HƯỚNG DẪN ÔN TẬP THI HẾT HỌC PHẦN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁCLÊNIN Hệ thống ôn tập và thi hết học phần NNLCBCCNMLN gồm có: Học phần NNLCBCCNMLN (1) và Học phần NNLCBCCNMLN (2). Đề thi mỗi học phần gồm 2 câu, câu 1 thuộc khối kiến thức 1, câu 2 thuộc khối kiến thức 2. Thời gian làm bài 90 phút không kể thời gian chépphát đề. Sinh viên không được sử dụng tài liệu khi làm bài.
Trang 1HỌC VIỆN ÂM NHẠC HUẾ
-THS HOÀNG NGỌC VĨNH
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP
THI HẾT HỌC PHẦN
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ
DÀNH CHO HỆ VỪA HỌC VỪA LÀM
CỦA HỌC VIỆN ÂM NHẠC HUẾ
HUẾ, 2013
Trang 2Hệ thống ôn tập và thi hết học phần NNLCBCCNMLN gồm có: Học phần
NNLCBCCNMLN (1) và Học phần NNLCBCCNMLN (2) Đề thi mỗi học phần gồm 2 câu,câu 1 thuộc khối kiến thức 1, câu 2 thuộc khối kiến thức 2 Thời gian làm bài 90 phút không kểthời gian chép/phát đề Sinh viên không được sử dụng tài liệu khi làm bài
I Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin (1)
Khối kiến thức 1:
1.1 Triết học là gì? Phân tích vấn đề cơ bản của triết học?
1.2 Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin và ý nghĩa khoa học của định nghĩanày?
1.3 Phân tích nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi vềchất và ngược lại? Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này trong hoạt độngthực tiễn?
1.4 Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định? Ý nghĩa phương pháp luận củaviệc nghiên cứu quy luật này trong hoạt động thực tiễn?
1.5 Phân tích nội dung cặp phạm trù cái chung và cái riêng, từ đó rút ra ý nghĩa phươngpháp luận?
Khối kiến thức 2:
2.1 Phân tích nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất vàtrình độ của lực lượng sản xuất? Từ đó rút ra ý nghĩa của việc vận dụng quy luật này trong thựctiễn ở nước ta hiện nay?
2.2 Khái niệm hình thái kinh tế-xã hội? Vì sao nói sự phát triển của các hình thái kinhtế-xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên
2.3 Phân tích quan điểm triết học Mác-Lênin về bản chất con người
2.4 Phân tích mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong sự phát triển lịchsử, từ đó rút ra ý nghĩa của vấn đề này trong việc quán triệt bài học “lấy dân làm gốc”?
2.5 Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, từ đó rút ra ýnghĩa phương pháp luận
II Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin (2)
Khối kiến thức 1
1.1 Trình bày điều kiện ra đời, tồn tại, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá?
1.2 Hàng hoá là gì? Hai thuộc tính của hàng hoá? Phân tích mối quan hệ giữa hai thuộc tínhcủa hàng hóa
1.3 Phân tích lượng giá trị của hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trịhàng hóa?
1.4 Làm rõ nội dung và vai trò của quy luật giá trị? Ý nghĩa của việc nghiên cứu quyluật giá trị đối với việc phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay?
1.5 Tư bản là gì? Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản? Vì sao nói hàng hoá sứclao động là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản?
Khối kiến thức 2
2.1 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là gì? Phân tích những điều kiện kháchquan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân?
Trang 32.2 Phân tích vai trò của Đảng cộng sản trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giaicấp công nhân?
2.3 Trình bày tính tất yếu, đặc điểm, thực chất, nội dung của thời kỳ quá độ từ CNTBlên CNXH?
2.4 Dân tộc là gì? Phân tích những nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin trongviệc giải quyết vấn đề dân tộc? Từ đó hãy giải thích cho thấy nguyên tắc nào là cơ bản nhất?
2.5 Vì sao dưới CNXH tôn giáo vẫn tồn tại? Những nguyên tác cơ bản củaChủ nghĩaMác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo?
HƯỚNG DẪN CHI TIẾT NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNI (1)
KHỐI KIẾN THỨC 1
1.1: Triết học là gì? Phân tích vấn đề cơ bản của triết học?
1 Khái niệm triết học:
“Triết” theo nguyên chữ Hán có nghĩa là trí (bao gồm sự hiểu biết sâu rộng về vũ trụ vànhân sinh), theo chữ Hy Lạp là “yêu mến sự thông thái” Khái niệm “triết học” có những biếnđổi nhất định trong lịch sử, nhưng lúc nào cũng bao hàm: yếu tố nhận thức (sự hiểu biết về vũtrụ, về con người và sự giải thích bằng hệ thống tư duy) và yếu tố nhận định (đánh giá về đạo lýđể con người có thái độ và hành động)
Theo quan điểm mác–xít, triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội; là họcthuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại, của nhận thức và của thái độ con người đốivới thế giới; là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy
Đặc điểm nổi bật của triết học là cách nhìn chung về thế giới, là sự nghiên cứu thế giớixét như một chỉnh thể, cho nên tri thức triết học trước hết là những tri thức phổ quát Từ cáchxem xét đó, triết học có vai trò giải thích bản chất, nguyên nhân và những quy luật phát triểncủa thế giới; vừa có vai trò vạch ra con đường, những phương tiện để nhận thức và cải tạo thếgiới
Triết học chỉ xuất hiện khi có hai điều kiện: Về mặt nhận thức, triết học xuất hiện khinăng lực tư duy trừu tượng của con người đạt đến trình độ nhất định, cho phép họ tổng kết vàkhái quát những tri thức riêng lẻ thành hệ thống quan niệm, quan điểm chung Về mặt xã hội,triết học xuất hiện khi sản xuất vật chất của loài người phát triển đến trình độ làm nảy sinh quátrình phân công lao động trí óc và lao động chân tay; nhưng quá trình phân công lao động nàytrong thực tế chỉ diễn ra khi lịch sử nhân loại bước vào giai đoạn có phân chia giai cấp
2 Vấn đề cơ bản của triết học:
Theo Ăng-ghen, vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và tưduy, hay là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Vấn đề này có hai mặt:
- Mặt thứ nhất, đó là vấn đề giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước? cái nào quyết
định cái nào? Tùy theo cách giải quyết vấn đề này mà triết học chia thành hai trào lưu chính:chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Trang 4Chủ nghĩa duy vật cho rằng bản chất của thế giới là vật chất, nên vật chất có trước, tồntại độc lập với ý thức và quyết định ý thức; còn ý thức là thuộc tính, là sự phản ánh vật chất.Chủ nghĩa duy vật trải qua nhiều giai đoạn phát triển với năm hình thức lịch sử cơ bản: duy vậtcổ đại (mộc mạc, chất phác), duy vật tầm thường thế kỷ V-XV, duy vật cơ học máy móc thế kỷXVII-XVIII, duy vật siêu hình thế kỷ XIX và duy vật mác-xít (biện chứng).
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức (tinh thần) là bản chất của thế giới, nên ý thức là cáicó trước và quyết định vật chất; còn vật chất là cái có sau, là sự “biểu hiện” của ý thức Chủnghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản: duy tâm chủ quan (coi ý thức là bản chất của thế giới,nhưng đó là ý thức của con người nằm trong con người) và duy tâm khách quan (cũng coi ýthức là bản chất của thế giới, nhưng đó là một thực thể tinh thần tồn tại bên ngoài con người vàđộc lập với con người)
Nguồn gốc của chủ nghĩa duy vật: là sự phát triển của tri thức, của khoa học; là lợi íchvà cuộc đấu tranh của các giai cấp, các lực lượng xã hội tiến bộ, cách mạng ở mỗi giai đoạnphát triển của lich sử Nguồn gốc của chủ nghĩa duy tâm: là sự tuyệt đối hóa một hình thức haymột giai đoạn của quá trình nhận thức dẫn đến tách nhận thức và ý thức khỏi thế giới hiện thựckhách quan; thông thường là lợi ích và sự phản kháng của các giai cấp, các lực lượng bảo thủtrước tiến bộ xã hội
- Mặt thứ hai, là vấn đề về khả năng nhận thức của con người.
Toàn bộ các nhà triết học duy vật và đa số những nhà triết học duy tâm đều thừa nhậnrằng thế giới có thể nhận thức được Nhưng các nhà duy vật cho rằng, nhận thức là sự phản ánhthế giới vật chất khách quan trong bộ óc con người Còn các nhà duy tâm thì cho rằng, nhậnthức chỉ là sự ý thức về bản chất ý thức
Trả lời vấn đề này còn có những nhà triết học theo nguyên tắc bất khả tri (không thểbiết) Những người này xuất phát từ việc tuyệt đối hóa tính tương đối của tri thức dẫn đến phủnhận khả năng nhận thức của con người
- Bên cạnh những nhà triết học nhất nguyên (duy vật và duy tâm) giải thích thế giới từmột bản nguyên, hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn có những nhà triết học nhị nguyên luận Nhịnguyên luận cho rằng thế giới được sinh ra từ hai bản nguyên độc lập với nhau, bản nguyên vậtchất sinh ra các hiện tượng vật chất, bản nguyên tinh thần sinh ra các hiện tượng tinh thần Nhịnguyên luận thể hiện lập trường dung hòa giữa duy vật và duy tâm, đó chỉ là khuynh hướng nhỏtrong lịch sử triết học và trong cuộc đấu tranh triết học nó càng trở nên gần với chủ nghĩa duytâm
1.2: Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin và ý nghĩa khoa học của định nghĩa này?
Tiếp thu tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trên cơ sở khái quát những thành tựu mớinhất của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, về mặt triết học trên cơ sở phêphán những quan điểm duy tâm và siêu hình về vật chất, Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chấtnhư sau:
1 Nội dung định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại chocon người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại
Trang 5không lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin toàn tập, T.18, NXB Tiến bộ, Matxcơva, 1980,tr.151).
2 Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
Trong định nghĩa trên, chúng ta cần phân tích những nội dung chủ yếu sau đây:
a “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan…”
- “Vật chất” là một phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận nhận thức
+ Phạm trù vật chất phải được xem xét dưới góc độ của triết học, chứ không phải dướigóc độ của các khoa học cụ thể Điều này sẽ giúp chúng ta tránh được sai lầm khi đồng nhấtphạm trù vật chất trong triết học với các khái niệm vật chất thường dùng trong các khoa học cụthể hoặc đời sống hằng ngày
+ Không thể định nghĩa phạm trù vật chất theo phương pháp thông thường Về mặtnhận thức luận, Lênin chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong quan hệ với phạm trù đối
lập của nó, đó là phạm trù ý thức (phương pháp định nghĩa thông qua cái đối lập với nó) ( Xem
thêm chương khái niệm ở giáo trình Logic hình thức)
Khi định nghĩa vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, Lêninđã bỏ qua những thuộc tính riêng lẻ, cụ thể, nhiều màu, nhiều vẻ của các sự vật, hiện tượng, mànêu bật đặc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất có ở tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiệnthực khách quan Đó là đặc tính “tồn tại với tư cách là thực tại khách quan”, tồn tại ở ngoài ýthức con người và độc lập với ý thức Đặc tính này là dấu hiệu cơ bản để phân biệt vật chất vớicái không phải là vật chất
- Tính trừu tượng của phạm trù vật chất: Phạm trù vật chất khái quát đặc tính chungnhất của mọi khách thể vật chất xét trong quan hệ với ý thức nên về hình thức nó là cái trừutượng Vì thế, không được đồng nhất vật chất với các dạng cụ thể của nó giống như quan niệmcủa các nhà duy vật trước Mác
b Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác.
Trong phần này, Lênin đã giải quyết được những điều sau đây:
- Thứ nhất, Lênin đã giải quyết được mối quan hệ giữa tính trừu tượng và tính hiện thực
cụ thể cảm tính của phạm trù vật chất Vật chất không phải tồn tại vô hình, thần bí mà tồn tạimột cách hiện thực, được biểu hiện cụ thể dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể mà các giácquan của chúng ta có thể nhận biết một cách trực tiếp hay gián tiếp
- Thứ hai, Lênin đã giải quyết được mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản triết học trên lập
trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng Thực tại khách quan đưa lại cảm giác cho con người,chứ không phải cảm giác (ý thức) sinh ra thực tại khách quan Điều đó có nghĩa là, vật chất làcái có trước và đóng vai trò quyết định, nội dung khách quan của ý thức
c Thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
Đến đây, Lênin đã khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới hiệnthực khách quan Tức là Lênin đã giải quyết được mặt thứ hai của vấn đề cơ bản triết học trênlập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng
3 Ý nghĩa của định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
Trang 6- Giải quyết một cách đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường chủ nghĩaduy vật và biện chứng.
- Khắc phục được những quan niệm trực quan, siêu hình, máy móc về vật chất của chủnghĩa duy vật trước Mác và những biến tướng của nó trong trào lưu triết học tư sản hiện đại
- Chống lại tất cả các quan điểm duy tâm và tạo ra căn cứ vững chắc để nghiên cứu xãhội
- Khẳng định thế giới vật chất là khách quan và vô cùng, vô tận, luôn luôn vận động vàphát triển không ngừng nên nó đã có tác dụng định hướng, cổ vũ các nhà khoa học khi sâu vàonghiên cứu thế giới vật chất, để ngày càng làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại
1.3: Phân tích nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này trong hoạt động thực tiễn.
I Nội dung quy luật:
Mỗi sự vật, hiện tượng là sự thống nhất giữa hai mặt: chất lượng (chất) và số lượng(lượng) Từ những thay đổi dần dần về lượng dẫn sẽ đến những thay đổi về chất và ngược lại;là cách thức của sự vận động và phát triển
1 Khái niệm chất và lượng
a Khái niệm chất:
- Chất là tính quy định vốn có của các sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ củanhững thuộc tính, những yếu tố cấu thành sự vật, nói lên sự vật đó là gì, phân biệt nó với các sựvật và hiện tượng khác
- Phân biệt chất với tính cách là phạm trù triết học với chất hiểu theo khái niệm thườngdùng hàng ngày hoặc với khái niệm chất liệu
- Phân biệt chất với thuộc tính Mỗi chất gồm nhiều thuộc tính
- Mỗi sự vật, hiện tượng có thể có một hoặc nhiều chất tuy theo những mối quan hệ xácđịnh
- Chất tồn tại khách quan
- Chất biểu hiện tình trạng tương đối ổn định của sự vật, hiện tượng
- Trong những trường hợp đặc biệt, chất là cái trừu tượng và dường như nằm ngoài sựvật, hiện tượng
b Khái niệm lượng
- Lượng là tính quy định của sự vật, hiện tượng về mặt qui mô, trình độ, tốc độ pháttriển của nó, biểu thị bằng các con số, các thuộc tính, các yếu tố, cấu thành nó
- Lượng không chỉ biểu hiện bằng các con số, các đại lượng xác định cụ thể, mà lượngcòn được nhận thức bằng khả năng trừu tượng hóa
- Lượng là nhân tố quy định bên trong, nhưng đồng thời cũng có những lượng chỉ nóilên nhân tố dường như bên ngoài sự vật
- Lượng tồn tại khách quan
- So với chất, lượng là cái thường xuyên biến đổi
* Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa tương đối
2 Tính thống nhất và mối quan hệ phổ biến của lượng và chất.
Trang 7a Khái niệm “Độ”
Mỗi sự vật là một thể thống nhất của hai mặt chất và lượng Hai mặt đó không tách rờinhau, mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng
- “Độ” là khái niệm nói lên mối quan hệ quy định lẫn nhau của chất và lượng Nó là giớihạn mà trong đó sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó mà chưa biến thành cái khác Trong giới hạn
“độ” lượng biến đổi nhưng chưa dẫn đến chuyển hóa về chất
- Độ cũng biến đổi khi những điều kiện tồn tại của sự vật, hiện tượng biến đổi
b Những hình thức biến đổi từ lượng dẫn đến sự biến đổi về chất.
Ranh giới của lượng do chất quy định, nhưng sự chuyển hóa thì bao giờ cũng bắt đầu từsự thay đổi về lượng Các hình thức cơ bản của sự chuyển hóa:
+ Tăng lên hoặc giảm đi đơn thuần về mặt số lượng
+ Sự dung hợp của nhiều lực lượng thành một hợp lực về căn bản khác với tổng sốnhững lực lượng cá biệt
+ Thay đổi về kết cấu, tổ chức, qui mô của sự vật, hiện tượng
- Khi lượng thay đổi vượt quá giới hạn của độ thì dẫn đến thay đổi về chất Sự thay đổivề chất được gọi là bước nhảy (có 4 loại bước nhảy cơ bản: bước nhảy toàn phần, bước nhảycục bộ, bước nhảy dần dần, bước nhảy đột biến), đó là bước ngoặt căn bản trong sự biến đổidần dần về lượng
- Giới hạn mà ở đó xảy ra bước nhảy được gọi là điểm nút
- Sự chuyển hóa đòi hỏi phải có điều kiện
c Ảnh hưởng của chất mới đối với sự biến đổi của lượng
Khi chất mới ra đời nó tạo ra một lượng mới phù hợp với nó để có một sự thống nhấtmới giữa chất và lượng Sự quy định này được biểu hiện ở qui mô và nhịp điệu phát triển mớicủa lượng
Tóm lại, quy luật lượng-chất chỉ ra cách thức biến đổi sự vật, hiện tượng Đó là quátrình tác động lẫn nhau giữa hai mặt: chất và lượng Lượng biến đổi mâu thuẫn với chất cũ, chấtmới ra đời với lượng mới Lượng mới lại tiếp tục biến đổi đến giới hạn nào đó lại phá vỡ chấtđang kìm hãm nó, tạo nên chất mới với lượng mới Như vậy phát triển là quá trình vô hạn, vừamang tính liên tục (biểu hiện ở sự biến đổi của lượng) vừa có tính gián đoạn (biểu hiện ở sựthay đổi về chất)
II Ý nghĩa phương pháp luận:
- Sự vận động và phát triển là kết quả của quá trình tích lũy về lượng Trong hoạt độngthực tiễn cần chống lại hai khuynh hướng:
+ Tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, chưa có sự tích lũy đầy đủ về lượng đãmuốn thực hiện bước nhảy về chất Hoặc chỉ nhấn mạnh đến bước nhảy, xem nhẹ tích lũy vềlượng, dẫn đến các hành động phiêu lưu mạo hiểm
+ Tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ngại khó không dám thực hiện bước nhảy về chất Hoặc chỉnhấn mạnh đến sự biến đổi dần dần về lượng, từ đó rơi vào chủ nghĩa cải lương và tiến hóaluận
- Cần có thái độ khách quan, khoa học và có quyết tâm thực hiện bước nhảy khi điềukiện thực hiện bước nhảy đã chín muồi
Trang 8+ Cần phân biệt các bước nhảy trong tự nhiên và trong xã hội.
+ Phải nhận thức đúng đắn các bước nhảy khác nhau về qui mô, nhịp độ
+ Chống chủ nghĩa giáo điều
1.4: Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này trong hoạt động thực tiễn.
Quy luật phủ định của phủ định vạch rõ xu hướng đi lên của sự vật, hiện tượng trongquá trình vận động, phát triển
1 Phủ định biện chứng:
- “Phủ định”: là khái niệm nói lên quá trình vận động của sự vật, hiện tượng Trong đósự vật, hiện tượng này thay thế cho sự vật, hiện tượng khác
- “Phủ định biện chứng”: là phủ định mà trong đó cái mới ra đời thay thế cho cái cũ Cáimới làm tiền đề, tạo điều kiện cho sự phát triển của sự vật, hiện tượng Phép biện chứng duyvật cho rằng: sự diệt vong của cái cũ và sự ra đời của cái mới, sự thoái hóa và sự phát triển cóliên hệ nội tại với nhau Không có mặt này cũng không có mặt kia
“Phủ định trong phép biện chứng không chỉ có ý nghĩa đơn giản là nói không hoặc giảlà tuyên bố rằng một sự vật không tồn tại, hay phá hủy sự vật ấy theo một cách nào đó… Chonên phải thiết lập sự phủ định thứ nhất như thế nào cho sự phủ định lần thứ hai vẫn có khả năngthực hiện được hay trở thành có khả năng thực hiện được” (Ăngghen “Chống Đuy-rinh”, NxbSự thật, Hà Nội, 1976, tr 230-321)
- Đặc trưng của phủ định biện chứng:
Thứ nhất: Tính khách quan
Thứ hai: Tính kế thừa
Phủ định biện chứng là kết quả của sự tự thân phát triển trên cơ sở những mâu thuẫnvốn có của sự vật và hiện tượng nên nó không thể là một sự phủ định tuyệt đối, một sự phủđịnh sạch trơn
Phép biện chứng duy vật coi sự kế thừa là nội dung cơ bản của phủ định biện chứng
2 Nội dung quy luật:
Tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều luôn luôn vận động, phát triển, quá trình đó cũng làquá trình phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập Khuynh hướng tất yếu của sự vận động là: cáimới thay thế cho cái cũ, cái mới làm tiền đề tạo điều kiện cho sự phát triển của sự vật, hiệntượng Nhưng sự phát triển có tính chu kỳ
a Tính chu kỳ của sự phát triển:
Từ một điểm xuất phát (A) qua một số lần phủ định biện chứng (B(n)) sự vật dường nhưlặp lại điểm xuất phát (A’) nhưng trên cơ sở cao hơn
┤A → B(n) →A’├ →
- Sự phủ định biện chứng lần thứ nhất (B) là bước trung gian trong sự phát triển Trìnhđộ mới của (A) phải qua (B) mà được thực hiện chứ không phải (B) là giai đoạn cao hơn (A)
- Sự phủ định biện chứng lần thứ hai (A’) là phủ định của phủ định
- (A’) là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ phát triển đồng thời lại là điểm xuất phát củamột chu kỳ phát triển mới
Trang 9- Để hoàn thành một chu kỳ phát triển, sự vật hiện tượng phải trải qua ít nhất hai lầnphủ định biện chứng.
b Hình thức và khuynh hướng của sự phát triển:
Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính tất yếu tiến lên của sự vận động của sựvật và hiện tượng Sự phát triển đi lên đó không diễn ra theo con đường thẳng mà theo đường
“xoáy ốc”
Lênin viết: “Một sự phát triển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua nhưng dưới mộthình thức khác ở một trình độ cao hơn (phủ định của phủ định), một sự phát triển có thể nói làtheo đường xoáy ốc chứ không theo đường thẳng (Lênin toàn tập, T.26, Nxb Tiến bộ,Maatsxcơva, 1981, tr.65)
- “Đường xoáy ốc” biểu hiện các mặt của quá trình phát triển biện chứng: tính kế thừa,tính lặp lại, tính tiến lên của sự vận động
- “Đường xoáy ốc” thể hiện tính phức tạp trong quá trình biến đổi, phủ định của sự vật.Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc thể hiện tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao
3 Ý nghĩa phương pháp luận:
- Quy luật phủ định của phủ định giúp ta hiểu rằng quá trình phát triển không diễn ratheo đường thẳng mà rất quanh co, phức tạp, phải trải qua nhiều lần phủ định biện chứng, nhiềukhâu trung gian
- Là cơ sở lý luận để hiểu về sự ra đời của cái mới: trong thực tiễn xã hội, các quá trìnhdiễn ra phức tạp, nhưng cái cũ nhất định sẽ mất đi, cái mới nhất định sẽ xuất hiện Cái mới rađời trên cơ sở kế thừa những yếu tố tích cực của cái cũ Phải biết phát hiện cái mới, duy trì vàphát triển cái mới
- Phải có cách nhìn biện chứng khi phê phán cái cũ, kế thừa những yếu tố hợp lý của cáicũ Tránh nhìn đơn giản trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, đặc biệt là các hiện tượngxã hội Cần chống lại hai khuynh hướng: kế thừa không chọn lọc hoặc phủ định sạch trơn
1.5: Phân tích nội dung cặp phạm trù cái chung và cái riêng, từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận
1 Khái niệm cái chung, cái riêng, cái đơn nhất.
Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những mốiliên hệ giống nhau ở nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trìnhriêng lẻ nhất định
Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chỉ có ởmột kết cấu vật chất nhất định, mà không lặp lại ở kết cấu khác
2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng cả cái riêng và cái chung đều tồn tại khách quanvà quan hệ biện chứng với nhau
- Cái chung thì tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Điều đó có nghĩa là cáichung thực sự tồn tại, nhưng chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Không có cáichung thuần túy, trừu tượng tồn tại bên ngoài cái riêng
Trang 10- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung, bao hàm cái chung Điều đócho thấy là cái riêng tồn tại độc lập nhưng sự tồn tại độc lập đó không có nghĩa là cái riênghoàn toàn cô lập với cái khác mà bất cứ cái riêng nào cũng nằm trong mối liên hệ đưa tới cáichung Cái riêng không những chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung mà thông quahàng nghìn sự chuyển hóa, nó còn liên hệ với cái riêng loại khác.
- Cái chung là bộ phận của cái riêng, còn cái riêng không gia nhập hết vào cái chung vìvậy cái riêng phong phú hơn cái chung Bởi ngoài những đặc điểm gia nhập vào cái chung, cáiriêng còn giữ lại những đặc điểm riêng biệt mà chỉ nó mới có Trong khi đó, cái chung phải làcái sâu sắc hơn vì nó phản ánh những mối liên hệ ở bên trong, phổ biến tồn tại trong cái riêngcùng loại, nó gắn liến với các cái riêng, quy định sự tồn tại và phát triển của sự vật
- Trong quá trình phát triển khách quan của sự vật, trong những điều kiện nhất định cáiđơn nhất có thể biến thành cái chung và ngược lại cái chung có thể biến thành cái đơn nhất Sỡdĩ có tình trạng này là do trong hiện thực cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay trongmột lúc mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng đơn nhất cá biệt Nhưng theo quy luật, cái mới nhấtđịnh sẽ phát triển mạnh lên, ngày càng trở nên hoàn thiện tiến tới trở thành cái chung Ngượclại, cái cũ ngày càng mất dần đi từ chỗ là cái chung biến dần thành cái đơn nhất
- Trong phạm vi khái quát của con người, cái được xem là cái chung trong quan hệ nàylại có thể được xem là cái riêng, cái đơn nhất trong quan hệ khác
3 Ý nghĩa phương pháp luận:
- Không được tuyệt đối hóa cái chung hay cái riêng mà phải thấy được mối quan hệbiện chứng giữa chúng Nếu tuyệt đối hóa cái chung thì sẽ dẫn đến giáo điều chủ nghĩa, rậpkhuôn một cách máy móc Ngược lại nếu tuyệt đối hóa cái riêng thì sẽ dẫn đến chủ nghĩa kinhnghiệm, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tập thể phường hội, địa phương chủ nghĩa và chủ nghĩadân tộc hẹp hòi
- Trong nhận thức và thực tiễn để phát hiện cái chung cần phải xuất phát từ những cáiriêng, từ những sự vật, hiện tượng quá trình riêng lẻ cụ thể chứ không được xuất phát từ ýmuốn chủ quan của chủ thể, và để giải quyết những vấn đề riêng một cách có hiệu quả thìkhông lảng tránh việc giải quyết những vấn đề chung, để tránh tình trạng sa vào mò mẫm tùytiện
- Trong hoạt động thực tiễn cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cái đơn nhất chuyển hóathành cái chung nếu cái đơn nhất đó có lợi, và cũng phải tạo điều kiện để cái chung chuyển hóathành cái đơn nhất nếu cái chung đó là lạc hậu
KHỐI KIẾN THỨC 2
2.1: Phân tích nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Từ đó rút ra ý nghĩa của việc vận dụng quy luật này trong thực tiễn ở nước ta hiện nay.
Bất cứ phương thức sản xuất ở một giai đoạn phát triển lịch sử nào cũng đều bao gồmhai mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất - là biểu hiện mối quan hệgiữa người và tự nhiên trong quá trình sản xuất; quan hệ sản xuất - là biểu hiện mối quan hệgiữa người với người trong quá trình sản xuất C.Mác đã chỉ rõ: “Trong sản xuất, con người
Trang 11không chỉ có quan hệ với tự nhiên mà còn phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định vớinhau, và chỉ trong phạm vi những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó thì mới có tác động vào tựnhiên, vào sản xuất được”.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúngphản ánh hai mối quan hệ khác nhau, đặc trưng phát triển không giống nhau, nhưng chúng cómối liên hệ hữu cơ không thể tách rời và tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật xãhội phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người: Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất vớitính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Quy luật này vạch rõ sự quy định, phụ thuộc lẫnnhau giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất giữ vai trò quyếtđịnh
- Kết cấu của lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất bao gồm ba yếu tố cấu thành: Người lao động (lứa tuổi, sức khỏe,trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực), tư liệu sản xuất và khoa học kỹ thuật côngnghệ Trong đó người lao động là nhân tố quyết định của lực lượng sản xuất
- Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất:
Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu sản xuất và của lao động, là kếttinh sức lao động xã hội trong từng đơn vị sản phẩm do quá trình sản xuất tạo ra Nếu công cụthủ công thì lực lượng sản xuất có tính chất cá nhân, nếu công cụ là máy móc thì lực lượng sảnxuất mang tính chất xã hội hóa
Trình độ của lực lượng sản xuất là trình độ phát triển của công cụ lao động, của kỹthuật, trình độ kinh nghiệm, kỹ năng lao động của người lao động, qui mô sản xuất, trình độphân công lao động xã hội…
- Quan hệ sản xuất hình thành, biến đổi và phát triển dưới ảnh hưởng quyết định của lực lượng sản xuất.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định rằng sự thay đổi và phát triển của bất cứ một pháttriển sản xuất nào bao giờ cũng bắt đầu bằng sự thay đổi và phát triển của các lực lượng sảnxuất
Trong quá trình sản xuất để đạt được năng suất lao động cao hơn, con người luôn luôntìm cách cải tiến công cụ lao động và chế tạo ra những công cụ lao động mới tinh xảo hơn.Cùng với sự biến đổi và phát triển của công cụ lao động, kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng laođộng, kiến thức khoa học, của người lao động cũng không ngừng tăng lên
Mặt khác, trong cấu trúc của phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất là nội dungcòn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nó, trong mối quan hệ đó nội dung là quyết định.Nội dung biến đổi kéo theo sự biến đổi của hình thức
Do đó lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, không ổn định nhất, yếu tố cách mạngnhất của quá trình sản xuất vật chất Sự biến đổi của lực lượng sản xuất, trước hết là sự biến đổicủa công cụ sản xuất đã dẫn đến sự biến đổi trong các quan hệ sản xuất giữa người và người.Điều đó cho thấy công cụ sản xuất không những là thước đo trình độ phát triển của các lựclượng sản xuất, mà còn là dấu hiệu báo trước quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế giữa người vớingười cũng biến đổi theo C.Mác viết: “Phương thức sản xuất, những quan hệ trong đó các lựclượng sản xuất phát triển, đều không phải là những quy luật vĩnh viễn, mà chúng thích ứng với
Trang 12sự phát triển nhất định của con người và của những lực lượng sản xuất của con người, và mộtsự thay đổi trong lực lượng sản xuất của con người tất phải dẫn đến một sự thay đổi trongnhững quan hệ sản xuất của con người” (C.Mác, Ăngghen tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1980, T.1, tr.396)
Điều đó chứng tỏ sự phát triển của lực lượng sản xuất thì quan hệ sản xuất cũng pháttriển theo cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Sự phù hợp đó là độnglực nội tại thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Tuy nhiên, lực lượng sản xuất có xuhướng phát triển nhanh hơn, còn quan hệ sản xuất lại tương đối ổn định Khi lực lượng sản xuấtphát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất không còn phù hợp với nó nữa, trở thànhchướng ngại đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữahai mặt của phương thức sản xuất Một cách tất yếu là quan hệ sản xuất cũ bị xóa bỏ, quan hệsản xuất mới hình thành phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đã phát triển,mở đường cho lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển
Quan hệ sản xuất cũ bị xóa bỏ, quan hệ sản xuất mới hình thành, cũng đồng thời sự diệtvong của phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của phương thức sản xuất mới Trong xãhội có giai cấp đối kháng, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất lỗi thờilà cơ sở khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp, đồng thời là tiền đề của các cuộc cách mạngxã hội
Sự tác động của quy luật nói trên trong lịch sử đã làm cho xã hội chuyển từ hình tháikinh tế-xã hội thấp lên hình thái kinh tế-xã hội cao hơn một cách biện chứng
- Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất:
Trong cấu trúc của phương thức sản xuất thì quan hệ sản xuất là hình thức xã hội mà lựclượng sản xuất luôn luôn phải dựa vào để phát triển Tất nhiên quan hệ sản xuất thường xuyêntác động trở lại với lực lượng sản xuất: có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lựclượng sản xuất Theo tính tất yếu khách quan, quan hệ sản xuất lỗi thời sẽ bị thay thế bằng mộtquan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất có thể tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất, bởi vì quan hệ sảnxuất quy định tính mục đích của quá trình sản xuất vật chất, quy định hệ thống tổ chức quản lýsản xuất và quản lý xã hội, quy định phương thức phân phối của cải mà người lao động trựctiếp được hưởng Tất cả những yếu tố nói trên lại ảnh hưởng và quy định thái độ của quầnchúng lao động - lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội
Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất theo chiều hướng tích cực, khiquan hệ sản xuất là một hệ thống hoàn chỉnh gồm cả ba mối quan hệ: sở hữu tư liệu sản xuất, tổchức và quản lý sản xuất, phân phối sản phẩm, đều phù hợp với tính chất (trình độ) của lựclượng sản xuất
Sự tác động của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất vào lịch sử đã đưa xã hội loài người phát triển qua các phương thức sản xuất:công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩatrong tương lai
Trang 13Lịch sử xã hội loài người nói chung phát triển tuần tự từ thấp lên cao, nhưng thực tiễnlịch sử đã chứng minh rằng nhiều nước đã bỏ qua một số phương thức sản xuất để tiến lênphương thức sản xuất cao hơn.
Ở Việt Nam, để xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, chúng ta chủ trươngphát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Như vậy việc bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủnghĩa về thực chất là bỏ qua chế độ chính trị tư bản, chúng ta lại kế thừa những giá trị của chủnghĩa tư bản với tư cách là lực lượng sản xuất, để hướng nền sản xuất đi lên sản xuất lớn xã hộichủ nghĩa
2.2 Khái niệm hình thái kinh tế-xã hội? Vì sao nói sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên.
- Khái niệm hình thái kinh tế-xã hội:
Hình thái kinh tế-xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xãhội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, với những quan hệ sản xuất của nó (cơ sở hạtầng) thích ứng với lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và với một kiến trúc thượngtầng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó
Hình thái kinh tế-xã hội là một hệ thống, một chỉnh thể toàn vẹn có cơ cấu phức tạp,trong đó có những mặt cơ bản nhất là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượngtầng
Lực lượng sản xuất – là quan hệ giữa người với tự nhiên trong quá trình sản xuất - lànền tảng vật chất-kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế-xã hội Xét đến cùng, lực lượng sản xuấtquyết định sự hình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế-xã hội Bản thân các lực lượngsản xuất không phải là sản phẩm riêng của một thời đại nào mà là sản phẩm của cả một quátrình phát triển liên tục từ thấp lên cao qua các thời đại, là sự tiếp biến không ngừng của lịch sử
Quan hệ sản xuất - quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất - là nhữngquan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả các quan hệ xã hội khác, không có những mốiquan hệ đó thì không thành xã hội và không có quy luật xã hội Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩnkhách quan để phân biệt xã hội cụ thể này với xã hội cụ thể khác
Những quan hệ sản xuất là bộ xương của cơ thể xã hội hợp thành cơ sở hạ tầng và trênđó dựng lên một kiến trúc thượng tầng tương ứng mà chức năng xã hội của nó là bảo vệ, duy trìvà phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó
Ngoài các quan hệ cơ bản: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng,trong mỗi hình thái kinh tế-xã hội còn có những quan hệ dân tộc, gia đình,
- Sự phát triển của các hình thái kinh tế–xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên.
C.Mác viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế-xã hội là một quá trìnhlịch sử tự nhiên” (C.Mác, Tư bản, quyển 1, T.1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1973, tr.20)
Hình thái kinh tế-xã hội được xem như là một cơ thể, một hệ thống hoàn chỉnh luônluôn vận động và phát triển Đó là hệ thống các quan hệ xã hội, bao gồm những quan hệ vậtchất và quan hệ tư tưởng Quan hệ tư tưởng được xây dựng trên những quan hệ vật chất-quanhệ hình thành ngoài ý chí và ý thức của con người, như một kết quả của sự hoạt động của conngười để đảm bảo sự sinh tồn của mình
Trang 14Học thuyết hình thái kinh tế–xã hội cho phép đi sâu vào bản chất của quá trình lịch sử,hiểu được logic khách quan của quá trình đó, nhìn thấy sự phát triển của xã hội loài người nhưlà một quá trình lịch sử tự nhiên, một quá trình diễn ra nhiều mặt và chứa đầy mâu thuẫn, quátrình vận động hợp với quy luật khách quan Đó là những quy luật nội tại, tự thân trong cấu trúccủa hình thái kinh tế-xã hội, quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trìnhđộ của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã và đang trải qua năm hình thái kinh tế-xã hộikhác nhau: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sảnchủ nghĩa Chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng, mỗi hình thái kinh tế-xã hội đều có những quyluật riêng của nó khi nó phát sinh, phát triển và chuyển sang một hính thái khác cao hơn Đồngthời cũng khẳng định đến sự tồn tại của những quy luật phản ánh những đặc điểm chung củamọi hình thái kinh tế-xã hội, những quy luật phổ biến phát huy tác dụng trong tất cả các giaiđoạn phát triển của lịch sử, trong tất cả các hình thái kinh tế-xã hội
Trong các quy luật khách quan chi phối sự vận động phát triển của các hình thái kinh xã hội, quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sảnxuất có vai trò quyết định nhất Con người làm ra lực lượng sản xuất bằng năng lực thực tiễncủa mình Tuy nhiên, năng lực thực tiễn lại bị quy định bởi nhiều điều kiện khách quan Mỗithế hệ làm ra lực lượng sản xuất của mình phải dựa trên những lực lượng sản xuất đã đạt đượccủa thế hệ trước ở hình thái kinh tế-xã hội trước đó Vì vậy, bản thân các lực lượng sản xuấtkhông phải là sản phẩm riêng của thời đại nào, mà là sản phẩm của cả một quá trình phát triểnliên tục từ thấp lên cao qua các hình thái kinh tế-xã hội Nhưng, chính tính chất và trình độ củalực lượng sản xuất đã quy định một cách khách quan tính chất và trình độ của quan hệ sản xuất,
tế-do đó, xét đến cùng lực lượng sản xuất quyết định quá trình vận động phát triển của hình tháikinh tế-xã hội như một quá trình lịch sử tự nhiên
Sự vận động phát triển thay thế nhau của các hình thái kinh tế-xã hội từ thấp lên caotrước hết được giải thích bằng sự tác động của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất vớitính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất, một mặt của phương thức sảnxuất, là yếu tố đảm bảo tính kế thừa trong sự phát triển tiến lên của lịch sử Quan hệ sản xuất làmặt thứ hai của phương thức sản xuất biểu hiện tính gián đoạn trong sự phát triển của lịch sử
Lịch sử loài người là lịch sử phát triển và thay thế nhau của các hình thái kinh tế-xã hội,nhưng lịch sử cụ thể vô cùng phong phú, không thể xem quá trình lịch sử là một công thứchoặc như một đường thẳng Thực tế lịch sử diễn ra những hình thức quá độ khác nhau của cácdân tộc, một số dân tộc phải trải qua tuần tự các hình thái kinh tế-xã hội, một số dân tộc lại bỏqua một số hình thái để đạt được những bước phát triển nhanh hơn
Nhân loại hiện nay đang và sẽ trải qua hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủnghĩa Hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa có ba giai đoạn phát triển: Thời kỳ quá độ từ
tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội; Chủ nghĩa xã hội; Chủ nghĩa cộng sản
2.3 Phân tích quan điểm triết học Mác-Lênin về bản chất con người.
Thực chất của việc nghiên cứu bản chất con người là quá trình con người tự lấy mìnhlàm đối tượng nghiên cứu và trả lời câu hỏi con người là gì, vai trò con người trong thế giớinhư thế nào?
Trang 151 Quan niệm chung về con người trong triết học trước Mác.
Có nhiều khoa học nghiên cứu về con người, và tiếp cận theo cách riêng của mình Tuynhiên, nếu có khoa học chuyên ngành nhận thức con người bằng cách chia hệ thống yếu tố thìngược lại, triết học nghiên cứu con người bằng cách tổng hợp các yếu tố thành hệ thống
Trong sự phát triển của triết học, có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất con người.Các nhà triết học thời cổ đại xem con người là vũ trụ thu nhỏ Triết học tôn giáo xem con ngườilà một thực thể nhị nguyên, là sự kết hợp giữa tinh thần và thể xác Các học thuyết triết học duytâm tuyệt đối hóa hoạt động của đời sống tinh thần, điển hình là hệ thống triết học duy tâm củaHêghen Ông cho rằng con người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối, là bước cuối cùng của cuộcdiễn hành của ý niệm tuyệt đối trên trái đất Phơbách, một nhà triết học duy vật siêu hình, đãtuyệt đối hóa mặt sinh học của con người, chia cắt con người khỏi đời sống xã hội Vì vậy, ôngcũng không giải thích được bản chất thực sự của con người
Như vậy, triết học trước Mác về căn bản đã giải thích bản chất con người trên lậptrường duy tâm, do đó, không giải thích được nguồn gốc, bản chất thật sự của tồn tại người.Mặc dù vậy, nó vẫn đóng góp được những thành tựu làm tiền đề cho khoa học nghiên cứu conngười
2 Quan niệm của triết học Mác-Lênin về bản chất con người.
- Trên cơ sở tiếp thu có phê phán tư tưởng về con người của các nhà triết học trước đótrong lịch sử, C.Mác đã khẳng định rằng: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người làtổng hòa những quan hệ xã hội” (Luận cương về Phoiơbắc)
- Dựa vào những thành tựu của khoa học hiện đại, triết học Mác-Lênin xem sự tồn tạicủa con người và xã hội loài người bị quy định bởi:
+ Thứ nhất: các quy luật sinh vật học tạo thành phương diện sinh học của con người,như quy luật về sự phù hợp giữa cơ thể với môi trường, về quá trình trao đổi chất, về biến dị, ditruyền và sự tiến hóa…
+ Thứ hai: các quy luật tâm lý-ý thức hình thành và hoạt động trên nền tảng sinh họccủa con người, như quy luật hình thành tư tưởng, tình cảm, khát vọng, mục tiêu, lý tưởng, niềmtin, ý chí…
+ Thứ ba: các quy luật xã hội đang quy định mối quan hệ giữa con người với con người,như quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sảnxuất, biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, các quy luật về giai cấp và đấutranh giai cấp…
Trong đời sống con người, ba hệ thống quy luật trên không tách biệt nhau, mà chúnghòa vào nhau, tác động lẫn nhau, tạo nên bản chất con người trong sự thống nhất của con ngườitự nhiên (cái sinh học) và con người xã hội (cái xã hội) trong một con người hiện thực
- Bản chất tự nhiên của con người được biểu hiện ra bên ngoài là các nhu cầu tất yếukhách quan:
+ Nhu cầu ăn, mặc, ở, sinh hoạt văn hóa tinh thần
+ Nhu cầu tái sản xuất xã hội
+ Nhu cầu tình cảm, nhu cầu hiểu biết