1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình lịch sử tư tưởng Việt Nam

69 1,4K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Lịch sử Tư tưởng Việt Nam
Tác giả Th.S Hoàng Ngọc Vĩnh
Trường học Đại Học Khoa Học Huế
Chuyên ngành Lịch sử Tư tưởng Việt Nam
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2007
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 284 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Khác với chủ nghĩa duy tâm Tinh thần là động cơ củaphát triển triết học; phủ nhận sự phụ thuộc của triết học vào đờisống kinh tế-xã hội, phủ nhận tính giai cấp của triết học; phủnhận n

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong khi chờ đợi giáo trình quốc gia, chúng tôi biênsoạn giáo trình “Lịch sử Tư tưởng Việt Nam” nhằm phụcvụ cho việc học tập của sinh viên ngành Triết học, ngànhGiáo dục Chính trị tại các trường Đại Học thuộc Đại họcHuế và những bạn đọc quan tâm

-***-Nội dung cuốn sách được hoàn thành dựa chủ yếutrên nội dung hai cuốn “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” tập 1và 2 do Nhà xuất bản Khoa hocü Xã hội và Nhân văn xuấtbản năm 1995 và 1997 Tập 1 do giáo sư Nguyễn Tài Thưchủ biên, tập 2 là của giáo sư tiến sỹ Lê Sỹ Thắng chủbiên Ngoài ra, tài liệu tham khảo chủ yếu là bộ sách “Lịchsử Tư tưởng Việt Nam” gồm 7 tập của tác giả NguyễnĐăng Thục do Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh pháthành năm 1998

Cuốn Giáo trình cũng là sự hoàn thiện bước một của

“Đề cương bài giảng Lịch sử tư tưởng Việt Nam” do tác giảbiên soạn năm 2002

Mặc dù đã có nhiều cố gắng biên soạn theo quyếtđịnh số 3244/ GD-ĐT ngày 12/ 09/ 1995 của Bộ trưởng BộGiáo Dục và Đào Tạo, song cuốn sách cũng không tránhkhỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ýcủa các bạn đồng nghiệp, đọc giả xa gần để cuốn sáchngày càng hoàn thiện hơn Chân thành cảm ơn!

Huế, tháng 3 năm 2007

BÀI MỞ ĐẦU ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP, NHIỆM VỤ

NGHIÊN CỨU CỦA LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

I/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA LỊCH SỬ TRIẾT HỌC.

1 - Triết học

Theo quan niệm mác-xít thì “Triết học là một trong nhữnghình thái ý thức xã hội, là khoa học nghiên cứu về những conđường chung nhất, những nguyên tắc chung nhất, những biệnpháp chung nhất của sự vận động và phát triển của thế giới”

Triết học là một trong các hình thái ý thức xã hội ra đờikhoảng thế kỷ VI tcn, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng,xét đến cùng triết học bị quy định bởi đời sống vật chất của xãhội

Trang 2

Sự phát triển của các tư tưởng triết học bị quy định bởi sựphát triển của nền sản xuất vật chất và phải phụ thuộc vào sựphát triển của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội Triết họccũng chính là thế giới quan của những giai cấp hoặc tập đoàn xãhội nhất định.

Tuy vậy, triết học và sự phát triển của lịch sử triết học vẫnluôn có tính độc lập tương đối với đời sống vật chất của xã hội.Bởi lẽ, triết học luôn có nhiều mối liên hệ, sự giao lưu tư tưởngkhác nhau

Trong một phạm vi không gian, thời gian nhất định, sựgiao lưu đó vượt ra khỏi sự ràng buộc trực tiếp của đời sống vậtchất của xã hội như các vấn đề liên quan đến: Nguồn gốc nhậnthức của triết học; Nguồn gốc xã hội của triết học; Lôgic nội tạicủa các khuynh hướng và hệ thống triết học (Duy vật, duy tâm,biện chứng, siêu hình); Mối quan hệ giữa triết học với các khoahọc, với các tư tưởng khác

Một tri thức được gọi là triết học phải bao gồm hai yếu tố:Nhận thức: Phải thể hiện được một sự hiểu biết nhất định (nếukhông nói là sự hiểu biết uyên thâm) về thế giới Nhận định:Phải tỏ rõ được thái độ, hành vi, cách cư xử, ứng xử, đối xử củacon người với thế giới

2 - Lịch sử triết học

Theo quan điểm mác-xít, lịch sử triết học là lịch sử phátsinh, hình thành và phát triển của triết học nói chung, của cáckhuynh hướng và hệ thống triết học khác nhau nói riêng trong sựphụ thuộc (suy đến cùng) của nó vào sự phát triển của tồn tại xãhội

Lịch sử triết học là một khoa học của các khoa học triếthọc, chứ không là một khoa học lịch sử thông thường:

- Nó nghiên cứu, mô tả các sự kiện trong sự phát triển củatriết học, trình bày nội dung các hệ thống triết học khác nhaumột cách khái quát

- Nó nghiên cứu những quy luật phát triển của triết học vàlôgíc nội tại của quá trình phát sinh, hình thành và phát triển củacác hệ thống triết học

- Nội dung cơ bản của lịch sử triết học là cuộc đấu tranhcủa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Cuộc đấu tranh nàyxuyên suốt sự phát triển của triết học và nó phản ánh cuộc đấutranh giai cấp trong xã hội Cuộc đấu tranh này cũng không táchrời cuộc đấu tranh giữa hai phương pháp nhận thức biện chứngvà siêu hình

+ Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ýthức có sau, vật chất quyết định ý thức Chủ nghĩa duy vậtthường là thế giới quan của lực lượng tiên tiến, tiến bộ của xã

Trang 3

hội Chủ nghĩa duy vật khẳng định con người có khả năng nhậnthức thế giới Trong tiến trình phát trển từ cổ đại đến hiện đại,chủ nghĩa duy vật đã trãi qua nhiều hình thức khác nhau Nhưngnói chung, nó đã có các hình thức chủ yếu: Duy vật cổ đại; Duyvật tầm thường; Duy vật cơ học máy móc; Duy vật siêu hìnhnhân bản của Phơ bách; Duy vật biện chứng.

+ Chủ nghĩa duy tâm khẳng định ý thức có trước, vậtchất có sau, ý thức quyết định vật chất Chủ nghĩa duy tâmthường là thế giới quan của những lực lượng suy tàn, bảo thủ vàphản động của xã hội Chủ nghĩa duy tâm thường phủ nhận hoặcchỉ thừa nhận một cách rất hạn chế khả năng nhận thức thế giớicủa con người Khi họ thừa nhận con người có khả năng nhậnthức thế giới thì thực tế đó chỉ là sự tự nhận thức về ý thức của họvề thế giới mà thôi Trong sự phát triển của mình, chủ nghĩa duytâm cũng đã trãi qua nhiều hình thức khác nhau Nhưng nóichung có hai hình thức cơ bản là duy tâm khách quan và duy tâmchủ quan

+ Phương pháp biện chứng: Xem xét sự vật hiệntượng trong mối liên hệ phổ biến, quy định ràng buộc lẫn nhau,luôn vận động và luôn phát triển trong mâu thuẫn nội tại củachúng Trong tiến trình vận động và phát triển của mình, phươngpháp biện chứng đã vận động đi từ thấp đến cao, mà đỉnh cao làbiện chứng duy vật

+ Phương pháp siêu hình: Xem xét sự vật hiện tượngtrong thế tách biệt cô lập lẫn nhau, hoặc không vận động, hoặckhông phát triển, hoặc vận động và phát triển theo chu kỳ khépkín Phương pháp siêu hình cũng đã trãi qua nhiều hình thứckhác nhau trong tiến trình vận động và phát triển của mình

II/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA LỊCH SỬ TRIẾT HỌC.

- Lịch sử triết học chỉ rõ sự phát triển của chủ nghĩa duyvật trong cuộc đấu tranh của nó với chủ nghĩa duy tâm và nhữngbiến đổi bởi những hình thức khác nhau của chủ nghĩa duy vật

- Lịch sử triết học chỉ rõ sự phát triển của chủ nghĩa duytâm trong cuộc đấu tranh của nó với chủ nghĩa duy vật và quátrình biến đổi của nó dưới những hình thái khác nhau

- Lịch sử triết học chỉ rõ cuộc đấu tranh giữa hai phươngpháp biện chứng và siêu hình trong lịch sử triết học Chỉ rõ sựhình thành và phát triển của các phương pháp nhận thức chịu ảnhhưởng sâu sắc của quá trình phát triển khoa học, kỹ thuật vàtrình độ của nền sản xuất xã hội

- Lịch sử triết học chỉ rõ cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duyvật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phương pháp biện chứng vàphương pháp siêu hình, nhưng không làm đơn giản và làm nghèolịch sử triết học, mà làm phong phú thêm lịch sử triết học bởi

Trang 4

tính đan xen, thâm nhập nhau, kế thừa nhau, loại bỏ nhau giữacác trào lưu triết học

- Lịch sử triết học chỉ rõ tính phức tạp, khó khăn trong việcphân loại rạch ròi hai trào lưu triết học cơ bản dựa trên vấn đề cơbản của triết học Việc phân loại chỉ thực hiện được chính xáckhi hiểu đúng nguyên lý “đấu tranh và thống nhất giữa các mặtđối lập“; Phải có sự phân biệt cần thiết giữa đấu tranh tư tưởngvề thế giơí quan với đấu tranh về khoa học

III/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ TRIẾT HỌC.

- Phương pháp nghiên cứu của lịch sử triết học Mác-Lêninnhìn chung và xuyên suốt là phương pháp biện chứng duy vật.Trong quá trình nghiên cứu, sự kết hợp giữa phương pháp lôgicvới phương pháp lịch sử gọi là phương pháp lôgic-lịch sử Dựatrên những nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng về tựnhiên và những nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng vềxã hội mà nghiên cứu Tức không phải gạt bỏ, thủ tiêu quá khứmà là tiếp thu có phê phán những thành tựu của văn minh thếgiới, là duy trì và phát triển những gì có giá trị tiến bộ trong cácthành quả của quá khứ, là kế thừa trên con đường phát triển củaxã hội và văn hóa nhân loại

- Lịch sử triết học đòi hỏi phải có quan điểm toàn diện, lịchsử cụ thể khi nghiên cứu thế giới quan và nội dung triết thuyếtcủa mọi nhà tư tưởng Chỉ như thế mới chỉ rõ được giá trị lịch sửvà hạn chế của nó Phương pháp nghiên cứu của lịch sử triết họcnhư thế, đòi hỏi phải đi sâu vào những vấn đề bản chất sâu kínnhất, phức tạp nhất của các triết thuyết triết học, chống lại tháiđộ hời hợt trong việc nghiên cứu, đánh giá lịch sử triết học

Tóm lại, phương pháp nghiên cứu của lịch sử triết học làphải dựa trên cơ sở vững chắc của chủ nghĩa duy vật biện chứngvề tự nhiên và chủ nghĩa duy vật biện chứng về xã hội Chủnghĩa duy vật biện chứng về xã hội của triết học lịch sử mác-xítlà cơ sở phương pháp luận của lịch sử triết học

IV/ ĐẶC ĐIỂM CỦA LỊCH SỬ TRIẾT HỌC MÁC-XÍT.

- Khác với chủ nghĩa duy tâm (Tinh thần là động cơ củaphát triển triết học; phủ nhận sự phụ thuộc của triết học vào đờisống kinh tế-xã hội, phủ nhận tính giai cấp của triết học; phủnhận những động lực vật chất-xã hội cho sự phát triển triếthọc ), lần đầu tiên trong lịch sử triết học, Mác là người đặt cơ sởhiện thực cho lý luận về lịch sử triết học Sau này, trong điềukiện lịch sử mới, Lênin đã bảo vệ những quan điểm của Mác vàĂng ghen về vấn đề này

Lênin đã đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc tính Đảng của lịchsử triết học là nguyên tắc bất di bất dịch, là cái vốn có của lịch sửtriết học từ 2000 năm trước đây

Trang 5

- Lịch sử triết học mác-xít công khai trước sau như một,bảo vệ chủ nghĩa duy vật trước sự tấn công của những kẻ thùđịch với nó, phê phán có cơ sở xã hội khách quan đối với mọiquan điểm của chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết học, nhất làvới triết học tư sản hiện đại

Tuy nhiên, không vì thế mà tùy tiện, hời hợt, võ đoán trongviệc nghiên cứu các dòng triết học tư sản hiện đại Ở đây, cần cóbản lĩnh vạch rõ tất cả những gì phản động và phục vụ lợi íchriêng của các giai cấp, các tầng lớp phản động trong xã hội.Đồng thời, còn phải biết thận trọng duy trì và bảo vệ tất cảnhững gì tiến bộ, có giá trị trong mọi triết thuyết

- Nguyên tắc tính Đảng trong lịch sử triết học mác-xít đốilập với mọi biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều Nó đòi hỏi tínhsáng tạo cao và quan điểm lịch sử cụ thể nghiêm túc Trong điềukiện ngày nay, càng nhận thức rõ hơn ý nghĩa của cuộc đấu tranhchống lại chủ nghĩa giáo điều

- Tính sáng tạo trong lịch sử triết học mác-xít hoàn toàn xalạ với chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa cơ hội đang mưu toan bópméo, xuyên tạc các sự kiện lịch sử nhằm phục vụ ý đồ chính trị,thực tiễn của các giai cấp, các tầng lớp phản động hiện nay Sángtạo trong lịch sử triết học mác-xít đóng vai trò quan trọng trongđánh bại các mưu toan đó, đưa lại bức tranh chân thực của lịchsử, thúc đẩy sự phát triển của triết học và tiến bộ xã hội

Ăng ghen chỉ rõ rằng, không nên đọc Hê ghen với mụcđích duy nhất là tìm ra ở Hê ghen những điều ngộ biện - đó làcông việc của một học sinh Điều quan trọng hơn là dưới cáihình thức không đúng, và trong các quan hệ giả tạo, tìm ra cáiđúng và cái thiên tài Chính quan điểm này mà Mác, Ăngghen đãtiếp thu được tất cả những gì có giá trị tiến bộ trong lịch sử pháttriển của triết học và sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng

Lênin cũng chỉ rõ, khi đặt vấn đề phê phán các trào lưutriết học phi mác-xít, thì phải phê phán nó trên cơ sở phân tíchkhoa học Chính lẽ này, khi phê phán chủ nghĩa Cant và chủnghĩa Makhơ, Lênin đã khiển trách những người đứng nhiều hơntrên lập trường của chủ nghĩa duy vật tầm thường để phê phánchủ nghĩa Cant Lênin cho rằng, lối phê phán như thế chỉ biết vấtbỏ những lý luận của phái đó, mà không biết sửa sai cho nhữnglập luận ấy, không đào sâu, không khái quát hóa và mở rộngchúng, không nêu rõ được mối liên hệ và những chuyển tiếp củamọi thứ khái niệm Lênin cũng cho rằng, những nhà triết học duyvật siêu hình khi phê phán chủ nghĩa duy tâm, đã không thấy rõnguồn gốc nhận thức luận của nó

Như vậy, với lịch sử triết học Mác-Lênin, mọi sự phân tíchcó phê phán mọi trường phái triết học duy tâm, đòi hỏi phải vạch

Trang 6

ra một cách cụ thể chính những giới hạn, những khía cạnh củanhận thức mà mọi sự tách rời chúng khỏi vật chất và tuyệt đốihóa chúng một cách phiến diện đã dẫn đến sự xuất hiện một tràolưu duy tâm chủ nghĩa nào đó

V/ VAI TRÒ Ý NGHĨA CỦA LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

MÁC-XÍT.

Lịch sử triết học mác-xít cho ta khả năng hiểu biết và kháiquát sự phát triển của lịch sử tư tưởng triết học nhân loại, nắmđược những kinh nghiệm của nhận thức khoa học Lịch sử triếthọc mác-xít chỉ rõ sự hình thành và phát triển của những phươngpháp nhận thức khoa học; Dạy ta phương pháp nghiên cứu, đánhgiá một học thuyết triết học trong lịch sử, góp phần xây dựngphương pháp tư duy khoa học

Góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh tư tưởng và lý luậnhiện nay Lịch sử triết học chỉ rõ quá trình đấu tranh giữa chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, chỉ rõ tính đúng đắn, tiếnbộ của thế giới quan duy vật chủ nghĩa và tính hạn chế, phảnkhoa học của thế giới quan duy tâm chủ nghĩa

Bằng các sự kiện lịch sử và sự phân tích khoa học, lịch sửtriết học mác-xít giúp ta chống lại sự xuyên tạc của triết học tưsản đối với chủ nghĩa duy vật, nhất là đối với chủ nghĩa duy vậtbiện chứng; Giúp ta chống lại chủ nghĩa cơ hội nhằm biện hộcho chủ nghĩa tư bản; Giúp ta vạch rõ các thủ đoạn xảo trá trongviệc đánh giá vô căn cứ về các nhà triết học tiến bộ nhăìm hạ thấpvai trò của họ, cũng như việc tâng bốc một số nhà triết học phảnđộng về mặt lịch sử

Lịch sử triết học mác-xít đặt cơ sở khoa học cho việc tiếptục nghiên cứu và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng, đó làtriết học của đời sống thực tiễn, và cũng chỉ có đời sống thực tiễnmới làm cho triết học phát triển

Lịch sử triết học mác-xít đóng vai trò quan trọng trong việcđánh bại các mưu toan của chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa xétlại, chủ nghĩa cơ hội đưa lại bức tranh chân thực của lịch sử, thúcđẩy sự phát triển của triết học và do đó thúc đẩy các quá trìnhnhằm đạt tới tiến bộ xã hội

VI / LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG.

Với tư cách là một khoa học lịch sử triết học, lịch sử triếthọc phương Đông có đầy đủ những đặc điểm, tính chất, đốitượng và phương pháp nghiên cứu của lịch sử triết học

Tuy nhiên, lịch sử triết học phương Đông có những đặcđiểm khác biệt so với lịch sử triết học phương Tây: Triết họcphương Đông chủ yếu bàn về nhân sinh quan, ít bàn đến thế giớiquan Ngay cả khi bàn về nhân sinh quan, thì triết học TrungQuốc chú trọng đến đạo đức, chính trị-xã hội, còn triết học Âún

Trang 7

Độ lại chú trọng đến đời sống tâm linh nhiều hơn Giải thoátluận luôn là khuynh hướng nổi trội trong lịch sử triết học Âún Độ,đặc biệt ở giai đoạn cổ-trung đại Tuy nhiên, triết học phươngĐông là sự phản tỉnh của đời sống nhân sinh, chứ không chỉ là sựphản tỉnh của tự ý thức.

Triết học phương Đông có sự đan xen rất khó phân biệtgiữa duy tâm và duy vật, giữa biện chứng và siêu hình, giữa vôthần và hữu thần, trong đó triết học Âún Độ là sự đan xen, hòađồng giữa những tư tưởng triết học với những tư tưởng tôn giáo.Sự đan xen thể hiện rõ ngay trong mỗi nhà triết học, mỗi trườngphái và mỗi hệ phái triết học trong mỗi thời đại

Âún Độ và Trung Quốc là hai trung tâm triết học lớn củacác dân tộc phương Đông cổ đại nói chung và các dân tộc châu

Á nói riêng Tính đa dạng, phong phú, sâu sắc của nền triết họcphương Đông nói lên rằng: Bất cứ một sự coi thường nào về nềnvăn hóa và tư tưởng của các dân tộc châu Á đều là chủ quantrong khoa học về lịch sử, là cắt xén lịch sử, do đó sẽ không thấyđược tính đa dạng trong sự thống nhất của lịch sử tư tưởng triếthọc nhân loại

Cùng bàn về nhân sinh quan, nhưng Nho, Phật, Lão đã tạo

ra ba thế mạnh khác nhau Phật nặng về tâm linh, tình cảm tôngiáo; Nho nặng về chính trị, đạo đức; Lão lại chủ trương tựnhiên Sự hội nhập Nho-Phật-Lão đã tạo ra một hiện tượng đặcbiệt trong đời sống tư tưởng văn hóa các dân tộc Á Đông, và nóđã bổ túc cho nhau tạo ra một thế giới quan “hỗn dung“,”tổnghợp“ - tức là một thế giới quan triết học toàn diện hơn

Đứng ở góc độ phương pháp, thì các triết thuyết TrungQuốc đặc biệt quan tâm đến đời sống thực tiễn chính trị-xã hội,trong khi đó triết học Âún Độ lại thiên về siêu hình học và tôngiáo

Triết học phương Đông, nhất là triết học Âún Độ, mà nổi bậtnhất là triết học Phật giáo đã bao hàm những tư tưởng biện chứngsâu sắc Nhưng với tư cách là biện chứng của sự phát triển thì về

cơ bản nó chưa đề cập tới

So với triết học Trung Quốc, thì các trường phái triết họcÂún Độ ít có sự sáng tạo, năng động Thông thường các triếtthuyết Âún Độ phát triển về sau thường chỉ là bằng cách này,hoặc cách khác làm rõ hơn ý của các bậc tiền bối mà thôi Đâychính là sự phản ánh những yếu tố đã chi phối sự phát triển chậmchạp của Âún Độ cổ-trung đại

Sự phát triển của tư tưởng triết học phương Đông, sự giaolưu tư tưởng và văn hóa trong khu vực đã mang bản sắc độc đáo

so với phương Tây

Trang 8

Những tư tưởng triết học Âún Độ và Trung Quốc du nhậpvào Việt Nam, dần hòa quyện vào tư tưởng và văn hóa dân tộc.Lịch sử triết học cho thấy cần phải xử lý đúng đắn mối quan hệgiữa “cái dân tộc“ và “cái quốc tế“, làm cho những tư tưởng triếthọc của Việt Nam ngày càng phong phú, sống động hơn trongmối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển chung của thế giới, nhằmđạt tới một nền văn minh hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc.

BÀI 1: ĐỐI TƯỢNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHƯƠNGPHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG

Trong sự thống nhất đó, cần phải thấy rằng triết học là cốtlõi của “đạo học”, văn là phương châm để chuyên chở “đạo”, làphương tiện để truyền bá “đạo”, còn sử học là lĩnh vực dùng sựkiện để chứng minh cho “đạo” Đạo ở đây không được đồng nhấtnó với Đạo Nho, đạo Phật hay đạo Lão, mà đạo được đề cấp đếnchủ yếu với tư cách là “đạo người”

Có sự gần gũi giữa lịch sử tư tưởng và lịch sử triết học,nhưng hai môn này không phải là một: Triết học là thuộc về tưtưởng, nhưng còn nhiều tư tưởng không là tư tưởng triết học

Hiện có nhiều ý kiến khác nhau về môn học “Lịch sử tưtưởng Việt Nam” Có ý kiến coi đây là môn lịch sử triết học, có ýkiến coi đây là môn lịch sử tư tưởng Cũng có ý kiến coi đây làmôn lịch sử ý thức hệ

Chúng ta cần xác định môn học này không phải là môn lịchsử tư tưởng nói chung, cũng không phải là môn lịch sử của các tưtưởng trong ý thức hệ Đây phải là môn học mà nội dung cơ bảncủa nó là lịch sử triết học và những tư tưởng có quan hệ mật thiếtvới tư tưởng triết học

Việt Nam trong lịch sử, tuy triết học không phát triển,nhưng đã có tư tưởng triết học của mình

Năm 1981, trong Nghị quyết của Bộ chính trị về chínhsách khoa học và kỹ thuật đã chỉ ra phải: “Nghiên cứu lịch sử tưtưởng triết học của dân tộc và sự thắng lợi của tư tưởng triết họcMác-Lênin ở Việt Nam”1

1 LSTTVN - Tập 1 - Nhà xuất bản KHXH - HN 1993 - Tr 13

Trang 9

Đối tượng nghiên cứu của lịch sử tư tưởng Việt Nam nhưvậy phải bao gồm các vấn đề sau: Tiền triết học, tư tưởng triếthọc, triết học, những tư tưởng chính trị-xã hội gắn bó hữu cơ vớitriết học Tức là những nội dung xoay quanh cái trục triết học vàthể hiện lên các mức độ phát triển của triết học Việt Nam Ngườinghiên cứu phải lựa chọn lấy một trong số đó.

Cần thấy rằng, Việt Nam ở vào giữa Ấn Độ và Trung Quốclà hai nôi triết học của nhân loại, nhất định phải chịu ảnh hưởng

tư tưởng triết học của hai quốc gia đó Mặt khác, lịch sử ViệtNam là một quốc gia văn minh hùng cường chúng ta phải có mộttrình độ lý luận, một tư duy khái quát ngang tầm với mỗi thờiđại Có những nguyên nhân chủ quan và khách quan riêng,nhưng rất tiếc cho đến nay lịch sử chưa đúc kết tư duy lý luậncủa Việt Nam thành những hệ thống triết học

Nhưng phải thấy rằng những lý luận ở mức độ khái quát,những lý luận giữ vai trò thế giới quan chung và phương phápluận cho các lĩnh vực hoạt động tinh thần và hoạt động thực tiễndựng nước và giữ nước đã hình thành và phát triển Những tư duyđó chưa đạt tới trình độ tư duy triết học thực thụ, nhưng đã vượtqua giai đoạn tiền triết học Nó chưa là triết học thuần tuý, nhưngnó đã đề cập đến một số vấn đề của bản thân triết học Ở đó nókhông còn là tư tưởng chung chung nữa mà nó đã là tư tưởngtriết học

Đi vào cụ thể: Việt Nam chưa xuất hiện các khái niệm “vậtchất”, “tinh thần”, tư duy”, “tồn tại”, “biện chứng”, “siêu hình”như phương Tây, nhưng lại có các phạm trù và các vấn đề tươngđương: “trời-người”, “hình-thần”, “tâm-vật”, “hữu-vô”, ‘lý-khí”thuộc về vấn đề cơ bản của triết học; “tĩnh-động”, “thường-biến”,

“pháp cổ (bắt chước cổ)”, “pháp tiên vương (bắt chước vua đờitrước)”, “thuận lẽ trời, thuận lòng người” thuộc về phương pháp

tư duy; có các quan niệm về đường lối trị nước, về trị-loạn, vềthành-bại, về quan hệ vua-dân thuộc về triết học về xã hội; cóquan niệm về bản chất con người, về đạo làm người, về xây dựngcon người, về chuẩn mực đạo đức con người thuộc về triết họcvề con người

Đó cũng chính là đối tượng và phạm vi nghiên cứu củamôn Lịch sử tư tưởng Việt Nam mà không thể nhầm nó với đốitượng và phạm vi nghiên cứu của Chính trị học, Luật học, Vănhọc hay Sử học

2 Đặc điểm nghiên cứu của lịch sử tư tưởng ViệtNam

Cần phải xác định rõ rằng: Tư tưởng triết học Việt Nam dùđược hình thành trên cơ sở bản địa hay được kế thừa từ ngoàivào, tất cả đều trải qua một quá trình vận động và phát triển ở

Trang 10

Việt Nam, đều bị thực tiễn Việt Nam chi phối nên nó có nhữngnét đặc trưng, khác biệt.

- Chủ nghĩa yêu nước là đặc trưng cơ bản nhất của lịch sử

tư tưởng triết học Việt Nam Ở đây không xét chủ nghĩa yêunước trên phương diện tình cảm, tâm trang, tâm lý hay chuẩnmực đạo đức, hiện tượng đạo đức, hành vi đạo đức mà xét chủnghĩa yêu nước trên phương diện lý luận Tức phải xét nó trênphương diện tư tưởng chính trị-xã hội hoặc quan điểm triết họcvề xã hội Chủ nghĩa yêu nước phải được đề cập đến với tư cáchlà một hệ thống những lý luận, những quan điểm về đánh giặcgiữ nước và phát triển đất nước

Lịch sử thế giới cho thấy có nhiều dân tộc có chủ nghĩa yêunước của mình, nhưng ít thấy có dân tộc nào khác có chủ nghĩayêu nước như dân tộc Việt Nam được xét đến ở tất cả các phươngdiện: ý thức trách nhiệm về nòi giống, về cộng đồng, về dân tộc;những nhận thức về con đường, biện pháp đấu tranh giải phóngdân tộc, về động lực và khả năng dành lại lãnh thổ và xây dựngđất nước, về quan hệ giữa dân tộc và dân tộc

- Về kết cấu của tư tưởng, thế giới quan của triết học ViệtNam là thế giới quan phức hợp, là một thể kết hợp của Nho-Phật-Lão

- Về khuynh hướng của tư duy, thế giới quan triết học ViệtNam nặng về vấn đề xã hội và nhân sinh, mà ít quan tâm đếnvấn đề tự nhiên và các hình thức tư duy của con người

Nó chú trọng xây dựng lý lẽ cho chính trị-xã hội và luân lý,mà ít bàn đến quan hệ khách thể và chủ thể giữa các thành phầncủa tư tưỏng để hình thành nhận thức luận và lôgíc học

Nó thiên về giáo dục đạo làm người hơn là cung cấp chocon người những nhận thức mới về thế giới khách quan bênngoài cũng như thế giới nội tâm

Nó thường xuất phát từ những định đề có sẵn hơn là từ sựphát triển của thực tế khách quan để khái quát lên thành cácnguyên lý khác trước làm cơ sở cho luận chứng

Tương ứng với “phương thức sản xuất kiểu châu Á” củaViệt Nam là thế giới quan phong kiến ấy Thế giới quan này làphản ánh của thực trạng phương thức sản xuất làm cho côngthương nghiệp không phát triển, khoa học tự nhiên không xuấthiện, tầng lớp trí thức tự do không thể ra đời của lịch sử phongkiến Việt Nam

- Về quá trình phát triển, thế giới quan triết học Việt Namtrong phạm trù của chủ nghĩa phong kiến tuy có phát triểnnhưng trong trạng thái khủng hoảng kéo dài: Lúc đầu là những ýniệm thô sơ chất phác của con người bản địa về thế giới quan vànhân sinh quan, về sau là sự du nhập từ ngoài vào như Nho, Phật,

Trang 11

Lão và sau cùng là sự trưởng thành của chế độ phong kiến ViệtNam

Thế giới quan này ban đầu đáp ứng được yêu cầu của côngcuộc dựng nước và giữ nước của Việt Nam Nhưng chẳng bao lâunó trở nên lúng túng trước những thay đổi của các vấn đề kinhtế-xã hội và chính trị-xã hội của đất nước từ thế kỷ XVI trở đi

Sự bế tắc cuả thế giới quan biểu hiện trong việc đặt lại vấnđề theo đạo này hay theo đạo kia, hay kết hợp cả ba đạo để trịnước, sự phục hồi khắc nghiệt của Nho giáo ở triều Nguyễn v.v.Sự bế tắc đó cũng thể hiện trong thái độ của nhân dân đối với hệ

tư tưởng thống trị của xã hội (sự đả kích châm biếm của nhândân đối với một số giáo điều của Nho giáo hoặc Phật giáo)

Mãi cuối thế kỷ XIX, Việt Nam mới có Nguyễn Trường Tộ

do được tiếp xúc với thế giới quan tư bản chủ nghĩa, nên trongcác điều trần của mình đã lên tiếng phê phán thế giới quan phongkiến

Rồi đầu thế kỷ XX, với phong trào Đông kinh nghĩa thục ởHà Nội ta mới có sự phê phán truyền thống tư tưởng cũ với mứcđộ tập trung và sâu sắc hơn, nhưng vẫn chưa phá vỡ được tưtưởng phong kiến bảo thủ, trì trệ

Mãi đến khi giai cấp công nhân Việt Nam trở thành ngườiđại diện cho đất nước và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, thì thếgiới quan phong kiến mới bị loại trừ, thế giới quan mới khoa họcvà cách mạng mới được xây dựng và phát triển ở Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu của lịch sử tư tưởngViệt Nam

- Phương pháp nghiên cứu xuyên suốt là phép biện chứng duyvật Bởi phép biện chứng duy vật là phương pháp luận khoa họcnhất, nó có nhiều khả năng giải quyết một cách hợp lý nhấtnhững vấn đề do bộ môn lịch sử triết học đặt ra Chỉ trên cơ sởcủa chủ nghĩa duy vật biện chứng thì mới có điều kiện làm sángtỏ các vấn đề: hiện tượng tư tưởng, trào lưu tư tưởng, cá nhân nhà

tư tưởng, mới có khả năng giải thích tốt các mối quan hệ: Tưduy và tồn tại, lôgíc và lịch sử, cá nhân và xã hội, kế thừa vàsáng tạo, cái bản địa và cái ngoại lai, mới có triển vọng trìnhbày lịch sử tư tưởng như một quá trình phát triển hợp quy luật.Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã giúp các nhà khoa học tạonên mô hình, những dạng thức mẫu mực cho việc nghiên cứulịch sử triết học châu Âu Nhưng nếu áp dụng nguyên xi nó vàonghiên cứu lịch sử triết học phương Đông và đặc biệt là lịch sử tưtưởng Việt Nam thì lại là một việc làm gượng ép, thậm chí làmột việc làm sai lầm làm nghèo nàn tư tưởng dân tộc

Mô hình và dạng thức nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Namphải là nghiên cứu các vấn đề về triết học xã hội, về đường lối trị

Trang 12

nước, về đạo làm người, mà không nên trình bày lịch sử tưtưởng Việt Nam cũng theo các vấn đề bản thể luận, nhận thứcluận, cũng tập trung vào các trường phái duy vật, duy tâm, kinhnghiệm, v.v.

- Tam giáo là một trong những nguồn gốc của tư tưởng triếthọc Việt Nam Nhưng không thể vì lịch sử tư tưởng Việt Nam

“lấy gốc từ tam giáo”, “vận dụng tam giáo”, mà lại đi trình bàylịch sử tư tưởng dân tộc như là lịch sử phát triển của tam giáo.Phạm trù triết học Việt Nam tuy chưa phát triển đầy đủ, chưahoàn chỉnh, chưa trở thành một hệ thống vững chắc nhưng nó rấtquan trọng Vi vậy, trong những trường hợp có thể cần tập trungtrình bày những khái niệm triết học hoặc có tính triết học tronglịch sử tư tưởng dân tộc Những khái niệm trời-người, tâm-vật,trị-loạn, nhân nghĩa, phải có vai trò nổi bật

Trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam khi gặp nhữngkhái niệm, phạm trù cùng loại hoặc có nguồn gốc xa xưa từ cáckhái niệm, phạm trù của lịch sử triết học Trung Quốc hay ẤnĐộ, thì phải so sánh để thấy được sự khác biệt, sự phát triển sovới gốc của nó, so với người bạn đồng tông của nó ở các hệthống kia

Tuy nhiên, không thể lúc nào cũng truy về nguồn, cũng sosánh Phương pháp quan trọng trong nghiên cứu không phải là sosánh mà là phân tích Phải phân tích mới thấy được ý nghĩa củacác khái niệm ấy và giá trị của những nội dung ấy F.Enghenviết: “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thờiđại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi đến mứcchúng thường trái ngược hẳn nhau.”2

Là một môn khoa học, lịch sử tư tưởng Việt Nam chỉ có thểnêu lên một yêu cầu quán xuyến là trình bày sự phát triển của tưtưởng phù hợp với quy luật, quy luật tác động qua lại giữa tồn tạivà ý thức, quy luật phát triển của tự bản thân tư tưởng Nếu quảlà có một dòng tư tưởng chủ đạo thì nó phải là kết quả trải quanghiên cứu chứ không là định đề có sẵn

- Cuộc đấu tranh trong lịch sử tư tưởng Việt Nam xung quanhvấn đề cơ bản của triết học là không trực diện, không rõ Nhưngnếu muốn tránh sự trình bày một chiều, đơn điệu, không phù hợpvới thực tế và phải làm rõ những giá trị tư tưởng của lịch sử tưtưởng Việt Nam thì phải trình bày và phân tích nó thông qua cácmặt đối lập và thấy rằng: Các quan điểm khách quan, duy vậtbiện chứng, vô thần, dân chủ và độc lập thường là tiếng nói củacác lực lượng tích cực trong lịch sử, còn các quan điểm chủ quan,duy tâm, siêu hình, hữu thần, chuyên chế và lệ thuộc thường làtiếng nói của các lực lượng tiêu cực trong lịch sử

2 C.Mác - Ăngghen - Tuyển tập - Tập V - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1983 - Tr 134 S đ d trang 28

Trang 13

- Phân kỳ là một vấn đề quan trọng có ý nghĩa phương phápluận trong to lớn trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam.Đây cũng chính là vấn đề hiện đang được các nhà tư tưởng quantâm và có nhiều ý kiến khác nhau Ta có thể phân kỳ lịch sử theocác triều đại, các thế kỷ, các sự kiện chính trị-xã hội, các hìnhthái kinh tế-xã hội, nhưng hợp lý hơn cả là phân kỳ theo hìnhthái kinh tế-xã hội

Nhưng lịch sử Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám 1945không xuất hiện các cuộc cách mạng xã hội, chính vậy mà việcphân kỳ lịch sử Việt Nam cần phải kết hợp các mốc là hình tháikinh tế-xã hội với các mốc là sự kiện chính trị-xã hội lớn của lịchsử Việt Nam

(PHÂN KỲ LỊCH SỬ VIỆT NAM).

1 Thời kỳ đồ đá cũ: Cách ngày nay khoảng 300.000 năm

2 Thời kỳ đồ đá giữa: Cách ngày nay khoảng 10.000 năm

3 Thời kỳ đồ đá mới: Cách ngày nay khoảng 5.000 năm

4 Thời kỳ Hồng Bàng, Văn Lang: Từ 2879 tcn đến 258tcn Đây là thời kỳ buổi đầu dựng nước

5 Thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc:

Trước đây ta quen gọi là thời kỳ Bắc thuộc Thời kỳ nàykéo dài từ Triệu Đà xâm lược nước ta cho đến thế kỷ X scn Niênbiểu Việt Nam thời kỳ này như sau:

- Nhà Thục (257 tcn - 208 tcn) Tổ quốc Việt Nam thốngnhất từ mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái

- Phong kiến phương Bắc đô hộ Việt Nam (207 tcn - 938scn) Đất nước bị chia cắt Nước Nam Việt chỉ còn lãnh thổ từThanh Hóa trở ra Bắc, được chia thành hai quận Giao Chỉ vàCửu Chân và được sát nhập với tỉnh Quảng Đông Trung Quốcgọi là nước Nam Việt; về sau từ 111 tcn lại sát nhập thành mộtchâu là Giao Châu do nhà Hán thống trị

- Thời kỳ này có các cuộc khởi nghĩa lớn: Hai Bà Trưng(40-43); Bà Triệu (248); Tiền Lý (Lý Bí 544 đến 548) và TriệuViệt Vương (Triệu Quang Phục 549 đến 570), rồi Hậu Lý (571đến 603) nước ta có tên là Vạn Xuân; Mai Hắc Đế (722); PhùngHưng (791)

6 Thời kỳ đấu tranh giữ gìn độc lập dân tộc:

Thời kỳ này tính từ khởi nghĩa của Ngô Quyền cho đến cảicách của Hồ Quý Ly, từ 938 đến1400 Thời kỳ này có niên biểuvà các cuộc khởi nghĩa lớn sau đây:

- Nước Đại Việt với Nhà Ngô 939 đến 967 (Có loạn 12 sứquân 966-968);

- Nước Đại Cồ Việt với Nhà Đinh (Đinh Tiên Hoàng) 968đến 980, Tiền Lê (Lê Hoàn) 980 đến 1009;

Trang 14

- Nước Đại Việt với Nhà Lý (Lý Công Uẩn) 1010 đến 1225có chín đời vua: Lý Thái Tổ (1010-1028), Lý Thái Tông (1028-1054), Lý Thánh Tông (1054-1072), Lý Nhân Tông (1072-1128)có Lý Thường Kiệt đánh tan quân Tống và dẹp loạn Chân Lạp -Chiêm Thành thu hồi lại vùng đất từ Thanh Hóa đến đèo ngangQuảng Bình, Lý Thần Tông (1128-1138) thu hồi lại đất Nghệ

An, Lý Anh Tông (1138-1175), Lý Cao Tông (1176-1210), LýHuệ Tông (1211-1224), Lý Chiêu Hoàng (1224-1225);

- Nước Đại Việt với Nhà Trần (Trần Cảnh) 1225 đến 1400,

ba lần đánh tan quân Nguyên Mông, có 13 vua: Trần Thái Tông(1225-1258), Trần Thánh Tông (1258-1278), Trần Nhân Tông(1279-1293), gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân và thuhồi lại vùng đất của Tổ quốc từ Quảng Bình đến Duy XuyênQuảng Nam, Trần Anh Tông (1293-1314), Trần Minh Tông(1314-1329), Trần Hiến Tông (1329-1341), Trần Dụ Tông(1341-1369), Trần Nhật Lễ (1369-1370), Trần Nghệ Tông(1370-1372), Trần Duệ Tông (1373-1377), Trần Phế Đế (1377-1388), Trần Thuận Tông (1388-1398), Trần Thiếu Đế (1398-1400)

7 Thời kỳ ổn định và thịnh trị của xã hội phongkiến thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVI:

Thời kỳ này tính từ cải cách của Hồ Quý Ly (1400-1407)cho đến Lê Túc Tông (1504):

- Nước Đại Ngu với Nhà Hồ 1400 đến 1427 có bốn vua:Quý Ly (1400-1401), Hán Thương (1401-1407), Hậu Trần cóGiản Định (1407-1409) và Quý Khoáng (1409-1413) Giặc Minhxâm lược nước ta từ 1413 đến 1427 thì từ 1418 đến 1427 là khởinghĩa của Bình Định Vương Lê Lợi

- Nước Đại Việt với Nhà Lê (Tiền Lê Sơ) 1428-1504 có 8vua: Lê Thái Tổ (1428-1433), Lê Thái Tông (1434-1442), LêNhân Tông (1443-1459), Lê Nghi Dân (1459), Lê Thánh Tông(1460-1497), dẹp loạn Chiêm Thành thu hồi lại lãnh thổ ViệtNam từ Duy Xuyên Quảng Nam đến Đồng Xuân Phú Yên vàxác lập chủ quyền của người Việt ở Đàng Trong, Lê Hiến Tông(1498-1504), Lê Túc Tông (1504)

8 Thời kỳ khủng hoảng và chia cắt của xã hộiphong kiến (Thế kỷ XVI - Thế kỷ XVII):

Thời kỳ này được tính từ Hậu Lê Sơ (Lê Uy Mục 1509) đến Trịnh-Nguyễn phân tranh chia nước ta thành ĐàngTrong, Đàng Ngoài (1624)

1505 Nước Đại Việt, nhà Hậu Lê Sơ với 4 vua: Lê Uy Mục(1505-1509), Lê Tương Dực (1510-1516), Lê Chiêu Tông (1516-1522), Hoàng Đệ Xuân (1523-1527) Chế độ phong kiến Lê Sơ

đi vào khủng hoảng

Trang 15

- Nhà Mạc 1527-1595, Mạc Đặng Dung cướp ngôi Nhà Lêlập nên Nhà Mạc với hai vua Mạc Đặng Dung (1527-1529), MạcĐặng Doanh (1530-1540), sau đó con cháu lên Cao Bằng nối dõiđến 1595.

- Thời Lê Trung Hưng (Lê-Trịnh) 1533-1624 với 5 vua: LêTrang Tông (1533-1548), Lê Trung Tông (1549-1556), Lê AnhTông (1557-1573), Trịnh-Nguyễn bắt đầu phân tranh từ 1558, LêThế Tông (1573-1599), Lê Kinh Tông (1600-1619), Lê ThầnTông (lần thứ nhất 1619-1643) nước ta bị phân chia thành ĐàngTrong và Đàng Ngoài và không liên hệ nhau

Trịnh-Nguyễn dùng lũy Trường Dục làm biên giới vào năm

1624 Ở Đàng Ngoài các chúa Trịnh tiếm quyền vua Lê Ở ĐàngTrong giai đoạn này có 2 chúa: Nguyễn Hoàng (1558-1612),Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1634) chúa thu hồi lãnh thổ ViệtNam từ Phú Yên đến Đồng Nai

9 Thời kỳ chiến tranh nông dân và sự sụp đổ củacác chính quyền Đàng Trong, Đàng Ngoài

Thời kỳ này tính từ 1624 đến hết thời Tây Sơn 1802, nước

ta bị chia cắt thành gần như hai quốc gia Khi vua Quang Trungđại phá quân Thanh nước ta cũng mới chỉ thống nhất được từ Bắcvào đến Bình Định Từ Bình Định trở vào Nam chịu sự chianhau cai quản của Nguyễn Nhạc và chúa Phúc Thuần:

- Thời Lê Trung Hưng (Lê-Trịnh) 1624 đến 1788 còn gọilà thời Lê Mạt, tên nước là Đại Việt:

+ Ở Đàng Ngoài có 11 vua: Lê Chân Tông (1643-1649),

Lê Thần Tông (lần sau 1649-1662), Lê Huyền Tông 1671), Lê Gia Tông (1672-1675), Lê Hy Tông (1676-1705), LêDụ Tông (1705-1729), Hôn Đức Công (1729-1732), Lê ThuầnTông (1732-1735), Lê Ý Tông (1735-1740), Lê Hiền Tông(1740-1786) và vị vua bán nước, rước voi về dày mả tổ Lê ChiêuThống (1787-1788)

(1663-+ Ở Đàng Trong các chúa Nguyễn đặt tên nước ta là ViệtNam, sau đó đổi lại là Đại Nam, có 7 chúa: Nguyễn Phúc Lan(1635-1648), Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), Nguyễn Phúc Trăn(1687-1691), Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), Nguyễn Phúc Trú(1725-1738) chúa thu hồi lãnh thổ Việt Nam từ Đồng Nai đếnCà Mau, Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), Nguyễn Phúc Thuần(1765-1775)

- Nhà Tây Sơn 1778-1802 với ba vua Thái Đức (NguyễnNhạc 1778-1793), Quang Trung (Nguyễn Huệ 1778-1792), CảnhThịnh (Nguyễn Quang Toản 1793-1802)

10 Thời kỳ chế độ phong kiến trung ương tậpquyền Nhà Nguyễn:

Trang 16

Đây là thời kỳ triều đình Nhà Nguyễn với đất nước thốngnhất từ mũi Cà Mau đến địa đầu Móng cái

Từ 1858 nước ta bị thực dân Pháp xâm lược

- Nước Việt Nam với Triều đình Nhà Nguyễn 1802-1945có 13 vua: Gia Long (1802-1819), Minh Mạng (1820-1840),Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1848-1883), Dục Đức (ba ngày1883), Hiệp Hòa (bốn tháng 1883), Kiến Phúc (1883-1884),Hàm Nghi (1885), Đồng Khánh (1886-1888), Thành Thái (1889-1907), Duy Tân (1907-1916), Khải Định (1916-1925), Bảo Đại(1926- 1945)3 Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858 và đã xóa tênnước ta trên bản đồ thế giới

11 Thời kỳ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 Dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà đứng đầu là các đồng chíNguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ,Nguyễn Đức Cảnh, Hà Huy Tập, Trường Chinh, nhân dân ViệtNam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và khai sinh nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945

Việt Nam đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, hoànthành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất độc lập đấtnước ngày 30 tháng 4 năm 1975 và đổi tên nước thành nướcCộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đưa cả nước tiến lên theocon đường xã hội chủ nghĩa từ tháng 12 năm 1976

- Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 1945-1976 với hai vịchủ tịch nước là chủ tịch Hồ Chí Minh (1945-1969), chủ tịchTôn Đức Thắng (1970-1976) Có hai tổng bí thư Đảng Cộng sảnlà đồng chí Trường Chinh và đồng chí Lê Duẩn Việt Nam liêntiếp đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ

- Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1976 đến nayvới sáu vị chủ tịch nước là chủ tịch Tôn Đức Thắng (1976-1980),chủ tịch Trường Chinh (1981-1986), chủ tịch Võ Chí Công(1987-1992), chủ tịch Lê Đức Anh (1992-1997), chủ tịch TrầnĐức Lương (1997-2006), Chủ tịch Nguyễn Minh Triết (2006-nay) Sáu Tổng bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ nàylà đồng chí Lê Duẩn (1976-1986), đồng chí Trường Chinh(1986), đồng chí Nguyễn Văn Linh (1986-1991), đồng chí ĐỗMười (1991-1998), đồng chí Lê Khả Phiêu (1998-2001), đồngchí Nông Đức Mạnh (2001-nay)

BÀI 3: NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA

TƯ TƯỞNG VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ.

1 Thời tiền sử và sơ sử:

3 Các số liệu trên thống kê theo “Đất nước ta” - Hoàng Đạo Thúy - Nxb KHXH - Hà Nội 1989 và “Kể chuyện vua quan Nhà Nguyễn” của Phạm Khắc Hòe - 1990.

Trang 17

Dấu hiệu người nguyên thủy có nhiều ở núi Đọ, núi Nuôngthuộc Quảng Yên, Thanh Hóa Văn hóa người nguyên thủy còngọi là văn hóa Hòa Bình, hiện chúng ta đã tìm được hơn 120 vănhóa Sơn vĩ ngoài trời và trong hang động, tập trung nhiều nhất ởLai Châu, Hòa Bình (119 di tích) còn lại là rải rác ở Thanh Hóa,Bình-Trị-Thiên

Nền văn hóa này kéo dài cách ngày nay khoảng từ 12.000 năm

7.000-Cuối thời đồ đá mới cách đây trên 5.000 năm, con người đãsống khắp trên lãnh thổ Việt Nam Văn hóa khá đơn giản, mớichỉ là sự hình thành loại nông lịch sơ khai Người Việt cổ đại rấttin ở thế giới bên kia với một thế giới bên kia cũng là thế giớinông nghiệp Người Việt cổ đại tôn thờ các sức mạnh tự nhiênnhư mưa, gió, nắng Mưa, gió, mặt trời là các vị thần quan trọngnhất trong đời sống tinh thần người Việt cổ đại

2 Thời kỳ buổi đầu dựng nước:

Thời kỳ này cách đây từ hơn 2.000 năm đến 5.000 năm, gọilà văn hóa Đông Sơn

Từ 2879 tcn đến 258 tcn là thời kỳ hình thành cốt lõi đầutiên của dân tộc

Từ 257 tcn - 208 tcn, Việt Nam đã là một quốc gia thốngnhất bền vững Lúc này các bộ lạc quy tụ thành quốc gia Vănhóa làng được hình thành Văn hóa lúa nước, thủy lợi là nét tiêubiểu của văn hóa dân tộc: Chuyện đẻ trăm trứng, Chuyện đẻ đấtđẻ nước, Chuyện chặt cây Chu Đồng, Chuyện ông Gióng, SơnTinh Thủy Tinh, Thạch Sanh Lý Thông

Giai đoạn này đồ sắt đã xuất hiện Tín ngưỡng có sự ảnhhưởng lớn của tín ngưỡng Trung Quốc: Số luận, Âm-Dương,Ngũ hành (thời Nhà Thục 257 tcn-208 tcn, An Dương Vương vớichiếc nỏ thần)

Giai đoạn này nước Văn Lang bước vào thế kỷ III tcn vớinhững triều đại cuối cùng của Hùng Vương Thục Phán đánh đổtriều Hùng dựng nên nước Âu Lạc, tự xưng là An Dương Vương,dời đô từ miền Lâm Thao, Bạch Hạc Vĩnh Phú về Cổ Loa - HàNội

Nước Âu Lạc ra đời là sự kế tục và phát triển trên một mứcđộ cao hơn quốc gia Việt Nam đầu tiên - nước Văn Lang - trên

cơ sở ý thức dân tộc đã được nâng cao

Đất Việt phương Nam thời đó chống xâm lựơc là một nhucầu cấp bách, sự tồn tại riêng lẻ của hai bộ tộc Văn Lang và LạcViệt là không đủ sức ứng phó với kẻ thù

Nước Âu Lạc bao gồm chủ yếu miền Bắc bộ và Bắc Trungbộ ngày nay, đã nhiều lần đẩy lui sự xâm lược của nhà Tần và

Trang 18

những cuộc xâm lược đầu tiên của Triệu Đà, đã nói lên ý thứcdân tộc, ý thức tự chủ đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam

Xã hội Âu Lạc cũng như xã hội Văn Lang đều là xã hộivăn minh nông nghiệp tính chất công xã nông thôn còn khámạnh

Đây cũng là thời kỳ cục diện phương Bắc đang chuyểnbiến Thời Chiến Quốc (481-221 tcn) chấm dứt, nhà Tần đãthống nhất Trung Quốc với tư tưởng “bình thiên hạ”, chủ nghĩabành trướng bắt đầu đẩy mạnh và phát quân xâm lược về phươngNam

3 Thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc:

Đây là thời kỳ ta quen gọi là thời kỳ Bắc thuộc 207 tcn

-938 scn

Năm 207 tcn, Triệu Đà cướp ngôi An Dương Vương đổinước Âu Lạc thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân thuộc nướcNam Việt (Bao gồm Quảng Đông, Quảng Tây và nam QuảngChâu - Trung Quốc ngày nay)

Năm 111 tcn, Nhà Hán xâm lược Nam Việt lại đổi Âu Lạcthành châu Giao Châu kéo dài đến 938 scn Giai đoạn này có rấtnhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta chống lại sự thống trị củagiặc phương Bắc Tư tưởng người Việt có các điểm cơ bản nổibật như sau:

- Là một cộng đồng người Việt có chủ quyền;

- Tôn kính, biết ơn tổ tiên; Tôn kính và tuân thủ các thủlĩnh; Coi trọng vai trò của phụ nữ trong xã hội;

- Cuộc đấu tranh chống Hán hóa diễn ra khá gay gắt

- Tuy nhiên có thể thấy một số nét riêng biệt khác của quátrình Hán hoá đối với Việt Nam lúc ấy như sau: ở thế kỷ I tưtưởng Phật giáo nổi lên hàng đầu, từ thế kỷ III đến thế kỷ X là sựảnh hưởng ngày càng rộng, càng sâu của Nho giáo trong đờisống xã hội Việt Nam Trong đó, từ thế kỷ III đến thế kỷ VI làHán Nho, VI-X là Tống Nho với thế tam giáo Nho-Phật-Lão, màchủ yếu vẫn là Nho và Phật giữ địa vị tư tưởng độc tôn trong tưtưởng dân tộc Việt

Năm 179 tcn, Triệu Đà xâm lược Âu Lạc chia Âu Lạcthành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân thuộc Nước Nam Việt.Năm 111 tcn nhà Hán xâm lược Nam Việt lại đổi Âu Lạc thànhchâu Giao Chỉ có quan đứng đầu là thứ sử và dưới được chiathành bảy quận có quan đứng đầu là thái thú Âu Lạc từ mộtnước tự do độc lập trở thành nước phụ thuộc và nô lệ của cácchâu quận đế quốc nhà Hán Thời kỳ này kéo dài 1117 năm Đâylà thời kỳ đầy máu và nước mắt, nhưng cũng là thời kỳ biểu hiệnsức quật khởi cũng như sự vươn lên kỳ diệu của dân tộc ViệtNam

Trang 19

+ Mâu thuẫn cơ bản của dân tộc Việt Nam lúc này là: Mộtbên là nhân dân Việt Nam yêu nước căm thù giặc; Một bên là đếquốc Hán với bè lũ tay sai Mâu thuẫn này diễn biến khi thì hoàhoãn, khi thì xuất hiện cục diện bình ổn tạm thời hình như mộtbên của mâu thuẫn mất đi và bên kia thắng thế lấn lướt nhưngđiều kiện để giải quyết mâu thuẫn vẫn chưa đủ Đây cũng là mâuthuẫn giữa một nước nhỏ tuy giàu lòng yêu nước và chí căm thùgiặc nhưng cư dân ít hơn không dễ gì có thể nhanh chóng tạođược sự chuyển hoá để có thể thắng được một nước lớn hơn vớisố dân và đất đai của họ gấp nhiều lần Việt Nam (Cho dù có lúchọ bị chia đôi chia ba lực lượng có kém sút đi: Tam quốc 220-280; Nam Bắc triều 420-589)

+ Mâu thuẫn này một mặt loại trừ nguồn gốc và động lựccủa xã hội Văn Lang-Âu Lạc cũ, mặt khác làm nảy sinh nguồngốc và động lực mới Một mặt nó chắn ngang hướng phát triểnlịch sử của xã hội cũ, mặt khác nó quy định những chiều hướngphát triển mới của xã hội mới Động lực phát triển của đất nướcbây giờ không chỉ là nội bộ trong nước mà chủ yếu còn do nhữngngười yêu nước bên trong và cả những kẻ thống trị bên ngoài.Chính ý thức, ý chí, hành động vì lợi ích khác nhau của họ lànguồn gốc, động lực quy định hướng thay đổi của xã hội ViệtNam

+ Nét khác biệt so với giai đoạn trước cũng như với cácgiai đoạn sau là trên đất Việt Nam cổ đã đồng thời diễn ra haiquá trình vận động trái ngược nhau Hán Hoá và chống Hán hoá

Để thỏa mãn chí “trị quốc bình thiên hạ” người Hán thưòngnêu cao khẩu hiệu “Dĩ Hoa biến Di” Các quốc gia xung quanhđế quốc Hán đều bị chúng gọi bằng cái tên khinh miệt là “TứDi”

Thật ra khẩu hiệu trên chỉ là chiêu bài dùng để che đậynhững nguyên nhân thực sự bên trong là nhằm mục đích vơ vét,bóc lột của người Hán Nếu chủ nghĩa tư bản tìm kiếm thuộc địanhằm có thị trường khai thác nguyên liệu, tiêu thụ hàng hoá vàbóc lột sức lao động rẻ mạt, thì đế quốc phong kiến nhà Hán xâmlược các nước khác lại nhằm thoả mãn sinh hoạt xa hoa cuả họbằng việc bắt thuộc địa cống nạp Cứ vài năm, thậm chí mỗi nămmột lần đoàn cống sứ của Giao Chỉ phải dùng đến hàng trămngựa để thồ hương liệu quý, vải mịn, hạt minh châu, vẩy đồimồi, ngọc lưu ly, lông chim chả, sừng tê giác, ngà voi, hoa thơmcỏ la, có khi cả người tài để cống nộp cho giặc phương Bắc

Cuộc Hán hoá đầu tiên diễn ra trên lĩnh vực chính trị-xãhội Chúng có ý thức di thực mô hình tổ chức chính trị và sinhhoạt xã hội Trung Quốc sang Việt Nam Chúng bắt dân ViệtNam học tập, ăn mặc, tổ chức đời sống xã hội như người Hán;

Trang 20

Làm ruộng, canh tác theo kỹ thuật người Hán; Di dời cả dân Hánxuống định cư để dễ bề nhiễm hoá người Việt

Trên lĩnh vực tư tưỏng là sự truyền bá các học thuyết Nho,Phật, Lão vào Việt Nam:

Nho học (còn gọi là Tiên nho hay Nho nguyên thuỷ) doKhổng Tử (551-479 tcn) sáng lập, Mạnh Tử (372-289 tcn) pháttriển theo hướng duy tâm, Tuân tử (325-238 tcn) phát triển theohướng duy vật, nói chung là chưa thần bí hoá và khắc nghiệt nóphù hợp với xã hội phong kiến phân quyền Xuân Thu-ChiếnQuốc của Trung Quốc

Hán Nho do Đổng Trọng Thư (thế kỷ thứ II tcn) phát triểntheo chiều hướng duy tâm thần bí và gia tăng tính đẳng cấpnghiệt ngã, là tiêu biểu cho tư tưởng của chế độ phong kiến trungương tập quyền chuyên chế nhà Hán

Huyền học dưới thời Nguỵ-Tấn, Nam-Bắc triều (tk III - tkVI) là sự kết hợp giữa Nho giáo với Lão-Trang

Tống Nho (còn gọi là Lý học) với hai phạm trù cơ bản lývà khí là sự kết hợp giữa Nho giáo với Phật giáo với các triết giatiêu biểu là Chu Đôn Di (1017-1073), Trình Hạo (1032-1085),Trình Di (1033-1107), mà tiêu biểu nhất là Chu Hy (1130-1200)

Minh Nho (còn gọi là Tâm học) là sự phát triển của Nhogiáo thêm duy tâm với nhà tư tưởng tiêu biểu là Vương ThủNhân (Vương Dương Minh 1472-1528)

Tuy có khác nhau ở mỗi thời kỳ, nhưng Nho giáo có cáichung là nó không phải là một tôn giáo, nó cũng không là mộttriết thuyết triết học, mà chỉ là một học thuyết về chính trị-đạođức-xã hội của giai cấp phong kiến

Chủ trương của Nho giáo là dùng Đức trị, Nhân trị để quảnlý xã hội Nho giáo nêu lên một xã hội lý tưởng: “xã hội đạiđồng”, “vua thánh tôi hiền”, “mọi cái đều của chung”, ”mọingười đều có quyền lợi”, “người người đều có sản nghiệp”,

“người người yêu thương nhau như anh em”, “xã hội hoà mục”,

“người người đều được chăm sóc”

Trên thực tế lý tưởng nhân đạo của Nho giáo là lý tưởngkhông tưởng, mà bản chất của Nho giáo chỉ là: Xây dựng ý thứctôn ty trật tự, trong xã hội dưới tuyệt đối phục tùng trên Về triếthọc, Nho giáo là một học thuyết duy tâm khách quan với cácquan niệm về Trời, Quỷ thần, Mệnh)

Tư tưởng này ban đầu không phù hợp với xã hội vừa thoátthai từ Văn Lang-Âu Lạc với chế độ lạc hầu, lạc tướng của ViệtNam Nhân dân Việt Nam khi đó không cần đến Nho giáo, màNho giáo vào Việt Nam là do bọn thống trị Trung Quốc áp đặt.Về sau Nho giáo mới là một yêu cầu tất yếu, một tư tưởng cầnphải tiếp thụ của xã hội nửa thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam

Trang 21

cuối thời kỳ này Nho giáo trong thời kỳ này là chưa mạnh,nhưng nó là tư tưởng định hướng cho sự phát triển của xã hộiViệt Nam từ cuối thế kỷ X trở đi.

Nho giáo đến Việt Nam từ thế kỷ I scn Mục đích của Nhogiáo là đào tạo người làm việc cho chính quyền Hán, trước là chocon em Hán thống trị tại Việt Nam, sau là cho con em Hán chạyloạn sang Giao Châu, nhưng cũng có người Việt theo học

Thời này đã có các trung tâm Hán học tại Luy Lâu, LongBiên, Tư Phố, Cư Phong

Thời Hán Minh Đế (68-75) đã có nhà Hán học người Việtnổi tiếng là Trương Trọng từng làm thái thú tại quận Kim ThànhTrung Quốc;

Ở thế kỷ II có Lý Tiến là một nhà Nho học từng làm tháithú quận Linh Lăng trung Quốc và 184-189 làm thứ sử GiaoChâu

Ở thế kỷ III có Lý Cầm và Bốc Long từng làm quan ởTrung Nguyên

Ở thế kỷ V hai anh em Khương Công Phụ và Khương CôngPhục đều là tiến sỹ và đều làm quan tại Trung Quốc

Có thể nói Giao Châu là mảnh đất tốt cho nhiều nhà NhoTrung Quốc sang nương náu và sáng tác học thuật

Thái độ của nhân dân Việt Nam ta thời ấy với Nho giáo làtừ sự phản ứng đến tiếp thụ, từ xa lạ đến gần gũi, từ là công cụcủa kẻ thù đến công cụ của bản thân mình Hiện tượng này xảy

ra càng rõ ở cuối thời kỳ này

Lão-Trang do Lão Tử (cùng thời với Khổng tử) sáng lập vàTrang Tử (369-286 tcn) phát triển, nó đối lập với Nho giáo trênnhiều lĩnh vực

Lão-Trang chủ trương con người không cần can thiệp vàoxã hội; xã hội không cần can thiệp vào con người mà cứ đểchúng phát triển tự nhiên theo đạo bản nhiên của nó Họ tuyệtđối hoá tính tương đối bởi quy luật cân đối và phản phục của vạnvật

Đạo này vào Việt Nam thời kỳ này (207 tcn - 938 scn) chủyếu lưu hành trong người Hán thất thế trên con đường chính trị,

bị ngược đãi đã tìm đến Lão-Trang để tự an ủi mình Nó chỉ làdấu vết của khuynh hướng tự do-tự tại, thể hiện trong các nhàNho kiêm nhà thơ Việt Nam chịu ảnh hưởng của Nam Hoa kinh.Cuối thời kỳ này, khi thiền tông Trung Quốc truyền sang ViệtNam thì Lão-Trang mới ảnh hưởng rõ rệt đến các nhà tu hànhViệt Nam

Đạo giáo là tôn giáo của Trung Quốc không liên quan đếnLão-Trang mà dựa một cách hình thức vào Đạo của Lão Tử vàthờ Hoàng Đế Lão Tử (thần thánh hoá Lão Tử) Đạo này ảnh

Trang 22

hưởng rõ rệt ở Việt Nam trong giai đoạn này Nó gồm hai phái:phái phù thuỷ (chữa bệnh), phái thần tiên (luyện đan) Đạo nàyđược nhiều người Việt Nam tin theo do nó phù hợp với tínngưỡng dân gian Việt Nam, và nó bổ sung tín điều cho tínngưỡng dân gian Việt Nam chưa có.

Đạo Phật (Buddaha) có nguồn gốc từ Ấn Độ cổ đại, ngườisáng lập là Siddharatha Gauxtama (563-483 tcn), truyền đếnTrung Quốc khoảng thế kỷ thứ I qua con đường “tơ lụa” xuyênTrung Á Dòng truyền ở Trung Quốc là Đại Thừa Các tông pháiđược người Trung Quốc ít nhiều gia công xây dựng là Pháptướng tông (Duy thức), Thiên thai tông, Hoa nghiêm tông và đặcbiệt là Thiền tông Có thể nói Thiền tông là sản phẩm riêng củaPhật giáo tại Trung Quốc

Cùng với quá trình Hán hoá các phái thiền của Trung Quốctuy đến Việt Nam muộn hơn Phật giáo Ấn Độ, nhưng đã để lạidấu ấn sâu sắc hơn trong đời sống tinh thần người Việt Thời kỳnày Việt Nam đã tiếp thu hai môn phái thiền của Trung Quốc làTỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông

4 Thời kỳ đấu tranh giữ gìn độc lập dân tộc:Thời kỳ này tính từ 938-1400 với các triều đại Ngô, Đinh,Tiền Lê, Lý, Trần với nhiều chiến công hiển hách thắng Hán,Tống, Nguyên Mông

Các nhà tư tưởng tiêu biểu trong giai đoạn này là LýThường Kiệt và Trần Quốc Tuấn Các nhà tư tưởng chịu ảnhhưởng chủ yếu tư tưởng Phật giáo ngoài các cao tăng KhuôngViệt, Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Đa Bảo, Viên Thông, là LýThánh Tông, Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sỹ

- Tư tưởng của các thiền sư và tín đồ Phật giáo:

+ Các thiền sư giai đoạn này đã dùng “vô thường”, “vôngã” để xem thế giới hiện tượng là cái thường xuyên biến đổi,mọi sự vật, hiện tượng không chỉ là tạm thời mà trong dòng biếnđổi chúng còn liên hệ với nhau theo nhân quả, duyên nghiệp.Trong đời sống xã hội hiểu được lẽ “vô thường”, “vô ngã” thì sẽbình tâm, không dao động hay đau khổ khi thấy sự vật biến đổi

Thiền sư Vạn Hạnh quan niệm:

“Thân như bóng chớp có rồi không

Cây cối xuân tươi thu não nùng

Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi

Kia kìa ngọn cỏ giọt sương đông”4 Trần Thái Tông có quan niệm:

4 Nguyễn Tài Thư (Chủ biên) - Lịch sử tư tưởng Việt Nam - Tập 1 - Nhà xuất bản khoa học xã hội - Hà Nội 1993 - Tr 202.

Trang 23

“Quang cảnh trăm năm toàn ở sát na, thân tứ đại há đượctrường cửu”5

Còn Tuệ Trung Thượng Sỹ lại quan niệm:

“Ví như bỏ được nhị kiến, pháp giới thảy bao dung”

hoặc “Đào đỏ trên cây thời tiết đúng, Cúc vàng bên dậuchắc gì xuân”6

+ Các vị chân tu thời Lý - Trần cũng nhìn ra những giá trịvĩnh hằng bất di bất dịch là cái bản thể duy nhất có một khônghai của của tất cả vạn vật chính là tự tính, chân tâm Nó là viênngọc sáng mãi, là bông sen không hề rã cánh trong lò hỏa:

“Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua sân trước nở cành mai”;

“Ví như ngọc đốt trên núi, màu sắc vẫn đẹp Như hoa sennở trong lò lửa vẫn tươi màu”7

Cái tự tính, chân tâm ấy thể hiện ở muôn vật nhưng khôngđồng nhất với muôn vật: “Xác thân và diệu thể, chẳng hợp chẳnglìa xa Nếu người muốn phân biệt, trong lò một cành hoa” Tựtính, chân tâm ấy được gọi là không, là vô vi, là pháp tính hay làNhư Lai

Cái tự tính, chân tâm ấy ơÍ con người là bản tâm, chân tâmPhật tính Bản tâm là Phật, Phật tại tâm: “Ở đời này làm thânngười, Tâm là kho tàng của Như Lai Soi sáng khắp nơi nơi,Càng tìm càng thấy rộng”, “Lẽ huyền diệu ấy mà am hiểu, chẳngkhác trời xanh rạng bóng ô”8

+ Trong khi nhấn mạnh và phát triển hoàn thiện quan niệmtâm Phật, các cao tăng cũng nhấn mạnh quan niệm kiến tínhthành Phật với sự phủ định tư duy ngôn ngữ và khái niệm

Các tín đồ Phật giáo Lý - Trần quan niệm kiến tính thànhPhật là giải thoát hoàn toàn với quan điểm then chốt là phát hiệntrở lại tự tính siêu việt của vạn pháp vẫn bị che lấp bởi vọngniệm

Nhưng sự kiến tính thành Phật ấy không qua con đườngnhận thức thông thường Theo họ, nhận thức thông thường chỉđem lại cho con người những vọng niệm sai biệt Họ chủ trươngtrì giới sám hối đoạn diệt sáu căn để thanh toán nhận thức cảmtính Họ cũng chủ trương nhận thức vô phân biệt để thủ tiêu nhậnthức lý tính vì lý tính là những hoạt động phân tích của tư duytạo nên mọi sự sai biệt của sự vật, hiện tượng tạo nên những đốilập giữa chủ thể và khách thể

5 Sách đã dẫn - Trang 202.

6 Sách đã dẫn - Trang 217 - 218.

7 Sách đã dẫn - Trang 204.

8 Sách đã dẫn - Trang 206 - 207.

Trang 24

Thiền sư Chân Không quan niệm: “Hư vô thần diệu rất sâu

xa, Thổi dịu nơi nơi ngọn gió hòa, Vô vi hiểu được vô cùngkhoái, Nguyện lên chốn ấy mới là nhà”; “Làm theo hữu niệmquên vô niệm, Trái với vô sinh chịu hữu sinh”

Tuệ Trung Thượng Sỹ chỉ rõ:

“Tâm thể không thị cũng không phi,

Phật tính chẳng hư cũng chẳng thực,

Pháp thân không lại cũng không qua,

Chân tính chẳng phảïi cũng chẳng trái,

Tâm tức Phật Phật tức tâm

Linh diệu chiếu cùng kim cổ thông,

Xuân đến tự hoa xuân mỉm miệng,

Thu về đâu chẳng nước thu trong”9

+ Phật tại tâm cũng là triết lý giải thoát và nhập thế của cáctín đồ Phật giáo Lý - Trần Tự tính, chân tâm là Như Lai khôngcó tính quy định và không ở ngoài thế giới trần gian như Chúacủa Công giáo Phật ở trong trần gian, Phật là bản tâm của mọingười, trong tâm mọi người đều có Phật

Trần Nhân Tông quan niệm:

“Nơi mình có ngọc tìm đâu nữa, Trước cảnh vô tâm ấy đạo thiền”,

“Cư trần lạc đạo hãy tùy duyên

Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền

Châu báu đầy nhà đừng chạy kiếm

Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền”

Tuệ Trung lại quan niệm: “Phật là Phật, anh là anh, trongtâm có Phật ăn gì chẳng được”

+ Các đại biểu Phật giáo Lý - Trần còn coi đau khổ và giảithoát, chân tính và vọng tâm, sắc và không là thống nhất khôngtách rời nhau nên trực giác tự tính, chân tâm ngay trong trầngian, trong cõi sinh tử của con người chứ không phải đi đâu xa

Để phân biệt bồ đề với phiền não Tuệ Trung trả lời: “Mùimuối mặn ở trong nước, mầu keo ở trong sắc”, “Ngày ngày khiđối cảnh, Cảnh cảnh theo tâm sinh”

Còn phân biệt thế nào là nơi vô sinh tử, Thiện Hội trả lời:

“Phải ở trong chỗ sinh tử mà hiểu lấy thì mới được” Giác ngộ và

mê lầm luôn quan hệ chặt chẽ nhau:

“Mê đi sinh không sắc,

Tỉnh lại chẳng sắc không,

Sắc không cùng mê tỉnh,

Xưa nay một lý cùng”10

9 Xem sách đã dẫn - Trang 208 - 217.

10 Xem sách đã dẫn - Trang 208 - 220.

Trang 25

Bởi thế mà người ngộ đạo vẫn luôn gắn mình với hiện hữucủa tâït cả những gì gọi là giả hợp vô thường Người ngộ đạokhông thoát ly với cuộc sống hiện thực mà vẫn lăn lộn trongvòng sinh tử, không sợ sinh tử mà nhìn sinh tử như một cái gìthường nhiên Niết bàn là đạt đến cái tâm “vô trụ”, “vô tướng”,

“vô niệm” không bị ràng buộc, không chán nản bi quan trướccuộc đời mà thậm chí còn lạc quan yêu đời

Tâm ung dung tự tại của người giác ngộ thậm chí có quyềnsống một cách thoải mái trong cuộc đời không cần tuân thủnghiêm túc những giới luật của nhà chùa Sống không gò bó màvẫn không trái đạo

- Aính hưởng của Nho giáo trong đời sống chính trị-xã hội:+ Dưới các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê ảnh hưởng củaNho giáo trên lĩnh vực tư tưởng chính trị và xã hội ở nước ta làchưa rõ nét

+ Sang thời kỳ Nhà Lý, nho sỹ mới xuất hiện tuy chưa làtầng lớp đông đảo, chưa là một lực lượng xã hội lớn mạnh nhưngnó đã thực sự đi vào đời sống tư tưởng chính trị và xã hội

Nho giáo đã giành được chỗ đứng trong tư tưởng chính trịvà xã hội thời Lý, bởi lẽ lúc này đã thỏa mãn được một yêu cầubức bách của sự phát triển của xã hội Việt Nam là củng cố chếđộ phong kiến và xây dựng một nhà nước quân chủ tập quyềnmạnh mẽ

Các vua Lý thường lấy các điển tích Nho giáo nêu ra với tưcách là những bài học kinh nghiệm của công việc trị nước Tưtưởng trong “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn và trong “Namquốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt mang dấu vết của tư tưởngthiên địa nhân cảm ứng của Nho giáo, khi họ quan niệm Vua làngười thi hành mệnh trời, người và trời có liên hệ tương cảm

Các khái niệm trung hiếu, nhân nghĩa của Nho giáo đãđược vận dụng vào lĩnh vực chính trị Lê Phụng Hiểu, Tô HiếnThành luôn gương cao ngọn cờ trung nghĩa của Nho giáo tronghành động và chủ trương chính trị của mình

+ Thời Nhà Trần ảnh hưởng của Nho giáo diễn ra mạnhmẽ, sâu sắc hơn Nhà Trần đã chỉ rõ Phật giáo lo việc giải thoátcho con người khỏi luân hồi sinh tử, Nho giáo là cái đạo trị nước,là đường lối tu, tề, trị, bình và những quy tắc đạo đức để chấnchỉnh xã hội phong kiến Việt Nam Trần Thái Tông đã viết trong

“Thiền tông chỉ nam” rằng: “Cái phương tiện để mở lòng mêmuội, cái đường lối soi rõ sống chết chính là đại giáo của ĐứcPhật Giữ cán cân để làm mức cho hậu thế, nêu khuôn phép chotương lai là trách nhiệm nặng nề của tiên thánh vậy”11

11 Sách đã dẫn - Trang 222.

Trang 26

Chu Văn An, Lê Văn Hưu, Trương Hán Siêu là những đạibiểu trung thành của Nho giáo Vấn đề quan tâm đầu tiên củacác Nho sỹ thời Trần là đường lối đức trị: vua sáng tôi lành cùngđồng tâm hiệp đức để trị nước yên dân Vua có đức sáng, quanmẫn cán trung thành nên ân trạch thấm thía đến dân chúng khiếntrăm họ được an ninh, hạnh phúc Họ coi đức sáng của vua làđiều kiện tiên quyết làm cho đất nước thịnh trị Vì vậy họ thườngkhuyên vua phải chính tâm tu thân, phải thường xuyên sửa đức.Họ cũng bàn đến bạo lực của nhà nước phong kiến và sự hiểmtrở của đất đai nhưng chỉ là thứ yếu sau đường lối đức trị “Thiênhưng Địa thế hùng thay, Cõi Nam trụ cột xưa nay đời đời; Muônnăm đế nghiệp lâu dài, Chẳng cần đất hiểm nhờ nơi đức lành”

- Đến giữa đời Nhà Trần, sự phát triển của Nho giáo trởnên giáo điều rập khuôn những bài học kinh nghiệm có sẵn trongNho giáo Trung Quốc, nên đã diễn ra một xu hướng chống chủnghĩa giáo điều đó

+ Trần Minh Tông nói: “Nhà nước đã có phép tắc nhấtđịnh Nam Bắc khác nhau nếu nghe theo kế của kẻ học trò mặttrắng tìm đường tiến thân thì sinh loạn ngay”

+ Trần Nghệ Tông cũng nói: “Triều trước dựng nước tự cóphép độ, không theo chế độ nhà Tống, là vì Bắc Nam đều chủnước mình, không phải noi nhau Khoảng năm Đại trị kẻ học tròmặt trắng được dùng không hiểu ý sâu xa của sự lập pháp, đemphép cũ của tổ tông thay đổi theo phong tục phương Bắc cả, nhưvề y phục, nhạc chương không thể kể hết”12

- Từ giữa thế kỷ XIV trở đi cũng đã diễn ra trào lưu phêphán Phật giáo của đông đảo các Nho sỹ

+ Từ thời nhà Lý khi Nho giáo bước lên vũ đài chính trị và

tư tưởng Nho giáo ở nước ta nó đã có những quan điểm khác biệtthậm chí đối lập với Phật giáo nhưng nó vẫn tồn tại hòa bình vớiPhật giáo Sự công kích Phật giáo chỉ xảy ra riêng lẻ ở một vàicá nhân như Đàm Dĩ Mông mà thôi

+ Từ giữa thế kỷ XIV trở đi nó mới trở thành tiếng nói phổbiến của trào lưu tư tưởng chống Phật giáo Những đại biểu tiêubiểu là Trương Hán Siêu, Lê Văn Hưu

Theo Trương Hán Siêu, thì: “làm kẻ sỹ đại phu không phảiđạo Nghiêu Thuấn không bày tỏ, không phải đạo Khổng Mạnhkhông trước thuật Thế mà cứ bo bo lải nhải chuyện Phật, ta,định lừa ai đây?”

Lê Văn Hưu lại viết: “Kể ra sự trù tính ở trong màn trướngquyết định được sự thắng ở ngoài ngàn dặm, đó là công củangười tướng giỏi cầm quân chế thắng Thái phó Lý Công Bìnhphá được quân Chân Lạp cướp châu Nghệ An, sai người báo tin

12 Sách đã dẫn - Trang 225 - 226.

Trang 27

thắng trận, Thần Tông đáng nhẽ phải cáo tin thắng trận ở Tháimiếu, bàn công ở triều đường, để thưởng cho bọn Công Bình vềcông đánh giặc mới là phải; nay lại quy công cho đạo Phật, đếncác chùa quán mà lễ tạ, như thế đâu phải úy lạo kẻ có công cổ lệtinh thần quân lính?”13

+ Sự phê phán của các Nho sỹ đối với Phật giáo khôngnhằm đánh đổ Phật giáo về tư tưởng và triết lý, mà chủ yếu nhằmvào sự hao phí tài lực, nhân lực của Phật giáo vào tệ chứa chấpnhững kẻ lười biếng không cày mà có ăn, không dệt mà có mặc,trốn tránh nghĩa vụ đối với Nhà nước làm tổn thương đến Nhophong Họ bóc trần những hậu quả và tệ nạn xã hội do Phật giáogây ra trong đời sống hiện thực và những ảnh hưởng xấu củaPhật giáo đến sự tiến bộ xã hội

- Trong số các nhà tư tưởng tiêu biểu của thời kỳ này thìTrần Quốc Tuấn xứng đáng là nhà tư tưởng lớn, nhà quân sựthiên tài

- Đặc điểm nổi bật của tư tưởng Việt Nam giai đoạn này cómấy điểm sau: Về tư tưởng, Phật giáo phát triển mạnh trở thànhnhư quốc giáo, Nho giáo tồn tại như một hiện tượng hiển nhiên,Lão giáo chi phối ảnh hưởng mê tín của nhân dân, ba tôn giáonày là nền tảng tư tưởng của đời sống tinh thần người Việt Trênnền tảng ấy, nổi bật lên tư tưởng dân tộc là:

+ Khoan sức dân: Đoàn kết với dân, tổ chức dân, dưỡngdân

+ Nêu cao đạo đức: yêu nước, anh hùng, vinh dự, sỹ nhục,trung nghĩa và hiếu thuận

+ Kết hợp hợp lý Thần quyền - Thế quyền - Tôn giáo tronglĩnh vực chính trị

- Nói chung, chính trị xã hội giai đoạn này gắn liền vớithực thiễn dựng nước và giữ nước, Chủ nghĩa duy tâm mang đậmtín ngưỡng Phật giáo; Cuối thế kỷ XIV, Phật giáo bị phê phánnên dần suy yếu và thay thế vào đó là sự phát triển của Nho giáo(Tống Nho bàn nhiều về Lý và Khí)

5 Thời kỳ ổn định và thịnh trị của xã hội phong

kiến:

- Là thời kỳ từ 1400 (Nhà Hồ) đến 1504 (Lê Túc Tông).Thế kỷ XV là thế kỷ anh hùng trong chiến đấu chống giặc ngoạixâm và anh hùng trong công cuộc xây dựng đất nước

Thời kỳ này đã diễn ra công cuộc cải cách đất nước của HồQuý Ly, đả kích mạnh vào sở hữu của quý tộc, địa chủ, tự việncủa Phật giáo và làm suy yếu tầng lớp thương nhân, nhưng vẫn

13 Nguyễn Tài Thư (Chủ biên)- Lịch sử tư tưởng Việt Nam - Tập 1 - Nhà xuất bản khoa học xã hội - Hà Nội 1993 - Tr228 - 229.

Trang 28

không cải thiện được đời sống khốn khó và thân phận lệ thuộccủa nông nô và nông dân.

Quân Minh xâm lược nước ta (1407-1427) là thời kỳ đentối của lịch sử Việt Nam Chúng đã biến nước ta thành một quậncủa nhà Minh; Triệt để bóc lột sức người, vơ vét của cải vàkhủng bố tàn sát dã man các cuộc nổi dậy của nhân dân ta; Đồnghóa dân tộc và thủ tiêu nền văn hóa Đại Việt

Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạođại thắng quân Minh tháng 12-1427, là thắng lợi của ý chí dântộc và tư tưởng nhân dân phát triển đến đỉnh cao Chế độ tôngpháp thời Trần không còn là nguyên tắc của thời Lê Sơ Thời Lê

Sơ những người giỏi trong dòng họ đều lấy tư cách công thần màtrao chức, chứ không phong tước chia đất

Thời Lê Sơ từ 1442 trở đi, chế độ khoa cử đã hoàn chỉnh,cứ ba năm có một kỳ thi hương và một kỳ thi hội mà nhà nướcphong kiến quan liêu đã thường xuyên được bổ sung nhân sự.Nếu tính từ khoa thi đầu tiên ở đời nhà Lý 1075 đến khoa thicuối cùng 1918 cả nước có 2335 tiến sỹ trong đó có 30 trạngnguyên, thì riêng 38 năm thời Lê Thánh Tông đã có 501 tiến sỹ,

9 trạng nguyên, chiếm gần 1/5 tổng số tiến sỹ và 1/3 trạngnguyên của cả nước

Cùng với việc củng cố xây dựng chế độ khoa cử và tậptrung sức tổ chức lại các cấp chính quyền nhằm tăng cườngquyền lực của triều đình đối với địa phương, thời Lê Sơ từ 1429trở đi đã tiến hành công kích Phật giáo và Lão giáo, nhằm côngkích kiểu tam giáo đồng nguyên, đưa Nho giáo lên địa vị độc tôntrong đời sống tư tưởng chính trị và xã hội Việt Nam

Những nhà tư tưởng lớn của dân tộc nổi bật ở thời kỳ này làHồ Quý Ly, Lương Thế Vinh, Ngô Sỹ Liên, Nguyễn Trãi, LêThánh Tông

- Tư tưởng của các nhà sử học thời Lê như Phan Phú Tiên,Ngô Sỹ Liên, cho thấy họ là những người chịu ảnh hưởng kinhhọc:

+ Đề cao thiên mệnh, thiên đạo, thiên đế

+ Chú trọng tu dưỡng đạo đức cương thường Nho gia

+ Từ thế kỷ XV trở đi là sự thẩm định lịch sử: Ôn cố nhi tritân, vừa nêu gương cũ vừa đưa ra bài học mới cho tương lai thểhiện một tinh thần dân tộc sâu sắc; Họ đề cao tinh thần yêu nước,tinh thần chiến đấu ngoan cường, đánh giá cao vai trò của các nữanh hùng dân tộc; Họ cũng là những người đề cao tính dân bản

“đề cao lòng dân, thương dân” nhưng không phải vì dân mà trướchết là vì quyền lợi lâu dài của giai cấp thống trị và nhà vua; Họcũng là những người đề cao tư tưởng nhân nghĩa ở ba nội dung:Nhân nghĩa là cứu vớt người nghèo đổi đời cho họ, Nhân nghĩa

Trang 29

là có nguyên tắc và có thể dùng bạo lực để chống bạo tàn, Nhânnghĩa làì sức mạnh; Họ cũng là những người đề cao kẻ sỹ và phêphán Phật giáo.

- Song song với xu hướng chống giáo điều cuối thời NhàTrần còn xuất hiện xu hướng sửa chữa, uốn nắn những nguyênlý, tín điều của Nho giáo Đại biểu xuất sắc cho xu hướng này làHồ Quý Ly

Nhìn chung tư tưởng Việt Nam thời kỳ này nổi lên ở mấyđiểm sau:

- Ý thức về một quốc gia độc lập là rất rõ ràng thông quacác tiêu chí: lãnh thổ, văn hiến, phong hóa (phong tục tập quán),lịch sử dân tộc Trong “Bình Ngô đại cáo” Nguyễn Trãi viết:

“Xét như nước Đại Việt ta, thật là một nước văn hiến Bờ cõi núisông đã riêng, phong tục Bắc Nam cũng khác Trãi Triệu, Đinh,Lý, Trần nối đời dựng nước Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyênmỗi đàng làm đế một phương Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,mà hào kiệt không bao giờ thiếu”

- Quan niệm nhân nghĩa tiến bộ toàn diện:

+ Nhân nghĩa vừa là đường lối chính trị, vừa là một chínhsách cứu nước, cứu dân, dựng nước Nó được dùng trong khángchiến chống giặc, làm vũ khí phê phán giặc Nó cũng được dùngtrong hòa bình với tư cách là công cụ để tuyên dương công trạng

+ Nhân nghĩa là chuẩn mực của đối xử, nguyên tắc của giảiquyết sự việc, là phương pháp luận của suy nghĩ hành động:Nuôi dân, chăm dân, huệ dân, lòng thương người, tình người, sựchân thành, sự khoan dung độ lượng cảm hóa được kẻ lầm đường(khoan dung cả với kẻ thù)

+ Nhân nghĩa là yêu hòa bình, lên án chiến tranh

Quan điểm nhân nghĩa đó thể hiện một chủ nghĩa nhân đạocao cả và toàn diện: Vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhândân, vì hòa bình của đất nước mà suy nghĩ và hành động (điềunày trước thế kỷ XV chưa từng có)

- Nhân - Trí - Dũng là những điều được chú ý trong đạolàm người: Khiêm nhường, cân nhắc thiệt hơn, toan tính kỹlưỡng, kiên quyết dũng mãnh

6 Thời kỳ khủng hoảng và chia cắt của xã hộiphong kiến thế kỷ XVI-XVII:

Từ thời Lê Uy Mục (1505-1509) đến Lê Thần Tông lần thứnhất (1619-1643) xã hội Việt Nam đã bắt đầu khủng hoảng và điđến mục nát bị chia cắt: Trong triều đình các phe phái tranhgiành quyền lợi và địa vị; Vua ươn hèn lao vào cuộc sống trụylạc; Hoạn quan và ngoại thích ngang tàng hoành hành; Tuy cuốicùng thất bại nhưng phong trào nông dân nổi lên rầm rộ đã làmcho nhà Lê thêm suy yếu và tan rã

Trang 30

- Sau khi Nho giáo lên địa vị độc tôn ở thế kỷ XIV-XV,đây là thời kỳ khủng hoảng của chính Nho giáo trong đời sốngtinh thần Việt Nam:

+ Trong cảnh đất nước loạn lạc triền miên, chiến tranhhuynh đệ tương tàn và sự chia cắt đất nước, hầu hết các Nho sỹđều để tâm tìm nguồn gốc loạn lạc và đưa ra những chủ trươngđường lối trị nước của mình mong được đương thời chấp nhận

+ Họ khái quát bá đạo là dùng chiến tranh, dùng bạo lực,dùng sức mạnh để đạt được sự thống trị; vương đạo là dùng nhânnghĩa đạo đức để yên dân, để quy phục dân Nhưng quan niệmcủa họ có nhiều điều khác trước và mâu thuẫn

+ Những người nói đến nhân nghĩa một cách thiết thathường không là các nhà Nho đương chức mà là các nhà Nho ởẩn như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ Tâm trạng trung vớiđạo cương thường như trước đây không còn nữa, Nho giáo thờinày đã thể hiện sự bất lực đầu tiên của nó trước các lĩnh vực xãhội Vấn đề theo Nho, Phật hay Lão, theo đơn thuần một hay kếthợp cả ba là tốt lại được đặt ra

+ Tuy vậy, vẫn có những người quan niệm chỉ Nho giáomới có ích Đó là các Nho thần: Phùng Khắc Hoan (1528-1613),Lương Hữu Khánh (thế kỷ XVI), Đào Duy Từ (1572-1634),Phạm Công Trứ (1599-1675)

Những nhà tư tưởng tiêu biểu có thể kể đến ở thời kỳ này làNguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Hoan PhùngKhắc Hoan cho rằng giúp đời là đạo của nhà Nho nên phải cốgắng Phạm Công Trứ lại chủ trương chỉ Nho giáo mới đượcquyền truyền bá vì nó hữu ích, còn Phật-Lão và các truyện quốc

âm không được thông hành vì nó làm tổn hại đến phong hóa

Thật ra, lúc này kiên trì truyền Nho là cố chấp, bởi Nhogiáo không còn là tư tưởng chủ đạo nữa Khuynh hướng chínhlúc này là kết hợp Nho-Đạo giáo như Nguyễn Dữ, hoặc thuầnLão-Trang như Nguyễn Hàng, mà đặc biệt là kết hợp Nho-LãoTrang như Nguyễn Bỉnh Khiêm là phù hợp nhất

Thời kỳ này cũng có sự kết hợp Nho-Phật-Lão của MinhChâu Hương Hải: “Trong nơi danh giáo có ba Nho hay giúpnước sửa nhà trị dân Đạo thì dưỡng khí an thần, Thuốc trừ tàbệnh ân cần luyện đơn Thích độ nhân khỏi tam đồ khổ, Thoátcửu huyền thất tổ siêu phương”

+ Nếu các nhà tư tưởng ở thế kỷ XIV, XV chỉ dừng ở chínhtrị-xã hội, tính triết học còn ít thì thế kỷ XVI trở đi, tính triết họctrong tư duy của các nhà tư tưởng thể hiện ngày càng rõ Cácphạm trù triết học phương Đông họ thường bàn trên cơ sở thếgiới quan duy tâm, tiêu cực là: Nhân dục, Thiên lý, Mệnh trời,Sức người, Âm dương, Bỉ-thái, Trị-loạn

Trang 31

+ Về quan niệm sống họ là đa nguyên chứ không chỉ giớihạn trong quan niệm của Nho giáo nữa Người thì chủ trương ralàm quan (xuất), người thì chủ trương không ra làm quan (xử),người thì chủ trương xuất rồi lại xử Phái chủ xuất thì hướng vềdanh lợi, tư tưởng không có gì đặc sắc, tình cảm không mặn mà.Phái chủ xử (khuynh hướng chủ yếu) khá phức tạp: người thì vẫnmang tư tưởng ưu dân ái quốc, vẫn quyến luyến với luân thường,nhân nghĩa; Người thì bất hợp tác với triều đình nhưng trông chờngày xuất nếu có bề trên sáng; Người thì chủ trương xử hẳn đểđược tự do tự tại sống tùy thích Nói chung quan niệm sống củahọ là hoang mang, bế tắc.

- Những tư tưởng cơ bản của người Việt Nam giai đọan này có thể khái quát ở những điểm cơ bản trong tư tưởng của một số các nhà

tư tưởng tiêu biểu như sau:

7 Thời kỳ chiến tranh nông dân và sự sụp đổ củacác chính quyền Đàng Trong, Đàng Ngoài:

Từ 1624 đến 1788 Việt Nam bị chia cắt làm hai miềnkhông liên hệ với nhau Tình hình kinh tế-chính trị Đàng Ngoài

bị chững lại rồi từ những năm 40 của thế kỷ XVIII trở đi thì chếđộ phong kiến nhanh chống suy thoái Ở Đàng Trong, đất GiaĐịnh còn dư địa khai hoang thu hút dân nghèo từ nhiều ngả tới,mãi những năm 70 trở đi chế độ phong kiến và tập đoàn họNguyễn mới đi vào khủng hoảng trầm trọng Có thể nói từ 1624-

1802 là thời kỳ chiến tranh nông dân nổ ra liên tiếp chống lại chếđộ phong kiến mục nát Giặc Thanh xâm lược Việt Nam Cuộckhởi nghĩa nông dân lớn nhất thời kỳ này là khởi nghĩa Tây Sơn

Đây cũng là thời kỳ về tư tưởng dân tộc Việt Nam có nhiềulúng túng Thế kỷ XVIII Phật giáo được phục hồi và phát triển.Đây là giai đoạn có thể nói không làng nào không có chùa, chùanào cũng có kinh tế riêng, nhân dân tin Phật nhiều hơn tin Nho.Đây cũng là thời kỳ Đạo giáo được truyền bá rộng rãi, nhiều đạoquán mọc lên ở Thăng Long, Huế, Lạng Sơn, nhiều Nho sỹ têntuổi cũng tin theo Đạo giáo như Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sỹ, PhanHuy Ích Đạo giáo thực sự sánh vai cùng Nho giáo, Phật giáo

Bên cạnh các tôn giáo truyền thống, Công giáo được truyềnvào Việt Nam từ thế kỷ XVI đến lúc này có điều kiện mở rộng.Các giáo sỹ Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha ráo riết hoạt động.Tuy nhiên, do Công giáo đoạn tuyệt với các giáo lý truyền thốngvà một số các giáo sỹ vừa hoạt động tôn giáo vừa hoạt động giánđiệp nên ít có người thiện cảm, chính quyền Đàng Ngoài vàĐàng Trong đã phải ngăn cấm và trục xuất các giáo sỹ

Trang 32

Trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng Phật giáo và Đạo giáo vẫnđược coi trọng, nhưng về cơ bản đã tụt xuống bình diện tâm lýtín ngưỡng, vai trò trên trường lý luận không rõ Đạo gia trênthực tế chỉ còn là Đạo giáo, không thấy xuất hiện nhà tư tưởngnào có khuynh hướng cao cả như Nguyễn Bỉnh Khiêm Phật giáochỉ còn là tiếng than thở về cuộc đời, không thấy ai đề xuất quanniệm về vai trò cần phải có của Phật giáo trong đời sống tinhthần xã hội như Minh Châu Hương Hải ở thế kỷ XVII Trên bìnhdiện lý luận Nho giáo lại vươn lên vị trí độc tôn nhưng khôngtách biệt với Phật giáo và Lão giáo Thậm chí Nho giáo còn thâutóm cả Phật giáo và Lão giáo trong lý thuyết của mình Hiệntượng “tam giáo đồng nguyên” trên cơ sở Nho giáo ngày càng trởthành xu hướng lớn của giai đoạn này.

Tam giáo đồng nguyên không là hiện tượng mới mẻ Tronglịch sử triết học phương Đông đã nhắc đến Ở nước ta thời Lý-Trần nó xuất hiện vì mỗi học thuyết đều có phạm vi hạn chế củanó: Nho giáo chú trọng về mặt chính trị xã hội; Phật giáo thì giảiquyết về vấn đề sống chết, hoạ phúc; Lão-Trang thì cung cấpmột phương thức ứng xử cho nhà Nho khi thất thế Tam giáođồng nguyên xuất hiện thời Lý-Trần là trên cơ sở Phật giáo, còn

ở thế kỷ XVIII nó xuất hiện trên cơ sở Nho giáo Thời Lý-Trầnchủ trương đồng nguyên vì nhà tư tưởng chưa hiểu Nho thấu đáo,

ở thế kỷ XVIII lại chủ trương đồng nguyên là do nhà tư tưởngbất lực trong việc sử dụng Nho giáo để giải thích các vấn đề xãhội Thực ra dùng đồng nguyên là không đúng, vì các học thuyếtđó vốn có những lý luận và những hệ thống khác nhau14

Chủ trương tam giáo đồng nguyên cũng gây nên những sựphản ứng ở cuối thế kỷ XVIII Phạm Nguyễn Du (1739-1784),Phạm Quý Thích (1760-1825), Bùi Dương Lịch (1757-1827),Bùi Huy Bích (1744-1818) đều phản đối quan điểm tam giáođồng nguyên và phê phán Phật giáo Khuynh hướng này xuấthiện bởi chủ trương Tam giáo đồng nguyên là ngượng ép, hơnnữa có coi trọng Phật giáo và Lão giáo cũng không giải quyếtđược gì cho xã hội đương thời Sự phê phán này báo hiệu chohiện tượng độc tôn Nho giáo ở giai đoạn sau Nhà Nguyễn tônsùng Nho giáo không những vì chế độ trung ương tập quyềntriều Nguyễn mà còn vì xu thế phát triển trước đó tất yếu đưa tới

Về tư tưởng triết học và chính trị xã hội thì vẫn tiếp tụcđược bàn tới như trước nhưng ở mức độ đề xuất cấp bách hơn, ýkiến xoay quanh các phạm trù rõ ràng hơn, biện luận cũng căngthẳng hơn Các nhà tư tưởng đều tìm nguyên nhân của trị loạn vàtheo họ nguyên nhân của trị loạn là ở thái độ của tập đoàn phongkiến với lòng dân và ý trời

14 Xem thêm sách đã dẫn trang 416 - 418)

Trang 33

Ở thế kỷ XVIII có hai quan niệm khác nhau về vấn đề này:Một là coi trọng lòng dân như Lê Quý Đôn “Dân là gốc nước,gốc vững thì nước mới yên, Cứu dân tức vì nước”; như NguyễnThiếp “dân là gốc, gốc vững nước mới yên”; như Ngô ThờiNhậm lòng dân là quyết định ý trời “Trời trông, trời nghe do ởdân, Lòng dân yên định thì ý trời cũng xoay chuyển” hay “Dânhoà cảm ở dưới thì thiên hoà ứng ở trên hiệu nghiệm được mùakhông hẹn mà đến”15 Hai là quan niệm ý trời thể hiện ở lòng dânnhư Ngô Thì Sỹ “Trời trông và nghe là do ở dân Cho nên điềmlành điềm dữ trời ứng nghiệm ra đều có liên quan tới lòng ngườivui hay buồn” hoặc “Điềm lành điềm dữ của trời ăn khớp vớiviệc của người, chính sự của nước thông suốt đến trời” Đây làkiểu quan niệm thiên nhân cảm ứng vốn có của phương Đông.

Một cặp phạûm trù khác cũng được thường bàn đến với hailập trường và hai quan điểm khác nhâu là “thời và mệnh” Loạithứ nhất cho con người có mệnh và do trời phú Ngô Thì Sỹ nói

“người ta sinh ra đều có mệnh Mệnh là do trời phú”; Phan HuyÍch nói “Trời vì dân đặt vua, đặt thầy, việc lớn vốn là số mệnh”.Những quan điểm này giống với quan niệm của các nhà nho duytâm thửơ trước nhưng nó còn khiến người ta an tâm với số mệnh,thụ động ngồi chờ như Ngô Thì Sỹ “Người ta sinh ra đều cómệnh, người quân tử chỉ sống đời bình dị Ra làm quan hay ở ẩngặp sao hay vậy, sang hay hèn được thế nào hay thế ấy” “Ta cứyên với thời mệnh dù lật đật cũng phải chịu”

Loại thứ hai thừa nhận có mệnh trời nhưng không thụ độngbởi mệnh trời, trái lại nó còn yêu cầu con người phải quan sát sựvận động của thế giới bên ngoài và chọn khâu thích hợp để hànhđộng Theo Ngô Thời Nhậm, một mặt “thịnh suy, dài ngắn vậnmệnh do trời, không phải sức người tạo ra được”, mặt khác ôngquan niệm thời mỗi lúc một khác “Đạo có thay đổi, thời có biếnthông, Đâïng thánh nhân theo đạo trời để làm vua trong nước,làm cha mẹ dân, chỉ là có một nghĩa vậy” Tức nói, hành độngđúng thời, thuận thời thì có sức mạnh và không phải ân hận Làmhay không làm, xuất hay xử, nói hay im lặng nhất nhất phải đúngthời16

“Lý và Khí” là cặp phạm trù cơ bản của Tống Nho lần đầuđược bàn đến ở thế kỷ XVIII Tống Nho có mặt ở Việt Nam từthế kỷ XIV, nhưng “lý” và “khí” của Tống Nho chỉ được bàn đến

ở thế kỷ XVIII

Với tư cách là nhà duy vật thô sơ, Lê Quý Đôn coi “Lý(tinh thần) có trong khí (Vật chất) và là cái biểu hiện của khí”.Nhưng lập trường duy vật của ông không triệt để nên có lúc ông

15 S đ d trang 416 - 419.

16 Xem S đ d trang 419 - 420.

Trang 34

nói “Số phận nước nhà, vận mệnh của sỹ phu đều được địnhtrước ở chỗ u minh”17

Các nhàì tư tưởng thế kỷ XVIII bàn đến quan hệ Lý và Khívà dùng khí để giải thích nguồn gốc của thế giới, họ đã nângtrình độ tư duy của dân tộc lên một bước của lý tính hoá Tiếcrằng nhà Nguyễn về sau lại tôn sùng Hán Nho nên không chophép tư duy này phát triển

Đạo trị nước ở thế kỷ XVIII cũng có điều khác trước Chođến thế kỷ XVIII các nhà tư tưởng đều nêu cao nhân nghĩa chủtrương đường lối vương đạo của Khổng Mạnh và phê phán báđạo của Pháp gia Ở thế kỷ XVIII thì lại khác, trên thực tế cácnhà tư tưởng đều chủ trương dùng sức mạnh, dùng quân đội đểtrừ khử đối phương tức chủ trương dùng bá đạo của Pháp gianhưng trên lời nói, họ họ đều ca ngợi đường lối nhân nghĩa vàgiành cho mình lá cờ vương đạo của Nho gia Chỉ có Lê QuýĐôn là người chủ trương kết hợp Nho gia và Pháp gia, nhânnghĩa với sức mạnh trong đạo trị nước Với quan niệm coi “lý” là

“ngũ thường” của Nho gia và “thế” là sức mạnh của Pháp gia ôngnêu lên sự kết hợp: “Việc trong thiên hạ không ngoài “lý” và

“thế” Nhưng hai cái đó thường dựa vào nhau Biết lý mà khôngxét thế việc sẽ không thành, xét thế mà không biết lý cũng khônglà nên việc” Quan niệm này của ông không được đương thời vàhậu thế hưởng ứng, nhưng đây là điểm mới trong lịch sử tư tưởngViệt Nam

Thế kỷ XVIII như là đỉnh cao của lịch sử tư tưởng ViệtNam từ trước cho đến bấy giờ: tác phẩm nhiều hơn, đa dạng hơn,phạm vi tư tưởng rộng hơn, đấu tranh trên lĩnh vực lý luận cũngrõ ràng hơn, nhà tư tưởng có tầm nhìn cao hơn, trong họ yếu tốngười đã lấn át yếu tố thần, yếu tố khai sáng đã lấn át yếu tố bảothủ, nhưng với sự ra đời của triều Nguyễn vấn đề trên đã khôngđược tiếp tục mà trở nên bảo thủ và lúng túng

Các nhà tư tưởng tiêu biểu của thế kỷ XVIII là Lê Quý Đôn,

Lê Hữu Trác, Ngô Thời Nhậm

Nói chung tư tưởng Việt Nam giai đoạn này đầy mâuthuẫn Ngay như Đào Duy Từ có tư tưởng cách tân nhưng vẫngương cao Nho giáo và lợi dụng Phật giáo Các nhà tư tưởng ởthế kỷ XVIII-XIX mỗi người lại đại diện cho một khuynh hướng

8 Thời kỳ thế kỷ XIX- giữa đầu thế kỷ XX:

Dưới thời Nhà Nguyễn, Nho giáo được suy tôn lên địa vịđộc tôn nhưng luôn coi Phật giáo là ngọn cờ nhằm thu phục nhântâm, biểu hiện của nó là rất phức tạp: Ở Gia Long Phật giáo bịbác bỏ, Nho giáo giành địa vị độc tôn tuyệt đối trong hệ tư tưởngchính thống; ở Minh Mạng là khuynh hướng và nổ lực xây dựng

17 Xem S đ d trang 421

Ngày đăng: 24/06/2014, 12:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w