1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn áp dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam

103 2K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Tác giả Hoàng Văn Thắng
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Thu Thúy
Trường học Đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 16,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cẩu Hiểu được sự cần thiết áp dụng m ô hình Camel trong phân tích tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung cũng như Ngân hàng Đ ầ u tư và Phát triển Vi

Trang 2

T R Ư Ờ N G ĐẠI H Ọ C NGOẠI T H Ư Ơ N G KHOA KINH TE VÀ KINH DOANH QUỐC TÊ

CHUYÊN N G À N H KINH TẾ Đ ố i NGOẠI

Hoàng Văn Thắng Pháp 4

44G

TS Lê Thị Thu Thúy

100°)

Trang 3

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐÀU

C H Ư Ơ N G ì: LÝ LUẬN cơ BẢN VỀ M Ô HÌNH CẠMEL 4

ì Tổng quát về phân tích tài chính ngân hàng thương mại 4

Ì Khái niệm phân tích tài chính ngân hàng thương mại 4

2 Sự cần thiết của phân tích tài chính Ngân hàng thương mại 4

3 Một số m ô hình phân tích tài chính ngân hàng thương mại 5

3.1 M ô hình Dupont 5 3.2 M ô hình Camel 8

li Nội dung m ô hình Camel 10

Ì Nội dung m ô hình Camel lo

1.1 Phân tích nguồn vốn 10

Ì 2 Phân tích chất lượng tài sản 14

Ì 3 Phân tích khả năng quản lý 18

Ì 4 Phân tích khả năng sinh lời 20

Ì 5 Phân tích khả năng thanh khoản 24

2 Ưu, nhược điểm của m ô hình Camel 28

2.1 Ư u điểm của m ô hình Camel ?g

2.2 Nhược điểm của m ô hình Camel 11

C H Ư Ơ N G li: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI N G Â N H À N G ĐẦU T Ư V À

PHÁT TRIỂN VIỆT NAM BẰNG M Ô HÌNH CAMEL 33

ì Tổng quan về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 33

Ì Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư và

Phát triển Việt Nam 33

L I Thời kỳ trước năm 1995 33

Ì 2 Thời kỳ sau năm 1995 34

35

Trang 4

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

li Phân tích tài chính tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 37

Ì Phân tích nguồn vốn 37 1.1 Thực trạng phân tích nguồn vốn 37

Ì 2 Đánh giá chất lượng phân tích nguồn vốn 42

Ì 3 Phân tích nguồn vốn theo m ô hình Camel 43

2 Phân tích chất lượng tài sản 45

2.1 Thực trạng phân tích chất lượng tài sản 45

2.2 Đánh giá chất lượng phân tích tài sản 52

2.3 Phân tích chất lượng tài sản theo m ô hình Camel 53

3 Phân tích khả năng sinh lời 56

3.1 Thực trạng phân tích khả năng sinh lời 56

3.2 Đánh giá chất lượng phân tích khả năng sinh lời 60

3.3 Phân tích khả năng sinh lời theo m ô hình Camel 61

4 Phân tích khả năng thanh khoản 65

4 Ì Thực trạng phân tích khả năng thanh khoản 65

4.2 Đánh giá chất lượng phân tích khả năng thanh khoản 67

4.3 Phân tích khả năng thanh khoản theo m ô hình Camel

CHƯƠNG ra: MỘT SÒ GIẢI PHÁP NHẰM ỦNG DỤNG HIỆU QUẢ MỒ HÌNH

CAMEL TRONG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ

PHÁT TRIỂN VỆT NAM 70

ì Kết quả và hạn chế trong công tác phân tích tài chính tại Ngân hàng Đầu tư và

Phát triển Việt Nam 70

Ì Những kết quả đạt được trong phân tích tài chính tại Ngân hàng Đầu tư và

Phát triển Việt Nam và các yếu tố tiếp nhận 70

1.1 Kết quả đạt được 70

1.2 Các yếu tố tiếp nhận 71

2 Những hạn chế trong phân tích tài chính tại Ngân hàng Đầu tư và Phát

triển Việt Nam và các nguyên nhân 72

n Sự cần thiết ắp dụng mô hình Camel ừong phân tích tài chinh tại BEDV 76

Trang 5

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

1 Những định hướng phát triển và mục tiêu công tác phân tích tài chính của

BIDV trong thời gian tới 76

1.1 Định hương phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 76

1.2 Mục tiêu công tác phân tích tài chính của Ngân hàng Đầu tư và Phát

triển Việt Nam 78

2 Quá trình hội nhập quốc tể của Việt Nam ương lĩnh vực Ngân hàng 78

3 Thực trạng phân tích tài chính tại BIDV còn nhiều hạn che 79

4 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện quản lý, giám sát và xếp hạng

đối với các TCTD dựa trên các nội dung của Camel 80

5 Cảnh báo của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 81

li Các giải pháp nhằm áp dụng m ô hình Camel trong công tác phân tích tài

chính tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 83

Ì Chuấn bị nguồn thông tin phù họp với nhu cầu phân tích tài chính tại Ngân

hàng 83 1.1 Các thông tin trong nội bộ Ngân hàng 83

Ì 2 Các thông tin bên ngoài 84

2 Hoàn thiện và nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin của Ngân hàng 84

3 Thành lập bộ phận chuyên môn chịu trách nhiệm phân tích tài chính Ngân

hàng tại các Sở Giao dịch và Chi nhánh 85

4 Tuyển dụng và đào tạo cán bộ chuyên trách về phân tích tài chính 86

5 Ban hành qui trình chuấn cho phân tích tài chính theo m ô hình Camel 87

6 Lập quỳ hỗ trợ cho công tác phân tích tài chính tại Ngân hàng 89

7 Thực hiện tiến hành kiểm tra, kiểm soát nội bộ sâu rộng hơn 90

KÉT LUẬN 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 6

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

Bảng 3: Các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế toán của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển

Việt Nam năm 2006 - 2008 40

Bảng 4: Các chỉ số an toàn vốn của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam năm

2006-2008 7 41

Bảng 5: Các chỉ số an toàn vốn của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo

mô hình Camel năm 2006 - 2008 43

Bảng 6: Qui mô tài sản của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam năm 2006

-2008 45 Bảng 7: Cho vay và ứng trước khách hàng, sau khi trừ dự phòng rủi ro tín dụng của

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam năm 2006 - 2008 47

Bảng 8: Các chỉ số cơ bản về chờt lượng tài sản của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển

Việt Nam năm 2006 - 2008 48

Bảng 9: Số dư nợ gốc đối với các khoán nợ không đủ tiêu chuẩn của Ngân hàng

Đầu tư và Phát triển Việt Nam năm 2006 - 2008 được phân loại theo Chính sách

phân loại nợ của Ngân hàng 50

Bảng 10: Các chỉ số về chờt lượng tài sản của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt

Nam theo mô hình Camel năm 2006 - 2008 53

Bảng 11: Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhờt toàn hệ thống của Ngân hàng Đầu tư

và Phát triển Việt Nam năm 2006 - 2008 56

Bảng 12: Các chỉ số khả năng sinh lời của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt

Nam năm 2006 - 2008 58

Bảng 13: Các chỉ số hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt

Nam năm 2006 - 2008 60

Bảng 14: Các chỉ số về khả năng sinh lời của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt

Nam theo mô hình Camel năm 2006 - 2008 61

Bảng 15: Các chỉ số thanh khoản của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

năm 2006-2008 66

Bảng 16: Các chỉ số về khả năng thanh khoản của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển

Việt Nam theo mô hình Camel năm 2006 - 2008 68

Trang 7

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIÊT TÁT

AIG : Tập đoàn Tài chính quôc tê M ỹ

ALCO : Hội đồng quản lý tài sản N ợ - Có

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

A T M : Thẻ thanh toán điện tử ngân hàng

A U : Vòng quay của tài sản

BASLE : Hiệp định vê tiêu chuân vòn quôc tê được soạn thảo bởi Uy > ì r r r t ban Basle về Giám sát Ngân hàng (còn gọi là Hiệp định Basel)

BIDV : Ngân hàng Đầu tư và Phát triựn Việt Nam

BIS : Ngân hàng thanh toán quốc tế

BTA : Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ

CAR : Hệ số an toàn vốn tối thiựu (còn gọi là tỷ lệ BIS, Cooke)

CBS : Dự án hiện đại hóa công nghệ ngân hàng

CIC : Trung tâm thông tin tín dụng

DPRR : Dự phòng rủi ro

DPTTN : Dự phòng tổn thất nợ

É C : Vốn chù sở hữu

EM : Số nhân vốn chủ sở hữu

EU : Cộng đông chung Châu A u

FED : Cục Dự trữ Liên bang Mỹ

LNTT : Lợi nhuận trước thuế

LNST : Lợi nhuận sau thuế

MIS : Hệ thống thông tin quản lý

N H N N : Ngân hàng Nhà nước

N H T M : Ngân hàng thương mại

N N V N : Nhà nước Việt Nam

N I : Lợi nhuận sau thuế

NPLs : N ợ xấu

r

Trang 8

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

PC : Máy tính cá nhân

PM : Tỷ suất lợi nhuận

POS : Diêm châp nhận thanh toán điện tử t r

QĐ-HĐQT : Quyết định của Hội đồng quản trị

QĐ-NH : Quyết định của ngân hàng

QĐ-NHNN : Quyết định của Ngân hàng Nhà nước

ROA : Sức sinh lời của tài sản

ROE : Sức sinh lời của vốn chủ sở hỹu

SBV : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 9

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

LÒI MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

"Lợi nhuận càng cao, rủi ro cũng càng l ớ n " - đó là một triết lý kinh tế đã được kiểm nghiệm rất nhiều qua thực tế N ó có thể được sử dụng để cảnh báo nhà đầu tư trong tất cả hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực ngân hàng - một ngành công nghiệp kinh doanh dịch vụ tài chính siêu lợi nhuận

và ngày càng phát triển mạnh trong nhứng năm gần đây Trước x u thế toàn cầu hoa nền kinh tế đang được đẩy mạnh, sự phát triển của ngân hàng đã có nhứng phát triển vượt bậc về số lượng, kéo theo đó, chất lượng cũng phải được cải thiện

để giứ được mức cân bằng trong sự phát triển của m ỗ i quốc gia và của toàn thế giới Thế mà, kể từ nhứng năm 1970 cho đến nay, thế giới đã phải trải qua 3 cuộc khủng hoảng tài chính lớn trong đó có hai cuộc khủng hoảng mang tính chất toàn cầu là cuộc khủng hoàng nhứng năm 1980,1990 và cuộc đại khủng hoảng năm 2008 m à thế giới vẫn đang phải chịu hậu quả nặng nề và tìm hướng khắc phục hậu quả, cải thiện nền kinh tế toàn cầu Điều đó cho thấy chất lượng của việc thúc đẩy hoạt động, mở rộng thành lập thêm các ngân hàng thương mại mới hay các chi nhánh m ớ i hiện đang cần phải xem xét, phân tích và bàn bạc kỹ lưỡng Trong x u hướng này, nền kinh tế nói chung và ngành công nghiệp tài chính ngân hàng của Việt Nam nói riêng cũng bị ảnh hưởng rất lớn, yêu cầu là chúng ta cần phải có một cơ chế giám sát, kiểm soát tài chính chặt chẽ được đưa

ra bởi Ngân hàng N h à nước và các ngân hàng thương mại phải tuân thủ theo Bên cạnh đó, không chỉ nhằm mục đích vĩ m ô của N h à nước m à bản thân các ngân hàng thương mại cũng phải có các biện pháp "tự cứu mình" thoát khỏi nhứng rủi ro cực kỳ ghê sợ này Trong đó, giải pháp hiệu quả nhất chính là thực hiện phân tích tài chính để tự đánh giá hoạt động của mình một cách chuyên nghiệp nhằm phục vụ cho công tác quản trị, dự bảo rủi ro hiệu quả

Một trong các phương pháp phân tích tài chính được công nhận rộng rãi đối v ớ i việc phân tích tài chính ngân hàng là phương pháp Camel được xây dựng

ở M ỹ từ nhứng năm 1980 dựa trên việc phân tích các nhân tố cả định tính và định lượng M ô hình Camel rất hứu ích cho các nhà phân tích tài chính cũng như nhà quản lý ngân hàng trong việc đánh giá và đưa ra d ự đoán sự lành mạnh của

tổ chức mình một cách đáng tin cậy, tò đó họ có thể nhận biết nhứng cơ hội kinh

Trang 10

Đại học Ngoại nương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

doanh, những dấu hiệu rủi ro và đưa ra các quyết định họp lý nhằm nâng cao khả

năng sirửi lời của ngân hàng

Hiện nay, việc áp dụng m ô hình Camel vào phân tích tài chính của các

ngân hàng Việt Nam còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện Ngân hàng Đ ầ u tư và Phát

triển Việt Nam ( B I D V ) là ngân hàng thương mại đã trải qua thời gian hoạt động

52 năm v ớ i những thăng trầm trong quá trình hình thành và phát triển Trước

những thách thẩc của x u thế hội nhập kinh tế quốc tế về trình độ quản lý, vốn,

công nghệ, các tiêu chuẩn về kế toán và kiểm toán thì công tác phân tích tài

chính của B I D V càng trở nên quan trọng để giúp các nhà lãnh đạo đưa ra các

quyết định quản lý kinh doanh phù họp, nâng cao năng lực cạnh tranh đê chiên

thắng trong công cuộc cạnh tranh khốc liệt đang diễn ra

Nhận thấy được tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác phân tích tài

chính tại B I D V cũng như tính hữu ích của m ô hình Camel trong phân tích tài

ỉ * • *"

chính ngân hàng, em đã quyết định lựa chọn đê tài: "Áp dụng mô hình Camel

trong phân tích tài chính tại Ngân hàng Đâu tư và Phát triẽn Việt Nam" đê

nghiên cẩu cho khoa luận của mình

Mục đích nghiên cẩu

Hiểu được sự cần thiết áp dụng m ô hình Camel trong phân tích tài chính

tại các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung cũng như Ngân hàng Đ ầ u tư

và Phát triển Việt Nam nói riêng, em đi vào nghiên cẩu đề tài khóa luận của

mình với mục đích:

Thông qua việc nghiên cửu đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình, từ việc

nghiên cẩu lý thuyết phân tích tài chính ngân hàng thương mại, m ô hình phân

tích tài chính chuẩn quốc tế, đến việc phân tích hoạt động của Ngân hàng Đ ầ u tư

và Phát triển Việt Nam bằng Camel, r ồ i đưa ra một số giải pháp nhằm áp dụng

m ô hình này trong công tác phân tích tài chính của Ngân hàng nhằm nâng cao

hiệu quả quản trị đối v ớ i tổ chẩc

B i ế t được một số m ô hình phân tích phân tích tài chính ngân hàng thương

mại, đồng thời sau đó có thể nắm bắt và áp dụng lý thuyết của các m ô hình được

cho là tối ưu nhất trong tình hình kinh tế tài chính hiện nay sao cho phù hợp và

đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình thực hành nghề nghiệp trong lĩnh vực đầu

tư tài chính ngân hàng sau này của bản thân sau k h i tốt nghiệp Đ ạ i học N g o ạ i

Thương

Trang 11

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kỉnh tê và Kinh doanh Quốc tê

Thêm vào đó, thông qua việc tìm hiểu thực trạng phân tích tài chính cũng như thực hiện phân tích hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, em có thể tìm hiểu sâu kỳ hơn về một trong những tổ chức kinh tế lớn nhất của Việt Nam tiến tới phát triển thành một Tập đoàn tài chính Ngân hàng tầm cỡ khu vực Và cũng có thể nói đây chính là một cơ hội tốt để bờn thân mình có thể

cọ sát với công việc quờn trị tài chính đối với một doanh nghiệp, và ờ đây chính

là một doanh nghiệp trong ngành tài chính ngân hàng

Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là thực trạng phân tích tài chính tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo những chỉ tiêu mà Ngân hàng lựa chọn, cùng với tình hình hoạt động cùa Ngân hàng này thông qua việc thực hiện phân tích tài chính của tổ chức bằng m ô hình Camel

Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện đối với toàn hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Các thông tin, số liệu được lấy tò sách, báo, tạp chí trong nội bộ Ngân hàng, trong nước và một số thông tin nước ngoài cùng với các Báo cáo thường niên của Ngân hàng này trong các năm 2006, 2007,2008 (một sổ thông tin có thể lấy từ các Báo cáo thường niên năm 2003, 2004 và 2005 của Ngân hàng)

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu này nhàm đưa ra những lời lẽ, dẫn chứng mang tính thuyết phục để áp dụng m ô hình phân tích tài chính chuẩn quốc tế Camel một cách hiệu quờ trong công tác phân tích hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Vì vậy, phương pháp nghiên cứu ở đây vừa mang tính lý thuyết vừa mang tính thực tiễn Các phương pháp chủ yếu được sử dụng là phương pháp m ô tờ, phương pháp tổng họp số liệu, phương pháp định lượng, phương pháp đinh tính, phương pháp phân tích, và phương pháp đánh giá

Kết cấu

Khóa luận bao gồm 3 chương:

Chương ì: Lý luận cơ bờn về m ô hình Camel

Chương li: Phân tích tài chính tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt

Nam bằng m ô hình Camel

Chương IU: Một số giời pháp nhằm ứng dụng hiệu quờ m ô hình Camel

trong phân tích tài chính tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

r

Trang 12

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

C H Ư Ơ N G ì: LÝ LUẬN cơ BẢN VÈ M Ô HỈNH CAMEL

ì Tổng quát về phân tích tài chính ngân hàng thương mại

1 Khái niệm phân tích tài chính ngân hàng thương m ạ i

Phân tích tài chính ngân hàng thương mại là tổng hoa các phương pháp và công cụ cho phép x ử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác nhằm xác định vị trí và đánh giá tình hình tài chính trong quá khứ, hiện tại, đánh giá r ủ i ro, mức độ và hiệu quả hoạt động của N H T M , cung cấp cho các nhà quản lý kinh tế tài chính vĩ m ô cũng như v i m ô những tín hiệu cần thiết để quản lý, điều hành và đưa ra các quyết định phù hợp

N h ư vỉy, bản chất của phân tích tài chính là việc áp dụng các công cụ và

kỹ thuỉt phân tích các d ữ liệu được cung cấp trong các báo cáo tài chính nhằm rút ra những đánh giá có ích, có ý nghĩa cho việc ra quyết định

2 S ự cân ỉhiêt của phân tích tài chính Ngân hàng thương m a i

Sự an toàn của các ngân hàng thương mại luôn là m ố i quan tâm đối v ớ i nhiều người, từ các giới chức điều hành đến các nhà kinh doanh, các cổ đông ngân hàng và những công dân của đất nước B ở i lẽ, những vụ phá sản ngân hàng

có ảnh hưởng bất lợi đối với nền kinh tế hơn các vụ phá sản ờ bất cứ loại hình doanh nghiệp nào khác Các thua lỗ của ngân hàng có thể làm mất v ố n đầu tư của các cổ đông, mất các khoản tiền gửi, bao gồm tiền tiết kiệm m à nhiều người

để dành suốt đời m ớ i có được và vốn hoạt động của nhiều doanh nghiệp tích luỳ trong nhiều thế hệ Các thua lỗ của ngân hàng làm sụt giảm niềm t i n của công chúng và có hiệu ứng xấu lây truyền sàng các khu vực kinh tể khác

Hoạt động của ngân hàng thương mại cũng là hoạt động rất nhạy cảm v ớ i các lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội trong nước và ngoài nước, bất kỳ những chấn động nào của nền kinh tế, chính trị, xã hội đề có thể tác động đến hoạt động của ngân hàng thương mại và đòi hỏi nó phải có điều chỉnh phù hợp

Vì thế, có thể tránh cho ngân hàng những nguy cơ có thể đưa đến sự phá sản, để phát hiện những dấu hiệu, nguy cơ r ủ i ro, người ta phải tìm những công

cụ báo động, để phát hiện sớm những khó khăn của ngân hàng trước k h i nhưng khó khăn đó phát sinh hỉu quả sâu sắc và đưa ra các biện pháp x ừ lý kịp thời Một trong những công cụ hữu hiệu là thực hiện phân tích tài chính ngân hàng

Trang 13

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

thương mại Phân tích tài chính ngân hàng thương mại sẽ đưa ra một bức tranh

về thực trạng hoạt động tài chính của ngân hàng, xác định đầy đủ, đúng đắn những nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của ngân hàng Vì vậy, phân tích tài chính ngân hàng thương mại là một hoạt động quan trọng không thể thiếu đối v ớ i các nhà quản trị ngân hàng, các cấ đông, các nhà đầu tư, cơ quan quản lý và những đối tượng có l ợ i ích liên quan đến hoạt động của ngân hàng

Phân tích tài chính ngân hàng thương mại tại các quốc gia được thực hiện theo những thông lệ khác nhau Tại các nền kinh tế đã phát triển, các Ngân hàng thương mại đã phấi họp cùng nghiên cứu và thống nhất trong việc sử dụng các công cụ cũng như m ô hình chuẩn trong phân tích tài chính, thậm chí hệ thống các chỉ tiêu sử dụng để phân tích và đánh giá cũng đã được thiết kế thành bộ chỉ tiêu chuẩn v ớ i các mức chất lượng được tham chiếu Tuy nhiên, ở thị trường m ớ i nấi hay các nền kinh tế chuyển đấi như Việt Nam thì việc sử dụng các công cụ trong phân tích còn chưa thống nhất và đồng bộ cũng như chưa có sự nghiên cứu, tìm tòi sử dụng các công cụ đang được cộng đồng ngân hàng trên thế giới chọn làm công cụ chuẩn trong phân tích Quá trình h ộ i nhập đòi hỏi một luật chơi chung, cạnh tranh toàn cầu đã dẫn đến các tiêu chí đánh giá trong phân tích tài chính ngân hàng thương mại cần phải được thống nhất, khuôn khấ phân tích phải đi theo chuẩn mực quốc tế Vì vậy, việc lựa chọn các công cụ thích họp trong phân tích tài chính là rất quan trọng nhằm x ử lý thông tin một cách hiệu quả, chất lượng để đưa ra nhưng nhận định và đánh giá đúng đắn về hoạt động của ngân hàng cũng như giúp cho ngân hàng hoa nhập vào sân chơi chung trong những cuộc chơi trên thị trường quốc tế

3 Một số m ô hình phân tích tài chính ngân hàng thương mại

3.L Mô hình Dupont

3.1.1 Giới thiệu mô hình Dupont

M ô hình Dupont là một m ô hình phân tích tài chính tại các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng m à ở đó chỉ tiêu sức sinh l ờ i của v ố n chủ sờ hữu (ROE) thường được sử dụng để đo lường khả năng sinh l ờ i

Hoàng Văn Thăng 5 Pháp 4 - K44

Trang 14

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

bằng cách phân tích thành các bộ phận cấu thành để chỉ ra thực trạng quản trị tài chính cũng như tiềm năng và các vấn đề rủi ro của tổ chức

M ô hình phân tích này làm rõ điểm mạnh, điểm yếu ương hoạt động của ngân hàng và nguyên nhân gây ra chúng, nhằm cung cấp công cụ quan trọng cho các nhà quản trị ngân hàng có hướng cải thiỷn khả năng sinh lời của hỷ thống mình

3.7.2 Nội dung của mô hình Dupont

Ì Ì 2 Ì Tỷ số ROE (Return ôn equity)

ROE = N I / ÉC

Trong đó: N I (Nét income): L ợ i nhuận sau thuế của ngân hàng thương mại

É C (Equity capital): vốn chủ sờ hữu của ngân hàng thương mại

Vai trò của chỉ tiêu

Tỷ số này đo lường khả năng sinh lời (lợi nhuận sau thuế kiếm được) trên một đông vòn bỏ vào ngân hàng thương mại

Hầu như các chủ sở hữu đều ưa thích tỷ số ROE cao Tuy nhiên, tỷ số ROE cao không phải lúc nào cũng là tín hiỷu tốt của ngân hàng Ngược lại, nó có thể làm gia tăng mức độ rủi ro cho hỷ thống và yêu cầu các nhà quản trị cần phải nhạy bén trong viỷc kiểm soát ngân hàng

Phân tích thành các bộ phận câu thành

Để thấy được tiềm năng cũng như đánh giá đúng được mức độ rủi ro trong hoạt động ngân hàng dựa trên tỷ số ROE, chúng ta sẽ phân tích ROE thành

2 chỉ tiêu theo công thức sau:

ROE = Lợi nhuận sau thuế / Tài sản X Tài sản / vốn chủ sở hữu

= ROA X EM Trong đó: ROA (Return ôn assets): Sức sinh lời kinh tế của tài sản của ngân hàng thương mại

EM (Equity multiplier): số nhân vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại (đo lường độ bẩy tài chính của ngân hàng)

EM: tỷ sổ này đo lường mồi đồng vốn chủ sở hữu của ngân hàng thì sẽ tài trợ bao nhiêu đồng tài sản EM càng lớn, độ bẩy tài chính càng cao và ngân hàng càng sử dụng nhiều nợ phải trả tài trợ cho tài sản Điều này cũng có nghĩa là làm tăng nguy cơ rủi ro trả nợ của ngân hàng Vì vậy, các nhà quản trị ngân hàng

Trang 15

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

ì Á 22 Tỷ số ROA

Vai trò của RŨA

ROA phản ánh mức lợi nhuận sau thuế mà ngân hàng thương mại có thể tạo ra được từ Ì đồng tài sản của mình Chỉ tiêu này có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến tỷ số phân tích chính của Dupont - ROE (khi ROA tăng, ROE sẽ tăng và ngược lại)

Đe có thể phân tích và đưa ra được những nhận xét về các yếu tổ ảnh hưởng đến ROE thông qua RŨA, chúng ta phải phân tích các yếu tố cắu thành tỷ

số ROA

Phân tích thành các bộ phận cấu thành ROA

ROA = Lợi nhuận sau thuế / Tổng thu nhập X Tổng thu nhập / Tổng tài sản

= PM X A U Trong đó: PM (Proíĩt margin): phản ánh số lợi nhuận sau thuế mà ngân hàng thương mại thu được trên Ì đồng tổng thu nhập

A U (Asset utility): phản ánh tổng thu nhập (trong và ngoài lãi) mà ngân hàng thương mại đạt được trên Ì đông tài sản

PM, A U đều tỷ lệ thuận với R Ũ A và ROE PM đo lường khả năng tiết kiệm chi phí của ngân hàng thương mại Khi ngân hàng kiểm soát chi phí càng tốt thì lợi nhuận đạt được càng cao Còn A U đo lường khả năng tạo ra thu nhập của tài sản mà ngân hàng đang nắm giữ Thu nhập từ Ì đồng tài sản càng cao thì lợi nhuận của ngân hàng cũng lớn theo Tuy nhiên, cũng như chỉ số ROE hay

PM khi PM và A U cao cũng có thể dẫn đến các vắn đề về rủi ro khiến các nhà quản trị ngân hàng cần phải chú ý Đ ể có thể hiểu và đánh giá đúng hơn về mức

độ yêu cầu quan tâm đó, chúng ta sẽ đi phân tích các chỉ tiêu PM và A U thành các yếu tố cắu thành khác nữa

Trang 16

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

thương mại Tuy nhiên, việc giảm các tỷ số này đều làm tăng khả năng sinh l ờ i của ngân hàng nhưng cũng có thể tạo ra tình huống có vấn đề của tổ chức Những vấn đề rủi ro sẽ được nhận biết và phân tích rõ hơn về mức độ ảnh hưởng của nó tồi khả năng sinh lời của ngân hàng nếu chúng ta tiếp tục phân tích các tỷ

sổ này thành các yếu tố cấu thành khác nữa (VD: Tỷ suất chi phí ngoài lãi có thể phân tích chi tiết theo từng loại chi phí bao gồm chi phí nhân viên, chi phí tài sản khác )

Ì Ì 2.4 Các yếu tố cấu thành A U

A U = Thu nhập lãi / Tổng tài sản + Thu nhập ngoài lãi / Tổng tài sản

= Tỷ số thu nhập lãi + Tỷ số thu nhập ngoài lãi

Các tỷ số: Tỷ số thu nhập lãi và Tỷ số thu nhập ngoài lãi cao có nghĩa là ngân hàng sử dụng các nguồn lực của mình có hiệu quả và tạo ra x u hưồng tích cực cho ngân hàng Nhưng cũng cần phải cảnh giác rằng việc tăng cao các tỷ số này cũng kéo theo những kết quả không chắc chắn hay những rủi ro trong hoạt động ngân hàng Vì vậy, chúng ta cần phải phân tích chi tiết các chỉ tiêu này như

là một công cụ có giá trị trong quá trình đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng (VD: Tỷ số thu nhập lãi có thể được quan sát bằng cách phân tích thu nhập thành thu nhập lãi kinh doanh, thu nhập lãi tiêu dùng )•

N h ư vậy, việc sử dụng m ô hình Dupont trong phân tích tài chính ngân hàng thương mại có ý nghĩa rất quan trọng N ó góp phần vào việc đánh giá tài chính hiện tại, dự đoán tiềm năng tương lai, hay so sánh mức đảm bảo hoạt động tài chính giữa các ngân hàng v ồ i nhau hoặc v ồ i toàn ngành Điều đó phục vụ rất lồn cho các đối tượng sử dụng thông tin trong quá trình ra các quyết định đầu tư kinh tế một cách hiệu quả

3.2 Mô hình Camel

3.2.1 Sự ra đời của mô hình Cameỉ

Camel là phương pháp phân tích ngân hàng được xây dựng ở M ỹ t ừ những năm 1980 bởi U y ban giám sát của Ngân hàng Thanh toán quốc tế Ngày nay, phương pháp này được coi là một phương pháp chuẩn và được công nhận rộng rãi trên thế giồi đối v ồ i việc phân tích tài chính trong ngành ngân hàng Đây là một công cụ rất hữu ích trong việc đưa ra các d ự đoán liệu ngân hàng có lành mạnh hay không và nó cho phép các nhà phân tích tài chính xác định giá trị

Trang 17

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

Theo m ô hình này, các nhà phân tích phải phân tích tài chính của ngân hàng thương mại đối v ớ i cả các nhân tố đinh tính và định lượng Camel là chừ viết tắt bằng tiếng A n h của 5 nhân tố m à theo nhận định của cộng đồng ngân hàng thế giới, muốn duy trì được tính lành mạnh và ổn định của một ngân hàng, cần phải có 5 yếu tố này Đ ó là:

c (cáphai): v ố n của ngân hàng

A (asset quality): Chất lượng tài sản

M (management ability): Năng lữc quản lý

E (earning): K h ả năng sinh lời

L (liquidity): K h ả năng thanh khoản

r r •> ì r >

Các yêu tô của m ô hình Camel đã đưa ra nhưng diêm nôi bật nhát vê tình hình tài chính của ngân hàng và các yếu tố này được đặt dưới những điều kiện của m ỗ i quốc gia về môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp Trong môi trường kinh tế và luật pháp của một quốc gia, công việc của nhà phân tích là xác định được mức độ an toàn v ố n của một ngân hàng, chất lượng tài sản, nguồn v ố n và các khoản đầu tư, hiệu quả công tác quản trị, khả năng thanh khoản, khả năng sinh lời, và duy trì lợi nhuận Đây không phải là một công việc dễ dàng nhưng lại có tính khả thi cao k h i sử dụng khung hành động Camel trong phân tích

Camel dễ làm ta liên tường đến hình tượng con lạc đà đang tải những kiện hàng nặng nề đi trong sa mạc N h à quản trị ngân hàng cũng phải chịu một gánh nặng về công việc và trách nhiệm tương tữ trong việc tạo lập và duy trì vị thế ngân hàng trong môi trường kinh doanh tiền tệ đầy cạnh tranh khắc nghiệt

3.2.2 ứng dụng cùa mô hình Camel ở các quốc gia trên thế giới

Camel được đưa ra và sử dụng như một quy tắc chuẩn trong công tác phân tích tài chính nhằm giám sát tài chính đối v ớ i một tổ chức tín dụng Đây không phải là một chuẩn mữc luật lệ, quy định các tổ chức tài chính đều phải tuân thủ trong hoạt động phân tích giám sát tài chính m à chỉ là m ô hình có tính chất tham khảo giúp các ngân hàng có thể tham chiếu để đánh giá tình hình hoạt động của mình một cách hiệu quả N ă m 1997, các yếu tố cấu thành của Camel được bổ sung thêm một nội dung nữa là mức độ nhạy cảm v ớ i thị trường của các ngân hàng (S - Sensitivity) Tuy nhiên, ở hầu hết các quốc gia phát triển, người ta chỉ

sử dụng m ô hình Camel thay cho Camels để phân tích đánh giá năng lữc hoạt động tài chính của các tổ chức tài chính ở quốc gia mình Thậm chí, Ngân hànơ

Trang 18

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

trung ương cũng như các ngân hàng thương mại ờ một số nước như Nepal, Kenya lại sử dụng Cael (vốn, tài sản, sinh lời, thanh khoản - Capital, Assets, Earnings, Liquidity) thay cho Camel Ta có thể lấy một vài ví dụ: Hồng Kông sử dụng m ô hình Camel (vốn, tài sản, quản lý, thu nhập, thanh khoản) để đánh giá mức độ lành mạnh của các tổ chức tài chính; Hàn Quốc sử dụng m ô hình Camels (vốn, tài sản, quản lý, thu nhập, thanh khoản và thử nghiệm chằu đựng cực điểm

- Capital, Assets, Management, Earnings, Liquidity and Stress testing)

r

Còn ở Việt Nam, hiện nay Ngân hàng Nhà nước cũng đã đưa ra các quyêt đằnh về việc đánh giá, xếp hạng các tổ chức tín dụng bằng phương pháp Camel Điều này được thể hiện thông qua Quyết đằnh của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước số 400/2004/QĐ-NHNN ngày 16/04/2004 ban hành qui đằnh về việc xếp loại của Ngân hàng thương mại cổ phần của Nhà nước và nhân dân Trong đó qui đằnh việc sử dụng các nội dung về vốn tự có, Chất lượng hoạt động, Công tác quản trằ, kiểm soát, điều hành, Kết quả kinh doanh và Khả năng thanh khoản để thực hiện phân tích, giám sát các ngân hàng thương mại cổ phần Điều đó có nghĩa là Ngân hàng trung ương Việt Nam đã sử dụng Camel trong công tác quản lý hệ thống tài chính ngân hàng của mình Tuy nhiên, trong số tất cả các ngân hàng thương mại Việt Nam, người ta chưa hề sử dụng m ô hình Camel, Cael hay Camels theo đúng nghĩa thực sự của nó trong công tác phân tích tài chính phục vụ ra quyết đằnh hoạt động hiệu quả của Ban lãnh đạo ngân hàng Ở đó, các cán bộ phân tích tài chính hay các Phòng Phân tích tài chính mới chỉ đưa ra cho mình một sổ lượng không nhiều các chỉ tiêu phục vụ cho công việc của mình, và trong số đó cũng chỉ có rất ít tiêu chuẩn của Camel được ứng dụng Đó là một điểm yếu rất lớn đối với các tổ chức tài chính Việt Nam cần phải được khắc phục nhanh chóng để

có thể dự đoán và ừánh được nhiều hơn những rủi ro trong hoạt động tài chính ngân hàng của mình

l i Nội dung m ô hình Camel

1 Nội dung m ô hình Camel

LI Phân tích nguồn von

Một ngân hàng thương mại cân phải có vòn vì ba lý do: Một là đê bù đáp những tổn thất không mong đợi; Hai là đảm bảo sự an toàn cho người gửi tiền cũng như các chủ nợ; Ba là đảm bảo tuân thủ những qui đằnh của cơ quan quản

lý đặt ra nhằm bảo vệ người gửi tiền cũng như ổn đằnh toàn bộ hệ thống ngân hàng Trên thực tế, vốn của ngân hàng được xem như một tấm nệm cho những

Trang 19

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

ì r r ì

trường họp tôn thát Mức độ vòn càng cao cho phép nhà quản trị theo đuôi

những cơ hội kinh doanh với những rủi ro cao hơn Mức độ vốn thấp sẽ thu hẹp

mục tiêu của nhà quản lý

Mức độ an toàn vốn liên quan đến số vốn của cổ đông sẵn sàng cho hoạt

động kinh doanh của ngân hàng v ố n là bao nhiêu phụ thuộc vào qui m ô và các

nghiằp vụ m à ngân hàng thực hiằn Nhìn vào qui m ô của bảng cân đối kế toán,

chúng ta có thể thấy rằng, danh mục các khoản nợ càng nhiều rủi ro thì đòi hỏi

càng nhiều vốn của cổ đông để đảm bảo cho các danh mục này Một ngân hàng

chỉ mua trái phiếu chính phủ hoặc chỉ thực hiằn các khoản cho vay ngắn hạn có

bảo đảm sẽ không cần phải có nhiều vốn như một ngân hàng cùng qui m ô nhưng

có các khoản cho vay không bảo đàm đến các doanh nghiằp nhỏ Vì loại ngân

hàng thứ hai có nhiều rủi ro hơn nên người ta mong muốn có nhiều vốn hơn để

bảo vằ những người chủ nợ tránh khỏi tổn thất Tuy nhiên, phần thưởng cho các

cổ đông ở ngân hàng thứ hai này là: rủi ro cao sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn

nếu có một sự quản lý vốn họp lý

Như vậy, khi xem xét về vốn, các nhà phân tích thường xuyên nghiên cứu

tới qui m ô vốn chủ sở hữu, khả năng tạo vốn từ lợi nhuận để lại của ngân hàng

và quan trọng nhất là xem xét sự họp lý về vốn của một ngân hàng trong viằc bù

r r t t

đáp các tài sản có rủi ro qua viằc xem xét môi tương quan của von với tông tài

sản qui đổi theo mức độ rủi ro

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là, một mức vốn bao nhiêu là họp lý và an toàn?

Nhà quản trị ngân hàng phải đối mặt với những tình huống khó xử sau:

- Có nhiều vốn sẽ giảm đòn bẩy hoặc khả năng của ngân hàng ừong viêc

tối đa hoa tỷ lằ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) cho các cổ đông; nhưng

- Có quá ít vốn sẽ đặt ngân hàng vào một mức độ bất cân xứng về rủi ro

khi thất bại nếu những chuyằn không may xảy ra

Nhìn chung, các ngân hàng thường thích một mức vốn thấp hơn nhằm tối

đa hoa tỷ lằ cổ tức cho các cổ đông trong khi các cơ quan quản lý cấp cao lại

thích một mức độ cao hơn nhằm đảm bảo sự an toàn cho hằ thống ngân hàng và

tăng cường mức độ ổn định của thị trường

ị Các tỷ lằ chính đo lường mức độ hợp lý và an toàn vốn của ngân

hàng thương mại

r

Trang 20

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

(1) Tỷ lệ BIS (Bank for International Settlements) = vốn tự có / Tài sản có rủi ro

Tỷ lệ BIS hay tỷ lệ Basle lấy tên từ Hội đồng đại diện cho nhóm 12 nước bao gồm: Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Điặn, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ, Luxembourg Hội đồng này hình thành dưới sự bảo trợ của Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) đặt tại Basle - Thụy Sĩ

Mặc dù Hội đồng được thành lập năm 1975 thiết lập các hướng dẫn cho việc giám sát ngân hàng quốc tế nhưng cho đến năm 1984, nó mới theo sát được cuộc khủng hoảng nợ tại các quốc gia đang phát triặn Peter Cooke, Chủ tịch Hội đồng là người dẫn đầu trong việc đặt ra một mức chuẩn tối thiặu cho độ an toàn vốn Hiệp định đạt được thoa thuận năm 1988 gọi là Hiệp định Basle về vốn bao gồm các hướng dẫn cho mức độ an toàn vốn Ương mối quan hệ với rủi ro tín dụng

Theo hướng dan này, tỷ lệ an toàn vốn tối thiếu là 8 % đối với nhòm l o nước thành viên năm 1988 và đề nghị tuân thủ vào năm 1992 Chúng ta cần chú

ý rằng, hướng dẫn BIS chỉ là lời khuyên và không có ràng buộc về mặt pháp lý nhưng các ngân hàng Trung ương thành viên được khuyến khích đi theo nhưng nguyên tắc của Hiệp định đặ có những "thực hành tốt nhất" trong khắp cộng đồng ngân hàng thế giới

Tỷ lệ này còn được gọi là tỷ lệ Cooke Hiện nay, đã có trên 100 nước trên thế giới sử dụng tỷ lệ này N ă m 1996, Hiệp định Basle đã được sửa đổi bổ sung thêm các điều khoản về rủi ro thị trường và có hiệu lực cuối năm 1997 Tháng 06/1999, theo đề nghị của Hội đồng quản trị nhóm các nước thành viên, một số qui định trong Hiệp định Basle được sửa đổi và bổ sung cho phù họp với tình hình thực tiễn hoạt động của các ngân hàng Hiệp định này được gọi là Hiệp định Basle 2

Theo Hiệp định quốc tế này, vốn tự có bao gồm vốn cấp Ì và vốn cấp 2 trong đó:

- Vốn cấp Ì (vốn cơ sở): gồm vốn cổ đông đã góp, thặng dư vốn cổ phần,

dự trừ công khai (các quĩ dự trữ, thu nhập đặ lại) trừ đi lợi thế thương mại v ố n này được xem là sức mạnh và tiềm lực thực sự của ngân hàng

- Vốn cấp 2 (vốn bổ sung): giá trị tăng thêm của tài sản cố định được định giá lại, dự trữ không công khai, dự phòng chung hay dự phòng tổn thất nợ

Trang 21

r p

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

chung, các khoản nợ thứ cấp, các công cụ vốn nợ khác (chứng chỉ đầu tư, trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu tiên )

Vốn cấp Ì cộng với vốn cấp 2 tạo thành vốn tự có của ngân hàng sau khi giảm trừ đi một số khoản mục Các khoản giảm trừ khậi vốn tự có bao gồm phân giá trị giảm đi do đánh giá lại tài sản cố định, các loại chứng khoán đầu tư, các khoản vốn góp tại các công ty con hạch toán độc lập, các khoản lỗ lũy kế

Theo qui định của Hiệp định Basle, các tài sản của ngân hàng (cả Ương và ngoài bảng cân đối kế toán) được phân thành 4 nhóm tương ứng với mức độ rủi

ro của từng nhóm M ỗ i nhóm được gán với Ì hệ số rủi ro tương ứng Tổng tài sản rủi ro của ngân hàng được tính bằng cách nhân tổng tài sản của mỗi nhóm với hệ số rủi ro của nhóm tài sản đó rồi cộng lại Kết quả được "tổng tài sản có rủi ro"

Những yêu cầu về vốn bao gồm:

- Tỷ lệ vốn cấp Ì / tổng tài sản có rủi ro ít nhất phải đạt mức 4 %

- Tỷ lệ tổng số vốn (vốn cấp Ì + vốn cấp 2) / tổng tài sản theo tỷ lệ rủi ro tối thiểu là 8%, trong đậ vốn cấp 2 được giới hạn tối đa là 100% vốn cấp Ì

Mức chất lượng của chỉ tiêu BIS: lớn hơn hoặc bằng 1 0 % đối với các ngân hàng hạng nhất

Ý nghĩa của chỉ tiêu: Chỉ số BIS ngày nay được công nhận là một tiêu chuẩn về mức độ an toàn vốn cho hầu hết các ngân hàng trên thế giới Chỉ số này đại diện cho những nỗ lực đầu tiên nhấn mạnh vào yêu cầu vốn cơ sở tối thiểu cho các ngân hàng trên qui m ô quốc tế

Nhược điểm của chỉ tiêu: Khó khăn đối với việc xác đinh các số liệu để tính toán chỉ tiêu như tài sản rủi ro, mức độ rủi ro phù hợp và các khoản mục ngoài bảng

(2) Hệ số đòn bẩy tài chính = Tổng nợ phải trả / v ố n chủ sở hữu

Hệ số đòn bẩy là một thước đo thông dụng mức độ nợ trên vốn chủ sở hữu được nhiều ngân hàng áp dụng Hệ số này cho biết khả năng huy động vốn của ngân hàng lớn gấp nhiêu lần so với vốn chủ sở hữu Từ đó, chúng ta có thể đo lường vào mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn huy động từ bên ngoài (mức trung bình ở các ngân hàng trên thế giới là 12,5 lần)

(3) Hệ số tạo vốn nội bộ = Lợi nhuận không chia / v ố n cấp Ì

r

Trang 22

f ĩ

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

Hệ số tạo vốn nội bộ cho biết khả năng tăng vốn t ự có của ngân hàng t ừ lợi nhuận để lại H ệ số này càng lớn càng tốt (ở các ngân hàng trên thế giới, hệ

số này trên 1 2 % được coi là tốt)

T ó m lại, một tổ chức tài chính như ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh bằng cách cho vay các khoản tiền vay được từ nhụng người gửi tiền

T h ê m vào đó, ngân hàng cũng sử dụng chính số v ố n của mình để kinh doanh Điều này đòi hỏi một phần trăm nhất định tài sản phải có v ố n tự có của chính ngân hàng Nếu v ố n của ngân hàng rớt xuống bằng 0, ngân hàng sẽ phá sản Vì

lý do này, v ố n được coi là tấm nệm tài chính cho phép ngân hàng trụ lại trong nhụng thời kỳ kinh doanh khó khăn m à không đi đến phá sản

Trên đây đã chỉ ra tầm quan trọng về mức độ an toàn v ố n và các thước đo khác nhau sử dụng để đánh giá chỉ tiêu này M ộ t mức v ố n thích hợp là yếu tố thiết y ế u đối v ớ i sự an toàn của ngân hàng

1.2 Phân tích chất lượng tài sản

Tài sản là phần sử dụng nguồn v ố n đưa vào kinh doanh và duy trì khả năng thanh toán của một ngân hàng Tài sản có chất lượng kém là nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của hầu hết các ngân hàng Quản trị kém trong chính sách cho vay cả trong quá k h ứ và hiện tại luôn là lý do làm nên chất lượng kém của tài sản Điều này dẫn đến áp lực đối v ớ i vị thế về tài trợ vốn cho ngân hàng trong ngắn hạn, kết quả dẫn đến khủng hoảng về thanh khoản hoặc làm cho ngân hàng hoàn toàn phá sản

Việc đánh giá chất lượng tài sản là một trong nhụng khía cạnh khó nhất trong phân tích tài chính ngân hàng Đ ố i v ớ i khó khăn này, nhà phân tích phải đi theo hai hướng:

(Ì) Đánh giá mức độ mạnh yếu Ương quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng (2) Đánh giá chất lượng của các khoản đầu tư và danh mục cho vay bằng việc sử dụng phân tích x u thế và so sánh

Ặ Quản trị rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là sự bộc l ộ nhụng bất lợi tiềm tàng đến l ợ i nhuận và giá trị thị trường của tài sản của tổ chức tín dụng do chất lượng tài sản đã bị giảm đi khi người vay hay đối tác không thể thực hiện được một số cam kết hay vờ nợ

Trang 23

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng N h à nước ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng d ự phòng đế x ử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng: "Rủi ro tín dụng Ương hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoờc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết"

Không giống như các rủi ro khác trong ngân hàng, chính sách và thực tiễn rủi ro tín dụng được thiết kế để phòng tránh hơn là để đo lường, quản trị và rào chắn Những phương pháp đối v ớ i quản trị rủi ro tín dụng bao gồm phòng tránh

và kiểm soát tổn thất

Phòng tránh đưa ra những chính sách xác định các phạm v i thích họp và mong muốn thực hiện Ví dụ như một chính sách túi dụng ngăn cấm việc cho vay bất động sản hoờc cho vay ở các nước đang phát triển - hoờc là Chính phủ

ì

hoờc là các chủ thê kinh doanh

K i ể m soát tổn thất liên quan đến việc duy trì tính đa dạng trong các thành phần của danh mục Ví dụ như cho vay phân biệt theo ngành, k h u vực địa lý, loại nợ, hồ sơ khách hàng, phân tích tín dụng thích hợp, các thủ tục thế chấp

4 Đánh giá chất lượng đầu tư và danh mục cho vay

Ngân hàng thực hiện chức năng như một trung gian tài chính Vì vậy, danh mục tài sản quan trọng nhất của họ chính là các khoản cho vay Tuy nhiên, cũng không nên bò qua các khoản mục đầu tư vào chứng khoán và tiền gửi liên ngân hàng Ngoài tính thanh khoản theo yêu cầu, danh mục những tài sản này cũng đóng góp vào sự tăng trưởng thu nhập của ngân hàng N h à phân tích nên theo dõi mức độ các khoản tiền gửi và hoạt động đầu tư chứng khoán theo thời gian và tác động của sự thay đổi lãi suất vào giá trị của các khoản này Các khoản cho vay và đầu tư chứng khoán thường được thể hiện trong bảng cân đối

kế toán dưới dạng giá trị ghi sổ Điểm này khác biệt so v ớ i các thực tiễn các tổ chức phi tài chính, hầu hết các khoản mục này được thể hiện ờ giá trị thị trường hoờc thấp hơn giá trị ghi sổ Sự phân biệt này là rất quan trọng bởi vì rất nhiều tổ chức tín dụng đã tuyên bố phá sản trong thời kỳ lãi suất cao nếu họ bị yêu cầu điều chỉnh tài sản của họ theo giá thị trường

Đánh giá chất lượng của danh mục các khoản cho vay có một chút thách thức khác biệt N ế u một nhà phân tích có thể kiểm tra m ỗ i khoản vay trong sổ

r

Trang 24

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

sách của ngân hàng thì việc đánh giá có thể được thực hiện Tuy nhiên, có một vài điều cản trở công việc của nhà phân tích Đó là những thông tin không đầy

đủ hoặc mâu thuẫn nhau về danh mục các khoản vay Hoặc, quan trọng hơn là, thiếu sự công khai về chất lượng các khoản cho vay như:

(1) Các khoản cho vay tập trung

(2) Các khoản cho vay có vấn đề và sờ tiền vay quá hạn

(3) Qui m ô thực sự của khoản dự phòng tổn thất

(4) Chi tiết về thời kỳ phân bổ các khoản tổn thất nợ

(5) Chi tiết các khoản vay đã được thu hồi hoặc xoa nợ

Két quả là, cả những sự so sánh bên Ương và bên ngoài đều không có hiệu quả Hơn nữa, quyết định quản trị liên quan hầu hết đến các chỉ dẫn ở trên thường là mang tính chủ quan rất cao Vì vậy, có lẽ thường làm cho các nhà phân tích có một sự tin cậy thái quá vào những phán đoán mang tính cá nhân đời với các vấn đề chất lượng tài sản

Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tài sản

Mức chất lượng của chỉ tiêu: tời đa 1 %

Ý nghĩa của chỉ tiêu: Chi phí dự phòng tổn thất nợ trong một năm phản ánh những thay đổi trong chất lượng cũng như qui m ô của danh mục cho vay Những ngân hàng quản trị tờt và được đánh giá tín nhiệm cao thường ở mức 0,6% đến 1 %

(3) Khả năng bù đắp nợ xấu

Khả năng bù đắp nợ xấu = Dự phòng tổn thất nợ / Nợ xấu (NPLs)

N ợ xấu được xem là khoản nợ đã quá hạn có nợ gờc và nợ lãi bị quá hạn trả từ 90 ngày trờ lên

Mức chất lượng của chỉ tiêu: > Ì

Ý nghĩa của chỉ tiêu: Hệ thờng các ngân hàng thành viên của BIS đều định nghĩa nợ xấu là khoản nợ đã quá hạn từ 90 ngày trở lên Do sự tỉnh táo đời

Trang 25

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

với rủi ro mà các nhà quản trị ngân hàng có thể bù đắp được các khoản nợ xấu với một khoản dự phòng thích họp bởi tài khoản dự trữ tổn thất nợ, dự trữ này cộng dồn có thể lớn hơn cả các khoản nợ xấu bằng một tỉ lệ biên thích họp

(4) Tỉ lệ nợ xấu

Tỉ lệ nợ xấu = Nợ xấu / Tổng dư nợ

Mức chất lượng của chỉ tiêu: < 1,5%

Ý nghĩa của chỉ tiêu: Chỉ tiêu này đo lường tỉ lệ phần ừăm các khoản nợ

có vấn đề trong tổng dư nợ của ngân hàng Con số mông muốn là 1,5% Tuy nhiên, cũng như bất kỳ chỉ tiêu nào, xu hướng vẫn là yếu tố quan trọng nhất để quan sát Chỉ tiêu này càng cao thì càng đòi hỏi ngân hàng có nhiều vốn hơn để

hỗ trợ cho danh mục các khoản cho vay

(5) Tỉ lệ nợ xấu / Tổng tài sản

Mức chất lượng của chỉ tiêu: < 2 %

Ý nghĩa của chỉ tiêu: Chỉ tiêu này đo lường tỉ lệ phần trăm các khoản nợ

có vấn đề trong tổng tài sản

Nhược điểm của chỉ tiêu: Tương tự như vậy, việc tính toán các chỉ tiêu được giả đinh là các thông tin về tỉ lệ nợ xấu là có sẵn

(6) Danh mục cho vay trên tổng tài sản

Danh mục cho vay trên tổng tài sản = D ư nợ / Tổng tài sản

Chỉ tiêu này cho biết mức độ đa dạng hoa trong hoạt động của ngân hàng Nếu cho vay chiếm tỉ trọng lớn trong tổng tài sản có nghĩa mức độ tập trung tín dụng lớn Ngược lại, nếu ngân hàng có tỉ trọng dư nợ tín dụng trong tổng tài sản nhỏ thì ngân hàng đó hoặc là thiếu các khách hàng vay vốn hoặc là đa dạng hoa được danh mục đầu tư

cả hệ thống ngân hàng do Ngân hàng Trung ương khống chế hàng năm

(8) Tỉ lệ đầu tư tài sản cố định

Tỷ lệ đầu tư tài sản cố định = Giá trị tài sản cố định / vốn tự có

Trang 26

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

Chỉ tiêu này thể hiện phần trăm vốn tự có m à ngân hàng dùng đế mua tài sản cổ định Chỉ tiêu này có ý nghĩa là ngân hàng không được đóng băng quá nhiều vốn tự có vào những tài sản không sinh lời m à không được sử dụng họp lý

để cung cấp tín dụng cho khách hàng và cho các ngân hàng khác hay đảm bảo thanh khoản

Hiện nay, theo qui ưạc quốc tế thì tỷ lệ này không vượt quá 20% Còn theo qui định của Việt Nam tại Điều 88 Luật các TCTD năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật các TCTD năm 2004, tỷ lệ này là không quá 50%

Két luận:

Rủi ro tín dụng là nội dung chính ương phân tích chất lượng tài sản Một ngân hàng ra những quyết định tín dụng kém chất lượng sẽ không thể tiếp tục tồn tại Khi một ngân hàng cho vay một khoản vay xấu, không có khả năng hoàn trả nợ, nó là nguyên nhân gây ra tình trạng mất, giảm vốn Ở một góc độ khác, chất lượng tài sản là nhân tố quan trọng hàng đầu đóng góp vào lợi nhuận và sức mạnh tài chính dài hạn của ngân hàng

Trong quá trình đảm bảo chất lượng hoạt động của mình, các nhà quản trị ngân hàng cần phải đặc biệt chú ý đối vại hỗn họp danh mục cho vay đa dạng (ngắn hay trung hạn, có đảm bào hay không có đảm bảo, cố định hay thả nổi, các kỳ hạn hoàn trả), hoặc các khoản cho vay theo ngành hoặc theo địa lý Đồng thời, họ cũng không nên bỏ qua các tài sản có sinh lời khác (tiền gửi liên ngân hàng, đầu tư chứng khoán )* Các chỉ tiêu về chất lượng tài sản trên đây

đã chỉ dẫn cho các nhà phân tích xác định chắc chắn liệu các ngân hàng có sẵn sàng đối mặt vại các khoản tín dụng, khả năng sinh lời và những khó khăn trong tương lai

L3 Phân tích khả năng quản lý

Theo m ô hình Camel, phân tích nhân tố quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng trong phân tích cũng như đưa ra các đánh giá về tình hình hoạt động và tài chính NHTM Bởi vì sự quản lý và các quyết định quản lý chắc chan sẽ có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tại hoạt động của ngân hàng cũng như sự thành công trong kinh doanh Chính vì thế, các nhà phân tích cần tập trung phân tích sâu yếu tố quản lý của các N H T M trong quá trình phân tích để đánh giá được tình hình tài chính các N H T M đúng đắn hơn

Trang 27

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

Một vài nhà phân tích cho rằng quản trị là yếu tố đơn lẻ quan trọng nhát trong m ô hình Camel Nhưng đánh giá chất lượng quản lý cũng khó khăn như đánh giá chất lượng tài sản hay các nhân tố khác Đó là những khó khăn do tính chủ quan cao và bản chất phi tài chính của các hành động quản lý Thông qua các cuộc họp ngân hàng và các cuộc điều tra khảo sát thị trường, nhà phân tích

có chút ít tin cậy để phân tích chất lượng và khả năng quản lý

Các quyết định quản trị đóng một vai trò quan trọng đối với sự thành công của các ngân hàng Một bộ máy quản trị bất tài có thể đưa một ngân hàng có tiềm lực tài chính đến bờ vực phá sản lúc nào không hay Các quyết định quản trị

có những ảnh hường cả trực tiếp và gián tiếp tới:

• Chất lượng tài sản

• Mục tăng trưởng tài sản

• Mục thu nhập

• Chiến lược tài trợ

Tát cả các quyêt định quản trị, chúng đêu có ảnh hưởng trực tiêp tới niêm tin của nhà đầu tư và niềm tin của người cấp tín dụng hay người gửi tiền Nhìn chung, đánh giá về mặt quản trị nên đi kèm với việc đánh giá các chỉ tiêu khác trong m ô hình Camel Hơn nữa, nếu ban quản trị điều hành đã từng có kinh nghiệm thì những thành tích trong quá khụ có thể được đánh giá

Nhà phân tích có thể thông qua các nguồn thông tin sau để đánh giá chất lượng của công tác quản lý:

o Các cuộc phỏng vấn trực tiếp

o Sự am hiểu thị trường

o Ý kiến của các ngân hàng tương đương

o Qui định của ngân hàng

o Khách hàng

o Các tổ chục đánh giá tín nhiệm

Tóm lại, mặc dù việc đánh giá chất lượng quản trị là tương đối chủ quan nhưng đó là điều cần thiết để các nhà phân tích tài chính đưa ra các ý kiến mang tính hệ thống về triết lý quản trị, phong cách quản trị và cách tiếp cận chiến lược khi hoạt động một ngân hàng Chất lượng quản trị yếu kém tất yếu sẽ dẫn đến thất bại dưới nhiều hình thục, hoặc là chất lượng tài sản yếu kém, kém thanh khoản hoặc những mạo hiêm lớn

Trang 28

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

1.4 Phân tích khả năng sinh lời

K h ả năng sinh lời phản ánh khá tổng quát kết quả của các hoạt động kinh doanh Chính vì thế để thấy rõ hơn được kết quả đó cần phải xem xét và thực hiện phân tích các nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp tới các chỉ

số đó

L ợ i nhuọn là chỉ dẫn t ố i cao về thành công hay thất bại trong quản trị thông qua các hoạt động mang tính chiến lược và lãnh đạo Hầu hết các nhà phân tích không thể nghi ngờ tầm quan trọng của khả năng sinh lời:

K h ả năng sinh lời của ngân hàng giúp cho việc hình thành v ố n và là điêu kiện cần để hấp dẫn các nhà đầu tư và giúp tổ chức tín dụng tăng trưởng Điều này vừa thể hiện khả năng quản trị có hiệu quả vừa là phong vũ biểu của những tác động của chính sách tài chính vĩ m ô đối v ớ i các tổ chức ngân hàng M ồ i tố chức tín dụng cần phải có mức l ợ i nhuọn tốt để bù đắp những tổn thất nợ và hình thành các khoản d ự phòng hợp lý M ứ c lợi nhuọn ổn định và tăng trưởng sẽ gây dựng niềm tin của công chúng vào ngân hàng Rất nhiều nhà ngân hàng tin rằng,

sự tin tưởng của dân chúng vào tổ chức tín dụng của họ là tài sản có giá trị nhất, bởi vì nó cho phép họ tối thiểu hoa các chi phí cho vay và cung cấp cho người vay khoản v ố n họp lý nhất M ứ c l ợ i nhuọn tốt còn là điều kiện cần thiết đề duy trì và đứng vững của một tổ chức tín dụng Thực ra, một ngân hàng có tiếng là chất bôi trơn cho phép ngân hàng tiếp tục các chức năng của mình

T ó m lại, khả năng sinh l ờ i là rất quan trọng bời ba lý do:

Ì Giúp bù đắp các khoản tổn thất

2 Cần thiết cho một cấu trúc tài chính cân bằng

3 Là phần thưởng của cổ đông

L ợ i nhuọn của ngân hàng được tạo ra từ bốn nguồn thu chính:

Trang 29

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

Chất lượng của khoản thu nhập là điều m à nhà phân tích ngân hàng quan tâm nhất Vì vậy, khi phân tích khả năng sinh lời của ngân hàng, họ thường quan tâm đến các câu hỏi sau: Khoản thu nhập có ổn đinh không, có tin cậy không, so với các ngân hàng đồng hạng thì khoản thu nhập đó tốt thế nào?

Bằng việc đi theo từng bước trong phân tích khả năng sinh l ờ i , các nhà phân tích có thử biết được hiệu quả của các khoản sinh lời

Các bước trong phân tích khả năng sinh lời bao gồm:

Bước 1: Phân tích thu nhập lãi ròng

Thu nhập lãi ròng là khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí lãi N ó thử hiện khoản tiền lãi thu được từ danh mục các khoản cho vay luôn lớn hơn khoản lãi trả cho người gửi tiền hoặc các khoản tiền đi vay

Chỉ tiêu phân tích:

a Lãi ròng biên tế

Lãi ròng biên tế = Thu nhập lãi ròng / Tổng tài sản bình quân

M ứ c chất lượng của chỉ tiêu: > 3 %

Ý nghĩa của chỉ tiêu: Lãi ròng biên tế thử hiện cách thức đo lường hiệu quả sử dụng tài sản M ộ t mức lãi ròng biên tế tốt là chỉ dẫn về:

• T h u nhập từ khoản cho vay tốt

• Tỷ lệ chi phí thấp

• Hiệu quả sử dụng tài sản

• K h ả năng thu được lợi nhuận tò nguồn vốn (nợ phải trả)

Nhược điửm của chỉ tiêu: K h i ngân hàng hướng tới các hoạt động tạo ra nhiều nguồn thu phí thì lãi ròng biên tế sẽ giảm đi tầm quan trọng k h i đo lường khả năng sinh lời của tài sản

b Chênh lệch lãi suất đầu ra - đầu vào

Chênh lệch lãi suất (%) = Thu từ lãi / Tài sản sinh lời bình quân - Chi trả lãi / N ợ phải trả lãi bình quân

Chênh lệch lãi suất đo lường hiệu quả đối v ớ i hoạt động trung gian của ngân hàng trong quá trình huy động vốn và cho vay, đồng thời nó cũng đo lường cường độ cạnh tranh trên thị trường của ngân hàng Sự cạnh tranh gay gắt có x u hướng thu hẹp mức chênh lệch lãi suất của ngân hàng N ế u các nhân tố khác không đổi, chênh lệch lãi suất của ngân hàng sẽ giảm k h i sự cạnh tranh tăng lên

Trang 30

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

buộc H ộ i đồng quản trị phải cố gắng tìm ra những biện pháp tăng thu ngoài lãi (như thu phí từ dịch vụ mới ) để bù đắp mức chênh lệch lãi suất bị mất

Bước 2: Phân tích các khoản thu nhập khác

Các khoản thu nhập khác bao gồm các khoản thu như phí và hoa hông, kinh doanh ngoại tệ và kinh doanh chứng khoán

Chủ tiêu phân tích: Thu nhập khác / Tổng thu nhập hoạt động

M ứ c chất lượng của chủ tiêu: Không có một mức độ xác định nào đối v ớ i chủ tiêu này M ứ c chất lượng phụ thuộc vào mức độ phân bổ trong quá k h ứ tổng thu nhập hoạt động Tuy nhiên, một mức ồn định 1 % hoặc lớn hơn trên tổng tài sản C ó được xem là một mức tốt vì các ngân hàng ngày càng tăng tầm quan trọng của thu nhập từ phí dịch vụ và các hoạt động ngoài bảng

Bước 3: Phân tích chi phí hoại động

Chi phí hoạt động gọi là các khoản chi phí ngoài lãi, bao gồm lương và các khoản liên quan đến lương, khấu hao, thuế, quản lý và chi phí khác

Chủ tiêu phân tích: Chi phí trên thu nhập = Tổng chi phí hoạt động / Tổng thu nhập hoạt động

M ứ c chất lượng của chủ tiêu: t ừ 55 đến 6 0 %

Ý nghĩa của chủ tiêu: Quản lý chi phí hoạt động là một nhiệm vụ cơ bản của quản lý lợi nhuận Thành công trong quản lý lợi nhuận là tỷ lệ chi phí trên thu nhập ổn đinh và thấp hơn so v ớ i các ngân hàng đồng hạng và giảm dần theo thời gian

Nhà phân tích có thể thiết lập cách thức đo lường của mình về ý nghĩa của lương Các tỷ lệ như lương và các lợi ích khác trên tổng tài sản hoặc tổng lương

và lợi ích trên tổng thu nhập hoạt động có thể thể hiện các mức và tác động của lương vào thu nhập

N ế u có được thông thi liên quan đến số lượng nhân viên làm việc trong ngân hàng, nhà phân tích có thể xác định một vài khía cạnh của rủi ro hoạt động Rủi ro hoạt động liên quan đến hiệu quả chi phí trong hoạt động của ngân hàng Các chủ số điển hình tập trung vào tổng tài sản có trên Ì nhân viên hoặc tổng chi phí nhân sự trên Ì nhân viên

Trang 31

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

Bước 4: Phân tích dự phòng tồn thất nợ

Dự phòng tổn thất nợ còn được gọi là dự phòng nợ xấu thể hiện sự phân

bổ định kỳ đối với các khoản dự trữ cho tổn thất nợ trên bảng cân đối kế toán

Các chỉ tiêu phân tích:

Chỉ tiêu Ì: Dự phòng tổn thất nợ / Tổng tài sản bình quân

Mức chất lượng của chỉ tiêu: < 0,5%

Chỉ tiêu 2: Dự phòng tổn thất nợ / Tổng dư nợ bình quân

Mức chất lượng của chỉ tiêu: < 1 % ; lý tường là < 0,5%

Chỉ tiêu 3: Thu nhập trước thuế, các khoản mục bất thường và dự phòng

nợ tổn thất / Dự phòng tổn thất nợ

Mức chất lượng của chỉ tiêu: > Ì

Ý nghĩa của các chỉ tiêu: M ồ i chỉ tiêu ờ trên là một thước đo đo lường sự tác động của chi phí hàng năm hoặc định kỳ đối với khả năng sinh lời để thiết

ì r t '

lập một mức dự trữ đủ đê bù đáp các tôn thát nợ

Nhược điểm của chỉ tiêu: Các chi phí thường bị ảnh hường rất nhiều bời mức độ thận trọng của quản lý, các giới hạn chi phí cho phép được xác định bời

cơ quan thuế và ý kiến của các cơ quan quản lý

Bước 5: Phân tích thu nhập ròng

Thu nhập ròng là điểm mấu chốt của mồi một ngân hàng Thu nhập ròng

là khoản lợi nhuận của ngân hàng sau khi lấy doanh thu trừ đi các khoản chi phí

và thuế thu nhập doanh nghiệp của ngân hàng thương mại

Các chỉ tiêu phân tích:

Chỉ tiêu Ì: Thu nhập ròng / Tổng tài sản bình quân (ROA)

Mức chất lượng của chỉ tiêu: 1 %

Ý nghĩa: Đây là chỉ tiêu thông dụng thể hiện hiệu quả quản lý, khả năng chu chuyển tài sản sinh lời của N H T M thành thu nhập ròng N ó cho biết trung bình 100 đồng tài sản sinh lời đưa vào hoạt động sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho ngân hàng

Chỉ tiêu 2: Thu nhập ròng / v ố n tự có bình quân (ROE)

Mức chất lượng của chỉ tiêu: 10 - 1 5 %

Ý nghĩa của chỉ tiêu: Chỉ tiêu này thể hiện khả năng sinh lời tò vốn góp của các cổ đông (tính hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn tự có của ngân hàng) Ở một khía cạnh khác, ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho

Trang 32

r p

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

các cổ đông của ngân hàng N ó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ

việc đầu tư vào ngân hàng

Giống như bất kỳ một thực thể kinh doanh nào, một ngân hàng phải kiếm

được một mức lợi nhuận để trả cổ tóc cho cổ đông, duy trì tình trạng tài chính

vờng mạnh và ổn định, tăng trưởng Thu nhập là yếu tổ quyết định cuối cùng cho

thành công hay thất bại của ngân hàng Lợi nhuận đo lường khả năng của ngân

hàng trong việc tạo ra giá trị và bằng việc cộng thêm các nguồn lực đe duy trì và

cải thiện nguồn vốn Đó cũng là một thước đo định lượng sự thành công của

quản trị trong phạm vi chát lượng tài sản, kiêm soát và tạo ra doanh thu Băng

việc phân tích các thành phần "khả năng sinh lời" của m ô hình Camel, nhà phân

tích tài chính ngân hàng tìm kiếm sự hiểu biết về tính năng động trong hoạt động

tạo ra lợi nhuận ngân hàng và khám phá sức mạnh nội lực bên trong của triển

vọng trong tương lai của ngân hàng

1.5 Phân tích khả năng thanh khoản

Yếu tố cuối cùng để phân tích tình hình tài chính của ngân hàng là khả năng

thanh khoản Thanh khoản trong quản trị ngân hàng là cần thiết bời hai lý do:

(1) Đ ể thoa mãn yêu cầu đối với các khoản nợ mới m à không cần phải

thu hồi các khoản đang cho vay hoặc bán đi các khoản đầu tư có kỳ hạn như cố

phiếu

(2) Đ ể đáp ứng các khoản rút tiền theo ý muốn của người gửi tiền bất

kỳ lúc nào

Ngân hàng von là tô chức kiêm tiên chủ yêu thông qua đường cong lãi suât,

đó là: các khoản tiền gửi ngắn hạn có lãi suất thấp và cho vay hoặc đầu tư vào các

tài sản có dài hạn hơn ở một tỷ lệ lãi suất cao hơn Việc thanh khoản không ăn khớp

này rõ ràng là tiềm ẩn nhờng nguy hiểm và có nghĩa là ngân hàng phải giờ trong tay

một tỷ lệ tương đối cao các tài sản động (lý tường là 20 đến 3 0 % tổng tài sản) để

đáp ứng các nhu cầu thanh khoản thông thường của khách hàng

Thanh khoản tạo ra sự tin tưởng cho người gửi tiền cũng như người cho

vay Trên thực tế, không có khả năng thanh toán còn tồi tệ hơn cả chất lượng tài

sản thấp và sẽ là nguyên nhân chính gây ra hầu hết thất bại của các ngân hàng

Ngân hàng bị buộc phải đóng cửa khi người gửi tiền không con tin tường vào

các danh mục của ngân hàng và chỉ muốn rút tiền của họ khỏi ngân hàng đó

Trang 33

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

Hơn thế nữa, để bảo toàn thanh khoản của hệ thống ngân hàng, các ngân hàng trung ương thường đóng vai trò là người cho vay cuối cùng để đáp ứng nhu cầu tiền mặt cho các ngân hàng trong trường họp khẩn cấp Nhưng ngân hàng trung ương và Chính phủ cũng có những nguồn lực giới hỗn và nhà phân tích phải thận trọng trong việc giả định các khoản hỗ trợ không giới hỗn cho các ngân hàng có chất lượng tài sản kém Thực tế ở rất nhiều nước, tin đồn về chất lượng tài sản kém cũng đủ để làm cho những người gửi tiền tháo chỗy khỏi ngân hàng dẫn đến những cuộc khủng hoảng về thanh khoản

Đo lường thanh khoản còn khó khăn hơn cả đo lường mức độ an toàn vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời Lý do là bởi vì các ngân hàng thì đa dỗng

về qui m ô và hoỗt động trong các điều kiện hoàn cảnh khác nhau, m à điều đó phụ thuộc vào các điều kiện thị trường của từng nơi, từng vùng, từng quốc giacũng như thị trường quốc tế Kết quả là, phân tích thanh khoản ngân hàng cũng phải đa dỗng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác cũng phụ thuộc vào qui

mô, bản chất và các lĩnh vực hoỗt động của nó Không có một tỷ lệ nào thực sự

có thể đo lường được kích thước nhiều mặt của khả năng thanh khoản cho tất cả các loỗi ngân hàng với nhưng qui m ô khác nhau

Điều đó không có nghĩa là không thể sử dụng một chỉ tiêu nào để đo lường khả năng thanh khoản của ngân hàng Các ngân hàng trung ương ở các quốc gia khác nhau đã đặt ra các mức thanh khoản tối thiểu dựa vào kinh nghiệm

và tình huống thực tế của ngành ngân hàng Bởi vậy, lời khuyên cho nhà phân tích

là phải làm quen với các đòi hỏi mang tính qui định về thanh khoản Hơn nữa, như một phần ương phân tích tài chính ngân hàng, nhà phân tích nên chỉ ra nếu có thể liệu ngân hàng có tuân thủ đúng những tỷ lệ thanh khoản theo qui định hay không hoặc là tỷ lệ của chính quốc gia mà ngân hàng đó hoỗt động hay không

Nói chung, thanh khoản phải được xem xét dưới góc độ là khả năng của ngân hàng trong việc tài trợ cho các khoản nghĩa vụ của nó Các yếu tố thanh khoản nên kiểm tra bao gồm:

ì >

(1) Tính không ôn định của các khoản tiên gửi

(2) Mức độ túi nhiệm của các khoản tài trợ nhỗy cảm với lãi suất (theo các trường họp khác nhau có thể gọi là các khoản tài trợ cho vay, các khoản tiền nóng)

Trang 34

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

(3) K h ả năng chuyển đổi thành tiền mặt của tài sản

(4) Sự ảnh hưởng của thị trường tiền tệ

(5) Hiệu quả của chiến lược và chính sách quản trị tài sản - nguồn vòn

(6) Sự tuân thủ chính sách thanh khoản nội bộ

(7) Bản chất, qui m ô và các dự đoán trước về cam kết tín dụng

Các loại tài sản động

Tài sản động được hiểu là tài sản có khả năng chuyển đổi thành tiền trong một thời gian rất ngửn, thường thì không quá Ì năm Tài sản động của ngân hàng bao gồm:

T i ề n mặt

D ự trữ bửt buộc tại Ngân hàng trung ương

T i ề n gửi ngửn hạn tại các tổ chức tín dụng khác Chứng chỉ tiền gửi

Chứng khoản đến hạn dưới Ì năm hoặc dễ dàng bán ra thị trường Chứng khoản Chính phủ (trái phiếu) sẵn sàng để bán thông qua trung gian hoặc thị trường chứng khoán chính thức

Các chỉ tiêu đo lường khả năng thanh khoản

Chỉ tiêu Ì: Tài sản động / Tổng tài sản

M ứ c chất lượng của chỉ tiêu: 20 đến 3 0 %

Ý nghĩa của chỉ tiêu: Tỷ lệ này được xem là chỉ dẫn đơn giản nhất về độ thanh khoản bằng việc quan sát trực tiếp bảng cân đối kế toán của ngân hàng

Nhược điểm của chỉ tiêu: M ộ t vài tài sản như dự trừ bửt buộc tại ngân hàng thường là không sẵn sàng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản

Chỉ tiêu 2: Tài sản động / Tổng tiền g ử i

M ứ c chất lượng của chỉ tiêu: 30 đến 4 5 %

Ý nghĩa của chỉ tiêu: Đây là tỷ lệ tương tự như chỉ tiêu Ì và cũng thường được sử dụng M ộ t mức cao của tài sản động cho phép ngân hàng chống đỡ v ớ i những tổn thất nhất thời về niềm t i n vào một bộ phận những người gửi tiền Tiền gửi bao gồm tiền g ử i vãng lai và tiền gửi tiết kiệm từ các nguồn ngân hàng và phi ngân hàng

Trang 35

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

Nhược điểm của chỉ tiêu: Các khoản tiền gửi không phải là một thước đo hoàn hảo đối với nhu cầu thanh khoản

Chỉ tiêu 3: D ư nợ / Tổng tiền gửi

Mức chất lượng của chỉ tiêu:

(1) 80 đến 9 0 % đối với các ngân hàng nhỏ, các ngân hàng khu vực

(2) > 100% đối với các ngân hàng lớn, các trung tâm tiền tệ và các ngân hàng mang tính quốc tế (do khuynh hướng trong việc sử dởng các tỷ lệ có ý nghĩa hơn đối với các khoản cho vay trong chiến lược cho vay của họ)

Ý nghĩa của chỉ tiêu: Tỷ lệ này phản ánh khả năng của ngân hàng trong việc tài trợ cho việc tăng trưởng dư nợ bằng các khoản tiền gửi chủ yếu hơn là các khoản đi vay Tỷ lệ này càng cao, thanh khoản càng thấp

Nhược điểm của chỉ tiêu: Giống như bất kỳ tỷ lệ thanh khoản nào, nó chẳng chỉ ra điều gì về nhu cầu các khoản dư nợ trong tương lai cũng như các khoản rút tiền từ tài khoản tiền gửi như mong đợi Và nó không chỉ ra được thanh khoản về tài sản duy trì của các ngân hàng và bản chất của các nguồn vốn khác

Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ tài sản động / Tổng nợ ngắn hạn

Mức chất lượng của chỉ tiêu: 3 0 %

Y nghĩa của chỉ tiêu: chỉ tiêu này thê hiện khả năng thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn của ngân hàng bao gồm tiền gửi ngắn hạn của tổ chức kinh

tể, dân cư, vay N H N N hay TCTD khác bằng các tài sản có ngắn hạn như tiền mặt, tiền gửi ngắn hạn tại N H N N và tiền gửi tại TCTD, đầu tư chứng khoán ngăn hạn

Chỉ tiêu 5: Tổng dư nợ / Tổng tài sản

Mức chất lượng của chỉ tiêu: < 6 5 %

Ý nghĩa của chỉ tiêu: một ngân hàng có khoản dư nợ tăng cao sẽ có tỷ lệ này cao Ngân hàng có thanh khoản có tỷ lệ của tài sản trong các khoản cho vay nhỏ hơn và có nhiều các khoản đầu tư ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, các chứng khoán đầu tư; cả hai đều có thể sẵn sang chuyển đổi thành tiền mặt và có thể dung để cho vay ra ngoài Một tỷ lệ quá cao trong những khoản đầu tư như vậy

và quá ít các khoản cho vay tuy nhiên lại chỉ dẫn thiếu những cơ hội kinh doanh hấp dẫn và như vậy sẽ kéo căng lợi nhuận Tuy nhiên, một mức tăng trong tỷ lệ

Trang 36

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

này có thể chỉ ra thanh khoản thấp hơn và nhu cầu để đánh giá các tỷ lệ thanh khoản khác

Nhược điểm của chỉ tiêu: Tỷ lệ này đã l ờ đi bản chất ngắn hạn của các khoản mục cho vay của ngân hàng

Các chỉ tiêu khác:

M ộ t số chỉ tiêu khác cũng thường được sử dụng bứi các nhà phân tích, đó là:

- Nguồn vốn đi vay / Tổng tài sản

- Chứng khoán đầu tư đến hạn dưới 12 tháng / Tổng tài sản

- (Tiền mặt - D ự trữ bắt buộc + Chứng khoán Chính phủ) / Tổng tài sản

T ó m lại, kém thanh khoản là một trong những nguyên nhân gần nhất gây

ra sự thất bại của ngân hàng, dù cho một tình trạng thanh khoản tốt có thể giúp cho một tổ chức yếu kém duy trì trong những thời kỳ khó khăn Bằng việc xem xét thanh khoản, nhà phân tích tìm kiếm tiếp cận khả năng của ngân hàng trong việc tài trợ cho chính nó trong những thời kỳ khó khăn Các tỷ lệ nêu trên là những kiến thức cơ bản để hiểu về qui m ô rủi ro của ngân hàng được chấp nhận trong phạm v i của thanh khoản

Trên đây là những lý luận cơ bản nhất về các yếu tố của m ô hình Camel khi đánh giá tình hình hoạt động và tài chính của TCTD Tuy nhiên, đối v ớ i các

N H T M , k h i vận dụng m ô hình này trong phân tích tài chính của chính bản thân ngân hàng thì chỉ vận dụng 4 khía cạnh của m ô hình là v ố n , Chất lượng tài sản, Khả năng sinh lời và K h ả năng thanh khoản

2 Ưu, nhược điểm của m ô hình Camel

2.1 Ưu điểm của mô hình Cameỉ

Đ ả m bảo an toàn chất lượng nguồn vốn, nâng cao chất lượng tài sản, đẩy mạnh khả năng sinh lời và giữ mức độ thanh khoản trong mức có thể chấp nhận được nhờ vào năng lực quản lý tốt luôn là những yếu tố cơ bản, là nhiệm vụ và là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị ngân hàng nhằm giúp cho tổ chức mình hoạt động thành công, vừng mạnh ừên thương trường tài chính Việc sử dụng

m ô hình phân tích tài chính Camel với những ưu điểm của nó Ương công tác quản trị sẽ mang lại những túi hiệu, kết quả tốt Ương hoạt động của ngân hàng

Thứ nhất, Camel là m ô hình tổng họp 5 yếu tố đo lường mang tính v i m ô

của một tổ chức tài chính (trong đó có ngân hàng): an toàn vốn, chất lượng tài

Trang 37

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quôc tê

mạnh và độ an toàn trong hoạt động tài chính của một tổ chức tín dụng giúp cho các nhà quản trị ngân hàng có được những công cụ quan trọng, cần thiết để tìm

ra những thiếu sót, bất cập trong hoạt động cung cấp dịch vụ của tổ chức, từ đó

họ có thể đưa ra những giải pháp hữu hiằu để giải quyết, khắc phục những vấn

đề đó Một ngân hàng được quản trị tốt bằng công cụ hữu hiằu như m ô hình phân tích và giám sát tài chính Camel sẽ đứng vừng trong nền công nghiằp tài chính và càng có khả năng thúc đẩy hoạt động nâng cao lợi nhuận với viằc thu hút được một lượng khách hàng lớn nhờ vào uy tín quản lý hiằu quả của mình

Thứ hai, m ô hình Camel bao gồm nhiều chỉ tiêu phân tích có tầm quan

trọng và khả năng ứng dụng cao trong viằc quản trị từng yếu tố cơ bản của một

tổ chức tài chính Các chỉ tiêu đó có thể nói đến là hằ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) hiằn đang được rất nhiều ngân hàng trên thế giới sử dụng hiằu quả trong công tác quản lý chất lượng nguồn vốn Các chỉ số dùng để phân tích tài chính đối với từng nhiằm vụ quyết định trong ngân hàng đều có mối liên hằ chặt chẽ với nhau chứ không mang tính tách rời, độc lập nhau Hơn nữa, các chỉ tiêu dùng

để phân tích yểu tố này cũng có mối liên quan ràng buộc với các chỉ số dùng trong viằc quản trị nhân tố khác của tổ chức tài chính Chính điều đó giúp cho các nhà quản trị ngân hàng có thể nhìn nhận vấn đề một cách sâu sắc, và đưa ra những đánh giá phân tích tổng quát bao hàm được những sự kiằn có mối liên hằ ràng buộc nhau thể hiằn trong tình hình tài chính của tổ chức mình Đồng thời, qua đó họ cũng có thể đưa ra được những quyết sách đúng đắn, chính xác nhằm định hướng hoạt động của ngân hàng mình một cách tốt nhất

Thêm vào đó, trong số những chỉ tiêu dùng để phân tích tình hình hoạt

động của một tổ chức tài chính trong m ô hình Camel lại có những chỉ tiêu quan trọng đã xuất hiằn trong một số m ô hình phân tích khác Điển hình trong số đó phải kể đến các chỉ số R Ũ A và ROE trong m ô hình phân tích tài chính Dupont được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Những chỉ tiêu này đã được rất nhiều tổ chức tài chính trên thế giới ứng dụng hiằu quả trong công tác quản trị của mình Viằc kết họp các chỉ tiêu đã có sẵn mang tính thực tiễn cao với những chỉ số mới có liên hằ chặt chẽ với nhau như đã trở thành một tiêu thức mới trong hoạt động phân tích tài chính đối với các tổ chức túi dụng Một điểm nhấn đặc biằt trong Camel tiến bộ hơn so với các m ô hình phân tích chính là ờ chỗ mồi yếu tố cấu thành trong nó được phân tích, đánh giá và

Trang 38

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

được gắn với một mức điểm số nhất định từ Ì (tốt nhất) đến 5 (kém nhất) Các chỉ số phân tích được họp thành nhóm dưới mỗi nội dung chính của Camel và được đo lường định tính hoặc định lượng, đầng thời cũng được phân định theo mức độ quan trọng của nó tới việc quản trị và ra quyết định tài chính trong kinh doanh ngân hàng (các chỉ tiêu đo lường chất lượng nguần vốn, tài sản, quản lý, khả năng sinh lời và khả năng thanh khoản được định trọng với lần lượt các mức sau 15%, 2 1 % , 23%, 2 4 % và 17%) Trong khi đỏ, các yếu tố cấu thành của một

số m ô hình khác chỉ được đưa ra một cách thông thường với một tỷ lệ chuẩn rối nhà phân tích sẽ tham chiếu vào đó để đánh giá mức độ tốt xấu Trong những trường họp này, người ta rất dễ rơi vào tình trạng không biết trả lời và quyết định như thế nào nếu "tốt + xấu = tốt hay xấu"? Và họ sẽ khó có thể đánh giá được chính xác mức độ của vấn đề Thông qua việc sử dụng Camel trong phân tích tài chính, các nhà quản trị ngân hàng có thể phân biệt được chính xác những rủi ro hiện tại, và dự đoán được những nguy cơ tiềm ẩn ừong tương lai Điều đó cũng ngụ ý rằng các nhà quản lý tài chính sẽ có thời gian để hạn chế được những nguy

cơ rủi ro về đạo đức, về cách ứng xử cũng như những rủi ro hiện rõ trong hoạt động của ngân hàng và họ có thể tham gia giúp tổ chức mình phục hầi, đứng lên sau những biến động hiện tại và định hướng hoạt động tương lai hiệu quả Bời việc giải quyết sớm những nguy cơ rủi ro đó bao giờ cũng tốt hơn việc để lại đó

và động chạm vào vấn đề muộn Điều đó nhất định sẽ mang lại thành công cho các tổ chức tài chính nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng trong xu hướng hành động của mình

Cuối cùng, ứng dụng m ô hình Camel trong công tác phân tích tài chính

của ngân hàng thương mại cũng có thể dự đoán được tình trạng phá sản của hệ thống ngân hàng và dẫn đến khủng hoảng tài chính Lý thuyết về phá sản của hệ thống ngân hàng bắt đầu từ lý thuyết về sự nguy cấp của từng ngân hàng Những

ưu điểm trên nhằm giúp cho các nhà quản trị ngân hàng biết được những rủi ro hiện tại, dự đoán được những nguy cơ tiềm ẩn trong tương lai, từ đó có thể đưa

ra những giải pháp nhằm hoạt động hiệu quả Và chính những ưu điểm đó cũng giúp chúng ta có thể dự báo được tình trạng phá sản của một ngân hàng thông qua những nội dung đo lường sức mạnh tài chính của tổ chức có trong m ô hình Camel bởi nếu bảng cân đối tài sản yếu kém, lợi nhuận kém, thanh khoản thấp, quản trị ngân hàng yếu kém là những yếu tố dẫn đến khủng hoảng; những hoảng

Trang 39

ĩ ĩ Ẵ

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Quốc tê

thanh khoản và rút vốn do những thông tin qua bi quan về tài sản của ngân hàng;

và việc rút vốn ồ ạt tại một ngân hàng có thể gây nên khủng hoảng cả hệ thống

2.2 Nhược điểm của mô hình Camel

Camel là một m ô hình phân tích tài chính có nhiều ưu điểm vượt trội so với các m ô hình phân tích khác được sử dụng bời rất nhiều ngân hàng, tổ chực tài chính trên thế giới Tuy nhiên, m ô hình này cũng có một số nhược điểm cần được khắc phục

Trước tiên, m ô hình Camel được sử dụng để phân tích tài chính dựa trên những chỉ tỷ lệ được đưa ra b ờ i các nhà nghiên cựu Việc quan sát, phân tích chất lượng tình hình hoạt động của một tổ chực tài chính dựa trên những chỉ số định sẵn như vậy dễ khiến cho những đánh giá đó phụ thuộc vào nhiêu vào ý

k i ế n chủ quan của cán bộ phân tích, của các nhà quản lý giám sát Thậm chí, những ý kiến này cũng có thể khác nhau giữa các nhóm ngân hàng và chúng cũng có thể thay đổi theo thời gian Tuy rằng các mực định lượng về mực độ quan ừọng, các con số chuẩn đối v ớ i các chỉ tiêu trong nội dung của m ô hình được cho phép có thể thay đổi để phù họp v ớ i tình hình hoạt động của từng ngân hàng phụ thuộc quy m ô của chúng, hay phù họp v ớ i tình hình kinh tế của m ỗ i quốc gia khác nhau, thậm chí cũng có thể thay đổi để thích ựng v ớ i sự chuyển biến về thời gian; nhưng khả năng thay đổi đó vẫn chưa được các nhà nghiên cựu đưa ra v ớ i mực dao động là bao nhiêu m à chỉ được thực hiện theo quy định của từng ngân hàng cụ thể Điều đó dẫn đến, các nhà phân tích, nhà quản trị và Ban lãnh đạo ngân hàng cũng cần phải nhạy bén trong cả vấn đề dựa vào các chỉ tiêu có sẵn để đánh giá phân tích, đồng thời cũng phải đưa ra được một mực tiêu chuẩn hợp lý đối v ớ i từng chỉ tiêu trong phân tích trong tổ chực mình Điều đó đòi hỏi các ngân hàng cần phải có một đội ngũ nhà phân tích tài chính chuyên nghiệp, có kinh nghiệm và kiến thực tài chính chuyên sâu Đây cũng là một nhược điểm nữa của m ô hình Camel

T i ế p theo, việc phân tích tài chính bằng phương pháp Camel yêu cầu các

tổ chực tài chính phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ phân tích "có đầu óc",

có trình độ, năng lực và hiểu biết về công nghệ Điều đó có thể nói là tương đối khó đối v ớ i các ngân hàng ờ các nước phát triển có quy m ô vốn không lớn, trong

đó có các ngân hàng ở Việt Nam Các tổ chực tín dụng này sẽ gặp khó khăn trong vấn đề tuyển dụng cán bộ có khả năng bởi mực độ trả thù lao và bù đắp sực lao động đối v ớ i cán bộ nhân viên chưa thật sự cao so v ớ i các ngân hàng của các nước phát triển hoạt động trong quốc gia họ Thậm chí, tình trạng "chảy m á u

Trang 40

Đại học Ngoại Thương - Khoa Kinh tê và Kinh doanh Qụôc tê

chất xám" cũng đang là một vấn đề nhức nhối ở các quốc gia này và cần phải được quan tâm sâu sắc hơn nữa để khắc phục hậu quả T h ê m vào đó, các ngân hàng này cũng hạn chế về mặt lập quỹ đào tạo, hay tràng bớ những công cụ phần mềm công nghệ phục vụ cho phân tích tài chính do nguồn v ố n không lớn Điều

đó cũng gây khó khăn cho việc áp dụng Camel vào phân tích tài chính ngân hàng thương mại

Cuối cùng, việc sử dụng m ô hình Camel trong phân tích tài chính các tổ chức tài chính nhằm mục đích đánh giá, xếp hạng, giám sát và lành mạnh hoa hệ thống tài chính quốc gia của các Ngân hàng trung ương cũng là một vấn đề gặp không ít trở ngại Những thông tin cần thiết cho một Camel hiệu quả là sự minh bạch và khả năng cung cấp thông tin tài chính của ngân hàng, tính chân thực của các thông t i n Báo cáo tài chính và khả năng sẵn sang của những nhân viên trong phỏng vấn Do tính bí mật thông tin trong hoạt động tài chính ngân hàng, nên những yêu cầu này rất khó đạt được Vì thế, việc phân tích, đánh giá, xếp hạng ngân hàng dựa trên các thông tin sai lệch rất dễ dẫn đến kết quả đưa ra không chính xác và việc quản lý tài chính sẽ không đạt hiệu quả cần thiết

Trên đây là những nhược điểm của m ô hình m ô hình phân tích tài chính chuẩn quốc tế Camel m à chúng ta cần phải khắc phục Trong số đó, việc khắc phục những yếu tố này được thực hiện theo những cách khác nhau N h ư ợ c điểm đầu tiên sẽ được giải quyết bởi chính các nhà nghiên cứu và đưa ra m ô hình để

có thể đưa ra các mức chuẩn phù hợp v ớ i từng loại tổ chức tài chính khác nhau

về quy m ô , hay phù họp v ớ i sự thay đổi của thời gian K h ả năng khắc phục này cũng có thể được giải quyết b ở i các nhà quản trớ ngân hàng, Ban lãnh đạo các ngân hàng cùng v ớ i các chuyên gia phân tích tài chính của họ Nhược điểm t h ứ hai sẽ được khắc phục bởi chính tổ chức tài chính áp dụng m ô hình Camel trong công tác phân tích tài chính của mình B ở i chính họ m ớ i có thể ra quyết đớnh về chính sách tuyển dụng, đào tạo cán bộ cũng như đưa các đớnh hướng tài chính của mình nhằm hoạt động hiệu quả Nhược điểm cuối cùng sẽ phải được giải quyết kết họp cả bởi các nhà quản lý tài chính quốc gia trong việc đưa ra các quy đớnh về tính minh bạch thông tin tài chính và bởi chính tổ chức tín dụng m à các ngân hàng trung ương đang có cơ chế giám sát với khả năng t ự nguyện cung cấp thông tin của cán bộ nhân viên của các tổ chức này

Ngày đăng: 24/06/2014, 12:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của Ngăn hàng Đầu tư và Phát  triển Việt Nam năm 2006 - 2008 - luận văn  áp dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Bảng 1 Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của Ngăn hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam năm 2006 - 2008 (Trang 45)
Bảng 2: Nguồn vòn tự có của Ngân hàng Đâu tư và Phát  triền Việt  Nam năm 2006 - 2008 - luận văn  áp dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Bảng 2 Nguồn vòn tự có của Ngân hàng Đâu tư và Phát triền Việt Nam năm 2006 - 2008 (Trang 46)
Bảng 3: Các chỉ tiêu ngoài bảng cân đổi kể toán của Ngân hàng Đầu tư  và Phát triển Việt Nam năm 2006 - 2008 - luận văn  áp dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Bảng 3 Các chỉ tiêu ngoài bảng cân đổi kể toán của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam năm 2006 - 2008 (Trang 48)
Bảng 4: Các chỉ sô an toàn vòn của Ngân hàng Đâu tư và Phát men  Việt Nam năm 2006 - 2008 - luận văn  áp dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Bảng 4 Các chỉ sô an toàn vòn của Ngân hàng Đâu tư và Phát men Việt Nam năm 2006 - 2008 (Trang 49)
Bảng 6: Qui mô tài sản của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam  năm 2006 - 2008 - luận văn  áp dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Bảng 6 Qui mô tài sản của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam năm 2006 - 2008 (Trang 53)
Bảng 9: Sô đít nợ góc đôi với các khoản nợ không đủ tiêu ch uẩn của  Ngân hàng Đâu tư và Phát triền Việt Nam năm 2006 - 2008 được phân loại - luận văn  áp dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Bảng 9 Sô đít nợ góc đôi với các khoản nợ không đủ tiêu ch uẩn của Ngân hàng Đâu tư và Phát triền Việt Nam năm 2006 - 2008 được phân loại (Trang 58)
Bảng 10: Các chỉ sô vê chát lương tài sản của Ngân hàng Đâu tư và - luận văn  áp dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Bảng 10 Các chỉ sô vê chát lương tài sản của Ngân hàng Đâu tư và (Trang 61)
Bảng li: Báo cáo két quả kỉnh doanh hợp nhát toàn hệ thông của  Ngan hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam năm 2006 - 2008 - luận văn  áp dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Bảng li Báo cáo két quả kỉnh doanh hợp nhát toàn hệ thông của Ngan hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam năm 2006 - 2008 (Trang 64)
Bảng 12: Các chỉ sô khả năng sinh lời của Ngân hàng Đâu tư và Phát  triển Việt Nam năm 2006 - 2008 - luận văn  áp dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Bảng 12 Các chỉ sô khả năng sinh lời của Ngân hàng Đâu tư và Phát triển Việt Nam năm 2006 - 2008 (Trang 66)
Bảng 13: Các chỉ số hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát  triển Việt Nam năm 2006 - 2008 - luận văn  áp dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Bảng 13 Các chỉ số hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam năm 2006 - 2008 (Trang 68)
Bảng 14: Các chỉ số  về  khả năng sinh lời của Ngân hàng Đầu tư và - luận văn  áp dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Bảng 14 Các chỉ số về khả năng sinh lời của Ngân hàng Đầu tư và (Trang 69)
Bảng 15: Các chỉ số thanh khoản của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển  Việt Nam năm 2006 - 2008 - luận văn  áp dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Bảng 15 Các chỉ số thanh khoản của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam năm 2006 - 2008 (Trang 74)
Bảng 16: Các chỉ sô vê khả năng thanh khoản của Ngân hàng Đâu tư  và Phát triển Việt Nam theo mô hình Cameỉ năm 2006 - 2008 - luận văn  áp dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Bảng 16 Các chỉ sô vê khả năng thanh khoản của Ngân hàng Đâu tư và Phát triển Việt Nam theo mô hình Cameỉ năm 2006 - 2008 (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w