Nghiên cứu của chúng tôi nhằm mục đích thu hẹp khoảng cách này bằng cách xác định những tác động trực tiếp của giáo dục khởi nghiệp đối với ý định khởi nghiệp và giải thích mối quan
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Lý do chọn đề tài
Trong những thập kỷ gần đây, tinh thần khởi nghiệp ngày càng thu hút được sự quan tâm của rất nhiều cá nhân trong đó sinh viên được xem là một trong những lực lượng chủ chốt trong lĩnh vực này, bởi đây được coi là động lực quan trọng của phát triển kinh tế (Nowinski & cộng sự, 2019) Do đó, giáo dục khởi nghiệp đã nổi lên như một công cụ trong đó có các chính sách để kích thích các hoạt động khởi nghiệp và khuyến khích các ý định khởi nghiệp (Đề án 844, 939, 1665 của Chính phủ kích cầu cho lĩnh vực này) Tuy nhiên, không có bằng chứng nào đủ thuyết phục về sự đóng góp của giáo dục khởi nghiệp đối với ý định khởi nghiệp cho dù phần lớn các nghiên cứu trước đây đều tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa giáo dục khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp (Nowinski
& cộng sự, 2019; Piperopoulos & cộng sự, 2015; Wu & cộng sự, 2008) Bằng chứng gần đây cho thấy giáo dục khởi nghiệp cũng có thể có tác động gián tiếp đến ý định khởi nghiệp (De Clercq & cộng sự, 2013; Piperopoulos & Dimov, 2015; Turk & cộng sự,
2020) Tuy nhiên, về tác động tích cực của giáo dục khởi nghiệp đối với ý định khởi nghiệp, vẫn chưa rõ làm thế nào mối quan hệ này được trung gian bởi năng lực bản thân và định hướng học tập Vấn đề này cần được nghiên cứu sâu hơn về cơ chế mà qua đó giáo dục khởi nghiệp góp phần khuyến khích ý định khởi nghiệp, đặc biệt là cách nó tương tác với năng lực bản thân và định hướng học tập của sinh viên Nghiên cứu của chúng tôi nhằm mục đích thu hẹp khoảng cách này bằng cách xác định những tác động trực tiếp của giáo dục khởi nghiệp đối với ý định khởi nghiệp và giải thích mối quan hệ này được trung gian như thế nào bởi định hướng giáo dục và nhận thức năng lực bản thân Bằng cách này, những phát hiện của chúng tôi được kỳ vọng sẽ đóng góp vào cuộc tranh luận học thuật về mối liên hệ giữa giáo dục khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp Chủ đề được khám phá trong nghiên cứu này đã được nghiên cứu kỹ trong bối cảnh phương Tây nhưng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ trong các tài liệu về Châu Á-Thái
Bình Dương (Wu & Wu, 2008) Để kiểm tra các giả thuyết, chúng tôi sử dụng dữ liệu thu thập được từ các sinh viên đại học Việt Nam Trong những năm gần đây, tinh thần khởi nghiệp ở Việt Nam đã phát triển nhanh chóng và được coi là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước Chúng tôi tiến hành thảo luận về những phát hiện chính xoay quanh chủ đề khởi nghiệp và phác thảo ý nghĩa lý thuyết vào thực tiễn Nhận thấy tầm quan trọng của việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong nước, một số yếu tố chính đã được đề xuất, một trong số đó là giáo dục khởi nghiệp Chính phủ Việt Nam đã thực hiện một số hành động nhằm tăng cường hoạt động khởi nghiệp, đặc biệt là hoạt động khởi nghiệp của sinh viên tốt nghiệp đại học (Nguyen, 2019) Ví dụ, vào năm 2017, Chính phủ đã giới thiệu một chương trình quốc gia có tên “Hỗ trợ Sinh viên Khởi nghiệp 2017–2020 với Tầm nhìn Hướng tới 2025” nhằm cung cấp cho sinh viên đại học kiến thức và kỹ năng khởi nghiệp (OECD/ ERIA, 2018)
Hiện nay, trong thời đại công nghệ số đang phát triển trên toàn cầu, thuật ngữ “khởi nghiệp” trở thành một trong những mục tiêu xu hướng chiến lược của toàn xã hội mà trong đó khu vực các trường đại học cũng nhanh chóng trở thành tiêu điểm chung Vấn đề này đang thu hút sự quan tâm và nghiên cứu của các nhà chính sách và học giả nghiên cứu, khởi nghiệp không chỉ tạo ra cơ hội việc làm mà còn đóng góp vào sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, số lượng doanh nghiệp trẻ do các sinh viên khởi nghiệp chỉ số tăng cao theo (Tổng cục thống kê, 2020) và vai trò của khởi nghiệp trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng được nhìn thấy Vì vậy, Chính phủ Việt Nam đã áp dụng nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện và khuyến khích sinh viên khởi nghiệp, đặc biệt là Đề án 844, 939, 1665 của Chính phủ hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia, hỗ trợ phụ nữ, sinh viên khởi nghiệp Năm 2021, Việt Nam xếp thứ 44/132 quốc gia và nền kinh tế về đổi mới sáng tạo toàn cầu
Tại Hội nghị Ngày hội Khởi nghiệp Quốc gia lần thứ V diễn ra vào năm 2023, báo cáo cho thấy tỷ lệ các trường đại học đã bổ sung giáo dục về khởi nghiệp vào chương trình giảng dạy đã tăng lên và 100% cơ sở đào tạo đã thực hiện các hoạt động truyền cảm hứng và nâng cao tinh thần khởi nghiệp Quá trình khởi nghiệp là một hành trình dài và yêu cầu sự đam mê cùng với nỗ lực học tập, tích lũy kinh nghiệm và trải nghiệm không ngừng nhằm nâng cao năng lực cá nhân Một số nghiên cứu xoay quanh chủ đề này đã cho thấy, số lượng sinh viên có ý định khởi nghiệp tăng lên đáng kể sau khi được giáo dục khởi nghiệp, trong đó tư duy khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng (Wardana & Rohman, 2020; Handayati & Narmaditya, 2020) Sau đó, nhiều yếu tố mới được đưa và nghiên cứu với mục đích nâng cao hiệu quả của giáo dục khởi nghiệp: thái độ, nhận thức về năng lực bản thân, cảm hứng, thuộc tính giáo dục… (Cui & Bell, 2021; Mukhtar & cộng sự, 2021; Colombelli & cộng sự, 2022) Trong đó, việc phát triển tư duy chính là yếu tố quan trọng quyết định trong việc hình thành ý định và tạo ra kết quả của hoạt động khởi nghiệp Một nghiên cứu sơ bộ (Davidsson, 1995) tiết lộ rằng mặc dù giáo dục khởi nghiệp có liên quan đến khả năng nhận thức, tuy nhiên nó không ảnh hưởng trực tiếp đến ý định khởi nghiệp Vì vậy, đề tài “NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO
DỤC KHỞI NGHIỆP ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” đã được chúng tôi chọn để nghiên cứu Đề tài của chúng tôi nhằm mục đích xác định những tác động trực tiếp của giáo dục khởi nghiệp đối với ý định khởi nghiệp và giải thích mối quan hệ này được trung gian như thế nào bởi định hướng giáo dục tư duy khởi nghiệp và nhận thức năng lực bản thân Hy vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ làm rõ hơn về hiệu quả của giáo dục khởi nghiệp trong việc thay đổi tư duy của sinh viên thông qua thái độ và nhận thức về khả năng cá nhân trong quá trình khởi nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tư duy khởi nghiệp của sinh viên
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng cũng như vai trò của các yếu tố trong việc giải thích tư duy khởi nghiệp của sinh viên
- Đề xuất các hàm ý quản trị nhằm cải thiện và thúc đẩy hiệu quả trong giáo dục khởi nghiệp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
● Đối tượng nghiên cứu: Những yếu tố tác động đến sự hình thành ý định khởi nghiệp của sinh viên
● Đối tượng khảo sát: Sinh viên đang học tập và làm việc tại các trường Đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
● Phạm vi không gian: Các cơ sở giáo dục dành cho sinh viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
● Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ 08/2023 đến 03/2024
● Phạm vi nội dung: Nghiên cứu tập trung vào các yếu tố tác động đến quyết định hình thành ý định khởi nghiệp của sinh viên
Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng
• Giai đoạn đầu - Nghiên cứu định tính: Lược khảo lý thuyết nhằm xây dựng mô hình cùng thang đo, sau đó xin ý kiến từ chuyên gia nhằm điều chỉnh các nội dung phù hợp với bối cảnh Việt Nam
• Giai đoạn sau - Nghiên cứu định lượng: Thực hiện xây dựng bản khảo sát dựa trên thông tin đã có từ giai đoạn đầu, thu thập thông tin khảo sát từ 350 sinh viên (dự kiến) thông qua “Google Form” Sau khi thu thập đủ quy mô mẫu phù hợp, thực hiện mã hóa và xử lý thông qua các phần mềm có sẵn để kiểm định giả thuyết nghiên cứu và đánh giá mô hình nghiên cứu
● Ý nghĩa khoa học: Hệ thống các cơ sở lý luận liên quan đến đề tài; Xây dựng các yếu tố liên quan đến giáo dục khởi nghiệp ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
● Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài nghiên cứu với nỗ lực điều tra vai trò quan trọng của thái độ sinh viên trước các hoạt động khởi nghiệp, cũng như khả năng nhận thức về năng lực của mỗi sinh viên trong việc giải thích tư duy khởi nghiệp của họ;
Cơ sở thúc đẩy các mục tiêu sinh viên thiết lập các dự án khởi nghiệp kinh doanh mới; Đề xuất hàm ý quản trị giúp các nhà đầu tư, nhà trường triển khai các nhu cầu khởi nghiệp từ đó thúc đẩy được tư duy khởi nghiệp của sinh viên
1.6 Kết cấu của đề tài
Báo cáo có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1 ✦ Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu
✦ Lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài, phương pháp nghiên cứu
Chương 2 ✦ Cơ sở lý thuyết và các khái niệm liên quan
✦ Các mô hình nghiên cứu liên quan
✦ Các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất
Chương 3 ✦ Thiết kế phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng
✦ Xây dựng thang đo, thiết kế bảng câu hỏi ban đầu
✦ Hiệu chỉnh bảng câu hỏi.
Ý nghĩa của nghiên cứu
● Ý nghĩa khoa học: Hệ thống các cơ sở lý luận liên quan đến đề tài; Xây dựng các yếu tố liên quan đến giáo dục khởi nghiệp ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
● Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài nghiên cứu với nỗ lực điều tra vai trò quan trọng của thái độ sinh viên trước các hoạt động khởi nghiệp, cũng như khả năng nhận thức về năng lực của mỗi sinh viên trong việc giải thích tư duy khởi nghiệp của họ;
Cơ sở thúc đẩy các mục tiêu sinh viên thiết lập các dự án khởi nghiệp kinh doanh mới; Đề xuất hàm ý quản trị giúp các nhà đầu tư, nhà trường triển khai các nhu cầu khởi nghiệp từ đó thúc đẩy được tư duy khởi nghiệp của sinh viên.
Kết cấu của đề tài
Báo cáo có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1 ✦ Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu
✦ Lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài, phương pháp nghiên cứu
Chương 2 ✦ Cơ sở lý thuyết và các khái niệm liên quan
✦ Các mô hình nghiên cứu liên quan
✦ Các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất
Chương 3 ✦ Thiết kế phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng
✦ Xây dựng thang đo, thiết kế bảng câu hỏi ban đầu
✦ Hiệu chỉnh bảng câu hỏi.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Các khái niệm liên quan
2.1.1 Giáo dục khởi nghiệp (Entrepreneurship Education)
Một kết quả nghiên cứu về giáo dục (Hansemark, 1998) cho rằng giáo dục truyền thống chỉ được đánh dấu là sự chuyển đổi kiến thức và khả năng, trong khi ngược lại, giáo dục khởi nghiệp được coi là mô hình để thay đổi thái độ và động cơ Giáo dục khởi nghiệp tìm cách đề xuất mọi người, đặc biệt là những người trẻ tuổi, có trách nhiệm cũng như những cá nhân dám nghĩ dám làm đã trở thành doanh nhân hoặc những người có tư tưởng kinh doanh đóng góp cho sự phát triển kinh tế và cộng đồng bền vững
Giáo dục khởi nghiệp là toàn bộ hoạt động giáo dục với mục tiêu cuối cùng là phát triển ý định khởi nghiệp của sinh viên (Li & Wu, 2019) Giáo dục khởi nghiệp giúp sinh viên nâng cao nhận thức và kỹ năng khởi nghiệp, đồng thời cung cấp cho sinh viên những nghề nghiệp thay thế với tư cách là doanh nhân (Ratten & Jones, 2020; Jena, 2020) Ngoài ra, nhóm nhà nghiên cứu (Viaz & Rivera-Cruz, 2020) đưa ra các cách hiểu khác nhau về khái niệm giáo dục khởi nghiệp như một hoạt động dạy và học có thể xác định thái độ khởi nghiệp của sinh như quyền tự chủ, sáng tạo, đổi mới hoặc chấp nhận rủi ro và sáng tạo trong kinh doanh Trong khi đó, giáo dục khởi nghiệp có thể nâng cao khả năng quản lý của sinh viên để hỗ trợ các hoạt động kinh doanh (Wu & Wu, 2008) Mô hình giáo dục khởi nghiệp trong trường đại học trang bị cho sinh viên những kỹ năng để theo đuổi sự nghiệp kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh tài liệu giảng dạy khởi nghiệp Điều này ngụ ý rằng giáo dục khởi nghiệp có mối tương quan chặt chẽ với ý định khởi nghiệp (Hassi, 2016; Khalifa & Dhiaf, 2016)
Hiệp hội Giáo dục Khởi nghiệp (2008) tuyên bố rằng giáo dục khởi nghiệp không chỉ là dạy ai đó điều hành một doanh nghiệp Đó cũng là về việc khuyến khích tư duy sáng tạo và thúc đẩy ý thức mạnh mẽ về giá trị bản thân và trao quyền Thông qua giáo dục khởi nghiệp, sinh viên học cách tạo ra doanh nghiệp, nhưng họ cũng học được nhiều điều hơn nữa Kiến thức cốt lõi được tạo ra thông qua giáo dục khởi nghiệp bao gồm: Khả năng nhận ra các cơ hội trong cuộc sống của một người; Khả năng theo đuổi các cơ hội, bằng cách tạo ra những ý tưởng mới và tìm thấy các nguồn lực cần thiết; Khả năng thành lập và vận hành một công ty mới; Khả năng suy nghĩ một cách sáng tạo
Vì vậy, bên cạnh kiến thức và kỹ năng kinh doanh, giáo dục khởi nghiệp chủ yếu là phát triển niềm tin, giá trị và thái độ nhất định, với mục đích giúp sinh viên thực sự coi khởi nghiệp là một giải pháp thay thế hấp dẫn cho việc làm được trả lương hoặc thất nghiệp (Holmgren & cộng sự, 2004; Sanchez, 2010) Giáo dục khởi nghiệp nhằm tạo cơ hội tìm hiểu về các điều kiện thuận lợi cho việc thành lập doanh nghiệp mới, cũng như các lý thuyết khác nhau liên quan đến loại đặc điểm cần thiết để khởi nghiệp thành công
2.1.2 Nhận thức năng lực bản thân (Self -awareness of capacity)
Khái niệm về năng lực bản thân được xây dựng từ lý thuyết nhận thức xã hội của (Bandura, 1977) và được phát triển bởi Bandura (Bandura, 2012), chứng minh rằng trong hành vi cá nhân được tạo ra bởi một số hoạt động, chẳng hạn như sự tương tác giữa các cá nhân, sự tham gia của các cá nhân và hoàn cảnh Sự tương tác giữa những vấn đề này có thể hình thành niềm tin của một cá nhân trong việc bao gồm khả năng thực hiện một số hành vi nhất định trong những tình huống nhất định và kỳ vọng của họ về kết quả hành vi (Pihie & Bagheri, 2013) Bên cạnh đó, dưới góc nhìn của Bandura, ông cho rằng năng lực bản thân là niềm tin về kỹ năng và năng lực của một cá nhân để hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể (Bandura, 1986) Năng lực bản thân ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn hành động của con người bất kể sự tồn tại của các lựa chọn thay thế, mức độ nỗ lực họ bỏ ra để thực hiện hành động, sự kiên trì của họ khi đối mặt với trở ngại và cơ hội hành động (Pihie & Bagheri, 2013; Shane, 2004) Đứng dưới góc độ kinh doanh, năng lực bản thân được chỉ ra rằng như một quá trình nhận thức xã hội có thể giải thích quan hệ nhân quả giữa nhận thức và cá nhân dưới dạng thái độ kinh doanh (Bandura, 1986) Zhao là học giả đầu tiên kiểm tra chuỗi quan hệ nhân quả tập trung vào năng lực bản thân và tiến trình kinh doanh đã đưa ra kết luận rằng năng lực bản thân như một biến số ảnh hưởng đến hành vi cá nhân, được xác định là một quá trình nhận thức xã hội, có thể giải thích tác động của kiến thức và hành động của các cá nhân dưới dạng thái độ đối với tinh thần kinh doanh (Zhao & cộng sự, 2005) Chính vì thế, mức độ tự tin và sự tự nhận thức năng lực bản thân cao hay thấp có liên quan mật thiết đến khả năng và niềm tin của cá nhân để thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau Sự gia tăng năng lực bản thân dẫn đến sự kiên trì trong sự nghiệp (Mau, 2003), thừa nhận cơ hội trong tinh thần kinh doanh (Ardichvili & cộng sự, 2003) và sự khởi đầu chính là ý định khởi nghiệp Khả năng nhận thức năng lực bản thân là yếu tố thiết yếu ảnh hưởng đến hành vi thông qua quá trình, thiết lập mục tiêu, kỳ vọng kết quả và thách thức trong thời điểm nhen nhóm thực hiện ý định khởi nghiệp Tự nhận thức về xu hướng và khả năng của một cá nhân đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình dự định (Ryan, 1970) Một nghiên cứu của Piperopoulos và Dimov đã khẳng định tác động mạnh mẽ của nhận thức năng lực bản thân đối với hành vi và quyết định của các cá nhân đã thúc đẩy mạnh mẽ hành trình thay đổi tư duy khởi nghiệp và hình thành ý tưởng khởi nghiệp của các cá nhân (Piperopoulos & Dimov, 2015; Zhao & cộng sự, 2005) Ý thức mạnh mẽ về sự nhận thức năng lực bản thân được phát triển thông qua sự thừa nhận hiệu suất hàng ngày và sự tham gia thành thạo (Gist, 1987) Nhận thức năng lực bản thân đúng đắn và mạnh mẽ sẽ dẫn đến tham vọng cao hơn và hiệu quả của những hành động (Herron & Sapienza, 1992) Các tài liệu trước đây về năng lực bản thân trong môi trường kinh doanh cho thấy rằng nó phản ánh niềm tin của các cá nhân và dự đoán ý định bắt đầu kinh doanh mới của họ (Krueger & Brazeal, 1994)
2.1.3 Thái độ đối với khởi nghiệp (Attitude towards entrepreneurship)
Theo kết quả nghiên cứu, nhóm học giả đã định nghĩa thái độ là mức độ đánh giá tích cực hoặc tiêu cực của một người khi thực hiện hành vi nhất định (Ajzen & Madden,
1986) Thái độ đối với khởi nghiệp là mong muốn của một cá nhân trở thành một doanh nhân có trước ý định kinh doanh và nó hình thành ý định của một người để hành xử theo những cách cư xử nhất định Theo nghiên cứu của Doh, ý định khởi nghiệp của sinh viên có thể được điều chỉnh theo hướng tích cực bằng cách cải thiện môi trường đại học liên quan đến việc thiết lập các biện pháp hỗ trợ và cải thiện hình ảnh của doanh nhân (Doh & cộng sự, 1996)
Thái độ đổi với khởi nghiệp có thể được mô tả theo bốn nhận định sau (Carter & cộng sự, 2003):
• Thái độ là quan điểm của một cá nhân về một sự vật và môi trường cụ thể Đó là khuynh hướng của một người đối với sự kiên trì và nhất quán Ngoài ra, xu hướng này có thể được suy ra từ hành vi của cá nhân Tuy nhiên, ý định trong một thái độ không chỉ được phân biệt thông qua hành vi Thái độ bao gồm kiến thức chung và bao gồm nhận thức, cảm xúc, hành động
• Thái độ phải có mục tiêu Mục tiêu của một thái độ là một người hoặc vật cụ thể và cũng có thể là một ý tưởng hoặc suy nghĩ trừu tượng
• Thái độ tương tự như khuynh hướng Khi mọi người giữ thái độ tích cực đối với một mục tiêu nhất định, họ sẽ giữ thái độ tích cực tương tự đối với một mục tiêu tương tự
• Truyền thống văn hóa, môi trường gia đình, môi trường giáo dục của mỗi người là những yếu tố môi trường ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ Nói chung, một thái độ là một tập hợp các đặc điểm cá nhân có thể học được
Thái độ đối với khởi nghiệp có mối quan hệ tích cực với ý định khởi nghiệp, trong đó một người có thái độ tích cực đối với khởi nghiệp có xu hướng thích tự khởi nghiệp hơn (Douglas & Shepherd, 2002; Agolla & cộng sự, 2019) Một người càng có thái độ tích cực đối với khởi nghiệp thì người đó càng có nhiều khả năng thành công Bằng chứng cho thấy thái độ đối với hành vi đó đề cập đến mức độ đánh giá tích cực của một cá nhân về việc bắt đầu kinh doanh mới (Aragon-Sanchez & cộng sự, 2017) Do đó, trong thời kỳ khủng hoảng việc làm, người ta mong đợi những sinh viên có thái độ tích cực đối với ý định khởi nghiệp sẽ có nhiều khả năng theo đuổi hoạt động kinh doanh hơn là những sinh viên có thái độ tiêu cực Hơn nữa, trong các nghiên cứu khác, mối liên hệ giữa thái độ đối với khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp đã được thiết lập (Kebaili & cộng sự,
2017), việc bắt đầu một dự án kinh doanh mới liên quan đến những bất ổn và rủi ro mà chỉ những cá nhân có thái độ tích cực đối với khởi nghiệp mới có thể khắc phục được, trái ngược với những người có thái độ tiêu cực
Tóm lại, thái độ là trạng thái chuẩn bị tinh thần cho bất kỳ chủ đề nào đã biết Đó là ý thức chủ quan chịu tác động của môi trường Thái độ là một loại khuynh hướng lâu dài
Nó có thể là một phong cách riêng có thể được định hình hoặc thay đổi thông qua kinh nghiệm hoặc nghiên cứu Thái độ đối với khởi nghiệp là quan niệm của một cá nhân về khởi nghiệp, đánh giá và khuynh hướng đối với hành vi khởi nghiệp hoặc tự kinh doanh Nếu cá nhân có xu hướng mạnh mẽ để bắt đầu một dự án khởi nghiệp mới, mối quan hệ giữa thái độ và hành vi sẽ mạnh mẽ Do đó, thái độ cá nhân này có khuynh hướng mạnh mẽ đối với công việc khởi nghiệp
2.1.4 Tư duy khởi nghiệp (Entrepreneurship Mindset)
Tư duy khởi nghiệp lần đầu được định nghĩa bởi McGrath & MacMillan (2000, XV) là
Các mô hình nghiên cứu liên quan
2.2.1 Nghiên cứu của Wardana & cộng sự (2020)
Tác động của giáo dục khởi nghiệp và tư duy khởi nghiệp của sinh viên: Vai trò trung gian của thái độ và năng lực bản thân
Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra tác động của giáo dục khởi nghiệp đối với tư duy khởi nghiệp cũng như vai trò trung gian của thái độ và năng lực bản thân Từ nghiên cứu này, có thể khẳng định rằng giáo dục khởi nghiệp có thể ảnh hưởng đến năng lực bản thân, thái độ và tư duy khởi nghiệp của doanh nhân Mặt khác, thái độ khởi nghiệp ảnh hưởng tích cực đến tư duy khởi nghiệp của sinh viên Hơn nữa, thái độ đối với khởi nghị đóng vai trò quan trọng làm trung gian cho cả giáo dục khởi nghiệp và hiệu quả của bản thân đối với tư duy khởi nghiệp của sinh viên Ngoài ra nghiên cứu còn phát biểu rằng, trường đại học cần thay đổi chương trình giảng dạy các khoá học khởi nghiệp bằng cách đưa thực tiễn vào mô hình giảng dạy Trong đó, còn hỗ trợ các sinh viên tạo ra các lợi ích cho một số hoạt động hỗ trợ, bao gồm các vấn đề về phát triển thực thi một dự án, nhằm nhắm đến các điều kiện chung để phát triển Nghiên cứu này mặc dù ở phạm vi các trường đại học ở Indonesia nhưng để lại một hàm ý và cơ sở mới đẩy mạnh thúc đẩy các nghiên cứu tiếp theo
2.2.2 Nghiên cứu của Cui & cộng sự (2021)
Từ ảnh hưởng của giáo dục khởi nghiệp đến tư duy khởi nghiệp của sinh viên Trung Quốc: Vai trò trung gian của nguồn cảm hứng và vai trò của các thuộc tính giáo dục Nghiên cứu này được thiết kế để xem xét tác động của giáo dục khởi nghiệp về tư duy khởi nghiệp của sinh viên trong giáo dục đại học ở Trung Quốc Giáo dục khởi nghiệp ảnh hưởng đến tư duy khởi nghiệp được đo lường bằng cách điều tra bốn biến số của tư duy khởi nghiệp cụ thể: hoạt động ngoại khóa tạo ra ảnh hưởng tích cực đến tư duy khởi nghiệp của họ lớn hơn mục tiêu, một mô hình trung gian được thiết kế để khám phá mối quan hệ giữa giáo dục khởi nghiệp và tư duy khởi nghiệp, các giảng viên hướng dẫn có thể tập trung nhiều hơn vào các yếu tố khơi nguồn cảm hứng trong chương trình giảng dạy Nghiên cứu này được thiết kế để xem xét tác động của giáo dục khởi nghiệp về tư duy khởi nghiệp của sinh viên trong giáo dục đại học ở Trung Quốc để giải quyết vai trò trung gian truyền cảm hứng khởi nghiệp Sự tham gia của sinh viên vào hiểu biết về các kết quả tác động của giáo dục khởi nghiệp mang tính nhận thức sâu sắc và có trước khi có ý định Mặc dù nghiên cứu chỉ ở phạm vi Trung Quốc nhưng về cơ sở lý luận đóng góp các bài nghiên cứu tiếp theo để nghiên cứu sâu thêm về ý định khởi nghiệp của sinh viên thông qua giáo dục khởi nghiệp
2.2.3 Bảng tóm tắt các nghiên cứu liên quan
Bảng 2 1: Bảng tóm tắt các nghiên cứu liên quan
Các biến được sử dụng
Tự nhận thức năng lực bản thân
Thái độ đối với khởi nghiệp
Tính cách cá nhân Ý định khởi nghiệp
Trên đây là bảng tổng hợp lại các biến có xuất hiện trong các bài nghiên cứu có liên quan được nêu ra.
Giả thuyết nghiên cứu và mô hình đề xuất
2.3.1 Mối liên hệ giữa Giáo dục khởi nghiệp và Nhận thức năng lực bản thân
Giáo dục khởi nghiệp đề cập đến “bất kỳ chương trình hoặc quy trình sư phạm nào về giáo dục thái độ và kỹ năng khởi nghiệp” (Fayolle & cộng sự, 2006) Vì mục đích chính của giáo dục khởi nghiệp và giáo dục quản lý là đào tạo sinh viên trở thành nhà quản lý chuyên nghiệp và nêu bật kiến thức kỹ thuật cần thiết để lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp Giáo dục khởi nghiệp tập trung vào nâng cao nhận thức về tinh thần khởi nghiệp, giới thiệu con đường sự nghiệp thay thế và khuyến khích chấp nhận rủi ro liên quan đến quá trình kinh doanh (Linan, 2008) Ahmed & cộng sự (2020) đã xác định các nguồn lực học tập, truyền cảm hứng và ươm tạo là ba lợi ích của giáo dục khởi nghiệp Thông thường, giáo dục khởi nghiệp không chỉ trau dồi một cách khách quan năng lực kinh doanh, giúp thúc đẩy việc tạo ra giá trị và hiệu quả khi khởi nghiệp mạo hiểm (Lackéus,
2014), mà còn tăng cường khả năng kiểm soát nhận thức của sinh viên đối với các hoạt động kinh doanh (Bae & cộng sự, 2014) Do đó, năng lực bản thân đã được sử dụng làm nền tảng lý thuyết chính trong nhiều nghiên cứu về giáo dục và hoạt động khởi nghiệp (Bandura, 1977; Morris & cộng sự, 2005)
Trong bối cảnh này, năng lực bản thân được định nghĩa là “niềm tin của một cá nhân vào khả năng của chính mình để hoàn thành mục tiêu hoặc kết quả” (Tumasjan & Braun,
2012, trang 626) Những cá nhân có niềm tin vào năng lực bản thân cao thường có mức độ tự tin cao về hiệu suất của họ và làm việc tích cực để đạt được mục tiêu của họ (Bandura, 1997) Ajzen lập luận rằng niềm tin vào năng lực bản thân có thể là sản phẩm của việc đánh giá sức mạnh và nhận thức kiểm soát của những người hỗ trợ/ngăn cản đối với một hành vi mục tiêu, điều này cho thấy rằng sự tự tin vào năng lực bản thân là một khái niệm cụ thể về lĩnh vực (Ajzen, 1991)
Nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng năng lực bản thân dựa trên tinh thần khởi nghiệp là một hiện tượng trong thế giới thực (Newman & cộng sự, 2019; Zhao & cộng sự, 2005) Tương tự như định nghĩa về năng lực bản thân, năng lực bản thân của doanh nhân đề cập đến niềm tin của một cá nhân có thể thực hiện thành công các nhiệm vụ khởi nghiệp và đạt được kết quả kinh doanh mục tiêu (Chen & cộng sự, 1998) Bởi vì các hoạt động kinh doanh liên quan đến các nhiệm vụ quản lý khác nhau, các nghiên cứu trước đây đã gợi ý rằng năng lực bản thân của doanh nhân là một cấu trúc đa chiều Hơn nữa, mỗi người đã xác định các mô hình khác nhau cho cấu trúc của sự tự tin vào năng lực bản thân của doanh nhân (Barakat & cộng sự, 2014; McGee & Peterson,2019)
Việc áp dụng giáo dục khởi nghiệp hỗ trợ phát triển năng lực bản thân của doanh nhân trong các khía cạnh làm chủ tích cực, kinh nghiệm gián tiếp, chuẩn mực chủ quan và trạng thái sinh lý đã được đề xuất trong các nghiên cứu trước đây (Bandura, 1997; Wood
& Bandura, 1989) Giáo dục khởi nghiệp có khả năng nâng cao niềm tin vào năng lực bản thân của sinh viên thông qua thực hành chuyên sâu các nhiệm vụ và kỹ năng khởi nghiệp, giới thiệu các hình mẫu thành công, áp dụng thuyết phục xã hội thông qua một nhóm tham khảo và duy trì trạng thái sinh lý tích cực Ajzen cũng có những quan sát tương tự, lưu ý rằng niềm tin kiểm soát, nghĩa là niềm tin vào năng lực bản thân được nâng cao nhờ kinh nghiệm liên quan đến hành vi trong quá khứ (Ajzen, 1991)
Từ những cuộc thảo luận ở trên, các giả thuyết được đề xuất:
Giả thuyết H1: Giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đến khả năng nhận thức năng lực bản thân
2.3.2 Mối liên hệ giữa Giáo dục khởi nghiệp và Thái độ đối với khởi nhiệp
Nhà nghiên cứu Drucker cho rằng thái độ đối với khởi nghiệp có thể học được thông qua đào tạo (Drucker, 1985) và Kuratko cũng xác nhận rằng các đặc điểm tính cách, khả năng và kỹ năng cần thiết để trở thành doanh nhân có thể đạt được thông qua đào tạo (Kuratko, 2014) Giáo dục khởi nghiệp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng thái độ đối với khởi nghiệp, hoài bão, động lực và tinh thần tiên phong, mạo hiểm cho sinh viên đại học để chuẩn bị cho một nghề nghiệp, doanh nghiệp hoặc kế hoạch kinh doanh nhất định Trong những năm gần đây, các trường đại học và các tổ chức bên ngoài có liên quan đã tổ chức nhiều chương trình đào tạo khởi nghiệp khác nhau và các chương trình này đã dần nhận được sự chú ý Những người tham gia mong muốn cải thiện khả năng kinh doanh của họ thông qua các chương trình giáo dục kinh doanh và có được khả năng tạo, nắm bắt và theo đuổi các cơ hội (Roomi & Harrison, 2008)
Trong tâm lý học xã hội, thái độ được định nghĩa là đặc điểm của nhận thức cá nhân, bao gồm đánh giá chủ quan về bản thân, người khác, công việc, hoạt động, sự kiện… khởi nghiệp được cho là sẽ truyền cảm hứng cho chủ nghĩa kinh doanh của một cá nhân và tiếp tục ảnh hưởng đến nhận thức và niềm đam mê khởi nghiệp của họ (O’Cinneide
& Garavan, 1994) Nhóm nghiên cứu khác lập luận rằng giáo dục và đào tạo khởi nghiệp có thể ảnh hưởng đến thái độ và ý định hành vi của mọi người đối với tinh thần khởi nghiệp và cải thiện khả năng quản lý của họ (Lundstrom & Stevenson, 2005) Tóm lại, mục đích của giáo dục khởi nghiệp là giúp mọi người phát triển năng lực kinh doanh, là sự kết hợp giữa kiến thức, thái độ và nhiều khả năng (Fiet, 2001) Do đó, nhận định được đưa ra rằng thái độ đối với tinh thần khởi nghiệp có liên quan chặt chẽ với kinh nghiệm kinh doanh của một cá nhân, việc tự học và đào tạo bên ngoài về tinh thần kinh doanh có thể củng cố nhận thức, thái độ và tinh thần khởi nghiệp của sinh viên đại học
Thái độ đối với khởi nghiệp là niềm tin của một cá nhân để chuẩn bị cho một doanh nghiệp mới và thực sự theo đuổi mục tiêu này (Krueger & cộng sự., 2000) Có thể coi đây là nhận thức hành vi về việc lên kế hoạch để bắt đầu một công việc kinh doanh mới, là điều kiện tiên quyết cho những người khởi nghiệp tiềm năng (Wu & Jung, 2008; Premalatha, 2010) McMullan nhận thấy rằng giáo dục kinh doanh có thể kích thích các ý tưởng và hành vi cần thiết cho tinh thần kinh doanh thông qua việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp (McMullan & cộng sự, 2002) Thông qua nghiên cứu thực nghiệm, học giả Katz tiết lộ rằng giáo dục và đào tạo khởi nghiệp có thể củng cố tinh thần khởi nghiệp của một cá nhân (Katz, 2007) Thông qua cách tiếp cận nghiên cứu tương tự, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng đào tạo kinh doanh có thể củng cố ý định và hành vi kinh doanh của các doanh nhân và cải thiện hiệu quả kinh doanh (Barbosa & cộng sự, 2008) Liên quan đến vai trò của giáo dục khởi nghiệp, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng giáo dục khởi nghiệp góp phần tích cực vào việc trực tiếp hình thành thái độ và hành vi khởi nghiệp (Duong & cộng sự, 2022) Tuy nhiên, giáo dục khởi nghiệp không có tác động đáng kể đến ý định khởi nghiệp, điều này phù hợp với một số nghiên cứu trước đây (Ví dụ: Duong & cộng sự, 2021; Nowinski & cộng sự)
Từ những cuộc thảo luận ở trên, giả thuyết được đề xuất:
Giải thuyết H2: Giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đến thái độ đối với khởi nghiệp
2.3.3 Mối liên hệ giữa Nhận thức năng lực bản thân và Thái độ đối với khởi nghiệp
Albert Bandura, một nhà tâm lý học nổi tiếng, đã định nghĩa năng lực bản thân là tập trung vào khía cạnh nhận thức của cá nhân về khả năng của họ để thực hiện các hành động để đạt được mục tiêu Năng lực bản thân không chỉ đơn thuần là việc sở hữu một tập hợp các kỹ năng cụ thể, mà là sự tự tin của cá nhân trong việc sử dụng những kỹ năng này một cách hiệu quả để đạt được thành công trong mục tiêu của mình Sau đó, Bandura tiếp tục đề xuất rằng năng lực bản thân của một cá nhân có thể điều chỉnh hành động thông qua quá trình nhận thức, động cơ, tình cảm và quyết định của riêng mình thông qua thái độ của cá nhân đối với tình huống (Bandura & Benight, 2004) Sự tự nhận thức của cá nhân về năng lực của bản thân về khả năng hoàn thành một nhiệm vụ có ảnh hưởng ảnh hưởng đáng kể đến thái độ thực tế của họ khi đối diện với các tình huống khởi nghiệp (Bandura A., 1977) Theo thuyết Giá trị-Kỳ vọng, thái độ có tương quan dương với sản phẩm của niềm tin hành vi vào khả năng tự nhận thức năng lực cá nhân Khi các cá nhân tin rằng thực hiện một hành động nào đó có thể đạt được kết quả tích cực, họ sẽ thể hiện sự ưa thích mạnh mẽ hơn đối với hành động này, và sau đó phát triển (Ajzen, 1991) Điều này phản ánh mối quan hệ tích cực giữa hai yếu tố khả năng nhận thức năng lực bản thân và thái độ cá nhân khi có ý định khởi sự nghiệp Sự tự tin vào năng lực bản thân của mỗi cá nhân có thể ảnh hưởng đến hành vi thiết lập mục tiêu và niềm tin của họ để đạt được mục tiêu này (Boyd NG, Vozikis G S., 1994) Một hành vi hiệu quả không chỉ đòi hỏi kiến thức, kỹ năng phù hợp và thái độ, nhưng cũng cần có niềm tin vào khả năng tận dụng chúng (Bandura A., 1999) Krueger & Brazeal (1994) tin rằng năng lực bản thân là một yếu tố dự báo thành tựu kinh doanh và ý định khởi nghiệp, ở một mức độ nào đó được xác định bởi sự hấp dẫn đối với tinh thần kinh doanh và thái độ cá nhân quyết định tới việc đưa ra quyết định
Một số nhà nghiên cứu coi thái độ đối với khởi nghiệp là ý kiến của doanh nhân về khả năng thích ứng, khả năng và hành động trong quá trình khởi nghiệp (Mitchell & cộng sự, 2002) Và cũng xuất hiện định nghĩa thái độ khởi nghiệp là có thể thay đổi nhưng có thể dự đoán được suy nghĩ và cảm xúc của doanh nhân (Van & Bester, 2003) Thái độ hành vi của cá nhân là một yếu tố dự báo ý định hành vi của họ (Petty EE, Brinol P.,
2010) được quyết định chủ yếu bởi khả năng nhận thức năng lực cá nhân trong quá trình ra quyết định Trong Thuyết hành động hợp lý và Thuyết hành vi có kế hoạch, hành vi thái độ được coi là một biến quan trọng giải thích ý định hành vi Cả hai lý thuyết gợi ý rằng niềm tin cơ bản vào hành vi và đánh giá khả năng hậu quả của việc thực hiện hành vi đó là tiền đề của thái độ hành vi (Ajzen & cộng sự, 1980) Năng lực bản thân của doanh nhân phản ánh một sự tin tưởng, thái độ tự tin và đánh giá của cá nhân về các nguồn lực, khả năng và mong muốn kết quả liên quan đến quá trình kinh doanh (Bandura A., 1986) Phát hiện này dường như là nhất quán, trong đó nhận xét rằng một mối tương quan tích cực giữa năng lực bản thân và thái độ khởi nghiệp Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Pihie & Bagheria (2013); Shane (2004); Băng Đô (2012); Piperopoulos & Dimov (2015); Wolters & cộng sự (1996); Triệu & cộng sự
Từ những cuộc thảo luận trên, giả thuyết được đề xuất:
Giả thuyết H3: Nhận thức năng lực bản thân tác động tích cực đến thái độ đối với khởi nghiệp
2.3.4 Mối liên hệ giữa Thái độ đối với khởi nghiệp và Tư duy khởi nghiệp
Một số bài báo nghiên cứu khoa học đã nghiên cứu mối quan hệ giữa thái độ đối với khởi nghiệp và tư duy khởi nghiệp Những nghiên cứu này đã tìm thấy rằng những người có thái độ tích cực đối với khởi nghiệp thường có khả năng phát triển tư duy khởi nghiệp Một nghiên cứu đã phát hiện thấy rằng thái độ đối với khởi nghiệp có tác động tích cực đáng kể đối với tư duy khởi nghiệp trong số sinh viên đại học (Zhao & cộng sự, 2021) Một nghiên cứu khác cho thấy thái độ đối với khởi nghiệp đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa giáo dục khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp (Li & cộng sự, 2023) Điều này ngụ ý rằng giáo dục khởi nghiệp có thể giúp phát triển thái độ tích cực đối với khởi nghiệp, từ đó dẫn đến một tư duy khởi nghiệp mạnh mẽ hơn và ý định bắt đầu một doanh nghiệp Nghiên cứu cũng cho thấy rằng thái độ đối với khởi nghiệp và tư duy khởi nghiệp có thể có tác động tích cực đối với sự thành công trong lĩnh vực khởi nghiệp Nghiên cứu của Cui đã phát hiện rằng thái độ đối với khởi nghiệp và tư duy khởi nghiệp đều có mối quan hệ tích cực với hiệu suất khởi nghiệp trong số các chủ doanh nghiệp nhỏ (Cui & Bell, 2022)