1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC MÔN CƠ SỞ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

81 825 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Ôn Thi Tuyển Sinh Sau Đại Học Môn Cơ Sở: Lịch Sử Triết Học
Tác giả ThS Hoàng Ngọc Vĩnh
Người hướng dẫn GVC ThS Hoàng Ngọc Vĩnh
Trường học Đại Học Huế
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Đề cương
Năm xuất bản 2013
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 553 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC MÔN CƠ SỞ: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC ĐỀ CƯƠNG CHƯƠNG TRÌNH THI TUYỂN CAO HỌC VÀ NGHIÊN CỨU SINH MÔN CƠ SỞ : LỊCH SỬ TRIẾT HỌC (Cho chuyên ngành Triết học)

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

GVC ThS HOÀNG NGỌC VĨNH

-♣♥♣ -ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌCMÔN CƠ SỞ: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

HUẾ 5/2013ĐỀ CƯƠNG CHƯƠNG TRÌNH THI TUYỂN CAO HỌC

VÀ NGHIÊN CỨU SINH

Trang 2

MÔN CƠ SỞ : LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

(Cho chuyên ngành Triết học)

A NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH

Chương trình được xây dựng theo trình độ Đại học có bổ sung và nâng caovới thời lượng 120 tiết (8 ĐVHT) nhằm:

- Giúp học viên hệ thống và phần nào nâng cao những kiến thức cơ bản vềlịch sử triết học đã được trang bị ở bậc đại học

- Qua nội dung chương trình giúp học viên sẽ tạo được một cơ sở kiến thức

để tiếp thu một chương trình mới được nâng cao về lịch sử triết học ở bậc cao học

và nghiên cứu sinh sau này:

I LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ TRUNG ĐẠI

1 Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại

- Hoàn cảnh lịch sử và đặc điểm triết học Ấn Độ cổ đại

- Một số trường phái triết học Ấn Độ cổ đại: những tư tưởng triết học cơbản trong Veda; triết học Phật giáo

2 Lịch sử triết học Trung Hoa cổ, trung đại

- Hoàn cảnh lịch sử và đặc điểm triết học Trung Hoa cổ, trung đại

- Một số trường phái triết học tiêu biểu: Nho gia; Mặc gia; Đạo gia

II LỊCH SỬ TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

1 Hoàn cảnh lịch sử và đặc điểm triết học Hy Lạp cổ đại

2 Một số triết gia tiêu biểu: Hêracơlít; Đêmôcơrít; Platon; Arixtốt

III LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI TRUNG CỔ

1 Hoàn cảnh lịch sử và đặc điểm của triết học Tây Âu thời trung cổ

2 Một số triết gia tiêu biểu: Ôguýtxtan; T Đacanh; Đơnxcốt

IV LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI KỲ PHỤC HƯNG, CẬN ĐẠI

1 Triết học Tây Âu thời kỳ Phục Hưng (thế kỷ XV - XVI)

- Điều kiện ra đời và đặc điểm của triết học Tây Âu thời kỳ Phực hưng

- Một số triết gia tiêu biểu: N Côpécních; G Brunô; G Galilê

2 Triết học Tây Âu thời kỳ cận đại (thế kỷ XVII - XVIII)

- Điều kiện ra đời và đặc điểm của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại

- Một số triết gia tiêu biểu: Ph Bêcơn; G Béccơli; R Đêcáctơ; các nhà duyvật pháp thế kỷ XVIII: Điđơrô, Hônbách

V LỊCH SỬ TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

1 Điều kiện ra đời và đặc điểm của triết học cổ điển Đức

2 Một số triết gia tiêu biểu: I Cantơ; Ph Hêgen; L Phơbách

VI LỊCH SỬ TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

1 Điều kiện lịch sử , tiền đề lý luận và khoa học tự nhiên cho sự ra đời củatriết học Mác - Lênin

2 Sự hình thành và phát triển các quan điểm triết học duy vật biện chứngcủa C Mác và Ph Ăngghen

3 Giai đoạn Lênin trong lịch sử triết học Mác

Trang 3

B TÀI LIỆU ÔN TẬP

1 Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các môn

khoa học Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (1999), Giáo trình triết học Mác

-Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), Lịch sử triết học, (Giáo trình dùng cho

các trường đại học và cao đẳng), Nxb Giáo dục, Hà Nội

3 Nguyễn Hữu Vui chủ biên (1998), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội

4 Vũ Ngọc Pha, Nguyễn Ngọc Long, Nguyễn Hữu Vui (1999), Triết học

(3 tập), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

5 Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Triết học, Lịch sử tư tưởng Việt

Nam (2 tập), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

6 Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, Viện Triết học, Lịch sử phép biện

chứng (6 tập), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

7 Viện nghiên cứu lịch sử chủ nghĩa Mác - Lênin Trường Đại học Nhân

dân Trung quốc (2003), Lịch sử chủ nghĩa Mác (4 tập), Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội

8 C Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập (50 tập), Nxb Chính trị Quốc gia,Hà

Nội

9 V.I Lênin, Toàn tập (55 tập), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

C CÁC KHỐI KIẾN THỨC TRONG ĐỀ THI

- Câu 1 (2,5 điểm), thuộc khối kiến thức I

- Câu 2 (2,5 điểm), thuộc khối kiến thức II III

- Câu 3 (2,5 điểm), thuộc khối kiến thức IV

- Câu 4 (2,5 điểm), thuộc khối kiến thức V, VI

Trang 4

1 1 LỊCH SỬ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ TRUNG ĐẠI

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ trung đại

Triết học Ấn Độ ra đời trên cơ sở của một nền văn minh cổ nhất của loàingười, những truyền thống hàng ngàn năm của nó bắt nguồn từ thế kỷ XV TCN -

X SCN vẫn được bảo tồn cho đến ngày nay Có thể chia Lịch sử các học thuyết

Ấn Độ thành bốn thời kỳ:

- Thời kỳ Veda (XV TCN - VII TCN)

- Thời kỳ cổ điển hay còn gọi là thời kỳ Phật giáo - Balamôn (VI TCN đếnthế kỷ X SCN)

- Thời kỳ sau cổ điển (X - XVIII)

- Triết học Ấn Độ cận đại và hiện đại

Cũng có quan niệm triết học Ấn Độ cổ-trung đại là phát triển trong khoảng

từ thế kỷ VI TCN đến thế kỷ XV SCN

Thời kỳ văn hóa Veda (XV -VII TCN):

Veda bắt nguồn từ căn tự “vid” có nghĩa đen là “hiểu biết”, “tri thức”.Veda cũng được dùng chung với ý nghĩa là “kinh thánh” Đối với các trường pháichính thống Veda là những tri thức cao cả, thiêng liêng Trong cụ thể, Veda làmột khối lượng các tác phẩm văn học được sáng tác trong khoảng thời gian trêndưới 2000 năm, không đồng nhất về nội dung và văn phong Cùng với sự hìnhthành chế độ chiếm hữu nô lệ, từ thế kỷ X TCN Thánh kinh Vêda là triết lý tôngiáo đa thần, mà bộ phận mang tính triết học nhiều nhất là Upansát Đạo Bàlamôndựa trên triết lý của Upanisát và chế độ phân biệt đẳng cấp nghiệt ngã của Ấn Độ

cổ, là tôn giáo thờ một thần: Tinh thần tối cao, toàn năng, tuyệt đối, sáng tạo ra tất

cả và chi phối tất cả - Thần Brahman Đây là hình thức ban đầu của đạo Hinđu vàảnh hưởng lớn đến thế giới quan triết học Ấn Độ cổ đại

Kinh Veda là bộ kinh cổ nhất của Ấn Độ và cũng là cổ nhất của loài người

Nó được soạn từ thế kỷ XII đến thế kỷ V TCN Người ta cho rằng, về nguồn gốcthần học, kinh Veda là những chân lý do Thượng đế mặc khải cho loài người ởđầu mỗi chu kỳ của vũ trụ (Mỗi chu kỳ là 4320 triệu năm) Những chân lý ấy tựtồn tại, tuyệt đối và tiên thiên siêu thời gian Con người chỉ nhận thức được nóbằng trực giác Người thấu thị được nó phải có một quá trình tu luyện, chiêmnghiệm nội tâm lâu dài cả về hành động lẫn tri thức Về lịch sử nó không là tácphẩm của một người, mà là sự tổng hợp, thu lượm tất cả những câu ca dao, vịnhphú, tư tưởng, quan niệm, tập tục lễ nghi của nhiều bộ lạc người Aryan ở nhiềuđịa phương thuộc sông Inđus, Gangơ và chân núi Hymalaya Từ thế kỷ X đến thế

kỷ VIII TCN nó mới được sưu tập, biên chép thành sách bằng tiếng Phạn cổ

Thời tiền Veda có 4 tập Bộ phận sớm nhất của Veda là những khúc háttụng ca truyền miệng của dân du mục Arya, những khúc hát này được truyền qua

ký ức và truyền miệng, nó chỉ được in thành sách từ thế kỷ XIV là Rig-Veda Sau

đó là Sama-Veda, Yajur-Veda, Atharva-Veda

+ Rig-veda: Rig có nghĩa là tán ca Đây là bộ phận cổ nhất nó có 1028 khúchát với 10552 khổ, nó ra đời vào khoảng thế kỷ XXV - XX TCN, được phổ biến

Trang 5

ở Ấn Độ vào thế kỷ XV TCN Những khúc ca ở đây dùng để cầu nguyện, chúctụng công đức các thần thánh Hai vị thánh được nhắc đến nhiều nhất là thần SấmIndra và thần Lửa Agni Bộ kinh này chuyên dùng cho các bậc Khuyến thỉnh sư(Hotri).

+ Sama-Veda còn gọi là ca vịnh Veda: Là tuyển tập các đoạn trích của veda, gồm 1549 bài Nó là những câu hát dành cho các tư tế (udgtri) trong tiếntrình nghi lễ Trong lễ hiến tế người ta đồng thanh hát ngân nga những bài ca cóvần dài tới 9 giây và thường kết thúc bằng từ UM (ôm) huyền bí Nó chuyên dùngcho các bậc Ca vịnh sư (Udgrat) Nó còn được coi như những quyết định về luật

Rig-lệ cho sinh hoạt thị tộc Chính điểm này, làm Ấn Độ trở nên một quốc gia khócách tân về phong tục, tập quán Bởi vì, nếu cách tân là phạm lời dạy của thánh

+ Yajur-Veda gọi là Tế tự Veda Nó là sự tập hợp những công thức khấnbái dùng trong lễ nghi hiến tế Đây là bộ kinh dành cho Hành lễ sư (Adhvaryu)

Bộ này gồm 2 bộ (Đen: Krispa và Trắng: Sukla) Bộ Trắng chỉ có các thần chú

và các công thức sử dụng cho các nghi lễ Bộ Đen là những ý kiến về nghi lễ vàthảo luận những ý kiến đó

Thần chú trong Yajur-Veda bao gồm cả thơ và văn xuôi mang tính côngthức khấn bái dùng trong nghi lễ hiến tế Các công thức này thường không cónghĩa Nếu có thì là sự vô lý hỗn loạn nên được coi là có sức mạnh ma thuật

Các hành lễ sư phải thuộc lòng các công thức trong thánh kinh này Thánhkinh này dạy những thể thức hành lễ, cúng bái, cách bày các loại tế khí, các đồ lễlên bàn thờ và cách dâng đồ lễ khi cúng tế

+ Atharva-Veda là tập các thần chú ma thuật dùng cho các sự khẩn cầukhác nhau, tách riêng với ba bộ kinh trên Nó gồm 731 bài văn vần là những lờikhấn bái mang tính bùa chúa, phù phép, ma thuật nhằm đem lại những điều tốtlành cho bản thân và người thân, gây tai họa cho kẻ thù Atharva-Veda buổi sơkhai của đạo Balamôn được coi là thánh kinh quan trọng nhất Về sau, Rig-Vedathay thế vị trí của nó, nó dược xếp xuống hàng thứ tư trong thánh kinh Vedachuyên dùng cho giới thầy pháp, thầy tu

Mỗi bộ kinh trên, đều có những quyển chủ yếu và những quyển không chủyếu Loại chủ yếu gọi là Samhita Những quyển kinh thuộc Samhita gọi là thánhkinh Veda Những thánh kinh căn bản, trọng yếu, thông dụng Samhita có ba loại:

Tế nghi thư (Brahmana), Sấm lâm thư (Aranyaka), Áo nghĩa thư (Upanishad)quen gọi là các bộ kinh Hậu Veda Thời Hậu Veda gồm 3 bộ: Brahmana-Veda,Aranyaka-Veda, Upanishad

+ Brahmana-Veda (Tế nghi thư) là kinh Balamôn Bộ này nói về nghi lễ tế

tự (có sách nói là nó bàn về cách thức hiến tế) Bộ này thường dùng cho nhữngngười có chức sắc cao cấp gần như những giáo chủ, tăng lữ Balamôn

Theo thánh kinh Brhmanna, các đồ khí tế và lễ vật cũng có năng lực tựnhiên mạnh mẽ, vô hình, mầu nhiệm có thể chuyển lay được ý muốn, hành độngcủa thần linh

Trang 6

+ Aranyaka-Veda là sự kế tiếp sự phát triển của Brahmanna Nó có tên gọi

là “Kinh rừng” (Sấm lâm thư) Tập này tính triết học còn rất ít Nó chủ yếu giảithích ý nghĩa huyền bí, bí truyền của những lễ nghi và phát hiện những ý nghĩatriết lý cao siêu Muốn được bí truyền các tăng đồ phải vào sâu trong rừng, núirậm, u tịch, vắng lặng và đem hết tâm trí ra mà suy tư trong nhiều năm Nhữngcao tăng thấu đạt nghĩa lý siêu hình, uyên thâm của thánh kinh Vêđa được tôntrọng ngang gần giới Balamôn

+ Upanishad là tập muộn nhất và có nhiều tri thức triết học hơn cả Nó lànhững lời bình giải tôn giáo - triết học về các lẽ thiết yếu và ý nghĩa của từngcuộc tế lễ, về những lẽ huyền bí sâu kín trong các kinh cầu nguyện, các bài thầnchú và về những điều chủ yếu trong các bài thần chú Upanishad nghĩa là tưtưởng bí mật, là ngồi xung quanh ai đó để trao đổi riêng Nó có 18 tập với 200 bàikinh, được biên soạn qua những niên đại khác nhau từ thế kỷ X đến thế kỷ VITCN Trong đó có các bộ kinh quan trọng như: Brithda âranyaka, Chândogya,Isha, Katha

Nội dung Upanishad là sự giải phóng tư duy người Ấn Độ cổ, nó biểu hiệnnhững tinh thần mới: Giải phóng tư duy tư biện khỏi ma thuật Mặc dù ngây thơđơn giản, vẫn có những ảnh hưởng của tư biện về nghi lễ, nhưng Upanishad đãđặt ra và trả lời được câu hỏi triết học: Cái gì là nguyên nhân? Brahman là gì?Nguyên nhân của sự xuất hiện con người như thế nào? Nó lý giải những vấn đềtối cao, mục đích tối cao của kinh Veda nên nó còn được gọi là kinh Vedanta(Anta tiếng Phạn có nghĩa là kết thúc, hoàn tất, mục đích)

Cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận, thậm chí trái ngược nhau khi chorằng Upanisadd là cơ sở của những quan điểm khác nhau của các trường phái triếthọc khác nhau Chẳng hạn: Vedanta chỉ dựa vào Upanishad, nó không nghi ngờSama-veda và Brahmanna-veda nhưng đã lờ đi Mimansa cố đưa những chứng cớphức tạp để chứng minh Upanishad là đúng, là vĩnh hằng nhưng trên thực tế nóủng hộ những quan điểm triết học mà Upanishad chống lại Cái say mê củaMimansa là nghi lễ, là những điều cấm kỵ Điều này đúng ở Yajur-veda vàBrahmanna-veda chứ không thể là của Rig-veda và Upanishad Tuy vậy, triết lýVeda và Upanishad cùng với đạo Balamôn là hệ tư tưởng thống trị trong đời sốngtinh thần người Ấn Độ cổ đại Uy thế của nó mạnh đến mức nó được mệnh danh

là tư tưởng triết học chính thống của Ấn cổ Tất cả những trào lưu vô thần, duyvật, chống lại uy thế của nó đều bị coi là tà giáo, là không chính thống

1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của Triết học Ấn Độ cổ trung đại

Về mặt lịch sử:

Triết học Ấn Độ ra đời trên cơ sở của một trong những nền văn minh cổnhất của nhân loại Những truyền thống văn minh ngàn năm của nó bắt nguồn từthế kỷ XXV-X TCN, vẫn còn bảo tồn cho đến ngày nay

Có những quan điểm khác nhau về sự phân chia những thời kỳ phát triểncủa triết học Ấn Độ, cũng như có những quan điểm khác nhau về sự phân loại các

Trang 7

trường phái triết học Ấn Độ Điều đó, chứng tỏ tư duy triết học Ấn Độ là rấtphong phú, đa dạng, đồ sộ và phức tạp.

Thông thường, trong lịch sử triết học Ấn Độ, người ta thường chia nó thànhbốn thời kỳ: 1) Thời kỳ Veda, thế kỷ XXV - thế kỷ VII TCN 2) Thời kỳ cổ điển,còn gọi là thời kỳ Phật giáo - Balamôn từ thế kỷ VI TCN - thế kỷ X SCN 3) Thời

kỳ sau cổ điển từ thế kỷ X - thế kỷ XVIII 4) Triết học Ấn Độ cận đại và hiện đại

từ thế kỷ XIX trở đi

Thời kỳ Veda, xã hội Ấn Độ chuyển biến từ công xã thị tộc lên công xã

nông thôn Thời kỳ này, đã xuất hiện sự phân chia đẳng cấp nghiệt ngã, làm trì trệnền kinh tế - xã hội Ấn Độ, cũng như làm cho các quan hệ xã hội Ấn Độ rất nặng

nề, rất phức tạp

Thời kỳ cổ điển, là thời kỳ chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các tiểu

vương quốc dẫn đến sự hình thành quốc gia lớn Maurya Từ vương triều Maurya(IV TCN) trở đi, xã hội nô lệ Ấn Độ hà khắc không kém gì các xã hội nô lệ khác.Nhưng quan hệ chủ nô - nô lệ mang nét bóc lột gia trưởng là chính Chính đặcđiểm này đã ảnh hưởng không tốt đến cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp nô lệchống lại giai cấp chủ nô, bởi lẽ sự phân tán của nô lệ trong các gia đình chủ nô làrất cao

Về mặt triết học:

- Thời cổ - trung đại, các nhà triết học Ấn Độ đã có một tư duy phân loạicao và sự phân tích sâu sắc đáng kinh ngạc Họ không dừng lại ở các vấn đề nhânsinh, mà đặc biệt quan tâm đến các vấn đề bản thể luận So với triết học TrungQuốc, triết học Ấn Độ quan tâm nhiều đến vấn đề bản thể luận hơn, và lôgíc họccũng phát triển hơn

- Triết học Ấn Độ cổ trung đại luôn gắn với vấn đề tôn giáo, bởi thế hầu hếtcác hệ thống triết học Ấn Độ luôn là triết học duy tâm và hữu thần Phải chăng,chính vì gắn với tôn giáo mà các nhà triết học Ấn Độ cổ - trung đại có thể phântích một cách tinh tế và sâu sắc mọi ngõ ngách của tinh thần, của cái tâm, của cáithức Mối quan hệ giữa tồn tại - không tồn tại luôn làm các nhà triết học Ấn Độkhắc khoải, với sự đặc biệt chú ý của họ đến phạm trù “không”

Có thể nói, niềm hạnh phúc và nỗi bất hạnh của con người luôn được triếthọc Ấn Độ cổ - trung đại quan tâm, thì bản thân nền triết học ấy cũng đã cónhững bất hạnh và may mắn do xã hội Ấn Độ cổ - trung đại quy định Cuối thời

cổ điển, thuyết Jaina mất hết ý nghĩa của nó, Phật giáo bị đồng hóa bởi đạoHinđu Thời Hinđu, với sự phát triển của các hệ thống Hinđu-ViShnu, Hinđu-Shiva cho thấy các đạo sỹ Balamôn được thay bằng các thần Shiva và Vishnu Từthế kỷ X trở đi, triết lý tín ngưỡng đa thần được thay bởi triết lý tôn giáo nhấtthần Hồi giáo

- Trong sự phản tỉnh, nhân sinh là nét nổi trội, hầu hết các hệ thống triếthọc Ấn Độ cổ - trung đại đều biến đổi theo xu hướng từ vô thần đến hữu thần, từ

ít nhiều duy vật đến duy tâm hay nhị nguyên Đây là sự phản ánh trạng thái trì trệ

Trang 8

của “phương thức sản xuất châu Á” ở Ấn Độ Và triết học, đến lượt nó, triết họctrở thành một trong những nguyên nhân của trạng thái trì trệ đó.

- Triết học Ấn Độ cổ trung đại luôn đan xen giữa duy vật với duy tâm, biệnchứng với siêu hình, vô thần với hữu thần không chỉ ở hệ thống mà ngay mỗitrường phái và trong tư tưởng mỗi nhà triết học

- Triết học Ấn Độ cổ trung đại luôn đan xen với tôn giáo Triết học-tôngiáo, Tôn giáo-triết học và Giải thoát luận luôn là khuynh hướng nổi trội nhất củatriết học Ấn Độ cổ trung đại

1.1.3 MỘT SỐ TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ TRUNG - ĐẠI CƠ BẢN

1.1.3.1 TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN TRONG KINH VEDA

Kinh Veda là bộ kinh cổ nhất của Ấn Độ và cũng là cổ nhất của loài người

Nó được soạn từ thế kỷ XII đến thế kỷ V TCN Người ta cho rằng, về nguồn gốcthần học, kinh Veda là những chân lý do Thượng đế mặc khải cho loài người ởđầu mỗi chu kỳ của vũ trụ (Mỗi chu kỳ là 4320 triệu năm) Những chân lý ấy tựtồn tại, tuyệt đối và tiên thiên siêu thời gian Con người chỉ nhận thức được nóbằng trực giác Người thấu thị được nó phải có một quá trình tu luyện, chiêmnghiệm nội tâm lâu dài cả về hành động lẫn tri thức Về lịch sử nó không là tácphẩm của một người, mà là sự tổng hợp, thu lượm tất cả những câu ca dao, vịnhphú, tư tưởng, quan niệm, tập tục lễ nghi của nhiều bộ lạc người Aryan ở nhiềuđịa phương thuộc sông Inđus, Gangơ và chân núi Hymalaya Từ thế kỷ X đến thế

kỷ VIII TCN nó mới được sưu tập, biên chép thành sách bằng tiếng Phạn cổ

Thời tiền Veda có 4 tập Bộ phận sớm nhất của Veda là những khúc háttụng ca truyền miệng của dân du mục Arya, những khúc hát này được truyền qua

ký ức và truyền miệng, nó chỉ được in thành sách từ thế kỷ XIV là Rig-Veda Sau

đó là Sama-Veda, Yajur-Veda, Atharva-Veda

+ Rig-veda: Rig-veda không có tư duy triết học mà chỉ nêu lên nhữngnguyện vọng hàng ngày của nhân dân như thức ăn, gia súc, mưa, an cư, mạnhkhỏe, nhiều con cái Tuy vậy, các nhà triết học về sau thường cố gắng trích dẫnRig-veda để chứng minh nó có ảnh hưởng đến quan điểm triết học, xác nhậnquyền uy của Rig-veda với học thuyết của mình Thật ra việc làm này là miễncưỡng và vô nghĩa

+ Sama-Veda còn gọi là ca vịnh Veda: Nó là những câu hát dành cho các

tư tế (udgtri) trong tiến trình nghi lễ Nó còn được coi như những quyết định vềluật lệ cho sinh hoạt thị tộc Chính điểm này, làm Ấn Độ trở nên một quốc giakhó cách tân về phong tục, tập quán Bởi vì, nếu cách tân là phạm lời dạy củathánh

+ Yajur-Veda gọi là Tế tự Veda Nó là sự tập hợp những công thức khấnbái dùng trong lễ nghi hiến tế Bộ này gồm 2 bộ (Đen: Krispa và Trắng: Sukla)

Bộ Trắng chỉ có các thần chú và các công thức sử dụng cho các nghi lễ Bộ Đen

là những ý kiến về nghi lễ và thảo luận những ý kiến đó

Trang 9

Thần chú trong Yajur-Veda bao gồm cả thơ và văn xuôi mang tính côngthức khấn bái dùng trong nghi lễ hiến tế Các công thức này thường không cónghĩa Nếu có thì là sự vô lý hỗn loạn nên được coi là có sức mạnh ma thuật.

Các hành lễ sư phải thuộc lòng các công thức trong thánh kinh này Thánhkinh này dạy những thể thức hành lễ, cúng bái, cách bày các loại tế khí, các đồ lễlên bàn thờ và cách dâng đồ lễ khi cúng tế

+ Atharva-Veda Nó gồm 731 bài văn vần là những lời khấn bái mang tínhbùa chúa, phù phép, ma thuật nhằm đem lại những điều tốt lành cho bản thân vàngười thân, gây tai họa cho kẻ thù Atharva-Veda buổi sơ khai của đạo Balamônđược coi là thánh kinh quan trọng nhất Về sau, Rig-Veda thay thế vị trí của nó,

nó dược xếp xuống hàng thứ tư trong thánh kinh Veda chuyên dùng cho giới thầypháp, thầy tu

Trên cơ sở của thánh kinh Veda, đặc biệt là Rig-veda, Veda giáo đã hìnhthành, đây là hình thức tôn giáo cổ nhất của Ấn Độ Tôn giáo này thờ cúng thiênnhiên với các vị thần tượng trưng cho các hiện tượng tự nhiên đa dạng, huyềndiệu biểu hiện những tín ngưỡng, phù phép, lễ nghi, truyền thuyết của thổ dânDravidian mà chủ yếu là những tộc người Arian hệ Ấn-Âu Tôn giáo này tin vàgiải thích rằng trong vũ trụ đồng thời tồn tại ba lực lượng liên quan nhau là Thầnlinh, Con người và Ác quỷ tương ứng với ba thế giới của vũ trụ là Thiên giới,Trần thế và Địa ngục Thần linh trong Veda ngụ khắp ba cõi của vũ trụ Thần linhrất phong phú đa dạng và chia nhau chi phối mọi hoạt động của vũ trụ theonguyên lý Rita (nghĩa đen là chân xác, thích hợp, là trật tự vận hành của vũ trụvạn vật) Theo họ, hiện thân của Thượng đế toàn năng là Trời hay thiên giới(Dyaus), không giới hạn, chứa đựng toàn vũ trụ Cùng với Trời là cha, là khídương, là tinh thần có Aditi là mẹ, là khí âm, là vật chất (vô tận) Do nguyên lý

âm dương, Trời cha Đất mẹ giao hợp mà sinh ra, nuôi dưỡng, điều hành toàn bộvạn vật trong vũ trụ Thần cai quản trần thế là thần lửa Agni, thần cai quản khôngtrung là thần gió Vâyu, thần cai quản thiên giới là thần mặt trời Surya Đây là ba

vị thần tối cao trong thánh kinh Veda Ngoài ra Veda còn nhắc nhiều đến thầnsấm sét Indra Người Ấn Độ cổ còn tôn thờ thần mặt trăng Mosa, thần mưaParjanya, thần không trung công lý Varuna, thần điều khiển trật tự Rita, thầnnước Apas, thần bão Rudra, thần rạng đông Ushas, thần hoàng hôn Apasra, thầnhạn hán Vittra, thần trí thức Samjnâ, thần ánh sáng Prabhâ, thần bóng tối Châyâ,thần tài sản Kubera, thần chiến tranh Kârtikuya v.v

Trong kinh Veda còn đưa ra quan niệm về sự sản sinh ra chư thần, vạn vật,muôn loài từ một đấng nguyên nhân đầu tiên và duy nhất Purusha Vị thần này cóngàn đầu, ngàn tay, ngàn mắt, ngàn chân phân ra khắp vũ trụ bao la Từ miệngNgài sinh ra dòng họ Balamôn, từ đùi Ngài sinh ra thứ dân Vaishya và từ bànchan của Ngài sinh ra bầy nô lệ Shudra, từ tâm trạng Ngài sinh ra thần mặt trăngMosa, từ mắt Ngài sinh ra mặt trời Pusan hay Surya, từ miệng Ngài cũng sinh rathần sấm sét Indra, thần lửa Agni, bằng hơi thở của mình Ngài sinh ra cõi Trời,chân làm cõi Đất, Tay làm bốn phương trời đất

Trang 10

Mỗi bộ kinh trên, đều có những quyển chủ yếu và những quyển không chủyếu Loại chủ yếu gọi là Samhita Những quyển kinh thuộc Samhita gọi là thánhkinh Veda Những thánh kinh căn bản, trọng yếu, thông dụng Samhita có ba loại:

Tế nghi thư (Brahmana), Sâm lâm thư (Aranyaka), Áo nghĩa thư (Upanishad)quen gọi là các bộ kinh Hậu Veda Thời Hậu Veda gồm 3 bộ: Brahmana-Veda,Aranyaka-Veda, Upanishad

+ Brahmana-Veda (Tế nghi thư) là kinh Balamôn Theo thánh kinhBrhmanna, các đồ khí tế và lễ vật cũng có năng lực tự nhiên mạnh mẽ, vô hình,mầu nhiệm có thể chuyển lay được ý muốn, hành động của thần linh Bởi thế, vớitấm lòng thành thanh khiết, tế lễ đúng phép, bày đồ tế lễ và dâng lễ vật đúng ýthần linh sẽ được thần linh chấp nhận lễ và ban ân huệ đúng như cầu nguyện Tất

cả những linh nghiệm, ứng báo đó đều do nguyên lý tối cao mà ra

Dưới cái vỏ thần bí, đầy ắp các yếu tố thần thoại - tôn giáo, kinhBrahmanna cũng chỉ ra cách lý giải căn nguyên và quá trình hình thành vũ trụ: Đi

từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao Vạn vật sinh, diệt, nóng, lạnh đều do

âm - dương, đực - cái giao hợp trong không gian, thời gian mà tồn tại mãi mãi.Căn nguyên của sự tồn tại mãi mãi này đều được quy về “nguyên lý chủ đề tốicao” - Thần Brahman Tưởng rằng nhất thần nhưng trên thực tế họ tôn sùng ba vịthần đại diện cho một lực lượng tối cao, trừu tương, khái quát chi phối sự hìnhthành, tồn tại, biến đổi của vạn vật trong vũ trụ Ba vị thần ba xu hướng, nhưngchỉ là sự thể hiện của một quá trình thống nhất của vũ trụ: Thần sáng tạo Brahma,thần hủy diệt Shiva còn gọi là Tamas, thần bảo vệ Vishnu còn gọi là thần Sattava(thuần khiết, tính tĩnh)

Khi bàn về con người, kinh Brahmanna cho rằng, giữa mỗi kiếp người luôn

có cái duyên ràng buộc Càng tu nhân, tích đức, làm nhiều điều thiện thì càng tạo

ra nhiều những nhân duyên tốt của hạnh phúc, cực lạc cho kiếp sau Điều đó chỉ

có thể thực hiện và đạt được hiệu quả ứng nghiệm hiện tại nếu con người kínhcẩn, tôn sùng, siêng năng khấn bái, chiêm nghiệm sự linh báo ở thần linh

+ Aranyaka-Veda là sự kế tiếp sự phát triển của Brahmanna Nó có tên gọi

là “Kinh rừng” (Sấm lâm thư) Tập này tính triết học còn rất ít Nó chủ yếu giảithích ý nghĩa huyền bí, bí truyền của những lễ nghi và phát hiện những ý nghĩatriết lý cao siêu Muốn được bí truyền các tăng đồ phải vào sâu trong rừng, núirậm, u tịch, vắng lặng và đem hết tâm trí ra mà suy tư trong nhiều năm Nhữngcao tăng thấu đạt nghĩa lý siêu hình, uyên thâm của thánh kinh Vêđa được tôntrọng ngang gần giới Balamôn

+ Upanishad là tập muộn nhất và có nhiều tri thức triết học hơn cả Nó lànhững lời bình giải tôn giáo - triết học về các lẽ thiết yếu và ý nghĩa của từngcuộc tế lễ, về những lẽ huyền bí sâu kín trong các kinh cầu nguyện, các bài thầnchú và về những điều chủ yếu trong các bài thần chú Upanishad nghĩa là tưtưởng bí mật, là ngồi xung quanh ai đó để trao đổi riêng Nó có 18 tập với 200 bàikinh, được biên soạn qua những niên đại khác nhau từ thế kỷ X đến thế kỷ VI

Trang 11

TCN Trong đó có các bộ kinh quan trọng như: Brithda âranyaka, Chândogya,Isha, Katha

Nội dung Upanishad là sự giải phóng tư duy người Ấn Độ cổ, nó biểu hiệnnhững tinh thần mới: Giải phóng tư duy tư biện khỏi ma thuật Mặc dù ngây thơđơn giản, vẫn có những ảnh hưởng của tư biện về nghi lễ, nhưng Upanishad đãđặt ra và trả lời được câu hỏi triết học: Cái gì là nguyên nhân? Brahman là gì?Nguyên nhân của sự xuất hiện con người như thế nào? Nó lý giải những vấn đềtối cao, mục đích tối cao của kinh Vêda nên nó còn được gọi là kinh Vêdanta(Anta tiếng Phạn có nghĩa là kết thúc, hoàn tất, mục đích)

Upanishad chia nhận thức của con người thành hai trình độ: Hạ trí (apara viday) và Thượng trí (para - viday) Hạ trí là tri thức phản ánh những sự vật, hiệntượng cụ thể, riêng lẻ có hình tướng, danh sắc, phong phú, đa dạng, hiện thực.Ngay cả việc nhận thức kinh Vêda cũng được xếp vào nhận thức hạ trí Thượngtrí là trình độ nhận thức vượt qua tất cả thế giới hữu hình, có hạn thường xuyênbiến đổi từ hình thức tồn tại này sang hình thức tồn tại khác, để nhận thức mộtthực tại tuyệt đối, duy nhất, bất diệt (akasara), thường hằng, vô hình ẩn dấu đằngsau tất cả những cụ thể, hữu hình, hữu hạn Nó sáng tạo và chi phối tất cả thế giớihiện tượng ấy

-Theo Upanishad, hạ trí là phương tiện cần thiết để hiểu biết thượng trí.Thượng trí là mục đích tối cao của nhận thức Khi có hiểu biết thượng trí sẽ đưacon người tới giải thoát Cái thực tại tối cao căn nguyên của sáng tạo mà chỉthượng trí mới nhận thức được ấy, theo Upanishad là bản chất nội tại của vũ trụ

và muôn vật, nó ở ngoài tất cả mọi giới hạn của không gian, thời gian và nhânquả Đó là “tinh thần vũ trụ tối cao”, là “thượng đế”, là thần Brahman

Theo Upanishad, Brahman là thực tại tuyệt đối, tinh khiết, hằng cửu, toànthiện; là tinh thần vũ trụ đại đồng, là nguyên lý sáng tạo nên toàn vũ trụ; là thựcthể duy nhất, trước nhất, tuyệt đối, vĩnh viễn, chung nhất, phổ biến nhất ẩn sautoàn bộ thế giới hữu hình Brahman biểu hiện trong con người là Atman (linhhồn), sự sống của con người Atman đồng nhất với Brahman nên Atman cũng tồntại vĩnh viễn, tuyệt đối, bất diệt Do ý chí, ham muốn, dục vọng mà gây ra nhữnghậu quả đau khổ cho linh hồn và thể xác (nghiệp báo - Karma) ở kiếp này và cảkiếp sau (luân hồi - Samshara) Vậy, chỉ bằng tu luyện để Atman đồng nhất vớiBrahman thì con người mới được giải thoát khỏi luân hồi, nghiệp báo

Upanishad không là công trình của một người mà là kết quả của sự tư biệnhình thành qua nhiều thế hệ Với nội dung phong phú, đa dạng, Upanishad trởthành nguồn gốc lý luận cho tất cả các trường phái triết học duy tâm và tôn giáocủa Ấn Độ sau này, đặc biệt là đối với đạo Balamôn và Hindu

Cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận, thậm chí trái ngược nhau khi chorằng Upanisadd là cơ sở của những quan điểm khác nhau của các trường phái triếthọc khác nhau Chẳng hạn: Vedanta chỉ dựa vào Upanishad, nó không nghi ngờSama-veda và Brahmanna-veda nhưng đã lờ đi Mimansa cố đưa những chứng cớphức tạp để chứng minh Upanishad là đúng, là vĩnh hằng nhưng trên thực tế nó

Trang 12

ủng hộ những quan điểm triết học mà Upanishad chống lại Cái say mê củaMimansa là nghi lễ, là những điều cấm kỵ Điều này đúng ở Yajur-veda vàBrahmanna-veda chứ không thể là của Rig-veda và Upanishad Tuy vậy, triết lýVeda và Upanishad cùng với đạo Balamôn là hệ tư tưởng thống trị trong đời sốngtinh thần người Ấn Độ cổ đại Uy thế của nó mạnh đến mức nó được mệnh danh

là tư tưởng triết học chính thống của Ấn cổ Tất cả những trào lưu vô thần, duyvật, chống lại uy thế của nó đều bị coi là tà giáo, là không chính thống

Trong các trường phái triết học Ấn Độ cổ trung đại, thì Vedanta là trườngphái tuyệt đối trung thành với Upanishad Vedanta có nghĩa là kết thúc veda Nóđược coi như là sự kế tục giai đoạn cuối vùng của veda Vedanta đã phát huynhững tư tưởng triết học trong Upanishad, kinh chủ yếu của Vedanta là Vedanta-sutra được coi là của Badarayana, nhưng cho đến nay ta vẫn chưa có tiểu sử củangười này Bộ chú giải kinh này có nhiều tác giả, trải qua nhiều thời kỳ khácnhau Ta chỉ biết nó được xếp là đối lập với Samkhya, như vậy rất có thể nó rađời từ thế kỷ VII TCN

Nói chung có thể chia Vedanta thành hai thuyết chính:

1.1.3.1.1 Thuyết nhất nguyên của Vedanta (Vedanta - Advaita)

Phái này còn gọi là lý thuyết ảo ảnh, coi Brahman là tồn tại tuyệt đối, nóđồng nhất với cái “tôi” (Atman) với nghĩa là ý thức thuần túy Theo họ, thế giớivật chất tuyệt đối không hiện thực, hình ảnh của nó là ảo ảnh do vô minh(Avidya) sinh ra Thuyết này (nhất nguyên, duy nhất (Advaita) tuyết đối) khôngthừa nhận sự tồn tại của bất cứ cái gì ngoài Brahaman hay ý thức thuần túy

Thuyết duy nhất (Advaita) được coi là của Samkara (700 - 750) sáng lập.Các tác phẩm của Samkara thường có tính lôgic sắc bén, văn phong trong sáng

Cụ thể :

+ Trên thế giới không có thực tại nào ngoài bản chất tinh thần tối cao duynhất, vĩnh cửu, dị dạng nhưng đồng tính là Brahman Brahman là thực thể tinhthần thuần túy thực hữu, nó vô cùng, vô tận, tự biến mất nhưng vẫn hiện hữu, tồntại, ở ngoài vô tận nhưng có ở khắp trong những cái hữu hạn, là chất liệu và độnglực của mọi cái cũng như thế giới, là cái sinh ra vạn vật và thế giới, cũng đồngthời là cái để thế giới và vạn vật quy về nó

+ Họ quan niệm, do vô minh mà con người đã ngộ nhận sự phong phú đadạng của sự vật hiện tượng là tồn tại chân thực, vô hạn Thực ra chúng chỉ lànhững hữu hạn biến đổi vô thường và chỉ là những ảo tưởng, ảo giác thuần túy

mà thôi Họ thừa nhận nguyên nhân của thế giới là từ hư không do Brahman tạora

+ Theo họ con người luôn sống giữa những ảo ảnh tự huyễn, giả tưởng vàluôn bị nó quyến rũ rồi mê muội đi, nhầm tưởng là ý chí của mình sống ở đời.Trên thực tế như vậy, con người chỉ thấy cái hữu hạn, hữu hình mà không thấyđược cái vô hình tuyệt đối, cái vô hạn và cái vĩnh viễn thực sự của bản tính củamình đồng nhất với Brahman

Trang 13

+ Họ đưa ra 4 phương pháp nhận thức là trực giác, khải thị, kết luận và cảmgiác Theo họ, kết luận và cảm giác là nhận thức hạ trí chỉ biết được cái hữuhình, hữu hạn, ảo ảnh Chỉ có trực giác mới nhận thức được một cách đích thựcthế giới Từ đó, theo họ, mọi cố gắng và mục đích tối cao của con người là phảiđạt cái trực giác để có được sự đồng nhất giữa linh hồn cá thể với linh hồn tốicao Là nhằm giải thoát con người khỏi thế giới ảo, thoát khỏi nghiệp báo, luânhồi (Đây là giải thoát luận của họ).

+ Những người theo nhất nguyên (Advaita) bên cạnh thờ thần sáng tạo tốicao là Brahma họ còn thờ thần hủy diệt (shiva) Về thực chất 2 thần này nhất thể

1.1.3.1.2 Thuyết không nhị nguyên có phân lập (Visistadvaita)

Thuyết này do Ramanuja (1016 - 1091) sáng lập Ông là một triết gia nổitiếng vùng Nam Ấn lúc ấy Về nguyên tắc, triết học của phái này không khác mấy

so với phái nhất nguyên Nếu có điều khác biệt thì là ở chỗ: nếu nhất nguyên chỉthừa nhận duy nhất Brahman tồn tại, hiện hữu thì họ thừa nhận có 3 thực thể tồntại là Brahman, linh hồn cá thể (Atman) và thế giới vạn vật Cụ thể

+ Theo họ, Brahman là đấng sáng tạo tối cao duy nhất, toàn năng, toàn đức

mà ngoài Vishnu (thần bảo vệ tồn tại, thuần khiết còn gọi là Sattva) không cóthần nào sánh kịp Brahman sáng tạo ra tinh thần, kết hợp tinh thần thành linh hồn

cá thể (thực thể linh hồn) sau đó tạo ra thế giới vật chất Brahman là cái có trướcthế giới, là cái tạo ra thế giới Mọi sự vật hiện tượng và thế giới đều là hiện thựccủa Brahman

+ Theo họ, 3 thực thể luôn tồn tại trong mối quan hệ phụ thuộc quy địnhnhau Trong đó, thực thể tối cao là Brahman, có quyền uy toàn năng, vừa sáng tạoduy nhất đối với linh hồn và thế giới vạn vật Thế giới vật chất, thể xác là thực thểthấp nhất, luôn thụ động Còn linh hồn là hiện thân của Brahman nó trú ngụ hộinhập trong thể xác và làm chủ thể xác

+ Khi bàn về con người, nội dung tư tưởng triết học của phái này vẫn làgiải thoát luận Theo họ, linh hồn cá biệt là một bộ phận và cùng một thể vớiBrahman Nhưng linh hồn có tư duy ý tưởng để sinh ra ý thức, nhận thức chỉ huyhành vi, hành động của thể xác Từ đó, họ cho rằng ý thức, hành vi cũng nhưhành vi có ý thức của con người đều phải nhận biết rõ bản chất, nguồn gốc củamình là thành tâm, thiện ý, tôn sùng, kính yêu đấng sáng tạo Brahman Tức phải

nổ lực để linh hồn của mình hòa nhập với Brahman, là giải thoát linh hồn khỏithực thể thấp nhất - vật chất

+ Nhìn chung, tư tưởng triết học của phái không nhị nguyên phân lậphướng con người vào quy y, vào “tín ngưỡng tâm” thờ hai thần nhất thể Brahma(sáng tạo, toàn năng) và Vishnu (bảo vệ, thuần nhất)

1.1.3.1.3 Về sau Vedanta được phân thành nhiều hệ phái

+ Phái đồng nhất trong sự khác nhau, coi Brahman và Atman là thống nhất

về bản chất, đều là tinh thần Nhưng Atman trú ngụ trong vạn vật còn Brahmankhách quan, độc lập với con người, giữa Brahman và Atman được ví như biển vàsóng biển

Trang 14

+ Nhất nguyên có giới hạn (không nhị nguyên có phân lập ở thế kỷ IX)

coi Brahman là cái tồn tại tuyệt đối, toàn năng, sáng tạo Đồng thời tồn tại linhhồn (cit), và vật chất (a cít) nhưng sự tồn tại của chúng là tồn tại trong Brahman

+ Phái nhất nguyên nhị phân (thế kỷ XII) phái này cho rằng Brahman và

Atman vừa phân đôi vừa không phân đôi Nó chỉ phân đôi khi được Brahman tạo

ra thế giới tinh thần với vật chất dưới dạng các thể thô Khi nó ở trong Brahmanchúng đều ở dạng tinh tế

+ Thuyết nhị nguyên (thế kỷ XIII) chỉ rõ sự khác nhau giữa Brahman với

Atman (tinh thần cá thể) Ở đây không phải là nhị nguyên về hai bản thể vật chất

-ý thức Phái này chỉ ra 5 sự khác nhau giữa Brahman với tinh thần cá thể Đó lànhững sự khác giữa: 1) Brahman với Atman, 2) giữa Atman với vật chất; 3) giữahai Atman; 4) giữa hai dạng vật chất ; 5) giữa Brahman với vật chất Phái nàykịch liệt chống lại phái nhất nguyên, họ coi phái nhất nguyên sakara là Phật giáotrá hình

+ Phái nhị nguyên thuần túy (thế kỷ XV) đưa ra quan niệm so sánh thượng

đế với linh hồn cá thể có quan hệ như vàng và đồ trang sức bằng vàng, còn linhhồn cá thể được coi là tia lửa của linh hồn tối cao (Brahman) Họ cho rằng linhhồn cá thể là một bộ phận của linh hồn tối cao nên cũng phải được tôn trọng Họchống lại việc tu khổ hạnh đầy đọa linh hồn cá thể Thực chất họ theo chủ nghĩakhoái lạc

+ Thuyết sự đồng nhất trong sự khác biệt không hiện rõ Theo phái này

thì mọi người đều bình đẳng trước Brahman và trước các bàn cầu nguyện

Tóm lại, dù có nhiều hình thức, nhưng Vedanta đều chung nhau ở quan

điểm coi linh hồn cá biệt (Atman) là hiện thân của linh hồn tuyệt đối toàn năng tốicao (Brahman) Họ duy tâm hữu thần (đa thần nhất thể), khá trung thành vớiUpanishad Họ đều giải thoát linh hồn con người khỏi thế giới hiện thực bằngtrực giác Triết học Vedanta có vị trí quan trọng trong triết học Hinđu sau này

1.1.3.2 BUDDAHA (Phật giáo)

1.1.3.1.1 Các nội dung tư tưởng triết học chính trong đạo Phật

Tư tưởng triết học Phật giáo được chứa đựng trong “Tam tạng” Kho kinhđiển này gồm hơn 8400 cuốn, thuộc tiếng Paly (Nam Ấn) và Sanskrit (Bắc Ấn).Ngoài ra sự phát triển của Tiểu thừa và Đại thừa đã làm phong phú thêm những

tư tưởng triết học sơ kỳ của Phật giáo Dù sao, tư tưởng cốt lõi cũng không ngoàiphạm vi những tư tưởng sơ kỳ sau đây :

a Bản thể luận (thế giới quan):

a1) Lý “nhân duyên khởi”

Nguyên lý “Nhân duyên khởi” coi vạn vật trong vũ trụ đều có nguyên nhân

tự thân, không do một đấng thần linh nào tạo ra cả Sự đa dạng của tồn tại là do

“Nhân duyên” tạo ra: nhân duyên hội thì sự vật tạo ra Nhân duyên hết thì sự vậtkhông còn

“Nhân duyên” quan hệ chặt chẽ với “nhân quả” Nhân là nghiệp lực Quả lànghiệp lực đã thành hiện thực nhờ hội đủ duyên

Trang 15

“Nhân duyên khởi” và “nhân quả” là nguyên lý phổ biến tuyệt đối của mọitồn tại “Duyên” ở đây phải được hiểu vừa là nguyên nhân sinh ra cái mới, vừa làkết quả của quá trình biến đổi cái cũ trước đó Nhân nhờ duyên mà thành quả, quảnhờ duyên mà thành nhân mới, nhân mới nhờ duyên thành quả mới, Quá trình

cứ thế nối nhau vô cùng, vô tận mà thế giới, vạn vật, muôn loài cứ sinh sinh hóahóa không ngừng

Lý nhân duyên giải thích căn nguyên biến hóa vô thường của vạn pháp Tất

cả vạn pháp không thoát ra được sự chi phối của luật nhân quả Cái gì tác động ởvật gây ra kết quả gọi là nhân Cái gì kết tập lại từ nhân gây ra gọi là quả Duyên

là sự tương hợp, là điều kiện giúp cho sự khởi sự của vạn pháp Có lục nhân, tamduyên, tứ duyên và thập nhị nhân duyên

Lục nhân gồm: 1) Tương ứng nhân: nhân của tâm vương và tâm sở tương

ứng nhau mà có (Tâm vương là cái tâm làm chủ cái thức, tâm sở là cái tâm đã thụtưởng, hành, thức)

2) Câu hữu nhân: Nhân của tâm vương và tâm sở cùng có mà giúp lẫnnhau

3) Đồng loại nhân: Nhân cùng một loại

4) Biến hành nhân: Nhân cùng khởi một lúc khắp cả trong khổ đế và tập đế.5) Dị thục nhân: Nhân làm điều thiện hoặc ác ở đời này thì đời sau sẽ thành

ra ở đời sau thành thiện báo hay là ác báo

6) Năng tác nhân: Nhân nhờ có duyên khác mà tạo ra kết quả

Tam duyên gồm: 1) Thân duyên (duyên thân với Phật): Ba nghiệp (thân,

khẩu, ý) của chúng sinh và ba nghiệp của Phật chẳng lìa bỏ nhau

2) Cận duyên (duyên gần với Phật): chúng sinh nguyện thấy Phật, Phậtliền ứng niệm mà hiện ra trước mắt

3)Tăng thượng duyên (duyên thêm lên cõi Phật): chúng sinh xưng niệmPhật mỗi giây nghĩ (niệm niệm) trừ được tội nhiều kiếp, khi lâm chung Phật,thánh sẽ tiếp rước về cõi cực lạc

Tứ duyên gồm:

1) Nhân duyên: Cái duyên làm cho nhân thành quả Chẳng hạn, lục căn(mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý) làm nhân; lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc,pháp) làm duyên mà thành ra lục thức (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúcgiác, ý giác)

2) Thứ đệ duyên: Cai duyên của tâm vương, tâm sở cứ thứ tự theo nhausinh ra liên tục không dứt

3) Sở duyên duyên: Duyên này nhờ duyên khác mà sinh ra

4) Tăng thượng duyên: Đối với sinh vật, kinh Phật tìm thấy sự liên kết củanghiệp quả từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến tương lai mà đưa ra thập nhịnhân duyên (xem phần tập đế)

a2) Tư tưởng “Vô thường”, “Vô ngã”:

Vạn pháp đều không vượt qua nguyên lý “Vô thường” và “vô ngã”

Trang 16

“Vô ngã” là không có cái ta; sự vật bản chất không thường tồn bất biến,nên “ngã” chỉ là “ảo”, “giả” Nó là “ảo” là “giả” vì hội đủ nhân duyên thì có, cái

“có” ấy tự tính vốn chẳng “có” mà là “không”

“Vô thường”: vạn vật chẳng thường hằng, thường trụ mà luôn trôi đi, biến

đi đến mức vạn pháp hiện trước nhận thức của con người đều là “ảo” Là “ảo” vìbiến đổi “vô thường” nên cái thấy chẳng thật Chỉ trong một Shadna thì sự vật đãchẳng còn là nó, thế thì cái thấy chỉ là huyễn hoặc

Theo Phật giáo, thì thế giới được tạo nên bởi ngũ uẩn: “sắc” (vật chất), thụ,tưởng, hành, thức (tinh thần) Cũng có quan niệm cho rằng thế giới được tạo nên

từ lục đại: phong, thủy, địa, hỏa, không (sắc), thức (danh)

“Duyên danh - sắc” chỉ hội tụ nhau một thời gian ngắn rồi lại biến đổi sangtrạng thái khác Vì vạn pháp “vô thường” nên cũng “vô ngã” Bản thân thế giới làmột dòng chuyển liên tục (vô thường), không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên,không ai tạo ra thế giới cả, không có cái gì là tồn tại vĩnh hằng cả Sự biểu hiệncủa thế giới sự vật hiện tượng luôn theo quy trình sinh, trụ, dị, diệt (hoặc thành,trụ, hoại, không hoặc sinh, lão, bệnh, tử) theo luật “nhân quả” và lý “nhân duyênkhởi”

Như vậy, Phật giáo coi mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ đều là “ảo” và

“giả”, không có thực, chỉ do vô minh đem lại và chấp mà có “Tất cả mọi vật đều

là vô thường đều thay đổi, không có vật nào là ngã cả” Dòng biến chuyển ấy là

vô thủy, vô chung, vô cùng, vô tận, không có khởi đầu, không có kết thúc

a3) Vài điểm khác nhau của Tiểu thừa và Đại thừa

Hai phái của Tiểu thừa nhìn chung là “chấp hữu“, nhưng Phái “Nhất thiếthữu bộ” (Savatyvàda) đã tập trung nghiên cứu phạm trù thời gian Theo họ, có tồntại hiện tại là do có tác động ở trong quá khứ, có tác động hiện tại là có tồn tạitrong tương lai Như vậy, là họ đã đi gần đến chỗ coi tồn tại là “bất biến” Phái

“Kinh bộ” (sautràmtika) chống lại luận điểm “vô thường” của phái trên Họ xâydựng “lý thuyết về tính chốc lát”, và có đóng góp cho phát triển tư tưởng biệnchứng Theo họ, trạng thái biến chuyển rõ ràng không xẩy ra sau một loạt cácbiến chuyển không rõ ràng

Hai phái của Đại thừa nhìn chung “Chấp không”, nhưng Phái “Trung luận”(Madhymika) cho rằng: vật chất và ý thức vốn là “không” do vô minh mà hiện ra

là “có” Bởi vậy, nhìn thế giới phải vừa là “không” vừa “dả”, tức cách nhìn

“trung” Theo họ, con người tu luyện khi căn cơ thuần thục, bát nhã xuất hiện thìthế giới “ảo” biến đi về trạng thái “không” - Niết bàn Người sáng lập ra phái này

là sư Long Thọ (Trung Quốc) Phái “Du già” (Yogacara) cho rằng vạn pháp đềubiến tướng và là sự thể hiện của thức thứ tám (Tàng thức) Phái này nặng về duythức luận Theo họ, “tàng thức” không mất đi mà tồn tại vĩnh hằng Phái này dohai anh em ruột Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubađla) sáng lập

Nói chung, thế giới quan Phật giáo là tư tưởng vô thần luận, có tính biệnchứng sâu sắc Triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủ quan, nặng về

Trang 17

duy thức luận Họ quá nhấn mạnh về sự biến đổi của sự vật hiện tượng và phủnhận sự đứng im tương đối của vạn vật.

b) Nhân sinh quan Phật giáo

Đây là nội dung trọng tâm của triết học Phật giáo Những tư tưởng triết họcbản thể nói trên chỉ là nền tảng lý luận cho việc luận chứng những tư tưởng nhânsinh thể hiện ở bốn luận điểm cơ bản trong “tứ diệu đế”

b1) Quan niệm về con người: Phật giáo cho rằng con người không do

thượng đế sinh ra, cũng không do một đấng thiêng liêng nào tạo ra cả, mà conngười là một pháp đặc biệt của vạn pháp Con người bao gồm phần sinh lý, tâm

lý, và là sự kết hợp của ngũ uẩn:

Phần sinh lý gồm “sắc” là thần sắc, hình tướng giới hạn trong không gianbằng xương, thịt, da, tạo bởi bốn yếu tố (Tứ đại) là: thủy, hỏa, địa, phong Phầntâm lý hay tinh thần, ý thức gồm thụ, tưởng, hành, thức, được biểu thị bằng bảylĩnh vực tình cảm (thất tình) là: Ái, ố, nộ, hỷ, lạc, ai, dục Phần tâm lý bao giờcũng nhờ, dựa vào phần sinh lý (không có tinh thần, ý thức ngoài cơ thể vật chất).Con người cũng như vạn pháp khác của vũ trụ phải tuân thủ: sinh, trụ, dị, diệt vàthực chất là giả hợp của ngũ uẩn, do vậy con người cũng chỉ là giả - “Vô ngã”

Con người khi chết không hết cũng chẳng còn (chấp đoạn) Phật giáo giảithích cái chết của con người sau chết bằng thuyết “Nghiệp báo” (karma) và luânhồi (Samsara)

Nghiệp (Karma) theo truyền thống Ấn Độ cổ phải được hiểu là: Mỗi hành

động là kết quả tất nhiên của những điều kiện có trước; là khuynh hướng củanhân thành quả (thiện = thiện, ác = ác); là cái tâm linh cao hơn cái tự nhiên vốn

có của con người (con người là bộ phận của tự nhiên và là bộ phận cao hơn cóquan hệ xã hội); là tự do của con người bằng sự hợp nhất tự do của linh hồn vớithượng đế (Brahman); là ánh sáng tâm linh bên trong của con người (Đức sáng tựmình) Ánh sáng tâm linh này có phản chiếu ánh sáng tối cao hay không làchuyện bất khả tri; cách truyền nghiệp là tâm truyền (muốn là được)

Nghiệp theo Phật giáo phải được hiểu là nghiệp theo kiểu truyền thống ấynhưng có đôi điểm khác biệt như: Bí truyền và hành động như một định luật nhânquả khắt khe (là nhân quả), có thể hiểu như định mệnh trong các tôn giáo khác

Nghiệp của Balamôn là sự tái sinh của một Atman vào một trong sáu cõi[(thần tiên), Atula (thần), nhân (người), địa ngục, ngạ quỷ (ma đói), súc sinh (thúvật)];

Nghiệp của Phật là một dây liên tục các nghiệp riêng - chung, nó không làđịnh mệnh mù quáng, không là tự do muốn gì được nấy mà có luật nghiệp đượcđịnh bởi trật tự của tự nhiên và tinh thần Khi nói đến nghiệp, Phật giáo chỉchứng minh con người có ý chí có khả năng làm chủ được nghiệp trong khi phảituân thủ luật nghiệp Khi giác ngộ với nghiệp không còn tác dụng Nghiệp là sứcmạnh ngấm ngầm thúc đẩy từ bên trong, là tiềm thức của con người mà muốnnhìn thấy nó phải nhất tâm thiền định

Trang 18

Nghiệp có phúc nghiệp, tội nghiệp Nghiệp cũng có nghĩa là tạo tác, việclàm Tam nghiệp góp chung thành một sức mạnh gọi là nghiệp của người đangsống: bao gồm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp Khi chết có một trong bốnnghiệp sau chi phối mà quen gọi là dẫn nghiệp: cực trọng nghiệp (cơ thể thiệnhoặc ác); cận tử nghiệp; tập quán nghiệp; tích lũy nghiệp.

Trong vòng tam giới (Dục, sắc, vô sắc), vạn pháp đều chịu 4 nghiệp là:nghiệp đen (ác), nghiệp trắng (thiện), nghiệp đen và nghiệp trắng (có thiện có ác),nghiệp không đen cũng không trắng (nghiệp vô vi của hàng đắc đạo - nghiệp vôlậu) Ngoài ra, tùy hoàn cảnh còn có nhiều loại nghiệp khác

Với thuyết “nhân quả” và “Nghiệp - Nghiệp báo”, Phật giáo cho rằngkhông có một hành vi nào dù thiện, ác, to, nhỏ, của con người, dù được bưng bítche đậy mà tránh khỏi “quả báo” “Tu tâm”, “Nghiệp dần luân hồi trong lục đạo”nói rất rõ về điều này

Luân hồi: luân là bánh xe quay tròn, hồi là trở về Luân hồi là nói đến vạnpháp trong tam giới luôn luân chuyển không ngừng theo chu kỳ: Thành - trụ -hoại - không (sinh - trụ - dị - diệt hoặc sinh - lão - bệnh - tử) Đối với con người

có thân thì có nghiệp, có nghiệp thì vào luân hồi để trả nghiệp báo

Ba giới được hiểu theo 3 cách là vật lý, sinh lý, tâm lý; dục giới, sắc giới,

vô sắc giới; thảo mộc, động vật và quỷ thần

b2) Quan niệm về đời người thể hiện trong Tứ Diệu Đế

“Tứ diệu đế” là nội dung chủ yếu về nhân sinh quan Phật giáo - luận điểm

về giải thoát và cứu khổ - Niết bàn

Khổ đế : tất cả những cái có, vốn là tồn tại đều khổ Đau khổ là quá trình

tồn tại Đời là bể khổ “nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước của bốn biển”.Những cái khổ tóm lại trong bát khổ: Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt

ly khổ, oán tăng hội khổ, sở cầu bất đắc khổ, thủ ngũ uẩn khổ

Tập đế (nhân đế): Mọi cái khổ đều có nguyên nhân Nguyên nhân của đau

khổ nằm trong trần tục là vô minh, là dục vọng “Thập nhị nhân duyên” là nhữngnguyên nhân cho cái tồn tại kéo dài không ngừng và liên tục trong vòng quayvĩnh cửu Mười hai nguyên nhân ấy là: Vô minh, hành, thức, danh - sắc, lụcnhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão - tử đều gây khổ Duyên “lão - tử” vừa là kếtquả cuối của một quá trình, nhưng cũng là nguyên nhân của vòng luân hồi mới từ

vô minh của cuộc đời khác Tất cả 12 nguyên nhân này quan hệ ràng buộc lẫnnhau, dẫn tới cay đắng của cuộc đời

Diệt đế: Phật giáo khẳng định cái khổ có thể diệt được Có thể chấm dứt

được đau khổ, chấm dứt được luân hồi nhờ đạt trạng thái niết bàn

Niết bàn phải được hiểu với những nghĩa sau: Là cảnh trí của nhà tu hành

đã diệt sạch các phiền não và tự biết rằng, mình chẳng còn luyến ái; là ra khỏicảnh rừng mê tối, rừng phiền não; Đã dứt nhân quả sinh tử, dứt hết nghiệp, luânhồi; là vô vi, trống không, lặng lẽ, yên ổn chấm dứt cái tai hại của sinh tử; làkhông sinh ra những khổ quả nữa; là không nhân duyên tạo tác nghiệp lầm (vôvi); là yên ổn, khoái lạc, hết khổ (an lạc); là lìa khỏi phiền não (giải thoát)

Trang 19

Niết bàn theo Phật giáo cũng có những nghĩa như thế, nhưng cần phải đượchiểu là: Cõi tĩnh, tịch, cực lạc siêu không gian, siêu thời gian (hư không, thế giớibên kia); đã diệt trừ hết mọi dục vọng, thù ghét, mê lầm đạt đến sự giải thoáttuyệt đỉnh, đồng nhất Niết bàn, Pháp, Phật (Niết bàn có ngay trong hiện thực); làthế giới đại đồng, bình đẳng, bắc ái (khát vọng về tương lai).

Diệt đế cũng là niết bàn Muốn đạt niết bàn phải diệt đế, phải chứng quả

“duyên giác” Diệt đế trước hết là diệt vô minh Trong đó vô minh bao gồm cảviệc thừa nhận sự tồn tại thực của con người và của vạn pháp

Ở đây trong bản thể luận, Phật giáo cứu cánh con người không phải bằngđấu tranh giai cấp, bằng cách mạng mà bằng diệt dục Để đạt được trạng thái giảithoát, Phật giáo đã “đặt thế giới lầm lỗi và trần tục, tức thế giới thường ngày vàtồn tại kinh nghiệm đối lập với sự yên tĩnh vĩnh hằng đạt được, bằng cách giảmbớt dần nguyên nhân sự tồn tại trần tục”

Trong lý thuyết về giải thoát của Tiểu thừa và Đại thừa có đôi chút khácnhau Chúng sinh - theo Tiểu thừa - chìm đắm trong bể khổ sẽ đến nơi yên tĩnh và

ai cũng muốn hướng tới trạng thái Alahán (vị thánh đã đạt niết bàn) Nhưng muốntới trạng thái ấy, mỗi cá nhân tự phấn đấu mà đi Đức Phật chỉ vạch ra mục đích

và hướng dẫn con đường Các vị La Hán không quan tâm và không thể quan tâmtới mọi người và không ai có thể giúp được, mỗi người tự tạo ra nghiệp của mình,

tự đạt tới niết bàn Với Đại thừa, Alahán được thay bằng Bồ Tát Bồ Tát chứngquả niết bàn nhưng khước từ bước vào trạng thái yên lặng ấy, các ngài lại thườngquan tâm giúp chúng sinh khác cũng đạt tới trạng thái như vậy Theo Đại thừa,mọi chúng sinh đều liên kết với nhau bởi có cái chung là tâm Phật Tất cả chúngsinh đều là Bồ Tát, là Phật vị lai Mỗi chúng sinh đều ẩn dấu một phần của cáichung đó: Đức Phật tuyệt đối duy nhất Bồ Tát tuy giúp đỡ mọi người khi mình

đã được giải thoát, nhưng không làm cho họ đắc đạo được, chỉ Đức Phật mới làmđược điều đó Nơi nào thờ Bồ Tát thì đó là Phật giáo Đại thừa

Đạo đế: Là những con đường chân chính dẫn đến sự giải thoát, là những

con đường tu đạo Thực chất của những con đường này là diệt “vô minh” Có támcon đường gọi là “bát chánh đạo”:

Chính ý: Tư duy, suy nghĩ đúng

Chính ngữ: Giữ lời nói chân chính

Chính kiến: Có sự hiểu biết đúng đắn, nhất là hiểu biết đúng đắn về Tứdiệu đế

Chính nghiệp: Có nghiệp tà và nghiệp chính Nghiệp tà thì tu sữa, cải tạo.Nghiệp chính thì giữ cho vững, Thân, khẩu, ý nghiệp đều phải giữ cho chính, chothanh tịnh

Chính mệnh: Sống trung thực,cư xử đúng đắn, tiết chế dục vọng và giữnghiêm giới luật

Chính tinh tiến: Thường xuyên tích cực tiên kiên truyền bá chân lý củaPhật Hoằng dương Phật pháp chân chính

Chính niệm: Thường giữ vững và nhớ Phật, niệm Phật

Trang 20

Chính định: Tĩnh lặng tập trung và suy nghĩ về “tứ diệu đế”, “vô ngã”,

“vô thường” và “khổ”

Tám con đường ấy qui về thực hiện ba nguyên tắc: Giới - Định - Huệ Giới: Giữ những điều kiêng kỵ để con người trở nên trong sạch, làm chothân, khẩu, ý được thanh tịnh

Định: Làm cho thân, tâm trụ, định, an lạc không bị tán loạn, không bị chiphối bởi hoàn cảnh Định gồm có Chỉ và Quán Nhờ Chỉ mà mọi nghiệp dừng lại

và ngưng đọng Nhờ Quán mà trí tuệ minh triết phát minh

Huệ (tuệ): Nhờ định mà trí tuệ bát nhã phát sinh, lúc đó con người liềnvượt qua bể khổ đạt đến bờ giải thoát (giác ngộ, niết bàn, quốc độ, tĩnh lặng v.v.)

b3) Tóm lại: Cứu vớt và giải thoát luôn là mục đích và nội dung của nhân

sinh quan tư tưởng triết học Đạo Phật Phật giáo bác bỏ “sự tồn tại” của Brahman,

“đấng sáng tạo” và “ngã” (Atman) của Upanishad, nhưng lại tiếp thu tư tưởng

“Luân hồi” (Samsara) và “nghiệp” (Karma) của Upanishad trong toàn bộ hệthống triết học Ấn Độ cổ

Phật giáo chỉ thừa nhận bốn điều thường tồn là: Mọi chúng sinh đều sinh

ra từ “vô minh”; Tất cả mọi đối tượng của dục vọng đều là vô thường, là sự khổ,

là điều thay đổi; Tất cả mọi tồn tại đều vô thường, đều khổ là điều thay đổi;

“Ngã” cũng không phải là gì thuộc về ta.

Nhân sinh quan Phật giáo nói gọn là giải thoát luận Tuy vậy, hạn chế là đểđạt mục đích cuối cùng, Phật giáo lại thực hiện bằng cách loại bỏ dần nguyênnhân của sự tồn tại của thế giới hiện thực Bởi lẽ: Đối tượng giải thoát và cứu rỗicủa Phật giáo là tất cả chúng sinh không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, nam, nữ,già, trẻ Tất cả đều có thể giải thoát, có thể thành Phật Bản thân Phật cũng khôngphải là vị thánh thần mà là một con người đã giải thoát, đã giác ngộ Niết bàn haytrạng thái giải thoát chính là trạng thái đã đoạn trừ được những ràng buộc trần thế,những đau khổ, phiền não do “vô minh”, “tham dục” gây ra Niết bàn là trạng tháitâm hồn hoàn toàn được giải thoát, tĩnh lặng, trong sáng thanh tịnh, cực lạc siêukhông gian, siêu thời gian

1.1.3.2.2 Một số tông phái Đạo Phật ảnh hưởng ở Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay có 3 tông phái lớn có ảnh hưởng đến Phật giáo ViệtNam là:

Mật tông: Hình thành từ Đạo Phật Đại thừa và các yếu tố bùa chú, pháp

thuật thần linh của Ấn Độ, ra đời từ thế kỷ thứ VII khi Phật giáo ở Ấn Độ đã suyyếu và Ấn Độ giáo đang hình thành Những người tu hành trong phái này có tínhchất bí truyền, lễ thức thờ phụng rờm rà phức tạp Mật tông đã ảnh hưởng lớnPhật giáo Việt Nam thời nhà Lý với các sư Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, KhổngMinh Không phái này đề cao vai trò của người xuất gia tu hành, thậm chí còncoi là hiện thân của Phật

Tịnh độ tông: Do sư Tuệ Viễn (Viễn Công) lập ra ở Trung Quốc cuối thế

kỷ thứ IV Phái này thờ Tam Bảo Tam Bảo tức là ba ngôi báu: Phật (Đại giác,đại ngộ, hiểu biết tất cả); Pháp (những giáo thuyết của Đức Phật); Tăng (những

Trang 21

người xuất gia cùng hòa hợp, cùng chung nhau tu học giáo thuyết của Phật) TamBảo là Phật Bảo, Pháp bảo và Tăng bảo.

Quy y tam bảo là gửi thân vào đức Phật, vào đạo Phật, vào tăng chúng củaPhật Tức là nương theo đức Giác có đủ phước và huệ; là nương theo sự Chínhkhông tà kiến; là nương theo đức Tịnh không nhiễm ô trọc, không chấp nê (Nhưvậy Phật tức là giác, Pháp tức là chính, tăng tức là tịnh)

Có ba thứ tam bảo là đồng thể tam bảo (3 ngôi quý đều như nhau), xuất thếtam bảo (ba ngôi quý ra khỏi thế gian), thế gian trụ trì tam bảo (ba ngôi còn ởtrong thế gian)

Họ niệm Phật, chủ trương dựa vào Phật lực để giải thoát là chủ yếu Điềuquan trọng không phải là nơi niệm hoặc cách niệm Phật, cái chính là giữ cho tâmtính yên tĩnh, không vọng động, phải hướng thiện và hướng thượng, luôn nhớcông đức cũng như lời răn dạy của Phật Phải có niềm tin vào sự giác ngộ

Thiền tông: Được hình thành ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ VI Sư tổ là Bồ

Đề Đạt Ma (Bodhidharma) Ông cho rằng giáo thuyết Phật giáo trừu tượng lạinhiều kinh sách, người bình dân khó tiếp thu chân lý của Phật, nên ông chủtrương tu thiền (Dhyana = yên lặng mà suy nghĩ) Tu thiền là cách tốt nhất đểthấy được tâm, tính và giác ngộ, vì Phật tại tâm, tại tính chứ không ở ngoài Có

tu tiệm ngộ (thông qua 52 bậc mới đạt quả Phật) Có tu đốn ngộ (giác ngộ nhanhvới điều kiện người tu hành phải tạo ra được công án làm trí tuệ bừng sáng) Thật

ra thì tiệm là nhân của đốn, đốn là quả của tiệm trong cả quá trình tu hành

1.1.3.2.3 Đánh giá về những giá trị triết học của Đạo Phật

Trên thực tế có rất nhiều những đánh giá khác nhau về giá trị tư tưởng củatriết học Phật giáo Ăng Ghen đã từng cho rằng, những tư tưởng về “Vô ngã”, “vôthường” của Đạo Phật chứa đựng tư tưởng biện chứng sâu sắc

Về nhân sinh quan, có người cho rằng Phật giáo là bi quan, yếm thế vềcuộc sống con người, không đề ra nỗi khổ của áp bức giai cấp, không đề ra biệnpháp cách mạng để cải tạo xã hội mà đi sâu vào con đường giải thoát mang tính

cá nhân tiêu cực Cũng có ý kiến cho rằng Đạo Phật đã đề cập đến sự thật nơicuộc sống của mỗi con người, bất kể đó là ai đều không thoát khỏi sự ràng buộccủa sinh - lão - bệnh - tử và luân hồi Đạo Phật đã đề ra và định hướng giải quyếtmột vấn đề mà bất cứ ai dù ít, dù nhiều đều không thể lãng tránh

Thật ra, Đạo Phật đã đặt ra và giải quyết một vấn đề rất có liên quan tớimỗi con người Ở đây cần phải đứng trên quan điểm: Đạo Phật đã phản ánh nhucầu nào của con người và có ý định giải quyết những vấn đề đó có cần thiết đặt racho con người hay không ? Ở quan điểm này, đạo Phật đã có những suy tư hếtsức sâu sắc Đó là giá trị về mặt tư duy và về mặt tư tưởng triết học của Đạo Phật.Tuy vậy, trong những giá trị nhân bản của Đạo Phật cũng hàm chứa nhứng hạnchế nhất định của nó: chỉ chú trọng giải quyết nhân bản ở góc độ là tính nhân bảnnhân loại, mà thiếu mất góc độ của những giới hạn nhân bản về tính giai cấp, tínhdân tộc v.v nên triết học nhân bản Phật giáo vì thế mới ở mức độ nhân bản trừutượng về con người

Trang 22

1.2 LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

Trung Quốc cổ đại là một nước có nền văn minh phát triển phong phú và

đa dạng Triết học Trung Quốc cổ đại là một trung tâm lớn của triết học phươngĐông và nhân loại Thời đại lịch sử này kéo dài từ thiên niên kỷ III tcn đến thế kỷIII tcn

1.2.1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRUNG QUỐC

CỔ TRUNG ĐẠI 1.2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử

Trung Quốc có diện tích 9.597.000 km2, chiếm gần 7% diện tích toàn cầu,

có trên 60 dân tộc trong đó dân tộc Hán chiếm 90% dân số cả nước

- Trung Quốc cộng sản nguyên thủy bắt đầu từ thời “Tam Hoàng”, “Ngũ

Đế”1 Theo “Sử ký” của Tư Mã Thiên thì tam hoàng là Thiên Hoàng, Địa Hoàng

và Nhân Hoàng Nhưng theo “Thượng thư đại truyện” thì tam hoàng là ToạiNhân, người phát hiện ra lửa; Phục Hy, người phát hiện ra lưới săn bắt và biếtcách chăn nuôi gia súc; Thần Nông, ông tổ của nghề cày cấy, trồng trọt Sau đó làthời kỳ đồ gốm với các ngũ đế: Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đường Nghiêu,Ngu Thuấn (Vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn không theo cha truyền connối) thời kỳ này được tính từ 4477 tcn - thế kỷ XXV tcn

- Xã hội chiếm hữu nô lệ Trung Quốc được hình thành từ nhà Hạ, phát triển

qua nhà Ân-Thương đến nhà Chu, tức từ thế kỷ XXV tcn đến thế kỷ III tcn Đây

là thời kỳ xã hội Trung Quốc có rất nhiều biến động:

+ Ở thế kỷ XXI tcn, nhà Hạ ra đời đánh dấu sự mở đầu của chế độ chiếmhữu nô lệ ở Trung Quốc Giai đoạn này người Trung Quốc đã biết khai thác, sángchế, sử dụng các công cụ bằng đồng và đã có dấu hiệu sự ra đời của văn tự

+ Ở thế kỷ XVII tcn, Thành Thang lật đổ vua Kiệt của nhà Hạ lập nên nhàThương đặt kinh đô ở đất Bạc (thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay), đến thế kỷ XIV thìdời đô về đất Ân (cũng thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay) Thời Ân - Thương nôngnghiệp là ngành sản xuất chủ yếu, công cụ bằng đồng được sử dụng rộng rãi, chữviết đã xuất hiện, thiên văn phát triển Người Trung Quốc đã biết dùng 12 chi và

10 can để sáng tạo ra lịch phục vụ nông nghiệp

+ Ở thế kỷ XI tcn, Chu Vũ Vương lật đổ vua Trụ của nhà Ân - Thương lậpnên nhà Chu đưa xã hội chiếm hữu nô lệ Trung Quốc phát triển đến đỉnh cao NhàChu có 37 đời vua, kéo dài gần chín thế kỷ và chia thành hai giai đoạn Tây Chu(1066 tcn - 770 tcn); Đông Chu (770 tcn - 221 tcn) Thời Đông Chu lại chia thànhhai thời kỳ Xuân Thu (770 tcn - 475 tcn) và Chiến Quốc (475 tcn - 221 tcn)

Thời Tây Chu, chế độ đẳng cấp, tông pháp và trật tự xã hội được duy trìnghiêm nghặt: Thiên tử thống trị toàn bộ đất đai và thần dân Các chư hầu cóquân đội riêng nhưng hàng năm vẫn phải thực hiện chế độ triều cống, triều hội và

2

1 Đây là thời kỳ Cộng sản nguyên thủy, hiện chưa có chính sử, mà chỉ là truyền thuyết.

Trang 23

lệnh chinh phạt của Thiên tử Toàn xã hội Trung Quốc là một hệ thống ràng buộcnhau không chỉ về huyết thống mà cả về kinh tế, chính trị - xã hội.

Thời Đông Chu, chế độ tông pháp dần bị loại bỏ, vương đạo suy vi, bá đạotiếm quyền Thiên Tử Mọi lễ pháp, cương thường đạo lý bị đảo lộn Chư hầuxưng hùng, xưng bá, thôn tính lẫn nhau, chiến tranh triền miên Đây cũng là hậuquả của sự phát triển sức sản xuất sử dụng công cụ bằng sắt và sự phát triển củacác khoa học khác bị kìm hãm bởi chế độ chiếm hữu nô lệ tập quyền:

- Thời Xuân Thu có 483 cuộc chiến tranh, từ hàng nghìn nước thời đầu Tây

Chu, đến cuối Xuân Thu chỉ còn hơn 100 nước, cục diện Ngũ bá Tề (Hoàn Công)

- Tống (Trương Công) - Tấn (Văn Công) - Tần (Mục Công) - Sở (Trang Vương)đua nhau làm bá chủ thiên hạ Cuối Xuân Thu có thêm hai nứơc Ngô (Phù Sai) vàViệt (Câu Tiễn) cùng tham gia tranh hùng, xưng bá

Thời Chiến Quốc, Trung Quốc chỉ còn thất hùng Hàn Ngụy Tần Tề

-Triệu - Sở - Yên, trong đó Tần là nước mạnh nhất Cuối thế kỷ III tcn, Tần DoanhChính sử dụng học thuyết pháp gia của Hàn Phi tử đã lần lượt chinh phục cácnước khác và thống nhất Trung Quốc, lập nên quốc gia phong kiến trung ương tậpquyền đầu tiên ở Trung Quốc năm 221 tcn

1.2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của triết học Trung Quốc cổ trung đại

Từ thời Tam hoàng - Ngũ đế cho đến đầu Đông Chu, Trung Quốc đã xuấthiện các biểu tượng tôn giáo như đế, thượng đế, thiên mệnh, quỷ, thần, âm dương,ngũ hành đã tạo điều kiện cho sự phát triển triết học Trung Quốc trong thời ĐôngChu

Thời Đông Chu, về kinh tế có sự tan rã của mô hình kinh tế “tỉnh điền” (sởhữu ruộng đât thuộc về nhà nước, quyền sử dụng ruộng đất được phân chia chocác thành viên công xã thông qua các cơ sở công xã) Sự tan rã này làm xuất hiệnmột lực lượng chính trị mới - Địa chủ - đối lập với tầng lớp quý tộc thị tộc cũ

Về chính trị - xã hội, đây là thời kỳ phân hóa giai cấp và đấu tranh giai cấpquyết liệt, chiến tranh triền miên

Thực chất đây là giai đoạn chế độ chiếm hữu nô lệ suy tàn, Trung Quốc bắtđầu chuyển sang chế độ phong kiến Là thời kỳ mà các giá trị đạo đức bị đảo lộncăn bản: cái cũ chưa mất hẳn, cái mới vừa xuất hiện chưa được khẳng định

Thực tế này đã đặt ra một loạt các vấn đề xã hội và triết học buộc các nhà

tư tưởng phải lý giải như làm thế nào để thống nhất Trung Quốc? Vì sao thời nàocũng có hưng, vong, trị, loạn? Bản chất con người là gì? Nguyên lý nào chi phốivạn vật? Hành động thế nào để không trái đạo trời, không trái bản tính tiênthiên? Hoàn cảnh kinh tế - chính trị đặc biệt này đã làm nảy sinh hàng loạt cácnhà triết học, các trường phái triết học đa dạng, phong phú

1.2.1.3 Triết học Trung Quốc cổ đại có những đặc trưng sau đây

1 Nó được hình thành rất sớm ngay từ cuối thiên niên kỷ thứ II tcn và pháttriển rực rỡ vào thời Đông Chu

Trang 24

2 Triết học Trung Quốc cổ đại rất phong phú đa dạng và đã đề cập đến hầuhết các lĩnh vực khác nhau của triết học như thế giới quan, nhân sinh quan, nhậnthức luận, đạo đức, chính trị - xã hội, lôgíc học, phương pháp trị nước

3 Cuộc đấu tranh giữa duy vật với duy tâm, giữa biện chứng với siêu hình,giữa vô thần với hữu thần dù chủ yếu xảy ra trên phương diện nhân sinh quannhưng không kém phần gay gắt, phức tạp

4 Trong mỗi trường phái triết học thường có sự đan xen giữa các yếu tốduy vật, duy tâm, biện chứng, siêu hình, vô thần và hữu thần

Nói chung, triết học Trung Quốc cổ đại có những đóng góp hợp lý vào khotàng tri thức lịch sử triết học thế giới và đặt nền tảng cho sự phát triển của triếthọc Trung Quốc sau này Triết học Trung Quốc cổ đại có ảnh hưởng đến nhiềunước trên thế giới, trong đó có Việt Nam

1.2.2 CÁC TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC TIÊU BIỂU

1.2.2.1 Trường phái Nho gia sơ kỳ

Nho gia là một trong ba trường phái triết học lớn nhất thời Trung Quốc cổđại (cùng với Đạo gia và Mặc gia) Trong hai ngàn năm phong kiến Trung Quốccũng như các triều đại phong kiến của các nước vùng Á Đông như Nhật Bản, ViệtNam chịu ảnh hưởng sâu sắc của những tư tưởng Nho học

Nho gia ra đời từ thế kỷ VI tcn cho tới sự phát triển sau đó 2000 năm đã cónhững bổ sung, hoàn thiện nhưng về bản chất những quan niệm triết học của Nhogia thì đã được hình thành ngay từ thời cổ đại

Nho gia được Khổng tử lập ra thời Xuân Thu, thời kỳ này chỉ nên gọi làKhổng học hay Nho học mới đúng Học thuyết của ông được Mạnh tử và Tuân tửtiếp tục hoàn thiện ở thời Chiến Quốc, thời kỳ này gọi là Khổng gia hay Nho gia.Nếu gọi là Khổng giáo hay Nho giáo thì "giáo" ở đây phải hiểu là giáo dục, giáohọc Học thuyết của Khổng tử chỉ thực sự trở thành một tôn giáo phải kể từ ĐổngTrọng Thư trở đi Khổng tử được các học trò tôn xưng là bậc “chí thánh tiên sư,vạn thế sư biểu” Mạnh tử cũng được tôn xưng là bậc “nhị thánh” của Nho giáo

Kinh sách Nho gia thường được kể đến là tứ thư và ngũ kinh Tứ thư gồmbốn cuốn: Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh tử Trong hệ thống tứ thư thì

“luận ngữ” thường được coi là sách quan trọng nhất để nghiên cứu về tư tưởngcủa Khổng tử Đây là cuốn sách do các học trò của Khổng tử ghi chép những lờithầy dạy mình khi thầy còn tại thế Ngũ kinh gồm năm cuốn: Kinh Thư, Kinh Thi,Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu

Trong hệ thống ngũ kinh, theo tương truyền “kinh Xuân Thu” do chínhKhổng tử biên soạn Theo “Sử ký” của Tư Mã Thiên thì người đời sau khen Khâuhay chê Khâu là căn cứ vào kinh Xuân Thu Theo tương truyền, Khổng tử cũng làngười đã chỉnh lý, biên soạn các bộ kinh Thư, kinh Dịch Ông đã bổ sung vàokinh Dịch mười thiên (gọi là thập dực) Như vậy, Khổng tử là bậc đại trí thứcđương thời, ông thông thái mọi tri thức hiện có của người Trung Quốc cổ đại vàtập hợp thành một hệ thống

a) Những tư tưởng triết học cơ bản của Nho giáo cổ đại

Trang 25

Trung tâm của tư tưởng triết học Nho giáo cổ đại không là những tư tưởngtriết học về bản thể, về vũ trụ Mối quan tâm hàng đầu của Khổng tử không phải

là đạo Trời, mặc dù một số lần ông có nhắc đến Thiên mệnh và nói đến quỷ thần.Điều mà Khổng tử đặc biệt chú ý giải quyết là những vấn đề triết học về đạoNgười (Nhân đạo) Nói theo ngôn ngữ hiện đại thì điều Khổng tử quan tâm lànhững quan niệm triết học về xã hội con người Có lần học trò hỏi ông về quỷthần và cuộc sống của con người sau khi chết, ông trả lời ”Kính quỷ thần nhi viễnchi” (quỷ thần chỉ nên kính trọng nhưng chớ có gần); rằng “hãy đợi đến khi chếtcũng chưa muộn”; rằng “đạo người chưa biết sao tỏ được việc quỷ thần” Điềunày cho thấy Khổng tử nặng lo đạo Người hơn đạo Trời và việc quỷ thần Điều ấycũng phản ánh những ảnh hưởng chính trị - xã hội của thời Xuân Thu đặc biệt rõnét trong triết học Khổng tử

Có quan niệm đánh giá không coi Khổng tử là nhà triết học mà chỉ xemông như một nhà giáo dục, một người dạy học, một quân sư về chính trị đươngthời Quả là Khổng tử đã từng là thầy dạy học và nêu tấm gương sáng cho đạolàm thầy mãi muôn đời sau Ông cũng đã từng làm chính trị, làm quan, làm tểtướng trong một thời gian ngắn và ông đúng là người đã đào tạo nhiều nhà chínhtrị xuất sắc đương thời cũng như sau này Ông có những tư tưởng chính trị độcđáo, tạo ra nền tảng quan niệm về chính trị quân chủ trung ương tập quyền vùng

Á Đông mãi về sau này

Có thể khái quát những tư tưởng triết học của Khổng tử cũng như của Nhogiáo nói chung ở những điểm sau:

Một là: Phương pháp luận định hướng tiếp cận giải quyết những vấn đề xã

hội của Nho giáo không xuất phát từ việc phân tích cơ sở kinh tế của xã hội Nhogiáo quy toàn bộ quan hệ xã hội về những quan hệ chính trị - đạo đức, coi đó làquan hệ nền tảng của đời sống xã hội Đồng thời, Nho giáo lại quy những quan hệchính trị - đạo đức của xã hội vào ba mối quan hệ chính trị - đạo đức cơ bản: Vua

- Tôi; Chồng - Vợ; Cha - Con Quan hệ thứ nhất thuộc quan hệ quốc gia, hai quan

hệ sau thuộc quan hệ gia đình Điều này chứng tỏ Nho giáo coi quan hệ gia đình

là quan hệ nền tảng của xã hội Quan hệ gia đình Trung Quốc cổ đại mang tínhchất tông tộc, dòng họ Ba quan hệ ấy gọi là “tam cương” của xã hội Xã hội trịhay loạn trước hết thể hiện ở việc có giữ vững được tam cương hay không

Hai là: Lý tưởng xã hội của Nho giáo là hướng tới một xã hội “đại đồng”.

Khái niệm “xã hội đại đồng” của Nho giáo không phải là một xã hội đặt trên nềntảng của một nền sản xuất phát triển cao, mà là một xã hội “an hòa” Trong đó sự

an hòa được đặt trên nền tảng của sự “công bằng” xã hội Công bằng Nho giáokhông là sự “cào bằng” tiểu nông, mà là công bằng trên cơ sở địa vị xã hội củamỗi cá nhân, mỗi dòng họ

Ba là: Phương thức để duy trì trật tự công bằng của xã hội theo quan niệm

Nho giáo là phải nêu cao “Chính danh” “Chính danh” nghĩa là mỗi người cầnnhận thức và hành động theo cương vị, địa vị của mình: vua cho ra vua, tôi phải

ra tôi; chồng phải ra đạo chồng, vợ phải ra đạo vợ; cha ra cha, con phải ra con

Trang 26

v.v Nếu mọi người không “Chính danh” thì xã hội trở nên loạn lạc Không thể

có một xã hội trị bình mà nguyên tắc “Chính danh” bị vi phạm Nội dung cơ bảncủa “Chính danh” là chính sách dùng người sao cho phù hợp nhằm xây dựng một

xã hội thái bình thịnh trị

Có thể khái quát nội dung cơ bản của “Chính danh” như sau: Tài đức phảiphù hợp tương xứng với chức vụ được giao; Ai ở địa vị nào phải làm tròn tráchnhiệm và giữ phận ở địa vị ấy, không được hưởng quyền lợi cao hơn địa vị củamình; Mọi người phải làm đúng vị trí, cấp bậc và chức danh của mình, không ở vịtrí đó thì không mưu tính việc của vị trí đó (Bất tài kỳ vị, bất mưu kỳ chính Danhbất chính tắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tắc sự bất thành, sự bất thành tắc lễnhạc bất hưng); Lời nói và hành động phải phù hợp nhau, không được nói nhiềulàm ít, không được lời nói thì kính cẩn mà trong bụng thì không ; Phải dùngngười hiền tài mà giúp nước, không kể người đó thân hay sơ Nếu thấy người giỏihơn mình phải nhường địa vị, không nhường tức là “ăn cắp địa vị” v.v

Bốn là: Đê thực hiện “Chính danh” xã hội phải có một nền giáo dục tốt:

mỗi người phải tự giáo dục và được giáo dục Có giáo dục và tự giáo dục thì mỗingười mới biết phận vị của mình mà nhìn nhận hành động trong cuộc sống chodúng Tuy nhiên, sự giáo dục của Nho giáo không hướng vào phương diện kỹnghệ và kinh tế mà hướng vào việc giáo dục những chuẩn mực chính trị - đạo đức

đã hình thành từ ngàn xưa được nêu gương sáng trong cổ sử Giáo dục nhằm xâydựng nên những mẫu người Kẻ sĩ, Đại trượng phu, Quân tử sống khuôn mẫu theocác nội dung “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”

Năm là: Những chuẩn mực giá trị chính trị - đạo đức mà Nho giáo đề cao

là Nhân-lễ-nghĩa-trí-tín gọi là ngũ thường, trong đó nhân giữ vị trí đứng đầu Giữ

lễ, nghĩa, trí, tín mà thiếu lòng nhân, những cái đó chỉ mang ý nghĩa hình thứcthiếu cái chân thực Khổng tử lên án những hành vi như thế Cốt lõi của nhân làtình yêu thương con người

Nhân là ái nhân; Là coi người như mình, cái gì mình không muốn thìkhông muốn cho người, cái gì mình muốn thì cũng muốn cho người (kỷ sở bấtdục vật thi ư nhân); Là mình muốn lập thân phải giúp người khác lập thân, mìnhmuốn thành đạt phải giúp người khác thành đạt (kỷ dục lập nhi lập thân, kỷ dụcđạt nhi đạt nhân); Có nhân là phải tôn trọng các nguyên tắc của xã hội (khắc kỷphục lễ vi nhân)

Lễ có những nội dung chủ yếu là: Lễ nghi, chế độ chính trị và quy phạmđạo đức của nhà Chu; Trên, dưới ngôi thứ phải rõ ràng; Mọi việc làm phải đâu rađấy và khi hành lễ phải thành kính Lễ là cơ sở của mọi suy nghĩ, hành động.Không phải lễ thì không nhìn, không nghe, không nói, không hành động; Tácdụng của lễ là lấy hòa làm quý (lễ chi dụng, hòa vi quý), điều hòa các mâu thuẫn(an bần nhi lạc, bần nhi vô oán - nghèo mà vui, an phận không oán trách)

Nhân, Lễ có quan hệ khăng khít nhau, thâm nhập vào nhau, làm tiền đề choviệc xác định nội dung của nhau Trong đó nhân là nguồn gốc, nội dung của lễ

Trang 27

(không có nhân làm chi có lễ); Lễ là hình thức của nhân, nhân muốn biểu hiệnphải thông qua lễ; “Chính danh” là con đường đạt tới điều “Nhân”

Ngoài những giá trị chuẩn mực chính trị - đạo đức nói trên, Nho giáo còn

đề cập tới hàng loạt những giá trị chuẩn mực khác như Trung, Hiếu, Tiết Nhưng, con người mà Nho giáo cổ đại, nhất là Khổng tử quan niệm không là con

người nhân loại mà là con người tông tộc, dòng họ

Sáu là: Vị trí con người trong Nho giáo là như nhau nhưng tư thế là khác

nhau Trong tư tưởng của Khổng tử và Mạnh tử con người là nạn nhân của sốmệnh, thiên mệnh Con người trong tư tưởng của Tuân Tử là chống lại địnhmệnh, cải tạo số phận của mình và biết được mệnh trời để sử dụng nó Tuân Tửcho rằng, trời có thời của trời, đất có tài sản của đất, người có việc của người.Người có thể ngang với trời và đất Bỏ cái mình có thể ngang với trời đất màmuốn ngang với trời đất là mê lầm Với Đổng Trọng Thư thì Nho giáo là chiếcvòng kim cô đặt trên đầu con người, nhất là đối với phụ nữ

Bảy là: Do hạn chế lập trường giai cấp, Khổng tử cho rằng chỉ quân tử mới

có đức nhân, kẻ tiểu nhân không thể có nhân; Mạnh tử lại quy định người lao lựcphải phục tùng người lao tâm, người lao tâm trị người lao lực; Với Đổng TrọngThư ông ta đã hạ thấp nhân phẩm của người lao động và phụ nữ xuống hạng hạngu cùng tồn tại với thánh nhân và trung nhân Mặt khác, do hạn chế lịch sử nênNho giáo chỉ dưa ra được những giải pháp duy tâm cải lương nhằm cứu vãn tìnhhình xã hội theo lập trường hoài cổ và duy trì chế độ đẳng cấp

b) Đánh giá về những quan điểm chính trị - xã hội của Nho giáo

Do không xuất phát từ cơ sở kinh tế của xã hội để giải thích và giải quyếtcác vấn đề xã hội nói chung nên bất luận thế nào Nho giáo cũng rơi vào quanniệm duy tâm về lịch sử Nhất là ở Đổng Trọng Thư thì Nho giáo là duy tâm thần

bí và gia tăng tính nghiệt ngã trong đời sống xã hội Thời Nam-Bắc triều Nhogiáo kết hợp với Đạo giáo trở thành Huyền học Thời nhà Tống sự kết hợp Nhogiáo với Phật giáo tạo nên Tống Nho hay còn gọi là Lý học với hai phạm trù cơbản là “lý” và “khí” Thời nhà Minh, Vương Thủ Nhân đã duy tâm hóa Nho giáomột lần nữa tạo nên Tâm học

Quan niệm duy tâm về lịch sử đó vẫn tồn tại hàng ngàn năm ở các nước ÁĐông Việc áp dụng học thuyết Nho giáo vào quản lý xã hội đã có nhiều trườnghợp thành công trong duy trì trật tự xã hội phong kiến Có được điều đó là nhờ xãhội truyền thống Á Đông về cơ bản không có các cuộc cách mạng trong lực lượngsản xuất, trong kinh tế Tính tất yếu của sự quy định từ nền tảng kinh tế đối với xãhội về cơ bản là biểu hiện không rõ nét Ở Á Đông, để tạo ra sự thống nhất trong

xã hội trước hết không phải là nền tảng kinh tế (nhất là với các nước kinh tế tiểunông, phân tán), mà được dựa trên cơ sở của việc nắm chắc, thống nhất xã hội vềnền tảng chính trị - đạo đức mà thôi

Dù duy tâm nhưng Nho giáo đặc biệt coi trọng các giá trị chính trị - đạođức Trong những giá trị ấy, ngoài những hạn chế về đẳng cấp, giai cấp nó vẫn cónhững ý nghĩa nhân loại nhất định Nhiều ý nghĩa giá trị của những chuẩn mực

Trang 28

đạo đức Nho giáo được quần chúng nhân dân sử dụng trong nền tảng đạo đức củamình

Có thể nói Nho giáo vào Việt Nam từ thế kỷ II tcn, nhưng chỉ bắt đầutruyền bá có nề nếp là từ thế kỷ I scn Thời kỳ Bắc thuộc (111 tcn - 938 scn) Nhogiáo ảnh hưởng chưa lớn trong nhân dân, mà chỉ là công cụ cai trị của giai cấpthống trị Cuối thời Lý - Trần Nho giáo mới có vai trò quyết định trong triều đình

và ảnh hưởng lớn trong nhân dân Thời Lê - Nguyễn, Nho giáo được đưa lên địa

vị độc tôn trong đời sống tinh thần xã hội và ảnh hưởng sâu sắc đến nền văn hóaViệt Nam

Ngày nay chúng ta đang rất cần giữ thế ổn định của xã hội - điều mà Nhogiáo hàng ngàn năm đeo đuổi, suy tư rất nhiều về phương cách thực hiện mục tiêu

ổn định ấy - việc nghiên cứu Nho giáo góp phần đáp ứng thực tiễn cấp bách ấy

c Các đại biểu tiêu biểu của Nho giáo cổ đại

Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tên tự là Trọng Ni, sinh ra trong một giađình quý tộc nhỏ đang bị sa sút Quê hương ông là nước Lỗ Thời đại của ông làthời đại loạn Đông Chu Nhà Chu đã suy yếu, các chư hầu nổi lên xưng vương,xưng bá Bá đạo nổi lên lấn át vương đạo, trật tự lễ pháp của nhà Chu bị đảo lộn.Khổng Tử muốn khôi phục lại trật tự lễ pháp của nhà Chu với một nội dung mớiphù hợp với thời đại của mình Ông sáng lập Nho gia, mở trường dạy học, đi chu

du các nước để truyền bá tư tưởng của mình Bộ "Tứ thư", "Ngũ kinh" là do ôngsan định kho tàng văn hóa cổ Trung Quốc trước đó cho đến thời của ông Trong

đó, ông bổ sung vào Kinh dịch mười chương, gọi là thập dực, và Kinh Xuân Thu

là do ông viết về lịch sử Trung Quốc thời Xuân Thu

a) Học thuyết chính trị - xã hội của Khổng Tử:

Học thuyết chính trị-xã hội của Khổng Tử là đường lối "Đức trị" với baphạm trù lớn là "Nhân", "Lễ", "Chính danh" Trong đó "Nhân" là nội dung, "Lễ"

là hình thức, "Chính danh" là con đường đạt đến điều "Nhân"

a.1 "Nhân" là phạm trù được Khổng Tử bàn đến nhiều nhất trong họcthuyết của mình Nhưng ông không định nghĩa rõ các nội dung của "Nhân" Tuynhiên, qua các cách trả lời khác nhau của ông với các hạng học trò mà thấy

"Nhân" có các nội dung sau:

+ Là đạo làm người, là quan hệ giữa hai người với nhau trở lên

+ Là yêu thương người: Ái nhân

+ Là coi người như mình: "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" Cái gì mình thích

thì thích cho người, cái gì mình không thích thì không thích cho người

+ Là giúp người: "Kỷ dục lập nhi lập thân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân" Mình lập

thân thì giúp người lập thân, mình thành đạt thì giúp người thành đạt

+ Là phải giữ được lễ: "Khắc kỷ phục lễ vi nhân" Phải tôn trọng và hành

động đúng theo các nguyên tắc của xã hội nhà Chu: Nhân, Trí, Dũng

a.2 "Lễ" trong tư tưởng của Khổng tử là một sự khôi phục lại luật lệ, nghi

lễ nhà Chu Nó có các nội dung sau:

Trang 29

+ Là nghi lễ, luật lệ và quy phậm đạo đức của nhà Chu.

+ Quy định và bảo đảm quyền hành của mỗi người

+ Trên dưới, già trẻ thứ bậc phải rõ ràng

+ Là cơ sở của hành động và suy nghĩ: "Phi lễ bất thị, phi lễ bất thính, phi

lễ bất ngôn, phi lễ bất động" Không phải lễ thì không nhìn, không nghe, không

nói, không làm

+ Là mọi việc làm đâu phải ra đấy, khi hành lễ phải thành kính

+ Là lấy hòa làm trọng: "Lễ chi dụng, hòa vi quý".

+ Là hình thức của "Nhân": "Kỷ bất phục vật ư nhân" Người không giữ được

lễ là người không có nhân

a.3 "Chính danh": Danh là vị trí và công dụng của con người và vạn vật dotrời định Theo Khổng Tử, chính danh là danh vị cần phải có của mỗi con người

và con người phải tuân thủ một cách triệt để Do đó, trong dùng người, chínhdanh là:

+ Tài đức phải phù hợp tương xứng với chức vụ được giao

+ Ai ở địa vị nào phải làm tròn trách nhiệm của mình và chỉ được hưởngbổng lộc ở phận ấy

+ "Bất tài kỳ vị, bất mưu kỳ chính","Danh bất chính tất ngôn bất thuận,Ngôn

bất thuận tất sự bất thành, Sự bất thành tất lễ nhạc bất hưng": Mọi người phải làm

đúng vị trí, cấp bậc và chức phận của mình mà không mưu tính chức phận củangười khác Danh bất chính thì lời nói, việc làm và lễ nhạc đều loạn

+ Lời nói và việc làm phải đi đôi, Học đi đôi với hành

+ Dùng hiền tài mà giúp nước Không vì thân hay sơ mà bỏ phí bậc hiềntài

"Nhân", "Lễ" có quan hệ khăng khít nhau: Dựa vào nhau, làm tiền đề xácđịnh nội dung của nhau "Nhân" là nguồn gốc, nội dung của "Lễ" Không có

"Nhân" thì "Lễ" không có lý do để tồn tại (Nhân nhi bất nhân như lễ hà?; Nhân

nhi bất nhân như nhạc hà?" "Lễ" góp phần xây dựng một xã hội ổn định, có trật

tự, kỷ cương, có văn hóa "Lễ" là hình thức, động lực của "Nhân" (Khắc kỷ phục

lễ vi nhân, lễ bất phục vật ư nhân) Chính danh là con đường để thực hiện đường

lối chính trị Đức trị: Không để giàu nghèo cách biệt thái quá; Xây dựng mẫungười quân tử, kẻ sỹ, đại trượng phu

Trong nhận thức thức luận, ông là nhà triết học duy tâm tiên nghiệm: Cóngười sinh ra đã biết Bậc thượng trí và kẻ hạ ngu là cái không thay đổi Nhưng

Trang 30

khi bàn về bản chất con người thì ông lại có quan điểm tiến bộ: Bản chất conngười vừa thiện vừa ác Thiện hay ác do xã hội mà nên.

Ông tên thật là Mạnh Kha, tự là Tử Du, người nước Lỗ, là học trò của Tử

Tư (Khổng Cấp cháu nội của Khổng tử) Ông được tôn xưng là bậc nhị thánh củaNho giáo

Khuếch đại những yếu tố duy tâm trong học thuyết của Khổng tử, ông đưaNho học thành học thuyết duy tâm tiên nghiệm, biến tính duy vật thô sơ chất pháccủa Ngũ hành thành thuyết đạo đức thần bí: Thần Mộc là nhân, Thần Kim lànghĩa, Thần Hỏa là lễ, Thần Thủy là trí, Thần Thổ là tín Nhân- lễ- nghĩa-trí là từtâm mà ra Thần Thổ đứng giữa và có mặt ở khắp nơi

Nhận thức luận của ông có tính duy tâm tiên nghiệm Theo ông có “lươngtri” (không lo mà biết), có “lương năng” (không học mà làm được) Vạn vật đều ởtrong ta Con đường, biện pháp và mục đích của nhận thức là tận tâm, tri tín, trithiện Ông tách rời nhận thức cảm tính với nhận thức lý tính, phủ nhận vai trò củanhận thức cảm tinh và đề cao tư duy lý tính Như vậy, theo ông thì con ngườikhông phải đi tìm chân lý ở thế giới vật chất mà chỉ cần trở về với cái nội tâm chủquan bên trong của mình

Ông phát triển quan niệm Nhân của Khổng tử thành học thuyết Nhân chínhvới các nội dung cơ bản là: Bớt hình phạt, nhẹ thuế khóa tạo cho mỗi người dân

có một sản nghiệp để phụng dưỡng bố mẹ và nuôi nấng vợ con, bởi theo ông,hằng sản mới hằng tâm; Dạy đạo đức trung hiếu, lễ nghĩa cho dân, tạo cho xã hộimột sự hòa hợp; Coi trọng dân, dân là đáng quý, sau đó là xã tắc, vua là cuốicùng Dân trong quan niệm của Khổng tử chỉ là đối tượng được yêu thương, dântrong quan niệm của Mạnh tử không chỉ là đối tượng được yêu thương mà còn làđối tượng đáng kính trọng và có quyền hành Nhưng hạn chế là ông đã chia thànhngười lao tâm và người lao lực, trong đó coi người lao tâm có quyền trị người laolực; người lao lực phải phục tùng và nuôi người lao tâm Đề xuất mối quan hệ này

ông biện hộ cho sự thống trị áp bức

Ông chủ trương thực hiện đường lối chính trị lấy nhân nghĩa làm gốc Cơ

sở của chủ trương này xuất phát từ chỗ ông coi bản chất của con người là thiện.Ông đưa ra Tứ đoan hay Thiện đoan coi đó là bốn thuộc tính vốn có bẩm sinh củacon người: Ai cũng có lòng yêu thương nên lấy nhân mà cảm hóa; Ai cũng cólòng yêu ghét nên lấy nghĩa mà điều chỉnh; Ai cũng có lòng cương kính nên lấy lễ

mà giáo hóa; Ai cũng có lúc thị phi nên lấy trí mà phân biệt đúng sai Theo ông,dùng bạo lực thì mau thắng nhưng không bền, muốn trị quốc lâu dài thì phải dùngđức

Nội dung của chủ trương này là thực hành điều nhân, bảo vệ dân, chống lạiquan điểm của Pháp gia, trọng hòa bình ghét chiến tranh, trọng lợi ích chung ghétlợi ích riêng, mọi người hãy trở về với thiện tâm của mình Đường lối chính trịnày vừa toát lên tính nhân bản, vừa toát lên quan niệm duy tâm không tưởng củaông

Trang 31

nó Sự vận động của trời và tự nhiên tồn tại khách quan không phụ thuộc vào conngười Trời, đất, thiên mệnh không quyết định, không can thiệp vào công việc củacon người Con người gặp lành hay dữ, vận nước thịnh hay suy, yên hay loạn đều

do con người làm ra Ông nhìn thấy sự kết hợp giữa văn hóa với yếu tố mê tíntrong hành vi tôn giáo Ông phủ định quan niệm tôn giáo thần bí Theo ông, chínhtâm lý sợ hãi và ảo giác con người sinh ra quỷ thần

Trên cơ sở thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới và để nắmđược bản chất của thế giới sự vật, hiện tượng con người phải biết dựa vào cácgiác quan và phải có sự suy tư của tâm ông chủ trương đường lối trị nước kết hợpNho gia với Pháp gia “lễ, pháp kiêm trị” Theo Tuân Tử, bản chất con người là

ác, nguồn gốc của ác là do ham muốn, dục vọng Do vậy, phải có lễ nghĩa, khuônphép hình phạt để ngăn ngừa tính ác bẩm sinh, chủ trương dùng lễ và pháp thaychuyển ác thành thiện

Hình pháp của Tuân Tử chứa đựng nhiều nội dung tiến bộ: Mục đích là

giáo dục, nên hình pháp phải công bằng, công minh

1.2.2.2 Trường phái Đạo gia

Lão Tử tên thật là Lý Nhĩ, tự là Đam sống cùng thời với Khổng tử, sinh ra

ở nước Sở và sáng lập ra học thuyết “Đạo” dưới thời Xuân Thu Học thuyết củaông được Dương Chu và Trang Chu hoàn thiện, phát triển dưới thời Chiến Quốc.Những tư tưởng triết học của Đạo gia tập trung trong hai cuốn “Đạo đức kinh”của Lão Tử và “Nam hoa kinh” của Trang Tử

a) Triết học Lão Tử

Có thể khái quát những tư tưởng triết học của Lão Tử ở một số điểm cơ bảnsau:

Một là: Theo Lão Tử thì Đạo là bản nguyên của mọi hiện hữu của thế giới.

Ông nói “Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật” Đạo sinh ratất cả và tất cả quy về đạo Đạo là bản nguyên đầu tiên

Đạo là cái vô hình, hiện hữu là “có” Giữa Đạo và Hiện hữu không có sựtách rời tuyệt đối Đạo tồn tại như bản chất của mọi hiện hữu Mọi hiện hữu làbiểu hiện của Đạo Đạo là nguyên lý thống nhất của mọi tồn tại Đạo là nguyên lývận hành của mọi hiện hữu Đạo là đạo pháp tự nhiên, đạo là tên gọi khác của quyluật tự nhiên

Hai là: Những tư tưởng biện chứng trong triết học Lão Tử biểu hiện ở một

số điểm sau: Mọi hiện hữu đều biến dịch khôn cùng Sự biến dịch này theonguyên tắc bình quân (luôn giữ cho vận động được thăng bằng theo một trật tự

Trang 32

điều hòa tự nhiên, không có cái gì thái quá, không có cái gì thiên lệch hay bấtcập) và phản phục (Mọi vật biến hóa nối tiếp nhau theo vòng tuần hoàn, cái gìphát triển đến tột đỉnh thì trở thành cái đối lập với nó)

Ông nói, cái gì khuyết ắt phải tròn và đầy, cái gì cong ắt được thẳng, cái gì

cũ ắt được mới Theo quan điểm này thì đây là sự phát triển theo chu kỳ khépkín; Ông cũng nói, trong vạn vật không có vật nào không cõng âm bồng dương.Đẹp tức là xấu, dài ngắn tựa vào nhau, cao thấp liên hệ với nhau Họa là chỗ dựacủa phúc, phúc là nơi ẩn náu của họa Ta sở dĩ có nhiều hoạn nạn vì ta có thân,nếu ta không có thân đâu có hoạn nạn

Như vậy, Lão Tử đã coi các mặt đối lập luôn trong thể thống nhất, quy địnhlẫn nhau và là điều kiện của nhau, trong cái này có cái kia tồn tại Theo Lão Tử,muốn cho sự vật nào đó suy tàn thì phải làm cho nó hưng thịnh lên đã Khi nó đãđến tột đỉnh thì nó sẽ chuyển sang mặt đối lập với chính nó (Gió to không suốtsáng, mưa lớn không suốt ngày)

Do quá nhấn mạnh nguyên tắc cân bằng và phản phục trong lý biến dịchnên ông không đề cao tư tưởng điều hòa các mặt đối lập, nhưng thủ tiêu mâuthuẫn chứ không giải quyết mâu thuẫn, không thấy được quá trình đấu tranhchuyển hóa giữa các mặt đối lập

Ba là: Xuất phát từ nhận thức luận coi sự hiểu biết của con người không

cần qua thực tiễn, không cần đến tri thức kinh nghiệm (Không ra khỏi nhà mà biếtđược việc của thiên hạ, không nhìn ra ngoài cửa mà biết được đạo trời, càng đi xacàng biết ít) nên cốt lõi quan điểm chính trị - xã hội của Lão Tử là luận điểm “vôvi”

Vô vi không phải là thụ động, bất động hay không hành động mà là hànhđộng theo bản tính tự nhiên, thuần phác, không hành động một cách giả tạo gò éptrái với bản tính tự nhiên của đạo Nếu áp đặt ý chí của mình vào sự vật, hiệntượng là trái với vô vi Con người không cần can thiệp vào xã hội mà để nó pháttriển tự nhiên, con người càng bày đặt ra nhiều càng khó trị Con người cũngkhông nên rèn mình mà cứ để cho nó phát triển theo bản tính tự nhiên vốn có.Trong cuộc sống con người không nên tranh giành, cái gì đến nó sẽ đến, cái gì đi

nó sẽ đi

Từ đó, tuy Đạo gia đề cao những tư tưởng về từ, ái, cần kiệm, khiêmnhường, khoan dung, tri túc nhưng trên cơ sở phải từ bỏ những gì là nhân tạothiếu tính đạo pháp tự nhiên Quan niệm này đã dẫn đến chủ trương một cuộcsống, một phong cách sông đạo chối bỏ mọi truyền thống nhân tạo: những chuẩnmực đạo đức, pháp luật xa lánh tri thức, kỹ xảo, công nghệ Thực chất, đây là

tư tưởng phục cổ, quay về với xã hội theo mô hình cộng sản nguyên thủy

b) Triết học của Dương Tử

Hiện nay chưa biết rõ năm sinh và năm mất của Dương Chu Chỉ biết ông

là người nước Vệ, tên tự là Tử Cư, sống giữa thời của Mặc Tử (479 - 381 tcn) vàMạnh Tử (372 - 289 tcn) Thông thường, niên đại của ông được xác định vàokhoảng 395 đến 335 tcn Ông là một ẩn sỹ, ghét hám danh, ghét cầu lợi Ông chủ

Trang 33

trương sống tự nhiên, vô vi, tính tình điềm đạm, khiêm nhường nhưng khoáng đạtsống với nghề chủ yếu là dạy học Tư tưởng của ông có ảnh hưởng mạnh ở TrungQuốc cổ đại đến mức Mạnh Tử tuyên bố: "Ai chống được họ Dương và họ Mặc làmôn đồ của thánh nhân" (Mạnh Tử, Đằng Văn Công hạ).

Nếu Lão Tử chủ trương vô vi, tự nhiên, đả phá mọi thể chế pháp luật, luân

lý, tri thức, văn hóa, kỹ thuật, quay về với cuộc sống thuần phác nguyên thủy, thìDương Chu chủ trương thuận theo đạo tự nhiên: "trọng kỷ", "quý sinh", "vị ngã".Chủ nghĩa "vị ngã" là tư tưởng chính yếu nhất của Dương Chu

Chủ nghĩa tự nhiên "trọng kỷ", "quý sinh", "vị ngã" của ông đối lập với

"Kiêm ái" của Mặc tử và "Nhân nghĩa" của Nho gia Tuy nhiên, tư tưởng của ôngkhông được trình bày có hệ thống trong bất kỳ cuốn sách nào Người ta chỉ biết tưtưởng triết học của ông thông qua sự phê phán của Nho gia (Mạnh Tử), Đạo gia(Trang Tử), Pháp gia (Hàn Phi Tử) Trong ba phạm trù trên, thì chủ nghĩa "vịngả" là tư tưởng chính yếu của Dương Chu

Triết học của ông ít bàn đến thế giới quan và nhận thức luận, nhưng nhânsinh quan của ông thì rất độc đáo

Về thế giới quan: Triết học của ông chủ yếu đứng trên lập trường của chủ

nghĩa duy vật ngây thơ, thấm nhuần tính tự nhiên, chất phác Theo ông, mọi sựvật, hiện tương và các biến cố của tự nhiên cũng như xã hội đều tuân thủ tính tựnhiên, đều là lẽ tự nhiên, không tuân thủ các lực lượng siêu nhiên, thần thánh.Ông thường phê phán những quan niệm có tính mê tín tôn giáo tin vào cuộc sốngbất tử, hoặc mời thầy cúng đến để chữa bệnh Với ông, trời chẳng giúp được ai,họa cũng chẳng do con người gây ra Tất cả đều là lẽ tự nhiên Ông quan niệm:

"Đời mình không phải cứ quý nó mà bảo tồn được nó Thân mình không phải cứyêu nó mà nó khỏe mạnh Đời không phải cứ khinh nó mà nó ngắn ngủi Thânmình không phải cứ coi thường nó mà nó bạc nhược Đó chỉ là đời sống nó tựsinh, tự chết, thân thể tự nó khỏe mạnh, tự nó bạc nhược"2

Yếu tố duy tâm trong triết học của ông là ở chỗ: Tuyệt đối hóa tính tất yếucủa tự nhiên, Dương Chu coi nó như số mệnh của con người Ông giải thích sựbiến loạn của xã hội ông rằng: "Ngày nay cái gì cũng mờ mờ, tối tối, bời bời hỗnđộn, làm cũng vậy, không làm cũng vậy; ngày qua ngày lại, ai mà biết được là tạisao, chẳng qua là do mệnh cả Đã tin có mệnh trời rồi thì không có gì là thọ yểu,tin cái lẽ đương nhiên rồi thì không có gì là phải trái, theo đúng lòng mình rồi thìkhông có gì là thuận nghịch, theo đúng bản tính của mình rồi thì không có gì là annguy cả Người như vậy có thể gọi là không tin cái gì cả mà không có cái gì làkhông tin"3

Mặc dù vậy, "tin mệnh", "thuận mệnh" của Dương Chu vẫn là "thuận tựnhiên": "Nếu thuận mệnh thì đâu còn cầu thọ, không ham quý hiền thì đâu còndanh, không muốn có uy thế thì đâu còn thích địa vị, không ham giàu có thì đâu

2 Đại cương Lịch sử Triết học Trung Quốc, PGS Doãn Chính (Chủ biên), Nxb CTQG, Hà nội 1997, tr143

3 Sđd, tr 144.

Trang 34

có quý tiền của Hạng người như vậy gọi là "thuận tự nhiên", trong thiên hạkhông có gì đối với họ được, số mệnh là tùy họ"4.

Về nhân sinh quan: Từ quan niệm về thế giới quan đó, ông chủ trương

trong đời sống con người phải quý trọng thân thể và bảo toàn sinh mệnh củamình Ông đưa ra quan niệm "thiên tính tồn ngã" (cái bản tính vốn có của vạn vật)rằng: "Thân ta không phải là của ta, nhưng đã sinh ra rồi thì không thể không bảotồn nó được Các sinh vật khác cũng không phải là của ta, nhưng đã có chúng rồithì không được diệt trừ chúng đi"5 Theo lẽ tự nhiên, con người không có đủ khảnăng bẩm sinh mà phải nhờ cậy vào ngoại vật Cái quý nhất của con người trongbảo tồn sinh mạng của mình khi phải cậy nhờ vào ngoại vật để tự nuôi sống mình

là "phải dùng mưu trí chứ không ỷ vào sức mạnh được Cho nên trí không quý ởchỗ nó bảo tồn được thân ta, mà sức mạnh thì đáng khinh ở chỗ nó tàn bạo vớicác sinh vật khác "6

"Tồn ngã" là dùng trí để làm chủ vật và làm chủ bản thân, tự làm gì chomình và vạn vật cũng được Làm được như vậy là thánh nhân Nhưng "tồn ngã" ởbậc chí nhân còn cao hơn: bảo tồn mình trong sự hòa đồng với vạn vật, coi thânmình là vạn vật, coi vạn vật là thân mình

Để "tồn ngã", "trọng kỷ", "quý sinh" ông chủ trương con người phải sốnghoàn toàn theo lẽ tự nhiên: không làm việc quá sức, không muốn cái ngoài mình

và phải thỏa mãn mọi nhu cầu, dục vọng tự nhiên của cá nhân Ông kêu gọi hãytận hưởng mọi cái hiện có trong cuộc sống, không nên làm cho mình$trở nên khổ

sở bởi cái gì sẽ đến sau khi chết Đời người chẳng là bao Đời sống chỉ là tạm.Hãy "hành động theo lòng mình, không trái với thị hiếu tự nhiên, không bỏ lỡ cái

gì làm vui cho cuộc sống, không để cái danh vọng nó quyến rũ "7 Quý sinhmênh, bảo tồn thân mình là con người cứ thản nhiên nhận sống cuộc sống tựnhiên ban cho, không cầu mong kéo dài tuổi thọ, không cầu mong được chết sớm

Từ đó, ông kịch liệt phản đối sự cưỡng chế, cấm đoán của thể chế phápluật, sự ràng buộc của thưởng phạt, khen chê trong xã hội đương thời Ông cũnglên án thói hám danh, cầu lợi, câu nệ phải trái, tốt xấu ở đời Theo ông, tất cảnhững thứ đó chỉ là hư danh, giả tạo làm tổn hại đến đời sống tự nhiên và tìnhcảm, nhu cầu, ước muốn, sở thích tự nhiên cá nhân mà thôi Theo ông, những kẻ

tự đánh mất bản tính của mình "lụy thân, thương sinh" là những kẻ không khôngbiết thuận theo bản tính, sở thích tự nhiên của mình, không biết sống một cuộcsống tự nhiên thanh thản Đó chỉ là những kẻ vì ham muốn sống lâu, danh vọng,địa vị, tiền tài mà sợ quỷ, sợ người, sợ kẻ có quyền uy

Ông quan niệm, sống khác nhau nhưng chết rồi đều như nhau Người hámdanh, trọng khen chê mà làm cho hình hài, tinh thần tiều tụy Chết rồi há được táisinh để hưởng lạc thú và nghe tiếng khen chê được chăng? Các thánh nhân

4 Sđd, tr144.

5 Sđd, tr145.

6 Sđd, tr145.

7 Sđd, tr146.

Trang 35

Nghiêu, Thuấn, Vũ, Chu Công vì hám danh mà sống không được một ngày vui,chết được lưu danh muôn đời đều là những người sống trái với lẽ tự nhiên Đó lànhững kẻ có danh mà không có thực Vua Kiệt, vua Trụ không hám danh vì tiếngtốt lưu đời mà thỏ thuê phóng túng, hưởng lạc thú nhất thiên hạ Đó là những kẻ

có thực mà không danh Chi bằng sinh ra từ lẽ tự nhiên, thì hãy thuận theo bảntính tự nhiên, khả năng sở thích tự nhiên mà sống

Phép dưỡng sinh bảo toàn sinh mệnh, giữ gìn bản tính tự nhiên của conngười, theo ông là: "nên làm sao chỉ vui vẻ, an nhàn tấm thân Kẻ biết sống vuithì tránh cảnh nghèo Kẻ biết sống an nhàn thì tránh sự làm giàu"8

Tóm lại, chủ nghĩa tự nhiên hư vô, chủ nghĩa khoái lạc, chủ nghĩa hạnhphúc tự do cá nhân là một trong những đặc điểm chủ yếu của triết học DươngChu Nó đối lập với Nho gia và Mặc gia đến nỗi Mạnh Tử phải thốt lên rằng: "HọDương vị ngã ấy là không có vua là loài cầm thú, là tà thuyết lừa dân, làm bếtắc con đường nhân nghĩa"9

Cùng với "thiên tính tồn ngã", "trọng kỷ", "quý sinh", triết học của DươngChu là chủ nghĩa "vị ngã" Theo ông, vì "trọng kỷ", "quý sinh" mà "vị ngã", và vì

"vị ngã" mà "trọng kỷ", "quý sinh" Đây là nét độc đáo trong triết học nhân sinhcủa Dương Chu:

"Vị ngã" nghĩa chung nhất là vì mình, vì cái ta, nó đối lập với "vị tha"

"Vị ngã" theo Dương Chu có hai mặt: Một là "mất một sợi lông mà làm lợicho thiên hạ cũng không cho" Hai là "đem cả thiên hạ để phụng dưỡng thân mìnhcũng không nhận" "Vị ngã" là luôn bảo toàn, quý trọng thân thể, sinh mệnh củamình một cách tự nhiên, không hại đến đời sống tự nhiên của người và của vật,không để mình lụy vật và cũng không để vật lụy mình Quan điểm chủ yếu nàycủa Dương Chu không chỉ đối lập chủ trương cứu đời của Nho gia mà còn đối lậpvới chủ trương cứu đời đương thời của Đạo gia Mạnh Tử viết: "Dương Chu "vịngã", nhổ một mảy lông làm lợi cho thiên hạ cũng không làm" Hàn Phi Tử nói:

"Dương Chu ấy là kẻ chủ trương chẳng vào thành đang lâm nguy, chẳng ở trongquân lữ, chẳng đổi một sợi lông để được lợi lớn trong thiên hạ" Sách Lã thị XuânThu viết: "Dương sinh quý lấy mình, giữ tròn số mệnh và thiên chân, không đểcho vật lụy mình là chủ trương của Dương Tử"10

Theo Dương Chu, phương pháp trị nước, khiến cho thiên hạ từ loạn thànhtrị tốt nhất là ""vị ngã" bảo toàn số mệnh và thiên chân của mình, không gò ép,không thái quá, không ham cái gì ngoài bản tính tự nhiên của mình, không cản trởđến bản tính, khả năng, đời sống tự nhiên vật khác thì mọi vật, mọi người đềuphát triển tự do và trọn vẹn"11 Phương pháp này cũng là chủ thuyết mà Đạo gia

đã phát triển thành học thuyết đạo đức, được coi như một cuộc cách mạng trongluân lý, đạo đức xã hội đương thời Nó phê phán mọi trào lưu gò bó con người,

8 Sđd, tr151.

9 Sđd, tr151.

10 Sđd, tr153-1954.

11 Sđd, tr154.

Trang 36

kêu gọi tự do cá nhân với chủ nghĩa tự nhiên hư vô, chủ nghĩa khoái lạc độc đáo,chống mọi áp bức, bạo lực, đả phá quan niệm đạo đức và thể chế xã hội bấy giờ.

c) Triết học Trang Tử

Trang Tử (369 -286 tcn), tên thật là Trang Chu, ông sinh ra trong một giađình quý tộc Tống bị sa sút Tư tưởng của Trang Tử thể hiện rõ trong cuốn Namhoa kinh

Trang Tử đã xuyên tạc quan niệm về đạo của Lão tử theo hướng duy tâm.Trang Tử cho rằng đạo là thứ siêu cảm giác, siêu không gian, siêu thời gian

Theo Trang Tử, sự vật, hiện tượng luôn biến đổi, nhưng tất cả chỉ là tươngđối, không có gì là tuyệt đối cả, không có cái gì là cái chuẩn cho cái khác noitheo Với chủ nghĩa tương đối này, Trang Tử đã đánh ngang bằng mọi sự cáchbiệt đối lập nhau, coi phải trái như nhau, lớn bé như nhau, sống chết như nhau

Từ phương pháp luận đó và trên cơ sở nhận thức luận đề cao những hìnhảnh giả tưởng: đẹp, xấu, thiện, ác là do con người đặt ra, còn về khách quan làkhông có thật (Ông là người đề xuất mâu thuẫn giữa chủ thể với khách thể, giữangôn ngữ và khái niệm) ông đưa ra một học thuyết chính trị -xã hội gồm các điểm

+ Đời người ngắn như một giấc mộng do vậy không nên khổ tâm và lao lực

mà gì Cần phải coi sống, chết như nhau, đời là một cuộc giải trí, một cõi mộng

+ Cần coi mọi tồn tại đều hợp lý, do vậy sống trên đời thì “yên theo thời

mà thuận” không nên khen, chê đắn đo phải, trái mà chi, vì thế là trái với đạo tựnhiên

Những quan niệm trên cho thấy Lão giáo là một đối trọng của Nho giáo.Lão giáo khi truyền sang Việt Nam đã tạo nên một trong các yếu tố cấu thành tưtưởng của người Việt

1.2.2.3 Trường phái Mặc gia

Mặc Địch (479-381 tcn) người nước Lỗ sống thời Chiến Quốc, là ngườisáng lập ra phái Mặc gia, một trong các trường phái triết học đối trọng với Nhogia và quan trọng của Trung Quốc cổ đại

Tư tưởng phái Mặc gia phản ánh nguyện vọng của tầng lớp nông dân tự do,sản xuất nhỏ, tiểu tư hữu Có thể tóm tắt tư tưởng triết học của Mặc gia ở một sốđiểm sau:

+ Kiêm ái (yêu thương lẫn nhau)

+ Phi công (không tấn công lẫn nhau)

+ Thượng hiền (Tôn trọng bậc hiền tài)

+ Thượng đồng (tôn trọng sự bình đẳng và đề cao chữ hòa)

+ Ý trời (coi trong thiên ý, đề cao mệnh trời)

+ Minh quỷ (làm rõ ma quỷ, mang tính vô thần)

Trang 37

+ Tiết kiệm (tiêu dùng phải tiết kiệm).

+ Phi mệnh (không tin vào số mệnh)

Ngoài ra phái Mặc gia còn có những cống hiến khá xuất sắc về nhận thứcluận và lôgic học

II LỊCH SỬ TRIẾT HỌC HY-LA CỔ ĐẠI 2.1 Hoàn cảnh lịch sử và đặc điểm của triết học Hy-La cổ đại

2.1.1 Khái quát tình hình xã hội Hy-La cổ đại

Vào thế kỷ IX - VII trước công nguyên nền sản xuất chiếm hữu nô lệ ở HyLạp cực kỳ phát triển Đây là thời kỳ nhân loại chuyển từ thời đại đồ đồng sangthời đại đồ sắt Với việc xuất hiện các quan hệ tiền - hàng đã làm cho thương mại

và trao đổi hàng hóa được tăng cường Người Hy Lạp đã đóng được thuyền lớncho phép họ vượt biển Địa Trung Hải tiến đến những miền đất mới Lãnh thổ vàthuộc địa của Hy Lạp được mở rộng tạo điều kiện cho giao lưu văn hóa giữa cácdân tộc

Đồng thời với sự phát triển của sản xuất xã hội thời kỳ này Hy Lạp đã xuấthiện tư tưởng tư hữu và sau đó là chế độ tư hữu về của cải, quan hệ sản xuất và tổchức xã hội cũ bị đảo lộn Điều đó buộc mỗi người cần ý thức và suy nghĩ tìm ramột lập trường sống phù hợp với hoàn cảnh mới Triết học ra đời ở đây là đápứng đòi hỏi ấy và giúp con người không chỉ tuân theo những quan niệm cũ màcần phê phán những giá trị, chuẩn mực xã hội cu, đồng thời xây dựng một thếgiới quan mới

Thời kỳ này phân công lao động phát triển cho phép trong xã hội xuất hiệnnhững người chuyên lao động trí óc Điều đó tạo điều kiện nảy sinh các tư tưởngtriết học Ngay từ khi mới ra đời, các tư tưởng triết học đã mang tính giai cấp sâusắc - là thế giới quan của giai cấp chủ nô, các tri thức triết học dần dần trở thànhcác tư tưởng thống trị trong xã hội nô lệ

Thời kỳ này đã xuất hiện các tri thức khoa học sơ khai như phát hiện ralịch 1 năm 12 tháng với 365 ngày của Talet, những phát kiến về toán học củaTalet và Pitago, hình học Ơclít, vật lý học của Acsimét đã tạo điều kiện rất lớnthúc đẩy sự hình thành triết học Những khám phá khoa học đầu tiên này củangười cổ đại đã cho thấy sự giả dối của bức tranh vũ trụ quan và nhân sinh quantôn giáo, thần thoại, đòi hỏi con người phải có cách lý giải mới về thế giới xungquanh và cuộc sống của mình

Dĩ nhiên, sẽ rất sai lầm khi cho rằng triết học xuất hiện từ bản thân thầnthoại bằng con đường phát triển nội tại của nó - Trên thực tế, triết học Hy - La rađời trên nền tảng thần thoại và tôn giáo nguyên thủy nhưng khác với chúng, triếthọc là một dạng thế giới quan hoàn toàn mới dựa trên cơ sở trí tuệ sâu sắc,.Những kết luận và tri thức triết học mang tính lý luận khái quát cao được nảy sinh

đã đẩy các dạng thế giới quan trước chúng vào lĩnh vực hoạt động nghệ thuật haysáng tác dân gian

Dù vậy, triết học không đồng nhất với thế giới quan của con người nóichung Mặc dù cũng đề cập nhiều đến các vấn đề về bản chất của thế giới, cuộc

Trang 38

sống của con người nhưng trong thần thoại chưa có sự phân định rõ ràng thếgiới với con người, tư tưởng với cảm xúc, tri thức với hình tượng nghệ thuật Tôngiáo và triết học có những điểm tương đồng với tính cách là hình thái ý thức xãhội, nhưng sự khác nhau cũng rất lớn Các quan niệm triết học là sản phẩm tự dosuy nghĩ của các nhà triết học Còn tri thức tôn giáo, thần học thì ngược lại Vìthế ở Hy - La cổ đại, không phải thần thoại hay tôn giáo, mà chỉ triết học là “tìnhyêu đối với sự thông thái” và chính nhà triết học mới được coi là nhà thông thái.

2.1.2 Đặc điểm của triết học cổ Hy-La

1 - Nó là thế giới quan và ý thức hệ của giai cấp chủ nô thống trị trong xãhội Hy - La cổ đại Là một công cụ lý luận nhằm duy trì trật tự xã hội theo kiểuchiếm hữu nô lệ, bảo vệ sự thống trị của giai cấp chủ nô Hầu hết các nhà triếthọc thời kỳ này coi nô lệ không phải là con người mà chỉ là công cụ biết nói

2 - Mặc dù triết học thời kỳ này không đồng nhất với thế giới quan, nhưng

nó đề cập đến những vấn đề thế giới quan cơ bản của con người như : Tồn tại là

gì ? Nguồn gốc và bản chất của thế giới ra sao ? Cuộc đời và số phận của conngười như thế nào ? Việc lý giải các vấn đề mang tính bao quát được coi lànhiệm vụ cơ bản của triết học Dù sao ở thời kỳ này triết học mang nặng tính tưbiện Chuẩn mực của “sự thông thái” chủ yếu được bàn là ở khía cạnh nhận thức

3 - Coi vấn đề con người là trọng tâm Dù có nhiều bất đồng, nhưng cácnhà triết học đều khẳng định con người là tinh hoa quý nhất của tạo hóa Từ đây,những vấn đề thiết thực của cuộc sống con người trở thành một trong những đềtài chính của triết học Tuy nhiên, con người theo họ là con người cá thể Giá trịcon người chủ yếu là đạo đức, giao tiếp, nhận thức luận Hoạt động thực tiễn củacon người hầu như không được bàn đến

4 - Mang tính biện chứng sơ khai, và tính duy vật tự phát Các nhà triếthọc thời kỳ này luôn cố gắng giải thích thế giới như một chỉnh thể thống nhất,trong đó các sự vật hiện tượng vận động và biến đổi không ngừng “ Trong cùngmột thời điểm sự vật vừa là nó, vừa không phải là nó Không thể tắm hai lầntrong một dòng sông” Đồng thời hầu hết họ quy bản nguyên thế giới là một hoặcmột số các vật thể cụ thể

2.2 Một số trường phái triết học tiêu biểu

2.2.1 Chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng của Hêraclít

Cái lớn nhất và nổi tiếng nhất của Hêraclít (520-460 TCN) là nhà triết họcduy vật với nhiều yếu tố biện chứng có giá trị, và là người sáng lập ra phép biệnchứng cổ đại

Quan niệm về thế giới khác với các nhà triết học phái Milê, Hêraclít cho

rằng : lửa là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi sự vật Nếu như Talét coi nước là khởinguyên với tư cách như một thực thể sinh ra mọi vật, thì Hêraclít đã hiểu khởinguyên theo nghĩa cao hơn, coi lửa không chỉ là thực thể sản sinh ra mọi vật, màcòn là khởi tổ thống trị toàn thế giới Lửa không chỉ sản sinh ra các sự vật vậtchất, mà cả những hiện tượng tinh thần, kể cả linh hồn của con người Ví toàn bộ

Trang 39

vũ trụ tựa như ngọn lửa bất diệt, Hêraclít đã tiếp cận được với quan niệm duy vật,nhấn mạnh tính vĩnh viễn và bất diệt của thế giới.

Theo Hêraclít, dạng vật chất đầu tiên sinh ra các dạng vật chất khác là lửa lửa là bản nguyên vật chất đầu tiên của mọi dạng vật chất

-Phép biện chứng của Hêraclít chưa được trình bày như một hệ thống các

luận điểm khoa học, nhưng hầu như các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng đãđược ông đề cập dưới dạng các danh ngôn mang tính thi ca và triết lý Những tưtưởng biện chứng cơ bản mà ông đã nêu ra là :

- Quan niệm về vận động của vật chất Theo Hêraclít thì không có sự vật,

hiện tượng nào của thế giới là đứng im tuyệt đối, trái lại tất cả đều trong trạng tháibiến đổi và chuyển hóa không ngừng Với ông “chúng ta không thể tắm 2 lầncùng một dòng sông”, “ngay cả mặt trời cũng mỗi ngày một mới”

- Ông đã nêu lên tư tưởng về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trongmọi sự vật, hiện tượng Điều này thể hiện qua các phỏng đoán của ông về vai tròcủa những mặt đối lập trong sự biến đổi phổ biến của tự nhiên, về “ sự traođổi của những mặt đối lập”, về sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập

- Theo Hêraclít, vận động và phát triển không ngừng của thế giới do quyluật khách quan (logos) quy định Logos khách quan là trật tự khách quan củamọi cái đang diễn ra trong vũ trụ Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói,suy nghĩ của con người Logos chủ quan phải phù hợp với Logos khách quan.Người nào càng tiếp cận được với Logos khách quan bao nhiêu thì càng thôngthái bấy nhiêu

Ông cũng nêu ra những quan niệm đúng đắn về lý luận nhận thức Nhận

thức thế giới là nhận thức logos của vũ trụ, tức là nhận thức tự nhiên và xã hộitrong trạng thái đấu tranh và hài hòa của những mâu thuẫn của chúng Tri thứcchân thực là tri thức về logos, tức là quy luật của vũ trụ Theo ông, nhận thức bắtđầu từ cảm giác, không có cảm giác thì không có bất kỳ nhận thức nào Ông nói

“Mắt tai là người thầy tốt nhất, nhưng mắt là nhân chứng chính xác hơn tai” Coitrọng nhận thức cảm tính nhưng ông không tuyệt đối hóa giai đoạn này Ông viết

“Thị giác thường bị lừa bởi vì “tự nhiên thích giấu mình” nên khó nhận thức.Nhiệm vụ của nhận thức là phải đạt tới sự nhận thức logos của sự vật Ông cũngnêu lên tính tương đối của nhận thức Trong hoàn cảnh và điều kiện mà thiện - ác,xấu - tốt, lợi - hại lại có thể chuyển hóa cho nhau

Với phép biện chứng tự phát, chất phác Hêraclít đã đưa triết học duy vật cổđại tiến lên một bước phát triển mới Học thuyết của ông sau này được nhiều nhàtriết học cận đại và hiện đại kế thừa

2.2.2 Thuyết nguyên tử của Đêmôcrít

Đêmôcrít (460-370)

Ông hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực : triết học, đạo đức học, tâm lýhọc, toán học, sinh vật học, vật lý, mỹ học,ngôn ngữ, kỹ thuật, âm nhạc Mác -Ăng ghen coi ông là bộ óc bách khoa toàn thư đầu tiên trong số những người HyLạp

Trang 40

Về triết học, ông coi nguyên tử là bản nguyên thế giới Nguyên tử là hạtvật chất cực nhỏ, không thấy được, không thể phân chia, không mùi, không vị,không âm, không sắc, không khác nhau về chất chỉ khác nhau về hình thức, trật tự

và tư thế Mỗi nguyên tử có một hình thức nhất định, vô hạn về số lượng, vô hạn

về hình thức Sự vật khác nhau là do nguyên tử cấu tạo được sắp xếp theo nhữnghình thức khác nhau Mọi biến đổi của sự vật, thực chất là sự thay đổi trình tự sắpxếp của nguyên tử cấu tạo Nguyên tử là bất biến, và biến đổi không ngừng

Ông phỏng đoán, vận động không tách rời vật chất Hoạt động của nguyên

tử là vĩnh cửu Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, ông đã nêu ra khái niệm khônggian Không gian là gián đoạn và có thể phân chia vô cùng tận

Đặc điểm chủ nghĩa duy vật của ông là quyết định luận chống lại mục đíchluận Ông thừa nhận tính nhân quả và tính tất yếu, tính quy luật trong giới tựnhiên

Về nhận thức, ông đặt ra và giải quyết một cách duy vật về đối tượng củanhận thức Vai trò của cảm giác với tính cách là điểm bắt đầu của nhận thức vàvai trò của tư duy trong nhận thức tự nhiên

Triết học của ông là gắn với chủ nghĩa vô thần Theo ông thần thánh chỉ là

sự nhân cách hóa những hiện tượng tự nhiên hoặc những thuộc tính của conngười Ông bền bỉ đấu tranh cho quan niệm duy vật về tự nhiên Nó ảnh hưởngsâu sắc đến sự phát triển tiếp theo của triết học duy vật

2.2.3 Triết học duy tâm của Platôn

Pla tôn (427-347 TCN)

Ông tên thật là Aristôcle, vì có vóc người to lớn, vạm vỡ nên được gọi làPlatôn Ông từng hoạt động chống phái dân chủ chủ nô bảo vệ phái chủ nô quýtộc Ông đã bị bắt và bị đem ra chợ nô lệ bán Khi được giải thoát ông về Aten lậpviện hàn lâm - trường đại học đầu tiên ở châu Âu

Triết học của ông là hệ thống triết học duy tâm khách quan Ông là ngườiđầu tiên xây dựng hoàn chỉnh chủ nghĩa duy tâm khách quan đối lập với thế giớiquan duy vật Ông đã tiến hành cuộc đấu tranh gay gắt chống lại chủ nghĩa duyvật, đặc biệt là chống lại những đại biểu của chủ nghĩa duy vật lúc ấy nhưHêraclít và Đêmôcrít

Theo ông, giới tự nhiên bắt nguồn từ những thực thể tinh thần, vật thể cảmtính chỉ là cái bóng của ý niệm Ông cho rằng, để nhận thức được tâm lý, người taphải từ bỏ mọi cái hữu hình cảm tính; phải có “hồi tưởng” lại những gì mà linhhồn bất tử đã quan sát được trong thế giới ý niệm Thuyết “hồi tưởng” thần bíđược xây dựng trên cơ sở thừa nhận tính bất tử, tính độc lập của linh hồn với thểxác

Phép biện chứng của Platôn là biện chứng duy tâm, đường lối của ôngchống lại đường lối của Đêmôcrít Những hiện tượng của tự nhiên bị ông quythành những quan hệ toán học Đạo đức học được ông xây dựng trên cơ sở họcthuyết về linh hồn bất tử

Ngày đăng: 24/06/2014, 10:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PTS Doãn Chính (Chủ biên cùng các tác giả) - Đại cương Triết học Trung Quốc - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1997 Khác
2. PTS Doãn Chính – Lịch sử Triết học Ấn Độ cổ trung đại - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1998 Khác
3. Hội đồng biên sọan sách giáo khoa Trung ương - Triết học Mác-Lênin - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Hà Nội 1999 Khác
4. Nguyễn Đăng Thục - Lịch sử Triết học phương Đông - Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh - Bộ 5 tập - 1991 Khác
5. Nguyễn Hữu Vui (Chủ biên) - Lịch sử Triết học - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Hà Nội 1998 Khác
6. Đoàn Đức Hiếu, Nguyễn Văn Hòa - Lịch sử triết học Phương Đông - Đại học Sư phạm Huế - 1993 Khác
7. Nguyễn Văn Hòa, Võ Ngọc Huy - Đại cương Triết học Phương Đông - Đại học Huế - 1994 Khác
8. Hoàng Ngọc Vĩnh - Đại cương Lịch sử Triết học Phương Đông và Việt Nam - Đại học Khoa học Huế - 2001 Khác
9. Hoàng Ngọc Vĩnh - Đề cương Hướng dẫn ôn tập thi đầu vào Cao học Triết học – Đại học Khoa học Huế 2007 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w