Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 25 Chương 2: CÁC TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘ
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN HOÀNG KHẢI
CÁC TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
LÀ NGƯỜI KHMER GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
HÀ NỘI - 2022Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN HOÀNG KHẢI
CÁC TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
LÀ NGƯỜI KHMER GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
Mã số: 931 02 02
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS NGUYỄN MINH TUẤN
HÀ NỘI - 2022 Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung
thực Các kết luận khoa học của luận án chưa được công
bố trong bất cứ công trình nào
Tác giả
Trần Hoàng Khải
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 41.2 Các công trình khoa học ở trong nước có liên quan đến đề tài luận án 13
1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên
quan và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 25
Chương 2: CÁC TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LÃNH
ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀ NGƯỜI KHMER - NHỮNG VẤN
2.1 Các tỉnh, đảng bộ tỉnh, tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long 28
2.2 Đội ngũ cán bộ là người Khmer và xây dựng đội ngũ cán bộ là
người Khmer ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long 44
2.3 Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo xây dựng đội
ngũ cán bộ là người Khmer - Quan niệm, nội dung, phương thức,
Chương 3: ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀ NGƯỜI KHMER VÀ CÁC TỈNH UỶ Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
LÀ NGƯỜI KHMER - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM 72
3.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ là người Khmer ở các tỉnh đồng bằng
3.2 Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo xây dựng đội gũ
cán bộ là người Khmer - Thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm 83
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG
CƯỜNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀ NGƯỜI KHMER
CỦA CÁC TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG GIAI ĐOẠN
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 54.1 Dự báo những yếu tố tác động và phương hướng tăng cường lãnh
đạo xây dựng đội ngũ cán bộ là người Khmer của các tỉnh ủy ở
4.2 Những giải pháp chủ yếu tăng cường lãnh đạo xây dựng đội ngũ
cán bộ là người Khmer của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến cán bộ và công tác
cán bộ, coi đó là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Người
khẳng định: "cán bộ là gốc của mọi công việc" [89, tr.269] Trong suốt quá trình
lãnh đạo cách mạng Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc điều này và luôn khẳng định
vai trò đặc biệt quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ trong công tác xây
dựng Đảng, hệ thống chính trị (HTCT) và thắng lợi của cách mạng Nghị quyết
Hội nghị Trung ương bảy khóa XII "về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ
(ĐNCB) các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang
tầm nhiệm vụ" tiếp tục khẳng định: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại
của cách mạng; công tác cán bộ là khâu "then chốt" của công tác xây dựng Đảng
và hệ thống chính trị… Đầu tư xây dựng ĐNCB là đầu tư cho phát triển lâu dài,
bền vững" [51, tr.54]
Việt Nam là nước đa dân tộc, vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn
được Ðảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, với quan điểm nhất quán, xuyên
suốt là các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển
Một trong những nội dung quan trọng để giải quyết tốt vấn đề dân tộc là phải
xây dựng cho được ĐNCB người dân tộc thiểu số (DTTS) có đủ phẩm chất và
năng lực Văn kiện Hội nghị Trung ương bảy khóa IX về công tác dân tộc đã chỉ
ra nhiệm vụ cấp bách là phải thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng cán bộ là người DTTS cho từng vùng, từng dân tộc Với đường
lối đúng đắn đó, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm
chăm lo xây dựng ĐNCB là người DTTS Bởi vậy, ĐNCB người DTTS đã dần
phát triển cả về số lượng và chất lượng, có nhiều cán bộ người DTTS được giao
những trách nhiệm quan trọng từ Trung ương đến cơ sở, góp phần to lớn trong
phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của cả nước nói chung, vùng dân tộc và miền
núi nói riêng
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 82
Tuy nhiên, công tác xây dựng ĐNCB là người DTTS, trong đó có cán bộ
là người dân tộc Khmer còn nhiều hạn chế và bất cập, chưa đáp ứng được yêu
cầu của sự nghiệp đổi mới hiện nay Văn kiện Hội nghị Trung ương bảy khóa IX
về công tác dân tộc đã chỉ rõ: "Nhìn chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý ở
vùng dân tộc và miền núi còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực tổ chức, chỉ đạo
thực hiện; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS chưa được quan tâm"
[45, tr.34] Đây là thực trạng chung, diễn ra ở nhiều nơi, trong đó có vùng đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất Tây Nam Tổ quốc, với 12 tỉnh và
01 Thành phố trực thuộc Trung ương Đây là địa bàn có vị trí chiến lược quan
trọng của cả nước, là vùng có nhiều tiềm năng về kinh tế và tính đặc thù về dân
tộc, tôn giáo Nơi đây có hơn 1,3 triệu người Khmer sinh sống, chiếm gần 7% số
dân toàn vùng Là một trong những khu vực có đông đồng bào dân tộc Khmer
sinh sống nhất cả nước, ĐNCB là người Khmer ở các tỉnh ĐBSCL có vai trò
quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi nhiệm vụ chính trị
và công tác xây dựng Đảng, xây dựng HTCT ở các tỉnh ĐBSCL
Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của ĐNCB người Khmer, thời
gian qua, các tỉnh ủy ở ĐBSCL luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng
ĐNCB là người Khmer Nhờ đó, chất lượng ĐNCB này ở các tỉnh được nâng lên
một bước khá lớn, hoạt động hiệu quả hơn, góp phần to lớn vào việc củng cố và
phát triển khối đại đoàn kết các dân tộc, thúc đẩy phát triển KT-XH và ổn định
chính trị ở khu vực ĐBSCL
Mặc dù vậy, sự lãnh đạo của các tỉnh ủy vùng ĐBSCL đối với việc xây
dựng ĐNCB là người Khmer vẫn còn những hạn chế nhất định: Một số tỉnh ủy
vẫn chưa có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer;
chưa triển khai đồng bộ các giải pháp xây dựng ĐNCB này đến các cơ quan
trong HTCT; công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số tổ chức đảng trực thuộc còn
chưa quyết liệt; còn lúng túng trong nội dung và phương thức lãnh đạo (PTLĐ)
xây dựng ĐNCB là người Khmer, nhất là ở cấp cơ sở; một số địa bàn đông đồng
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 93
bào Khmer nhưng số lượng cán bộ là người Khmer thì hạn chế, chất lượng chưa
cao, chưa đáp ứng yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ
Trong những năm tới, tỉnh ủy ở ĐBSCL tiếp tục lãnh đạo công cuộc đổi
mới trên địa bàn các tỉnh với những mục tiêu, nhiệm vụ to lớn, nặng nề hơn, đòi
hỏi các tỉnh ủy phải tập trung lãnh đạo xây dựng ĐNCB nói chung, ĐNCB là
người Khmer nói riêng ngang tầm nhiệm vụ, đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý,
đảm bảo chất lượng
Nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống tìm giải pháp khả thi phát huy ưu
điểm, khắc phục hạn chế, yếu kém nêu trên, tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh
uỷ ở ĐBSCL đối với xây dựng ĐNCB là người Khmer trong những năm tới thực
sự là vấn đề rất cấp thiết
Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn và thực hiện đề tài: "Các tỉnh uỷ ở
đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ là người Khmer
giai đoạn hiện nay" làm luận án tiến sĩ, ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền
nhà nước
2 Mục đích, nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tỉnh uỷ ở
ĐBSCL lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer luận án, đề xuất phương
hướng và những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở
vùng này đối với ĐNCB là người Khmer trong những năm tới
2.2 Nhiệm vụ
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và xác định
những vấn đề mà luận án tập trung phải giải quyết
- Luận giải, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tỉnh uỷ ở
ĐBSCL lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer
- Khảo sát, đánh giá thực trạng ĐNCB là người Khmer ở các tỉnh ĐBSCL và
thực trạng các tỉnh ủy ở ĐBSCL lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer thời
gian qua, chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân và kinh nghiệm
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 104
- Dự báo những yếu tố thuận lợi, khó khăn, đề xuất phương hướng và
những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở ĐBSCL đối
với xây dựng ĐNCB là người Khmer đến năm 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Các tỉnh uỷ ở ĐBSCL lãnh đạo xây
dựng ĐNCB là người Khmer giai đoạn hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng ĐNCB là người Khmer và thực
trạng lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer của các tỉnh ủy ở ĐBSCL
Phạm vi khảo sát: luận án tập trung khảo sát thực trạng ĐNCB là người
Khmer của 06 tỉnh có đông đồng bào Khmer, gồm tỉnh: Trà Vinh, Sóc Trăng,
Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau
Thời gian nghiên cứu, khảo sát thực tiễn từ năm 2010 đến nay, phương
hướng và các giải pháp đề xuất trong luận án có giá trị đến năm 2030
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng ta về cán bộ, công tác cán
bộ và sự lãnh đạo của Đảng, cấp ủy đối với các lĩnh vực đời sống xã hội
Cơ sở thực tiễn: cơ sở thực tiễn của luận án là công tác cán bộ của các cấp
ủy ở các tỉnh thuộc ĐBSCL và thực tiễn lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người
Khmer của các tỉnh ủy ở vùng này từ năm 2010 đến nay
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và các
phương pháp phân tích kết hợp với tổng hợp; lịch sử kết hợp với logic; khảo sát,
tổng kết thực tiễn; điều tra xã hội học.Cụ thể:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin: Phân tích sự vật hiện
tượng theo phương pháp duy vật biện chứng, chú trọng quy luật nhận thức, đánh
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 115
giá sự vật, hiện tượng theo quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể,
trong mối quan hệ phổ biến và phát triển
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Trên cơ sở tiếp cận các nguồn tài
liệu là các báo cáo của các địa phương, đơn vị và các công trình nghiên cứu có
liên quan, luận án sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để khai thác các
thông tin và phân tích, khái quát những nội dung có liên quan đến đề tài
- Phương pháp khảo sát, tổng kết thực tiễn: Đây là phương pháp đặc trưng
của khoa học xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước Phương pháp này dựa vào
kết quả hoạt động thực tiễn về xây dựng ĐNCB là người Khmer của các tỉnh vùng
ĐBSCL để so sánh, đối chiếu với các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước
về chính sách dân tộc nói chung và dân tộc Khmer để đánh giá thực trạng chính xác
hơn cả ưu và khuyết điểm, tìm nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm
- Phương pháo điều tra xã hội học: Phương pháp này được sử dụng để
khảo sát, có thêm những nhận định để đánh giá khách quan hơn về thực trạng
thực hiện công tác cán bộ đối với người dân tộc Khmer các tỉnh ĐBSCL Luận
án điều tra ở 6 tỉnh ĐBSCL với 600 phiếu Đối tượng khảo sát là cán bộ, công
chức các cơ quan trong HTCT của 6 tỉnh có đông đồng bào Khmer sinh sống
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Quan niệm ĐNCB là người Khmer và xây dựng ĐNCB là người Khmer
- Quan niệm tỉnh uỷ ở ĐBSCL lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer
- Một số kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer của các
tỉnh ủy ở ĐBSCL từ năm 2010 đến nay: Một là, giải quyết hài hòa các mối quan
hệ trong công tác các bộ theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa
XII; Hai là, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác
cán bộ, đặc biệt đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu
- Giải pháp: Một là, cụ thể hoá tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá có tính đặc
thù đối với cán bộ là người Khmer trong HTCT ở các tỉnh ĐBSCL hiện nay; Hai
là, lãnh đạo phát huy khát vọng vươn lên và ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện,
của ĐNCB là người Khmer
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 126
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần làm làm rõ hơn những vấn đề lý luận, thực tiễn
về tỉnh ủy ở ĐBSCL lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer giai đoạn
hiện nay
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
trong quá trình lãnh đạo lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer của các tỉnh
ủy ở ĐBSCL trong những năm tới
- Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể được dùng làm tài liệu tham
khảo phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học về xây dựng Đảng ở
các trường chính trị tỉnh, thành phố ở ĐBSCL và ở Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, nhất là Học viện Chính trị Khu vực IV
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương, 10 tiết, kết luận, danh mục công
trình khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 137
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.1 Các công trình khoa học nghiên cứu có liên quan đến vấn đề
cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ
1.1.1.1 Sách
Ở Nhật Bản, các công trình nghiên cứu của Mitokaza Aoki (1991) Nguyên
tắc quản lý kiểu Nhật [91], Matsushita Konouke (1999) Nhân sự - chìa khoá của
thành công [88], khẳng định vai trò của yếu tố con người, cách chọn người, sử
dụng người trong công tác quản lý
Công trình nghiên cứu vấn đề này ở Trung Quốc đáng quan tâm có các tác
phẩm: "Toàn thư công tác Đảng vụ" của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nxb
Nghiên cứu Trung Quốc, Bắc Kinh và "Hồ Cẩm Đào, con đường phía trước"
của Mã Linh, Lý Minh (2003) [86] Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành cải
cách mạnh mẽ công tác tổ chức cán bộ và gọi chung là chế độ nhân sự cán bộ
Nguyên tắc rất quan trọng trong công tác cán bộ là Đảng Cộng sản Trung Quốc
lãnh đạo thống nhất công tác cán bộ, trong đó đánh giá, khảo sát cán bộ, đề bạt,
bổ nhiệm cán bộ là khâu chủ yếu Đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của
công tác tiến cử cán bộ một cách dân chủ, rộng mở, chủ yếu là sự tiến cử, giới
thiệu trước khi bổ nhiệm Đây là cơ sở để tác giả đề xuất giải pháp trong quy
trình công tác cán bộ và xây dựng ĐNCB là người Khmer ơ các tỉnh ĐBSCL
hiện nay
Ở Liên Xô trước đây có nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng ĐNCB
cho Đảng nhà nước và Quân đội dưới nhiều góc độ khác nhau như: Tiến sĩ Sử học
Ioble A.M "Hoạt động của Đảng Cộng sản Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo cán bộ
quân đội"; Thượng tướng I.Rodionov (1993) "Một số vấn đề tuyển chọn, đào tạo
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 148
cán bộ, sĩ quan cấp cao" [73] Nhưng các tác giã có những quan điểm tương đồng
đều khẳng định cán bộ là nhân tố hàng đầu quyết định mọi công việc trong đó lựa
chọn và đào tạo cán bộ là khâu quan trọng
1.1.1.2 Bài tạp chí khoa học
Unkẹo Sipasợt (2009), ''Công tác tổ chức cán bộ cấp tỉnh ở Cộng hòa Dân
chủ nhân dân (CHDCND) Lào hiện nay'' [151], khẳng định yếu tố quyết định để
tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách chính là công tác tổ chức, cán
bộ Đào tạo cán bộ lãnh đạo và quản lý trong cơ chế thị trường vừa phải có tinh
thần đổi mới, phải giữ vững những vấn đề nguyên tắc như: phải quán triệt quan
điểm giai cấp, tạo sự bình đẳng về cơ hội cho tài năng nảy nở và phát huy, nhất
là đối với cán bộ xuất thân công nhân, con em công nhân, gia đình có công với
cách mạng, DTTS, phụ nữ
Bunthoong Chitmany (2011), ''Một số giải pháp chủ yếu nâng cao năng
lực lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào đối với vấn đề xây dựng, phát
triển nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay'' [34] Bài viết đưa ra giải pháp
nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý của ĐNCB chủ chốt cơ sở ở nông thôn
bằng việc hoàn thiện các khâu nhận xét, đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bố trí,
sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ; Tổ chức tốt việc thi tuyển công chức;
Tăng cường tiếp nhận, bố trí những sinh viên người địa phương đã tốt nghiệp các
trường cao đẳng, đại học làm công chức cơ sở để tạo nguồn cán bộ chủ chốt;
Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng; tự kiểm tra và kiểm tra; lắng nghe ý kiến của
nhân dân
Trong bài viết "Kinh nghiệm Nhật Bản về phát triển nguồn nhân lực
(HRD)" [160], Yasuhiko Inoue (2012) đưa ra quan điểm: Với các nhà lý thuyết
và thực tiễn phương Tây, chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá bởi kỹ năng
công việc, vì vậy theo họ, để cải tiến chất lượng nguồn nhân lực phải cải tiến
hoạt động giáo dục tại trường học, tăng cường các chương trình đào tạo kỹ năng
thông qua sự hợp tác từ cả phía chính phủ và khối tư nhân
Khonesanga PHIMMASONE (2018), ''Một số giải pháp nhằm xây dựng
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 159
đội ngũ Bí thư kiêm Huyện trưởng ở CHDCND Lào" [77, tr.56-60] Tác giả bài
viết đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng xây dựng
đội ngũ bí thư kiêm huyện trưởng ở nước CHDCND Lào Từ đó, tác giả nêu lên
5 giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ Bí thư kiêm Huyện trưởng đáp ứng được yêu
cầu sự nghiệp đổi mới đất nước ở CHDCND Lào
1.1.1.3 Luận án
Khăm Phăn Phôm Ma Thắt (2005), Công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB
lãnh đạo chủ chốt thuộc diện Trung ương quản lý ở nước Cộng hoà Dân chủ
Nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới [75] Luận án hệ thống hoá các vấn đề lý
luận về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo quan điểm Mác xít Đồng thời
phân tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo chủ
chốt thuộc diện trung ương quản lý ở nước CHDCND Lào trong thời gian qua;
đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt ở nước CHDCND Lào trong thời gian tới
Kham Bay Malasing (2012), Vai trò của ĐNCB lãnh đạo, quản lý cấp cơ
sở và những người có uy tín ở thôn bản trong phát triển cộng đồng ở CHDCND
Lào [74] Tác giả đã phân tích vai trò của ĐNCB lãnh đạo quản lý cấp cơ sở và
những người có uy tín ở thôn bản trong phát triển cộng đồng ở CHDCND Lào,
trong đó yếu tố tuổi tác động mạnh nhất Luận án cũng cho thấy, sự tham gia của
khối cán bộ lãnh đạo, quản lý về các nội dung phát triển cộng đồng còn có sự
khác nhau nhất định, trong đó khối cán bộ chính quyền thôn, bản thường có vai
trò tích cực nhất Tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng
cao vai trò của ĐNCB lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở và những người có uy tín ở
thôn, bản trong phát triển cộng đồng trong thời gian tới
Sam Lan Phan Kha Vông (2014), Xây dựng ĐNCB chuyên trách công tác
thi đua, khen thưởng cấp tỉnh của nươc Công hoà Dân chủ Nhân dân Lào trong
giai đoạn hiện nay [101] Luận án đã phân tích sâu hơn trong thi đua, khen
thưởng có vai trò và tác dụng to lớn đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng
dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào Trong phần giải pháp tác
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 1610
giả đưa ra năm giải pháp chủ yếu để tiếp tục xây dựng ĐNCB chuyên trách công
tác thi đua, khen thưởng cấp tỉnh ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, trong giải
pháp thứ ba cũng làm rõ tiêu chuẩn cán bộ chuyên trách công tác thi đua, khen
thưởng, tiêu chuẩn chức danh công tác thi đua khen thưởng
Viengmaly SOULIXAY (2019), Xây dựng đội ngũ chủ tịch Hội Liên hiệp
phụ nữ huyện ở CHDCND Lào giai đoạn hiện nay [154] Luận án đã chỉ ra rằng,
việc xây dựng đội ngũ chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ huyện ở CHDCND Lào là
vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách, đó là mấu chốt để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) trong giai đoạn hiện nay Muốn xây
dựng được đội ngũ chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ huyện ở CHDCND Lào đồng
bộ, có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ văn hóa, năng lực đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh và của đất nước Lào trong thời kỳ mới, cần
có những giải pháp đồng bộ, trong đó chú trọng gắn liền xây dựng đội ngũ với
cơ cấu và quy hoạch cán bộ, với chức năng nhiệm vụ, xây dựng, cụ thể hóa tiêu
chuẩn; coi trọng việc tự đào tạo, bồi dưỡng rèn luyện của mỗi chủ tịch Hội liên
hiệp phụ nữ huyện
Khonsanga Phimmasone (2019), Xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng
ở CHDCND Lào giai đoạn hiện nay [78] Tác giả đánh giá, trong những năm
gần đây, công tác xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng ở CHDCND Lào đã có
nhiều cố gắng đổi mới, nhằm xây dựng ĐNCB đủ phẩm chất chính trị và năng
lực lãnh đạo, phục vụ yêu cầu phát triển của các huyện trong cả nước Trên cơ sở
phân tích thực trạng xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng ở CHDCND Lào
hiện nay, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản để xây dựng đội ngũ bí
thư - huyện trưởng ở CHDCND Lào đến năm 2030
1.1.2 Các công trình khoa học nghiên cứu về Đảng cầm quyền lãnh
đạo xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng
1.1.2.1 Sách
Hạ Quốc Cường (2004), Không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo và trình
độ cầm quyền, tăng cường năng lực chống tha hóa, phòng biến chất và chống rủi
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 1711
ro [41] Trong bài viết này, tác giả đã bàn đến vấn đề PTLĐ, phương thức cầm
quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc Tác giả nhấn mạnh việc tăng cường và cải
tiến toàn diện việc xây dựng tác phong của Đảng, nhất là xây dựng sự liêm chính
và đấu tranh chống tham nhũng Bên cạnh đó, tác giả làm rõ nội dung tăng cường
xây dựng chế độ, kiên trì đẩy mạnh cải cách chế độ trong Đảng, thúc đẩy và đảm
bảo cho việc xây dựng Đảng bằng chế độ
Triệu Gia Kỳ (2004), ''Tăng cường xây dựng Đảng ủy địa phương, phát
huy đầy đủ vai trò hạt nhân lãnh đạo'' [81] Tác giả đã phân tích công tác xây
dựng đảng và chỉ ra những bài học kinh nghiệm có giá trị như: Thiết thực tăng
cường xây dựng bản thân mình, không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo và
trình độ cầm quyền Nắm chắc nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, thiết thực đảm
đương trách nhiệm thúc đẩy kinh tế, xã hội địa phương phát triển toàn diện,
hài hoà và bền vững, gồm: luôn luôn coi phát triển là chức trách hàng đầu của
Đảng uỷ địa phương; tối ưu hoá môi trường phát triển, đẩy mạnh sang tạo về thể
chế; kiên trì giải quyết tốt mối quan hệ giữa cải cách, phát triển và ổn định
Lưu Chấn Hoa (2010), Bàn về công tác xây dựng năng lực cầm quyền của
Đảng [60] Theo tác giả, xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng là một chủ đề
mang tính trường tồn, là một công trình có tính hệ thống (nội dung cầm quyền, thể
chế cầm quyền, chủ thể cầm quyền), và là một thử thách lớn Tác giả cho rằng cần
thiết phải nâng cao ý thức lãnh đạo của Đảng đồng thời củng cố vững chắc nền
tảng cầm quyền Trong khi bàn luận về phương thức cầm quyền của Đảng, tác giả
nhấn mạnh vai trò hạt nhân của tổ chức đảng và đảng viên nằm trong các cơ quan
nhà nước và đoàn thể quần chúng Tác giả nêu yêu cầu phải thay đổi PTLĐ,
phương thức cầm quyền một cách khoa học, dân chủ và theo hiến pháp, pháp luật,
nâng cao nhận thức về quy luật cầm quyền của Đảng Cộng sản
Hoàng Văn Hổ (2014), Cầm quyền khoa học [67] Bàn về vấn đề cầm
quyền khoa học của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tác giả làm rõ quan điểm cầm
quyền, ý nghĩa quan trọng của cầm quyền khoa học, bản chất của cầm quyền
khoa học, mối quan hệ tương hỗ giữa cầm quyền khoa học, cầm quyền dân chủ,
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 1812
cầm quyền theo pháp luật, kinh nghiệm vận dụng cầm quyền khoa học Các yếu
tố cơ bản tạo nên năng lực cầm quyền khoa học gồm: năng lực học tập đổi mới,
năng lực điều tiết lợi ích, năng lực tích hợp tài nguyên, năng lực cầm quyền theo
pháp luật, năng lực tự thanh lọc Phương pháp nâng cao năng lực cầm quyền
khoa học là tăng cường trang bị lý luận, hoàn thiện cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm
cán bộ, tăng cường đào tạo cán bộ
1.1.2.2 Luận án
Xỏm Nức - Xổm Vi Chít (2008), Đổi mới phương thức Đảng lãnh đạo
Nhà nước ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào hiện nay [159] Tác giả trình bày
sự cần thiết phải đổi mới PTLĐ của Đảng nhân dân cách mạng Lào đối với Nhà
nước của Lào; đưa ra những giải pháp quan trọng như: Tăng cường vai trò lãnh
đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào, đồng thời phát huy hiệu lực quản lý của
Nhà nước Lào; khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động lãnh đạo
của Đảng nhân dân cách mạng Lào; phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân
dân Tác giả nhấn mạnh, để đổi mới PTLĐ của Đảng nhân dân cách mạng Lào
đối với từng lĩnh vực đời sống xã hội và với Nhà nước Lào phải coi trọng công
tác cán bộ, xây dựng ĐNCB có trình độ, năng lực, nhất là ĐNCB chủ chốt của
Đảng nhân dân cách mạng Lào và Nhà nước Lào ở các cấp, các ngành
Thoong Băn Seng Aphone (2011), Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh
đạo giữ vững an ninh quốc gia trong giai đoạn hiện nay [110] Tác giả xác định
khá đầy đủ những nội dung chủ yếu về đổi mới nội dung và PTLĐ của Đảng
nhân dân cách mạng Lào đối với giữ vững an ninh quốc gia; đưa ra những giải
pháp đổi mới PTLĐ của Đảng nhân dân cách mạng Lào đối với giữ vững an ninh
quốc gia Lào như: tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp uỷ đảng đối với
bảo đảm an ninh tại các địa phương ở Lào, xây dựng lực lượng an ninh Lào trở
thành lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức;
thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng an ninh Lào
Bun-Thoong Chit-Ma-Ni (2016), Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh
đạo xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay [35] Tác giả đã đưa ra
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 1913
khái niệm Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng nông thôn mới; chỉ
ra nội dung và PTLĐ trong xây dựng nông thôn mới của Đảng nhân dân cách
mạng Lào Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào đối
với xây dựng nông thôn mới thì Đảng phải nâng cao chất lượng hoạt động ra
nghị quyết; xây dựng, hoàn thiện và thực hiện nghiêm nguyên tắc, quy trình lãnh
đạo; đổi mới công tác cán bộ
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC Ở TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.2.1 Các công trình khoa học nghiên cứu về cán bộ và xây dựng đội
ngũ cán bộ
1.2.1.1 Sách và các đề tài khoa học
Trần Đình Hoan (2007), Cơ sở lý luận và thực tiễn đánh giá, luân chuyển
cán bộ lãnh đạo quản lý trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
[61] Lần đầu tiên các nhà khoa học bàn về công tác luân chuyển cán bộ với tư
cách là khâu góp phần đào tạo cán bộ qua thực tiễn Luân chuyển gắn liền với
quy hoạch và có thể theo ba hướng: luân chuyển ngang, trên xuống, dưới lên
Những vấn đề liên quan đến chế độ chính sách hỗ trợ đời sống, điều kiện,
phương tiện để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ cũng là nội dung được tổng kết và
đề xuất trong Đề tài Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể giúp Luận án
hoàn thiện hơn trong giải pháp đổi mới nội dung xây dựng ĐNCB là người
Khmer ở ĐBSCL hiện nay phần đổi mới công tác luân chuyển cán bộ tạo nguồn
lâu dài
Lô Quốc Toản (2010), Phát triển nguồn cán bộ DTTS ở các tỉnh miền núi
phía Bắc nước ta hiện nay [137] Cuốn sách đưa ra định nghĩa khái niệm "Nguồn
cán bộ DTTS" Khi quan niệm Phát triển nguồn cán bộ DTTS là "phát triển
những con người ở các DTTS, tạo điều kiện thuận lợi để họ trở thành cán bộ" và
"phát triển về năng lực và trình độ công tác của ĐNCB DTTS", tác giả đã phân
biệt 2 nhóm nguồn khác nhau: người DTTS chưa là cán bộ và cán bộ người
DTTS Ở mục đánh giá về công tác phát triển nguồn, tác giả đề cập đến 3 việc cụ
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2014
thể: khôi phục và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú; thực hiện
chế độ cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp; đào tạo cán bộ
nguồn quy hoạch lãnh đạo, quản lý càng thể hiện rõ quan niệm phát triển nguồn
theo tác giả thực chất chỉ là nội dung đào tạo, bồi dưỡng nguồn
Nguyễn Đăng Thành (2012), Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc
thiểu số ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước [108] Cuốn sách trình bày những luận cứ lý thuyết và thực tiễn nhằm
để nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở vùng
dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, tác giả còn đề xuất hệ quan điểm, giải pháp toàn
diện cho hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số phục
vụ yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, tại các
vùng dân tộc thiểu số nói riêng
Nguyễn Minh Tuấn (2012), Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác cán bộ thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH [138] Cuốn sách gồm 03 chương, đi sâu phân tích tầm
quan trọng của việc xây dựng ĐNCB; quan điểm của Đảng về xây dựng ĐNCB
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; đổi mới mạnh mẽ PTLĐ của Đảng đối
với công tác cán bộ.Trên cơ sở phân tích các nội dung này, cuốn sách đề cập việc
tiếp tục đổi mới đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ, nhấn mạnh việc tập
trung thực hiện có chất lượng, hiệu quả từng khâu, sự đổi mới mang tính đột phá,
tạo bước chuyển căn bản về công tác cán bộ trong giai đoạn hiện nay
Trịnh Thanh Tâm (2013), Xây dựng đội ngũ nữ cán bộ chủ chốt của
HTCT cấp xã (qua khảo sát thực tiễn ở đồng bằng sông Hồng) [104] Cuốn
sách đã khái quát và làm rõ những nội dung cơ bản của công tác xây dựng
ĐNCB của HTCT HTCT cấp xã, khẳng định vai trò và tầm quan trọng của
công tác xây dựng đội ngũ nữ cán bộ chủ chốt của HTCT cấp xã (Qua khảo
sát thực tiễn ở đồng bằng sông Hồng), tác giả đã phân tích, đưa ra nhiều nhận
xét khách quan và đúc rút được những kinh nghiệm có giá trị, đồng thời đưa
ra một số giải pháp nhằm tăng cường công tác xây dựng đội ngũ nữ cán bộ chủ
chốt của HTCT cấp xã
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2115
Trương Thị Thông (2014), Chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ và cốt
cán người Khmer vùng Tây Nam Bộ [112].Trên cơ sở tài liệu và với phương
pháp nghiên cứu văn bản, thu thập thông tin, điều tra xã hội học và phỏng vấn
sâu, đề tài đã đánh giá một cách toàn diện về thực trạng việc ban hành và thực
hiện chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ và cốt cán người Khmer vùng Tây
Nam bộ, xác định nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm Đề tài cũng đã đề
xuất với các chủ thể của công tác cán bộ và cốt cán về những giải pháp hoàn
thiện, bổ sung (hoặc ban hành chính sách mới) chính sách, tổ chức thực thi có
hiệu quả, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ và cốt cán người Khmer vùng Tây
Nam bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đủ về số lượng, đảm bảo chất
lượng, đồng bộ về cơ cấu, ổn định và phát triển trong những năm tiếp theo
Phan Hữu Tích (2014), Xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức
cơ quan tham mưu của Thành ủy Hà Nội [118] Trên cơ sở nghiên cứu lý luận,
thực tiễn về cán bộ, công chức, công vụ và các chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước về xây dựng tiêu chuẩn, chức danh cán bộ, công chức trong HTCT;
đánh giá thực trạng xây dựng tiêu chuẩn cán bộ, công chức các cơ quan tham
mưu Thành ủy Hà Nội (bao gồm: BTC, Ban Tuyên Giáo, Cơ quan Ủy ban Kiểm
tra, Ban Dân vận, Văn phòng Thành ủy); đề tài đã xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh
giá cán bộ, công chức các cơ quan tham mưu Thành ủy Hà Nội, đồng thời đề
xuất giải thực hiện bộ tiêu chuẩn cán bộ, công chức các cơ quan tham mưu
Thành ủy Hà Nội
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Hội đồng Lý luận Trung
ương (2016), Những giải pháp có tính chất đột phá nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự
suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đảng, những biểu hiện "tự
diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ" [66] Các bài tham luận phân tích các
giải pháp như: thực hiện tốt tự phê bình và phê bình; đổi mới PTLĐ của Đảng;
Đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" và chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê
phán những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh; việc làm gương, nêu gương của cán bộ, nhất là
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2216
người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp; Xác định rõ thẩm quyền,
trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể
cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tăng cường kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong Đảng,
Thào Xuân Sùng (2016), Xây dựng ĐNCB dân vận người DTTS trong thời
kỳ mới [103] Cuốn sách được kết cấu thành 3 chương, trình bày một số vấn đề
lý luận về dân tộc, DTTS và xây dựng ĐNCB dân vận người DTTS Đồng thời,
cuốn sách đã tập trung phân tích thực trạng, ưu, nhược điểm, nguyên nhân, kinh
nghiệm xây dựng ĐNCB dân vận người DTTS Trên cơ sở đó, đề ra những mục
tiêu, nguyên tắc và những giải pháp cơ bản xây dựng ĐNCB dân vận người
DTTS trong thời kỳ mới
Nguyễn Minh Tuấn, Trần Khắc Việt, Nguyễn Văn Giang (2018), Đổi mới
việc đánh giá, sử dụng cán bộ [139] Đây là kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp
bộ trọng điểm của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Cuốn sách đã khái
quát những vấn đề lý luận về đánh giá, sử dụng cán bộ Thực trạng, nguyên nhân và
những vấn đề đặt ra trong đánh giá và sử dụng cán bộ hiện nay Mục tiêu, phương
hướng và giải pháp đổi mới việc đánh giá, sử dụng cán bộ ở nước ta
Tạp chí Tổ chức Nhà nước, Bộ Nội vụ (2020), Giải pháp xây dựng ĐNCB
cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ [105]
Cuốn sách tập hợp bài viết của các nhà lãnh đạo, quản lý, nhà nghiên cứu phân
tích về vị trí, vai trò, những kết quả đạt được cũng như mặt hạn chế, bất cập của
công tác xây dựng ĐNCB chiến lược, từ đó đề xuất các giải pháp xây dựng
ĐNCB vừa hồng vừa chuyên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ theo tinh thần Nghị
quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII Nội
dung cuốn sách gồm 04 phần Cuốn sách góp phần cung cấp thêm nguồn tài liệu
tham khảo hữu ích cho tác giả khi nghiên cứu vấn đề xây dựng ĐNCB, trong đó
có ĐNCB nói chung ở ĐBSCL
1.2.1.2 Bài tạp chí khoa học
Chu Xuân Khánh, Đào Thị Thanh Thủy (2011), ''Đổi mới công tác đánh giá
công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước'' [76, tr.15-16] Theo các tác giả,
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2317
việc đánh giá nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước có thể thực hiện
trên các nội dung: Đánh giá hiệu quả làm việc; đánh giá năng lực, trình độ chuyên
môn nghiệp vụ của tổ chức; đánh giá tiềm năng; đánh giá động cơ làm việc
Nguyễn Thị Hồng Hải (2012), ''Đánh giá thực thi công vụ nhằm đảm bảo
hiệu quả hoạt động của tổ chức hành chính nhà nước'' [58, tr.8-11] Tác giả đã
giới thiệu hai cấp độ đánh giá (Tổ chức và cá nhân công chức) và các chỉ số đánh
giá ở hai cấp độ khác nhau Từ đó nêu lên một số vấn đề đặt ra khi thực hiện
công tác đánh giá
Nguyễn Văn Quynh (2014), ''Đề án 165 - Những kết quả giai đoạn I và
định hướng cho giai đoạn tiếp theo'' [100] Tác giả nêu lên những kết quả, kinh
nghiệm đào tạo cán bộ của Đề án 165 (Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh
đạo, quản lý ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước); nêu định hướng tiếp theo:
Mở rộng loại hình bồi dưỡng ngắn hạn và trung hạn cho cán bộ lãnh đạo, quản lý
và cán bộ trong quy hoạch tại các cơ sở đào tạo có uy tín ở nước ngoài; học trực
tiếp bằng ngoại ngữ nhằm bồi dưỡng về kỹ năng lãnh đạo, quản lý, khả năng sử
dụng ngoại ngữ và giao tiếp quốc tế
Nguyễn Thế Trung (2014), ''Tiếp tục nâng cao chất lượng đánh giá và sử
dụng cán bộ trong tình hình hiện nay'' [143] Bài viết khẳng định trong công tác cán
bộ, việc đánh giá và sử dụng cán bộ là các khâu cực kỳ quan trọng Đánh giá chính
xác cán bộ là cơ sở cho việc quyết định bố trí, sử dụng hợp lý, tạo động lực mạnh
mẽ, động viên cán bộ cống hiến sức lực, tài trí, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Bởi vậy, đánh giá và sử dụng cán bộ phải được xem xét, thực hiện thống nhất trên
nền tảng những quan điểm và phương pháp đúng đắn, khoa học Tác giả đã làm rõ 4
lý do vì sao đánh giá cán bộ khó Trên cở sở đó, 4 giải pháp đồng bộ đã được tác giả
đưa ra nhằm nâng cao chất lượng đánh giá và sử dụng cán bộ
Lại Đức Vượng (2014), “Đánh giá cán bộ, công chức” [157, tr.48] Tác
giả đã làm rõ nguyên tắc, căn cứ đánh giá, phân loại cán bộ, công chức; Phương
pháp, nội dung đánh giá cán bộ, công chức; Trình tự, thủ tục và tiêu chí đánh giá
cán bộ, công chức Đánh giá cán bộ, công chức phải dựa trên mức độ thực hiện
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2418
chức trách, nhiệm vụ được giao, thể hiện ở khối lượng, chất lượng, tiến độ, hiệu quả
của công việc trong từng vị trí, từng thời gian; tinh thần trách nhiệm trong hoạt
động công vụ Cần áp dụng các phương pháp đánh giá cán bộ, công chức tiên tiến;
đổi mới quy trình đánh giá cán bộ, công chức, đảm bảo dân chủ, công bằng, công
khai, chính xác và trách nhiệm đối với việc đánh giá cán bộ, công chức
Thân Minh Quế (2016), ''Nâng chất lượng đánh giá cán bộ, công chức'' [97]
Tác giả đã nêu bật những điểm mới trong công tác đánh giá cán bộ, công chức qua
thực tiễn ở tỉnh Bắc Giang Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp để đổi mới, nâng cao
chất lượng đánh giá cán bộ trước yêu cầu phát triển mới của địa phương
Đoàn Minh Huấn (2018), ''Xây dựng ĐNCB cấp chiến lược ở nước ta hiện
nay - quan niệm, đặc điểm và những mâu thuẫn cần giải quyết'' [69] Các bài viết
đã làm rõ thêm khái niệm cán bộ cấp chiến lược, vai trò, đặc điểm và những mâu
thuẫn cũng như phương thức giải quyết mâu thuẫn để xây dựng, phát triển
ĐNCB cấp chiến lược ở nước ta hiện nay
Phạm Ngọc Hùng (2020), ''Xây dựng ĐNCB trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là
người DTTS gắn với tinh gọn tổ chức bộ máy: Kinh nghiệm thực tiễn ở huyện
Đồng Văn, tỉnh Hà Giang'' [70] Bài viết chỉ rõ một số kết quả đạt được trong
việc sắp xếp tổ chức bộ máy gắn với phát triển ĐNCB trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là
người DTTS, đồng thời đưa ra các giải pháp thực hiện hiệu quả việc tinh gọn tổ
chức bộ máy gắn với phát triển ĐNCB trẻ, cán bộ nữ và cán bộ DTTS: Thứ nhất,
tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức, hành động của cấp ủy các cấp, nhất là người
đứng đầu; Thứ hai, tiếp tục rà soát, xây dựng, cơ cấu ĐNCB, công chức, viên
chức theo vị trí việc làm và trình độ đào tạo; Thứ ba, tăng cường công tác kiểm
tra, giám sát
1.2.1.3 Luận án
Nguyễn Thành Dũng (2012), Nâng cao chất lượng ĐNCB chủ chốt cấp
huyện ở các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay [44] Luận án đề cập đến
chất lượng toàn diện của từng cán bộ chủ chốt cấp huyện, tác giả đã đề xuất năm
giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng ĐNCB chủ chốt cấp huyện ở các
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2519
tỉnh Tây Nguyên, trong đó có đề cập đến giải pháp cụ thể hoá tiêu chuẩn các
chức danh ĐNCB chủ chốt gắn với phát huy tinh thần tự phấn đấu, rèn luyện, tu
dưỡng, quản lý của cán bộ chủ chốt
Trương Thị Bạch Yến (2014), Đào tạo nguồn cán bộ, công chức xã người
DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay [162] Luận án nghiên cứu,
phân tích rõ thực trạng, ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân, kinh nghiệm và những
vấn đề đặt ra, đề xuất những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tạo nguồn cán bộ, công
chức xã người DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên Hệ thống 7 giải pháp được tác giả
tập trung luận giải khá công phu
Lê Văn Hạnh (2017), Xây dựng ĐNCB chuyên trách công tác đảng trong
công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giai đoạn hiện nay, [59] Luận
án đã trình bày vị trí vai trò của cán bộ chuyên trách công tác đảng trong công an
tỉnh, thành phố trong giai đoạn mới, nội dung xây dựng ĐNCB và thực trạng xây
dựng ĐNCB này thời gian qua và đề xuất nhiều giải pháp thiết thực cho ngành
công an xây dựng ĐNCB chuyên trách công tác đảng tốt hơn trong thời gian tới
Trần Thanh Sang (2018), Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở
ĐBSCL giai đoạn hiện nay [102] Luận án đã đánh giá những thành tựu và hạn
chế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã của các tỉnh, thành phố ở
ĐBSCL thời gian qua, chỉ ra nguyên nhân của hạn chế là do: một số cấp uỷ,
chính quyền địa phương và ĐNCB cấp xã chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò
của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã; chưa chú trọng công tác quy
hoạch cán bộ cấp xã và lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cụ thể; thiếu sự
phối hợp giữa các tổ chức, cơ quan; đội ngũ giảng viên, báo cáo viên chưa chịu
khó nâng cao tay nghề, kỹ năng truyền thụ; việc xây dựng đội ngũ giảng viên,
báo cáo viên, lực lượng phục vụ cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chưa được
chú trọng đúng mức; kinh phí, cơ sở vật chất và chế độ chính sách cho công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở ĐBSCL chưa phù hợp, chưa tạo động lực
cho người học và cũng chưa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2620
Đậu Văn Côi (2020), Xây dựng ĐNCB lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược
về kinh tế của Việt Nam trong hội nhập quốc tế [39] Luận án đã trình bày tương
đối hoàn chỉnh khung lý thuyết vế xây dựng ĐNCB lãnh đạo, quản lý cấp chiến
lược về kinh tế ở Việt nam, đánh giá sát thực trạng tình hình quản lý kinh tế của
ĐNCB này thời gian qua và đế xuất một số giải pháp quan trọng để xây dựng
ĐNCB lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược về kinh tế trong thời kỳ hội nhập quốc tế
1.2.2 Các công trình khoa học nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng,
của tỉnh ủy đối với các lĩnh vực đời sống xã hội và công tác cán bộ
1.2.2.1 Sách và các đề tài khoa học
Ngô Huy Tiếp ()2008, Đổi mới PTLĐ của Đảng đối với trí thức nước ta
hiện nay [119] Tác giả đề xuất những giải pháp cần thiết đổi mới PTLĐ của
Đảng đối với đội ngũ trí thức như: nâng cao nhận thức, đổi mới công tác tư
tưởng; xây dựng ĐNCB lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực khoa học - công nghệ;
đổi mới chính sách giáo dục và đào tạo; xây dựng chính sách thu hút và sử dụng,
đãi ngộ và tôn vinh
Nguyễn Thị Thanh (2010), Đảng lãnh đạo thực hiện Chiến lược cán bộ
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước từ năm 1998 đến năm
2008 [106] Đề tài đã đề cập các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết, thông tư, hướng
dẫn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương
Đảng về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước Đồng thời, nêu rõ yêu cầu khách quan đổi mới công tác cán bộ và quá
trình Đảng tổ chức chỉ đạo thực hiện chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nêu rõ kết quả và kinh nghiệm thực hiện
chiến lược cán bộ
Nguyễn Văn Huyên (2011), Đảng Cộng sản cầm quyền - nội dung và
phương thức cầm quyền của Đảng [71] Trong công trình nghiên cứu này, tác giả
đã đề xuất các giải pháp đổi mới nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng
đối với các lĩnh vực công tác Trong các giải pháp, đáng chú ý là giải pháp đổi
mới công tác tư tưởng của Đảng Yêu cầu đổi mới công tác tư tưởng là tăng
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2721
cường công tác lý luận, lấy các tiêu chí khoa học, khách quan làm trọng tâm, lấy
công khai, minh bạch và phản biện độc lập làm hàng đầu, phát huy tính chủ động
của các tổ chức gắn với các hoạt động thực tế
Trần Khắc Việt, Nguyễn Văn Giang và Phạm Tất Thắng (2015), Tiếp tục
đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ
chức chính trị - xã hội (CT-XH) trong điều kiện mới [156] Tập thể tác giả đã
trình bày một cách sâu sắc về PTLĐ, đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước,
MTTQ và các tổ chức CT-XH Đáng chú ý, trong quá trình đổi mới PTLĐ cần
tránh sự tuỳ tiện hoặc không theo đa số khi đề ra nghị quyết, chủ trương Cần có
sự thay đổi quy trình chuẩn bị các Nghị quyết, kết luận quan trọng của Đảng đòi
hỏi cơ quan nhà nước phải thể chế hoá, cụ thể hoá và tổ chức thực hiện ngay trên
thực tế Cần xác định rõ trách nhiệm của đảng đoàn, Ban cán sự đảng và người
đứng đầu cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức CT-XH trong việc cụ thể hoá
nghị quyết của Đảng
Trần Đình Thắng (2020), Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức nhà nước [108] Cuốn sách đi sâu phân tích, luận giải các vấn đề
lý luận và thực tiễn, đồng thời nghiên cứu, tổng kết quá trình lịch sử Đảng lãnh
đạo, chỉ đạo cải cách chế độ công vụ, xây dựng ĐNCB, công chức, viên chức
nhà nước từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến nay
Qua đó, cuốn sách đã đưa ra nhiều đề xuất, kiến nghị nhằm đẩy mạnh công tác
xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, tiên tiến, hiện đại; xây dựng và đào tạo
ĐNCB, công chức, viên chức nhà nước Đồng thời, cuốn sách khẳng định rõ hơn
vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với việc cải cách bộ máy nhà nước và nền
công vụ, công chức, viên chức nhà nước
1.2.2.2 Bài tạp chí khoa học
Trần Khắc Việt (2013), ''Quá trình phát triển nhận thức về PTLĐ của
Đảng đối với Nhà nước trong thời kỳ đổi mới'' [155, tr.48-54] Tác giả trình bày
khái quát quá trình đổi mới và phát triển nhận thức của Đảng về đổi mới PTLĐ
của Đảng đối với Nhà nước trong thời kỳ đổi mới Tác giả có những đánh giá,
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2822
lập luận sâu sắc về các nội dung trong PTLĐ của Đảng qua các văn kiện Đảng
quan trọng Tác giả nhận định: Đảng ngày càng cụ thể thẩm quyền và trách
nhiệm của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, nhất là cấp Trung ương, đối với hoạt
động của các cơ quan nhà nước, định hướng PTLĐ của các cấp ủy đảng đối với
chính quyền địa phương
Nguyễn Danh Châu (2014), ''Đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước''
[36, tr.43-46] Tác giả đánh giá về thành tựu và hạn chế đổi mới PTLĐ của Đảng
đối với Nhà nước qua 30 năm đổi Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất 4 nhóm giải
pháp đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước: thực hiện dân chủ hóa trong
quá trình đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước; thể chế hóa mối quan hệ
giữa Đảng và Nhà nước; đổi mới về phong cách và lề lối làm việc của cán bộ,
đảng viên; nâng cao chất lượng ĐNCB lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là ở cấp
chiến lược Tuy bài viết này không trực tiếp đề cập đến nội dung tỉnh ủy lãnh
đạo nhưng 4 nhóm giải pháp mà tác giả đề xuất có giá trị tham khảo trong việc
đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy trong xây dựng ĐNCB
Phạm Hồng Kiên (2015), "Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo phát triển
nguồn nhân lực (2001-2015)" [79, tr.104-107] Tác giả đã trình bày những chủ
trương, nghị quyết, thành tựu, hạn chế trong lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực
của Đảng bộ tỉnh Bình Dương giai đoạn từ năm 2001-2005 Những kinh nghiệm
mà tác giả đúc rút trong bài tạp chí là nguồn tham khảo giá trị đối với luận án
Hoàng Chí Bảo (2016), ''Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nội
dung, phương thức hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân'' [21,
tr.20-26] Bài viết đã chỉ ra rằng Đảng lãnh đạo đổi mới chính trị và HTCT, muốn có
kết quả, hiệu quả, Đảng phải tự đổi mới chính mình để thúc đẩy đổi mới xã hội
Lãnh đạo các đoàn thể, xét cả về nội dung và phương thức, đều liên quan tới
mối quan hệ giữa Đảng với các đoàn thể mà thực chất là quan hệ giữa Đảng
với Dân Lãnh đạo bằng sự gương mẫu là cách lãnh đạo tốt nhất, có tác dụng
nhất Đặc biệt, tác giả chỉ ra rằng Đảng lãnh đạo đổi mới nội dung và phương
thức hoạt động của Mặt trận trong tình hình mới quan trọng nhất là cần phải
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2923
có chiến lược cán bộ, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng lâu dài ĐNCB Đảng,
Mặt trận và các đoàn thể về mọi mặt, từ năng lực, trình độ chuyên môn, tư
tưởng chính trị, đạo đức và phong cách công tác, nhất là phương pháp, kỹ năng
và phong cách dân vận
Nguyễn Thị Tĩnh (2017), "Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về
xây dựng ĐNCB DTTS trong thời kỳ đổi mới" [134, tr.113-116] Bài tạp chí
là công trình khoa học công phu khái quát, đánh giá các chủ trương, các văn
bản của Đảng về xây dựng ĐNCB người DTTS trong giai đoạn từ năm 1986
đến nay
Nguyễn Thị Tĩnh (2017), "Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo xây dựng
ĐNCB người DTTS" [135, tr.73-77] Tác giả đã đánh giá kết quả lãnh đạo xây
dựng ĐNCB người DTTS của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk qua các nhiệm kỳ, với hệ
thống số liệu minh chứng thuyết phục Từ đó, tác giả rút ra một số kinh nghiệm
trong lãnh đạo xây dựng ĐNCB người DTTS để vận dụng vào xây dựng ĐNCB
hiện nay
Vũ Khánh Hoàn (2018), ''Các tỉnh, thành uỷ ở Đông Nam Bộ lãnh đạo
công tác nội chính giai đoạn hiện nay'' [63] Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra
những thành tựu và hạn chế trong lãnh đạo công tác nội chính của các tỉnh, thành
ủy ở Đông Nam Bộ trong thời gian từ năm 2015-2020 Từ đó, tác giả đưa ra một
số giải pháp nâng cao hiệu quả lãnh đạo công tác nội chính của các tỉnh, thành
ủy ở Đông Nam Bộ trong thời gian tới
1.2.2.3 Luận án
Lê Thị Minh Hà (2016), Các tỉnh uỷ vùng đồng bằng sông Hồng lãnh đạo
chính quyền tỉnh giai đoạn hiện nay [57] Điểm mới của tác giả là chỉ ra nội
dung tỉnh uỷ lãnh đạo chính quyền tỉnh: lãnh đạo chính quyền tỉnh phối hợp với
Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh và các đoàn thể CT-XH, các tổ
chức xã hội khác chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân
tham gia quản lý nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước
Nguyễn Trung Thanh (2018), Nội dung và phương thức cầm quyền của
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3024
Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện mới [107] Tác giả xác định các
phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện mới,
đáng chú ý là phương thức Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền bằng thiết
lập và hoạt động của hệ thống tổ chức đảng trong bộ máy nhà nước; Đảng
Cộng sản Việt Nam cầm quyền bằng phát huy vai trò của MTTQ và các tổ
chức CT-XH trong thực hành quyền dân chủ, xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước
Nguyễn Thị Tĩnh (2018), Đảng bộ tỉnh Đak Lak lãnh đạo xây dựng đội
ngũ cán bộ DTTS từ năm 2005 đến 2015 [136] Luận án đã trình bày khá đầy đủ
khung hệ thống lý luận về nội dung, PTLĐ của tỉnh uỷ cũng như thực trạng xây
dựng đội ngũ án bộ người DTTS ở tỉnh Đak Lak và đề ra nhiều giải pháp thiết
thực phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương
Phạm Hồng Kiên (2018), Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo xây dựng
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2015 [80] Luận án tập
trung làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo xây dựng ĐNCB
chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2015, từ đó rút ra một số bài học kinh
nghiệm để tiếp tục xây dựng ĐNCB chủ chốt cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ trong giai đoạn hiện nay của tỉnh
Vũ Khánh Hoàn (2020), Các tỉnh, thành uỷ ở Đông Nam Bộ lãnh đạo
công tác nội chính giai đoạn hiện nay [64] Đóng góp mới của luận án là đã đưa
ra khái niệm khá hoàn chỉnh về các tỉnh, thành uỷ ở Đông Nam Bộ lãnh đạo
công tác nội chính, chỉ ra một số kinh nghiệm tỉnh, thành ủy ở Đông Nam Bộ
lãnh đạo công tác nội chính Luận án đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ
yếu, khả thi tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh, thành uỷ ở Đông Nam Bộ đối
với công tác nội chính đến năm 2030, trong đó có hai giải pháp mới: Một là,
nâng cao năng lực xây dựng và lãnh đạo tổ chức thực hiện các nghị quyết về
công tác nội chính của các tỉnh, thành uỷ; Hai là, xây dựng ĐNCB các công tác
nội chính đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3125
1.3 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH
KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG
GIẢI QUYẾT
1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có
liên quan đến đề tài luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án cho thấy đã
có nhiều công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu về xây dựng ĐNCB Đồng
thời nghiên cứu nội dung và phương thức tỉnh uỷ lãnh đạo trên các lĩnh vực
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã có đóng góp rất lớn về mặt khoa
học, những vấn đề lý luận và thực tiễn được trình bày một cách sâu sắc, mỗi
công trình có sự khai thác ở những bình diện, cấp độ khác nhau về ĐNCB và về
tỉnh uỷ, thành uỷ lãnh đạo Các công trình trên đã nghiên cứu, tổng kết công phu,
nghiêm túc trên quy mô lớn và mang tính khoa học cao về nội dung xây dựng
ĐNCB nói chung, cán bộ cấp cơ sở, cán bộ cấp địa phương, cán bộ cấp chiến
lược Việt Nam trong tình hình mới và cấp uỷ các cấp lãnh đạo trên các lĩnh vực
Cụ thể như sau:
Một là, các công trình đã bàn đến nhiều mặt công tác cán bộ và xây dựng
ĐNCB, như: quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bố trí sử dụng cán bộ, đánh
giá cán bộ, luân chuyển cán bộ, tạo nguồn cán bộ; nội dung và cách thức xây
dựng ĐNCB nói chung
Hai là, nhiều công trình đã luận bàn về Đảng, các cấp uỷ cấp tỉnh ở các
vùng của nước ta lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội; đưa ra khái niệm, nội
dung và PTLĐ; đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, cấp uỷ
cấp tỉnh đối với một số lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có một số lĩnh vực gần
với lĩnh vực xây dựng ĐNCB người Khmer, như: xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức nhà nước; xây dựng ĐNCB người DTTS; phát triển nguồn nhân
lực; đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị - xã hội…
Tuy nhiên, những công trình quan trọng nêu trên đều mới đề cập đến
ĐNCB nói chung, chưa phân định, xác định các tiêu chuẩn, tiêu chí đối với cán
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3226
bộ là người Khmer và quy định những yêu cầu nội dung, phương pháp có tính
đặc thù để phát triển ĐNCB là người Khmer ở ĐBSCL trong thời kỳ hội nhập
kinh tế quốc tế
Vấn đề tỉnh ủy lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer ở các tỉnh
ĐBSCL hiện nay chưa có một công trình, một đề tài nào nghiên cứu có hệ thống,
toàn diện, hoàn chỉnh
1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Kế thừa những công trình khoa học trước đó, tiếp tục giải quyết những
vấn đề đặt ra, luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề sau đây:
Một là, làm rõ khái niệm, nội dung, PTLĐ xây dựng ĐNCB là người
Khmer của tỉnh ủy ở ĐBSCL; những vấn đề chủ yếu về chủ thể lãnh đạo (các
tỉnh ở ĐBSCL), đối tượng lãnh đạo Từ sự phân tích đặc điểm của con người,
cán bộ là người Khmer các tỉnh ĐBSCL, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu, phân tích
nội dung, phương thức lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ là người Khmer các
tỉnh ĐBSCL với những nét đặc thù, vừa trung thành với các quan điểm, mục tiêu
của Đảng, vừa vận dụng sáng tạo, phù hợp với đặc điểm các tỉnh ĐBSCL nói
chung cũng như đội ngũ cán bộ là người dân tộc Khmer
Hai là, nghiên cứu thực tiễn về các tỉnh uỷ ở ĐBSCL (gồm 6 tỉnh có đông
đồng bào Khmer sinh sống là Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Cà
Mau, Bạc Liêu) lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer; điều tra xã hội học
về sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer Từ kết
quả nghiên cứu thực tiễn và điều tra xã hội học, luận án đánh giá ưu điểm, hạn
chế trong thực hiện nội dung lãnh đạo và PTLĐ xây dựng ĐNCB là người
Khmer của các tỉnh uỷ ở ĐBSCL trong thời gian qua; chỉ ra các nguyên nhân của
ưu điểm và của hạn chế; đồng thời tổng kết những kinh nghiệm về các tỉnh uỷ ở
ĐBSCL lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer
Ba là, dự báo tình hình có liên quan; đề xuất và phân tích phương hướng,
những giải pháp khả thi để tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ ở ĐBSCL đối
với xây dựng ĐNCB là người Khmer đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3327
Những đặc điểm của các tỉnh ĐBSCL với những tác động và những
chuyển biến hết sức nhanh chóng, toàn diện và nhiều mặt của tình hình KT-XH
trong tương lai 10 năm tới và những năm tiếp theo là những đòi hỏi khách quan
phải đổi mới công tác cán bộ, trong đó phải đổi mới mạnh mẽ công tác xây dựng
ĐNCB là người Khmer Nhiệm vụ trọng đại ấy phụ thuộc một cách quyết định ở
vai trò của các tỉnh ủy đối với công tác cán bộ nói chung và xây dựng ĐNCB là
người Khmer
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng lãnh đạo của các tỉnh ủy ĐBSCL về
công tác cán bộ và kết quả lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ là người Khmer,
xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của các tỉnh trong thời kỳ mới, các chủ trương
mới của Đảng về công tác cán bộ, tác giả đề xuất những giải pháp vừa tổng thể,
vừa cụ thể, sát thực, khả thi để góp phần tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy
ở ĐBSCL đối với công tác xây dựng ĐNCB là người Khmer, đáp ứng với yêu
cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới Đây cũng là một trong những giải
pháp quan trọng để góp phần thực hiện chính sách cán bộ nói chung và chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3428
Chương 2 CÁC TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀ NGƯỜI KHMER -
NHỮNG VẤN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CÁC TỈNH, ĐẢNG BỘ TỈNH, TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG
2.1.1 Khái quát tình hình các tỉnh và đồng bào Khmer ở đồng bằng
sông Cửu Long
2.1.1.1 Khái quát tình hình các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long gồm thành phố Cần Thơ - thành phố trực
thuộc Trung ương và 12 tỉnh: Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà
Vinh, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, Hậu
Giang Ở 12 tỉnh có 14 thành phố (trực thuộc tỉnh), 13 thị xã và 98 huyện, với
1.539 xã, phường, thị trấn [Phụ lục 1] Phía Nam ĐBSCL giáp biển Đông, phía
Tây giáp vịnh Thái Lan, có vùng biển rộng lớn, bờ biển dài 750 km, chiếm 23%
chiều dài bờ biển nước ta, có hơn 360.000 km2
biển và đặc quyền kinh tế, có 02 huyện đảo là Phú Quốc và Kiên Hải ĐBSCL tiếp giáp với biển của các nước
Đông Nam Á (Singapor, Thái Lan, Malayxia, Philipine, Indonesia) Đây là vùng
có nhiều đường giao thông hàng hải, quốc tế quan trọng, có nhiều cảng biển lớn
thuận tiện cho việc giao lưu trao đổi hàng hóa, phát triển kinh tế với các tỉnh
trong nước và với các quốc gia, khu vực Nam Á với Đông Á, châu Úc và các
quần đảo ở Thái Bình Dương ĐBSCL là phần đất cuối cùng của lưu vực sông
Mê Công và vùng cực Nam của nước ta
Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng lớn nhất nước ta, một trong
những đồng bằng lớn trong khu vực Đông Nam châu Á; có diện tích tự nhiên
39.574.500 ha, chiếm 12% diện tích cả nước; đa dạng về sinh thái, phù sa phì
nhiêu, có núi, rừng, nhiều sông rạch; gần một nửa diện tích bị ngập lũ từ 3 - 4
tháng mỗi năm Đặc trưng này, tuy ảnh hưởng nhất định đối với canh tác nông
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3529
nghiệp, giao thông, song đem lại nhiều lợi ích như: gia tăng nguồn thủy sản tự
nhiên hàng năm; bổ sung phù sa cho đồng ruộng; vệ sinh làm sạch môi
trường; thau chua, rửa mặn; bổ sung nguồn nước ngầm Hiện nay, các nước
thượng nguồn song Mê Kông xây dựng nhiều đập thủy điện, cùng với biến đổi
khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến nguồn nước, lượng phù sa và sự phát triển của
các tỉnh vùng
Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
429/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án thành lập vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL,
gồm 4 tỉnh, thành phố (thành phố Cần Thơ, tỉnh Cà Mau, An Giang, Kiên
Giang) Đây là trung tâm kinh tế lớn, nòng cốt của ĐBSCL; thúc đẩy toàn vùng
phát triển sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản; đóng góp
lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước; góp phần quan trọng xây dựng
ĐBSCL giàu mạnh, các mặt văn hóa - xã hội tiến kịp mặt bằng chung của cả
nước; bảo đảm ổn định chính trị, an ninh - quốc phòng vững chắc [112];…
Dân số ở ĐBSCL hiện nay khoảng 17,5 triệu người, chiếm 23% dân số cả
nước, trong đó có 82% dân số sống ở nông thôn, 18% dân số ở thành thị Dân số
trong độ tuổi lao động trung bình một hộ nông dân ở ĐBSCL cao hơn mức bình
quân chung của cả nước là 0,5 nhân khẩu/hộ Dân cư ở ĐBSCL phân bố không
đều, chủ yếu tập trung trên các tuyến giao thông chính và ven sông Toàn vùng
có mật độ dân số bình quân là 410 người/km2
, ở phía Tây ĐBSCL dân số thưa thớt: các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu và Kiên Giang có dưới 240 người/km2, trong
khi đó ở phía Đông dân số tập trung khá đông: Tiền Giang 692 người/km2, Vĩnh
Long 687 người/km2
[Phụ lục 1]
Ở ĐBSCL có 4 dân tộc chính là: Kinh, Hoa, Khmer và Chăm Văn hóa nơi
đây vừa mang bản sắc văn hóa Việt Nam, vừa đa dạng, phong phú trong sự giao
thoa nhiều nền văn hóa của nhiều nước trên thế giới Nơi đây, có 6 tôn giáo lớn:
Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài và Hồi giáo Trong lịch
sử, các tín đồ tôn giáo nơi đây đã đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh
giành độc lập, thống nhất Tổ quốc Trình độ mọi mặt của cư dân ở các tỉnh
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3630
ĐBSCL nhìn chung thấp so với nhiều vùng khác trong cả nước, phong tục, tập
quán lạc hậu của một số DTTS còn tác động khá mạnh đến hoạt động và cuộc
sống của nhiều người dân và ĐNCB, nhất là cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn
Nhiều tỉnh, thành phố ở ĐBSCL có biên giới đất liền với Campuchia gần
400km, có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng,
đối ngoại, đặc biệt trong quan hệ với nước láng giềng Campuchia và các nước
ASEAN Nơi đây, là một trong những trọng điểm tấn công phá hoại chế độ ta
của các thế lực thù địch, bọn chúng thường lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc và
lịch sử hình thành của vùng đất Nam bộ để kích động gây thù hằn nhằm chia rẽ
đoàn kết dân tộc
2.1.1.2 Đặc điểm đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long
Một là, đồng bào Khmer ở các tỉnh ĐBSCL có số lượng khá lớn, sống ở
hầu hết các tỉnh, thành phố trong vùng, song tập trung ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc
Trăng, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau và Bạc Liêu
Ở ĐBSCL có gần 1,3 triệu người Khmer sinh sống, chiếm gần 7% số dân
ĐBSCL, sống rải rác ở các tỉnh, thành phố trong vùng, song sống tập trung với
số lượng khá lớn ở tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau và
Bạc Liêu, đông nhất, là ở tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng người Khmer sống tập
trung ở đồng bằng ven biển; ở tỉnh An Giang và Kiên Giang họ sống tập trung ở
vùng biên giới từ thị xã Châu Đốc (An Giang) đến tỉnh Kiên Giang Đồng bào
chủ yếu cư trú co cụm trên đất giồng, đất ruộng, ven theo các con kênh, rạch
nhỏ; dọc đường giao thông dạng vành khăn ven theo chân núi; mật độ dân số
tăng nhanh và không đồng đều với các loại hình cư trú
Hai là, đồng bào Khmer ở ĐBSCL có nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa
nước cổ truyền với các loại hình đa dạng, phong phú gắn liền với chùa Phật giáo
Tiểu thừa Khmer
Đồng bào Khmer ở ĐBSCL sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước
theo kiểu đặc trưng của đồng bằng miền Tây Nam bộ Đây là nghề truyền thống
từ lâu đời Đồng bào có nhiều kinh nghiệm về gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3731
lúa và hoa màu Hơn 90% dân số Khmer chuyên sống bằng việc sản xuất ra lúa
gạo và gần như toàn bộ đất đai của người Khmer dành cho việc trồng lúa và hoa
màu Trên đất rẫy, đồng bào Khmer trồng các loại hoa màu như hành, tỏi, rau,
đậu,… Ngoài sản xuất nông nghiệp, đồng bào còn sản xuất đồ gốm, dệt vải,
đường thốt nốt; đan lát và chế tạo các đồ dùng bằng tre, mây, như: thúng, rổ rá,
bàn ghế, nông cụ phục vụ đời sống và lao động, sản xuất Tuy nhiên, phương
thức sản xuất của đồng bào còn mang nặng tính tự cung, tự cấp, sản xuất nông
nghiệp chủ yếu độc canh, các ngành nghề dịch vụ chậm phát triển; mức sống của
đồng bào thấp; tỷ lệ tăng dân số cao, dân số ngày càng đông, trong khi đất sản
xuất dần bị thu hẹp; tài nguyên ngày càng có nguy cơ cạn kiệt…
Văn hóa của đồng bào Khmer ở ĐBSCL thường gắn với tín ngưỡng dân
gian và các lễ nghi tôn giáo (khoảng 15 lễ hội) Ngôn ngữ Khmer thuộc nhóm
ngôn ngữ Môn - Khmer trong ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic) Ngày nay, tiếng
Khmer thường được sử dụng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày ở gia đình,
trong sinh hoạt tôn giáo, trong giao tiếp giữa người Khmer với nhau Cùng với
ngôn ngữ, chữ viết, văn học dân gian của đồng bào Khmer rất phong phú, gồm
tục ngữ, dân ca, truyện dân gian, như: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ
ngôn và truyện cười
Ba là, "Phum", "Sóc" là những đơn vị cư trú cổ truyền của đồng bào
Khmer ở ĐBSCL
Phum bao gồm nhiều hộ gia đình có quan hệ huyết thống và quan hệ hôn
nhân cùng cư trú Một số nơi phum có một vài gia đình không có quan hệ huyết
thống hay có cả gia đình người Kinh, người Hoa cùng cư trú Việc quản lý phum
do một "Mê phum" - người có uy tín và thuộc vai lớn trong dòng họ - người đại
diện cho các thành viên trong phum lo mọi công việc công cộng trong phum và
quan hệ giữa các phum trong Sóc "Sóc" là đơn vị cư trú rộng hơn, bao gồm
nhiều phum Ở ĐBSCL, phần lớn các Sóc của đồng bào Khmer đều có sự chen
lẫn ít nhiều gia đình người Kinh, người Hoa và các dân tộc khác cùng cư trú
Trước đây, việc quản lý mọi hoạt động của Sóc do của Ban quản trị srok
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3832
tiến hành Ban quản trị bầu ra Mê srok (chủ Sóc) - người đàn ông lớn tuổi, có
hiểu biết sâu rộng về phong tục tập quán của đồng bào Khmer và có uy tín trong
srok Nhiệm vụ cơ bản của Mê Sóc và Ban quản trị là thay mặt cho các thành
viên chăm lo công việc trong srok cũng như quan hệ với các Sóc bên ngoài, giữa
Sóc với nhà chùa Hiện nay, việc điều hành xã hội theo kiểu truyền thống trong
đồng bào Khmer ở ĐBSCL hầu như không tồn tại Ban quản trị Sóc, mê Sóc, mê
phum dần trở thành nhân viên trong bộ máy hành chính xã, ấp, song các ban
quản trị này vẫn còn chi phối ở mức độ nhất định hoạt động của đồng bào Khmer
ở nhiều nơi
Bốn là, đời sống tinh thần của đồng bào Khmer ở ĐBSCL thiên về tâm
linh; chùa là nơi sinh hoạt tôn giáo tập trung của đồng bào
Đây là yếu tố chi phối rất lớn đến đời sống tinh thần và văn hóa ứng cử
của người Khmer Chùa có vai trò quan trọng, có tính chất quyết định trong đời
sống tinh thần của đồng bào Khmer ở ĐBSCL Chùa vừa là trung tâm sinh hoạt
tín ngưỡng, tôn giáo, vừa là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng là nơi dạy chữ, dạy
nghề và là nơi lưu trữ các thư tịch cổ, các hiện vật văn hóa, lịch sử, kiến trúc
Các vị sư Khmer được đồng bào hết sức tôn kính, trọng vọng Họ có sức ảnh
hưởng, chi phối nhất định trong các quan hệ xã hội của đồng bào Khi xảy ra bất
hòa, xung đột trong xóm, ấp, dòng họ, đồng bào thường tìm đến chùa để xin ý
kiến chỉ bảo của các nhà sư Việc can thiệp của chính quyền địa phương đối với
họ nhiều khi gặp khó khăn
Năm là, đồng bào Khmer ở các tỉnh ĐBSCL có mối quan hệ mật thiết với
người Campuchia
Đây là đặc điểm về nguồn gốc dân tộc của đồng bào Khmer ở các tỉnh
ĐBSCL Mối quan hệ này xuất phát từ các yếu tố, như: địa lý, lịch sử, văn hóa,
tôn giáo… Đồng bào Khmer nơi đây có nhiều điểm tương đồng về tiếng nói, chữ
viết, văn hóa, tôn giáo với người Campuchia Đặc biệt, nhiều tỉnh ở ĐBSCL có
đường biên giới với Campuchia khá dài; mối quan hệ truyền thống giữa hai nước
Việt Nam và Campuchia, nhìn chung tốt đẹp, hòa bình hữu nghị, đoàn kết hợp
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3933
tác, tương thân, tương ái… Bởi vậy, giữa đồng bào Khmer với người Campuchia
thường xuyên giao lưu, trao đổi với nhau về mọi mặt để làm ăn, sinh sống, lập
gia đình, học nghề… Tuy nhiên, trên thực tế, có lúc, có nơi đã xuất hiện những
phức tạp nhất định về vấn đề dân tộc, tôn giáo do các thế lực thù địch chia rẽ,
kích động, ảnh hưởng nhất định đến an ninh chính trị, trật tự và một số mặt khác
ở một số nơi của ĐBSCL
Sáu là, vấn đề dân tộc và văn hóa của đồng bào Khmer là một trong
những trọng tâm được các thế lực lợi dụng để xuyên tạc, phá hoại khối đại đoàn
kết dân tộc Việt Nam, chống phá Đảng và chế độ ta
Vấn đề dân tộc và văn hóa của đồng bào Khmer luôn được các thế lực thù
địch lợi dụng để xuyên tạc hòng phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam;
phá hoại Đảng, chế độ và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta;
trước hết là chia rẽ gây thù hằn dân tộc và phá hoại sự nghiệp đổi mới ở các tỉnh
ĐBSCL Chúng thường kết hợp vấn đề này với lịch sử hình thành vùng đất Nam
bộ để xuyên tạc, phá hoại Các hoạt động phá hoại được đặt trong chiến lược lợi
dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc thuộc Chiến lược "ba Tây" (Tây Bắc, Tây Nguyên
và Tây Nam bộ) của chung
2.1.2 Các đảng bộ tỉnh, tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Cửu Long - chức
năng, nhiệm vụ, vai trò và đặc điểm
2.1.2.1 Các đảng bộ tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long
Ở ĐBSCL có 12 tỉnh Tương ứng với 12 tỉnh có 12 đảng bộ tỉnh và 12
tỉnh ủy với 172 đảng bộ trực thuộc, trong đó, có 125 đảng bộ cấp huyện, 47 đảng
bộ khối và tương đương cấp huyện, 7.448 tổ chức cơ sở đảng và 545.595 đảng
viên, trong đó có 18.205 đảng viên là người Khmer [Phụ lục 5]
Nhiệm vụ của các đảng bộ tỉnh ở ĐBSCL là lãnh đạo toàn diện các lĩnh
vực của đời sống xã hội: Kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an
ninh, đối ngoại và công tác xây dựng nội bộ đảng; lãnh đạo chính quyền, MTTQ
(MTTQ) và các tổ chức CT-XH, các tổ chức kinh tế, xã hội, xã hội - nghề nghiệp
trên địa bàn tỉnh
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 4034
Trong những năm qua, bên cạnh những thuận lợi do thành quả của công
cuộc đổi mới đất nước đem lại, tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, duy trì
nền nếp sinh hoạt và công tác theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và của các
tỉnh ủy, phát huy được tinh thần chủ động, tích cực của mỗi cán bộ, đảng viên
trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị Nội dung lãnh đạo của các đảng bộ tỉnh
ở ĐBSCL đã bám sát chủ trương, đường lối của Đảng và điều kiện cụ thể ở địa
phương PTLĐ của các đảng bộ tỉnh ở ĐBSCL từng bước được đổi mới Đảng
bộ các tỉnh ở ĐBSCL luôn coi trọng lãnh đạo HTCT, thường xuyên đổi mới nội
dung và PTLĐ đối với chính quyền, MTTQ và các tổ chức CT-XH Nội dung
lãnh đạo bám sát các chủ trương, đường lối của Đảng, nghị quyết của Trung
ương và của các tỉnh ủy về KT-XH, quốc phòng, an ninh (QPAN) phù hợp với
điều kiện cụ thể của địa phương Các đảng bộ tỉnh có mối quan hệ đoàn kết gắn
bó với nhau, cùng Trao đổi hướng dẫn giúp đỡ và cùng nhau giải quyết những
vấn đề khó khăn trong khu vực ĐBSCL
2.1.2.2 Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh ủy là gọi tắt của ban chấp hành đảng bộ tỉnh trực thuộc Trung ương
Điểm 1, Điều 9 Điều lệ Đảng quy định: "Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là
Đại hội đại biểu toàn quốc Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc
đại hội đảng viên Giữa hai kỳ đại hội cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp
hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp
ủy)" [48, tr.17]
Điều 19, Điều lệ Đảng cũng quy định: "Cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương (gọi tắt là tỉnh ủy, thành ủy)" [48, tr.33]
Như vậy, cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh ở các ĐBSCL giữa hai kỳ đại
hội là tỉnh ủy
Theo Quy định số 10-QĐi/TW ngày 12/12/2018 về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và mối quan hệ công tác của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương, tỉnh ủy ở các tỉnh ĐBSCL có chức năng, nhiệm vụ
sau đây [18]:
Luận văn thạc sĩ xây dựng