MỤC LỤC Danh mục các từ viết tắt v Danh mục các bảng biểu vi Danh mục các hình vi Phần mở đầu 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ỞVIỆT NAM 1.1.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƢỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH 3 1.1.1. Khái niệm thị trƣờng dịch vụ tài chính ............................................... 3 1.1.2. Khái quát chung về thị trƣờng dịch vụ Ngân hàng Dịch vụ ngân hàng 5 1.1.2.1.Dịch vụ trên thị trƣờng ngân hàng ..................................................... 5 1.1.2.2.Các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng................................................. 7 1.1.3.Các yếu tố cấu thành thị trƣờng dịch vụ ngân hàng ............................. 8 1.1.3.1.Các đối tƣợng có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng ....................... 8 1.1.3.2.Giá cả các dịch vụ tài chính .............................................................. 8 1.1.3.3.Hệ thống quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động của thị trƣờng dịch vụ tài chính ................................................................................................. 11 1.2.CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI MỞ CỬA HỘI NHẬP THỊ TRƢỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ............................................................................................................... 19 1.2.1. Hội nhập quốc tế thị trƣờng dịch vụ tài chính – lĩnh vực ngân hàng ... 19 1.2.1.1.Bản chất Hội nhập Quốc tế về Dịch vụ Tài chính ............................. 20 1.2.1.2.Các xu hƣớng quốc tế hóa trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam . 23 1.2.2. Cơ hội và thách thức đối với một nền kinh tế khi quyết định mở cửa hội nhập thị trƣờng dịch vụ tài chính – lĩnh vực ngân hàng........................ 24 1.2.3. Quá trình cải cách và mở cửa thị trƣờng dịch vụ tài chính của Trung Quốc – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ...................................... 27 CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG, QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH VÀ MỞ CỬA CỦA THỊ TRƢỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM 2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VIỆT NAM .......................................................................... 31 2.1.1. Khái quát chung về cơ cấu ngành ngân hàng Việt Nam ...................... 31 2.1.1.1. Cơ cấu của ngành ngân hàng Việt Nam ............................................ 31 2.1.1.2. Sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam ...................... 34 2.1.1.3. Các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hƣởng tới hoạt động của thị trƣờng dịch vụ ngân hàng Việt Nam .................................................................. 43 2.1.2. Những cam kết và nghĩa vụ của Việt Nam khi mở cửa hội nhập thị trƣờng dịch vụ ngân hàng .................................................................. 49 2.1.2.1. Hiệp định thƣơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) ........................... 49 2.1.2.2. Hiệp định chung về thƣơng mại Dịch vụ (GATS) và tổ chức thƣơng mại thế giới WTO ........................................................................... 50 2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƢỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VIỆT NAM ........................................................................................................ 51 2.2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh thị trƣờng dịch vụ ngân hàng Việt Nam51 2.2.1.1 Các chỉ số tài chính cơ bản ............................................................... 51 2.2.1.2 Lợi nhuận và các chỉ số kinh doanh khác .......................................... 53 2.2.2. Những thành tựu đạt đƣợc của thị trƣờng dịch vụ ngân hàng Việt Nam55 2.2.2.1 Môi trƣờng ngành cạnh tranh ............................................................ 55 2.2.2.2 Nhu cầu cao về dịch vụ ngân hàng .................................................... 56 2.2.2.3 Các ngành liên quan tới ngành ngân hàng ......................................... 57 2.2.3. Những tồn tại của thị trƣờng dịch vụ ngân hàng Việt Nam ................. 58 2.2.3.1 Về năng lực tài chính ........................................................................ 58 2.2.3.2 Về trình độ công nghệ, thông tin và quản trị điều hành ..................... 59 2.2.3.3 Về nhân lực ...................................................................................... 59 2.2.3.4 Môi trƣờng ngành và năng lực cạnh tranh ......................................... 59 2.3. PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA THỊ TRƢỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VIỆT NAM KHI MỞ CỬA HỘI NHẬP – MÔ HÌNH PHÂN TÍCH SWOT ....... 61 2.3.1. Điểm mạnh ........................................................................................ 61 2.3.1.1 Môi trƣờng kinh tế vĩ mô ổn định ..................................................... 61 2.3.1.2 Về đối tác chiến lƣợc ........................................................................ 62 2.3.1.3 Vị thế thị trƣờng ............................................................................... 62 2.3.2. Điểm yếu............................................................................................ 63 2.3.2.1 Về thể chế......................................................................................... 63 2.3.2.2 Về cơ cấu.......................................................................................... 64 2.3.2.3 Về tài chính ...................................................................................... 65 2.3.2.4 Về năng lực ...................................................................................... 66 2.3.3. Cơ hội ................................................................................................ 67 2.3.3.1 Mở rộng quy mô thị trƣờng ............................................................... 67 2.3.3.2 Sự tham gia của ngân hàng nƣớc ngoài ............................................. 68 2.3.4. Thách thức ......................................................................................... 69 2.3.4.1 Phía cung của ngành ngân hàng ........................................................ 69 2.3.4.2 Phía cầu của ngành ngân hàng .......................................................... 70 2.3.4.3 Hiện đại hóa ngân hàng .................................................................... 71 2.3.4.4 Cổ phần hóa ngân hàng ..................................................................... 72 CHƢƠNG III: ĐỊNH HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 3.1. ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƢỜNG NGÂN HÀNG KHI VIỆT NAM GIA NHẬP VÀO WTO ................................................................................................. 73 3.1.1. Định hƣớng chung về chiến lƣợc phát triển thị trƣờng dịch vụ ngân hàng và tiến trình hội nhập kinh tế ............................................................. 73 3.1.1.1. Quan điểm có tính nguyên tắc về phát triển dịch vụ ngân hàng ........ 73 3.1.1.2. Mục tiêu phát triển dịch vụ ngân hàng ............................................. 74 3.1.1.3. Định hƣớng chiến lƣợc phát triển lĩnh vực ngân hàng trong hội nhập kinh tế quốc tế ................................................................................ 75 3.1.2. Định hƣớng phát triển đối với một số sản phẩm dịch vụ ngân hàng chủ yếu .................................................................................................... 76 3.1.2.1. Dịch vụ huy động vốn ...................................................................... 76 3.1.2.2. Dịch vụ tín dụng và đầu tƣ cho nền kinh tế ...................................... 77 3.1.2.3. Dịch vụ thanh toán ........................................................................... 78 3.1.2.4. Dịch vụ ngoại hối và các dịch vụ khác ............................................. 79 3.1.3. Đối với các đối tƣợng kinh doanh và sử dụng dịch vụ ngân hàng ....... 79 3.1.3.1.Đối với Ngân hàng Nhà nƣớc ........................................................... 79 3.1.3.2. Đối với các NHTM Nhà nƣớc .......................................................... 82 3.1.3.3.Đối với các ngân hàng thƣơng mại cổ phần ....................................... 84 3.1.3.4.Đối với các quỹ tín dụng nhân dân .................................................... 85 3.1.3.5. Đối với DN và khách hàng sử dụng ................................................. 86 3.2.MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP WTO..................................................... 88 3.2.1.Đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nƣớc ........................................ 88 3.2.1.1.Về môi trƣờng pháp lý và chính sách ................................................ 88 3.2.1.2.Về chiến lƣợc phát triển và hội nhập ................................................. 89 3.2.2.Đối với các tổ chức cung cấp các dịch vụ ngân hàng ........................... 91 3.2.2.1.Về hệ thống tổ chức và quản lý ......................................................... 91 3.2.2.2. Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng ................................................... 94 3.2.2.3.Tăng cƣờng năng lực tài chính .......................................................... 97 Kết luận................................................................................................................ 99 Tài liệu tham khảo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
-*** -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
[ơĐề tài:
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT
NAM GIA NHẬP WTO
Sinh viên thực hiện : TRẦN HẢI YẾN
Giáo viên hướng dẫn : TS NGUYỄN ĐÌNH THỌ
Hà Nội, 11 - 2006
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ỞVIỆT NAM 1.1.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH 3
1.1.1 Khái niệm thị trường dịch vụ tài chính 3
1.1.2 Khái quát chung về thị trường dịch vụ Ngân hàng Dịch vụ ngân hàng 5 1.1.2.1.Dịch vụ trên thị trường ngân hàng 5
1.1.2.2.Các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng 7
1.1.3.Các yếu tố cấu thành thị trường dịch vụ ngân hàng 8
1.1.3.1.Các đối tượng có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng 8
1.1.3.2.Giá cả các dịch vụ tài chính 8
1.1.3.3.Hệ thống quản lý Nhà nước đối với hoạt động của thị trường dịch vụ tài chính 11
1.2.CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI MỞ CỬA HỘI NHẬP THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 19
1.2.1 Hội nhập quốc tế thị trường dịch vụ tài chính – lĩnh vực ngân hàng 19
1.2.1.1.Bản chất Hội nhập Quốc tế về Dịch vụ Tài chính 20
1.2.1.2.Các xu hướng quốc tế hóa trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam 23 1.2.2 Cơ hội và thách thức đối với một nền kinh tế khi quyết định mở cửa hội nhập thị trường dịch vụ tài chính – lĩnh vực ngân hàng 24
1.2.3 Quá trình cải cách và mở cửa thị trường dịch vụ tài chính của Trung Quốc – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 27
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG, QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH VÀ MỞ CỬA CỦA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM 2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VIỆT NAM 31
2.1.1 Khái quát chung về cơ cấu ngành ngân hàng Việt Nam 31
Trang 32.1.1.2 Sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam 34
2.1.1.3 Các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng tới hoạt động của thị trường dịch vụ ngân hàng Việt Nam 43
2.1.2 Những cam kết và nghĩa vụ của Việt Nam khi mở cửa hội nhập thị trường dịch vụ ngân hàng 49
2.1.2.1 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) 49
2.1.2.2 Hiệp định chung về thương mại Dịch vụ (GATS) và tổ chức thương mại thế giới WTO 50
2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VIỆT NAM 51
2.2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh thị trường dịch vụ ngân hàng Việt Nam51 2.2.1.1 Các chỉ số tài chính cơ bản 51
2.2.1.2 Lợi nhuận và các chỉ số kinh doanh khác 53
2.2.2 Những thành tựu đạt được của thị trường dịch vụ ngân hàng Việt Nam55 2.2.2.1 Môi trường ngành cạnh tranh 55
2.2.2.2 Nhu cầu cao về dịch vụ ngân hàng 56
2.2.2.3 Các ngành liên quan tới ngành ngân hàng 57
2.2.3 Những tồn tại của thị trường dịch vụ ngân hàng Việt Nam 58
2.2.3.1 Về năng lực tài chính 58
2.2.3.2 Về trình độ công nghệ, thông tin và quản trị điều hành 59
2.2.3.3 Về nhân lực 59
2.2.3.4 Môi trường ngành và năng lực cạnh tranh 59
2.3 PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VIỆT NAM KHI MỞ CỬA HỘI NHẬP – MÔ HÌNH PHÂN TÍCH SWOT 61
2.3.1 Điểm mạnh 61
2.3.1.1 Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định 61
2.3.1.2 Về đối tác chiến lược 62
2.3.1.3 Vị thế thị trường 62
2.3.2 Điểm yếu 63
2.3.2.1 Về thể chế 63
2.3.2.2 Về cơ cấu 64
2.3.2.3 Về tài chính 65
Trang 42.3.3 Cơ hội 67
2.3.3.1 Mở rộng quy mô thị trường 67
2.3.3.2 Sự tham gia của ngân hàng nước ngoài 68
2.3.4 Thách thức 69
2.3.4.1 Phía cung của ngành ngân hàng 69
2.3.4.2 Phía cầu của ngành ngân hàng 70
2.3.4.3 Hiện đại hóa ngân hàng 71
2.3.4.4 Cổ phần hóa ngân hàng 72
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG NGÂN HÀNG KHI VIỆT NAM GIA NHẬP VÀO WTO 73
3.1.1 Định hướng chung về chiến lược phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng và tiến trình hội nhập kinh tế 73
3.1.1.1 Quan điểm có tính nguyên tắc về phát triển dịch vụ ngân hàng 73
3.1.1.2 Mục tiêu phát triển dịch vụ ngân hàng 74
3.1.1.3 Định hướng chiến lược phát triển lĩnh vực ngân hàng trong hội nhập kinh tế quốc tế 75
3.1.2 Định hướng phát triển đối với một số sản phẩm dịch vụ ngân hàng chủ yếu 76
3.1.2.1 Dịch vụ huy động vốn 76
3.1.2.2 Dịch vụ tín dụng và đầu tư cho nền kinh tế 77
3.1.2.3 Dịch vụ thanh toán 78
3.1.2.4 Dịch vụ ngoại hối và các dịch vụ khác 79
3.1.3 Đối với các đối tượng kinh doanh và sử dụng dịch vụ ngân hàng 79
3.1.3.1.Đối với Ngân hàng Nhà nước 79
3.1.3.2 Đối với các NHTM Nhà nước 82
3.1.3.3.Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần 84
3.1.3.4.Đối với các quỹ tín dụng nhân dân 85
3.1.3.5 Đối với DN và khách hàng sử dụng 86
Trang 5VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP WTO 88
3.2.1.Đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước 88
3.2.1.1.Về môi trường pháp lý và chính sách 88
3.2.1.2.Về chiến lược phát triển và hội nhập 89
3.2.2.Đối với các tổ chức cung cấp các dịch vụ ngân hàng 91
3.2.2.1.Về hệ thống tổ chức và quản lý 91
3.2.2.2 Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng 94
3.2.2.3.Tăng cường năng lực tài chính 97
Kết luận 99 Tài liệu tham khảo
Trang 6ATM Thẻ/máy rút tiền tự động ATM
ACB Ngân hàng Thương mại Châu á
AFTA Hiệp định chung về thương mại tự do ASEAN
BTA Hiệp định Thương mại Việt Mỹ
BTC Trung tâm đào tạo ngân hàng
CAR Hệ số An toàn Vốn
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
DSTTNK Doanh số thanh toán nhập khẩu
DSTTXK Doanh số thanh toán xuất khẩu
FDI Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài
GATS Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ
HTX Hợp tác xã
IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
MFN Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc
MNC Công ty đa Quốc gia
MOF Bộ Tài chính
MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư
NDT Đồng nhân dân tệ (Trung Quốc)
NHTMCP Ngân hàng Thương mại Cổ phần
NHTMNN Ngân hàng Thương mại Nhà nước
NHTMNN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
No&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
PBC Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc
POC Địa điểm rút tiền
PTTT Phương tiện thanh toán
ROA Tỷ lệ sau thuế trên Tổng tài sản
ROE Tỷ lệ sau thuế trên Vốn tự có
SPB Ngân hàng Chính sách
SWOT Điểm mạnh-điểm yếu-cơ hội-thách thức
SWAP Hoán đổi ngoại tệ
TCTD Tổ chức Tín dụng
TMQD Thương mại Quốc doanh
UNDP Tổ chức Phát triển Liên hợp quốc
VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam
VND Đồng Việt Nam
WB Ngân hàng Thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Lộ trình chính sách 22
Bảng 2: Ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng tại Việt Nam 31
Bảng 3: Thị phần của các ngân hàng thương mại Việt Nam 32
Bảng 4: Thị phần của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam 34
Bảng 5: Tình hình huy động vốn của các NHTMNN, 2001 – 2005 36
Bảng 6: Doanh số thanh toán xuất, nhập khẩu – Vietcombank, 2001 – 2005 38
Bảng7: Quy mô hệ thống ngân hàng Việt Nam 51
Bảng8: Vốn chủ sở hữu của một số NHTMCP, 2001 – 2005 52
Bảng 9: Hệ số an toàn vốn của các NHTMNN, 2004 – 2005 52
Bảng10: Lợi nhuận trước thuế của một số NHTMCP 53
Bảng11: Lợi nhuận sau thuế của các NHTMNN 54
Bảng12 : Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên Tổng tài sản (ROA) của một số NHTMCP 54 Bảng13: Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên Vốn tự có (ROE) của một số NHTMCP 55
Bảng14: Chỉ số ROA và ROE của các NHTMNN, 2005 55
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1: Số lượng tài khoản mở tại các ngân hàng Việt Nam, 2001 – 2005 35
Hình 2a, 2b: Thẻ tín dụng nội địa và quốc tế phát hành 39
Hình 3: Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội, 2001 – 2005 43
Hình 4: Cơ cấu cán cân vốn của Việt Nam, 2001 – 2004 44
Hình 5: Tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán, 2000 – 2005 45
Hình 6: Cơ cấu tổng phương tiện thanh toán năm 2004 46
Hình 7: Tín dụng đối với từ nền kinh tế, 2001 – 2005 47
Hình 8: Huy động vốn từ nền kinh tế, 2001 – 2005 48
Hình 9: Lợi nhuận trước thuế của hệ thống ngân hàng Việt Nam, 2000 – 2005 53
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế toàn cầu là một trong những hiện tượng kinh tế toàn cầu nổi bật nhất cuối thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21 Các nền kinh tế phát triển đang ngày càng đẩy mạnh sự gia tăng các luồng thương mại và đầu tư trên toàn thế giới Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hoá dĩên ra mạnh mẽ như vậy, các nền kinh tế đang phát triển cũng đang dần mở cửa cùng với việc tăng cường của các thể chế kinh tế quốc tế và quyền lực của các công ty xuyên quốc gia trên phạm
vi toàn cầu Ngày nay, hội nhập kinh tế là một xu thế không thể tránh khỏi đối với tất cả các quốc gia trên thế giới
Để bắt nhịp với xu thế đó, Việt Nam đã chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế: ký kết hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và đã gia nhập vào
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) – ngày 07/11/2006, đồng thời tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế quốc tế cũng như các hiệp định thúc đẩy quan hệ thương mại song phương khác Trong bối cảnh hội nhập đó, có thể nói thị trường dịch vụ ngân hàng là một trong những ngành nhận được sự quan tâm hàng đầu của Nhà nước và được xếp vào diện các ngành chủ chốt, cần được tái cơ cấu nhằm ngân cao năng lực cạnh tranh Điều này là do ngân hàng là một trong những lĩnh vực hết sức nhạy cảm và phải mở cửa gần như hoàn toàn theo các cam kết gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO Hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức như thế nào, tận dụng các cơ hội của quá trình hội nhập mang lại
ra sao, đồng thời làm cách nào có thể biến thách thức thành cơ hội để không những
có thể giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập mà còn không phải chịu thua thiệt ngay trên “sân nhà” Điều này đòi hỏi hệ thống ngân hàng Việt Nam phải có
sự chuẩn bị kỹ càng, phải nỗ lực lớn trong quá trình cải cách và phải phối hợp chặt chẽ với các Chính phủ và các cơ quan bộ ngành để có thể định hướng phát triển bền vững
Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng ngành ngân hàng Việt Nam để từ đó đề xuất một số các giải pháp phát triển thị trường dịch vụ tài chính – ngành ngân hàng
đã và đang trở thành một yêu cầu mang tính cấp thiết trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu sắc như hiện nay
Trang 9hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO” làm đề tài cho nghiên cứu khóa luận của mình
Mục đích nghiên cứu
- Nêu rõ thực trạng phát triển của hệ thống ngành ngân hàng Việt Nam hiện nay, dùng làm cơ sở để phân tích năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam – dưới góc độ mô hình SWOT trong quá trình mở cửa hội nhập thị trường dịch vụ tài chính khi Việt Nam gia nhập WTO
- Đề xuất một số giải pháp để phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là hệ thống các ngân hàng tại Việt Nam
- Pham vi nghiên cứu: do khuôn khổ của khóa luận nên chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển, những điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống các ngân hàng Việt Nam có ảnh hưởng tới quá trình mở cửa hội nhập thị trường dịch vụ tài chính, và các cơ hội, thách thức mà ngành ngân hàng Việt Nam phải đối mặt trong quá trình hội nhập kinh tế
Phương pháp nghiên cứu:
Vận dụng tổng hợp các phương pháp phi thực nghiệm, phương pháp thống kê
và một số phương pháp khác để làm rõ kết quả nghiên cứu
Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được kết cấu làm 3 chương:
CỦA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
Trang 10không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong có được sự ủng hộ và góp ý của các thầy cô trong trường, các bạn độc giả để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 11CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
1.1.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
1.1.1 Khái niệm thị trường dịch vụ tài chính
Theo Phillip Cotler: Dịch vụ là mọi hoạt động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình, và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì
đó Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất
Dịch vụ tài chính gắn liền với nền kinh tế thị trường Đó là các loại hình dịch vụ theo cách hiểu chung bao gồm: dịch vụ ngân hàng; dịch vụ trên thị trường vốn; dịch vụ bảo hiểm; dịch vụ kế toán, kiểm toán, tư vấn tài chính… Dịch vụ tài chính đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế: nó giúp cho việc tăng cường chuyên môn hóa trong nền kinh tế, đồng thời tạo ra sự thay đổi lớn trong việc xóa dần
và chuyển từ độc quyền cung cấp dịch vụ của Nhà nước sang các thành phần kinh tế khác; là quá trình làm gia tăng giá trị của sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
Khái niệm dịch vụ tài chính tuy là một khái niệm mới nhưng khái niệm này đã được nghiên cứu khá nhiều và được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, do tính chất quan trọng của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh mở cửa và hội nhập như hiện nay thì cần phải có một cách hiểu chung
và thống nhất để thuận lợi cho việc phát triển lĩnh vực này tại mỗi nước và trên toàn thế giới Thị trường dịch vụ tài chính là một khái niệm mới do Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đưa ra nhằm hình thành các quy tắc ứng xử giữa các nước thành viên
WTO trong hoạt động thương mại dịch vụ Theo WTO: “Một dịch vụ tài chính là bất
kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung
Trang 12cấp Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)”
Theo quan niệm trên của WTO, các loại dịch vụ tài chính được chia thành các loại cơ bản sau:
gửi tiết kiệm, tài khoản tiết kiệm, tín phiếu, trái phiếu); Cho vay (tín dụng, thuê
mua tài chính, cầm cố thế chấp, cho vay ký quỹ, bảo lãnh thanh toán, chiết khấu
giấy tờ có giá); Thanh toán (thanh toán, chuyển tiền, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, séc du lịch và hối phiếu…); Giao dịch (thị trường tiền tệ, ngoại hối); Môi
giới đầu tư (môi giới đầu tư chứng khoán…); Tư vấn tài chính
bảo hiểm trực tiếp (bao gồm cả đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm) về trách nhiệm dân sự, tài sản, con người…; Sử dụng quỹ bảo hiểm (đầu tư nguồn vốn bảo hiểm vào các hình thức khác nhau như đầu tư chứng khoán, góp vốn…) và Các dịch vụ phụ trợ liên quan đến bảo hiểm như dịch vụ tư vấn, dịch vụ đánh giá sắc xuất rủi ro, khiếu nại, đại lý bảo hiểm…
Bên cạnh các loại hình dịch vụ tài chính nêu trên, có một số loại dịch vụ kinh doanh có liên quan chặt chẽ và mật thiết đến dịch vụ tài chính, đó là dịch vụ kế toán Dịch vụ kế toán bao gồm các loại hình dịch vụ cơ bản là tư vấn thuế, tư vấn kế toán và kiểm toán… Quá trình hoạt động của các dịch vụ kế toán, kiểm toán diễn ra song song
và có mối quan hệ chặt chẽ với các dịch vụ tài chính khác Do vậy, trên khía cạnh nghiên cứu và quản lý, chúng ta có thể xếp các loại hình dịch vụ này vào loại hình dịch
vụ tài chính
Thị trường dịch vụ tài chính là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch các loại hình dịch vụ tài chính nêu trên Nói cách khác, thị trường dịch vụ tài chính là tổng hợp các mối quan hệ về tổ chức, quản lý và vận hành các hoạt động giao dịch các loại dịch vụ ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ kế toán, kiểm toán và dịch vụ tài chính khác
Trang 13Trên cơ sở phân tích trên, có thể phân chia các loại hình dịch vụ tài chính thành
4 nhóm cơ bản sau:
1.1.2 Khái quát chung về thị trường dịch vụ Ngân hàng Dịch vụ ngân hàng
1.1.2.1.Dịch vụ trên thị trường ngân hàng
Các loại hình dịch vụ ngân hàng bao gồm:
a) Nhận tiền gửi: Các ngân hàng nhận các khoản tiết kiệm của khách hàng, dưới dạng
quỹ sinh lời được gửi tại ngân hàng với những thời hạn và lãi suất khác nhau
b) Cung cấp các tải khoản giao dịch: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng dịch vụ mở
tài khoản tiền gửi giao dịch, cho phép người mở tài khoản viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ
c) Quản lý tiền mặt: Ngân hàng cung ứng dịch vụ cho các công ty kinh doanh trong
việc quản lý các khoản thu và chi, tiến hành việc đầu tư phần thặng dư tiền mựt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán
d) Trao đổi ngoại tệ (dịch vụ ngoại hối): Theo yêu cầu của khách hàng, ngân hàng sẽ
đứng ra mua, bán một đồng tiền lấy đồng tiền khác và hưởng phí dịch vụ Hiện nay, do
sự phát triển của thị trường ngoại hối, dịch vụ ngân hàng về ngoại hối rất đa dạng và có nhiều dịch vụ cao cấp như: hoán đổi, quyền chọn, kỳ hạn, giao sau… cung cấp cho khách hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp tham gia các hoạt động kinh tế đối ngoại những công cụ hiệu quả phòng ngừa rủi ro hối đoái
đ) Dịch vụ về tín dung: Đây là loại hình dịch vụ rất đa dạng, bao gồm các loại hình cơ
bản sau:
Trang 14 Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại: Ngân hàng nhận chiết khấu thương phiếu của các doanh nghiệp, theo đó, các doanh nhân bán các khoản
nợ (phải thu) của các khách hàng của họ cho ngân hàng để lấy tiền mặt Thực chất, việc ngân hàng thực hiện chiết khấu thương phiếu là bước tiếp chuyển tiếp sang việc ngân hàng cho vay trực tiếp đối với khách hàng để họ
có vốn mua hàng dự trữ, mua thiết bị…
Cho vay tài trợ dự án: Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phí xây dựng các dự án mới, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ cao Do rủi ro của loại hình tín dụng này cao nên chúng thường được thực hiện qua một công ty đầu tư thành viên của công ty sở hữu ngân hàng
phát triển, cho vay tiêu dùng chiếm một tỷ trọng đáng để trong cơ cấu tín dụng ngân hàng
e) Dịch vụ ủy thác: Các ngân hàng thực hiện việc quản lý tài sản và quản lý hoạt động
tài chính cho các cá nhân và doanh nghiệp Theo đó, ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy mô vốn được ủy thác Đối với các cá nhân, thông qua phòng
ủy thác của ngân hàng, khách hàng có thể tiết kiệm tiền cho con đi học Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khoản tiền đó đến khi khách hàng cần sử dụng Ngoài ra, các ngân hàng đóng vai trò là người được ủy thác thực hiện di chúc, quản lý tài sản cho các khách hàng đã qua đời thông qua việc công bố tài sản, bảo quản tài sản có giá, đầu tư
có hiệu quả, và đảm bảo cho người thừa kế hợp pháp nhận được khoản thừa kế Đối với các doanh nghiệp, ngân hàng cung cấp dịch vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và quản lý kế hoạch tiền lương Ngân hàng đóng vai trò như những người đại lý cho các công ty trong hoạt động phát hành cổ phiếu, trái phiếu và trả lãi hoặc cổ tức cho các chứng khoán của công ty, thu hồi các chứng khón khi đến hạn bằng cách thanh toán toàn bộ cho những người nắm giữ chứng khoán
Trang 15g) Cho thuê tài chính: Đây là dịch vụ khá phổ biến, ngân hàng cho khách hàng là doanh nghiệp lựa chọn mua các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó, ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê Khách hàng phải trả tiền thuê thiết bị, chịu chi phí sửa chữa và thuế
h) Tư vấn tài chính: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng dịch vụ tư vấn về tiết kiệm
và đầu tư Hiện nay, dịch vụ tư vấn tài chính của các ngân hàng rất đa dạng và phong phú: từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các cá nhân, doanh nghiệp đến tư vấn cơ hội kinh doanh, tư vấn thị trường trong và ngoài nước cho các doanh nghiệp là khách hàng của ngân hàng
i) Bán các dịch vụ bảo hiểm: Các ngân hàng thực hiện việc bán bảo hiểm tín dụng cho
khách hàng nhằm đảm bảo việc hoàn trả của khách hàng khi họ rơi vào tình trạng không thể trả được nợ
k) Môi giới đầu tư chứng khoán: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng của họ cơ hội
mua cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác mà không cần phải thông qua các nhà môi giới chứng khoán khác
l) Dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp: Hợp đồng trợ cấp là kế hoạch tiết kiệm dài hạn
cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai (ví dụ ngày nghỉ hưu) Dịch vụ quỹ tương hỗ chính là việc cung cấp các chương trình đầu tư một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu hay chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ (tối đa hóa thu nhập hoặc tăng giá trị của vốn)
1.1.2.2.Các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng
a) Các tổ chức nhận tiền gửi: Dịch vụ tài chính cơ bản mà các trung gian tài chính loại
này cung cấp ra thị trường là dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ liên quan đến ngân hàng, trong đó quan trọng nhất là dịch vụ tiền gửi và cho vay tín dụng Các tổ chức nhận tiền gửi được tổ chức dưới các hình thức: Ngân hàng thương mại, Hiệp hội tiết kiệm và cho vay, Ngân hàng tiết kiệm tương trợ và Liên hiệp tín dụng
Trang 16b) Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng: Đó là các loại công ty bảo hiểm, công ty tái
bảo hiểm và các quỹ trợ cấp các dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm nhằm mục đích chính là phân tán và chia sẻ rủi ro trong nền kinh tế, bên cạnh đó là huy động vốn qua phí bảo hiểm, hoặc là tiền đống góp của người làm công và các ông chủ, sau đó đầu tư lại số vốn này cho nền kinh tế thông qua thị trường tài chính hoặc đầu tư trực tiếp dưới hình thức góp vốn
1.1.3.Các yếu tố cấu thành thị trường dịch vụ ngân hàng
1.1.3.1.Các đối tượng có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng
a) Chính phủ
Chính phủ tham gia vào thị trường dịch vụ ngân hàng với tư cách là người cần dịch vụ ngân hàng trong trường hợp Chính phủ tiến hành huy động các nguồn tài chính phục vụ mục tiêu đầu tư phát triển nền kinh tế – xã hội như phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương
1.1.3.2.Giá cả các dịch vụ tài chính
a) Khái niệm về giá cả dịch vụ tài chính – dịch vụ ngân hàng
Giá cả dịch vụ tài chính được hiểu một cách chung nhất là khoản chi phí mà tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ tài chính phải trả cho các nhà cung cấp loại hình dịch vụ
Trang 17tài chính đó, và đây cũng chính là nguồn thu của các tổ chức kinh doanh các loại dịch
vụ tài chính để duy trì sự tồn tại của tổ chức, đảm bảo việc cung cấp các dịch vụ tài chính và thu lợi nhuận
Tương tự, giá cả dịch vụ ngân hàng là khoản chi phí mà các tổ chức, cá nhân phải trả cho ngân hàng khi muốn sử dụng các dịch vụ của ngân hàng Bên cạnh chất lượng thì giá cả các dịch vụ ngân hàng chính là một trong những yếu tố cạnh tranh của các ngân hàng để thu hút khách hàng
Biểu hiện cụ thể của giá cả các loại dịch vụ tài chính trên thị trường dịch vụ ngân hàng hiện nay chính là lãi suất huy động tiết kiệm của các tổ chức tín dụng, lãi suất cho vay, phí mở tài khoản…
b) Ảnh hưởng của giá cả dịch vụ ngân hàng tới sự phát triển của thị trường tài chính và nền kinh
tế
Giá cả các loại dịch vụ tài chính có tác động lớn đến sự phát triển của thị trường cũng như các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính Giá cả các loại dịch vụ tài chính quá cao hay quá thấp đều có tác động tiêu cực đến sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính Trường hợp giá các loại dịch vụ tài chính quá cao, khách hàng sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận và sử dụng các loại dịch vụ tài chính; ngược lại trong trường hợp giá các loại dịch vụ tài chính quá thấp thì các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh, nhiều khả năng dẫn đến thua lỗ và phá sản Như vậy, trong
cả hai trường hợp trên đều đưa đến tác động tiêu cực là thu hẹp thị trường trường dịch
vụ tài chính do đó giá cả các loại dịch vụ tài chính phải được xác định ở mức thích hợp theo sự phát triển của nền kinh tế – xã hội, sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính
Trong đó các loại dịch vụ tài chính thì giá cả các loại dịch vụ ngân hàng hiện nay đang rất được chú trọng do vai trò quan trọng của ngành này trong sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập Trong bối cảnh gia nhập vào WTO thì ngân hàng được coi là ngành “nóng” nhất vì chỉ trên cơ sở ngành ngân hàng phát triển vững mạnh và hội nhập một cách vững vàng thì nền kinh tế Việt Nam mới
Trang 18có thể gia nhập WTO thành công Đặc biệt, các loại dịch vụ như: cho vay, bảo lãnh, thanh toán quốc tế và chuyển tiền đang rất được quan tâm vì những dịch vụ này có tác động rất lớn đến việc thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển
Khi giá cả dịch vụ ngân hàng – biểu hiện cụ thể là lãi suất ngân hàng tăng cao thì chính các ngân hàng là những tổ chức chịu tổn thất và rủi ro đầu tiên Một nguyên nhân khách quan như đồng tiền trượt giá khiến cho chỉ số giá tiêu dùng tăng thì để đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền, ngân hàng buộc phải tăng lãi suất tiền gửi Đây cũng
là một nguyên tắc hoạt động của ngân hàng Khi lãi suất tiền gửi tăng, lãi suất cho vay cũng buộc phải tăng theo Tuy nhiên để vẫn thu hút được khách hàng gửi tiền cũng như khách hàng đi vay thì mức tăng lãi suất cho vay không thể tăng tương ứng và thường tăng chậm hơn mức tăng lãi suất tiền gửi Điều này khiến các ngân hàng phải đối mặt với hai rủi ro lớn đó là: giảm lợi nhuận và mức tăng của nợ khó đòi
c) Các chính sách giá cả dịch vụ ngân hàng để hướng tới sự phát triển nền kinh tế bền vững
dịch vụ ngân hàng tới sự phát triển của ngành ngân hàng nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung Nhưng giá cả của các dịch vụ tài chính cũng như dịch vụ ngân hàng lại được quyết định bởi cả hai tác nhân: Thị trường và Nhà nước
người có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng Thị trường dịch vụ ngân hàng cũng như các loại thị trường dịch vụ khác sẽ chịu tác động của những quy luật của nền kinh tế thị trường: đó là quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và quy luật lưu thông tiền tệ Do vậy, có rất nhiều yếu tố tác động vào thị trường dịch vụ ngân hàng, từ
cả phía cung lẫn phía cầu hoặc từ chính quan hệ cung cầu dịch vụ ngân hàng Đây cũng chính là các yếu tố căn bản hình thành nên giá cả của các dịch vụ ngân hàng
Tuy nhiên, Nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết và đưa
ra các chính sách giá cả dịch vụ tài chính nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng để hướng tới sự phát triển nền kinh tế bền vững Mặc dù thị trường vẫn là tác nhân chính
Trang 19quyết định giá cả các dịch vụ tài chính nhưng trong trường hợp cần thiết Nhà nước vẫn phải can thiệp vào chính sách giá cả các loại dịch vụ ngân hàng nhằm:
+ Ngăn chặn tình trạng độc quyền giá cả
+ Ngăn chặn khả năng xảy ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng bảo vệ quyền lợi chính đáng của các lực lượng tham gia thị trường
+ Định hướng chính sách giá cả phục vụ mục tiêu phát triển toàn diện nền kinh
các cơ quan quản lý Nhà nước để điều hành và quản lý thị trường dịch vụ tài chính theo
hệ thống pháp luật này Trong hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước đối với thị trường dịch vụ tài chính, Chính phủ là cơ quan quản lý Nhà nước cao nhất, thống nhất quản lý
và điều hành mọi hoạt động của thị trường dịch vụ tài chính Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện được nhiệm vụ của mình, Chính phủ lại phân công quyền hạn và trách nhiệm
cụ thể cho từng cơ quan thuộc và trực thuộc Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý và điều hành thị trường tài chính – tiền tệ theo từng khía cạnh nhất định trên cơ sở nhiệm
vụ được giao Cụ thể, các cơ quan được Chính phủ giao trách nhiệm quản lý và điều hành thị trường dịch vụ tài chính bao gồm: Bộ Tài Chính, Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương) và các Bộ, ban ngành khác
Trang 20Các cơ quan quản lý Nhà nước nêu trên sử dụng hệ thống pháp luật và các chính sách phát triển kinh tế vĩ mô khác nhau như: Chính sách tài chính khoá, chính sách quản lý nợ, chính sách thâm hụt và thặng dư ngân sách, chính sách thuế, chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái… để định hướng và quản lý sự phát triển của thị trường, đảm bảo thị trường ngày càng phát triển, hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật, phục vụ tốt nhất chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trên, cơ chế và hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
Thứ nhất: quản lý Nhà nước không mang tính quản lý hành chính can thiệp
trực tiếp, quá sâu vào hoạt động kinh doanh trên thị trường, mà phải mang tính chất quản lý vĩ mô, định hướng thông qua hệ thống pháp luật và các công cụ thị trường để điều chỉnh thị trường hoạt động theo khuôn khổ pháp luật, phục vụ các mục đích quản
lý vĩ mô chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Ví dụ, đối với vấn đề quản lý, can thiệp vào lãi suất trên thị trường tín dụng (một loại giá cả quan trọng của dịch vụ ngân
hàng), các cơ quan quản lý Nhà nước cần nắm vững quy luật: lãi suất cao thì cầu tín
dụng thấp và ngược lại lãi suất thấp thì cầu tín dụng sẽ tăng lên, Nhà nước có thể tác
động một cách gián tiếp thông qua cơ chế thị trường: Nhà nước thực hiện cung hoặc cầu một lượng vốn nhất định làm cho lãi suất trên thị trường biến đổi theo định hướng chính sách kinh tế vĩ mô chung của toàn bộ nền kinh tế Không nên thực hiện chính sách can thiệp trực tiếp: Nhà nước trực tiếp xác định tỷ lệ lãi suất trên thị trường mà nên để thị trường tự điều tiết lãi suất trong nền kinh tế trên cơ sở định hướng của các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước Tuy nhiên, đối với các thị trường kém phát triển hoặc trong các trường hợp khẩn cấp, Nhà nước vẫn cần phải điều chỉnh trực tiếp chế đội lãi suất trong nền kinh tế nhằm đảm bảo sự phát triển vững mạnh của cả nền kinh tế – xã hội
Thứ hai: hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước cần đảm bảo gọn nhẹ, giảm tối
thiểu các thủ tục hành chính gây cản trở cho hoạt động của thị trường dich tài chính Vấn đề chính ở đây là thống nhất và giảm tối thiểu các đầu mối quản lý và điều hành
Trang 21thị trường, đồng thời có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan đầu mối quản lý Nhà nước đối với hoạt động của thị trường, đảm bảo thực hiện đầy đủ chức năng quản lý của Nhà nước đối với thị trường nhưng không chồng chéo giữa các cơ quan quản lý Nhà nước
b)Hiện trạng khung pháp lý cho ngành ngân hàng và tác động của nó tới sự phát triển chung của ngành ngân hàng Việt Nam
Trong những năm qua, khung pháp lý cho ngành ngân hàng đã từng bước được cải thiện Mốc quan trọng đầu tiên là năm 1990, hai Pháp lệnh ngân hàng đã được ban hành tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi sang hệ thống ngân hàng hai cấp Vào năm
1997, hai pháp lệnh trên đã được cải tiến để trở thành Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng, có hiệu lực thi hành từ tháng 10/1998 Hai luật này đã tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn cho các tổ chức tín dụng, góp phần duy trì ổn định và phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu cải cách hành chính, sự nghiệp hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước, nâng cao hiệu quả hoạt động tiền tệ - ngân hàng, trong năm 2003 và 2004 Luật NHNN và Luật Các TCTD đã được bổ sung, sửa đổi Những sửa đổi này được thực hiện nhằm giải quyết sự thiếu hụt về các dịch vụ ngân hàng, nâng cao chất lượng hoạt động, năng lực quản lý, bên cạnh đó khuyến khích sự độc lập của các tổ chức tín dụng
Ngoài ra, việc sửa đổi bổ sung hệ thống pháp luật ngân hàng còn nhằm xây dựng hệ thống ngân hàng hiện đại phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, loại bỏ các thủ tục hành chính, giảm thiểu sự can thiệp không cần thiết của các cơ quan quản
lý Nhà nước vào hoạt động của TCTD, mở rộng và quy định lại loại hình TCTD, củng
cố hệ thống pháp lý, nhằm đáp ứng các yêu cầu của việc hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, và chuẩn bị cho việc gia nhập WTO trong thời gian tới Trong Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 4 điều khoản (9, 17, 21 và 32) đã được sửa đổi tương ứng với nhu cầu thay đổi trong chính sách quản lý tiền tệ, như là các điều khoản minh bạch hoá hoạt
Trang 22động của ngân hàng, các quy định về hoạt động thị trường mở1
Trong Luật về Các Tổ chức Tín dụng, 20 điều khoản đã được sửa đổi có liên quan đến những điểm khác biệt giữa tín dụng ưu đãi và tín dụng thương mại, việc sắp xếp và các hoạt động của các tổ chức tín dụng
và tiếp đó là sự ra đời hai Luật ngân hàng 1997 đã đánh dấu những bước tiến lớn về hiện đại hoá công nghệ quản lý và tự do hoá hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước: Lãi suất đã được tự do hoá, tỷ giá hối đoái đã được điều hành linh hoạt, các công cụ như chiết khấu, tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường
mở đã hình thành và từng bước phát huy tác dụng Thị trường tiền tệ (cả nội tệ và ngoại tệ) đã ngày càng sôi động Nhờ đó, các căn bệnh kinh niên, phổ biến trong cơ chế bao cấp như: Nạn khan hiếm tiền mặt, lạm phát phi mã và những đột biến của tỷ giá hối đoái đã cơ bản được chấm dứt từ 1993
Ngoài ra, NHNN đã có nhiều nỗ lực trong việc hình thành và không ngừng đổi mới điều hành các công cụ chính sách tiền tệ theo các tiêu chuẩn quốc tế Trong giai
1 Ví dụ, Quyết định 42-2003-QD-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra ngày 13 tháng 01 năm 2003 phác thảo kế hoạch đổi mới ngành ngân hàng Việt Nam Quyết định số 109-QD-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra ngày 30 tháng 01 năm 2004 liệt kê các ấn phẩm pháp lý của Ngân hàng Nhà nước năm 2004.
Trang 23đoạn đầu, để phù hợp với điều kiện thị trường tiền tệ chưa thực sự phát triển, NHNN
đã lựa chọn sử dụng nhiều hơn các công cụ trực tiếp như hạn mức tín dụng trong điều hành chính sách tiền tệ Đặc biệt, trong năm 2005 trước sức ép của chỉ số giá tiêu dùng
có xu hướng tăng liên tục ở mức khá cao và mục tiêu tăng trưởng kinh tế, NHNN đã chủ động đưa ra các giải pháp điều hành CSTT chuyển mạnh sang giải pháp thị trường, đồng thời bám sát quy luật thị trường và xu thế hội nhập quốc tế Điều này được thể hiện ở sự đổi mới trong việc sử dụng các công cụ tiền tệ gián tiếp như:
Nghiệp vụ thị trường mở : Năm 2005 đánh dấu bước phát triển đáng kể sau 5
năm được NHNN chính thức thực hiện Tính chung cả năm 2005, số lượng phiên giao dịch vụ tăng 28,5% so với năm 2004, số phiên giao dịch tăng lên 3 phiên/tuần Quy mô hoạt động nghiệp vụ thị trường mở tiếp tục được mở rộng: tổng doanh số giao dịch năm 2005 đạt 102.511 tỷ đồng, tăng 65,5% so với năm 2004 Số lượng thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường mở trong năm 2005 cũng được tăng cường.được thực hiện từ năm 2000 và đến nay vẫn còn là một công cụ thường được NHNN sử dụng
Công cụ tái cấp vốn: đến nay tái cấp vốn của NHNN Việt Nam cho các NHTM
chủ yếu được thực hiện dưới các hình thức chiết khấu, tái chiết khấu, cho vay có đảm bảo bằng giấy tờ có giá Các thủ tục cho việc tái cấp vốn đã được đơn giản hoá và đang được áp dụng khá bình đẳng cho tất cả các ngân hàng, không phân biệt loại hình sở hữu Công cụ tái cấp vốn được NHNN sử dụng thường xuyên nhằm tác động vào các điều kiện của thị trường tiền tệ của NHNN Để mở rộng khả năng điều tiết tiền tệ của HNTW, năm 2005 NHNN đã ban hành Quyết định 1909/QĐ-NHNN ngày 30/12/2005
về việc các TCTD sử dụng một số loại trái phiếu trong các giao dịch tái cấp vốn của NHNN Đồng thời, trong năm 2005 các TCTD đã quan tâm hơn đến việc sử dụng triệt
để hơn hạn mức chiết khấu đã tăng từ 60% đến 80% tổng hạn mức chiết khấu được phân bổ Còn đối với giao dịch vụ tái cấp vốn trong năm 2005 doanh số giao dịch tăng 50% so với năm 2004
Công cụ dự trữ bắt buộc: NHNN đã từng bước đổi mới theo hướng nâng cao
khả năng điều tiết của các công cụ dự trữ, phù hợp thông lệ quốc tế và tạo điều kiện
Trang 24cho TCTD sử dụng vốn linh hoạt Trên thực tế, NHNN đã quy định dự trữ bắt buộc duy trì trên các khoản tiền gửi kỳ hạn từ năm 1995, được áp dụng cho cả các khoản tiền gửi có kỳ hạn và không có kỳ hạn tăng từ dưới 12 tháng tới dưới 24 tháng Từ tháng 8 năm 2003, các tổ chức tín dụng được phép tính cả tiền gửi tại các chi nhánh NHNN là tiền duy trì dự trữ bắt buộc NHNN cũng áp dụng các điều kiện dự trữ bắt buộc cho cả tiền đồng và tiền đô la Mỹ Trong năm 2005, NHNN tiếp tục điều hành công cụ dự trữ bắt buộc theo hướng tính bình quân tháng và thực hiện trả lãi cho tiền gửi trong mức dự trữ bắt buộc bằng VND và không phải trả tiền lãi cho tiền gửi vượt mức dự trữ bắt buộc để các ngân hàng có thể sử dụng linh hoạt nguồn vốn và hạn chế nguồn vốn dư thừa Nhờ vậy, mức dự trữ vượt quá của các TCTD tại NHNN đã giảm mạnh, trung bình tỷ lệ dự trữ vượt trên tổng số tiền phải dự trữ bắt buộc đã giảm từ mức 47% năm 2004 xuống còn 24% năm 2005
Ngoài các công cụ chính sách tiền tệ nêu trên, từ tháng 7/2001, NHNN bắt đầu thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ như một công cụ chính sách tiền tệ Thông qua nghiệp vụ này, NHNN đã bơm nhiều tiền đồng hơn nữa vào các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các tổ chức trước đây đã gặp khó khăn về vốn khả dụng bằng tiền đồng
Cơ chế điều hành lãi suất: từ năm 2002, NHNN bắt đầu thực hiện cơ chế lãi
suất thỏa thuận trong hoạt động cho vay thương mại bằng tiền đồng của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng Các mức lãi suất này được dựa trên các mức lãi suất cơ bản được quyết định và ban hành bởi NHNN Việt Nam Đây là bước đột phá quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ theo các nguyên tắc thị trường, khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng mạng lưới hoạt động để thực hiện việc huy động và cho vay với mức lãi suất phù hợp với cung cầu vốn trên thị trường Đồng thời, điều hành chính sách lãi suất một cách linh hoạt trên cơ sở phân tích diễn biến lãi suất tiền tệ, lạm phát trong nước và lãi suất trên thị trường quốc tế Điều này nâng cao tính tự chủ trong kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các tổ chức tín dụng Vì vậy, lãi suất thị trường năm
2005 đã tăng do điều kiện thị trường nhưng không gây đột biến và đảm bảo hài hòa
Trang 25mỗi quan hệ giữa người gửi tiền – tổ chức tín dụng – người đi vay Tín dụng tiếp tục
mở rộng đã hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế
Cơ chế điều hành tỷ giá: từ 1999, NHNN thực hiện một bước đổi mới cơ bản
trong điều hành tỷ giá chuyển từ quản lý có tính chất hành chính sang điều hành theo các nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước Theo đó, thay cho việc công bố
tỷ giá chính thức, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng của ngày làm việc gần nhất và các ngân hàng thương mại được phép giao dịch với tỷ giá không vượt quá tỷ giá do NHNN công bố cộng biên độ 0,1% Đến tháng 7 năm 2002, biên độ tỷ giá được mở rộng theo 2 chiều lên +/-0,25% Còn trong năm 2005, NHNN thực hiện điều hành tỷ giá (USD/VND) tiếp tục ổn định tương đối ( tăng 0,86%), góp phần tại lòng tin của người dân đối với VND, tránh được sự dịch chuyển từ VND sang gửi ngoại tệ trong bối cảnh lạm phát cao Đồng thời tạo tâm
lý thuận lợi, hướng nhìn nhận tốt về môi trường đầu tư ở Việt Nam đối với các nhà đầu
tư nước ngoài
Cơ chế quản lý ngoại hối: Ngân hàng Nhà nước đã từng bước đổi mới chính
sách quản lý ngoại hối theo hướng tự do hóa, ngày càng thông thoáng hơn, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài Đặc biệt, NHNN đã liên tục giảm tỷ lệ kết hối từ mức 80-100% năm 1998 xuống 0% năm 2003 Các quy định về mở tài khoản ngoại tệ, quy định về mang ngoại tệ qua biên giới được từng bước nới lỏng Chính sách quản lý vay trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp cũng như các chính sách liên quan khác ngày càng linh hoạt, thông thoáng hơn, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh
thay đổi quan trọng, đáp ứng được những nhu cầu khách quan của nền kinh tế, nhu cầu hội nhập và tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nươc về ngoại hối và hoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối, cụ thể như:
- Ngày 27/06/2005, NHNN ban hành Quyết định số 921/2005/QĐ-NHNN với nội dung chính là nâng mức ngoại tệ và đồng Việt Nam phải khai báo Hải quan khi
Trang 26xuất nhập cảnh (từ 3.000 USD lên 7.000 USD đối với ngoại tệ và từ 5 triệu lên 15 triệu VND đối với đồng Việt Nam)
- Ngày 18/10/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 131/2005/NĐ-CP với nội dung chính là khẳng định nguyên tắc tự do hóa vãng lai, theo đó các khoản thanh toán
và chuyển tiền đối với các giao dịch vãng lai được tự do thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam
- Ngày 26/08/2005, Thống đốc NHNN ký ban hành thông tư 04/2005 hướng dẫn
về quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Đây là một thay đổi quan trọng nhằm tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn ngoại tệ cho các dự án đầu tư ra nước ngoài, từng bước mở rộng khả năng và triển vọng vươn ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế
- Ngày 21/12/2005, công bố Pháp lệnh ngoại hối nhằm tạo ra những bước thay đổi quan trọng trong chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam Pháp lệnh ngoại hối khẳng định nguyên tắc tự do hóa đối với các giao dịch vãng lai, đồng thời thực hiện từng bước nới lỏng, quản lý có chọn lọc các giao dịch vốn, quy định những nguyên tắc nhằm hạn chế đô la hóa Bên cạnh đó, pháp lệnh này còn mở cửa mạnh mẽ thị trường ngoại hối thông qua việc cho phép các TCTD phi ngân hàng tham gia thị trường ngoại
tệ liên ngân hàng, đa dạng hóa các dịch vụ và xóa bỏ chế độ cấp phép đối với loại hình giao dịch ngoại hối Do vậy, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam qua các kênh tăng 20% so với năm 2004
- Thông tư 09/2004/TT – NHNN có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 về quản lý vay trả nợ nước ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đi vay một cách nhanh chóng, tạo môi trường thuận lợi thu hút vốn đầu tư nước ngoài và đảm bảo việc quản lý Nhà nước về vay trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp
Cơ chế tín dụng: Cơ chế tín dụng này nhằm tạo điều kiện thuận lợi về mặt luật
pháp đối với các TCTD Cơ chế chính sách tín dụng thông thoáng đã tạo điều kiện cho các TCTD mở rộng các hoạt động tín dụng để đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh
tế - xã hội Cơ chế tín dụng sửa đổi cho phép các TCTD có quyền tự chủ, tự chịu trách
Trang 27nhiệm trong quyết định cho vay (điều kiện vay vốn, lãi suất, mức vay, thời hạn vay, phương thức cho vay), lựa chọn khách hàng và biện pháp đảm bảo tiền vay trên các nguyên tắc thương mại Trong năm 2005, NHNN chủ trương kiểm soát tăng trưởng tín dụng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng Và để thực hiện mục tiêu này, NHNN đã chỉnh sửa các cơ chế tín dụng cho vay, cơ chế đảm bảo tiền vay, phân loại nợ… và chỉ đạo các TCTD kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng và kiểm soát rủi ro, chú trọng nâng cao chất lượng tín dụng Do đó, trong năm 2005, các TCTD đã có những chuyển biến tích cực trong hoạt động cho vay, tốc độ tăng trưởng tín dụng đã giảm từ 41,65% của năm 2004 xuống còn 31,04% trong năm 2005
Hoạt động thanh tra - giám sát ngân hàng và các TCTD
Sự phát triển của hệ thống các ngân hàng và các TCTD luôn gắn liền với sự phát triển và đổi mới không ngừng của hoạt động thanh tra – giám sát ngân hàng và các TCTD Trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế, hoạt động này càng được chú trọng
để các ngân hàng và các TCTD trong nước có thể nhanh chóng đổi mới phù hợp hơn với thông lệ quốc tế Các ngân hàng đã xem xét việc sử dụng kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập như một công cụ nhằm khẳng định và đánh giá tính minh bạch, khách quan của các thông tin cung cấp bởi các TCTD Hệ thống mạng máy tính của Thanh tra ngân hàng đã được kết nối trong toàn quốc, cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ cho việc quản lý, giám sát từng TCTD và hệ thống TCTD
Phát triển thị trường tiền tệ
NHNN đã từng bước xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của thị trường tiền tệ đáp ứng yêu cầu thực tế và phù hợp thông lệ quốc tế Từ năm 2001, NHNN đã ban hành quy định về hoạt động của thị trường liên ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế Để tạo điều kiện phát triển thị trường tiền tệ, NHNN đã ban hành quy định về môi giới tiền tệ, về các công cụ thị trường tiền tệ, nhất là các công cụ phòng ngừa rủi ro NHNN sắp ban hành quy định về các nghiệp vụ thị trường tiền tệ giữa NHNN và các TCTD như nghiệp vụ thị trường mở, nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết
Trang 28khấu, cho vay có đảm bảo bằng cầm cố giấy tờ có giá; các quy định về đấu thầu tín phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ qua NHNN, quy định về lưu ký giấy tờ có giá
Từ năm 2001 đến nay, doanh số hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng liên tục tăng với nhiều phương thức giao dịch được phát triển phù hợp với thông
lệ quốc tế Cụ thể: trong năm 2005, doanh số giao dịch giữa các ngân hàng tăng 29%
và đến cuối 2005 thị trường ngoại tệ liên ngân hàng đã có tới 59 ngân hàng thành viên; Thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc qua NHNN đã hoạt động ngày càng sôi động hơn với doanh số tăng dần qua các năm và tiếp tục là kênh huy động hiệu quả bù đắp cho thiếu hụt NSNN tạm thời: Khối lượng tín phiếu Kho bạc trúng thầu của năm 2005 đạt khoảng 21.670 tỷ đồng, tăng 16,5% so với năm 2004, chiếm khoảng 75% tổng doanh số huy động vốn thường xuyên cho NSNN
1.2.CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI MỞ CỬA HỘI NHẬP THỊ TRƯỜNG DỊCH
VỤ NGÂN HÀNG
1.2.1 Hội nhập quốc tế thị trường dịch vụ tài chính – lĩnh vực ngân hàng
Hồ sơ gia nhập WTO của Việt Nam đã chính thức được Ban công tác về đàm phán gia nhập WTO thông qua tại phiên họp chính thức ngày 26 tháng 10 năm 2006 Như vậy, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO vào ngày 7 tháng 11 năm 2006 Theo các cam kết của một thành viên WTO cùng các hiệp định song phương đã ký kết, Việt Nam có nghĩa vụ phải dỡ bỏ các rào cản đối với việc gia nhập
và hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài tại thị trường trong nước Do
đó các doanh nghiệp Việt Nam (bao gồm cả các ngân hàng) trong thời gian tới sẽ gặp phải những khó khăn xuất phát từ sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn khi đất nước mở cửa thị trường Các tổ chức kinh doanh dịch vụ tài chính nói chung cũng như các TCTD và kinh doanh nghiệp vụ ngân hàng cũng không nằm ngoài sự cạnh tranh mạnh mẽ này
Xu hướng nổi bật của ngành ngân hàng thế giới chính là việc hợp nhất, quốc tế hoá và sáp nhập của các ngân hàng giữa các nước phát triển và đang phát triển Bên cạnh đó, một xu thế nữa là việc các tổ chức ngân hàng cung cấp các dịch vụ tài chính
Trang 29ngày càng đa dạng để có thể tận dụng một cách tối đa các nguồn lực của mình Bài học
mà Việt Nam phải học một cách nhanh chóng là: với tư cách là một thành viên của WTO, ngành ngân hàng Việt Nam sẽ tự do hoá và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những thách thức và xu hướng này của thị trường ngân hàng toàn cầu
1.2.1.1.Bản chất Hội nhập Quốc tế về Dịch vụ Tài chính
Bản chất của quá trình hội nhập Quốc tế chính là việc mở cửa thị trường của một nền kinh tế trên phạm vi toàn cầu Đây cũng là mục đích quan trọng nhất của WTO cũng như GATT trước đây Khái niệm mở cửa thị trường là rất rộng, miêu tả mức độ hàng hóa và dịch vụ của thị trường một nước có thể thâm nhập và cạnh tranh bình đẳng với các sản phẩm và dịch vụ sản xuất tại chỗ ở một thị trường nước khác và ngược lại Tự do hoá tài chính cụ thể là dỡ bỏ các hạn chế và giới hạn trong việc phân
bổ nguồn lực tín dụng Quản lý việc phân bổ này nên dựa trên cơ chế giá, mà theo đó các tổ chức tài chính được phép quyết định lãi suất tiền gửi và cho vay Tự do hoá cũng dẫn đến việc xoá bỏ các mức lãi suất trần cũng như các ràng buộc khác trong việc sử dụng nguồn vốn Tự do hoá tài chính sẽ thúc đẩy cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính, đánh dấu qua việc chấm dứt sự phân biệt đối xử về pháp lý giữa những loại hình tổ chức khác nhau Mặt khác, tự do hóa tài chính cũng sẽ giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ và các giao dịch tài chính, do đó hệ thống tài chính được tự do hoạt động theo các tín hiệu thị trường Tự do hóa tài chính thông thường bao gồm xóa
bỏ kiểm soát về lãi suất và các hoạt động tài chính, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, xóa bỏ bao cấp về vốn qua chỉ định tín dụng, tự do hóa hoạt động giao dịch ngoại tệ, và nới lỏng kiểm soát đối với hoạt động của các tổ chức tài chính
Từ đó, ta có thể thấy rằng bản chất của quá trình hội nhập quốc tế về dịch vụ tài chính có thể được hiểu là một quá trình mà các nước, các khu vực thực hiện mở cửa cho sự tham gia của các yếu tố bên ngoài vào trong lĩnh vực tài chính, bao gồm: vốn (đầu tư trực tiếp và gián tiếp), công nghệ, tín dụng và lao động có trình độ chuyên môn cao Hội nhập quốc tế và tài chính cũng là quá trình các yếu tố trong nước đi thâm nhập
Trang 30vào các nước khác Nói cách khác, hội nhập quốc tế là quá trình diễn ra song song và đồng thời Đó là, toàn bộ hoặc từng dịch vụ tài chính được thực hiện qua biên giới, tiêu
Quá trình hội nhập tài chính quốc tế có thể do các nước chủ động thực hiện nhưng cũng có thể là bị động do sự thúc ép của bên ngoài Ví dụ như các tổ chức hoặc liên minh kinh tế (APEC, WTO, ASEAN) gây sức ép cho các nước thành viên, hoặc các thành viên tự thấy có nghĩa vụ phải tuân theo các cam kết trước khi gia nhập vào các tổ chức và liên minh này trong việc mở cửa các thị trường Hội nhập thị trường dịch vụ ngân hàng là quá trình thống nhất các thể chế, qui định, chính sách, tiêu chuẩn, chuẩn mực, kể cả luật pháp về tài chính nói chung và ngân hàng nói riêng để tạo sự thống nhất và hài hoà các chính sách tài chính giữa các nước với nhau Đồng thời và quan trọng nhất là điều chỉnh hoạt động kinh doanh các dịch vụ ngân hàng phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế Từ đó ngành ngân hàng của một nước mới điều kiện để mở rộng hoạt động trên phạm vi toàn cầu, đồng thời có được sự cân đối và thống nhất các yếu tố bên ngoài và bên trong
Hội nhập quốc tế về tài chính là một quá trình liên tục được thúc đẩy từ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ và kinh tế của một quốc gia Do đó, khi các yếu
tố này được nâng cao, hội nhập tài chính nhanh chóng được tiến hành và phản ánh thông qua nhiều lĩnh vực như việc trao đổi vốn và lao động Các thông lệ quốc tế mới cũng được hình thành để điều chỉnh quan hệ tài chính giữa các tổ chức và thể chế
Cuối cùng, hội nhập quốc tế về tài chính là một quá trình hợp tác Sự hợp tác giữa các quốc gia phát triển phù hợp với nhu cầu phụ thuộc lẫn nhau Tuy nhiên, vẫn
có sự không chắc chắn về việc các nước sẽ phối hợp với nhau như thế nào; một vấn đề
mà các tổ chức kinh tế và thể chế quốc tế phải giải quyết hơn là mong đợi từng quốc
3
Theo GATS, “Hình thức cung cấp” các dich vụ tài chính được thực hiện theo i) Hình thức 1 – Cung “xuyên biên giới” diễn
ra khi một nhà cung cấp dich vụ tại một quốc gia cung cấp các dịch vụ cho khách hàng ở một quốc gia khác; ii) Hình thức 2 –
“Tiêu dùng tại nước ngoài” là khi công dân của một nước đi du lịch nước ngoài và được cung cấp các dịch vụ tại đó; iii) Hình thức 3 - Một nhà cung cấp dịch vụ được goi là “Hiện diện thương mại” khi nhà cung cấp này thiết lập một chi nhánh tại nước ngoài và cung cấp các dịch vụ tại đây; và iv) Hình thức 4 – “Hiện diện thể nhân” là một người đi du lịch từ quốc gia này sang quốc gia khác và tại đó cung cấp dich vụ cho khách hàng của nước sở tại.
Trang 31gia riêng biệt sẽ tự xử lý Như vậy, hội nhập quốc tế về tài chính là quá trình từng bước gắn kết ngành tài chính quốc gia (Việt Nam) với thị trường tài chính thế giới Quá trình này được sự hỗ trợ bởi sự hợp tác quốc tế và mở cửa thị trường ngày càng cao; cũng như bởi việc thực hiện và điều chỉnh các tiêu chuẩn quốc tế và định chế của từng quốc gia
Tuy nhiên, không thể có một quy chuẩn chung, thống nhất của quá trình tự do hoá tài chính cho tất cả các quốc gia Vì vậy, mỗi quốc gia phải tự chọn cho mình một
lộ trình tự do hoá tài chính tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế - chính trị của mình Việt Nam đang từng bước thực hiện cách thức của riêng mình trong việc tự do hoá tài chính
và các chính sách quan trọng của cách tiếp cận này được trình bày trong bảng dưới đây:
Bảng 1: Lộ trình chính sách
1991 Giảm thâm hụt ngân sách xuống dưới 5%; Giảm dự trữ bắt buộc xuống dưới 10%
1997 Áp dông c¬ chÕ tû gi¸ hèi ®o¸i linh ho¹t
2002 Thành lập Ngân hàng Chính sách Xã hội
2002 Áp dông c¬ chÕ l·i suÊt tho¶ thuËn
2004 Cho phép thành lập công ty tài chính 100% vốn nước ngoài
2007 Xoá bỏ hạn chế hoạt động cho công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài
2011 Xoá bỏ hạn chế hoạt động cho ngân hàng 100% vốn nước ngoài
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2005
Theo lộ trình chính sách này thì ngành ngân hàng Việt Nam sẽ phải mở cửa hội nhập hoàn toàn trong vòng 7 năm tới nếu khả năng Việt Nam gia nhập WTO vào cuối
Trang 32năm 2005 được thực hiện Vì vậy, hơn bất cứ ngành nào, lĩnh vực ngân hàng cần phải tăng tốc nâng cao năng lực cạnh tranh để không bị thua thiệt ngay trên chính "sân nhà"
1.2.1.2.Các xu hướng quốc tế hóa trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam
Trong bối cảnh cải cách kinh tế và chính sách hội nhập quốc tế, thời gian qua ngành ngân hàng đã có nhiều thay đổi tích cực Một hệ thống ngân hàng độc quyền đã được thay thế bởi một hệ thống hai cấp với nhiều loại hình tổ chức tín dụng được phép hoạt động Với sự thay đổi trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, ngân hàng Việt Nam đã có điều kiện phát triển theo xu hướng quốc tế hoá Hiện nay, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam đã thừa nhận những thay đổi trong ngành ngân hàng Việt Nam và đã có những bước đi thích hợp Việc hai ngân hàng nước ngoài mua lại cổ phần của hai ngân hàng TMCP lớn của Việt Nam trong những tháng đầu năm 2005 (Ngân hàng ANZ mua cổ phần của ngân hàng Sacombank và ngân hàng Standard Chartered Bank mua cổ phần của ngân hàng ACB) được ghi nhận như một sự khẳng định xu hướng phát triển của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
Vấn đề về quyền tự chủ của các tổ chức tín dụng cũng dần được giải quyết Các TCTD được quyền quyết định về việc cho vay, về các yêu cầu thế chấp và về lãi suất tiền gửi và cho vay Sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân trong lĩnh vực tài chính cũng giảm dần Các loại hình TCTD được đối xử bình đẳng trong kinh doanh theo các luật áp dụng, đặc biệt là Luật các TCTD Các chức năng xã hội đã được tách bạch khỏi chức năng kinh doanh thương mại trong các NHTMNN NHCS xã hội đã được thành lập với các chức năng gắn liền với chính sách xã hội
Vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, bao gồm cả vốn của Nhà nước trong các NHQD cũng đã thay đổi Các NHTMQD sẽ thực hiện kế hoạch cổ phần hoá theo các nguyên tắc thị trường Vị trí của NHNN Việt Nam đã được cải thiện Các chức năng của NHNN đã được dần cải thiện thông qua việc giảm thiểu quản lý hành chính trong hoạt động của các TCTD NHNN cũng đã cố găng loại bỏ “các loại giấy phép con” và cải thiện các thủ tục quản lý nội bộ cho thích hợp với các cuộc cải cách
Trang 33hành chính trên toàn quốc Ngoài ra, các chính sách và quy định bảo đảm hoạt động an toàn của các TCTD được xây dựng trên cơ sở và tuân thủ theo các tiêu chuẩn quốc tế Các công cụ trực tiếp sử dụng để điều hành chính sách tiền tệ được thay thế bằng các công cụ gián tiếp phù hợp với cơ chế thị trường.
Các ngân hàng và TCTD đang thực hiện chương trình hiện đại hoá bằng cách sử dụng các công nghệ mới và cập nhật các dịch vụ và sản phẩm, do đó nối mạng toàn hệ thống để đạt được việc thực hiện giao dịch một cửa Kết quả là các dịch vụ của các ngân hàng Việt Nam trở nên đa dạng hơn, phù hợp với các hiệp định song phương, như Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa kỳ, Hiệp định chung về Thương mại và Dịch
vụ, xúc tiến và bảo vệ đầu tư; và các cam kết khác ký kết trong nội bộ các tổ chức đa phương như ASEAN, ASEAN+3, APEC, và sắp tới là WTO
1.2.2.Cơ hội và thách thức đối với một nền kinh tế khi quyết định mở cửa hội nhập thị trường dịch vụ tài chính – lĩnh vực ngân hàng
Mở cửa hội nhập thị trường dịch vụ tài chính đem lại cả cơ hội lẫn thách thức, đòi hỏi một quốc gia phải triển khai những bước chuẩn bị cần thiết để đảm bảo tối ưu hoá những thuận lợi và giảm thiểu những nguy cơ của việc tham gia vào nền kinh tế thế giới ngày càng được tự do hoá nhiều hơn
a) Cơ hội
Mở cửa hội nhập thị trường dịch vụ tài chính sẽ mang đến cho một nền kinh tế những nguồn lực mới và cơ hội mới để mở rộng thị trường vốn, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ tài chính, các mối quan hệ kinh tế – thương mại, tăng khả năng thu hút đầu tư nước ngoài giúp quốc gia này tham gia vào việc xây dựng một hệ thống tài chính quốc tế đa biên bình đẳng, không phân biệt đối xử và cùng có lợi Tạo môi trường thông thoáng minh bạch, tuân thủ các nguyên tắc quốc tế Sự phát triển của công nghệ thông tin cũng như kinh nghiệm tổ chức quản lý của khu vực và quốc tế sẽ giúp các định chế tài chính trong nước có điều kiện để hoàn thiện, nâng cao chất lượng
Trang 34cũng như đa dạng hóa các dịch vụ tài chính để có thể đáp ứng được yêu cầu của hệ thống thương mại mang tính toàn cầu
Khi một quốc gia muốn mở cửa hội nhập thị trường dịch vụ tài chính thì quốc gia này bao giờ cũng phải tham gia cam kết một số các điều ước quốc tế Việc ký kết một số điều ước quốc tế quan trọng này đã tạo ra một hành lang pháp lý cơ bản cho việc thực hiện công cuộc đổi mới hội nhập kinh tế quốc tế, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, thúc đẩy kinh tế phát triển và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Đây là yếu tố không thể thiếu để tạo dựng niềm tin của các nhà đầu tư, thương nhân nước ngoài tham gia các hoạt động hợp tác kinh tế với một quốc gia
b) Thách thức
Bên cạnh những cơ hội, việc mở cửa hội nhập thị trường dịch vụ tài chính cũng đặt ra hàng loạt những thách thức cho một nền kinh tế xã hội trên các khía cạnh: sức ép cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp trong nước, nguồn thu Ngân sách Nhà nước bị ảnh hưởng trực tiếp từ việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình đã cam kết Đặc biệt cạnh tranh trong nhiều ngành dịch vụ quan trọng như ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm sẽ tăng đáng kể sau khi gia nhập WTO Các cuộc cạnh tranh về chất lượng, giá cả dịch vụ sẽ khốc liệt hơn trong khi năng lực cạnh tranh trong nước còn yếu Quốc gia quyết định mở cửa hội nhập thị trường dịch vụ tài chính còn phải điều chỉnh hệ thống pháp luật cho phù hợp với các quy định của WTO ở nhiều lĩnh vực khác nhau
Các nước gia nhập WTO đều phải cam kết “ràng buộc thuế quan” Chính sách thuế sẽ phải điều chỉnh theo quy định của WTO, trước hết là thuế xuất nhập khẩu, tiếp đến là các sắc thuế nội địa Thuế suất thuế nhập khẩu điều chỉnh theo hướng ngày càng giảm và đảm bảo nguyên tắc MFN (không phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu từ các quốc gia khác nhau); Bỏ các biện pháp phi thuế, chỉ bảo hộ bằng công cụ thuế Những điều đó không những có nhiều tác động khác nhau (cả tiêu cực và tích cực) đến môi trường kinh doanh mà còn ảnh hưởng đến nguồn thu NSNN Các khoản thu từ thuế nhập khẩu chỉ được thu ở mức độ bảo hộ cần thiết, không thu cao nhằm mục đích thu ngân sách
Trang 35Khi một quốc gia cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ tài chính (ngân hàng; bảo hiểm; chứng khoán; kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính), phải có các cam kết đối xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tài chính trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Việc thực hiện các cam kết này đòi hỏi nỗ lực lớn của ngành tài chính nói riêng cũng như các cơ quan quản lý nhà nước Đặc biệt, nếu một quốc gia còn trong bối cảnh hệ thống luật pháp, chính sách chế độ quản lý trong nước còn thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, còn nhiều lĩnh vực còn chưa có văn bản quy định như tư vấn môi giới tài chính, tư vấn thuế thì đây thực
sự là một thách thức đòi hỏi rất nhiều nỗ lực của quốc gia này
Về phía doanh nghiệp nếu còn yếu kém trên nhiều lĩnh vực (chất lượng , thương hiệu sản phẩm, phát triển kênh tiêu thụ và khả năng giải quyết tranh chấp), thì các doanh nghiệp này sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường hoặc phát triển thị phần của mình Nhiều doanh nghiệp sẽ có nguy
cơ phá sản trước các sức ép nặng nề của các dòng hàng hoá, dịch vụ, công nghệ, nhân lực và các chấn động khủng hoảng trong khu vực và toàn cầu, nhất là các cuộc khủng hoảng về tài chính tiền tệ gây hiệu ứng lan truyền
Cải cách và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường mở cửa hội nhập không những
là yêu cầu bắt buộc mà còn là đòn bẩy cho sự phát triển thị trường tài chính và dịch vụ tài chính: Chính sách và thực tế chi tiêu của Chính phủ cần phải công khai, minh bạch theo đúng thông lệ quốc tế; Tăng cường kiểm soát chi, đảm bảo chi NSNN tiết kiệm, hiệu quả; Đổi mới chế độ kế toán, kiểm toán, thanh tra tài chính, chế độ báo cáo thông tin, bảo đảm hoạt động kinh doanh phải công khai, minh bạch; Nâng cao năng lực và hiệu quả giám sát tài chính, đảm bảo lành mạnh hoá tài chính và an ninh tài chính quốc gia trong tiến trình hội nhập
Một nền kinh tế có thị trường dịch vụ tài chính mở cửa, hội nhập cần thiết phải đẩy mạnh xúc tiến thương mại ở cấp Chính phủ, nâng cao hiệu quả hoạt động của các
tổ chức, định chế tài chính xúc tiến ở thị trường ngoài nước để có định hướng chiến lược lâu dài cho các doanh nghiệp Xây dựng chiến lược đào tạo dài hạn để có một lực
Trang 36lượng chuyên viên và cán bộ quản lý có trình độ cao thích ứng với đòi hỏi của hội nhập thị trường tài chính Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về cạnh tranh quốc tế nhằm ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và giám sát các hành vi lạm dụng ưu thế trên thị trường Tăng cường phát triển các mối quan hệ hợp tác liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp thông qua các tổ chức hiệp hội, tạo sức mạnh của cộng
đồng các doanh nghiệp trong cạnh tranh với đối tác nước ngoài
1.2.3 Quá trình cải cách và mở cửa thị trường dịch vụ tài chính của Trung Quốc – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Sau khi gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới – WTO, những nghĩa vụ
mà Trung Quốc cam kết phải thực thi đã tạo ra nhiều lo ngại
Thiệt hại nặng nề nhất mà Trung Quốc phải gánh chịu sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO đó là sự đổ vỡ của hệ thống doanh nghiệp Nhà nước Khu vực DNNN của Trung Quốc vốn theo mô hình kế hoạch hóa đã được chuyển đổi sang
hệ thống thị trường cạnh tranh song vẫn chưa thành công Do vậy, khi Trung Quốc mở cửa nền kinh tế và cho phép giá được xác định bởi thị trường thì giá hàng công nghiệp
đã giảm xuống Vì vậy tới thập niên 1990, hàng ngàn DNNN đã làm ăn thua lỗ Và mặt trái của tình trạng thua lỗ của các DNNN này chính là tổn thất to lớn của hệ thống ngân hàng Trung Quốc
Chính phủ Trung Quốc đã phải trợ cấp cho các DNNN thua lỗ này bằng nhiều cách khác nhau, từ trợ giá trực tiếp đến cho vay (không hoàn trả) từ phía các ngân hàng quốc doanh Ngoài ra, tình trạng thua lỗ của các DNNN còn dẫn đến các món nợ xấu rất lớn trong bảng cân đối tài chính của các NHTMNN Trung Quốc Mặc dù đã tìm nhiều cách giải quyết vấn đề nợ xấu song đến cuối năm 2001, tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Trung Quốc vẫn rất cao, khoảng 30,4% tổng dư nợ Nếu tính cả các món nợ xấu tại các TCTD trong cả nước, tổng số nợ không trả được và sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng có thể lên tới 70% GDP Tuy nhiên, vì sợ làm tăng mức thất nghiệp, ngân hàng không dám mạnh tay tái cấu trúc hoặc thanh lý các công ty con nợ Như vậy, chính phủ đã thông qua việc bù lỗ các ngân hàng hay tài trợ cho các công ty quản lý tài
Trang 37chính sản, tiếp tục bao cấp cho các DNNN yếu kém, thua lỗ Tình trạng này khiến cho
cả hệ thống doanh nghiệp lẫn ngân hàng yếu kém
Trong thực trạng như vậy, việc gia nhập WTO sẽ cho phép các ngân hàng nước ngoài hoạt động tự do ở Trung Quốc trong vòng một vài năm Hệ quả đang lo ngại là khi các ngân hàng nước ngoài được bình đẳng với ngân hàng trong nước, sự cạnh tranh trong thị trường trường ngân hàng sẽ tăng Bên cạnh việc năng suất thấp do công nghệ
và trình độ nghiệp vụ còn lạc hậy, các ngân hàng này phải duy trì hệ thống chi nhánh trên cả lãnh thổ Trung Quốc và phải xử lý các tài khoản nhỏ của số khách hàng cá thể rất đông nên chi phí hành chính rất cao Nếu các ngân hàng nước ngoài thay thế các ngân hàng trong nước thì Trung Quốc sẽ không còn khả năng sử dụng hệ thống ngân hàng để cấp vốn cho các DNNN và sẽ chỉ có thể tài trợ thâm hụt ngân sách nếu trả lãi suất đủ cao để hấp dẫn khu vực tư nhân mua trái phiếu Thêm vào đó, các ngân hàng nước ngoài có thể không muốn tập trung chủ yếu vào hoạt động ngân hàng bán lẻ với hàng triệu người giử tiền nhỏ lẻ mà tập trung vào các đối tượng vay tiền lớn và giàu có nhất Điều này có thể làm thiệt hại nghiêm trọng đến nền tảng then chốt của các ngân hàng trong nước mà không phải dành lấy phần lớn hoạt động của các NHTMNN Trung Quốc Như thế, Chính phủ Trung Quốc sẽ phải tiếp tục trợ cấp cho hệ thống ngân hàng ngày càng yếu kém và tiếp tục tạo ra thâm hụt ngân sách
Trong bối cảnh đó, Chính phủ Trung Quốc đã có những thay đổi sâu sắc từ các chính sách vĩ mô đến các biện pháp cải tổ nhằm giúp nền kinh tế Trung Quốc và đặc biệt là hệ thống ngân hàng Trung Quốc có được sự phát triển bền vững
a) Thay đổi sâu sắc các chính sách vĩ mô
Chính sách kinh tế đã liên tục được thay đổi theo hướng nới lỏng ngày càng nhiều hơn sự kiểm soát của chính phủ đối với thị trường, bắt đầu từ khu vực nông nghiệp cách đây hơn 20 năm, sau đó mở rộng sang công nghiệp rồi cuối cùng là khu vực dịch vụ
Ba năm sau khi gia nhập WTO, Nhà nước Trung Quốc đã sửa đổi hơn 2500
pháp luật pháp quy, trong đó bao gồm Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Ngoại thương
Trang 38Một trong những chính sách điều tiết vĩ mô của nhà nước Trung Quốc mang lại hiệu quả cao trong công cuộc cải tổ nền kinh tế là chính sách tài chính tiền tệ, đặc biệt là chính sách hối đoái Sau khi Trung Quốc trở thành thành viên của WTO, Trung Quốc
sẽ buộc phải quản lý tủ giá hối đoái một cách linh hoạt hơn Nói cách khác nó sẽ được nới lỏng bên độ dao động và sẽ được thả nổi hoàn toàn cùng với việc Trung Quốc thực hiện đầy đủ các cam kết về tự do hóa thương mại, đặc biệt là tự do hóa tài chính trong khuôn khổ WTO Tuy nhiên, sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã nhiều lần tuyên
bố sẽ giữ ổn định giá trị đồng NDT so với đồng đô la Mỹ trong một thời gian dài (mức
1 USD = 8,277 NDT) Trong bối cảnh đồng đô la Mỹ đang có xu hướng giảm giá so với các đồng tiền mạnh khác trên thị trường tài chính quốc tế, điều đó khiến cho đồng NDT được định giá thấp hơn giá trị thực của nó Đồng thời, điều này cũng khiến cho hàng hóa và dịch vụ của Trung Quốc có sức cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế
b) Cải tổ to lớn hệ thống ngân hàng
Điều quan ngại của chính quyền trong việc tiến tới một tỉ giá hối đoái linh hoạt hơn có lẽ do lo lắng ngân hàng dễ bị tác hại bởi các khoản vay nước ngoài và bởi sự yếu kém của hệ thống này Tuy nhiên, công việc cải tổ được tiến hành một cách mạnh
mẽ
Các ngân hàng đã bắt đầu hiện đại hóa các phương pháp cho vay và quản lý rủi
ro NHNN đưa vào áp dụng phương pháp tính toán cân đối phân tán rủi ro và hệ thống phân loại nợ quá hạn cho các ngân hàng Nhà đầu tư nước ngoài được phép tham gia vốn ở 12 ngân hàng cổ phần loại 2 Công cuộc cải tổ ngân hàng đã thành công
Từ 2000 trở đi, các khoản cho vay từ các ngân hàng có chất lượng tốt hơn Với việc cải tổ hạ tầng cơ sở hệ thống ngân hàng, chính phủ đã bắt tay vào chiến lược tái xác định lại vốn của các ngân hàng lớn và chuẩn bị niêm yết các ngân hàng lên thị trường chứng khoán Quá trình thiết lập hệ thống ngân hàng vững mạnh đã tiến hành thành công ở hai ngân hàng lớn và đang bắt đầu với ngân hàng thứ ba
Tháng 7-2005, Chính phủ Trung Quốc đã đánh giá lại giá trị của đồng NDT cùng với thay đổi liên quan đến sắp xếp tỉ giá hối đoái, cho phép Trung Quốc linh động
Trang 39hơn trong việc kìm hãm lạm phát trên thị trường sản phẩm và tài sản Bằng cách này, sức mạnh thị trường sẽ đóng vai trò hơn nữa trong việc xác định lãi suất ngân hàng của nền kinh tế Trung Quốc
c) Tái cơ cấu bộ máy Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (the People’s Bank of China - PBC):
PBC thực sự đã có nhiều cải cách quan trọng về tổ chức bộ máy nhằm thích ứng với sự thay đổi mạnh mẽ của môi trường hoạt động bên ngoài, hệ quả tích cực của công cuộc cải cách, mở cửa và hội nhập Mô hình tổ chức hiện tại của PBC được cho là hiệu quả, hiệu lực, góp phần quan trọng hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình trong bối cảnh mới Những cải tổ trong bộ máy của PBC cụ thể như:
- PBC quyết định thành lập mạng lưới chi nhánh khu vực và các sở giao dịch đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp về nghiệp vụ của các vụ, cục tại Trụ sở chính, thay thế cho số các chi nhánh cấp tỉnh, thành phố có trước đây Việc làm này xuất phát từ 2 lý do chủ yếu là: (1) tăng cường tính tập trung thống nhất trong chỉ đạo điều hành của NHTW bởi môi trường hoạt động đã thay đổi cơ bản; (2) tránh sự can thiệp chính trị thái quá của các cấp chính quyền địa phương vào hoạt động NH
- Việc tách bỏ chức năng giám sát ngân hàng (theo nghĩa rộng) chủ yếu do sự xung đột tiềm tàng về lợi ích giữa CSTT và chức năng điều tiết, giám sát ngân hàng Hơn nữa, lý thuyết NHTW hiện đại chỉ ra rằng: vai trò trọng yếu của các NHTW ngày
là đảm bảo sự ổn định giá trị đồng tiền, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững Do vậy, theo khuynh hướng chung trên thế giới, nay PBC chủ yếu tập trung mọi nguồn lực của mình vào việc hoạch định và thực thi CSTT Việc thực hiện chức năng “bảo vệ sự
ổn định của nền tài chính quốc gia”, sẽ do Cục ổn định tài chính thuộc bộ máy hoạt động nghiệp vụ tại Trụ sở chính (được thành lập mới) đảm nhiệm
- Hoạt động thanh toán được PBC hết sức chú trọng, và vẫn tiếp tục được quản
lý rất chặt chẽ Mới đây, Vụ Hệ thống thanh toán đã được tách ra khỏi Vụ Công nghệ
và Thanh toán, và được tăng cường, củng cố để có đủ khả năng thực thi nhiệm vụ “đảm bảo sự vận hành an toàn và hiệu quả của các hệ thống thanh toán”
Trang 40CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG, QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH VÀ MỞ CỬA CỦA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VIỆT NAM
2.1.1 Khái quát chung về cơ cấu ngành ngân hàng Việt Nam
2.1.1.1 Cơ cấu của ngành ngân hàng Việt Nam
Ngành ngân hàng Việt Nam đã trải qua một quá trình tái cơ cấu và đổi mới sâu sắc Từ một hệ thống ngân hàng độc quyền, ngành ngân hàng của Việt Nam đã chuyển mình và thay đổi theo hệ thống hai cấp, mà bước thay đổi đầu tiên được ghi nhận từ những năm 1990 là việc tách các chức năng kinh doanh thương mại khỏi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Một số lớn những ngân hàng thương mại cổ phần đã được thành lập và sự hiện diện của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng liên doanh đã trở nên rõ ràng hơn trong thập kỷ qua Sự hiện diện của các HTX tín dụng/ Quỹ tín dụng, các tổ chức tài chính vi mô, các công ty tài chính và cho thuê tài chính
đã làm cho thị trường tài chính trong nước đa dạng hơn Từ đó có thể thấy rằng ngành ngân hàng Việt Nam đang chuyển dần tới một hệ thống tương tự như hệ thống ngân hàng của các nền kinh tế đang nổi và mới phát triển
Bảng 2: Ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng tại Việt Nam
STT Các tổ chức tín dụng tại Việt Nam Số lượng