuối cùng ở hậu phương, những người làm kiệt sức trong các xưởng thuốc súngghê tởm, tuy không phải hít hơi ngạt của bọn “bôso”15, nhưng lại nhiễm phải nhữngluồng khí độc đỏ ối của người Pháp; đằng nào cũng thế thôi, vì những kẻ khốn khổ ấycũng đã khạc ra từng miếng phổi, chẳng khác gì đã hít phải hơi ngạt vậy

Tổng cộng có 700.000 người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy,80.000 người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa!

II - CHẾ ĐỘ LÍNH TÌNH NGUYỆN

Một bạn đồng nghiệp nói với chúng tôi: dân lao khổ bản xứ ở Đông Dương từbao đời nay bị bóp nặn bằng đủ mọi thứ thuế khoá, sưu sai, tạp dịch, bằng cưỡng bứcphải mua rượu và thuốc phiện theo lệnh quan trên, từ 1915-1916 tới nay, lại còn phảichịu thêm cái vạ mộ lính nữa

15 “Boches” Từ có nghĩa xấu chỉ quân Đức.

Trang 38

Những biến cố trong mấy năm gần đây là cái cớ để người ta tiến hành nhữngcuộc lùng ráp lớn về nhận lực trên toàn cõi Đông Dương Những người bị bắt đều bị nhốtvào trại lính với đủ thứ tên: lính khố đỏ, lính thợ chuyên nghiệp, lính thợ không chuyênnghiệp, v.v.

Theo ý kiến của tất cả các cơ quan có thẩm quyền không thiên vị được giao cho

sử dụng ở châu Âu “vật liệu biết nói” châu Á, thì vật liệu này đã không đưa lại kết quảtương xứng với chi phí rất lớn về chuyên chở và bảo quản

Sau nữa, việc săn bắt tứ “vật liệu biết nói” đó, mà lúc bấy giờ người ta gọi là “chếđộ lính tình nguyện” (danh từ mỉa mai một cách ghê tởm) đã gây ra những vụ nhũng lạmhết sức trắng trợn

Đây! Chế độ lính tình nguyện ấy được tiến hành như thế này: vị “chúa tỉnh” - mỗiviên công sứ ở Đông Dương quả là một vị “chúa tỉnh” - ra lệnh cho bọn quan lại dướiquyền, trong một thời hạn nhất định phải nộp cho đủ một số người nhất định Bằng cáchnào, điều đó không quan trọng Các quan cứ liệu mà xoay xở Mà cái ngón xoay xở hiểu

D16 thì các ông tướng ấy thạo hết chỗ nói, nhất là xoay xở làm tiền

Thoạt tiên, chúng tóm những người khoẻ mạnh, nghèo khổ, những người này chỉchịu chết thôi không còn kêu cứu vào đâu được Sau đó, chúng mới đòi đến con cái nhàgiàu Những ai cứng cổ thì chúng tìm ngay ra dịp để sinh chuyện với họ hoặc với giađình họ, và nếu cần, thì giam cổ họ lại cho đến khi họ phải dứt khoát chọn lấy một tronghai con đường “đi lính tình nguyện, hoặc xì tiền ra”

Những người bi tóm đi như thế còn hào hứng gì nữa với cái nghề cột vào cổ họ.Cho nên, bước chân vào trại lính là họ liền tìm mọi cơ hội để trốn thoát

Còn những người nào thấy không thể thoát khỏi số phận hẩm hiu, thì tìm cách tựlàm cho mình nhiễm phải những bệnh nặng nhất, mà thông thường hơn cả là bệnh đaumắt toét chảy mủ, gây ra bằng cách xát vào mắt nhiều thứ chất độc, từ vôi sống đến mủbệnh lậu

Ấy thế mà trong một bản tố cáo với những người bị bắt lính, phủ toàn quyềnĐông Dương, sau khi hứa hẹn ban phẩm hàm cho những lính sẽ còn sống sót và truytặng những người sẽ hy sinh “cho Tổ quốc”, đã trịnh trọng tuyên bố rằng:

“Các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương xiếtbao trìu mến để người thì hiến dâng xương máu của mình như lính khố đỏ, kẻ thì hiếndâng cánh tay lao động của mình như lính thợ”

Nếu quả thật người An Nam phấn khởi đi lính đến thế, tại sao lại có cảnh, tốp thìbị xích tay diệu về tỉnh lỵ, tốp thì trước khi xuống tàu, bị nhốt trong một trường trunghọc ở Sài Gòn, có lính Pháp canh gác, lưỡi lê tuốt trần, đạn lên nòng sẵn? Những cuộcbiểu tình đổ máu ở Cao Miên, những vụ bạo động ở Sài Gòn, ở Biên Hoà và ở nhiều nơikhác nữa, phải chăng là những biểu hiện của lòng sốt sắng đầu quân “tấp nập” và “khôngngần ngại”?

Những vụ trốn đi lính và đào ngũ (tính ra có đến 50 phần trăm trong hàng ngũquân dự bị) đều bị đàn áp không gớm tay và những cuộc đàn áp lại gây ra những cuộcbinh biến bị dìm trong biển máu

16 Nguyên văn: LeSystème D.D, chữ đầu của từ Débravillard, có nghĩa là xoay , tháo vát.

Trang 39

Bản tố cáo của phủ toàn quyền còn cẩn thận nhắc thêm rằng, tất nhiên muốnxứng đáng với “lòng tốt rõ rệt” và “độ lượng lớn lao” của chính phủ thì “các anh (binhlính Đông Dương) cần phải cư xử đúng đắn và không được làm một điều gì cho người taphải phàn nàn cả”.

Viên chỉ huy tối cao quân đội Đông Dương còn có một lối đề phòng khác: ông tabắt thích vào lưng hoặc cổ tay của từng người lính mới mộ một con số không thể nào tẩyxoá được bằng một dung dịch nitơrát bạc

Ở đây cũng giống như ở Châu Âu, sự khốn khổ của những người này là nguồn lợinhuận của những kẻ khác nào là bọn đeo lon chuyên nghiệp may mắn vớ được công việctuyển mộ và quản lý lính mới bản xứ mà lánh xa được càng lâu càng tốt những cuộc giaochiến nguy hiểm ở châu Âu; nào là bọn chủ thầu lương thực làm giàu vùn vụt bằng cách

bỏ đói những lính mộ khốn khổ; nào là bọn độc quyền tiếp liệu thông đồng với bọn quanchức để gian lận, đầu cơ

Về chuyện này, cần nói thêm là còn một loại chế độ tình nguyện khác nữa: tìnhnguyện mua công trái Biện pháp tiến hành thì cũng như thế Ai có máu mặt là phải bỏtiền ra Kẻ nào khó bảo thì người ta dùng cách dụ dỗ và cưỡng bách đến phải mua mớithôi

Phần đông những người mua công trái ở Đông Dương không hiểu gì về thể thứctài chính cả; họ coi việc mua công trái cũng như đóng một thứ thuế mới và coi các phiếucông trái khác gì những biên lai nộp thuế

Bây giờ thử xem chế độ mộ lính tình nguyện đã được tổ chức ở các thuộc địakhác như thế nào

Lấy Tây Phi làm thí dụ:

Ở đây, bọn chỉ huy quân đội kéo quân đến từng làng bắt bọn hào mục phải nộpngay lập tức đầy đủ số người chúng muốn tuyển mộ Để buộc những thanh niên Xênêgan

bỏ trốn phải ra nhận đội mũ lính, chẳng phải một viên chỉ huy đã tra tấn, hành hạ cácthân nhân của họ, và cho rằng làm như thế tài giỏi đó sao? Chính hắn đã bắt các ông bàgià, đàn bà có thai, con gái, đem lột trần truồng, rồi đốt hết quần áo trước mặt họ Nhữngnạn nhân khốn khổ đó mình trần như nhộng, tay trói cánh khuỷu buộc phải chạy khắpcác thôn xã dưới làn roi vọt, để “nêu gương”! Một người đàn bà cõng con phải van xinmãi mới được cởi trói một tay để đỡ đứa bé Trong khi chạy, hai cụ già đã ngã chết ngấtđi; nhiều em gái khiếp sợ trước những hành vi bạo ngược đó, đã hành kính trước tuổi;một người đàn bà trụy thai, một chị khác đẻ một đứa con mù

Có rất nhiều thủ đoạn bắt lính Thủ đoạn sau đây đã tỏ ra nhanh và tiện nhất:Lấy dây chăng ngang hai đầu con đường chính trong làng lại Thế là tất cả nhữngngười da đen ở vào giữa đều coi như chính thức phải tòng quân

Một nhân chứng đã viết cho chúng tôi như: “Giữa trưa ngày 3 tháng 3 năm 1923,bọn hiến binh vây ráp các bến cảng Ruyphixcơ và Đaca rồi tóm tất cả những người bản

xứ làm việc ở đó Những anh chàng này vì không tỏ vẻ sốt sắng đi bảo vệ văn minhngay, nên người ta rước họ lên ô tô cam nhông mới về nhà lao Ở đây, sau khi họ có đủthì giờ để thay đổi ý kiến rồi, người ta mới đưa họ sang trại lính

“Ở trại lính, sau những nghi lễ biểu dương tinh thần yêu nước, 29 lính tìnhnguyện được tuyên dương có thể trở nên anh hùng của cuộc chiến tranh cuối cùng naymai Bây giờ thì tất cả đều nóng lòng muốn lấy lại miền Ruya cho nước mẹ

Trang 40

Nhưng theo tướng Mănggianh17, người hiểu rõ họ nhất, thì đó chỉ là những độiquân để đem nướng trước mùa đông”.

Chúng tôi hiện có trong tay bức thư của một người Đahômây, vốn là cựu binh, đãtừng làm “nghĩa vụ” trong cuộc chiến tranh “vì công lý” Một vài đoạn trích trong bứcthư sẽ vạch rõ cho các bạn thấy người “Batuala”18 đã được bảo vệ như thế nào và cácquan cai trị thuộc địa nhà ta đã nặn ra lòng trung thành của người bản xứ như thế nào để

tô điểm cho tất cả những bài diễn văn của các nhà cầm quyền và làm đề tài cho tất cảnhững bài báo của bọn Rêgixmăngxê và Hôde19 thuộc đủ cỡ

Bức thư viết: “Năm 1915, khi ông M.Nuphia, thống đốc Đahômây, ra lệnh bắtlính, thì làng tôi bị bọn cảnh sát cùng lính cơ cướp phá và đốt sạch Tất cả tài sản của tôiđều bị mất hết trong các cuộc đốt phá đó Tuy thế, tôi vẫn bị cưỡng bách nhập ngũ, vàmặc dầu là nạn nhân của việc xúc phạm bỉ ổi đó, tôi đã làm nghĩa vụ của tôi ở mặt trậnbên Pháp Tôi bị thương ở trận Exnơ

“Ngày nay, chiến tranh đã chấm dứt, tôi sắp trở về nước, nhưng không còn nhàcửa, của cải gì cả Người ta đã cướp của tôi: 1000 phrăng tiền mặt; 12 con lợn; 15 concừu; 10 con dê; 60 con gà; 8 tấm vải quấn mình; 5 áo mặc ngoài; 10 quần; 7 mũ; 1 dâychuyền bằng bạc; 2 hòm đồ vật

“Đây là tên những bạn cùng ở một xóm đã bị cưỡng bách nhập ngũ cùng ngàyvới tôi, và nhà cửa cũng đã bị cướp phá và đốt sạch (Ghi tiếp theo tên bảy người)

“Còn nhiều nạn nhân nữa của những chiến công kiểu ấy của ngài thống đốcNuphia, nhưng tôi không biết rõ tên những người đó để gửi cho các anh hôm nay ”

Chắc bọn “bôso” của vua Ghiôm cũng không làm được hơn thế

III - KẾT QUẢ CỦA SỰ HY SINH

Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng rồi, thì những lời tuyên bố tình tứ của cácngài cầm quyền nhà ta bỗng dưng im bật như có phép lạ, và cả người Nêgrô20 lẫn người

“Annamit” mặc nhiên trở lại “giống người bẩn thỉu”

Để ghi nhớ công lao của người lính An Nam, chẳng phải người ta đã lột hết tất cảcủa cải của họ, từ chiếc đồng hồ, bộ quần áo mới toanh mà họ bỏ tiền túi ra mua, đến cácvật kỷ niệm đủ thứ, v.v trước khi đưa họ đến Mácxây xuống tàu về nước, đó sao?Chẳng phải người ta đã giao họ cho bọn súc sinh kiểm soát và đánh đập họ vô cớ đó sao?Chẳng phải người ta đã cho họ ăn như cho lợn ăn và xếp họ như xếp lợn dưới hầm tàu

ẩm ướt, không giường nằm, không ánh sáng, thiếu không khí đó sao? Về đến xứ sở,chẳng phải họ đã được một quan cai trị biết ơn đón chào nồng nhiệt bằng một bài diễnvăn yêu nước “Các anh đã bảo vệ Tổ quốc, thế là tốt Bây giờ, chúng tôi không cần đếncác anh nữa, cút đi !”, đó sao?

Thế là những “cựu binh” đúng hơn là cái xác còn lại sau khi đã dũng cảm bảo vệchính nghĩa và công lý nay tay không trở về với chế độ bản xứ của họ, một chế độ khôngbiết gì đến chính nghĩa và công lý cả

Theo báo chí Đông Dương thì thương binh người Pháp bị mất một phần thân thể

và vợ của tử sỹ người Pháp đều được cấp môn bài bán lẻ thuốc phiện

17 Mangin Tướng Pháp (1866-1925) đã tham gia chiến thắng Vêdoong, từng chỉ huy đội quân xâm

lược Xuđăng, Bắc kỳ, Marốc.

18 Batouala Tên một bộ lạc ở vùng xích đạo châu Phi.

19 Régi sman set etHaoser Tên những người viết báo tay sai, có nghĩa như những tên bồi bút.

20 Nêgrô Từ chỉ người da đen.

Ngày đăng: 24/06/2014, 15:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w