Trang 1 PHẠM THỊ KHÁNH HÒA NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ DÒNG GIỐNG CHÈ MỚI CHỌN TẠO TẠI PHÚ THỌ Chuyên ngành: Khoa học cây trồng Mã số: 8 62 01 10
Trang 1PHẠM THỊ KHÁNH HÒA
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC
VÀ NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ DÒNG GIỐNG CHÈ MỚI CHỌN TẠO TẠI PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 8 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học:
1 GS TS Trần Ngọc Ngoạn
2 TS Nguyễn Thị Minh Phương
Thái Nguyên - 2018
Trang 2nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 12 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Khánh Hòa
Trang 3của các thầy cô giáo giảng dạy, thầy cô giáo hướng dẫn khoa học, được sự giúp đỡ của cơ quan, các đồng ghiệp và gia đình Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:
GS.TS Trần Ngọc Ngoạn - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
TS Nguyễn Thị Minh Phương - phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu
và Phát triển Chè - Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc
Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, tập thể giáo viên của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Tập thể lãnh đạo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc và tập thể lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè
Gia đình, bạn bè và các bạn đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, thực hiện đề tài./
Tác giả luận văn
Phạm Thị Khánh Hòa
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết 1
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 3
2.1 Mục đích của đề tài 3
2.2 Yêu cầu 3
2.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
2.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
2.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 4
1.2 Giá trị dinh dưỡng của chè 5
1.3 Hiện trạng cơ cấu giống chè 6
1.4 Các nghiên cứu liên quan đến cây chè trong và ngoài nước 8
1.4.1 Nghiên cứu cây chè trên thế giới 8
1.4.2 Nghiên cứu về cây chè ở Việt Nam 15
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.1.1.Vật liệu nghiên cứu 29
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 30
2.1.3.Thời gian nghiên cứu 30
2.1.4 Phạm vi nghiên cứu 30
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu: 30
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 30
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 32
2.3.1 Đặc điểm sinh vật học của các dòng chè mới chọn lọc 32
Trang 52.3.4 Đánh giá chất lượng chè 34
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 34
Chương 3 KẾT QUẢNGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Đặc điểm vật sinh học của các dòng chè mới chọn lọc 35
3.1.1 Đặc hình hình thái lá của các dòng chè mới chọc lọc 35
3.1.2 Khả năng sinh trưởng của các dòng chè chọn lọc 36
3.1.3 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng búp của các dòng, giống chè mới chọn tạo 39
3.2 Tình hình sâu hại chủ yếu trên chè 43
3.3 Đặc điểm các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của các dòng chè mới chọn tạo 49
3.4 Kết quả đánh giá chất lượng các dòng chè mới chọn tạo 53
2 Kiến nghị 67
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 69
Trang 6Bảng 1.1: Cơ cấu giống chè theo sản sản phẩm 6
Bảng 2.1: Thay đổi cơ cấu giống chè cả nước sau 15 năm 7
Bảng 1.3: Tăng trưởng của ngành chè giai đoạn 2005-2015 8
Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái và kích thước lá của các dòng chè mới chọn tạo 35
Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu thân cành, búp của các dòng chè mới chọn tạo 37
Bảng 3.3 Thời gian hoàn thành búp (búp 1tôm 5 lá) 40
Bảng 3.4 Động thái sinh trưởng búp của các giống, dòng chè chọn lọc vụ xuân (cm/5 ngày) 41
Bảng 3.5 Tình hình gây hại của Rầy xanh đến các dòng, giống chè mới chọn tạo (con/khay) 43
Bảng 3.6 Tình hình gây hại của bọ cánh tơ đến các dòng, giống chè mới chọn tạo (con/búp) 45
Bảng 3.7.Tình hình gây hại của nhện đỏ đến các dòng, giống chè mới chọn tạo (con/lá) 46
Bảng 3.8: Tình hình gây hại của bọ xít muỗi đến các dòng, giống chè mớichọn tạo (% búp bị hại) 48
Bảng 3.9 Năng suất chè qua các lứa (kg/ô thí nghiệm) 50
Bảng 3.10 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng chè mới chọn tạo 51
Bảng 3.11 Thành phần cơ giới búpcủa các dòng, giống chè nghiên cứu 54
Bảng 3.12 Thành phần sinh hóa của các dòng chè chọn tạo (vụ xuân) 55
Bảng 3.13 Thành phần sinh hóa của các dòng chè chọn tạo (vụ hè) 58
Bảng 3.14 Thành phần sinh hóa của các dòng chè chọn tạo (vụ thu) 58
Bảng 3.15 Đánh giá cảm quan chất lượng chè xanh (vụ xuân) 61
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Động thái sinh trưởng búp chè (vụ xuân) 42
Hình 3.2 Diễn biến rầy xanh 44
Hình 3.3 Diễn biến bọ cánh tơ 45
Hình 3.4 Diễn biến nhện đỏ 47
Hình 3.5: Diễn biến bọ xít muỗi 48
Hình 3.6: Năng suất của các dòng chè mới chọn tạo 52
Trang 8TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam Viện KHKT : Viện Khoa học kỹ thuật
Trang 9MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết
Cây chè (Camelia sinensis O.Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày có nhiệm kỳ kinh tế dài 30-40 năm nếu được chăm sóc tốt sẽ cho thu hoạch lâu hơn Trong tự nhiên chè có dạng cây bụi, cây gỗ hoặc gỗ nhỡ Khi trồng tập trung chè được khống chế chiều cao bằng việc đốn tỉa cành để hái búp và lá non
Cây chè có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện đặc thù của vùng đất dốc, đem lại nguồn thu nhập quan trọng góp phần xoá đói giảm nghèo và dần tiến tới làm giàu cho nhân dân trong vùng Phát triển cây chè tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, góp phần điều hoà sự phân bố dân cư miền núi, ổn định định canh định cư cho đồng bào các dân tộc ít người Đồng thời cây chè còn có vai trò to lớn trong việc che phủ đất trống, đồi núi trọc và bảo vệ môi trường sinh thái, một trong những vấn đề đang thu hút sự quan tâm của toàn xã hội
Hiện nay nước ta đứng thứ 5 về diện tích và xuất khẩu song chất lượng chè Việt Nam chưa cao, Trong những năm gần đây, giá chè không tăng mà còn có xu hướng giảm, Chè Việt Nam xuất khẩu giá chỉ bằng 50-70% so với mặt bằng giá chè chung của thế giới, Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng chè của nước ta: Do chưa có đủ giống tốt đặc biệt là các giống chất lượng cao được đưa ra sản xuất, quy trình công nghệ và thiết bị chế biến còn lạc hậu, chưa xây dựng được vùng chè an toàn, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu
Trong những năm qua Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể trong công tác chọn tạo giống chè, góp phần đưa diện tích trồng chè giống mới toàn quốc lên 65%.Tuy nhiên, giống chè do chúng ta thiếu những giống chè để có thể chế biến các dạng chè cao cấp, chất lượng cao Trong khi đó, sản phẩm chè hảo hạng có thương hiệu uy tín của các nước đều gắn với các giống cụ thể, như: Chè xanh Long Tỉnh của Trung Quốc gắn liền với giống Long Tỉnh
43, chè Ôlong của Đài Loan gắn liền với giống Ôlong Thanh Tâm và Kim Tuyên, chè xanh Nhật Bản gắn liền với giống Yabukita
Trang 10Bộ giống chè do Việt Nam chọn tạo hiện nay chủ yếu phù hợp cho chế biến chè đen Một số giống chế biến được chè xanh nhưng chất lượng chỉ đạt loại khá Trong khi đó, xu thế phát triển và cạnh tranh chè trên thế giới trong tương lai là sản phẩm chè xanh Để khắc phục tình trạng thiếu các giống chè chất lượng cao để đưa vào sản xuất chúng ta đã đẩy mạnh công tác nhập giống chè chất lượng cao từ các nước trồng chè trong khu vực Trong đó một
số giống chè chất lượng cao nhưng khả năng sinh trưởng của các giống chè này ở miền Bắc rất yếu
Chính vì những lý do trên, đòi hỏi chúng ta cần chọn tạo được các giống chè chế biến chất lượng cao tương đương hoặc cao hơn các giống chè của các nước trong khu vực Có như vậy, chúng ta mới có thể cạnh tranh với các nước và đưa vị thế của sản phẩm chè Việt Nam lên ngang tầm thế giới
Có nhiều phương pháp khác nhau để tạo ra giống chè mới được áp dụng như: Chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính, phương pháp gây đột biến nhân tạo, chọn lọc cá thể, nhập nội giống ở các nước trong khu vực Trong đó chọn tạo giống chè bằng phương pháp lai hữu tính, chúng ta đã đạt được những kết quả nhất định.Mỗi giống chè có những đặc tính riêng, Để kết hợp những đặc tính
đó tạo ra giống mới có những tính chất tốt hơn là điều rất cần thiết Cây chè bản chất là cây giao phấn, việc lựa chọn cây bố và cây mẹ để tiến hành lai theo mục đích chúng ta mong muốn các đặc trưng của cây bố và cây mẹ sẽ chuyển cho thế hệ sau Hiện nay, cùng với sự phát triển của công nghệ tế bào, công nghệ xử lý đột biến invitro đã trở thành công cụ hữu hiệutrong chọn tạo giống cây trồng Kỹ thuật gây đột biến invitro đã gây tạo và làm tăng tần số xuất hiện đột biến, rút ngắn thời gian chọn tạo giống với các tính trạng có giá trị kinh tế.Phương pháp lai hữu tính và phương pháp gây đột biến các giống chè được coi là mũi nhọn trong công tác chọn tạo giống chè hiện nay Trong những năm gần đây, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc bằng phương pháp lai hữu tính và gây đột biến nhân tạo đã chọn tạo ra
Trang 11được một số dòng, giống chè triển vọng Tuy nhiên khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu của mỗi giống là khác nhau.Xuất phát từ thực tế trên chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và năng suất chất lượng của một số dòng, giống chè mới chọn tạo tại Phú Thọ”
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu các đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các dòng chè để chọn ra dòng chè có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện sinh thái tại vùng Trung du - Phú Thọ
2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được các đặc điểm hình thái thực vật học, khả năng sinh trưởng phát triển và chống chịu sâu bệnh của các dòng chè chọn tạo
- Đánh giá được năng suất và chất lượng của các dòng chè chọn tạo
2.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 12Chương1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Chè là loại cây giao phấn, nếu trồng bằng hạt thì tỷ lệ đồng đều của cây con rất thấp, có tới 95% cây con không giống cây mẹ về các đặc điểm hình thái, các tính trạng về năng suất và chất lượng Đây là đặc điểm có ý nghĩa lớn về tính đa dạng sinh học, là nguồn vật liệu khởi đầu trong công tác chọn tạo giống, Cây chè từ khi tuyển chọn đến lúc tạo thành giống mới, đưa ra sản xuất cần có thời gian dài và những đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè là kết quả phản ánh tổng hợp giữa các đặc điểm của giống với những điều kiện ngoại cảnh Chu kỳ phát triển của cây chè được chia làm hai: Chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ
Chu kỳ phát triển lớn bao gồm suốt cả đời sống cây chè, tính từ khi tế bào trứng thụ tinh bắt đầu phân chia cho đến khi cây chè già cỗi, chết.Chu kỳ phát triển nhỏ (hàng năm) gồm 2 giai đoạn sinh trưởng và tạm ngừng sinh trưởng Trong giai đoạn sinh trưởng, các loại mầm dinh dưỡng sẽ phát triển hình thành búp, lá non và những đợt búp chè mới; các mầm sinh thực phát triển hình thành nụ, hoa và quả Sinh trưởng dinh dưỡng cũng như sinh trưởng sinh thực phụ thuộc vào giống, tuổi của cây, điều kiện ngoại cảnh, trình độ quản lý chăm sóc Giai đoạn sinh trưởng dài hay ngắn chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết mỗi vùng Trong giai đoạn tạm ngừng sinh trưởng các bộ phận trên mặt đất không xuất hiện các lá non mới, song bộ rễ của cây chè lại sinh trưởng để tạo nên các rễ non mới Trong điều kiện ở Phú Hộ, cây chè thường bắt đầu sinh trưởng từ tháng 2 đến tháng 11 và tạm ngừng sinh trưởng từ tháng 12 đến tháng 2 hàng năm
Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm là mục tiêu đầu tiên của tất
cả các ngành sản xuất nói chung và ngành sản xuất chè nói riêng Đặc biệt, khi nhu cầu thị hiếu của con người ngày càng tăng cao thì chất lượng chè là
Trang 13chỉ tiêu đặc biệt quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường Để tạo nên chất lượng chè thành phẩm, yếu tố giống quyết định đến 50%, còn yếu tố độ cao, chăm sóc quyết định 30%, yếu tố công nghệ chế biến, thiết bị chỉ chiếm 20% (Nguyễn Hữu Khải, 2005)[6]
Trong những năm 2000 - 2005, nhằm khắc phục tình trạng thiếu giống chè chất lượng cao, được sự chỉ đạo của Chính phủ, của Bộ Nông nghiệp và PTNT, công tác chọn tạo giống chè được đẩy mạnh, đồng thời vừa chọn tạo giống chè trong nước, vừa tăng cường việc nhập nội giống từ nước ngoài Với mục tiêu nhanh chóng chọn tạo ra nhiều giống chè mới có năng suất và chất lượng cao để mở rộng diện tích, thay thế dần các giống chè cũ năng suất, chất lượng thấp ở Việt Nam
Thông qua việc nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của các dòng chè mới trong điều kiện vùng sinh thái khác nhau chúng ta sẽ đánh giá được khả năng thích ứng cũng như khả năng chống chịu của các dòng chè, từ đó lựa chọn ra các dòng chè có khả năng sinh trưởng tốt để đưa vào sản xuất diện rộng, góp phần vào công tác chọn tạo ra giống chè mới có chất lượng cao
1.2 Giá trị dinh dưỡng của chè
Có thể nói trên thế giới chè là thức uống có nhiều giá trị dung dưỡng Khi tìm hiểu tác dụng của chè đối với sức khỏe một số tác giả người Trung Quốc: Vương Khâu Phi, Bộc Tể Nhật, Dương Hiền Cường- đại học Nông nghiệp Triết Giang chỉ ra rằng một phiến lá nhỏ đã có trên 500 thành phần hóa học, bao gồm 6 nhóm vật chất có công hiệu bảo vệ sức khỏe như các loại vitamin, chất purin loại kiềm, các loại phenol , các tinh chất dầu thơm, các axitamin và chất polysacazoza Thống kê 92 loại cây cổ thụ, trong cuốn Trung Quốc Trà Kinh tổng kết nội dung bảo vệ sức khỏe của trà gồm 24 hiệu quả:
An thần, mắt sáng, giải khát sinh nước bọt, thanh giải nhiệt, tiêu cảm, giải độc, khỏi nhức đầu, chống say nắng, dễ tiêu hóa, làm chắc răng lợi Nước chè còn chữa được những bệnh như tổn thương do phóng xạ, ung thư, bệnh tim mạch
Trang 14Nghiên cứu tác dụng của của chè đối với sức khỏe con người nhận định: Trà được chứng minh một cách rộng rãi là loại thực phẩm có tác dụng phòng trừ nhiều loại bệnh tật thường thấy của con người do thành phần hữu hiệu poliphenol được tổng hợp bởi các catechin thành phần có trong búp và lá non
1.3 Hiện trạng cơ cấu giống chè
Việt Nam là nước sản xuất chè lớn thứ 7 và xuất khẩu chè lớn thứ 5 toàn cầu, với 124.000 ha diện tích trồng chè và hơn 500 cơ sở sản xuất, chế biến, công suất đạt trên 500.000 tấn chè khô/năm Dự báo, nhu cầu tiêu thụ chè toàn cầu ngày càng tăng, giúp cho xuất khẩu chè của Việt Nam trong thời gian tới có nhiều triển vọng, đặc biệt là trong quý 4/2017 Theo Bộ Công Thương, ước tính trong tháng 9/2017 lượng chè xuất khẩu đạt 12 ngàn tấn, trị giá 20 triệu USD (Nguyễn Huyền, 2017)[48]
Theo Đặng Văn Thư (2015)[28] số liệu thống kê tính đến năm 2015, cả nước có 10 giống chè chủ lực đã được đưa vào phục vụ sản xuất gồm PH1, TRI777, LDP1, LDP2, Phúc vân tiên, Kim tuyên, Ngọc thúy, PH10, PH11, TB14
Bảng 1.1: Cơ cấu giống chè theo sản sản phẩm
tích (%)
Sản phẩm chế biến
Chè xanh chất lượng cao, chè ôlong
6 Các giống địa phương (Trung du,
(Nguồn: Tổng hợp từ các nguồn tài liệu của Cục Trồng trọt)
Trang 15Tỷ lệ trồng diện tích các giống chè mới năm 2015, giống chè shan chọn lọc trong sản xuất chiếm khoảng 52,7% tổng diện tích (tương đương khoảng
71 nghìn ha), tỷ lệ trồng các giống chè cũ (Trung du và shan hạt) chiếm khoảng 47,3% tổng diện tích (tương ứng khoảng 63,6 nghìn ha)
Nhóm giống chè chỉ dùng cho chế biến chè đen (PH1, LDP2) chiếm khoảng 22,2% (tương ứng khoảng 29,9 nghìn ha), tập chung chủ yếu tại các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái Nhóm giống chè chỉ dùng để chế biến chè xanh chiếm khoảng 61,8%, trong đó chế biến chè xanh chất lượng khá (LDP1, tập chung chủ yếu tại các tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang…) chiếm khoảng 14,5% (tương ứng khoảng 19,5 nghìn ha), chế biến chè xanh thường (Trung du, shan hạt, tập chung chủ yếu tại các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, Hà Giang, Yên Bái, Điện Biên….) chiếm khoảng 47,3% Nhóm giống chè dùng để chế biến chè xanh chất lượng cao và chè ôlong (các giống chè nhập nội từ Đài Loan, Trung Quốc và một số giống chè mới lai tạo trong nước) chiếm khoảng 12% (tương ứng khoảng 16 nghìn ha), tập chung chủ yếu tại các tỉnh Lâm Đồng, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh Nhóm giống chè phù hợp cho cả chế biến chè xanh và chè đen (chủ yếu là các giống chè shan chọn lọc, TB14, LD97….) chiếm khoảng 4% (tương ứng khoảng 5,4 nghìn ha), tập chung chủ yếu tại các tỉnh Lâm Đồng (TB14, LD97), Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên (shan chọn lọc)
Bảng 2.1: Thay đổi cơ cấu giống chè cả nước sau 15 năm
Năm
Tổng diện tích (1000 ha)
Cơ cấu giống (% tổng diện tích)
Trang 16So sánh với năm 2000, năm 2015 tổng diện tích chè cả nước đạt 134,6 nghìn ha, tăng 49,5% Trong cơ cấu giống, tỷ lệ chè giống cũ giảm 39%, tỷ lệ giống chè mới tăng 37,7%
Bảng 1.3: Tăng trưởng của ngành chè giai đoạn 2005 - 2015
(1000 ha)
Tỷ lệ giống mới (%)
Năng suất (tấn/ha)
Giá xuất khẩu (USD/kg)
1.4 Các nghiên cứu liên quan đến cây chè trong và ngoài nước
1.4.1 Nghiên cứu cây chè trên thế giới
1.4.1.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống chè
Thế giới coi công tác chọn tạo giống chè là nhiệm vụ quan trọng nhất
để tạo ra các sản phẩm mới, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm Trong công tác chọn tạo giống cây trồng nói chung và cây chè nói riêng, người ta sử dụng nhiều phương pháp chọn tạo khác nhau, như chọn lọc cá thể trực tiếp trên nguồn vật liệu sẵn có trong tự nhiên, chọn giống bằng phương pháp lai hữu tính và phương pháp đột biến thực nghiệm để tạo ra các giống chè mới Mục tiêu của chọn giống chè ngày nay không chỉ đơn thuần là tạo ra các giống có năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt với các điều kiện bất thuận của môi trường mà các giống chè chọn tạo mới phải có chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng cao, an toàn, làm nguyên liệu, để chế biến ra các
Trang 17Trung Quốc là quốc gia sản xuất chè hàng đầu thế giới Nghiên cứu sử dụng giống chè tốt trong sản xuất được các nhà khoa học Trung Quốc quan tâm từ rất sớm Ngay từ đời nhà Tống, Trung Quốc đã có 7 giống chè tốt ở
Vũ Di Sơn Các giống chè Thuỷ Tiên (1821 - 1850), Đại Bạch Trà (1850), Thiết Quan Âm đã có từ hơn 200 năm về trước đều là những giống chè chiết cành (Nguyễn Văn Toàn, 1994)[29]
Tại Srilanka, công tác chọn giống chú trọng nhiều đến khâu chọn dòng, kết hợp chọn dòng có sản lượng cao, có khả năng chống hạn và chống chịu với sâu bệnh Trong những năm 1940, Srilanka đã chọn ra một loạt các dòng chè TRI2020, trong đó có các giống nổi tiếng như TRI777, TRI2043 Trong những năm 1960 trở lại đây, Srilanca đã chọn ra các dòng chè triển vọng như TRI14, DT, DN, DP và DV (Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương, 2000)[24] Hiện nay, tại Srilanka, diện tích trồng chè bằng các giống chè được nhân giống vô tính đạt trên 40% diện tích trồng chè trong cả nước
Sở Nghiên cứu chè Tứ Xuyên Trung Quốc trong năm 1960 bắt đầu nghiên cứu lai hoa thụ phấn nhân tạo, đã bồi dục thành công hai giống chè Thuộc Vĩnh số 1 và số 2 đã được công nhận là giống chè quốc gia Sở Nghiên cứu chè Hồ Nam, Trung Quốc từ năm 1975 trở lại đây, đã tiến hành 525 tổ hợp lai tạo thụ phấn nhân tạo và thu được một số giống chè mới có triển vọng (Trịnh Khởi Khôn và Trang Tuyết Phong, 1997)[7]
Theo tác giả Đỗ Ngọc Quỹ và Đỗ Thị Ngọc Oanh (2011)[25] từ những năm 50 của thế kỷ XX, Ấn Độ đã thành công trong việc chọn ra 110 giống chè tốt, trong đó có 102 giống chè được nhân bằng phương pháp vô tính Đến năm 2003, Ấn Độ đã có trên 80% diện tích chè được trồng bằng giống tốt chủ yếu là giống chè Assamica được chọn lọc bằng phương pháp chọn lọc cá thể
Bằng phương pháp chọn lọc cá thể tại Tocklai đã chọn ra các giống TV1, TV23 có sản lượng và chất lượng khá
Bằng phương pháp công nghệ sinh học năm 1990 Ấn Độ đã chọn ra dòng tam bội TV29 có tiềm năng cho năng suất cao
Trang 18Theo Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương (2000)[24]; L Rajanna and M Ramakrishnan1 (2010) [39]; Ấn Độ, Nhật Bản, Srilanca, Trung Quốc, Gruria…đã sử dụng công nghệ sinh học trong chọn giống chè tốt, dùng phôi non, phôi hom bồi dưỡng thành cây chè hoàn chỉnh Sử dụng phương pháp lai, sử dụng ưu thế lai để tạo ra giống chất lượng cao phục vụ cho sản xuất
Phương pháp lai hữu tính được Ấn Độ rất quan tâm đã chọn ra giống VTA 54 có năng suất và chất lượng khá Từ cặp lai TV1/19,31,14 tại Tocklai
đã chọn ra giống TS449 có năng suất cao, chất lượng khá có khả năng chịu hạn tốt Cũng bằng phương pháp lai hữu tính đã chọn ra các giống TS450; TS462, TS463, TS464, TS491 và TS520 đều là các giống sinh trưởng khoẻ có khả năng chịu hạn rất tốt (Trịnh Khởi Khôi và Trang Tuyết Phong, 1997)[7]
Nhật Bản, lần đầu tiên trong năm 1929 cũng đã xây dựng thành công trong việc thụ phấn lai tạo nhân tạo giống chè Assam và giống Nhật Bản tạo nên cơ sở ổn định cho việc tuyển chọn bồi dục thành một loạt giống chè đen (Trịnh Khởi Khôi và Trang Tuyết Phong, 1997) [7]
Bằng phương pháp gây đột biến thực nghiệm Viện nghiên cứu chè và cây trồng Á nhiệt đới Anaceuli (Gruzia) đã tạo được tập đoàn đột biến cây trồng Á nhiệt đới phong phú bao gồm 562 dòng chè, 218 dòng cam quýt, 23 dòng trẩu và 12 dòng nguyệt quế Đối với giống chè, các đột biến làm tăng thành phần sinh hoá thể hiện rất rõ nét (từ 0,2 - 4,8%) Trong các dòng chè đột biến, tác giả J.G Kerkadze (1986) [47] đã chia ra thành 3 nhóm: nhóm có hương thơm đặc trưng hơn hẳn đối chứng gồm các dòng số 872, 1507, 2023,
2840, 2094, 3274, 3858 và dòng 582; nhóm có hương thơm nổi trội ở chè thành phẩm gồm các dòng số 2095, 3852, 4805, 3755, 2053, và dòng 510; nhóm có hương chè đen phảng phất hương hoa hồng gồm các dòng số 855,
3823, 3846
Takyu Toshio et al (2003) [43] đã chiếu xạ tia gamma ở liều lượng
2KR trong 20 giờ trên chè và họ đã thu được hai cây chè không có lông tuyết
Trang 19trên lá non Giống chè không có lông tuyết trên bề mặt lá non có khả năng kháng bệnh tốt (do lông tuyết ở lá chè non là con đường xâm nhập chủ yếu của các bào tử nấm), chất lượng cao
Qua 100 năm, Ngành chè thế giới đã tổng kết: Công tác chọn tạo giống chè mới được đẩy mạnh, cây chè từ lúc tuyển chọn đến lúc tạo thành giống mới, đưa ra sản xuất cần thời gian dài Theo thống kê đến năm 1990 của 11 nước và khu vực trồng chè trên thế giới có số lượng giống chè mới tạo ra là
446 giống, trong đó có 387 giống vô tính chiếm 77%, giống lưỡng hệ, đa hệ
vô tính 22 giống chiếm tỷ trọng 4,93%, giống hữu tính chọn lọc 37 giống chiếm tỷ trọng 8,3% Tỷ trọng phổ cập giống chè tốt trong sản xuất cao nhất ở Trung Quốc và Đài Loan trên 90%, tỷ lệ phổ cập giống mới ở Ấn Độ và Kênia cũng đạt tới 80% (Trịnh Khởi Khôn và Trang Tuyết Phong, 1997) [7]
1.4.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây chè
Các đặc điểm hình thái của cây chè (thân, lá, búp), đặc tính sinh trưởng của cây chè, thời gian sinh trưởng (bắt đầu, kết thúc sinh trưởng búp …), số đợt sinh trưởng búp/năm… có quan hệ chặt chẽ với khả năng cho năng suất
và chất lượng chè nguyên liệu Do vậy nghiên cứu đặc tính sinh vật học cây chè nhằm tuyển chọn giống chè tốt luôn được các nhà chọn giống trên thế giới quan tâm
Theo Bakhơtadze (1948) [45], nghiên cứu quan hệ giữa lá chè và năng suất đã đề ra các chỉ tiêu về lá làm căn cứ chọn giống chè như: màu sắc, kích thước lá, cấu tạo giải phẫu lá
Nghiên cứu về quan hệ giữa lá chè với năng suất chất lượng chè Bakhơtadze (1971) [46] cho rằng: góc lá tối ưu cho quang hợp của cây chè là
450, lá chè màu vàng là đặc trưng có lợi cho các chỉ tiêu sinh hoá búp chè Nghiên cứu tương quan giữa số búp/tán và năng suất búp của nương chè tác giả đưa ra kết luận: tương quan giữa số lượng búp và năng suất chè là 0,956 ±
0,064
Trang 20Nghiên cứu quan hệ giữa lá chè trưởng thành và lá thứ 3 của búp chè tôm ba lá tác giả Bakhơtadze (1971) [46] cho rằng: Lá thứ 3 của búp 1 tôm 3
lá thường có diện tích bằng 40% lá trưởng thành
Nghiên cứu của Hadfiel (1968) [38] về chỉ số diện tích lá của các giống chè đã kết luận: Chỉ số diện tích lá của những giống chè thông thường từ 3 - 4
và của những giống chè có thế lá đứng là 5- 7 Giống chè Trung Quốc chỉ số diện tích lá cao hơn, có khả năng trồng và phát triển tốt trong điều kiện ánh sáng đầy đủ và cho năng suất cao hơn kiểu giống Assam
Nghiên cứu thời gian hoàn thành một đợt sinh trưởng búp, các tác giả Tanton (1982) [44] đưa ra giá trị trung bình là 47,5 ngày tuy nhiên số ngày cho 1 đợt sinh trưởng biến động từ 30 - 42 ngày vào mùa hè và 70 - 160 ngày vào mùa đông
Mỗi giai đoạn cây chè sinh trưởng khác nhau vì vậy sự hình thành và phát triển của búp chè cũng như các lứa búp chè cũng khác nhau
Mật độ búp và khối lượng búp là nhân tố quan trọng tạo nên sản lượng chè Tác giả Tanton (1982) [44] cũng chỉ ra nhân tố quan trọng nhất là mật độ búp đóng góp tới 89%, còn khối lượng búp tương tự chỉ đóng góp 11% năng suất, sản lượng chè
Sự sinh trưởng của búp chè trong điều kiện có đốn thì sự phân hoá của mầm chè chủ yếu được hình thành trong vụ xuân và thời gian hình thành búp muộn hơn một số ngày so với nương chè không đốn hái
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa lá chè, thế lá và bộ rễ và khả năng chống chịu của các giống chè, Hadfiel (1968) [38] chỉ ra rằng: Những giống chè Trung Quốc lá nhỏ, có thế lá đứng, với bộ rễ phân bố sâu dưới mặt đất có khả năng chống hạn tốt hơn những giống chè khác
Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương (2000)[24] cho biết khi nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của bộ rễ chè các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng: Sinh trưởng của bộ rễ và bộ lá chè có tương quan chặt với nhau, hỗ trợ cho
Trang 21nhau về mùa Đông, khi chè ngừng sinh trưởng rễ chè bắt đầu phát triển, mùa Xuân khi búp chè sinh trưởng mạnh, bộ rễ phát triển chậm lại và tiếp tục như vậy khi bộ rễ phát triển chậm lá chè, búp sẽ sinh trưởng nhanh và ngược lại
1.4.1.3 Nghiên cứu về nhân giống chè
a Nhân giống hữu tính
Đây là quá trình tạo cây con từ hạt Nhân giống hữu tính là phuơng pháp nhân giống cổ truyền được con người sử dụng từ khi biết trồng trọt Hạt được hình thành là do kết quả thụ tinh của tế bào hạt phấn với tế bào noãn Từ hạt sẽ mọc ra cây mới mang đặc tính di truyền của cả cây bố và cây mẹ, hoặc nghiêng hẳn về phía cây bố hoặc cây mẹ Trong tự nhiên rất phổ biến phương pháp nhân giống này
Kỹ thuật chọn cây bố mẹ cần lưu ý những yếu tố sau:
- Thường chọn cây bố mẹ khác biến chủng vì mỗi thứ thường khác nhau về yếu tố sinh thái, chè Shan thích hợp với vùng cao, chè trung du thích hợp với vùng thấp, chè Ấn Độ ưa nóng ẩm… sẽ tạo ra con lai có khả năng thích ứng cao với môi trường mới
- Khi chọn cây bố mẹ cần lưu ý tới các yếu tố cấu thành năng suất, chất lượng và tính chống chịu để bổ sung cho nhau những đặc tính trội
Tại Liên Xô (cũ) là một trong những nước trồng chè lớn của thế giới, trước đây họ chủ yếu sử dụng hạt chè nhập từ Trung Quốc và Ấn Độ Năm
1927 - 1928 đã sử dụng hạt của các giống chè lai tạo, chọn lọc như Gruzia 1, Gruzia 2, các giống này cho năng suất cao hơn Đại Bạch Trà 25 - 40% (Nguyễn Văn Toàn và cs., 1998).[30]
b Các phương pháp nhân giống vô tính 1- Phương pháp nuôi cấy mô (invitro)
Phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật invitro được pháp triển mạnh
và hoàn thiện từ những năm 60 của thế kỷ 20, sau khi đã có môi trường nuôi cấy chuẩn, đặc biệt là sử dụng các chất kích thích sinh trưởng thực vật vào
Trang 22môi trường nuôi cấy, sử dụng các tế bào trần để nuôi cấy huyền phù… Ngày nay người ta có thể nuôi cấy tế bào thực vật của bất kỳ loại cây nào và nhân bản vô tính cây invitro để vi nhân giống và tạo ra giống mới, (Nguyễn Ngọc Hải, 1997; LI Xinghui Tianmou Huang Qiwei, 2005)[40]
Áp dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào các nhà khoa học Nhật Bản
đã tạo ra được cây chè con Tuy nhiên phương pháp này khó áp dụng vào sản xuất đại trà vì giá thành cây con cao do tỷ lệ chết khi chuyển cây con từ ống nghiệm ra vườn ươm rất cao
Bangladesh bắt đầu trồng chè ghép từ năm 1970, Kenya ngoài giâm cành còn áp dụng chè ghép
Nghiên cứu môi trường cắm hom các nhà khoa học Liên Xô (cũ), Ấn
Độ, Srilanca, Đông Phi đều cho rằng: cắm hom vào túi PE không ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom chè Việc giâm cành vào túi PE giá thành lại cao do tăng
Trang 23chi phí mua túi bầu và công đóng bầu, nên để giảm giá thành sản xuất cây con giống mà vẫn đảm bảo cây giống tốt các nhà khoa học Nhật Bản, Trung Quốc
đã nghiên cứu giâm cành trực tiếp trên nền đất hoặc giá thể dinh dưỡng
Để giâm hom chè đạt kết quả tốt cần thực hiện đầy đủ các yếu tố kỹ thuật Theo Hartmen và Kester (1988) [39] cho biết có 3 yếu tố chính ảnh hưởng tới kết quả giâm hom: Giống, kỹ thuật xử lý hom và môi trường giâm
Theo Anon (1986) [37] nghiên cứu ở Kenya cho biết để có hom giống tốt cần phải chăm sóc vườn cây mẹ chu đáo như chế độ bón phân đặc biệt, đốn nhiều lần trong năm Hom giống tốt có chiều dài 3 - 4 cm, nếu ngắn hơn
3 cm phải bỏ bớt 1 lá để đảm bảo độ dài của hom
Tác giả Patarava (1987) [41] nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến vườn chè giâm hom cho thấy: Nhiệt độ dưới 50C hoặc trên 450C thì hom chè
bị chết; nhiệt độ dưới 150C và trên 350C thì hom chè sinh trưởng chậm; nhiệt
độ thích hợp cho hom chè sinh trưởng và phát triển tốt là từ 25 - 300C
1.4.2 Nghiên cứu về cây chè ở Việt Nam
1.4.2.1 Nghiên cứu về giống chè
a Hiện trạng tập đoàn giống chè của Việt Nam
Việt Nam được coi là vùng nguyên sản của cây chè và cũng là cây trồng được người Việt đưa vào trồng trọt từ xa xưa Công tác nghiên cứu, thu thập giống chè ở nước ta được tiến hành từ những thập kỷ đầu của thế kỹ 20, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau và đã đạt được những thành tựu nhất định
Cho đến nay tại Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, đã lưu giữ tập đoàn gồm 193 giống chè có nguồn gốc từ trong nước
và nhập nội từ nước ngoài Trong đó, phân theo nguồn gốc có: 76 giống địa phương và chọn tạo tại Việt Nam (chiếm 39,38%); 117 giống nhập nội (chiếm
60,62%) Phân theo hình thái có: thứ Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis
var Bohea) : 71 giống, thứ Trung Quốc lá to(Camellia sinensis var
Trang 24Macrophylla) : 42 giống, thứ chè Ấn Độ (Camellia sinensis var Assamica): 38 giống, chè Shan (CamelliasinensisvarShan): 42 giống
So với trước năm 2000, tập đoàn giống chè được thu thập bảoquản để khai thác tăng thêm 71 giống (tăng 58,2% so với tổng số giống bảo quản) Các giống chè này đang là nguồn vật liệu quan trọng phục vụ cho công tác chọn tạo giống chè mới chất lượng cao ở Việt Nam (Nguyễn Hữu La và Đỗ Văn Ngọc, 2011) [11]
b Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống chè ở Việt Nam
Có nhiều phương pháp khác nhau để tạo ra giống chè mới được áp dụng từ trước tới nay như:
+ Phương pháp nhập nội giống + Phương pháp chọn lọc cá thể + Chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính + Chọn tạo giống bằng phương pháp đột biến + Chọn tạo giống bằng phương pháp công nghệ sinh học
Mỗi một phương pháp ở từng giai đoạn có các thành tựu nghiên cứu xác định:
1 - Điều tra thu thập và nghiên cứu khả năng thích ứng của các giống
chè nhập nội
Thời kỳ năm 1918- 1935, người Pháp tiến hành thu thập các giống chè của
Ấn Độ, Trung Quốc, Miến Điện, Lào và một số vùng trong nước như Hà Giang, Lào Cai, Ba Vì, Phú Thọ… Đến năm 1939 đưa vào hệ thống vườn tập đoàn gồm
23 giống, trong đó giống địa phương 13 giống và giống nhập nội là 10 giống
Giai đoạn năm 1959- 1990 là thời kỳ chủ yếu chỉnh lí và lai tạo giống, trao đổi giống với nước ngoài Tổng số thu thập gồm 37 giống, trong đó nguồn gốc địa phương 4 giống, nguồn nhập nội gồm 16 giống và nguồn chọn tạo được 17 giống, các giống chè mới chọn lọc như PH1, 1A, TRI777, TH3, LDP1, LDP2
Trang 25Giai đoạn năm 1994- 1997, xúc tiến mạnh công tác thu thập, kết quả đã
bổ sung được 34 giống Trong đó giống địa phương 4 giống, chọn lọc 5 giống, nhập nội 25 giống Sử dụng các giống Kim Tuyên, Thuý Ngọc, OLong Thanh Tâm phục vụ cho công tác lai tạo chọn giống (Trịnh Văn Loan và Hoàng Cự, 1994; Đỗ Ngọc Quỹ và Đỗ Thị Kim Oanh, 2011)[ 12], [25]
Giai đoạn năm 2000- 2005 công tác điều tra thu thập các giống địa ơng và nhập nội giống được đẩy mạnh, nhằm tìm ra những nguồn gen quí trong nước, nhập nội giống nhằm cải thiện chất lượng chè Việt Nam Đến năm 2003, Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công nhận tạm thời 7 giống nhập nội, đó là các giống Hùng Đỉnh Bạch, Phúc Vân Tiên, Keo
phư-Am Tích, Kim Tuyên, Thuý Ngọc, Bát Tiên và PT95 (Đỗ Văn Ngọc và cs., 2010)[16], trong 7 giống trên đến nay có 3 giống đã được công nhận chính thức, đó là: Kim Tuyên, Thuý Ngọc và Phúc Vân Tiên, 4 giống còn lại sinh trưởng yếu và sâu bệnh phát triển nhiều Giai đoạn 2006 - 2010, thông qua dự
án “Phát triển giống chè chất lượng cao giai đoạn 2006 - 2010”, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chè đã nhập một số giống chè từ Ấn Độ và Trung Quốc, trong đó có 02 giống PH10 và PH11 được đánh giá là có chất lượng tốt (đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống sản xuất thử năm 2010) (Đỗ Văn Ngọc và cs, 2010)[16] Hiện nay giống PH11 đã và đang mở rộng diện tích, được trồng ở Phú Thọ với diện tích trên 124,5ha (Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, 2012)[35] Năm 2013, giống PH11 đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn công nhận giống Quốc Gia (Đỗ Văn Ngọc, 2016).[17]
2- Chọn tạo giống bằng phương pháp chọn lọc cá thể
Để có giống chè chọn lọc nguồn gốc địa phương, năm 1970- 1976 đã chọn ra cây chè TH3, thuộc thứ chè Trung Quốc lá to nguồn gốc Lạng Sơn, năm 1978 được giâm cành và trồng giám định giống TH3 là giống có năng suất cao chịu thâm canh (Trần Thị Lư và Nguyễn Văn Toàn, 1994)[13]
Trang 26Theo Nguyễn Xuân An (2006)[1], Năm 1962 tại Bảo Lộc đã chọn ra 2 giống chè TB11 và TB14 có năng suất cao, chất lượng tốt từ 17 cây chè Shan Trấn Ninh Năm 1997, Trung tâm nghiên cứu thí nghiệm chè Lâm Đồng đã chọn, phổ biến vào sản xuất giống chè LĐ97, có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh, ít kén đất và chịu thâm canh
Năm 2010, Đỗ Văn Ngọc và cộng sự đã chọn lọc từ 13 cây chè Shan đầu dòng bằng phương pháp chọn lọc cá thể chọn ra được 2 giống PH12 và PH14 có năng suất cao, chất lượng tốt được trồng trong sản xuất với diện tích 5,5ha ở Hà Giang đối với giống PH14 và 25,1 ha tại Yên Bái đối với giống PH12 (Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, 2014)[36] Hai giống chè PH12 và PH14 đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn công nhận giống sản xuất thử năm 2010
3- Chọn giống bằng phương pháp lai hữu tính
Năm 1980, Viện Nghiên cứu Chè đã tiến hành 7 tổ hợp lai mà bố mẹ đã được xác định, sau khi gieo hạt và tuyển chọn được 35 cá thể có nhiều triển vọng Năm 1988 đã chọn lọc được 4 cá thể nổi bật đó là LDP1, LDP2, CDP và CLT Sau 10 năm giám định, so sánh giống đã thu được kết quả tốt Hai dòng lai LDP1, LDP2 được chọn từ tổ hợp lai giữa giống Đại Bạch Trà (mẹ) x PH1 (bố) (Đỗ Văn Ngọc và cs., 1994; Đỗ Văn Ngọc và cs., 2010; Nguyễn Văn Toàn
và cs., 1994)[16], [29] Hai dòng LDP1, LDP2 là dòng lai sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, chất lượng tốt được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận giống tạm thời, năm 1994 cho phép mở rộng ra sản xuất, giống LDP1 đã được công nhận là giống quốc gia năm 2003, giống LDP2 được công nhận 2006
Theo Nguyễn Thị Minh Phương, (2007) [18] năm 1994, Viện nghiên cứu chè đã thu hạt của giống PH1 gieo trồng và tiến hành chọn lựa, năm 1995 đã chọn được một số cá thể đưa vào giám định, năm 1996 đã chọn được 2 dòng 276
và 215 có nhiều ưu điểm cả về năng suất và chất lượng, đã được hội đồng khoa học của Viện nghiên cứu chè cho phép bố trí thí nghiệm giám định chính quy
Trang 27Trong những năm gần đây, cũng bằng phương pháp lai tạo, từ tổ hợp con lai giữa giống Kim tuyên và giống IRI777, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè - Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã tạo ra được 2 giống chè PH8 và PH9 (được công nhận giống tạm thời năm 2009) Giống PH8 đã được công nhận giống chè mới năm 2015 (Nguyễn Thị Minh Phương, [20] Hiện, hai giống này được đánh giá là có năng suất cao, chế biến chè xanh và chè đen có chất lượng tốt
Từ kết quả cặp lai giữa giống chè Kim Tuyên (giống chè có nguồn gốc
từ Đài Loan) với giống chè Trung Du (giống chè bản địa), đã tạo ra giống chè Hương Bắc Sơn có chất lượng tốt, có khả năng chế biến được các mặt hàng chè cao cấp như chè xanh dẹt, chè ôlong chất lượng cao Đây là giống chè đầu tiên được chọn tạo trong nước có ckhả năng chế biến được chè Ôlong chất lượng cao Đã được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận giống chè sản xuất thử năm 2015.(Nguyễn Thị Minh Phương, 2015)[19]
Cũng bằng phương pháp lai hữu tính giữa giống chè Saemidori (Nguồn gốc Nhật Bản) với giống chè Shan Cù Dề Phùng đã tạo ra giống chè VN15 chế biến chè xanh có chất lượng rất tốt Đã được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận giống chè sản xuất thử năm 2016.(Nguyễn Thị Minh Phương, 2016)[21]
Ngoài các giống chè đã được công nhận, hiện nay Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè đã tiến hành lai tạo và chọn lọc ra các dòng chè số 12,
13, 14, 15, 17, 19, 20, 25 có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cao chất lượng tốt thích hợp với chế biến chè xanh đặc biệt là dòng số 14 có khả năng chế biến chè xanh chất lượng cao
Từ tập đoàn các cá thể được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính và dòng chè nhập nội đã chọn được 12 dòng chè có triển vọng sinh trưởng khỏe, năng suất và chất lượng cao trong đó có 8 dòng chè chọn lọc bằng phương pháp lai hữu tính đó là các dòng: 203,209, 218, 238, 242, 244, 248, 263.(Nguyễn Văn Toàn, (2015)[33]
Trang 28Giai đoạn 2011 -2015 Nghiên cứu, đánh giá các vật liệu khởi đầu cho công tác chọn tạo giống chè, qua ưu thế lai đã chọn ra được 33 cá thể bố mẹ
có những đặc điểm di truyền quý tham gia vào tổ hợp lai Đã tiến hành 70 tổ hợp lại và chọn ra được 15 cá thể ưu tú bổ sung cho nguồn vật liệu khởi đầu
Kết quả hạt tạp giao bước đầu đã chọn ra được 30 cá thể ưu tú tiếp theo chọn được 18 cá thể có tính trạng trội bổ sung vật liệu khởi đầu Từ kết quả nghiên cứu kế thừa giai đoạn trước với 10 dòng chè ưu tú mới trồng tại Trung tâm nghiên cứu và phát triên chè chọn ra được 6 dòng có năng suất cao, chất lượng khá
Khảo nghiệm các dòng chè ưu tú gồm 8 dòng gò dọc, khảo nghiệm diện rộng 6 dòng gò Trại khế (Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè) và khảo nghiệm các dòng chè tại vùng sinh thái đã chọn ra được 5 dòng chè có triển vọng (số 13, số 15, số 17, số 20, số 25) sinh trưởng khỏe, cho năng suất cao ở tuổi 4 đạt trên 5 tấn/ha, Đây đều là những giống có tiềm năng năng suất cao, chất lượng khá thích ứng tốt có khả năng mở rộng trong sản xuất.(Đỗ Văn Ngọc, 2016)[17]
Phương pháp lai hữu tính các giống chè đang được Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc rất quan tâm và đưa ra khảo nghiệm so sánh giống, khảo nghiệm trên diện rộng, khảo nghiệm trong sản xuất tại các vùng sinh thái đối với các dòng chè có triển vọng để công nhận giống sản xuất thử và giống chè mới
4- Chọn giống bằng phương pháp gây đột biến
Theo Nguyễn Văn Toàn và cs (1998) [30], bằng phương pháp gây đột biến có thể làm thay đổi được một hay nhiều tính trạng của cây chè mà đôi khi những tính trạng đó không thể đạt được bằng con đường lai tạo Tại Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã sử dụng tác nhân hoá học bằng colchicine xử lý trên mầm cây chè 2 tuổi với nồng độ từ 0,1 đến 0,8%, thời gian xử lý từ 24 đến 72 giờ và đã thu được một số biến dị Cũng tại
Trang 29Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã xử lý đột biến bằng bức xạ gamma (nguồn Co60) trên hạt đang nảy mầm và thu được kết quả
là ở liều lượng 3 Kr gây chết 100%
Phân tích mức độ thay đổi phân tử của một số dòng chè đột biến, kết quả cho thấy hệ số tương đồng di truyền giữa các giống, dòng chè đột biến có
sự gần nhau, khác xa nhau hay có sự tương đồng giữa một số dòng với nhau
và hoàn toàn tuân theo thuyết tương đồng di truyền của Vavilov, các tác giả
đã nhận định các đột biến nếu đã phát sinh ở giống này thì cũng sẽ phát sinh ở giống khác và có thể là cơ sở để chúng ta tìm kiếm những biến dị cảm ứng làm vật liệu khởi đầu phục vụ cho công tác chọn tạo giống chè mới
Lê Mệnh và Nguyễn Văn Tạo (2006) [14] đã tuyển chọn ở thế hệ M1 từ quần thể biến dị cảm ứng bằng bức xạ gamma Co60 trên hạt giống TRI777 và PH1 và đã xác định được 12 cá thể có triển vọng về năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh và chịu hạn, đã nhân giống và phát triển thành dòng Trong đó có 5 dòng nổi trội nhất, đó là: dòng P2.0 (xử lý trên hạt giống PH1) có khả năng chống chịu tốt với rầy xanh và bọ xít muỗi hơn hẳn đối chứng; dòng 3.5.1 (xử lý trên hạt giống TRI 777) có hương đặc trưng hơn hẳn giống TRI 777; dòng 4.0 (xử lý trên hạt giống TRI 777) có vị đậm dịu, đặc biệt là hương thơm hơn hẳn giống TRI 777, dòng P5.2 (xử lý trên hạt giống PH1), nhiễm nhẹ đối với rầy xanh hơn đối chứng; dòng 5.0 (xử lý trên hạt giống TRI 777) Các kết quả phân tích năm 2006, 2007 so với giống TRI 777 cho thấy dòng chè này có hàm lượng tanin thấp hơn 9%, chất thơm cao hơn 2,7% (có lợi cho chế biến chè xanh) và năng suất cao hơn 80% Qua đánh giá khảo nghiệm đã tuyển chọn được 3 dòng chè TRI777-5.0, TRI777-4.0, TRI777-3.5.2 có năng suất cao hơn đối chứng từ 74- 122%, có chất lượng chè xanh tốt, có khả năng chống chịu với sâu bệnh tốt, thích ứng với các vùng sinh thái rộng, đây là các dòng chè quý sẽ góp phần làm phong phú thêm nguồn quỹ gen các giống chè tại Việt Nam
Trang 30Nguyễn Văn Toàn và cs (2011) [31] đã công bố kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của bức xạ gamma lên hạt chè giống PH1 và TRI 777 như sau:
Các liều lượng tia phóng xạ gamma Co60 lên hạt chè giống đã ảnh hưởng lớn tới tỷ lệ mọc của các giống Liều lượng xử lý càng cao thì tỷ lệ mọc của các cây chè giống càng thấp Liều lượng gây chết một nửa của giống TRI777 là dưới 5.0kr, giống PH1 là trên 4.5 và dưới 5.0 kr
Dưới tác động của tác nhân vật lý bức xạ gamma Co60 xuất hiện một số biến dạng điển hình như hiện tượng đa phôi tăng lên, tỷ lệ khảm tăng, biến dạng về hình dạng lá và độ gồ ghề ở phiến lá
Qua khảo nghiệm so sánh giống đã chọn ra dòng TRI 7774.0 và TRI
7775.0 có năng suất cao tuổi 11 đạt 10,79 - 11,30 tấn/ha cao gấp 2 lần so với đối chứng TRI777 đạt 5,34 tấn /ha, có chất lượng chè xanh tốt, điểm đánh giá cảm quan đạt 16,74 - 17,04 điểm tương đương với đối chứng, đây là dòng chè
có nhiều triển vọng Giống chè TRI5.0 đã được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận giống chè sản xuất thử năm 2015.(Nguyễn Thị Minh Phương, 2015)[19]
Từ năm 2009 đến năm 2012 Viện KHKT Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã tiến hành xử lý tia gamma nguồn Co60, và tác nhân hoá học (Ethyl methansulfonate) lên hạt chè đang nảy mầm, chưa nảy mầm và hom chè của các giống chè Shan, Phúc Vân Tiên, Trung Du và Kim Tuyên kết quả
đã thu được nhiều biến dị có giá trị về năng suất, chất lượng và hình thái Đặc biệt dưới tác động của tia gamma đã tạo nên những cá thể đột biến có màu sắc cánh hoa thay đổi từ màu trắng chuyển thành màu phớt hồng Đã chọn được
100 cá thể có nhiều đặc điểm quí về năng suất và chất lượng, điển hình là 12
cá thể: ĐBK2, ĐBT5, ĐBK1, ĐBP17, ĐBTtd205, ĐBTtd208, ĐBTtd401, ĐBTtd405, ĐBTL219, ĐBPL252, ĐBPL263, ĐBPL278 có năng suất cao hơn đối chứng từ 40,0 - 132,6%, có chất lượng chè xanh tốt hương thơm đặc trưng, vị dịu có điểm thử nếm trên 17,0 điểm, hiện đang tiến hành nhân giống, trồng khảo nghiệm so sánh giống (Nguyễn Văn Toàn và cs., 2012) [32]
Trang 315- Chọn giống bằng phương pháp công nghệ sinh
Ứng dụng Công nghệ sinh học là một hướng mới trong công tác giống chè ở nước ta hiện nay Nhờ đó, thời gian chọn tạo giống chè mới sẽ được rút ngắn do định hướng được gen mong muốn và nuôi cấy mô sớm tạo ra số lượng nhiều cây là nguồn vật liệu khởi đầu có giá trị phục vụ cho đánh giá, chọn lọc Nhằm sớm tạo được giống chè mới phục vụ sản xuất đánh giá dòng chè mới ưu thế lai được tạo ra bằng kỹ thuật chỉ thị phân tử và công nghệ cứu phôi ngay từ giai đoạn nuôi cấy trong phòng thí nghiệm
Từ năm 2008, bằng kỹ thuật nuôi cấy mô, viện đã nghiên cứu, chọn tạo được chín dòng chè lai cứu phôi triển vọng: CNS-1, CNS-2, CNS-3, CNS-4, CNS-5, CNS-6, CNS-7, CNS-8 và CNS-9 Các dòng chè này được tạo ra từ các cặp bố mẹ có khoảng cách di truyền xa nhau và được chọn lọc từ các cá thể ở giai đoạn nuôi cấy mô và giai đoạn vườn ươm khi cây chè con được một năm tuổi Sau thời gian trồng từ hai đến sáu tháng, tỷ lệ sống của các dòng chè bằng công nghệ CTPT cao hơn so với dòng chè truyền thống, vượt trội là dòng chè CNS-1, sau hai tháng tỷ lệ sống 100%, tiếp đó là CNS-7 (tỷ lệ sống 98%) Không những vậy, cây chè chọn tạo bằng công nghệ CTPT qua theo dõi, đánh giá thường sinh trưởng khỏe, phân cành nhiều, tán rộng, có tiềm năng cho năng suất cao.Bước đầu tuyển chọn được 4 dòng chè lai cứu phôi có
ưu thế lai vượt trội về khả năng thích nghi, sức sinh trưởng phát triển và khả năng cho năng suất cao đó là các dòng CNS-1, CNS-3, CNS-6 và CNS-8 (báo Nhân dân, (2015) [50]
1.4.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của cây chè Việt Nam
Nghiên cứu về đợt sinh trưởng của chè, tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) [10] cho thấy: Trong năm chè để sinh trưởng tự nhiên có 3 - 5 đợt sinh trưởng, khi đốn hái thì có 6 - 7 đợt sinh trưởng, điều kiện thâm canh cao có thể có từ 8 - 9 đợt sinh trưởng
Trang 32Thời gian sinh trưởng 1 đợt búp trên giống chè Trung du tại Phú Hộ dài hay ngắn phụ thuộc rất lớn vào mùa vụ, vụ xuân búp chè có thời gian sinh trưởng dài nhất và ngắn nhất là vụ hè
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh trưởng búp chè với sản lượng chè theo tác giả Nguyễn Văn Toàn và cs (1994) [29]: sản lượng búp chè do 2 yếu
tố số lượng búp trên cây và khối lượng búp quyết định, trong đó số lượng búp/cây có tương quan chặt hơn đối với sản lượng, đây là yếu tố rất nhạy cảm
có thể thay đổi theo những điều kiện canh tác và các biện pháp kỹ thuật
Quan hệ giữa bộ rễ và tán cây chè theo tác giả Nguyễn Đình Vinh (2002) [34]: vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 rễ bắt đầu sinh trưởng, chỉ sau khi hình thành nên một đợt sinh trưởng rễ nhất định, thì bộ phận trên mặt đất mới lần đầu sinh trưởng Vào mùa thu sau khi kết thúc đợt sinh trưởng của phần trên mặt đất, bộ rễ chè mới bắt đầu sinh trưởng Sự sinh trưởng của bộ rễ mạnh hay yếu có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng búp chè vụ xuân năm sau
Tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) [10] cho rằng: lá chè mọc trên cành chè của các giống khác nhau có thế lá khác nhau, thế lá úp, thế lá nghiêng, thế
lá rủ và thế lá ngang Thế lá ngang và thế lá rủ là đặc trưng của giống chè có năng suất cao
Theo Đỗ Ngọc Quỹ (1980) [22] phân loại lá chè như sau:
Dạng phiến lá căn cứ theo tỷ lệ dài lá/ rộng lá (d/r)
• < 2,5 (hình trứng)
• 2,6-3,0 (trứng thuôn)
• > 3,0 (thuôn mũi mác) Theo Trần Thanh và cs (1984) [27] cho rằng đặc điểm phân cành của cây chè là chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng tới khả năng cho năng suất của giống Những giống chè có độ cao phân cành thấp, số cành cấp 1 nhiều, cành lớn sẽ có bộ khung tán to, khoẻ, có khả năng cho năng suất cao
Trang 331.4.2.3 Nghiên cứu về nhân giống chè
a Nhân giống hữu tính:
Trồng chè bằng hạt rất phổ biến ở nước ta (từ những năm 1980 về trước), người dân thường gieo hạt tại chỗ hoặc trồng cây con không lựa chọn Mặc dù nước ta là quê hương của cây chè nhưng việc trồng chè chưa được quan tâm đúng mức, trồng chè theo lối quảng canh, năng suất, chất lượng không cao
Sử dụng phương pháp nhân giống bằng hạt trong lai tạo đã thu được nhiều kết quả Khi dùng cây mẹ là Đại Bạch Trà, cây bố là PH1, Viện Nghiên cứu Chè đã lai tạo thành công hai giống chè LDP1 và LDP2 có năng suất, chất lượng cao, được Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp & PTNT thông qua
và cho phép khu vực hóa năm 1994, giống LDP1 được công nhận giống quốc gia năm 2003 và giống LDP2 được công nhận giống 2006
Theo tác giả Đỗ Ngọc Quỹ (1980) [22]: Quy trình trồng chè hạt của Bộ Nông nghiệp qui định khoảng cách trồng chè 1,50 x 0,40 m mỗi hốc gieo 5-6 hạt, độ sâu 3-5 cm, gieo dự trữ 5-10%
Tiêu chuẩn hạt chè tốt là hạt chín, tươi, chắc, nặng, to, 1kg hạt chè giống Trung Du có trung bình 500 hạt, giống Shan là 400 hạt Hàm lượng nước trong hạt 25-30%, sức nảy mầm trên 75% (Đỗ Ngọc Quỹ, 1993) [23]
b.Các phương pháp nhân giống vô tính 1- Phương pháp ghép cành
Ở Việt Nam đối với cây chè ghép có thể áp dụng kỹ thuật ghép nêm khi cây làm gốc ghép đạt 3 - 3,5 tháng tuổi
Theo Nguyễn Thị Ngọc Bình (2002) [2], kết quả nghiên cứu phương pháp ghép cho biết: Tỷ lệ sống của mắt ghép đạt từ 53 - 76% tùy thuộc vào phương pháp ghép Tác giả cũng cho rằng cây chè 2 tuổi làm gốc ghép cho kết quả tốt và ghép vào mùa thu có tỷ lệ sống cao đạt tới 80%
Trang 34Trung tâm nghiên cứu chè Bảo Lộc Lâm Đồng đã nghiên cứu thành công kỹ thuật tạo cây chè ghép từ giống TB14 và LĐ19 vào năm 1999, đề tài được hội đồng khoa học tỉnh Lâm Đồng công nhận vào tháng 12/2000
Nghiên cứu về ghép chè tác giả Nguyễn Xuân An (2006) [1], kết luận rằng: Cả 2 phương pháp ghép áp và ghép nêm đều có kết quả tốt, tuy nhiên ghép áp đoạn cành cho kết quả tốt hơn, khả năng phát triển của cành ghép mạnh hơn, tỷ lệ nảy mầm đạt 90,19%, tỉ lệ ghép sống đạt 87,04% Thời gian nảy mầm ngắn 25 đến 39 ngày
2- phương pháp chiết cành:
Nghiên cứu về chiết cành chè lần đầu tiên được Dupasquier nghiên cứu ở Việt Nam vào năm 1921-1923 và Guiraid vào năm 1952 Các tác giả trên đều cho rằng chiết cành chè là phương pháp nhân giống đơn giản nhất so với giâm cành và ghép, tuy nhiên hệ số nhân thấp
3- phương pháp nuôi cấy mô
Nghiên cứu khả năng nuôi cấy mô của một số giống chè cho thấy khả năng nẩy chồi của một số giống chè khi nuôi cấy bằng phôi hạt là như nhau trong khi đó nếu nuôi cấy bằng búp thì các giống chè Shan và giống LDP1 có
tỷ lệ nẩy chồi thấp hơn Các giống chè Shan và giống LDP1, Shan Chất Tiền, Gruzia 3 có khả năng tạo thành phôi vô tính, khả năng tạo chồi và rễ mạnh hơn các giống khác
Trang 35bằng cành giâm Ở các tuổi lớn bộ rễ của cây chè trồng bằng cành phát triển tốt hơn cây chè trồng bằng hạt
Nguyễn Văn Tạo (2004) [26] đã thực hiện dự án (Hoàn thiện qui trình công nghệ nhân giống vô tính giống chè LDP1 & LDP2 bằng giâm hom để chuyển giao cho sản xuất) Kết quả đã xác định được thời vụ để hom thích hợp nhất vào lứa hái chính tháng 8 hàng năm, cắm hom vào tháng 11 - 12, tiêu chuẩn chất lượng hom chè giống quy định có thể sử dụng hom có thân mầu xanh đậm; hom nửa xanh nửa nâu; hom có mầu nâu sáng để giâm vô tính Đến hết năm 2004 diện tích hai giống chè lai LDP1 & LDP2 đã trồng được trên 14 ngàn ha, chiếm khoảng 12% diện tích chè cả nước
Đỗ Văn Ngọc và cs (2010) [16] đã thực hiện dự án “ phát triển giống chè mới giai đoạn 2006 - 2010” đã thu được kết quả như sau: về thời vụ cắm hom ở miền bắc có 2 thời vụ cắm hom tốt vụ thu cắm hom vào tháng 8, vụ đông xuân cắm hom vào tháng 11 - 12, có thể dựa vào thời vụ cắm hom để xác định thời vụ nuôi hom thích hợp trên vườn giống Tiêu chuẩn hom giống khác nhau trên từng giống: đối với giống Shan Chất Tiền, hom loại 1 chiều dài hom 3,5 - 4,5cm, đường kính hom 3 - 4mm, hom loại 2 chiều dài hom 3,5
- 4,5cm, đường kính hom 2,5 -3,0mm Đối với giống chè chất lượng cao hom loại 1 chiều dài hom 3- 4cm, đường kính hom 2,5 - 3mm, hom loại 2 chiều dài hom 3 - 4cm, đường kính hom 2 -2,5mm
Điểm qua các kết quả nghiên cứu về cây chè nhất là các thành tựu của thế giới cho thấy các kết quả đạt được là hết sức to lớn Xét trong hoàn cảnh
cụ thể của nước ta, thì phương pháp lai hữu tính vẫn là một phương pháp có hiệu quả cao song áp dụng trong nghiên cứu chọn tạo giống chè lại chưa nhiều Kỹ thuật lai giống đạt kết quả cao vẫn chưa được làm rõ, chọn lọc, đánh giá các dòng lai qua nhân giống vô tính sơ bộ vẫn là những vấn đề cần được giải quyết thấu đáo
Trang 36Một trong những vai trò to lớn của phương pháp đột biến là tạo ra nguồn vật liệu khởi đầu quí giá phục vụ cho công tác lai tạo Phương pháp gây đột biến có thể tạo ra nguồn vật liệu khởi đầu với số lượng lớn, nguồn biến dị rất phong phú và chỉ trong một thời gian ngắn Tuy nhiên, trong những năm vừa qua những nghiên cứu về chọn tạo giống chè bằng phương pháp đột biến còn hạn hẹp cả về chiều rộng và chiều sâu
Như vậy, chúng ta thấy rằng để tạo ra các sản phẩm mới, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm chè Việt Nam thì phải có những giống chè tốt Để có được bộ giống tốt cho chế biến chè xanh, chè đen và chè Olong cần phải tập trung chọn tạo giống theo phương pháp lai hữu tính và phương pháp gây đột biến nhân tạo hiệu quả nhất, cần phải khai thác nguồn gen quý từ các giống chè nhập nội từ Trung Quốc, Đài Loan, Nhật bản
Trang 37Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1.Vật liệu nghiên cứu
- Gồm 3 giống chè mới chọn tạo: giống Hương Bắc Sơn, giốngVN15; giống TRI5.0 và 3 dòng chè mới Dòng 4.0, Dòng 3.5.1, Dòng 3.5.2
- Giống đối chứng: TRI777 và Kim Tuyên
Các dòng giống chè theo dõi ở tuổi 3 + Đặc điểm giống TRI777: Thuộc loại thân gỗ nhỡ, lá có màu xanh đậm, lá dài, chóp lá nhọn, búp có tuyết Cây sinh trưởng khá, búp to dài, cho năng suất cao Có thể chế biến chè xanh và chè đen chất lượng cao
+ Đặc điểm giống Kim Tuyên: Là giống nhập nội thuộc dạng thân bụi tán hơi đứng mật độ cành dầy, lá hình bầu dục xanh bóng Sử dụng chế biến chè xanh chất lượng cao và chè olong
Đặc điểm nguồn gốc các dòng chè khảo nghiệm:
- Giống chè Hương Bắc Sơn: Được chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính giữa giống chè Kim Tuyên (mẹ) với giống chè Trung Du (bố)
- Gióng chè VN15: Được chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính giữa giống chè Saemidori (mẹ) với giống chè Shan Cù Dề Phùng (bố)
- Giống chè TRI5.0: Được chọn tạo bằng phương pháp gây đột biến, dưới tác nhân vật lý, tia gama với nguồn phóng xạ Co60 ở liều lượng 5,0Kr trên hạt giống chè TRI777
- Dòng chè 4.0: Được chọn tạo bằng phương pháp gây đột biến, dưới tác nhân vật lý, tia gama với nguồn phóng xạ Co60 ở liều lượng 4,0 Kr trên hạt giống chè TRI777
- Dòng chè 3.5.1: Được chọn tạo bằng phương pháp gây đột biến, dưới tác nhân vật lý, tia gama với nguồn phóng xạ Co60 ở liều lượng 3,5 Kr trên hạt
Trang 38- Dòng chè 3.5.2: Được chọn tạo bằng phương pháp gây đột biến, dưới tác nhân vật lý, tia gama với nguồn phóng xạ Co60 ở liều lượng 3,5 Kr trên hạt giống chè TRI777
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Các dòng (giống) chè được trồng tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè - Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc
2.1.3.Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 12/ 2016- 12/2017
2.1.4 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu trên 6 dòng chè có triển vọng, trong đó có
4 dòng chè được gây đột biến từ giống TRI 777 và 2 dòng chè lai hữu tính ở tuổi 3
- Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu các đặc điểm hình thái thực vật học, khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các đặc điểm nông sinh học của các dòng chè mới chọn lọc
- Nghiên cứu tình hình sâu, bệnh hại chủ yếu của các dòng chè mới chọn lọc
- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng chè mới chọn tạo
- Nghiên cứu chất lượng của các dòng chè mới chọn lọc
Trang 392.2.2 Phương pháp nghiên cứu
CT2: Giống VN15CT3: Giống TRI5.0CT4: Dòng 4.0
CT5: Dòng 3.5.1CT6: Dòng 3.5.2CT7: TRI777 (Đ/C)CT8: Kim Tuyên (Đ/C)
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 8 công thức (6 dòng, giống chè mới chọn tạo và 2 giống đối chứng) được bố trí treo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc 6 hàng, mỗi hàng 10 cây, khoảng cách cây x cây: 0,4 m, hàng x hàng: 1,5m diện tích mỗi ô thí nghiệm: 36m2
- Áp dụng các kỹ thuật chăm sóc các dòng chè theo quy trình trồng và chăm sóc và thu hoạch chè 10TCN 48- 2001 (10TCN 446-2001), Bộ Nông nghiệp và PTNT
- Đánh giá các chỉ tiêu chất lượng theo tiêu chuẩn ngành TCVN
3218-2012, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm
- Đánh giá các chỉ tiêu sâu bệnh theo quy chuẩn (QCVN 118:2012/BNN PTNT)
01 Đánh giá các chỉ tiêu hình thái theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định của giống chè (QCVN 01-124:2013/BNN PTNT)
Trang 402.3 Các chỉ tiêu theo dõi
2.3.1 Đặc điểm sinh vật học của các dòng chè mới chọn lọc
Theo các phương pháp quan trắc thí nghiệm đồng ruộng chè 10TCN 745:2006
- Đặc điểm hình thái, sinh trưởng của thân, cành chè:
Để đo đếm, đánh giá được các chỉ tiêu hình thái, sinh trưởng tiến hành lấy mẫu mỗi ô 5 cây theo đường chéo góc (trừ các cây nằm ở mép hàng, ô) Kết quả cần tìm ở mỗi ô là giá trị trung bình của các số liệu thu thập được trên
5 cây lấy mẫu đó
+ Chiều cao cây(cm): chiều cao cây đo từ mặt đất vị trí cao nhất của cây + Đường kính gốc (cm): Đo bằng thước pame cách mặt đất 10cm + Độ rộng tán (cm): Đo vị trí rộng nhất của tán cây ở phần giữa tán theo hàng chè, dùng hai thước dựng đứng song song hai bên mép tán đo độ rộng giữa hai thước
+ Số cành cấp 1: đếm tổng số cành sinh ra từ thân chính
- Đặc điểm hình thái lá
Theo dõi trên 10 lá, các lá trưởng thành đại diện cho giống (theo dõi từ
lá thứ 5) vào thời gian cây sinh trưởng tốt nhất (tháng 5 - tháng 7)
+ Chiều dài lá: đo từ cuống lá tới đỉnh lá (đo 10 lá) + Chiều rộng lá (cm): đo phần rộng nhất của phiến lá (đo 10 lá) + Diện tích lá: dài lá x rộng lá x 0,7(cm2) (tính 10 lá)
+ Hình dạng lá: được căn cứ theo hệ số dài lá/ rộng lá + < 2,5 : hình trứng
+ 2,6 - 3,0 : trứng thuôn + > 3,0: thuôn mũi mác
2.3.2 Diễn biến sâu hại chủ yếu của các dòng chè mới chọn lọc
+ Rầy xanh (con/khay): dùng khay kích thước 25x35x5 cm, láng dầu hoả vào khay, đặt nghiêng khay dưới tán chè (nghiêng 450 so với thân cây), đập 3 đập vào tán chè trên khay Sau đó đếm số con rầy có trong khay