Để khắc phục tình trạng này, bêncạnh việc tăng cường sử dụng TN trong các giờ học, còn đòi hỏi Gv phải thườngxuyên sử dụng và thiết kế các BTTN trong dạy học để Hs có điều kiện phát triể
Trang 11.1 Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường
1.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học – Một nhu cầu tất yếu của xã hội học
1.2 Những xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay 9
1.2.1 Nội dung bài tập gắn liền với thực tiễn, đời sống, xã hội, cộng đồng 10
1.2.2 Nội dung hóa học gắn liền với các kĩ năng thực hành thí nghiệm 10
1.2.3 Nội dung bài tập phải chứa đựng các yếu tố phát triển tư duy 10
1.3 Phân loại bài tập hóa học thực nghiệm và tác dụng của nó trong dạy
1.3.3 Tác dụng của bài tập hóa học thực nghiệm trong dạy học hóa học ở
1.4 Mối quan hệ giữa phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng thực hành
1.4.3 Mối quan hệ giữa phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng thực hành
1.5 Thực trạng việc thiết kế và sử dụng bài tập hóa học thực nghiệm
Trang 22.2.1 Xuất phát từ những kiến thức và kĩ năng thực hành cần kiểm tra 20
2.2.2 Xuất phát từ những sai lầm thường gặp thực hành thí nghiệm 21
2.2.3 Xuất phát từ những bài tập thực nghiệm có sẵn 21
2.3 Thiết kế các dạng bài tập thực nghiệm trong chương trình hóa học
2.3.1 Bài tập hóa học thực nghiệm có tính chất trình bày 24
2.3.2 Bài tập hóa học thực nghiệm có tính chất minh họa và mô phỏng 40
2.3.3 Bài tập hóa học thực nghiệm có tính chất thực hành 57
2.4 Sử dụng bài tập thực nghiệm trong dạy học hóa học 63
2.4.1 Sử dụng bài tập thực nghiệm trong giờ dạy lí thuyết 64
2.4.2 Sử dụng bài tập thực nghiệm trong giờ thực hành thí nghiệm 65
2.4.3 Sử dụng bài tập thực nghiệm trong giờ ôn tập, luyện tập 66
2.4.4 Sử dụng bài tập thực nghiệm trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập 67
3.3.4.3 Phiếu điều tra hứng thú học tập môn hóa học của học sinh 75
3.4.2 Điều tra hứng thú học tập môn hóa học của học sinh sau thực nghiệm 75
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 33.5 Kết quả thực nghiệm 76
Trang 4NHỮNG KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Trang 51 Lí do chọn đề tài
Hoá học là một môn khoa học vừa mang tính trừu tượng vừa mang tính thực
nghiệm Đối tượng mà hóa học nghiên cứu là cấu tạo chất, là nguyên tử, là phân tử,
là phản ứng hóa học diễn ra ở kích thước vi mô nhưng lại là kiến thức cơ bản cần
truyền đạt cho Hs, do đó trong giảng dạy hóa học ta buộc phải dùng những mô hình
ở kích thước vĩ mô, các thí nghiệm để bằng quan sát những biểu hiện bên ngoài mà
tư duy ra tính chất và cấu tạo Vì thế, có thể khẳng định rằng, thí nghiệm hóa học là
rất cần thiết cho dạy học hóa học
Một trong những mục tiêu dạy học hoá học ở trường phổ thông là ngoài việc
cung cấp kiến thức lí thuyết còn phải tạo điều kiện cho Hs phát triển tư duy hoá học
và kĩ năng thực hành hoá học, để từ đó có khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc
sống, đáp ứng yêu cầu giáo dục kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp cho Hs phổ thông
khi ra trường
Thực tế dạy học ở trường PT hiện nay, tuy các kiến thức thực hành đã được
quan tâm nhưng còn rất hạn chế Nguyên nhân của thực tế này thì có nhiều, trong
đó quan trọng là do cơ sở vật chất nhà trường chưa đáp ứng, Gv thường phải dạy
nhiều tiết trong một buổi nên không có thời gian chuẩn bị các TN, Gv thường có
tâm lí “ngại ” thí nghiệm và có xu hướng chủ yếu là “dạy chay” Vì vậy, hầu như rất
ít Gv thực hiện đủ các TN cần thiết trong toàn bộ chương trình, hậu quả dẫn đến hạn
chế phát triển tư duy và kĩ năng thực hành của Hs Để khắc phục tình trạng này, bên
cạnh việc tăng cường sử dụng TN trong các giờ học, còn đòi hỏi Gv phải thường
xuyên sử dụng và thiết kế các BTTN trong dạy học để Hs có điều kiện phát triển tư
duy và trau dồi kĩ năng thực hành hoá học, đặc biệt trong điều kiện không tiến hành
được nhiều TN
Trong thực tiễn dạy học, BTHH đóng vai trò rất quan trọng, nó vừa là mục đích,
vừa là nội dung vừa là phương pháp dạy học hiệu quả, nó không chỉ cung cấp cho
Hs kiến thức, con đường dành lấy kiến thức mà còn mang lại niềm vui của quá trình
khám phá, tìm tòi, phát hiện, của việc tìm ra đáp số, mang lại cho người học một
trạng thái hưng phấn, hứng thú nhận thức
Xu hướng phát triển bài tập hóa học hiện nay là tăng cường khả năng tư duy cho
học sinh ở cả ba phương diện: lý thuyết, thực hành và ứng dụng và giảm đi các bài
tập mang tính chất học thuộc trong các câu hỏi lý thuyết hay là các phép tính toán
học phức tạp trong bài toán hóa học làm giảm đi yếu tố vận dụng rất lý thú của bộ
môn
Bài tập thực nghiệm vừa mang tính chất lý thuyết vừ mang tính chất thực hành
đáp ứng được yêu cầu xu hướng phát triển bài tập trên, đồng thời qua bài tập thực
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 6hành Hs cũng được làm quen với nhiều thí nghiệm, hiện tượng hóa học trong cuộc
sống Muốn giải bài tập thực hành học sinh phải vừa nắm vững lý thuyết vừa nắm
vững các kĩ năng hực hành để tìm phương pháp giải
Tuy nhiên hiện nay, việc sử dụng bài tập thực nghiệm trong dạy học ở trường
PT, tuy đã được quan tâm nhưng chưa được chú trọng, một phần do cơ sở vật chất
của nhà trường phổ thông còn hạn chế, chưa thuận lợi cho việc thực hành thí
nghiệm, một phần nữa là do các tài liệu viết về bài tập thực nghiệm chưa nhiều
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “Xây dựng bài tập thực nghiệm
hóa học lớp 10 (ban cơ bản)”.
Lớp 10 là lớp đầu tiên của bậc THPT, Hs bắt đầu nghiên cứu sâu hơn về hóa
học, cần tạo cho Hs thói quen học tập gắn với thực hành và tạo hứng thú cho Hs khi
gắn kiến thức học được ở nhà trường với thực tế cuộc sống
2.Mục đích nghiên cứu
Nâng cao hiệu quả dạy học hóa học bằng cách thiết kế và sử dụng một số bài tập
thực nghiệm
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài về bài tập hóa học ở trường THPT.
- Điều tra thực trạng việc sử dụng bài tập thự tiễn
- Hứng thú đối với môn hóa học của học sinh trung học phổ thông
- Xây dựng một số bài tập hóa học thực nghiệm lớp 10 cơ bản
- Tiến hành thực nghiệm
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn hóa ở trường THPT.
- Đối tượng nghiên cứu: Bài tập thực nghiệm trong chương trình hóa học 10 cơ
bản
5 Phương pháp nghiên cứu:
+ Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
-Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
-Phương pháp phân loại và hệ thống
-Phương pháp lịch sử
+ Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra giáo dục
- Phương pháp thực nghiệm khoa học
- Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 7+ Các phương pháp xử lý số liệu.
6 Đóng góp mới của đề tài
Xây dựng bài tập thực nghiệm hóa học 10 ứng dụng trong dạy học hóa học Góp
phần hoàn thiện các dạng bài tập ở bậc THPT
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 81.1 Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ
thông hiện nay
1.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học – Một nhu cầu tất yếu của xã hội học
tập
Với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị
trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập với các nước trong khu
vực và trên thế giới đòi hỏi giáo dục phải đào tạo nên những con người Việt Nam
đáp ứng nhu cầu, ngoài những nhu cầu cơ bản về kiến thức, đạo đức và kĩ năng, lớp
người lao động mới trong giai đoạn hiện nay cần đáp ứng các yêu cầu sau:
- Chủ động, năng động sáng tạo, dám nghĩ dám làm
- Sẵn sàng tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin
- Có năng lực tự học, tự tìm hiểu thực tiễn, biết đúc rút kinh nghiệm
- Có khả năng giao tiếp, ứng xử, tham gia các hoạt động xã hội
- Có khả năng hợp tác, hiểu biết pháp luật, có tính kỷ luật
Các phương pháp dạy học cũ tuy đã khẳng định được một số ưu điểm nhất
định, nhưng chủ yếu là truyền thụ một chiều, chưa đáp ứng được hết các nhu cầu
trên, hơn nữa, do sự phát triển của khoa học, xã hội, lượng kiến thức ngày càng tăng
nhanh, trong khi đó thời lượng dạy học thì có giới hạn Do đó, cần phải đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng dạy cách học, cách suy nghĩ, cách tư duy Cụ thể
là:
- Phát huy tính chủ động, sáng tạo trong quá trình nhận thức, vận dụng
- Tạo điều kiện cho Hs tự lực phát hiện, tìm hiểu, đặt vấn đề và giải quyết vấn
đề
- Tăng cường hoạt động theo nhóm
- Tạo điều kiện cho Hs đánh giá và tự đánh giá
- Liên hệ với thực tế, tận dụng kiến thức thực tế của Hs để xây dựng kiến thức
mới
Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học hóa
học nói riêng là một nhu cầu khách quan và tất yếu của xã hội
1.1.2 Những xu hướng dạy học hóa học hiện nay
1.1.2.1 Sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiên đại và áp dụng các thành tựu
của công nghệ thông tin trong dạy học
Trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đã làm xuất hiện
những phương tiện dạy học hiện đại với nhiều chức năng hỗ trợ cho việc dạy học
đạt kết quả tốt hơn như: Phòng đa chức năng, giáo án điện tử, thư viện điện tử, bài
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 9giảng điện tử, bài giảng trực tuyến, phần mềm nghiên cứu dạy học, phần mềm thí
nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, phần mềm kiểm tra trắc nghiệm…
Khai thác và sử dụng có hiệu quả các phương tiện kĩ thuật hiện đại sẽ tạo nên
phương pháp dạy học mới giúp việc dạy học trở nên dễ dàng hơn và đạt hiệu quả tốt
hơn
1.1.2.2 Khai thác đặc thù môn hoá học tạo ra các hình thức hoạt động đa
dạng, phong phú giúp HS chủ động chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng.
Với đặc trưng là môn khoa học thực nghiệm, do đó trong dạy học hoá học cần
tăng cường các phương tiện trực quan, đặc biệt là thí nghiệm hoá học Sử dụng phối
hợp nhiều hình thức hoạt động của Hs, nhiều phương pháp dạy học của Gv trong đó
chú trong phương pháp trực quan, sử dụng thường xuyên tổ hợp các phương pháp
dạy học phức hợp nhằm giúp Hs học tập chủ động, tích cực, sáng tạo
1.1.2.3 Khai thác triệt để các nội dung bài dạy theo hướng liên hệ với thực tế.
Việc khai thác nội dung học tập theo hướng liên hệ với thực tế cuộc sống sẽ làm
cho bài học có tính ứng dụng cao, kích thích hứng thú ở Hs, đặc biệt với môn hoá
học là một môn học mà đối với nhiều Hs là quá khô khan và kém hấp dẫn Một số
nội dung cần khai thác liên hệ thực tế như: Hoá học với ứng dụng trong đời sống;
hoá học với sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; hoá học với môi trường; hoá học
với sức khoẻ; hoá học với phát triển kinh tế, du lịch, quốc phòng…
1.1.2.4 Tăng cường sử dụng các bài tập có tác dụng phát triển tư duy và rèn
luyện kĩ năng thực hành hoá học.
Bài tập là một phần không thể thiếu trong dạy học nói chung và dạy học hoá học
nói riêng, việc sử dụng bài tập trong dạy học có nhiều tác dụng to lớn, hoá học là
môn khoa học thực nghiệm do đó việc sử dụng các bài tập hoá học có tác dụng phát
triển tư duy và rèn luyện kĩ năng thực hành là một xu hướng dạy học cần được quan
tâm
Để phát triển mặt mạnh của bài tập hoá học trong dạy học hoá học, đòi hỏi Gv
phải biết thiết kế và sử dụng các loại bài tập hoá học có tác dụng phát triển tư duy
và rèn luyện kĩ năng thực hành hoá học, đáp ứng yêu cầu môn học
1.2 Những xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay
Bài tập hoá học là phương tiện để dạy Hs tập vận dụng kiến thức Một trong
những tiêu chí đánh giá sự lĩnh hội tri thức hoá học là kĩ năng áp dụng tri thức để
giải quyết các bài tập hoá học chứ không phải là kĩ năng kể lại tài liệu đã học Bài
tập hoá học là một trong những phương tiện có hiệu quả để giảng dạy môn hoá, tăng
cường và định hướng hoạt dộng tư duy của Hs
Nội dung BTHH hiện nay cần đáp ứng các yêu cầu sau:
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 101.2.1 Nội dung bài tập gắn liền với thực tiễn, đời sống, xã hội, cộng đồng
Điều 28 luật giáo dục (2005) nước ta đã nêu: “Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực,tự giác, chủ động, sáng tạo của Hs, phù hợp với đặc
điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học… rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú
học tập cho Hs” Việc vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực tế cuộc sống, việc giải
các bài tập thực tiễn sẽ làm phát triển ở Hs tính tích cực, chủ động, tự lập, kích thích
hứng thú, niềm say mê học tập ở Hs, đó là điểm xuất phát của sự vượt khó, của khả
năng sáng tạo
Việc sử dụng BTHH có nội dung gắn với thực tiễn cũng góp phần thực hiện
nguyên lí giáo dục của Đảng: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động
sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn”.
1.2.2 Nội dung hóa học gắn liền với các kĩ năng thực hành thí nghiệm
Do yêu cầu đổi mới đất nước theo hướng hiện đại, hoà nhập với cộng đồng quốc
tế nên mục tiêu giáo giục cũng phải thay đổi Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX đã
nêu : “Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự
đào tạo của người học, coi trọng thực hành, TN, làm chủ kiến thức…”
Trong trường PT, TN hoá học là một phần không thể thiếu, giúp Hs làm quen
với tác phong làm việc khoa học, rèn luyện đức tính cẩn thận, kiên nhẫn, làm việc
nguyên tắc, TN hoá học còn củng cố niềm tin vào khoa học Với hoá học, TN giữ
vai trò như một bộ phận không thể tách rời Việc xây dựng BTHH gắn liền với TN
sẽ cung cấp, củng cố kĩ năng, kĩ xảo, các thao tác thực hành là điều rất cần thiết
1.2.3 Nội dung bài tập phải chứa đựng các yếu tố phát triển tư duy
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, yêu cầu cấp thiết với giáo dục là phải đào tạo
ra những con người có kiến thức, trí tuệ phát triển, thông minh, năng động, sáng tạo,
đáp ứng nhu cầu xã hội BTHH không thể tách rời mục tiêu trên BTHH theo định
hướng giáo dục hiện nay cần ngắn gọn, súc tích, không nặng nề thuật toán mà tập
trung rèn luyện, phát triển nhận thức, tư duy cho người học
Như vậy, xu hướng phát triển của BTHH hiện nay là tăng cường khả năng tư
duy cho Hs ở cả 3 phương diện: lí thuyết, thực hành và ứng dụng Hạn chế sử dụng
những BT có tính chất học thuộc trong các câu hỏi lí thuyết hoặc sử dụng công cụ
toán học phức tạp trong các BT tính toán
1.3 Phân loại bài tập hóa học thực nghiệm và tác dụng của nó trong dạy
học hóa học ở trường phổ thông
1.3.1.Khái niệm bài tập thực nghiệm
Trong từ điển tiếng Việt, “bài tập” là những bài để tập làm
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 11Trong tài liệu lí luận dạy học tác giả Nguyễn Xuân Trinh phân loại bài tập hóa
học thành: Bài tập định lượng (bài toán hoá học), bài tập lý thuyết, bài tập thực
nghiệm và bài tập tổng hợp Còn các nhà lý luận dạy học của Liên Xô cũ lại cho
rằng: Bài tập là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời
cả bài toán và câu hỏi, mà trong khi hoàn thành chúng, Hs nắm được một tri thức
hay kĩ năng nhất định hoặc hoàn thiện chúng Câu hỏi đó là những bài làm mà khi
hoàn thành chúng, Hs phải tiến hành hoạt động tái hiện bất luận trả lời miệng, trả lời
viết hay kèm theo thực hành hoặc xác minh bằng thực nghiệm Bài toán đó là bài
làm mà khi hoàn thành chúng Hs phải tiến hành một hoạt động sáng tạo, bất luận
hình thức hòan thành bài toán là trả lời miệng hay viết, thực hành, thí nghiệm, bất
cứ bài toán nào cũng xếp vào hai nhóm bài toán định lượng (có tính toán) và định
tính.[18, tr.27]
Ở nước ta, theo cách dùng tên sách “Bài tập hóa học 10”, “Bài tập hóa học
11”…thì thuật ngữ bài tập có sự tương đồng với quan niệm trên
Vậy, bài tập hóa học là khái niệm bao hàm tất cả, giải bài tập hóa học Hs không
chỉ đơn thuần là vận dụng kiến thức cũ mà còn tìm kiếm kiến thức mới, và vận dụng
kiến thức cũ trong những tình huống mới
Bài tập thực nghiệm hóa học là bài tập hóa học gắn liền với các phương pháp và
kĩ năng làm thí nghiệm, khả năng quan sát và mô tả các hiện tượng xảy ra trong thí
nghiệm Bao gồm các bài tập về tổng hợp và điều chế các chất, giải thích và mô tả
các hiện tượng, phân biệt và nhận biết các chất, tách và tinh chế các chất, Một số
nội dung trong các bài tập trên gắn liền với các vấn đề sản xuất, kinh tế và môi
trường
1.3.2 Phân loại bài tập hóa học thực nghiệm
1.3.2.1 Bài tập hóa học thực nghiệm được thực hiện bằng thí nghiệm
Là dạng BTTN mà khi giải người giải phải tiến hành thí nghiệm
Ví dụ :
Rót vào ống nghiệm khoảng 1ml dung dịch NaBr, nhỏ tiếp vào ống vài giọt
nước clo mới điều chế được, lắc nhẹ, quan sát, nêu hiện tượng, giải thích và kết luận
về tính oxi hoá của brom so với clo
Phân tích:
Hiện tượng: Dd chuyển dần sang màu vàng
Giải thích: Do brom tạo thành làm vàng Dd:
Cl2 + 2NaBr → 2NaCl + Br2Kết luận: tính oxi hoá của brom yếu hơn clo
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 12Khi giải BT này, học sinh cần phải trực tiếp tiến hành các thao tác thí nghiệm,
sử dụng các kiến thức đã học để trả lời các câu hỏi
1.3.2.2 Bài tập hóa học thực nghiệm được thực hiện bằng thí nghiệm mô
phỏng, qua các băng hình, máy vi tính với những thí nghiệm phức tạp, khó thực
hiện, thời gian tiến hành lâu, thí nghiệm độc hại
Là những BTHH mà khi giải phải sử dụng băng hình, phần mềm để giải
Thường dùng với những quá trình xảy ra chậm, cần nhiều thời gian hoặc những thí
nghiệm mà độ an toàn thấp
Ví dụ :
Hãy xem đoạn video về quy trình sản xuất axit sunfuric trong công nghiệp theo
phương pháp tiếp xúc kép sau (hình 1.1.)
Hình 1.1
a Vì sao giai đoạn tinh chế khí SO2 là giai đoạn quan trọng nhất?
b Vì sao giai đoạn oxi hoá SO2 thành SO3 cần duy trì nhiệt độ 4500C – 5000C?
c Vì sao dùng axit sunfuric đặc để hấp thụ SO3?
Hướng dẫn:
a tinh chế SO2 không chỉ loại bỏ tạp chất và bụi mà còn loại bỏ các chất độc có
hại với chất xúc tác, đặc biệt loại bỏ asen là chất làm tê liệt chất xúc tác
b Vì phản ứng oxi hoá SO2 thành SO3 là phản ứng thuận nghịch toả nhiệt, ở
nhiệt độ thấp phản ứng xảy ra chậm, còn ở nhiệt độ cao phản ứng chuyển dịch theo
chiều nghịch, mức nhiệt độ phù hợp là 4500C – 5000C
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 13c Vì axit sunfuric đặc hấp thụ vô hạn SO3 tạo thành oleum, từ oleum có thể dễ
dàng thu được Dd axit sunfuric ở nhiều mức nồng độ khác nhau bằng cách thêm
lượng nước phù hợp
Khi giải BT này, Hs cần theo dõi đoạn video và vận dụng kiến thức đã học để
trả lời, đồng thời khắc sâu thêm kiến thức về sản xuất axit sunfuric trong công
nghiệp theo phương pháp tiếp xúc
1.3.2.3 Bài tập hóa học thực nghiệm chỉ được mô phỏng bằng lý thuyết Hs phải
vận dụng những kiến thức về lý thuyết và hiện tượng đã biết để giải
Đây là BTTN mà người giải chỉ cần trình bày cách tiến hành các thao tác thí
nghiệm mà không phải làm thí nghiệm
Ví dụ :
Trong PTN, có 4 lọ hoá chất mất nhãn làn lượt chứa một trong các sau: NaCl,
NaBr, NaF, NaI Hãy trình bày phương pháp hoá học để nhận biết các lọ Dd trên
Phân tích:
Trích mẫu thử từ các lọ vào các ống nghiệm riêng rẽ
Nhỏ vào các mẫu thử vài giọt Dd bạc nitrat AgNO3 , quan sát hiện tượng:
- Mẫu có xuất hiện kết tủa màu trắng thì lọ Dd chứa mẫu là lọ Dd NaCl
- Mẫu có kết tủa màu vàng thì lọ Dd chứa mẫu là lọ Dd NaI hoặc NaBr
- Mẫu không có hiện tượng gì thì lọ Dd chứa mẫu là lọ Dd NaF
Tiếp tục trích mẫu thử ở 2 lọ mà thí nghiệm trên cho kết tủa vàng rồi nhỏ vào
mẫu thử vài giọt brom và một giọt hồ tinh bột, lắc nhẹ
- Mẫu chuyển sang màu xanh thì lọ Dd chứa mẫu là lọ Dd NaI
- Còn lại là Dd NaBr
Khi giải bài tập dạng này, người giải không phải tiến hành thí nghiệm nhưng
cần sử dụng kiến thức đã học các kiến thức kĩ năng thực hành đã có để trả lời
1.3.2.4 Bài tập hóa học thực nghiệm được tiến hành qua hình vẽ
Ví dụ 1 : Cho các hoá chất: Cu, H2SO4 đặc nóng Các dụng cụ thí nghiệm: bình
cầu, ống dẫn, phễu, giá thí nghiệm, bình tam giác, bông tẩm dung dịch NaOH đặc
Hãy vẽ sơ đồ thí nghiệm điều chế khí SO2
Trang 14Hình 1.2
Ví dụ 2 : (Đề thi ĐH khối A năm 2014)
Cho hình vẽ mô tả thí nghiệm điều chế khí Y từ dung dịch X (hình 1.3)
Ta thấy đây là phương pháp thu chất bằng cách đẩy nước nên chất tạo thành
muốn thu lấy không được tan cũng như phản ứng được với H2O Chỉ có đáp án C
sinh ra khí C2H4 thỏa mãn Chú ý khí CH4 cũng thỏa mãn nhưng sơ đồ điều chế từ
chất lỏng còn đáp án D là chất rắn
Khi giải BT dạng này, Hs cần phân tích thí nghiệm dựa trên hình vẽ để giải
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 151.3.3 Tác dụng của bài tập hóa học thực nghiệm trong dạy học hóa học ở
trường phổ thông
Theo M.A Đanhilop, nhà lí luận dạy học Xô Viết: “Kiến thức sẽ được nắm
vững thật sự nếu Hs có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những
bài tập lí thuyết và thực hành” [15, tr.17] Bài tập nói chung và bài tập hóa học nói
riêng vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu
nghiệm, nó cung cấp cho Hs không chỉ kiến thức mà cả con đường dành lấy kiến
thức và mang lại niềm vui sướng của sự phát hiện, vận dụng kiến thức, của việc tìm
ra đáp số Do vậy, việc sử dụng bài tập thực nghiệm ứng dụng trong dạy học hóa
học có các tác dụng to lớn sau:
- Phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện tư duy từ lí thuyết đến thực hành và
ngược lại từ đó xác nhận những thao tác kĩ năng thực hành hợp lí
- Rèn luyện kĩ năng sử dụng dụng cụ hoá chất, các dụng cụ thí nghiệm và
phương pháp thiết kế thí nghiệm
- Rèn luyện các thao tác, kĩ năng thực hành cần thiết trong PTN (cân, đong,
nung, đun nóng, sấy, hoà tan, lọc, chiết,…) góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng
hợp cho Hs
- Rèn luyện khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, tạo sự say mê
học tập hoá học cho Hs
- Giáo dục tư tưởng, đạo đức, tác phong lao động: rèn luyện tính kiên nhẫn,
trung thực, sáng tạo, chính xác, khoa học; rèn luyện tác phong lao động có tổ chức,
có kế hoạch, có kỉ luật, có văn hoá…
1.4 Mối quan hệ giữa phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng thực hành
trong bài tập hóa học thực nghiệm
1.4.1 Tư duy và tư duy hóa học
Theo tài liệu tâm lí học và giáo dục học: Tư duy là quá trình tâm lí phản ánh
các thuộc tính bản chất, những mối quan hệ và liên hệ mang tính quy luật của sự
vật và hiện tượng trong thế giới khách quan.
Theo logic học: Tư duy là quá trình phản ánh hiện thực một cách gián tiếp và
khái quát Sự phản ánh thế giới xung quanh bằng tư duy là giai đoạn nhận thức lí
tính.
Cho dù xem xét ở góc độ nào thì vẫn thống nhất với nhau ở những nhận định về
bản chất: Tư duy là hoạt động trí tuệ giúp con người tạo ra hoặc giải quyết một vấn
đề, đưa ra một quyết định hoặc có thêm một sự hiểu biết Đó là tìm kiếm cái mới từ
những kiến thức và kinh nghiệm đã có
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 16Tư duy hoá học là quá trình tâm lý phản ánh các thuộc tính bản chất, các mối
quan hệ và liên hệ mang tính quy luật của các chất và các hiện tượng hoá học xảy ra
trong tự nhiên, phản ánh thông qua các khái niệm hoá học, các quá trình hoá học và
các định luật hoá học Tư duy hoá học giúp con người vận dụng các quy luật hoá
học để cải tạo thế giới và phục vụ cuộc sống con người.[15, tr.25]
1.4.2 Kĩ năng thực hành hóa học
1.4.2.1 Kĩ năng
Theo M.A Đanhilop: “Kĩ năng là khả năng con người biết sử dụng có mục đích
và sáng tạo những kiến thức của mình trong hoạt động lí thuyết cũng như thực tiễn,
kĩ năng bao giờ cũng xuất phát tư kiến thức và dựa trên kiến thức, kĩ năng chính là
kiến thức trong hành động” [15, tr.27]
1.4.2.2.Kĩ năng thực hành hóa học
Kĩ năng thực hành hoá học bao gồm các kĩ năng thí nghiệm và kĩ năng ứng
dụng hoá học trong thực tiễn Ở bậc phổ thông cần đạt được cho HS những kĩ năng
cơ bản sau:
- Kĩ năng thực hiện an toàn và khoa học nội quy, quy tắc phòng thí nghiệm
- Kĩ năng sử dụng một số dụng cụ thí nghiệm đơn giản
- Kĩ năng làm việc với một số hoá chất thường gặp
- Kĩ năng thực hiện một số thao tác cơ bản trong thực hành hoá học
- Kĩ năng xác định các đại lượng vật lí
- Kĩ năng lắp đặt dụng cụ
- Kĩ năng giải thích hiện tượng, vận dụng kiến thức hoá học vào thực hành và
thực tiễn
- Kĩ năng chế tạo dụng cụ
1.4.3 Mối quan hệ giữa phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng thực hành
trong bài tập hóa học thực nghiệm
Bài tập hoá học thực nghiệm luôn chứa đựng các vấn đề hoá học, giải BTHHTN
có nghĩa là đi tìm mối quan hệ giữa tư duy lí thuyết hoá học và kĩ năng thực hành
hoá học Sau đây là cấu trúc chung của một bài tập hoá học thực nghiệm (hình 1.4):
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 17Hình 1.4 Cấu trúc chung của bài tập hoá học thực nghiệm [15, tr.34]
Như vậy, lời giải của các BTHHTN luôn phải chứa đựng các thao tác tư duy và
kĩ năng thực hành cho dù không nhất thiết phải tiến hành thực nghiệm Đó lá kết
quả của phương pháp tư duy từ lí thuyết đến thực hành và ngược lại M.A Đanilop
cũng đã nêu lên mối liên hệ mật thiết giữa kiến thức và kĩ năng: “Kiến thức là cơ sở,
là nền tảng để hình thành kĩ năng, nhưng ngược lại, việc nắm vững kĩ năng sẽ có
tác dụng trở lại giúp kiến thức trở nên sống động, linh hoạt hơn” [15, tr.34] Trong
dạy học hoá học cũng đã khẳng định: Không có tri thức sẽ không có kĩ năng, không
có việc áp dụng tri thức sẽ không đạt được sự phát triển kĩ năng Ngược lại, nếu chỉ
có tri thức mà không có kĩ năng, không biết áp dụng tri thức thì những kĩ năng đó
1.5.1.2 Nội dung điều tra
- Điều tra hứng thú học tập hoá học ở trường THPT
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 18- Điều tra về việc sử dụng BTHH có nội dung liên quan đến thực nghiệm ở
trường THPT
1.5.1.3 Đối tượng điều tra
- Các Gv giảng dạy môn hoá học ở các trường THPT ở huyện Nghi Xuân gồm
các trường : THPT Nghi Xuân, THPT Nguyễn Du
- Học sinh thuộc 2 trường ở huyện Nghi Xuân
1.5.1.4.Phương pháp điều tra
- Gặp gỡ trực tiếp và nói chuyện với Gv, Hs và cán bộ quản lí thiết bị
- Phát phiếu thăm dò cho Gv, Hs
1.5.1.5.Kết quả điều tra
Từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2013 tôi đã gặp gỡ, trao đổi và phát phiếu điều tra
và thu được kết quả như sau:
- Đa số Hs có hứng thú nhất với môn hoá ở nội dung liên quan đến thực
nghiệm
- Các Gv đều đồng tình rằng việc sử dụng BTTN sẽ làm tăng hứng thú học tập
ở Hs
- Các Gv chủ yếu sử dụng các BT có sẵn trong các tài liệu và thường chỉ sử
dụng BTTN dạng trình bày, nghĩa là việc ra đề và giải bài tập chủ yếu chỉ viết trên
giấy
- Đa số Gv và Hs đều nhận xét BTHH sử dụng chủ yếu là kiểm tra về lí thuyết
và BT tính toán, ít BT thực nghiệm
1.5.2 Đánh giá – Nhận xét
Từ kết quả điều tra trên, tôi nhận thấy rằng tuy BTHH dạng thực nghiệm là một
phần quan trọng khi dạy học bộ môn hoá học nhưng việc sử dụng dạng BT này còn
rất nhiều hạn chế, mà lí do một phần là vì Gv phụ thuộc nhiều vào tài liệu có sẵn, do
đó BT kém đa dạng, làm giảm hứng thú học tập của Hs
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 19TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương I, tôi đã trình bày về các nội dung sau:
1 Xu hướng đổi mới PPDH ở trường PT
Trong phần này, tôi tìm hiểu về yêu cầu đổi mới, mục tiêu đổi mới, những xu
hướng đổi mới PPDH hiện nay
2 Những xu hướng phát triển của BTHH hiện nay
3 Phân loại và ý nghĩa của BTTN trong dạy học hoá học
4 Mối quan hệ giữa rèn luyện kĩ năng thực hành và sự phát triển tư duy trong
BTTN hoá học
5 Thực trạng việc thiết kế, sử dụng BTTN trong dạy học hoá học ở trường PT
Các nội dung trên là cơ sở để tôi đề ra phương pháp thực nghiệm, các bước
nghiên cứu tiếp theo của đề tài
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 20Các dữ kiện lí thuyết và thực nghiệm Các kết luận về lí thuyết và thực nghiệm
2.Kĩ năng thực hành
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC NGHIỆM
HÓA HỌC LỚP 10 2.1 Cơ sở và nguyên tắc thiết kế bài tập hóa học thực nghiệm
2.1.1 Cơ sở
Một BTHHTN có cấu tạo như sau:
Từ cấu trúc trên có thể suy ra có hai cơ sở quan trọng để thiết kế BTHHTN
- Cơ sở lí thuyết: Bao gồm các nội dung hoá học cần kiểm tra
- Cơ sở thực nghiệm: Bao gồm các nội dung thực nghiệm và các kĩ năng thực
hành cần kiểm tra
Như vậy để thiết kế BTHHTN có thể xuất phát từ:
- Những kiến thức và kĩ năng cần kiểm tra
- Những sai lầm về lí thuyết và thực hành mà Hs thường mắc phải
- Một số BT cơ bản có sẵn
2.1.2 Nguyên tắc
- Cần phải bám sát mục đích, yêu cầu của kiến thức
- Các bài tập được sử dụng từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, chú ý đến
hoàn cảnh sống của Hs và cơ sở vật chất của nhà trường
- Hệ thống bài tập cần phù hợp với khả năng, trình độ nhận thức của Hs
- Hệ thống bài tập phải phát huy được tính tích cực nhận thức và khả năng tư
Để kiểm tra nội dung kiến thức về cách pha loãng Dd H2SO4 đặc có thể sử dụng
bài tập: H2SO4 là một hoá chất quan trọng trong công nghiệp, nó cũng thường được
dùng trong PTN và thường ở dạng Dd đặc Hãy nêu cách tiến hành để pha loãng Dd
H2SO4 đặc
Phân tích:
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 21Dùng một lượng nước cất và một lượng Dd H2SO4 đặc vừa đủ, rót từ từ Dd
H2SO4 dọc theo đũa thuỷ tinh xuống cốc nước đồng thời khuấy đều Không được
làm ngược lại
Giải thích: Quá trình hoà tan vào nước của H2SO4 toả nhiệt mạnh do đó cần tiến
hành như trên để lượng nhiệt toả ra được trung hoà bớt, tránh làm ngược lại gây sôi
đột ngột làm bắn axi ra ngoài rất nguy hiểm
Khi giải BT này Hs sẽ nhớ lại kiến thức đã đọc về cách pha loãng Dd H2SO4
trong sgk, từ đó khắc sâu, nhớ lâu kiến thức này
Ví dụ 2: Để kiểm tra kiến thức về đảm bảo an toàn khi làm thí nghiệm phản ứng
giữa chất rắn và chất khí trong ống nghiệm hoặc bình, ta có thể ra bài tập sau:
Giải thích tại sao khi tiến hành các phản ứng hoá học giữa chất rắn và chất khí,
kèm theo đun nóng thì bình đựng khí phải có một ít nước hoặc một ít cát, ví dụ khi
thực hiện phản ứng giữa natri với oxi, natri với clo, sắt với oxi, sắt với clo
Phân tích:
Vì khi đốt nóng hoặc đun nóng chảy (kim loại kiềm) sau đó cho vào bình đựng
khí, các phản ứng toả nhiệt, sản phẩm sinh ra rơi xuống bình có thể làm vỡ bình
2.2.2 Xuất phát từ những sai lầm thường gặp thực hành thí nghiệm
Ví dụ 1: Từ đặc điểm thường không chú ý đến độ nghiêng của ống nghiệm, ta
có thể ra bài tập sau: Trong các hình vẽ sau (hình 2.1, hình 2.1), hình vẽ nào mô tả
đúng cách điều chế và thu khí oxi trong phòng thí nghiệm, hãy giải thích?
Phân tích:
Hình 2.2 là cách lắp đặt đúng để điều chế khí oxi và thu được oxi tinh khiết hơn,
do O2 nặng hơn không khí nên lắp nghiêng xuống để khí dễ thoát ra đồng thời đề
phòng hơi nước rơi xuống đáy ống nghiệm làm vỡ đáy, phương pháp đẩy nước cũng
tránh được sự lẫn không khí trong khí oxi tạo thành
2.2.3 Xuất phát từ những bài tập thực nghiệm có sẵn
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 22Áp dụng phương pháp grap kết hợp với tiếp cận modul, chúng ta có thể biến đổi
nội dung BT có sẵn thành nhiều BT khác nhau theo 6 nguyên tắc sau đây:
1 Nghịch đảo giữa các điều kiện và yêu cầu
2 Thay đổi điều kiện
3 Thay đổi yêu cầu
4 Thay đổi cả điều kiện và yêu cầu,
5 Tổ hợp nhiều BT
6 Chuyển BT tự luận sang các BT trắc nghiệm khách quan
Ví dụ 1:
Về nội dung làm sạch khí clo sau khi điều chế Ta có bài tập sau:
Khi điều chế clo trong PTN (từ HClđ và KMnO4 hoặc MnO2) sản phẩm sinh ra
lẫn HCl dư và hơi H2O để loại bỏ HCl dư và hơi H2O người ta dẫn hỗn hợp sản
Mức độ 1: Trong phòng thí nghiệm người ta thường tiến hành điều chế khí clo
tinh khiết theo hình vẽ (hình 2.3) Hãy giải thích tại sao lại phải mắc sơ đồ thí
Trang 23Khí clo điều chế được có lẫn khí HCl, hơi nước nên phải dẫn qua dung dịch
NaCl để hấp thụ HCl và H2SO4 đặc để hấp thụ hơi nước Khí clo nặng hơn không
khí và không tác dụng được với không khí nên có thể thu trực tiếp, bông tẩm dung
dịch NaOH để hạn chế khí clo thoát ra ngoài không khí
Mức độ 2:
Khí clo được điều chế trong phòng thí nghiệm bằng phản ứng của axit HCl với
MnO2 thường có lẫn tạp chất Để thu được khí clo tinh khiết, người ta dẫn khí clo
không tinh khiết đi qua hai bình, một bình đựng chất lỏng X và một bình đựng chất
lỏng Y Hãy xác định các chất X, Y trong số các chất sau: KMnO4, H2O, dung dịch
NaCl, Ca(OH)2, NaOH, H2SO4 đặc, dung dịch HCl
Phân tích:
Dung dịch NaCl H2SO4đặcDung dịch KMnO4 H2SO4 đặc
Ví dụ 2: Từ Ví dụ 2 trong 2.2.1 có thể ra bài tập sau:
BT1:
Hãy sắp xếp theo thứ tự hợp lý các thao tác khi làm thí nghiệm natri cháy trong
khí ôxi
1 Đốt cháy natri trên ngọn lửa đèn cồn
2 Cho 1 lượng natri bằng hạt ngô vào muỗng lấy hoá chất
3 Mở nắp lọ đựng ôxi
4 Đưa nhanh muỗng có natri đang cháy vào lọ đựng khí oxi có sẵn một lớp cát
5 Khi cháy xong đậy nắp lọ lại
6 Quan sát hiện tượng, viết phương trình phản ứng và xác định vai trò của chất
Hãy giải thích cách làm sau:
Sau khi điều chế oxi xong, người ta phải tháo ống dẫn khí ra khỏi ống nghiệm
rồi mới tắt đèn cồn ( phương pháp đẩy nước)
Phân tích:
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 24Nếu lấy đèn cồn (tắt đèn cồn) thì áp suất trong bình giảm nên nước từ ngoài
phun vào bình làm vỡ ống nghiệm
2.3 Thiết kế các dạng bài tập thực nghiệm trong chương trình hóa học 10
2.3.1 Bài tập hóa học thực nghiệm có tính chất trình bày
Dạng BT này chủ yếu phát triển tư duy và kĩ năng phân tích, trình bày, giải
thích, suy luận và chứng minh các nội dung thực nghiệm Khi giải BT, Hs không
phải tiến hành TN mà chỉ vận dụng kiến thức lí thuyết và các dữ kiện thực nghiệm
có sẵn để giải Mặc dù không phải làm TN nhưng nội dung BT cũng như phương
pháp giải BT phải đảm bảo tính, khoa học về mặt lí thuyết, thoả mãn về mặt thực
nghiệm Trong loại BT này có các dạng sau:
2.3.1.1 Giải thích tính chất lí hoá của các chất
Dựa vào các đặc điểm cấu tạo phân tử:
- Cấu hình electron nguyên tử
- Độ âm điện của các nguyên tố
- Dạng lai hoá của các nguyên tử trung tâm
- Dạng hình học của phân tử
- Góc liên kết, độ dài liên kết, độ bội liên kết
- Sự phân cực của liên kết, của phân tử
- Các hiệu ứng cấu trúc
Suy ra tính chất lí hoá của phân tử
- Độ bền phân tử, momen lưỡng cực
- Nhiệt độ sôi, nhiệt độ nóng chảy
- Khả năng hoà tan trong các loại dụng môi
- Trạng thái tập hợp của chất
- Màu sắc, mùi vị
- Các phản ứng đặc trưng
Bài tập 1: Hãy giải thích tại sao nguyên tố oxi hoạt động hơn nguyên tố clo
nhưng ở điều kiện thường lại tỏ ra kém hoạt động hơn?
Phân tích:
Để trả lời câu hỏi này Hs cần phân tích sự phụ thuộc của tính chất hoá học của
đơn chất với độ bền liên kết, liên hệ với liên kết trong O2, Cl2 để giải thích
- Khoảng cách giữa 2 nguyên tử oxi nhỏ hơn khoảng cách giữa 2 nguyên tử clo
- Liên kết trong phân tử oxi là liên kết đôi trong khi liên kết trong phân tử clo là
liên kết đơn
→ Năng lượng để đơn chất phân li cho nguyên tử oxi lớn hơn → ở điều kiện
thường oxi kém hoạt động hơn clo
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 25Bài tập 2: Giải thích quy luật biến thiên liên tục các tính chất vật lí: Nhiệt độ
sôi, nhiệt độ nóng chảy của các đơn chất halogen theo dãy F2,Cl2, Br2, I2
Phân tích:
Để giải BT này, Hs cần phân tích các yếu tố về cấu tạo có ảnh hưởng đến nhiệt
độ sôi, nhiệt độ nóng chảy của chất, cụ thể ở đây là độ phân cực phân tử
Theo dãy F2,Cl2, Br2, I2 nhiệt độ sôi, nhiệt độ nóng chảy của các đơn chất
halogen tăng dần, sự biến thiên này là do số electron và số lớp electron của các
nguyên tử theo dãy trên tăng lên khi điện tích hạt nhân tăng làm cho các phân tử X2
càng dễ biến dạng để hình thành lưỡng cực tạm thời nên lực liên kết giữa các phân
tử tăng
2.3.1.2 Mô tả, giải thích hiện tượng
Loại BT này Hs có thể tiến hành thí nghiệm, tuy nhiên cũng có thể bằng cách
phân tích về mặt lí thuyết để dự đoán hiện tượng và giải thích, khi tiến hành giải,
HS cần phải:
- Tư duy: Phân tích cấu tao, tính chất lí hoá của các chất
- Mô tả các hiện tượng kết tủa, màu sắc, mùi vị, hoà tan… xảy ra theo đúng
thứ tự quan sát
- Dựa vào các đặc điểm cấu tạo và tính chất, giải thích các hiện tượng đã nêu
và viết PTPƯ minh hoạ
Bài tập 3: Clo tác dụng với nước một phần nhỏ theo phương trình hóa học sau:
Cl2(k) + H2O(l) HclO + HClHai sản phẩm tạo ra đều tan tốt trong nước tạo thành dung dịch Ngoài ra một
phần lớn khí clo tan trong nước tạo thành dung dịch có màu vàng lục nhạt gọi là
nước clo Nước clo đựng trong bình kín, dần dần bị mất màu theo thời gian, không
bảo quản được lâu, vận dụng những hiểu biết về chuyển dịch cân bằng hóa học hãy
giải thích hiện tượng trên
Phân tích:
Để giải thích hiện tượng xảy ra, Hs cần dựa vào các tính chất của sản phẩm, các
yếu tố chuyển dịch cân bằng, cụ thể ở đây là độ bền của sản phảm tạo thành và yếu
tố nồng độ chất tham gia
Nước clo dần dần bị mất màu theo thời gian, không bảo quản được lâu là do quá
trình phân hủy HClO
Cl2(k) + H2O(l) HOCl + HCl (1)2HClO 2HCl + O2 (2)
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 26Phản ứng (2) làm cho nồng độ HClO giảm, cân bằng hóa học của phản ứng (1)
chuyển dịch theo chiều thuận, clo sẽ phản ứng với nước cho đến hết, do đó nước clo
không bền
Bài tập 4: Sục khí clo cho đến dư vào Dd KI có nhỏ sẵn vài giọt hồ tinh bột.
Nêu hiện tượng xảy ra, giải thích
Phân tích:
Khi làm BT này về mặt kĩ năng, Hs cần lưu ý yêu cầu đề bài là “cho đến dư”
Hs cần phải dựa vào tính chất lí hoá của các halogen, cụ thể đây là tính oxi hoá khử
của clo, iot và màu sắc, khả năng tạo màu sắc với hồ tinh bột
màu, và nếu tiếp tục sục Cl2 vào thì Dd chuyển sang màu vàng hơi xanh của clo
2.3.1.3 Biện luận công thức các chất hoá học dựa vào các kết quả thực nghiệm
Khi giải loại BT này sẽ giúp Hs phát triển kĩ năng phân tích để suy luận ra công
thức của chất
Bài tập 5: Cho một lượng Cu2S tác dụng hoàn toàn với dung dịch HNO3 đun
nóng Phản ứng tạo thành dung dịch A1 và làm giải phóng ra khí A2 không màu, bị
hóa nâu trong không khí Chia A1 thành 2 phần Thêm dung dịch BaCl2 vào phần 1,
thấy tạo thành kết tủa trắng A3 không tan trong axit dư Thêm lượng dư dung dịch
NH3 vào phần 2, đồng thời khuấy đều hỗn hợp, thu được dung dịch A4 có màu xanh
lam đậm
a) Hãy chỉ ra A1, A2, A3, A4 là gì?
b) Viết các phương trình phản ứng trong cácquá trình hóa học vừa nêu trên
Phân tích :
Dựa vào đặc điểm “khí A2 không màu, bị hóa nâu trong không khí” suy ra A2 là
khí NO, A3 là kết tủa BaSO4 Từ đó viết PTPƯ và xác định các chất còn lại
a) A1 là dung dịch gồm Cu(NO3)2, H2SO4 và HNO3 dư
A2 là khí NO
A3 là kết tủa BaSO4
A4 là dung dịch chứa ion phức [Cu(NH3)4]2+
b) 3Cu2S + 22HNO3 6Cu(NO3)2 + 3H2SO4 + 10NO + 8H2O
2NO + O2 2NO2
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 27H2SO4 + BaCl2 BaSO4 + 2HCl
NH3 + H+ NH4
Cu2+ + 4NH3 Cu(NH3)4)2+
2.2.1.4 Phương pháp tổng hợp và điều chế các chất
Tổng hợp và điều chế các chất là BT không chỉ có ý nghĩa về mặt lí thuyết mà
còn có ý nghĩa to lớn cả về mặt thực tiễn, đây là loại BT cần được rèn luyện nhiều
để đảm bảo mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội
Bài tập 6: Trong phòng thí nghiệm, người ta điều chế hiđro halogenua bằng
cách cho H2SO4 đặc tác dụng với muối halogenua khan
a) Hãy cho biết phương pháp trên có thể điều chế hoặc không thể điều chế
được hiđro halogenua nào? Giải thích
b) Cho biết phương pháp điều chế các hiđro halogenua còn lại
Phân tích:
a) Có thể điều chế hiđro clorua và hiđro florua theo phản ứng:
CaF2 + H2SO4 → 2HF + CaSO4NaCl + H2SO4 → HCl + NaHSO4
HF, HCl sinh ra có tính khử yếu nên không phản ứng ngược lại với H2SO4 đặc
Không áp dụng phương pháp này cho HBr, HI được vì chúng là những chất khử
mạnh nên khi tạo thành sẽ có phản ứng:
2HBr + H2SO4 → Br2↑ + SO2 ↑+2H2O8HI + H2SO4 → 4I2 ↓+ H2S ↑+ 4H2O b) Có thể điều chế HF, HBr theo phản ứng sau:
PBr3 + 3H2O → H3PO3 + HBr↑
PI3 + 3H2O → H3PO3 + HI↑
Bài tập 7: Có thể điều chế lưu huỳnh từ khí sunfurơ hoặc hiđro sunfurơ Viết
PTHH và cho biết cách thu hồi lưu huỳnh như thế nào?
Phân tích:
Để điều chế lưu huỳnh từ khí sunfurơ ta cần dùng một chất khử, ngược lại
điều chế lưu huỳnh từ khí hiđro sunfurơ cần cho tác dụng với chất oxi hoá
⃗Al 2 O3 nH 2 O ,500 o C
2H2S + O2 (kk) → 2H2O + 2SDùng than hoạt tính để hấp phụ S
2.2.1.5 Nhận biết và phân biệt các chất
SO2 + CO CO2 + S
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 28Đây là loại BTHHTN quen thuộc, giải BT dạng này Hs không chỉ cần nắm
vững tính chất lí hoá của các chất mà còn cần có kĩ năng thực hành cơ bản
Yêu cầu khi giải BT:
- Phải nắm vững tính chất lí hoá của chất cần nhận biết, phân biệt, kể cả những
chất do chúng tạo nên trong các phản ứng sử dụng
- Phản ứng hoá học được chọn là các phản ứng đặc trưng, đơn giản và có dấu
hiệu rõ rệt
Bài tập 8: Làm thế nào để nhận biết được ba axit HCl, HNO3, H2SO4 cùng tồn
tại trong Dd loãng
tỏ trong Dd loãng có chứa H2SO4
Ba(CH3COO)2 + H2SO4 BaSO4 + 2CH3COOH
Cho AgNO3 vào ống nghiệm sản phẩm, kết tủa xuất hiện chứng tỏ trong Dd có
HCl
HCl + AgNO3 AgCl + HNO3Cho Cu vào ống nghiệm đựng các axit trên và đun nóng có khí màu nâu bay ra
chứng tỏ trong Dd có HNO3
Cu + 4HNO3 Cu(NO3)2 + 2NO2 + 2H2O
Bài tập 9: Dung dịch A chứa các ion : SO4
Phân tích:
Nhận biết từng loại anion trong dung dịch A: Ta có thể tiến hành theo nhiều
cách khác nhau Sau đây giới thiệu 2 cách
+ Dung dịch KMnO4 bị nhạt màu do phản ứng:
5SO2 + 2KMnO4 + 2H2O K2SO4 + 2MnSO4 + 2H2SO4
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 29Chứng tỏ trong hỗn hợp khí có SO2, suy ra dung dịch A có SO3
2−
.+ Dung dịch Ca(OH)2 bị vẩn đục hoặc vẩn đục rồi trở nên trong suốt do các
phản ứng:
CO2 + Ca(OH)2 CaCO3 + H2O
CO2 + CaCO3 + H2O Ca(HCO3)2Chứng tỏ trong hỗn hợp có khí CO2, suy ra trong dung dịch A có CO3
- Cho kết tủa C tác dụng với axit HCl:
+ Chất không tan là BaSO4, suy ra dung dịch A có ion SO4
2−
.+ Chất tan là BaSO3 và BaCO3:
BaSO3 + 2HCl BaCl2 + SO2 + H2OBaCO3 + 2HCl BaCl2 + CO2 + H2ONhận biết khí SO2, CO2 để suy ra có ion SO3
- Từ sản phẩm tạo thành có khả năng tái tạo được chất ban đầu
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 30Bài tập 10: Một loại muối ăn có lẫn tạp chất CaCl2, MgCl2, Na2SO4, MgSO4,
CaSO4 Hãy trình bày cách loại các tạp chất để thu được muối ăn tinh khiết
Phân tích:
- Hòa tan muối ăn vào nước cất
- Thêm BaCl2 dư để loại ion SO4
- Lọc bỏ kết tủa BaSO4
- Thêm Na2CO3 dư để loại ion Mg 2+ , Ca 2+ , Ba 2+ dư
MgCl2 + Na2CO3 2NaCl + MgCO3CaCl2 + Na2CO3 2NaCl + CaCO3BaCl2 + Na2CO3 2NaCl + BaCO3
- Lọc bỏ kết tủa MgCO3, CaCO3, BaCO3
- Thêm dung dịch HCl để loại bỏ Na2CO3 dư
Na2CO3 + 2HCl 2NaCl + CO2 + H2O
- Cô cạn dung dịch ta thu được muối ăn tinh khiết
Bài tập 11: Trình bày cách tinh chế: O2 có lẫn Cl2, CO2
Phân tích:
Cl2, CO2 đều có thể phản ứng với Dd kiềm trong khi đó O2 không phản ứng và
cũng ít tan trong nước Có thể dẫn hỗn hợp đi qua Dd kiềm, khí O2 thu được có lẫn
hơi nước có thể làm khô bằng H2SO4 đặc
2.2.1.7 BTHHTN liên quan đến thực tế cuộc sống
Là loại BTTN có nội dung liên quan đến các ứng dụng của hoá học trong thực tế
cuộc sống bao gồm:
- Hoá học với đời sống thường ngày
- Hoá học với kinh tế, du lịch, quốc phòng
- Hoá học với sản xuất nông nghiệp, công nghiệp
- Hoá học với môi trường
- Hoá học với chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ
Giải các BTHHTN này đòi hỏi Hs phải biết vận dụng kiến thức hoá học vào
thực tế, qua đó không chỉ tăng hứng thú học hoá mà còn giúp Hs tự tin hơn trong
cuộc sống
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 31Bài tập 12: Khi bị ợ chua, người ta thường dung dung dịch thuốc muối ( chứa
muối natri hiđro cacbonat NaHCO3), hãy giải thích cách làm này?
Phân tích:
Trong dạ dày có một thành phần rất quan trọng đó là axit clohidric HCl với
nồng độ bình thường khoảng từ 0,0001 đến 0,001 mol/l Ngoài việc hoà tan các
muối khó tan, axit này còn là chất xúc tác cho các phản ứng thuỷ phân các gluxit và
protein thành chất đơn giản hơn để cơ thể hấp thụ được Khi trong dạ dày, nồng độ
axit chidric nhỏ hơn mức 0,0001 mol/l thì người đó mắc bệnh khó tiêu, ngược lại
nếu lớn hơn 0,001 mol/l thì mắc bệnh ợ chua Khi bị ợ chua, có thể dung thuốc
muối để trung hoà bớt HCl theo phản ứng sau:
NaHCO3 + HCl NaCl + CO2 + H2O
Bài tập 13: Vì sao khi sử dụng muối iot không được cho muối vào quá sớm mà
phải chờ đến sau khi thực phẩm đã được nấu chin mới cho muối vào?
Phân tích:
Iot là nguyên tố vi lượng rất cần thiết với cơ thể Theo các nhà khoa học,
mõi ngày con người cần từ 1.10-4 đến 2.10-4 gam iot Sự thiếu hụt iot trong cơ thể
gây ra hậu quả tai hại, thiếu iot làm não bị hư hại nên người ta trở nên đần độn,
chậm chạp, có thể điếc, câm, liệt chi, lùn Thiếu iot còn gây bệnh vàng da, bướu cổ
và hang loạt rối loạn khác, đặc biệt nguy hiểm với bà mẹ và trẻ em
Để khắc phục thiếu iot, người ta thêm hợp chất chứa iot vào kẹo, sữa, nước
mắm, muối…
Tuy nhiên, hợp chất chứa iot thường kém bền nhiệt, do đó, để tránh trường
hợp bị phân huỷ hợp chất và thăng hoa iot, nên cho các sản phẩm chứa iot vào thức
ăn sau khi đã nấu chin
Một số BTTNHH thuộc dạng 1:
Bài tập 14: Hãy giải thích vì sao nước đá lại nổi trên bề mặt nước lỏng?
Phân tích:
Mạng tinh thể nước đá thuộc kiểu
mạng tinh thể phân tử Mỗi phân tử nước
liên kết với 4 phân tử nước khác gần nó
nhất nằm trên bốn đỉnh của một hình tứ
diện đều (hình 2.4)
Như vậy, trong mạng tinh thể, mỗi
phân tử nước đều ở tâm của một hình tứ
diện đều và liên kết với 4 phân tử nước
trên 4 đỉnh nhờ tạo thành 4 liên kết hiđro
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 32Hình 2.4
Cấu trúc tinh thể phân tử nước đá là cấu trúc tứ diện, là cấu trúc rỗng nên có tỉ
khối nhỏ hơn khi nước ở trạng thái lỏng, do vậy nước đá nổi trên bề mặt nước lỏng
Thể tích nước của đá khi đông đặc lớn hơn khi ở trạng thái lỏng
Bài tập 15: Trong tự nhiên oxi có 3 đồng vị bền 8
O Nguyên tử khối của
oxi trong bảng hệ thống tuần hoàn là 15,999 Điều mâu thuẫn này xảy ra do sự hụt
khối Khi hình thành hạt nhân nguyên tử, một phần khối lượng của các hạt proton
và nơtron đã chuyển thành năng lượng Theo công thức của Anhxtanh:
E = mc2, trong đó E là năng lượng, m là khối lượng và c là tốc độ của ánh sáng
Bài tập 16: Có 5 lọ đựng khí riêng biệt các khí sau: O2, Cl2, HCl, O3, SO2 Làm
I2 làm hồ tinh bột chuyển màu xanh
Dùng quỳ tím ẩm nhận biết được HCl và SO2 Còn lại là khí O2
- Phân biệt lọ khí HCl và SO2 bằng dung dịch nước brom SO2 làm mất màu
dung dịch brom
SO2 + Br2 + 2H2O 2HBr + H2SO4
Bài tập 17: Trong quá trình đốt cháy các nhiên liệu như than đá, dầu mỏ và
khí thiên nhiên, làm thế nào để nâng cao hiệu suất cung cấp nhiệt?
Phân tích:
Để nâng cao hiệu suất cung cấp năng lượng cần đốt các nhiên liệu với các biện
pháp kĩ thuật sau:
- Dùng dư không khí để cung cấp oxi cho phản ứng cháy hoàn toàn
- Đập nhỏ than đá đến kích thức thích hợp để tăng diện tích tiếp xúc giữa than
và khí oxi
- Sử dụng các động cơ đieden và các động cơ đốt trong để nâng cao hiệu suất sử
dụng dầu mỏ và khí thiên nhiên
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 33Bài tập 18: Các yếu tố như nhiệt độ, áp suất chất khí, chất xúc tác và diện tích
bề mặt chất rắn có ảnh hưởng lớn đến tốc độ phản ứng hóa học Tùy theo phản ứng
hóa học cụ thể mà vận dụng một, một số hay tất cả các yếu tố trên để tăng hay giảm
tốc độ phản ứng Trong những trường hợp dưới đây, yếu tố nào trong số các yếu tố
c Phản ứng oxi hóa lưu huỳnh đioxit tạo thành lưu huỳnh trioxit diễn ra nhanh
hơn khi có mặt vanađi (V) oxit (V2O5)
d Đá vôi được đập nhỏ, chín nhanh và đều hơn khi nung đá vôi ở dạng cục lớn
e Thức ăn sẽ nhanh chín hơn nếu được nấu trong nồi áp suất
Phân tích:
Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng trong mỗi trường hợp đã cho là:
a Tăng diện tích bề mặt của chất rắn tham gia phản ứng (than đá) làm tăng tốc
độ phản ứng
b Giảm nồng độ chất tham gia phản ứng (khí oxi) làm giảm tốc độ phản ứng
c V2O5 là chất xúc tác, làm tăng tốc độ phản ứng
d Giảm kích thước hạt để tăng tốc độ phản ứng
e Thức ăn sẽ nhanh chín hơn nếu được nấu trong nồi áp suất, người ta đã sử
dụng yếu tố nhiệt độ và áp suất cao để tăng tốc độ của phản ứng hóa học
Bài tập 19: Hãy cho biết người ta đã sử dụng biện pháp nào để tăng tốc độ
phản ứng hóa học trong các trường hợp sau đây:
a Rắc men vào tinh bột đã được nấu chín (cơm, ngô, khoai, sắn ) để ủ rượu
b Dùng quạt thông gió trong bễ lò rèn
c Nén hỗn hợp khí nitơ và hiđro ở áp suất cao để tổng hợp amoniac
d Nung hỗn hợp bột đá vôi, đất sét và thạch cao ở nhiệt độ cao để sản xuất
clinke, trong công nghiệp sản xuất xi măng
Phân tích:
a Men rượu là một loại xúc tác sinh học Chất xúc tác đã được sử dụng để tăng
tốc độ của phản ứng hóa học
b Bễ lò rèn có mục đích tăng nồng độ của oxi không khí, do đó làm tăng tốc độ
của phản ứng cháy của than đá
c Nén hỗn hợp khí nitơ và hiđro ở áp suất cao để tăng nồng độ của hai chất khí,
làm tăng tốc độ của phản ứng hóa học
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 34d Dùng biện pháp tăng nhiệt độ để tăng tốc độ của phản ứng hóa học.
Bài tập 20: Sản xuất vôi trong công nghiệp và thủ công nghiệp đều dựa trên
phản ứng hóa học: CaCO3(r) CaO(r) + CO2(k), H = 178kJ
a Hãy phân tích các đặc điểm của phản ứng hóa học nung vôi
b Từ những đặc điểm đó, hãy cho biết những biện pháp kĩ thuật nào được sử
dụng để nâng cao hiệu suất của quá trình nung vôi
- Phản ứng thuận thu nhiệt
- Phản ứng thuận của chất rắn có tạo ra một chất khí
b Những biện pháp kĩ thuật để nâng cao hiệu suất nung vôi:
- Chọn nhiệt độ thích hợp
- Tăng diện tích tiếp xúc của chất rắn (CaCO3) bằng cách đập nhỏ đá vôi
đến kích thước thích hợp
- Thổi không khí nén (trong công nghiệp) hay chọn hướng gió thích hợp
để tăng nồng độ khí oxi cung cấp cho phản ứng đốt cháy than, đồng thời
làm giảm nồng độ khí cacbon đioxit
Bài tập 21: Sự tăng áp suất ảnh hưởng như thế nào đến trạng thái cân bằng của
Để đánh giá tác động của áp suất cần so sánh sự biến đổi của thể tích khí trước
và sau phản ứng Nếu sau phản ứng có sự giảm thể tích thì áp suất tăng làm cân
bằng chuyển dịch theo chiều thuận và ngược lại, áp suất không có ảnh hương tới
cân bằng của các phản ứng không thay đổi thể tích khí
a) 3O2(k) O3(k)
Phản ứng (a) có sự giảm thể tích, cân bằng chuyển theo chiều thuận khi áp suất tăng
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 35b) H2(k) + Br2(k) 2HBr(k)
Phản ứng (b) không có sự thay đổi thể tích, cân bằng không phụ thuộc vào áp suất
c) N2O4(k) 2NO2(k)
Phản ứng (c) có sự tăng thể tích, cân bằng chuyển theo chiều nghịch khi áp suất tăng
Bài tập 22: Trong nước ngầm thường có ion Fe2+ dưới dạng muối sắt II
hiđrocacbonat và sắt II hiđroxit Nước sinh hoạt có chứa Fe2+ ảnh hưởng xấu đến
sức khoẻ của con người Để loại bỏ Fe2+, trong một phương pháp đơn giản, rẻ tiền,
nguời ta dùng oxi không khí oxi hóa Fe2+ thành hợp chất Fe3+ (có độ tan trong nước
nhỏ) rồi lọc để thu nước sạch Để tăng tốc độ của phản ứng oxi hóa Fe2+ người ta sử
dụng biện pháp kĩ thuật nào? Giải thích
Phân tích:
Để loại bỏ Fe2+, trong một phương pháp đơn giản, rẻ tiền, nguời ta dùng oxi
không khí oxi hóa Fe2+ thành hợp chất Fe3+ (có độ tan trong nước nhỏ) rồi lọc để thu
nước sạch Để tăng tốc độ của phản ứng oxi hóa Fe2+ người ta sử dụng giàn mưa
Nước ngầm sau khi hút lên bể chứa được qua giàn mưa với mục đích tăng diện tích
tiếp xúc của nước với oxi không khí
Bài tập 23: Vì sao từ những ý tưởng đầu tiên về nguyên tử, cách đây 2500 năm
của Democrit, mãi đến cuối thế kỉ XIX người ta mới chúng minh được nguyên tử là
có thật và có cấu tạo phức tạp? Mô tả thí nghiệm tìm ra electron
Phân tích:
Trong một thời kì dài, người ta không có đủ các thiết bị khoa học để kiểm
chứng ý tưởng về nguyên tử Sự phát triển của khoa học và kĩ thuật cuối thế kỉ XIX
cho phép chế tạo được thiết bị có độ chân không cao (p = 0,001mmHg), có màn
huỳnh quang để quan sát đường đi của các tia không nhìn thấy bằng mắt thường và
nguồn điện có thế hiệu rất cao (15000V)
Hình 2.5 Thí nghiệm phát minh electron của Tom-xơn (1897)
Tom-xơn đã cho phóng điện với thế hiệu 15000 vôn qua hai điện cực gắn vào
hai đầu của một ống thủy tinh kín đã rút gần hết không khí, áp suất 0,001mmHg, thì
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 36thấy màn huỳnh quang lóe sáng Màn huỳnh quang phát sáng do sự xuất hiện của
các tia không nhìn thấy được đi từ cực âm sang cực dương, tia này được gọi là tia
âm cực Tia âm cực bị hút lệch về phía cực dương khi đặt ống thủy tinh trong một
điện trường Thí nghiệm này chứng tỏ nguyên tử có cấu tạo phức tạp Một trong
những thành phần cấu tạo của nguyên tử là các electron
Bài tập 24: Gần đây, khi thám hiểm Nam cực, các nhà khoa học đã tìm thấy
những đồ hộp do các đoàn thám hiểm trước để lại Mặc dù đã qua hàng trăm năm,
nhưng các thức ăn trong những đồ hộp đó vẫn trong tình trạng tốt, có thể ăn được
Hãy giải thích và liên hệ vớiviệc bảo quản thực phẩm bằng cách ướp đá hay dùng tủ
lạnh
Phân tích:
Nam cực là nơi lạnh nhất Trái đất Nhiệt độ ở vùng này có thể xuống hàng chục
độ dưới không Ở nhiệt độ đó, các phản ứng hóa học phân hủy thức ăn hầu như
không xảy ra Điều này giải thích vì sao đã qua hàng trăm năm, nhưng các thức ăn
trong những đồ hộp đó vẫn trong tình trạng tốt, có thể ăn được Để giảm tốc độ
phản ứng phân hủy thức ăn, người ta bảo quản thực phẩm bằng cách ướp đá hay
dùng tủ lạnh
Bài tập 25: Trong phòng thí nghiệm, để tăng tốc độ của một số phản ứng hóa
học, ngoài các biện pháp như tăng nồng độ, nhiệt độ, người ta còn dùng máy khuấy
Tác dụng của máy khuấy là gì?
Phân tích:
Trong phòng thí nghiệm, để tăng tốc độ của một số phản ứng hóa học, ngoài các
biện pháp như tăng nồng độ, nhiệt độ, sử dụng chất xúc tác , người ta còn dùng
máy khuấy Máy khuấy là một thiết bị cho phép tăng tốc độ khuếch tán của các chất
tham gia phản ứng, do đó tăng khả năng tiếp xúc của các chất và tăng tốc độ phản
ứng hóa học Người ta thường dùng máy khuấy trong trường hợp các chất phản ứng
cần được trộn là các chất lỏng khác nhau, hay chất lỏng và chất rắn
Bài tập 26: Hãy trình bày thí nghiệm đốt cháy dây sắt mảnh trong bình khí oxi.
Vận dụng lí thuyết phản ứng hóa học để giải thích cách tiến hành thí nghiệm trên
Phân tích:
Dây thép được quấn thành hình lò xo để tăng bề mặt tiếp xúc của dây thép với
oxi Mẫu than nóng đỏ có tác dụng khơi mào phản ứng Than cháy cung cấp nhiệt,
nâng nhiệt độ của dây thép đến nhiệt độ cháy Dây thép cháy trong oxi kèm theo
hiện tượng tỏa nhiệt mạnh, các hạt sắt từ oxit (Fe3O4) nóng đỏ bắn tung tóe Do đó,
đáy bình cần có một lớp nước mỏng nhằm bảo vệ bình thủy tinh tránh bị nứt, vỡ
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 37Bài tập 27: Phản ứng hóa học sau, diễn ra trong tự nhiên đang ở trạng thái cân
bằng:
CO2 + H2O + CaCO3 Ca(HCO3)2Khi tăng lượng CO2 cân bằng hóa học sẽ chuyển dịch sang chiều nào?
Phân tích:
Các hoạt động của con người đang làm tăng hàm lượng CO2 trong khí quyển
Nhờ cân bằng này trong tự nhiên điều tiết, chuyển sang chiều thuận cho nên đã làm
chậm quá trình nóng lên toàn cầu Ngoài quá trình này, quá trình quang hợp của cây
xanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc làm giảm lượng khí CO2 trong khí
quyển
Bài tập 28: Tại sao không dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF ?
Phân tích:
Tuy dung dịch axit HF là một axit yếu nhưng nó có khả năng đặc biệt là ăn mòn
thủy tinh Do thành phần chủ yếu của thủy tinh là silic đioxit SiO2 nên khi cho dung
dịch HF và thì có phản ứng xảy ra:
SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O
Bài tập 29: Làm thế nào có thể khắc được thủy tinh ?
Phân tích:
Muốn khắc thủy tinh người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy, nhấc ra cho
nguội, dùng vật nhọn khắc hình ảnh cần khắc nhờ lớp sáp mất đi, rồi nhỏ dung dịch
HF vào thì thủy tinh sẽ bị ăn mòn ở những chổ lớp sáp bị cào đi :
SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2ONếu không có dung dịch HF thì thay bằng dung dịch H2SO4 đặc và bột CaF2
Làm tương tự như trên nhưng ta cho bột CaF2 vào chỗ cần khắc, sau đó cho thêm
H2SO4 đặc vào và lấy tấm kính khác đặt lên trên Sau một thời gian, thủy tinh cũng
sẽ bị ăn mòn ở những nơi cạo sáp
CaF2 + 2H2SO4 → CaSO4 + 2HF↑ ( dùng tấm kính che lại)
Sau đó SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O
Bài tập 30:Đi từ muối ăn, nước và sắt kim loại, viết các PTPƯ điều chế:
Trang 38Fe + 2HCl FeCl2 + H2
C Từ FeCl2, Cl2 và NaOH đã thu được ở trên, ta có các phản ứng sau:
2FeCl2 + Cl2 2FeCl3
FeCl3 + 3NaOH Fe(OH)3 + 3NaCl
Bài tập 31:Từ Fe, viết 3 PTPƯ khác nhau điều chế muối FeSO4
Phân tích:
1 Fe + H2SO4 FeSO4 + H2
2 Fe + CuSO4 FeSO4 + Cu
3 Fe + Fe2(SO4)3 3FeSO4
Bài tập 32: Hãy nêu biện pháp xử lí chất thải độc hại có chứa các chất: HCl,
Cl2, CO2, CO, SO2 bằng phương pháp hóa học
Phân tích:
+ Dẫn hỗn hợp khí thải sục vào Dd nước vôi trong dư ta sẽ khử được cỏc khớ:
HCl, Cl2, CO2, SO2 Còn lại là khí CO
+ Dẫn khí còn lại qua CuO dư nung nóng, sản phẩm pư có tạo ra khí CO2
+Dẫn khí sau pư với CuO đun nóng đi qua Dd nước vôi trong dư để khử bỏ khí
CO2
Bài tập 33: Có những chất làm khô sau đây: H2SO4 đặc, CaO, CaCl2 khan Có
thể dùng những chất nào nói trên để làm khô các khí nào sau đây: khí sunfurơ, khí
oxi, khí cacbonic Hãy giải thích sự lựa chọn đó
Phân tích:
Có thể dùng H2SO4 đặc và CaCl2 khan để làm khô các khí ẩm SO2, O2 và CO2
Chỉ có thể dùng CaO để làm khô khí O2 ẩm
Bài tập 34: Có một số khí độc hại còn dư sau khi làm TN là: khí clo, khí
sunfurơ, khí hiđro clorua, khí cacbonic Để khử các khí độc trên cần phải sục ống
Trang 39Bài tập 36: Trong số những cặp chất sau, cặp chất nào được dùng để điều chế
oxi trong PTN ?
A.CuSO4 , HgO C KClO3 , KMnO4
B.CaCO3, KClO3 D K2SO4 , KMnO4.
Đáp án: C
Bài tập 37: TN nào sau đây sinh ra khí hiđro clorua ?
A.Dẫn khí clo vào Dd NaOH
B Đốt cháy khí hiđro trong khí clo
C Điện phân Dd NaCl (có màng ngăn)
D Cho Dd NaCl tác dụng với Dd H2SO4 loãng
Đáp án: B
Bài tập 38: Nếu lấy khối lượng KMnO4 và MnO2 bằng nhau để cho tác dụng
với Dd HCl đặc thì chất nào cho nhiều Clo hơn ?
A Axit sunfuric tác dụng với đồng KL
B Axit sunfuric tác dụng với đồng (II) oxit
C Axit sunfuric tác dụng với đồng (II) hiđroxit
D B và C
Đáp án: D
Bài tập 40: Trong công nghiệp, để điều chế khí than ướt, người ta thổi hơi nước
qua than đá đang nóng đỏ Phản ứng hóa học xảy ra như sau :
C (r) + H2O (k) CO(k) + H2(k); H = 131kJ
Điều khẳng định nào sau đây là đúng?
A Tăng áp suất chung của hệ làm cân bằng không thay đổi
B Tăng nhiệt độ của hệ làm cân bằng chuyển sang chiều thuận
C Dùng chất xúc tác làm cân bằng chuyển sang chiều thuận
D Tăng nồng độ hiđro làm cân bằng chuyển sang chiều thuận
Đáp án: B.
Bài tập 41: Dùng loại bình nào sau đây để đựng dung dịch HF?
A Bình thuỷ tinh màu xanh B Bình kim loại
C Bình thuỷ tinh không màu D Bình nhựa teflon (chất dẻo)
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 40Phân tích:
Không thể dùng bình thuỷ tinh để đựng dung dịch HF vì dung dịch HF tac dụng
với SiO2 là một trong những chất cấu tạo nên thuỷ tinh, cũng không dùng bình kim
loại vì dung dịch HF có thể phản ứng với nhiều kim loại Cách tốt nhất là dùng bình
nhựa teflon (chất dẻo)
Đáp án: D
Bài tập 42:Đổ dung dịch chứa 1g HBr vào Dd chứa 1g NaOH Dung dịch thu
được làm cho quỳ tím chuyển sang màu nào sau đây?
A Màu đỏ B Màu xanh
C Không đổi màu D Không xác định được
Đáp án: B.
Bài tập 43: Đốt nóng đỏ một sợi dây đồng rồi đưa vào bình khí Cl2 thì xảy ra
hiện tượng nào sau đây?
A Dây đồng không cháy
B Dây đồng cháy yếu rồi tắt ngay
C Dây đồng cháy mạnh, có khói màu nâu và màu trắng
D Dây đồng cháy âm ỉ rất lâu
Đáp án: C
2.3.2 Bài tập hóa học thực nghiệm có tính chất minh họa và mô phỏng
Có nhiều hình thức để mô phỏng thí nghiệm như dùng hình vẽ, dùng các
phần mềm thí nghiệm hoặc mô phỏng bằng băng hình Với điều kiện ở trường phổ
thông hiện nay thì hình thức mô phỏng thí nghiệm bằng hình vẽ là phù hợp và phổ
biến nhất
Để giải được loại BT này, yêu càu Hs phải nắm vững các kĩ năng thực hành
hoá học, biết quan sát hình vẽ mô phỏng thí nghiệm và biết trình bày bài giải một
cách ngắn gọn theo yêu cầu của đề bài
Bài tập 1: Trong các hình vẽ mô tả cách thu khí clo sau đây (hình 2.6), hình vẽ
nào đúng?
Luận văn thạc sĩ xây dựng