Khái quát kết quả của những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án sẽ tập trung giải quyết 25 CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO CỦA ĐẢNG BỘ XÃ Ở CÁC TỈNH BIÊN
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÊ VĂN HIẾU
CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO CỦA ĐẢNG BỘ XÃ
Ở CÁC TỈNH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÊ VĂN HIẾU
CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO CỦA ĐẢNG BỘ XÃ
Ở CÁC TỈNH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án
này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích
dẫn đầy đủ theo quy định
TÁC GIẢ
Lê Văn Hiếu
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 41.3 Khái quát kết quả của những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO CỦA ĐẢNG BỘ XÃ Ở CÁC
TỈNH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ
2.1 Khái quát về các tỉnh biên giới phía Bắc và đảng bộ xã các tỉnh biên giới
2.2 Công tác tuyên giáo của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc -
CHƯƠNG 3: CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO CỦA ĐẢNG BỘ XÃ Ở CÁC
TỈNH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ
3.1 Thực trạng công tác tuyên giáo của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc 64
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG
CƯỜNG CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO CỦA ĐẢNG BỘ XÃ Ở CÁC TỈNH
4.1 Phương hướng tăng cường công tác tuyên giáo của đảng bộ xã ở các
4.2 Những giải pháp tăng cường công tác tuyên giáo của đảng bộ xã ở các
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BCV, TTV Báo cáo viên, tuyên truyền viên
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ thực tiễn
xây dựng Đảng, lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và tham khảo
kinh nghiệm của các Đảng Cộng sản trên thế giới, Đảng khẳng định, để Đảng
vững mạnh phải xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức,
trong đó xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng là nội dung quan trọng định hướng,
soi đường, dẫn lối cho mọi hoạt động của Đảng; trong công tác tư tưởng (CTTT)
thì công tác lý luận, công tác tuyên giáo (CTTG) có vai trò đặc biệt quan trọng
Đúng như C.Mác đã chỉ rõ: “Lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi
nó thâm nhập vào quần chúng” [117, tr.25] V.I.Lênin đã từng khẳng định:
“Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng [108,
tr.30]; chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng
làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong” [107, tr.32], Đảng Cộng sản không chỉ nắm
vững lý luận tiên phong, mà còn phải trang bị cho quần chúng nhân dân lý luận
tiên phong đó Với vai trò như vậy, CTTG có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bại
của cách mạng
Nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng CTTT, lý luận, trong quá trình
lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã quan tâm lãnh đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả
công tác xây dựng Đảng nói chung, CTTG nói riêng, góp phần to lớn vào thắng lợi
chung của cách mạng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trước yêu cầu, nhiệm vụ cách
mạng trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,
HĐH) đất nước, công tác xây dựng Đảng nói chung, CTTG của Đảng nói riêng
trong những năm qua còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém như Văn kiện Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định:
“Chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận chưa cao Chậm khắc
phục có hiệu quả những hạn chế của công tác tư tưởng như thiếu sắc bén,
chưa thuyết phục Đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 8bình” của các thế lực thù địch, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” còn bị động, hiệu quả chưa cao Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên
cứu lý luận chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới Việc triển khai
thực hiện nội dung các nghị quyết, chỉ thị, chủ trương của Đảng về rèn
luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, nâng cao năng lực, trình độ của cán
bộ, đảng viên chưa thực sự tích cực, đồng bộ, thường xuyên, một số nơi
thực hiện chưa nghiêm túc ” [73, tr.127]
Để khắc phục hiệu quả những hạn chế, yếu kém trên đây, đòi hỏi sự quan
tâm của Đảng, của toàn hệ thống chính trị và sự nỗ lực của hệ thống tuyên giáo từ
Trung ương đến cơ sở đóng một vai trò quan trọng vào thành công của công tác xây
dựng Đảng nói chung, CTTG của Đảng nói riêng
Đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc có vị trí rất quan trọng của đất nước
cả về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh quốc gia - là “phên dậu” của đất nước ở
vùng biên giới, biên cương Tổ quốc nên Đảng phải thường xuyên quan tâm lãnh
đạo xây dựng các tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ), chính quyền và hệ thống chính trị
nơi đây trong sạch, vững mạnh, trong đó cần quan tâm làm tốt CTTG trong giai
đoạn cách mạng hiện nay; bởi vì CTTG là lĩnh vực trọng yếu của công tác xây dựng
Đảng về chính trị, tư tưởng, góp phần quan trọng vào việc hình thành cương lĩnh,
đường lối chính trị đúng đắn của Đảng; truyền bá hệ tư tưởng, chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho quần chúng nhân dân; phát
huy tinh thần yêu nước, tính sáng tạo của quần chúng nhân dân nhằm biến chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thành phong trào hành động
cách mạng Bên cạnh đó, CTTG còn thể hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với các lĩnh
vực văn hóa, văn nghệ và khoa giáo, đảm bảo phát triển các lĩnh vực đó theo đúng
cương lĩnh, đường lối của Đảng trong từng thời kỳ Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết
trước hết là phải củng cố, xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh, trong đó
CTTG ở cơ sở có vị trí và ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xây dựng TCCSĐ
trong sạch, vững mạnh
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 9Trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường;
tình hình trong nước, trong các tỉnh đặt ra nhiều khó khăn thách thức Chính vì vậy,
đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ của các đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc là lãnh
đạo nhân dân thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách
và pháp luật của Nhà nước Trong đó, nổi bật là việc lãnh đạo nhân dân tiến hành
đường lối CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở các tỉnh biên giới phía Bắc; lãnh
đạo nhân dân thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn
mới; lãnh đạo nhân dân đấu tranh bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia; đấu tranh
chống lại hoạt động buôn lậu, buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới; lãnh đạo đấu
tranh chống lại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch Tình hình
thực tiễn đặt ra yêu cầu phải tăng cường CTTG của đảng bộ xã, CTTG phải đổi mới
nội dung, phương thức cho sát tình hình thực tiễn, phù hợp từng đối tượng cụ thể
Bên cạnh đó, xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo có bản lĩnh chính trị vững vàng,
tâm huyết, trách nhiệm với công việc, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ
chính trị của địa phương
Tuy nhiên, so với yêu cầu và nhiệm vụ công cuộc đổi mới và bảo vệ Tổ quốc
những năm tới, CTTG của các đảng bộ xã còn nhiều hạn chế, bất cập, nhất là sự
lúng túng trong nội dung, phương thức tiến hành CTTG; cơ cấu tổ chức bộ máy ban
tuyên giáo; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo và hệ quả là trong việc thực hiện
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước có mặt còn
chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra Chính vì vậy, trong quá trình đẩy
mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, yêu cầu bảo vệ vững chắc độc lập,
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ở các tỉnh biên giới phía Bắc trong giai đoạn mới
bên cạnh những thuận lợi thì vẫn còn không ít những khó khăn, thách thức đòi hỏi
các Đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc phải tăng cường hơn nữa CTTG
Với cách tiếp cận trên, tác giả chọn đề tài “Công tác tuyên giáo của đảng bộ
xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ,
chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 102 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về CTTG của đảng
bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc, luận án đề xuất phương hướng và các giải
pháp khả thi tăng cường CTTG của đảng bộ xã các tỉnh biên giới phía Bắc
đến năm 2030
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, tổng quan các công trình khoa học tiêu biểu trong nước và nước
ngoài liên quan trực tiếp đến đề tài luận án; chỉ ra những kết quả, xác định những
vấn đề luận án kế thừa và tiếp tục nghiên cứu
Hai là, làm rõ những vấn đề lý luận về CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh biên
giới phía Bắc gồm khái niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm, nội dung, phương thức tiến
hành CTTG…
Ba là, khảo sát, đánh giá thực trạng CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh biên
giới phía Bắc, chỉ rõ những ưu, khuyết điểm, nguyên nhân, kinh nghiệm
Bốn là, đề xuất phương hướng và những giải pháp tăng cường CTTG của
đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc đến năm 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh biên
giới phía Bắc giai đoạn hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu các hoạt động
CTTG của đảng bộ xã các tỉnh biên giới phía Bắc giai đoạn hiện nay
- Về thời gian khảo sát: Luận án tiến hành khảo sát, đánh giá CTTG của đảng
bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc từ năm 2010 đến nay, phương hướng, giải pháp
đề xuất có giá trị đến năm 2030
- Về không gian nghiên cứu: Luận án tiến hành khảo sát CTTG tại 5 tỉnh Lào
Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh với tổng số 815 xã
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 114 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương và đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam về CTTG được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết đại hội Đảng, nghị
quyết các hội nghị Trung ương…
4.3 Phương pháp nghiên cứu
- Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về CTTG
- Luận án sử dụng các phương pháp cụ thể như phương pháp lịch sử, logic,
phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra xã hội học, trực tiếp
trao đổi…
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Điểm mới của luận án được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
Một là, luận án làm rõ đặc điểm chủ thể lãnh đạo CTTG của đảng bộ xã ở
các tỉnh biên giới phía Bắc
Hai là, luận án đưa ra khái niệm CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh biên
giới phía Bắc
Ba là, luận án rút ra được một số kinh nghiệm CTTG của đảng bộ xã ở các
tỉnh biên giới phía Bắc
Bốn là, luận án đề xuất những giải pháp tăng cường CTTG của đảng bộ xã ở
các tỉnh biên giới phía Bắc đến năm 2030
6 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Kết quả luận án góp phần cung cấp luận cứ khoa học - thực tiễn cho việc
tăng cường CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 12- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp
ủy đảng, nhất là ở cơ sở
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập
và giảng dạy tại các trường chính trị tỉnh, thành phố, trung tâm bồi dưỡng chính trị
cấp huyện
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận án gồm 4 chương, 9 tiết
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC TRONG NƯỚC
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về xây dựng tổ chức đảng
Luận án tiến sĩ Lịch sử, “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ
sở đảng nông thôn vùng cao phía Bắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước” của tác giả Nguyễn Đức Ái [1] Luận án góp phần hệ thống
hóa các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm
của Đảng về vị trí và vai trò của TCCSĐ; những nội dung cơ bản của CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn; đặc điểm, vai trò của các TCCSĐ nông thôn vùng cao phía
Bắc thuộc 3 tỉnh Cao Bằng, Sơn La và Lai Châu Đồng thời, luận án chỉ ra các giải
pháp tương đối toàn diện và có tính khả thi nhằm nâng cao khả năng lãnh đạo, sức
chiến TCCSĐ nông thôn vùng cao phía Bắc trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
đất nước
Đề tài khoa học cấp Bộ “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên” của tác giả Nguyễn Ngọc Thịnh [147]
Đề tài luận giải những nội dung về mặt lý luận của TCCSĐ và đảng viên như khái
niệm TCCSĐ, đảng viên; chức năng, nhiệm vụ, vị trí và vai trò Trên cơ sở nghiên
cứu thực tế, nhóm tác giả đề tài đã nêu những ưu điểm, hạn chế liên quan đến
TCCSĐ, đảng viên, nguyên nhân của thực trạng, trong đó chủ yếu là do nhận thức
về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ đảng viên
chưa cao Đề tài nêu ra những giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của TCCSĐ và
chất lượng đội ngũ đảng viên Những nội dung trên có giá trị tham khảo cho nghiên
cứu sinh trong việc đề ra những giải pháp nâng cao chất lượng các đảng bộ xã
Đề tài khoa học cấp Bộ “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở đảng cấp xã ở các tỉnh miền núi Tây Bắc nước ta - Thực trạng và giải
pháp” của tác giả Nguyễn Việt Phương [139] Đề tài khẳng định TCCSĐ ở cơ sở
có vị trí, vai trò và tầm quan trọng trong việc lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ
chính trị ở địa phương, nhất là đối với các tỉnh miền núi ở nước ta Trên cơ sở
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 14đánh giá thực trạng ưu điểm, hạn chế về năng lực lãnh đạo của TCCSĐ ở cấp xã,
đề tài đã nêu ra những giải pháp tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến
đấu của TCCSĐ cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc
Công trình “Xây dựng Đảng Cộng sản Việt nam trong sạch, vững mạnh
trong tình hình mới, thực tiễn và bài học kinh nghiệm” của Hội đồng lý luận Trung
ương [96] Bài viết nêu lên bốn nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của Đảng, trong đó có nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị,
tư tưởng Cốt lõi của nhóm giải pháp này là tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhằm nâng cao khả năng nhận thức, bản lĩnh
chính trị, phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên; đấu tranh làm thất bại âm mưu
và hoạt động “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch, phòng chống “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng Giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tạo sự
đồng thuận trong xã hội
Cuốn sách “Nâng cao chất lượng đảng bộ xã trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” của tác giả Dương Trung Ý
[178] Nội dung cuốn sách đã khẳng định CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là
nhiệm vụ hết sức quan trọng góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho
nhân dân, đóng góp vào thành công chung của đường lối CNH, HĐH đất nước Tác
giả khẳng định, đảng bộ xã có vai trò rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của
Đảng, cấp xã là nơi trực tiếp thực hiện và vận dụng đúng đắn mọi chủ trương của
Đảng vào thực tiễn cuộc sống Tác giả đã làm rõ vị trí, vai trò của xã và đảng bộ xã;
chất lượng đảng bộ xã - Quan niệm và tiêu chí đánh giá; thực trạng, nguyên nhân và
kinh nghiệm; tác giả đề ra phương hướng và những giải pháp chủ yếu nâng cao chất
lượng các đảng bộ xã
Công trình “Tình hình mới và những vấn đề đang đặt ra trong công tác xây
dựng Đảng ở Việt Nam - Phương hướng và giải pháp” của tác giả Tạ Ngọc Tấn
Tác giả nhấn mạnh để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đáp
ứng yêu cầu của tình hình, thì cần phải “nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác
tư tưởng, lý luận , tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính
chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng; tuyên truyền, học tập
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 15chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước” [96, tr.63-64]
Cuốn sách “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên” của tác giả Võ Văn Đức, Đinh
Ngọc Giang [83] Nội dung cuốn sách khẳng định: Một là, cơ sở lý luận và thực tiễn
về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ
cán bộ, đảng viên Hai là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các
TCCSĐ, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực trạng, kinh nghiệm (qua khảo
sát tại các tỉnh Bắc Giang, Cao Bằng, Hà Giang, Hòa Bình, Lạng Sơn) Ba là, cuốn
sách đưa ra giải pháp nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo của TCCSĐ, chất lượng
đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về công tác tư tưởng
Luận án tiến sĩ Lịch sử, “Chất lượng công tác tư tưởng của tổ chức cơ sở
đảng (cấp xã) vùng đồng bào dân tộc ít người ở các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn
hiện nay” của tác giả Cao Văn Định [78] Tác giả nêu lên các quan niệm về CTTT,
chất lượng CTTT của TCCSĐ (cấp xã) Tác giả đã phân tích, làm rõ được thực
trạng CTTT của các TCCSĐ cấp xã từ năm 1986 đến nay, những vấn đề đặt ra và
đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng CTTT
của TCCSĐ cấp xã vùng đồng bào dân tộc ít người ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
Cuốn sách “Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng”
của tác giả Hà Ngọc Hợi [97] Cuốn sách đã khẳng định được thực trạng CTTT của
Đảng, trên cơ sở đó tác giả làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra yêu cầu
phải đổi mới CTTT Cuốn sách đã đưa ra những tiêu chí để đánh giá chất lượng,
hiệu quả, giải pháp nâng cao chất lượng CTTT, nhất là nâng cao chất lượng công
tác tuyên truyền, cổ động để tuyên truyền và vận động các tầng lớp nhân dân thực
hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị đề ra
Bài viết “Kết hợp hai chiều trong công tác tư tưởng ở cơ sở” của tác giả
Nguyễn Khắc Bộ [53] đã khẳng định hai vế “Dân biết” và “Đảng biết” không thể
tách rời nhau, bởi mọi chủ trương, đường lối của Đảng cũng như chính sách, pháp
luật của Nhà nước cần được tuyên truyền tới cơ sở để mọi người dân được biết,
được thảo luận dân chủ để đi tới thống nhất, thì khi thực hiện mới thành công… Để
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 16làm tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thì CTTT phải có
sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhất là cấp uỷ, tổ chức bộ máy tiến hành
CTTT, của mọi cán bộ, đảng viên
Đề tài khoa học cấp Bộ, “Nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng của cấp ủy
xã miền núi phía Bắc hiện nay” của tác giả Triệu Quang Tiến [151] Đề tài nêu ra
những yếu tố tác động đến CTTT ở nông thôn miền núi phía Bắc; Vai trò, nhiệm vụ
CTTT của Đảng và nhiệm vụ CTTT của các cấp ủy xã miền núi phía Bắc Tác giả
khẳng định được những nội dung chủ yếu, phương hướng và những giải pháp nâng
cao hiệu quả CTTT cấp ủy xã miền núi phía Bắc
Đề tài khoa học cấp Bộ, “Tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh và một số suy
nghĩ về công tác tuyên truyền hiện nay” của tác giả Lương Khắc Hiếu [87] Đề tài
làm rõ được tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyên truyền, công tác tuyên truyền (chủ thể,
đối tượng, nội dung, cách thức tuyên truyền); tác giả làm rõ phong cách sử dụng
ngôn ngữ khi nói, khi viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh Dựa trên tư tưởng, phong
cách Hồ Chí Minh, tác giả đề xuất giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền theo
hướng cụ thể, thiết thực
Đề tài khoa học cấp Bộ, “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác tư
tưởng trong thời kỳ mới” của tác giả Nguyễn Danh Tiên [149] Tác giả đã luận giải
được quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về CTTT
trong tình hình mới, những vấn đề đặt ra với CTTT trong thời kỳ mới Tác giả đã
làm rõ thực trạng quá trình Đảng chỉ đạo CTTT; một số thành tựu, hạn chế, bài học
kinh nghiệm Chương 3: Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp nâng cao sự lãnh
đạo của Đảng đối với CTTT trong tình hình hiện nay
Công trình “Nguyên lý công tác tư tưởng - tập I và tập II” của tác giả Lương
Khắc Hiếu [88] Cuốn sách đã làm rõ những vấn đề quan trọng của CTTT như chủ
thể, đối tượng, nội dung, mục đích, chức năng, nhiệm vụ và vai trò của CTTT trong
đời sống xã hội Tác giả đưa ra những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả của
CTTT: Trước hết cần tạo điều kiện môi trường thuận lợi về chính trị tư tưởng, kinh
tế, văn hoá, xã hội cho CTTT Hai là, chú trọng đến đối tượng, nội dung, mục
đích, phương thức tiến hành CTTT cho phù hợp
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 17Đề tài khoa học cấp cơ sở, “Xử lý tình huống trong công tác tư tưởng, dân
vận của Đảng” của tác giả Đỗ Ngọc Ninh [134] Tác giả khẳng định CTTT và công
tác dân vận có mối liên hệ mật thiết với nhau, trên có sở đó làm rõ những tình
huống CTTT, công tác dân vận diễn ra ở một số tỉnh thành từ năm 1998 đến năm
2009 Tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn như: Quan niệm về tình
huống, tình huống CTTT, công tác dân vận; đặc điểm của tình huống CTTT, công
tác dân vận; quan niệm, nguyên tắc, phương châm, phương pháp xử lý tình huống
CTTT, dân vận của Đảng…Đồng thời đề xuất tình huống có thể xảy ra về CTTT,
dân vận trong những năm tiếp theo và đề xuất cách xử lý Kết quả nghiên cứu của
đề tài có giá trị cho cấp uỷ, cán bộ và đảng viên trong xử lý tình huống CTTT
Cuốn sách “Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới” của tác
giả Phạm Tất Thắng [145] Tác giả đã phân tích được vấn đề lý luận của CTTT như
chủ thể, đối tượng, nội dung, khái niệm tư tưởng và CTTT của Đảng Tác giả nêu ra
những giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả về nội dung, phương pháp tiến
hành Tác giả nhấn mạnh trong tuyên truyền thi đua yêu nước cần hướng tới tuyên
truyền tấm gương điển hình tiên tiến, những người tốt, việc tốt cụ thể, thiết thực,
không hình thức
Cuốn sách “Công tác tư tưởng (sách chuyên khảo)” của tác giả Đào Duy
Quát [141] Nội dung của cuốn sách gồm 2 chương đã làm rõ được những vấn đề về
khái niệm, hệ thống, cấu trúc và đối tượng, phương pháp nghiên cứu CTTT; mục
đích, chức năng và nhiệm vụ của CTTT; vai trò của CTTT trong sự nghiệp đổi mới;
nguyên tắc, phương châm, giáo dục tư duy lý luận, chính trị - tư tưởng, kinh tế…
Nội dung đấu tranh tư tưởng, đặc biệt cuốn sách khẳng định vai trò của đội ngũ báo
cáo viên (BCV), tuyên truyền viên (TTV) trong việc tuyên truyền và bảo vệ Đảng
Tác giả nhấn mạnh cần xây dựng đội ngũ cán bộ cho CTTT, cơ sở vật chất tiên tiến,
hệ thống tổ chức và phương thức hoạt động của ban tuyên giáo; hoạt động kiểm tra
hiệu quả của CTTT…
Cuốn sách “Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng ở cơ sở” của
các tác giả Ngô Huy Tiếp, Đinh Ngọc Giang [152] Cuốn sách đã làm rõ khái niệm
về “nâng cao”, “chất lượng”, “công tác tư tưởng ở cơ sở”, trong đó cuốn sách đề
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 18cập đến vị trí, vai trò và nội dung công tác tuyên truyền miệng ở cấp cơ sở Các tác
giả làm rõ những nội dung, hình thức, phương châm thực hiện công tác tuyên
truyền miệng
Bài viết “Một số vấn đề trong đổi mới công tác tư tưởng, lý luận” của tác
giả Phạm Tất Thắng [146] Tác giả khẳng định CTTT, lý luận có vị trí, vai trò đặc
biệt quan trọng trong hệ thống tổ chức và hoạt động của chính Đảng, trong quá
trình tổ chức, vận động cách mạng, tiến tới giành chính quyền cũng như trong xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nhận thấy tầm quan trọng đó, tác
giả đề xuất giải pháp đổi mới CTTT, lý luận của Đảng
Cuốn sách “Những vấn đề lý luận về công tác tư tưởng của Đảng hiện nay”
của tác giả Ngô Huy Tiếp [153] Nội dung cuốn sách khẳng định CTTT góp phần
xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng, chính trị Tác giả chỉ rõ bản chất CTTT của
Đảng là một hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức của Đảng đối với các hoạt động
tư tưởng Theo tác giả CTTT được cấu thành bởi ba bộ phận, đó là: Công tác lý
luận; văn hóa - văn nghệ; tuyên truyền, cổ động
Công trình “Nâng cao tính thuyết phục của công tác tư tưởng trước những
đòi hỏi mới của sự nghiệp cách mạng ở nước ta” của tác giả Phạm Văn Linh [113]
đã nêu lên vai trò, các bộ phận cấu thành CTTT; mối quan hệ giữa nội dung và hình
thức; chủ thể và khách thể và quan hệ giữa nội dung, hình thức với chủ thể tác động
tới khách thể Tác giả khẳng định trong CTTT, tính thuyết phục và tính chiến đấu
có mối quan hệ biện chứng với nhau Tác giả đã chỉ ra những đóng góp cũng như
hạn chế của CTTT trong những chặng đường đã qua, đồng thời chỉ ra 6 nhiệm vụ
trong giai đoạn mới
Công trình “Một số yêu cầu cơ bản quy định tính thuyết phục trong công tác
tư tưởng của Đảng” của tác giả Hoàng Quốc Bảo [50] Tác giả chỉ ra CTTT của
Đảng chịu sự tác động của những yếu tố như sau: Một là, tính thuyết phục trong
CTTT chịu sự chi phối, tác động của mục đích CTTT Hai là, tính thuyết phục của
CTTT chịu sự chi phối, tác động của đối tượng CTTT Ba là, tính thuyết phục trong
CTTT chịu sự tác động, chi phối của nội dung CTTT Tác giả khẳng định các yếu tố
nêu trên tự nó không thể tác động, chi phối tính thuyết phục của CTTT mà phải
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 19thông qua hoạt động của chủ thể CTTT Để đảm bảo và không ngừng nâng cao tính
thuyết phục trong CTTT của Đảng cần xây dựng tiêu chuẩn của người cán bộ làm
CTTT và cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ phù hợp để tuyển chọn người có tâm, có
tầm, có trí, có đức vào hoạt động trong CTTT
Cuốn sách “Công tác tư tưởng trong thời kỳ đổi mới” của tác giả Đào Duy
Tùng Tác giả đi sâu nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, dành nhiều thời gian xuống cơ
sở, tiếp xúc trực tiếp với nhân dân, học hỏi kinh nghiệm và lắng nghe ý kiến của
dân Cuốn sách khẳng định: CTTT là một khoa học và một nghệ thuật Là “một
khoa học” - CTTT của Đảng có nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, phát triển một cách
sáng tạo và làm cho phong phú lý luận học thuyết Mác - Lênin Là “một nghệ
thuật” - các “binh chủng” của CTTT phải bám sát thực tiễn, thông qua các hoạt
động của mình trang bị lý luận cách mạng tiên tiến cho quần chúng, biến nó thành
lý tưởng và niềm tin, thành sự giác ngộ sâu sắc và hành động cách mạng để nhân
nguồn sức mạnh nội lực thành một lực lượng vật chất vô địch, đưa mọi chủ trương,
đường lối của Đảng vào thực tiễn cuộc sống [169, tr.375-376]
Cuốn sách chuyên khảo, “Xử lý tình huống trong công tác tư tưởng (sách
chuyên khảo)”của tác giả Mai Đức Ngọc [129] Cuốn sách đã phân tích làm rõ nội
hàm khái niệm CTTT; phân tích nội dung, biểu hiện, nguyên nhân và cách thức
nhận dạng, yêu cầu và phương pháp tiếp cận quy trình, giải pháp xử lý các tình
huống trong CTTT Từ đó cung cấp kiến thức, kỹ năng cho cán bộ lãnh đạo, quản
lý trong việc chủ động xử lý có hiệu quả các tình huống trong CTTT
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học, “Đổi mới công tác tuyên truyền
của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê
Mai Trang [166] Tác giả đã làm rõ khái niệm “tuyên truyền”, “công tác tuyên
truyền” và “công tác tuyên truyền của Đảng” Tác giả chỉ ra ưu điểm, hạn chế công
tác tuyên truyền trong điều kiện hội nhập quốc tế ở Việt Nam; trên cơ sở chỉ những
hạn chế, yếu kém và dự báo thời cơ, thách thức, tác giả đề ra quan điểm và giải
pháp đổi mới công tác tuyên truyền (giải pháp nâng cao nhận thức của Đảng về vị
trí, vai trò của công tác tuyên truyền; giải pháp về thể chế; giải pháp về xây dựng
đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất - kỹ thuật)
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 20Cuốn sách “Cơ sở lý luận công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam
(sách chuyên khảo)” của tác giả Lương Khắc Hiếu [90] Nội dung cuốn sách đã làm
rõ khái niệm, phạm trù về các yếu tố, các bộ phận cấu thành của CTTT Cuốn sách
còn đi sâu nghiên cứu lý luận về các hình thái, các bộ phận của CTTT Tác giả làm
rõ được công tác tuyên truyền và hoạt động của BCV, TTV; công tác giáo dục lý
luận chính trị và giáo dục truyền thống cách mạng; các tổ chức và sinh hoạt, hội họp
của các tổ chức; các thiết chế văn hóa và hoạt động của các thiết chế văn hóa; các
phương tiện thông tin đại chúng
Công trình, “Tính thuyết phục của công tác tư tưởng”, (2017) của tác giả
Nguyễn Đắc Hưng [99] Tác giả khẳng định, tính thuyết phục của CTTT là sự
thuyết phục trên cả 3 phương diện: Quan điểm, lập trường và kỹ năng (năng lực
thuyết phục); đồng thời, được thể hiện trên ba hình thái, ba bộ phận cơ bản, đó là:
công tác lý luận, công tác giáo dục lý luận, công tác cổ động, làm cho chúng ngày
càng hoàn thiện, thấm sâu vào tư tưởng của mọi đối tượng, động viên mọi người
tham gia cách mạng Để nâng cao tính thuyết phục, CTTT cần phải chú ý đến nội
dung quan trọng sau: Một là, cần phải hiểu biết rõ nội hàm và bản chất CTTT, đồng
thời đánh giá đúng thực trạng CTTT, thực trạng niềm tin, đạo đức, lối sống của các
tầng lớp nhân dân trong xã hội Hai là, để giữ vững và mở rộng mặt trận tư tưởng
của Đảng đòi hỏi CTTT phải nâng cao tính chiến đấu chống lại quan điểm sai trái,
thù địch, bám sát thực tiễn, sát đối tượng Ba là, trong bối cảnh bùng nổ thông tin
như hiện nay, khi làm CTTT cần nắm thông tin đa chiều, kết hợp thông tin từ trên
xuống, thông tin từ dưới lên Bốn là, cách thức chủ yếu của hoạt động tư tưởng là
viết và nói; do đó, muốn thuyết phục cán bộ, đảng viên phải viết đúng theo quan
điểm của Đảng, đúng bản chất của sự vật, hiện tượng
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về công tác tuyên giáo
Cuốn sách, “Nghiệp vụ tuyên giáo (dành cho cán bộ tuyên giáo các cấp)”
của tác giả Ngô Văn Thạo [144] Tác giả khẳng định CTTG là sự thống nhất biện
chứng giữa CTTT và công tác khoa giáo; CTTG chỉ các hoạt động tham mưu, chỉ
đạo, kiểm tra của tổ chức đảng về lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và khoa giáo Cuốn
sách làm rõ vai trò, nguyên tắc, nội dung, phương châm và nhiệm vụ của CTTG ở
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 21cơ sở; chỉ ra những việc mà cán bộ tuyên giáo cấp xã cần tiến hành thực hiện Cuốn
sách là cẩm nang về bồi dưỡng nghiệp vụ CTTG cơ sở
Cuốn sách “Nghiên cứu lý luận phục vụ công tác tuyên giáo” của tác giả Đỗ
Khánh Tặng [142] Nội dung cuốn sách chủ yếu tập trung vào hai vấn đề chính:
Một là, tư tưởng, đạo đức, tác phong, lời nói và việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn soi sáng lý luận và thực tiễn CTTG Hai là, cuốn sách đã đề cập đến chuyên đề
lý luận, thực tiễn về CTTG Tác giả khẳng định, CTTG là một nghề của hoạt động
chính trị và xã hội phức tạp Tác giả chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa CTTT
với công tác dân vận; những nội dung chủ yếu CTTG cấp huyện, cấp xã và mối
quan hệ giữa chúng; làm rõ được thế mạnh của văn học - nghệ thuật phục vụ
CTTG, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác của đội ngũ cán bộ tuyên giáo
Bài viết “Làm gì để đổi mới công tác tuyên giáo” của tác giả Hà Đăng [77]
đã làm rõ những việc cần làm để đổi mới CTTG: Phải đổi mới tư duy về CTTG; đổi
mới phương thức và phong cách làm CTTG; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ của đội ngũ cán bộ làm CTTG; đổi mới cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động và
có chính sách khuyến khích thích hợp đối với cán bộ tuyên giáo
Công trình “Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác
tuyên giáo” của tác giả Lê Hồng Anh [3] đã chỉ rõ thực trạng CTTG hiện nay Tác
giả khẳng định những thành công đã đạt được có sự đóng góp to lớn của CTTG
trong việc góp phần nâng cao nhận thức, hành động của nhân dân vào sự lãnh đạo
của Đảng Dựa trên cơ sở những hạn chế của CTTG, tác giả đưa ra một số giải pháp
nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả CTTG của Đảng
Công trình “Nâng cao chất lượng công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư
luận xã hội phục vụ công tác tuyên giáo của Đảng” của tác giả Lâm Phương Thanh
[143] Bài viết khẳng định công tác nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội là công việc
quan trọng nhằm nắm bắt tình hình tư tưởng của nhân dân về những vấn đề, sự kiện
có tính thời sự, đặc biệt là các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Đồng thời, tác giả chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện công tác
nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội, từ đó đề ra 5 nhiệm vụ CTTG cần tập trung giải
quyết nhằm nâng cao hiệu quả của công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu và định
hướng dư luận xã hội
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 22Công trình “Tăng cường đổi mới công tác báo cáo viên, tuyên truyền miệng
đáp ứng yêu cầu tình hình mới” của tác giả Bùi Thế Đức [79] Tác giả khẳng định
công tác BCV, tuyên truyền miệng có vị trí, vai trò quan trọng, đóng góp rất lớn vào
những thành công của đường lối đổi mới đất nước; tác giả đề cấp đến những khó
khăn mà tình hình chính trị, kinh tế thế giới cùng với những hạn chế nội tại của nền
kinh tế đất nước đối với CTTG Bài viết đã chỉ ra 6 giải pháp đổi mới CTTG nhằm
đáp ứng yêu cầu cách mạng đặt ra trong thời kỳ mới
Công trình “Nhân rộng mô hình, cách làm sáng tạo trong công tác tuyên
giáo ở cơ sở” của tác giả Phạm Thu Hà [84] Bài viết đã đề cập đến một vài mô
hình, cách làm sáng tạo trong CTTG ở một số xã, phường ở tỉnh Lào Cai theo mô
hình tuyên vận đã sắp xếp lại về tổ chức, nội dung, phương thức, cách thức thực
hiện CTTG tại cơ sở theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối, đây là điều chưa từng có
trong tiền lệ, là một nét đột phá trong CTTG cơ sở tại tỉnh Lào Cai
Công trình “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên giáo, đáp ứng yêu
cầu của tình hình mới” của các tác giả Trần Doãn Tiến, Trần Viết Lưu [150] Bài
viết đã nêu những nhận định của Hội nghị Toàn quốc tổng kết công tác tuyên giáo
năm 2014, làm rõ thành tựu và hạn chế của CTTG trên các lĩnh vực chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội từ đó khẳng định được vai trò của CTTG trong việc thực hiện
chủ trương, đường lối của Đảng; các tác giả đã nêu ra những giải pháp thiết thực, cụ
thể để nâng cao chất lượng, hiệu quả CTTG và nêu lên nội dung trọng tâm của
CTTG trong năm 2015
Cuốn sách “Công tác tuyên giáo trước yêu cầu mới” của tác giả Bùi Thế
Đức Nội dung cuốn sách đã làm rõ những yêu cầu đối với việc xây dựng đội ngũ
cán bộ tuyên giáo cần đảm bảo các tiêu chí về phẩm chất, năng lực cơ bản: Thứ
nhất, cán bộ tuyên giáo phải có bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng, phẩm chất
đạo đức, lối sống trong sáng, giản dị, phải có “tâm” và “tầm” Thứ hai, cán bộ thực
hiện CTTG phải có tinh thần hăng say, nhiệt huyết với nghề Thứ ba, cán bộ, đảng
viên tiến hành CTTG phải bám sát thực tiễn và gắn bó mật thiết với các tầng lớp
nhân dân Thứ tư, cán bộ tuyên giáo cần có tác phong làm việc khoa học [80,
tr.55-58] Bên cạnh đó, tác giả khẳng định CTTG cần tiếp tục đấu tranh chống lại âm
mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của thế lực phản động
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 23Công trình “Tiếp tục đổi mới công tác tuyên giáo, đáp ứng yêu cầu xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” của tác giả Mai Văn Ninh [135] Bài viết
khẳng định muốn đổi mới CTTG đòi hỏi phải triển khai toàn diện, đồng bộ nhiều
nội dung Trong đó, cần tập trung vào 5 nhiệm vụ trọng tâm: (1) CTTT phải luôn đi
liền thực tiễn phát triển kinh tế, ổn định đời sống xã hội (2) Đổi mới công tác quán
triệt, tuyên truyền thực hiện các nghị quyết của Đảng theo tinh thần đúng người,
đúng việc (3) Phát huy sức mạnh tổng hợp, đồng bộ của các lực lượng, các phương
pháp, thường xuyên, kiên quyết đấu tranh chống lại quan điểm sai trái, thù địch (4)
CTTG phải luôn đảm bảo tính khách quan, tính chiến đấu và thuyết phục cao (5)
Quan tâm chăm lo đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ CTTG
Bài viết có giá trị tham khảo tốt đối với luận án trong việc đề ra giải pháp nâng cao
CTTG của đảng bộ xã
Cuốn sách “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo trong giai đoạn hiện nay”
của Học viện Báo chí và Tuyên truyền Nội dung cuốn sách nêu lên những giải
pháp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên: Một là, tiếp tục hoàn
thiện chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ CTTG phù hợp với yêu cầu đặt ra trong
tình hình mới Hai là, trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cần đổi mới nội dung,
chương trình Ba là, công tác luân chuyển cán bộ tuyên giáo cần được thực hiện phù
hợp qua đó góp phần rèn luyện cán bộ qua thực tiễn cách mạng Bốn là, ban hành
và thực hiện một số chế độ, chính sách phù hợp, nhất là đối với đội ngũ cán bộ
chuyên trách Năm là, xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị có kiến thức
chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm thực tiễn [94, tr.509-513]
Công trình “Một số yếu tố tác động đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
tuyên giáo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Bùi Thị Kim Hậu [85]
Bài viết đã làm rõ được 4 yếu tố tác động chính: Một là, tình hình thuận lợi, khó
khăn trong nước tạo ra những cơ hội và thách thức đan xen Hai là, sự lãnh đạo của
Đảng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo
Ba là, bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức và lối sống; năng lực
chuyên môn, nghiệp vụ của những người làm công tác đào tạo, bồi dưỡng là nhân tố
quan trọng tác động trực tiếp đến công tác đào tạo cán bộ
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 24Công trình “Cán bộ tuyên giáo và việc đào tạo nghề tuyên giáo” của tác giả
Nguyễn Minh Tuấn [168] Tác giả khẳng định cán bộ tuyên giáo là người thực hiện
nhiệm vụ thuyết phục, cảm hóa người khác tin tưởng và quyết tâm theo đuổi mục
tiêu, con đường chính trị mang lại lợi ích trước mắt và lâu dài cho giai cấp, dân tộc
Bài viết khẳng định để đào tạo nghề tuyên giáo, cần xây dựng và thực hiện 5 tiêu
chuẩn: Một là, bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của
Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Hai là, cán bộ tuyên giáo phải có đạo
đức cách mạng, lối sống giản dị, trong sáng Ba là, cán bộ tuyên giáo phải có kiến
thức lý luận chính trị vững chắc Bốn là, cán bộ tuyên giáo phải có phong cách công
tác dân chủ, khoa học, lý luận và thực tiễn phải đi liền với nhau, nói đi đôi với làm
Năm là, cán bộ tuyên giáo phải chủ động tham mưu, dự báo giỏi
Công trình “Toàn cầu hóa và những vấn đề đặt ra đối với công tác tuyên
giáo ở nước ta hiện nay” của tác giả Phạm Văn Linh [114] đã khẳng định toàn cầu
hóa mang lại nhiều cơ hội, đồng thời Việt Nam phải đối mặt với những thách thức
to lớn, đòi hỏi phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, bồi dưỡng và giáo dục
con người nhằm nâng cao ý thức, phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc ở mỗi
người dân Chính vì vậy, CTTG cần tập trung thực hiện những nội dung quan trọng:
Một là, tập trung làm tốt công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho các tầng
lớp nhân dân Hai là, công tác tuyên truyền cần đặc biệt chú ý làm rõ mối quan hệ
giữa hội nhập quốc tế và phát huy nội lực
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học, “Đổi mới tổ chức và hoạt động
của ban tuyên giáo đảng ủy cấp xã ở nước ta hiện nay” của tác giả Phạm Văn Hiến
[86] Tác giả đã làm rõ vấn đề lý luận, thực trạng về tổ chức và hoạt động của ban
tuyên giáo đảng ủy cấp xã Khái quát được kết quả đạt được, hạn chế của ban tuyên
giáo đảng uỷ cấp xã; chỉ ra nguyên nhân trong tổ chức và hoạt động của ban tuyên
giáo ở nước ta từ năm 2011 đến nay Dựa trên cơ sở thực tiễn, tác giả đề ra các giải
pháp chủ yếu đổi mới tổ chức và hoạt động của ban tuyên giáo đảng ủy cấp xã ở
nước ta hiện nay
Công trình “Quảng Ninh đổi mới nội dung, phương thức công tác báo cáo
viên, tuyên truyền miệng” của tác giả Phạm Hồng Cẩm [58] Bài viết khẳng định
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 25trong những năm qua, công tác củng cố đội ngũ BCV, TTV được các cấp ủy đảng
đặc biệt coi trọng Tác giả khẳng định, trong phương pháp truyên truyền các BCV
không chỉ sử dụng phương pháp truyền thống mà còn sử dụng các cở sở vật chất, kỹ
thuật hiện đại, trình chiếu bằng hình ảnh, góp phần nâng cao tính thuyết phục, hiệu
quả trong công tác tuyên truyền, nhất là tổ chức hội nghị trực tuyến đã góp phần
nắm bắt kịp thời diễn biến tư tưởng của nhân dân trong việc thực hiện các nhiệm vụ
chính trị của địa phương Tác giả khẳng định 4 nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện để
đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền miệng trong tình hình mới
Công trình (2018) “Cách nâng cao hiệu quả tuyên truyền miệng” của tác giả
Lương Khắc Hiếu [91] Bài viết khẳng định, yếu tố ngôn ngữ là công cụ quan trọng
nhất bảo đảm cho cán bộ tuyên truyền, BCV thực hiện mục đích hoạt động của
mình Để tuyên truyền hiệu quả người BCV phải sử dụng hiệu quả một số cách
như: Sử dụng ngôn ngữ nói, dùng phương tiện trực quan và kết hợp với phương tiện
ngôn ngữ, sử dụng con số, số liệu thực tế, trả lời câu hỏi khi thực hiện đối thoại để
người nghe dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo
Công trình “Nâng cao tính chủ động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ tuyên
giáo” của tác giả Võ Văn Thưởng [148] Bài viết khẳng định những nội dung quan
trọng mà CTTG cần thực hiện: Một là, công tác giáo dục lý luận chính trị của Đảng
phải được đổi mới về nội dung, hình thức học tập Hai là, cải tiến và nâng cao hơn
nữa các hội nghị giao ban, hội nghị BCV Ba là, nâng cao chất lượng và tính chủ
động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ tuyên giáo trong công tác tham mưu, đề xuất, giải
quyết những vấn đề cấp thiết đặt ra Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát
quá trình thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng
Công trình “Cần nhận thức đúng về công tác tuyên giáo” của tác giả Lương
Ngọc Vĩnh [176] đã phân biệt giữa CTTG với CTTT, CTTG với cơ quan tuyên
giáo Tác giả đã phân biệt được nội dung CTTG qua các thời kỳ lãnh đạo cách
mạng của Đảng Đặc biệt, tác giả đưa ra quan niệm CTTG là toàn bộ các hoạt động
tư tưởng của Đảng, bao gồm xây dựng, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
nước đến các tầng lớp nhân dân; đồng thời, bảo đảm sự lãnh đạo vững chắc của
Đảng đối với các lĩnh vực văn hóa - văn nghệ và khoa giáo
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 26Cuốn sách “Bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tuyên giáo ở cơ sở” của Ban
Tuyên giáo Trung ương [44] Nội dung cuốn sách làm rõ được những nội dung của
CTTG ở cơ sở: Công tác giáo dục lý luận chính trị, giáo dục truyền thống cách
mạng cho nhân dân; công tác tuyên truyền, cổ động; văn hóa - văn nghệ; nắm bắt
dư luận xã hội và xử lý tình huống có vấn đề, “điểm nóng” ở cơ sở; công tác khoa
giáo cơ sở Đặc biệt, nội dung cuốn sách đã làm rõ khái niệm, vị trí, vai trò và các
lực lượng tiến hành CTTG ở cơ sở
Công trình “Công tác tuyên giáo với xây dựng Đảng trong sạch, vững
mạnh” của tác giả Bùi Thế Đức [81] Bài viết khẳng định ngành tuyên giáo đóng
góp to lớn vào công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đạo đức,
nổi bật là chủ động tham mưu giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo toàn
diện CTTG Công tác tham mưu về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ,
môi trường, y tế, dân số, thể thao, an ninh xã hội có chuyển biến rõ nét Theo tác
giả, ngành tuyên giáo cần đẩy mạnh việc tuyên truyền sâu, giáo dục kỹ cho cán bộ,
đảng viên về phòng, chống tham nhũng Tác giả khẳng định, CTTG phải góp phần
luận giải những vấn đề cấp bách từ thực tiễn của đường lối CNH, HĐH đất nước
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC NƯỚC NGOÀI
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về công tác tư tưởng, lý luận của Đảng
V.I.Lênin đã luận giải vai trò và tầm quan trọng của CTTT, lý luận; tác giả
đã khẳng định CTTT và công tác lý luận có mỗi liên hệ chặt chẽ với nhau trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ cách mạng Theo V.I.Lênin:
“Làm công tác lý luận của Đảng tức là nghiên cứu, phổ biến, tuyên truyền
hệ tư tưởng mác-xít, còn làm công tác tư tưởng là dựa trên cơ sở lý luận,
trên cơ sở những kết luận khoa học đúc rút được từ lý luận và thực tiễn để
phổ biến, tuyên truyền và tổ chức thực hiện tư tưởng của Đảng bất kỳ
một đảng cách mạng nào cũng phải coi trọng cả hai công tác đó là một
nhiệm vụ quan trọng, cần phải tiến hành đồng thời” [106, tr.382]
Những chỉ dẫn trên của V.I.Lênin có ý nghĩa quan trọng đối với Đảng ta
trong giai đoạn hiện nay
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 27Bài viết “Đấu tranh chống hủ bại trong thời kỳ đổi mới của cuộc cải cách và
mở cửa ở Trung Quốc” của tác giả Điền Tâm Minh đã khẳng định: “Công tác chính
trị tư tưởng của Đảng là yếu tố quyết định của công tác kinh tế và mọi công tác
khác, là khâu trọng tâm đoàn kết toàn Đảng và nhân dân các dân tộc trong cả nước”
và “Qua việc giáo dục tư tưởng, nâng cao phẩm chất tư tưởng chính trị của con
người, có thể phòng, chống tệ hủ bại một cách chủ động và tự giác” [130, tr.327]
Luận án tiến sĩ, “Công tác lý luận của Đảng nhân dân cách mạng Lào trong
thời kỳ đổi mới” của tác giả Phăn Đuông Chít Vông Sa [138] đã khẳng định trong
sự lãnh đạo của Đảng thì công tác lý luận có vai tro quan trọng Từ năm 1986, sau
Đại hội IV của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đến nay, công tác lý luận của Đảng
có nhiều đổi mới, đóng góp vào quá trình phát triển của đất nước trên mọi lĩnh vực
Tuy nhiên, những vấn đề lý luận của công cuộc đổi mới đặt ra cần làm sáng tỏ Tác
giả đã phân tích thực trạng và nêu lên một số kinh nghiệm đổi mới công tác lý luận,
đồng thời đề ra phương hướng, giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng
công tác lý luận của Đảng Nhân dân cách mạng Lào
Luận án tiến sĩ Lịch sử, “Công tác tư tưởng của Đảng nhân dân cách mạng
Lào hiện nay” của tác giả Xắc Xa Vắt Xuân Thêp Phim Ma Son [177] đã tập trung
làm rõ CTTT của Đảng Nhân dân cách mạng Lào trong công cuộc đổi mới từ Đại
hội VI Tác giả tập trung làm rõ khái niệm tư tưởng và CTTT, các mối quan hệ của
tư tưởng từ đó tác giả đi sâu vào phân tích quan niệm về CTTT trong đường lối của
Đảng Nhân dân cách mạng Lào Luận án nêu lên cơ sở lý luận của CTTT, phân tích
các nguyên tắc cơ bản của CTTT, vai trò, vị trí, tầm quan trọng của tư tưởng và
CTTT của Đảng Nhân dân cách mạng Lào; đánh giá bối cảnh đất nước trong thời
kỳ đổi mới và những vấn đề đặt ra Luận án làm rõ được tình hình tư tưởng của các
tầng lớp nhân dân và đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm tăng cường
CTTT của Đảng Nhân dân cách mạng Lào hiện nay
Bài viết “Bàn về đổi mới công tác chính trị tư tưởng” của tác giả Trần Dục
Dân [62] đã khẳng định công tác chính trị tư tưởng cần sử dụng các hình thức,
phương pháp phù hợp với tình hình cụ thể mỗi địa phương Trong công tác chính trị
tư tưởng phải coi trọng tính thuyết phục người dân bằng lý lẽ, vừa phải thuyết phục
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 28bằng tình cảm, vừa phải giúp đỡ người dân giải quyết vấn đề tư tưởng, vừa phải
giúp giải quyết các vấn đề trong đời sống thực tế
Bài viết “Một số vấn đề về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung
Quốc trong tình hình mới” của tác giả Vương Bột Chính [59] đã nhấn mạnh việc
triển khai CTTT, trước hết là phải kiên trì những truyền thống tốt, cách làm tốt có
hiệu quả mà trước đây đã từng áp dụng, điều quan trọng hơn là phải thích nghi với
tình hình mới, không ngừng tìm tòi phương pháp mới Chính vì vậy, phải chú trọng
điều hoà, hình thành nên “dàn hợp xướng” của CTTT có sự tham gia của xã hội
Bài viết “Bàn về đổi mới công tác tư tưởng thời kỳ mới” của tác giả Điền
Trung Mẫn đã khẳng định: “Công tác tư tưởng là con đường quan trọng để xây
dựng xã hội hài hoà; công tác tư tưởng vừa là nội dung quan trọng của sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Trung Quốc, vừa là con đường quan trọng và sự bảo đảm
quan trọng để Đảng Cộng sản Trung Quốc thực hiện vai trò lãnh đạo của mình”
Phương châm của công tác tư tưởng là “lấy dân làm gốc”, “phải bám sát thực tế,
bám sát quần chúng, bám sát cuộc sống, lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân
dân, cố gắng vận dụng nhiều hình thức” [131, tr.140]
Bài viết “Làm thế nào để làm tốt công tác tư tưởng trong thời kỳ mới” của
các tác giả Triệu Văn Như, Trương Vệ Đông, Lí Biêu [133] Các tác giả cho rằng,
CTTT có đối tượng là con người và con người thì luôn luôn có sự khác nhau, CTTT
tập trung vào quần chúng, lo cho quần chúng, cần phải tập trung vào các nhóm quần
chúng không giống nhau, lo cho các nhóm quần chúng khác nhau Bài viết khẳng
định để làm tốt CTTT cho quần chúng, cần hiểu và nắm rõ tình hình cụ thể của
quần chúng để áp dụng các phương pháp khoa học cho phù hợp
Bài viết “Cơ sở tư tưởng hệ của công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc”
của tác giả B.Mozias [128] đã nhấn mạnh Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn coi
trọng công tác tuyên truyền, làm cho công tác tuyên truyền trở nên dễ nhớ, dễ hiểu
và dễ chấp nhận đối với quần chúng nhân dân, hướng tới những mục tiêu của cuộc
cải cách Tác giả khẳng định, nội dung CTTT của Đảng Cộng sản Trung Quốc phải
“bảo đảm cơ sở tư tưởng hệ cho các cuộc cải cách”
Luận án Tiến sĩ, “Chất lượng công tác tư tưởng của các Đảng bộ tỉnh đồng
bằng miền Trung, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay”
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 29của tác giả Bun Đuông Cay Xỏn [56] đã đánh giá thực trạng chất lượng CTTT của 4
tỉnh: Viêng Chăn, Bô Li Khăm Xay, Khăm Muộn và Xa Văn Na Khệt từ năm 1996
đến năm 2008 Chỉ ra được nguyên nhân và kinh nghiệm, từ đó tác giả đề ra phương
hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng CTTT của các đảng bộ tỉnh
đồng bằng miền Trung của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong thời kỳ mới
Cuốn sách “Xây dựng cơ chế phản hồi nhanh dư luận, tạo ra kênh thông tin
thông suốt cho quyết sách của Đảng và Chính phủ” của tác giả Chu Hiểu Tín,
Phùng Linh Chi [154] Các tác giả đã làm rõ những yếu tố khách quan và chủ quan
tác động đến hiệu quả CTTT Theo các tác giả, điều kiện khách quan như lối sống
của người dân, môi trường Nhân tố chủ quan là trình độ, năng lực lãnh đạo của
Đảng; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, đảng viên Cuốn sách đã đưa ra
những yêu cầu cần đẩy mạnh CTTT và phương hướng đổi mới CTTT của Đảng
Cộng sản Các tác giả nhận định những binh chủng của CTTT như báo chí, dư luận
xã hội có vai trò quan trọng trong việc “xây dựng cơ chế phản hồi nhanh dư luận,
tạo ra kênh thông tin thông suốt cho quyết sách của Đảng và Chính phủ”
Bài viết “Tăng cường sự hấp dẫn và sức quy tụ của hệ tư tưởng xã hội chủ
nghĩa” của các tác giả Chu Hiển Tín, Phùng Linh Chi [155] đã khẳng định sự cần
thiết phải đẩy mạnh CTTT và phương hướng đối với CTTT theo tinh thần Đại hội
XVII Đảng Cộng sản Trung Quốc nhằm thực hiện tốt mục tiêu chiến lược “Xây
dựng hệ giá trị nòng cốt của chủ nghĩa xã hội, tăng cường sự hấp dẫn và sức quy tụ
của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa” Các tác giả khẳng định: “Không được để khoảng
trống trên trận địa văn hoá, tư tưởng, ý thức, nếu chủ nghĩa Mác, tư tưởng xã hội
chủ nghĩa không chiếm lĩnh thì các loại học thuyết phi mác - xít, hệ tưởng phi chủ
nghĩa xã hội sẽ chiếm lĩnh ngay lập tức” [95, tr.28]
Bài viết “Công tác tư tưởng cần tăng cường tính đổi mới và tính thời đại”
của tác giả Lý Diệu Bác [4] Tác giả cho rằng: CTTT muốn giàu tính đổi mới thì
phải tạo dựng quan niệm mới, hình thành cơ chế mới, tiến hành đổi mới một cách
tổng thể cho đường lối; vận dụng hình thức mới, hoàn thiện chức năng mới, tiến
hành đổi mới cho phương thức, cách làm; tổng kết kinh nghiệm mới, tạo nên hiệu
quả mới Trên cơ sở đó để phải tăng cường tính thời đại của CTTT phải dựa vào
sức mạnh nhân cách của người lãnh đạo, làm gương cho người khác; dựa vào vai
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 30trò gương mẫu đi đầu của người đảng viên, ảnh hưởng đến người khác, dựa vào
sức mạnh tình cảm về sự quan tâm, thấu hiểu, tôn trọng để thu phục lòng người;
dựa vào sức mạnh bồi dưỡng chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa yêu nước để đoàn kết
con người
Cuốn sách “Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới” của tác giả
Bùi Phương Dung [63] Cuốn sách khẳng định, con người là đối tượng mà CTTT
hướng tới và để làm tốt CTTT cần áp dụng phương pháp khoa học thích hợp với
quần chúng Cuốn sách đã làm rõ khái niệm CTTT và phương thức, phương pháp
tiến hành CTTT; công tác xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền tư
tưởng của Đảng
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về xây dựng tổ chức Đảng
Bài viết “Tổng kết công tác xây dựng Đảng Cộng sản Trung Quốc trong 30
năm cải cách mở cửa” của tác giả Tập Cận Bình đã khẳng định Đảng Cộng sản
Trung Quốc luôn đề cao vai trò học tập và vận dụng sáng tạo những quan điểm của
chủ nghĩa Mác vào thực tiễn cuộc sống, đặc biệt chú trọng giáo dục, bồi dưỡng cho
cán bộ, đảng viên về những thành công của đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội
mang đặc sắc Trung Quốc Trong công tác xây dựng Đảng, cần đẩy mạnh việc học
tập, nghiên cứu lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng “Ba đại diện” và quan điểm phát
triển khoa học [52, tr.10]
Cuốn sách “Đổi mới công tác xây dựng Đảng ở nông thôn” của tác giả Chu
Chi Hòa Cuốn sách khẳng định, trong quá trình cải cách mở cửa Đảng Cộng sản
Trung Quốc rất chú trọng công tác xây dựng Đảng ở nông thôn nhằm tạo sự ổn định
chính trị, trật tự an toàn xã hội thúc đẩy công cuộc cải cách Cuốn sách khẳng định
muốn đổi mới công tác xây dựng Đảng, thì “việc đầu tiên là đổi mới tư duy tiếp đó
là đổi mới hình thức tuyên truyền” [92, tr.10]
Bài viết “Xây dựng văn hóa liêm chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc” của
tác giả Vũ Dần Tác giả khẳng định thúc đẩy xây dựng văn hóa liêm chính là biện
pháp quan trọng để Đảng Cộng sản Trung Quốc tăng cường công tác xây dựng Đảng,
chống tham nhũng, duy trì tính tiên tiến và tính trong sạch của Đảng trong thời kỳ
mới Bài viết nêu lên những kinh nghiệm trong xây dựng Đảng, đó là “chú ý kết hợp
giữa giáo dục tư tưởng với gương mẫu hành động Việc xây dựng văn hóa liêm chính
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 31cần phát huy vai trò trong xây dựng chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết, cần phải
phát huy vai trò tích cực của giáo dục chính trị tư tưởng” [96, tr.107-108]
Bài viết “Tăng cường xây dựng tác phong cán bộ thiết thực thực hiện vì dân,
thực tế, thanh liêm” của tác giả Bành Lập Binh Bài viết khẳng định được vai trò
của giáo dục tư tưởng trong xây dựng tác phong cán bộ Đó là:
“Tăng cường giáo dục tư tưởng, tăng tính tự giác cải tiến tác phong của
cán bộ Tư tưởng là cơ sở nội tại của tác phong, tác phong là biểu hiện
bên ngoài của tư tưởng Tăng cường xây dựng tác phong cán bộ, trước
tiên cần bỏ công sức vào giáo dục tư tưởng, giải quyết vấn đề “công tắc
tổng” gồm thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan này, làm nền tảng
tư tưởng trong việc chuyển biến tác phong” [96, tr.141]
1.3 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CỦA NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN SẼ TẬP TRUNG
GIẢI QUYẾT
1.3.1 Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến
đề tài luận án
Qua nghiên cứu những công trình trong nước và ngoài nước có thể rút ra
những nhận xét khái quát như sau:
Một là, những công trình đã đề cập đến quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí,
vai trò của đảng bộ xã là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở; làm rõ
được vị trí, vai trò của CTTT, CTTG nói chung, CTTG ở các đảng bộ xã, góp phần
xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng chính trị, tạo đồng thuận xã hội nhằm thực
hiện thắng lợi chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Một số
công trình khoa học, luận án đã đưa ra được quan niệm về công tác lý luận, CTTT
của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, quan niệm bước đầu về CTTG là toàn bộ các
hoạt động tư tưởng của Đảng, bao gồm việc xây dựng, phát triển, truyền bá chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời, bảo đảm sự lãnh đạo vững
chắc của Đảng đối với các lĩnh vực văn hóa - văn nghệ và khoa giáo (của tác giả
Lương Ngọc Vĩnh); đưa ra nguyên tắc, phương châm, nhiệm vụ CTTT, CTTG ở cơ
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 32sở và các lực lượng tham gia phối hợp thực hiện CTTG ở cơ sở Các công trình
khoa học trong, ngoài nước đã chỉ rõ để nâng cao chất lượng CTTT, CTTG cần
quan tâm xây dựng đội ngũ BCV, đội ngũ cán bộ làm CTTG, đổi mới nội dung,
phương thức CTTG, công tác BCV, TTV
Hai là, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến tình hình, thực trạng CTTT,
CTTG ở các cấp, các địa phương trong nước, hoặc nước ngoài cả về kết quả đạt
được và những hạn chế, bất cập và khó khăn, thách thức đặt ra Các công trình trên
tập trung phân tích đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế,
văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng, tình hình dân cư; đặc điểm đội ngũ cán bộ,
đảng viên, tình hình tư tưởng, chính trị và kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị có
tác động đến CTTT, CTTG
Ba là, trên cơ sở đánh giá thực trạng và dự báo được tình hình, các công trình
khoa học đã đưa ra phương hướng và các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao
chất lượng, hiệu quả CTTT và CTTG; những yêu cầu về trình độ lý luận chính trị,
đạo đức, lối sống và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, đảng viên thực
hiện CTTT, CTTG các cấp Mội số công trình khoa học đưa ra giải pháp nâng cao
chất lượng đào tạo cán bộ tuyên giáo đó là tiếp tục hoàn thiện chiến lược xây dựng
đội ngũ cán bộ làm CTTG phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ Thực hiện tốt công tác
luân chuyển, nhất là những cán bộ được trưởng thành từ thực tiễn, tạo điều kiện cho
cán bộ làm CTTG được rèn luyện, trưởng thành; thực hiện một số chế độ, chính
sách phù hợp, nhất là đối với đội ngũ cán bộ chuyên trách Bên cạnh đó, công
trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Tuấn cũng chỉ ra tiêu chuẩn của cán bộ
tuyên giáo, đó là: Cán bộ tuyên giáo phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng
tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Cán bộ
tuyên giáo phải có đạo đức cách mạng, lối sống giản dị, trong sáng Cán bộ tuyên
giáo phải có kiến thức lý luận vững chắc Cán bộ tuyên giáo phải có phong cách
công tác dân chủ, khoa học và nói đi đôi với làm Cán bộ tuyên giáo phải chủ động
tham mưu, dự báo giỏi
Bốn là, một số công trình khoa học trên đã đưa ra được những dự báo về
thuận lợi cũng như những khó khăn, thách thức tác động đến CTTT, CTTG và đề
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 33xuất giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả CTTT, CTTG trong thời gian tới
Những công trình nghiên cứu của tác giả Trung Quốc và trong nước đã khẳng định
được những vấn đề đặt ra đối với CTTT, CTTG là phải kiên trì những truyền thống
tốt, cách làm tốt có hiệu quả mà trước đây đã từng áp dụng, điều quan trọng hơn là
phải thích nghi với tình hình mới, không ngừng tìm tòi phương pháp mới (của tác
giả Vương Bột Chính) , tác giả Phạm Văn Linh đã khẳng định những vấn đề đặt ra
đối với CTTG trong xu thế toàn cầu hoá, đó là thực hiện tốt công tác tuyên truyền
để nâng cao nhận thức cho nhân dân; trong tuyên truyền cần đặc biệt chú ý làm rõ
mối quan hệ giữa hội nhập quốc tế và phát huy nội lực
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nêu trên còn nhiều vấn đề cần bàn luận
về CTTG của Đảng trong điều kiện hiện nay, cũng như những vấn đề lý luận, thực
tiễn mà tình hình quốc tế cũng như trong nước đặt ra với CTTG:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở vấn đề chung về
CTTT, CTTG của Đảng, mà chưa phân tích thấu đáo tính đặc thù của các xã ở
vùng biên giới phía Bắc, cũng như đặc điểm CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh
biên giới phía Bắc
Thứ hai, các công trình về CTTG của Đảng còn ít, việc tiếp cận CTTG của
cấp xã đang là vấn đề cần được nghiên cứu để thấy được thực trạng, và đề ra giải
pháp góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu
cầu thực tiễn đặt ra hiện nay
Thứ ba, các công trình nghiên cứu chủ yếu là đề xuất nâng cao chất lượng
CTTT của Đảng mà thiếu đi những công trình về giải pháp tăng cường CTTG của
đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc
1.3.2 Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
Từ quá trình phân tích, đánh giá các bài viết và công trình khoa học nghiên
cứu về đảng bộ xã, về CTTT, CTTG trên phạm vi cả nước cũng như các địa
phương, tác giả luận án tập trung nghiên cứu toàn bộ các hoạt động liên quan đến
CTTG của đảng bộ xã các tỉnh biên giới phía Bắc giai đoạn hiện nay, trong đó tập
trung đi sâu vào các nội dung chủ yếu như sau:
Một là, luận án làm rõ những vấn đề lý luận (khái niệm CTTG; phân biệt
CTTG với CTTT; vấn đề nội dung và phương thức tiến hành CTTG; vấn đề tổ chức
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 34bộ máy, cán bộ tuyên giáo; sự giao thoa, chồng chéo giữa CTTG của Đảng với công
tác thông tin, văn hóa, xã hội của chính quyền ở cơ sở) và thực tiễn CTTG của đảng
bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc
Hai là, phân tích làm rõ thực trạng, nguyên nhân CTTG của đảng bộ xã ở
các tỉnh biên giới phía Bắc, trên cơ sở đó làm rõ nguyên nhân của thực trạng và một
số kinh nghiệm
Ba là, luận án đưa ra các dự báo thuận lợi, khó khăn của tình hình trong nước
và thế giới đối với CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc và đề xuất
các giải pháp tăng cường CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc đến
năm 2030
Những vấn đề đặt ra cả về lý luận và thực tiễn trên được nghiên cứu một
cách khoa học, toàn diện làm cơ sở lý luận cho việc đổi mới, tăng cường CTTG
trong tình hình hiện nay
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 35Chương 2 CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO CỦA ĐẢNG BỘ XÃ
Ở CÁC TỈNH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY -
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỈNH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VÀ ĐẢNG BỘ XÃ
CÁC TỈNH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC
2.1.1 Khái quát về các tỉnh biên giới phía Bắc
2.1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
Các tỉnh biên giới phía Bắc là một bộ phận lãnh thổ trọng yếu của Tổ quốc
Việt Nam, là địa đầu án ngữ và là cửa ngõ giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóa - xã
hội với tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Trung Quốc Đường biên giới Việt - Trung hay
còn gọi là biên giới phía Bắc Việt Nam dài 1.449,566 km, được tính từ xã Sín Thầu,
huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Đây được coi là ngã ba biên giới giữa Việt
Nam, Lào và Trung Quốc Đường biên giới đi qua 31 huyện/thị với tổng số 152 xã,
gần 117.000 hộ, trên 535.000 khẩu, với 22 dân tộc, trong đó có 21 dân tộc thiểu số
thuộc 7 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng
Ninh Các tỉnh biên giới phía Bắc là một khu vực rộng lớn được trải dài từ Tây sang
Đông nên trung tâm tỉnh lỵ gần nhất với Thủ đô Hà Nội là 150 km (Lạng Sơn) và
xa nhất vào khoảng 500 km (Điện Biên, Lai Châu) Vùng biên giới Việt - Trung có
tổng diện tích đất tự nhiên là 5.126.329 ha [136, tr.9] ở độ cao từ 500 mét trở lên so
với mặt biển Địa hình vùng biên giới Việt - Trung rất hiểm trở, bị chia cắt mạnh
bởi các dãy núi cao và các sông, suối Vì vậy, giao thông đi lại rất khó khăn và đất
đai bị phân mảnh Địa hình có độ dốc lớn, khoảng hơn 50% diện tích vùng này có
độ dốc trên 20 độ [137, tr.5] Tuy nhiên, các tỉnh biên giới phía Bắc có vị trí địa -
chính trị cực kỳ quan trọng trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, đây là địa bàn
chiến lược quan trọng cả về quốc phòng, an ninh lẫn kinh tế, đối ngoại
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế
Các tỉnh biên giới phía Bắc có đặc điểm địa hình, đất đai, nguồn nước và khí
hậu…thuận lợi để phát triển nông nghiệp đa dạng, phong phú với nhiều loại cây
trồng và vật nuôi có giá trị hàng hóa cao Các tỉnh biên giới phía Bắc còn là khu vực
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 36có nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú để phát triển ngành công nghiệp như
quặng sắt, quặng măng gan, thiếc, bô xít, lưu huỳnh, bạc, vàng, than đá…có trữ
lượng khá lớn và chất lượng tốt (tỉnh Lào Cai); ăngtimon, sắt, chì - kẽm (Hà
Giang); kim loại màu (nhôm, đồng, chì, kẽm…), kim loại đen (sắt, măng gan), kim
loại quý (vàng), kim loại hiếm thiếc, thủy ngân (Lạng Sơn); tỉnh Quảng Ninh có
nguồn tài nguyên phong phú để phát triển ngành công nghiệp, như than đá có trữ
lượng khoảng 3,6 tỷ tấn, mỏ đá vôi, đất sét, cao lanh… trữ lượng tương đối lớn;
ngoài ra, còn có nguồn nước khoáng không uống được tập trung ở Cẩm Phả có
nồng độ khoáng khá cao, nhiệt độ trên 350C, có thể dùng chữa bệnh
* Về phát triển du lịch, dịch vụ thương mại và kinh tế cửa khẩu
Do điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý các tỉnh biên giới phía Bắc có thế mạnh
để phát triển du lịch, dịch vụ, thương mại và kinh tế cửa khẩu Các tỉnh biên giới
phía Bắc có nhiều cửa khẩu quốc tế, quốc gia, cửa khẩu tiểu ngạch và nhiều tuyến
đường quốc lộ, tỉnh lộ và đường sắt chạy qua, vì vậy, rất thuận lợi cho hoạt động
giao lưu buôn bán thương mại với Trung Quốc diễn ra sôi nổi, thuận lợi cho phát
triển thương mại, du lịch, dịch vụ, phát triển quan hệ quốc tế như tỉnh Cao Bằng có
nhiều di tích lịch sử, văn hóa được xếp hạng như di tích lịch sử Pác Bó, Lam Sơn,
khu rừng Trần Hưng Đạo, khu di tích lịch sử Đông Khê, thác Bản Giốc, động
Ngườm Ngao, hồ Thang Hen Ngoài ra, tỉnh còn có nhiều dân tộc với truyền thống
văn hóa, lễ hội đa dạng, độc đáo Tỉnh Hà Giang có nhiều di tích lịch sử, danh lam
thắng cảnh như: Suối Tiên, cổng Trời, thác nước Quảng Ngần, khu Nậm Má, khu
chum vàng, chum bạc và di tích nhà họ Vương… Đặc biệt là Công viên Địa chất
Cao nguyên đá Đồng Văn và ruộng bậc thang Hoàng Su Phì và việc khai thác du
lịch quá cảnh sang tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), quan hệ du lịch và thương mại hai
chiều góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh Tỉnh Lạng Sơn có quần
thể du lịch Nhị Tam Thanh, núi Tô Thị, thành nhà Mạc; đền Kỳ Cùng, Tả Phù, đền
Mẫu Đồng Đăng; di tích khảo cổ học văn hóa Bắc Sơn; di tích lịch sử Chi Lăng; di
tích lưu niệm đồng chí Hoàng Văn Thụ; cụm di tích khởi nghĩa Bắc Sơn… Tỉnh
Quảng Ninh có tiềm năng lớn để phát triển du lịch và dịch vụ, nổi tiếng là vịnh Hạ
Long cùng các hải đảo và nhiều bãi biển đẹp nổi tiếng như Quan Lạn, Minh Châu,
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 37Ngọc Vừng, Trà Cổ, Bãi Cháy, cùng hàng trăm di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật
tập trung dọc ven biển với mật độ cao vào loại nhất của cả nước…, tạo khả năng
mở nhiều tuyến du lịch kết hợp rất hấp dẫn, tuyến hàng không từ sân bay Vân Đồn
đi các tuyến trong nước và quốc tế, trên đất liền và trên các đảo Việc phát triển du
lịch ở khu vực Hạ Long - Bãi Cháy kết hợp với tuyến ven biển đến Móng Cái, Hải
Phòng - Đồ Sơn - Cát Bà tạo thành một quần thể du lịch - thể thao - giải trí ven
biển Tỉnh Lào Cai với vai trò là một trung tâm du lịch tiểu vùng miền núi Tây Bắc
với nhiều loại hình du lịch như: Du lịch văn hóa, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh
thái, du lịch tham quan, du lịch thể thao, du lịch nghiên cứu khoa học; đồng thời là
cửa ngõ tiếp giáp với tỉnh Vân Nam - một tỉnh du lịch đầy tiềm năng của Trung
Quốc, đây là điều kiện thuận lợi để Lào Cai phát triển kinh tế du lịch
Nhìn chung, trong nền kinh tế thị trường các tỉnh biên giới phía Bắc có nền
kinh tế phát triển năng động, đa dạng và phong phú, tuy nhiên, tại các xã vùng cao
biên giới, vùng sâu, vùng xa cuộc sống của đồng bào các dân tộc còn mang tính tự
cung, tự cấp, phương thức canh tác chủ yếu là đốt rừng làm nương rẫy, sản xuất một
vụ ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống vật chất, tinh thần của người dân
2.1.1.3 Đặc điểm dân cư, văn hoá - xã hội
Các tỉnh biên giới phía Bắc có mật độ dân số thuộc loại thấp so với các tỉnh
lân cận, cụ thể như tỉnh Lai Châu 46 người/km2, Điện Biên 56 người/km2, Cao
Bằng 78 người/km2 , trong khi đó Yên Bái 114 người/km2, Phú Thọ 385
người/km2, Thái Nguyên 332 người/km2 Thành phần dân tộc thiểu số ở các tỉnh
biên giới phía Bắc chiếm tỷ lệ cao trong dân cư: Hà Giang 89,34%, Cao Bằng 96%,
Lạng Sơn 85,3%; trình độ dân trí và khả năng tiếp nhận công nghệ thông tin của
đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế; tỷ lệ hộ nghèo cao nhất so với cả nước, hiện
nay có 26,2% số huyện và 24,54% số xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 30a
của Chính phủ Nhìn chung, hầu hết các tỉnh biên giới phía Bắc có nền văn hóa lâu
đời, có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng trong nước và thế giới, nhiều di tích
lịch sử văn hóa cấp quốc gia, là khu vực diễn ra nhiều lễ hội ở nhiều dân tộc, tôn
giáo có nhiều chùa, đền thờ phật thánh, các tướng lĩnh nhà Trần có công với nước,
nhà thờ Thiên chúa giáo…
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 382.1.1.4 Đặc điểm quốc phòng - an ninh
Các tỉnh biên giới phía Bắc là địa bàn chiến lược trọng yếu, “phên dậu” của Tổ
quốc, có vị trí chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh và đối ngoại Lợi dụng những đặc điểm đặc thù của các tỉnh biên giới phía Bắc,
các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; lợi
dụng những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”; vấn đề biên giới
lãnh thổ để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ nước ta với các nước láng
giềng; mặt khác tình hình buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển chất ma túy, vũ
khí, chất nổ trái phép, truyền đạo trái pháp luật, vượt biên trái phép kết hợp với các
hoạt động tình báo, gián điệp diễn ra hết sức phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng tới
tình hình an ninh biên giới Chúng triệt để lợi dụng địa bàn biên giới xa xôi, hẻo lánh
làm điểm xuất phát, tạo ra những điểm “nóng” về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội, nhất là ở các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang…Do đó,
việc củng cố quốc phòng - an ninh ở vùng biên giới là một nhiệm vụ đặc biệt quan
trọng, vừa cấp bách, vừa cơ bản lâu dài Vì vậy, việc tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng trên các lĩnh vực nói chung, đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh nói riêng,
tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhiệm vụ thường xuyên và cấp bách của
Đảng ta, của cấp ủy, chính quyền các xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc
2.1.2 Đặc điểm về xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc
Một là, tình hình kinh tế - xã hội kém phát triển, nhất là ở khu vực miền núi
biên giới, vùng sâu, vùng xa
Các tỉnh biên giới phía Bắc có 1.027 xã, trong đó có 269 xã biên giới (nhiều
nhất là tỉnh Điện Biên 110 xã; Cao Bằng 46 xã; Hà Giang 34 xã Bảng phụ lục số
1), hầu hết các xã ở các tỉnh đều sản xuất nông nghiệp mang nặng tính tự cung, tự
cấp, sự chuyển hướng sang sản xuất hàng hóa còn chậm Các xã đặc biệt khó khăn,
hộ nghèo chiếm tỷ lệ cao (Cao Bằng: 23,96%, Hà Giang 36,3%, Lào Cai chiếm
17,61%, Lạng Sơn số xã theo Chương trình 135 của Chính phủ chiếm 53,6% ); các
xã là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Dao, H’Mông, Kinh, Sán
Chỉ, Lô Lô, Khơ Mú, Hà Nhì, Thái, Giáy, Lào, Lự, Máng, Kháng, Cống, Cờ Lao,
La Chi, Thèn, Pu Péo, Sán Dìu, Kinh… đồng bào nơi đây vốn có truyền thống yêu
nước, đấu tranh cách mạng kiên cường, là căn cứ địa của cách mạng, nhân dân lao
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 39động cần cù, sáng tạo, đoàn kết, yêu thương lẫn nhau, nhưng do các xã vùng sâu,
vùng xa, vùng biên giới chủ yếu là đồi núi cao, giao thông đi lại khó khăn, thiên tai
thường xuyên xảy ra (băng giá, lốc xoáy, lũ quét ) làm cho sản xuất nông nghiệp
gặp nhiều khó khăn cả trong trồng trọt và chăn nuôi; phương thức canh tác chủ yếu
là đốt rừng làm nương rẫy, sản xuất một vụ và mang nặng tính tự cung, tự cấp, du
canh, du cư Sản xuất hàng hóa bước đầu xuất hiện ở các xã vùng thấp, tại các xã
vùng cao ít giao lưu kinh tế bên ngoài đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn,
trình độ dân trí tương đối thấp, hình thành tâm lý bảo thủ, tự ti, an phận… đây là
điều kiện để các thế lực thù địch mua chuộc, lôi kéo, kích động nhằm chia rẽ khối
đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng Việt Nam Mặt khác, các dân tộc trên
địa bàn các xã sống phân tán, đời sống văn hóa phong phú, mỗi dân tộc lại mang
ngôn ngữ, sắc thái văn hóa, khả năng nhận thức khác nhau Sự kết hợp giữa tín
ngưỡng bản địa cùng với sự du nhập các tôn giáo ngoại lai và những giá trị văn hóa
hiện đại tạo nên một nền văn hóa đa bản sắc ở các xã
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đầu tư nguồn lực
cho phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh biên giới phía Bắc, nhiều dự án phát triển
vùng chuyên canh lớn, phát triển mô hình kinh tế trang trại hộ gia đình, mô hình
vườn - ao - chuồng, mô hình vườn - ao - chuồng - rừng ra đời đã góp phần nâng cao
đời sống vật chất cho người dân
Hai là, dân cư các xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc chủ yếu là người dân tộc
thiểu số, trình độ dân trí thấp, còn tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu
Tại các xã dân cư sinh sống chủ yếu là người dân tộc thiểu số, còn tồn tại
nhiều tập tục lạc hậu Tiêu biểu như tỉnh Lạng Sơn các dân tộc thiểu số sinh sống
chủ yếu ở vùng cao chiếm khoảng 85%, dân tộc Kinh chiếm 15% sống tập trung tại
thành phố, thị trấn Nhìn chung, đời sống sinh hoạt của người dân từ nhà ở đến
trang phục đều đơn sơ, giản dị, sống ở nhà sàn, nhà nửa sàn nửa đất, trang phục áo
chàm, áo xanh, quần lụa, hát sli Sloong, hát then, lễ hội lồng tồng Phong tục thờ
cúng tổ tiên, thờ tổ sư thầy Tào, thầy Then, thầy Mo; thờ các vị thần của bản: Miếu
(thó); một số nơi thờ thành hoàng Nhìn chung, đời sống của nhiều xã vùng sâu,
vùng xa có xu hướng khép kín, ít giao lưu văn hóa bên ngoài nên có nhiều phong
tục tập quán lạc hậu như bắt vợ, thách cưới cao, để người chết lâu ngày trong nhà,
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 40nhiều nghi lễ có tính mê tín gây lãnh phí thời gian, tiền của… nhiều xã ở tỉnh Lào
Cai có nhiều đồng bào người dân tộc thiểu số sinh sống chiếm 100% như: A Mú
Sung, A Lù, Nâm Chạc, Y Tý, Ngải Thầu (Bát Xát); Nậm Chảy, Dìn Chin, Pha
Long, Tả Ngải Chồ, Tả Gia Khẩu (Mường Khương); Sản Chải (Si Ma Cai) Ngoài
ra, tỷ lệ tảo hôn cao hơn so với các vùng khác trong cả nước, trong đó tỉnh Lai Châu
có tỷ lệ tảo hôn cao nhất là 18,6% Tình trạng hôn nhân cận huyết xảy ra ở các tỉnh
Lai Châu có 200 đôi; ở tỉnh Lào Cai có 224 đôi; Cao Bằng diễn ra nhiều nhất đối
với dân tộc Dao 64% và Mông 61% phần lớn những trường hợp tảo hôn, hôn
nhân cận huyết thống xảy ra ở các gia đình hộ nghèo, thanh niên thất học, hiểu biết
pháp luật còn nhiều hạn chế, việc tiếp cận với các phương tiện truyền thông đại
chúng gặp nhiều khó khăn
Hiện nay, tất cả các xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc đã có trường tiểu học,
nhiều xã có trường trung học cơ sở và cơ bản hoàn thành xóa nạn mù chữ Tại các
xã, thôn, bản hệ thống thông tin đại chúng và các thiết chế văn hóa còn thiếu, đời
sống văn hóa tinh thần của người dân còn nghèo nàn, lạc hậu Những đặc điểm
trên ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của cán bộ là người dân tộc thiểu số khi
tham gia CTTG ở cơ sở
Ba là, các xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc đều có đặc điểm tâm lý truyền
thống ở nông thôn
Nhiều xã ở vùng núi cao có tập quán du canh, du cư được lưu truyền từ đời
này sang đời khác, tạo nên tâm lý ỷ lại; làng xã và gia tộc (họ hàng) nhiều khi đồng
nhất với nhau, bởi vậy gia tộc trở thành một cộng đồng gắn bó và có vai trò quan
trọng Quan hệ huyết thống là cơ sở của tính tôn ti, người sinh ra trước là bậc trên,
người sinh ra sau là bậc dưới, chính tính tôn ti của các dòng tộc dẫn đến tâm lý gia
trưởng, trọng nam khinh nữ và đặc biệt là tâm lý địa phương, cục bộ, đây là một rào
cản lớn trong quá trình hội nhập của người nông dân Làng xã như một vương quốc
thu nhỏ với luật lệ riêng (hương ước) tạo nên một sự cố kết, bền vững, nhưng đồng
thời tạo nên tâm lý bè phái, địa phương của làng xã Tâm lý sĩ diện trong đời sống
làng xã của người nông dân dẫn đến tính khoa trương, trọng hình thức trong việc
cưới xin, ma chay, khao vọng, lễ hội đã gây nên sự tiêu tốn kinh phí lớn cho cá
nhân, cộng đồng
Luận văn thạc sĩ xây dựng