1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ xây dựng đảng và chính quyền nhà nước các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông cửu long lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ là người khmer giai đoạn hiện nay

206 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Tỉnh Uỷ Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Lãnh Đạo Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Là Người Khmer Giai Đoạn Hiện Nay
Tác giả Trần Hoàng Khải
Người hướng dẫn PGS, TS. Nguyễn Minh Tuấn
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xây dựng đảng và chính quyền nhà nước
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 25 Chương 2: CÁC TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘ

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN HOÀNG KHẢI

CÁC TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ

LÀ NGƯỜI KHMER GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

HÀ NỘI - 2022Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN HOÀNG KHẢI

CÁC TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ

LÀ NGƯỜI KHMER GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

Mã số: 931 02 02

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS NGUYỄN MINH TUẤN

HÀ NỘI - 2022 Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung

thực Các kết luận khoa học của luận án chưa được công

bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả

Trần Hoàng Khải

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 4

1.2 Các công trình khoa học ở trong nước có liên quan đến đề tài luận án 13

1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên

quan và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 25

Chương 2: CÁC TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LÃNH

ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀ NGƯỜI KHMER - NHỮNG VẤN

2.1 Các tỉnh, đảng bộ tỉnh, tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long 28

2.2 Đội ngũ cán bộ là người Khmer và xây dựng đội ngũ cán bộ là

người Khmer ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long 44

2.3 Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo xây dựng đội

ngũ cán bộ là người Khmer - Quan niệm, nội dung, phương thức,

Chương 3: ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀ NGƯỜI KHMER VÀ CÁC TỈNH UỶ Ở

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ

LÀ NGƯỜI KHMER - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM 72

3.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ là người Khmer ở các tỉnh đồng bằng

3.2 Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo xây dựng đội gũ

cán bộ là người Khmer - Thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm 83

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG

CƯỜNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀ NGƯỜI KHMER

CỦA CÁC TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG GIAI ĐOẠN

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 5

4.1 Dự báo những yếu tố tác động và phương hướng tăng cường lãnh

đạo xây dựng đội ngũ cán bộ là người Khmer của các tỉnh ủy ở

4.2 Những giải pháp chủ yếu tăng cường lãnh đạo xây dựng đội ngũ

cán bộ là người Khmer của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến cán bộ và công tác

cán bộ, coi đó là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Người

khẳng định: "cán bộ là gốc của mọi công việc" [89, tr.269] Trong suốt quá trình

lãnh đạo cách mạng Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc điều này và luôn khẳng định

vai trò đặc biệt quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ trong công tác xây

dựng Đảng, hệ thống chính trị (HTCT) và thắng lợi của cách mạng Nghị quyết

Hội nghị Trung ương bảy khóa XII "về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ

(ĐNCB) các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang

tầm nhiệm vụ" tiếp tục khẳng định: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại

của cách mạng; công tác cán bộ là khâu "then chốt" của công tác xây dựng Đảng

và hệ thống chính trị… Đầu tư xây dựng ĐNCB là đầu tư cho phát triển lâu dài,

bền vững" [51, tr.54]

Việt Nam là nước đa dân tộc, vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn

được Ðảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, với quan điểm nhất quán, xuyên

suốt là các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển

Một trong những nội dung quan trọng để giải quyết tốt vấn đề dân tộc là phải

xây dựng cho được ĐNCB người dân tộc thiểu số (DTTS) có đủ phẩm chất và

năng lực Văn kiện Hội nghị Trung ương bảy khóa IX về công tác dân tộc đã chỉ

ra nhiệm vụ cấp bách là phải thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi

dưỡng, sử dụng cán bộ là người DTTS cho từng vùng, từng dân tộc Với đường

lối đúng đắn đó, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm

chăm lo xây dựng ĐNCB là người DTTS Bởi vậy, ĐNCB người DTTS đã dần

phát triển cả về số lượng và chất lượng, có nhiều cán bộ người DTTS được giao

những trách nhiệm quan trọng từ Trung ương đến cơ sở, góp phần to lớn trong

phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của cả nước nói chung, vùng dân tộc và miền

núi nói riêng

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 8

2

Tuy nhiên, công tác xây dựng ĐNCB là người DTTS, trong đó có cán bộ

là người dân tộc Khmer còn nhiều hạn chế và bất cập, chưa đáp ứng được yêu

cầu của sự nghiệp đổi mới hiện nay Văn kiện Hội nghị Trung ương bảy khóa IX

về công tác dân tộc đã chỉ rõ: "Nhìn chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý ở

vùng dân tộc và miền núi còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực tổ chức, chỉ đạo

thực hiện; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS chưa được quan tâm"

[45, tr.34] Đây là thực trạng chung, diễn ra ở nhiều nơi, trong đó có vùng đồng

bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất Tây Nam Tổ quốc, với 12 tỉnh và

01 Thành phố trực thuộc Trung ương Đây là địa bàn có vị trí chiến lược quan

trọng của cả nước, là vùng có nhiều tiềm năng về kinh tế và tính đặc thù về dân

tộc, tôn giáo Nơi đây có hơn 1,3 triệu người Khmer sinh sống, chiếm gần 7% số

dân toàn vùng Là một trong những khu vực có đông đồng bào dân tộc Khmer

sinh sống nhất cả nước, ĐNCB là người Khmer ở các tỉnh ĐBSCL có vai trò

quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi nhiệm vụ chính trị

và công tác xây dựng Đảng, xây dựng HTCT ở các tỉnh ĐBSCL

Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của ĐNCB người Khmer, thời

gian qua, các tỉnh ủy ở ĐBSCL luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng

ĐNCB là người Khmer Nhờ đó, chất lượng ĐNCB này ở các tỉnh được nâng lên

một bước khá lớn, hoạt động hiệu quả hơn, góp phần to lớn vào việc củng cố và

phát triển khối đại đoàn kết các dân tộc, thúc đẩy phát triển KT-XH và ổn định

chính trị ở khu vực ĐBSCL

Mặc dù vậy, sự lãnh đạo của các tỉnh ủy vùng ĐBSCL đối với việc xây

dựng ĐNCB là người Khmer vẫn còn những hạn chế nhất định: Một số tỉnh ủy

vẫn chưa có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer;

chưa triển khai đồng bộ các giải pháp xây dựng ĐNCB này đến các cơ quan

trong HTCT; công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số tổ chức đảng trực thuộc còn

chưa quyết liệt; còn lúng túng trong nội dung và phương thức lãnh đạo (PTLĐ)

xây dựng ĐNCB là người Khmer, nhất là ở cấp cơ sở; một số địa bàn đông đồng

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 9

3

bào Khmer nhưng số lượng cán bộ là người Khmer thì hạn chế, chất lượng chưa

cao, chưa đáp ứng yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ

Trong những năm tới, tỉnh ủy ở ĐBSCL tiếp tục lãnh đạo công cuộc đổi

mới trên địa bàn các tỉnh với những mục tiêu, nhiệm vụ to lớn, nặng nề hơn, đòi

hỏi các tỉnh ủy phải tập trung lãnh đạo xây dựng ĐNCB nói chung, ĐNCB là

người Khmer nói riêng ngang tầm nhiệm vụ, đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý,

đảm bảo chất lượng

Nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống tìm giải pháp khả thi phát huy ưu

điểm, khắc phục hạn chế, yếu kém nêu trên, tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh

uỷ ở ĐBSCL đối với xây dựng ĐNCB là người Khmer trong những năm tới thực

sự là vấn đề rất cấp thiết

Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn và thực hiện đề tài: "Các tỉnh uỷ ở

đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ là người Khmer

giai đoạn hiện nay" làm luận án tiến sĩ, ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền

nhà nước

2 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tỉnh uỷ ở

ĐBSCL lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer luận án, đề xuất phương

hướng và những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở

vùng này đối với ĐNCB là người Khmer trong những năm tới

2.2 Nhiệm vụ

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và xác định

những vấn đề mà luận án tập trung phải giải quyết

- Luận giải, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tỉnh uỷ ở

ĐBSCL lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer

- Khảo sát, đánh giá thực trạng ĐNCB là người Khmer ở các tỉnh ĐBSCL và

thực trạng các tỉnh ủy ở ĐBSCL lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer thời

gian qua, chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân và kinh nghiệm

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 10

4

- Dự báo những yếu tố thuận lợi, khó khăn, đề xuất phương hướng và

những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở ĐBSCL đối

với xây dựng ĐNCB là người Khmer đến năm 2030

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Các tỉnh uỷ ở ĐBSCL lãnh đạo xây

dựng ĐNCB là người Khmer giai đoạn hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng ĐNCB là người Khmer và thực

trạng lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer của các tỉnh ủy ở ĐBSCL

Phạm vi khảo sát: luận án tập trung khảo sát thực trạng ĐNCB là người

Khmer của 06 tỉnh có đông đồng bào Khmer, gồm tỉnh: Trà Vinh, Sóc Trăng,

Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau

Thời gian nghiên cứu, khảo sát thực tiễn từ năm 2010 đến nay, phương

hướng và các giải pháp đề xuất trong luận án có giá trị đến năm 2030

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng ta về cán bộ, công tác cán

bộ và sự lãnh đạo của Đảng, cấp ủy đối với các lĩnh vực đời sống xã hội

Cơ sở thực tiễn: cơ sở thực tiễn của luận án là công tác cán bộ của các cấp

ủy ở các tỉnh thuộc ĐBSCL và thực tiễn lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người

Khmer của các tỉnh ủy ở vùng này từ năm 2010 đến nay

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và các

phương pháp phân tích kết hợp với tổng hợp; lịch sử kết hợp với logic; khảo sát,

tổng kết thực tiễn; điều tra xã hội học.Cụ thể:

- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin: Phân tích sự vật hiện

tượng theo phương pháp duy vật biện chứng, chú trọng quy luật nhận thức, đánh

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 11

5

giá sự vật, hiện tượng theo quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể,

trong mối quan hệ phổ biến và phát triển

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Trên cơ sở tiếp cận các nguồn tài

liệu là các báo cáo của các địa phương, đơn vị và các công trình nghiên cứu có

liên quan, luận án sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để khai thác các

thông tin và phân tích, khái quát những nội dung có liên quan đến đề tài

- Phương pháp khảo sát, tổng kết thực tiễn: Đây là phương pháp đặc trưng

của khoa học xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước Phương pháp này dựa vào

kết quả hoạt động thực tiễn về xây dựng ĐNCB là người Khmer của các tỉnh vùng

ĐBSCL để so sánh, đối chiếu với các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước

về chính sách dân tộc nói chung và dân tộc Khmer để đánh giá thực trạng chính xác

hơn cả ưu và khuyết điểm, tìm nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm

- Phương pháo điều tra xã hội học: Phương pháp này được sử dụng để

khảo sát, có thêm những nhận định để đánh giá khách quan hơn về thực trạng

thực hiện công tác cán bộ đối với người dân tộc Khmer các tỉnh ĐBSCL Luận

án điều tra ở 6 tỉnh ĐBSCL với 600 phiếu Đối tượng khảo sát là cán bộ, công

chức các cơ quan trong HTCT của 6 tỉnh có đông đồng bào Khmer sinh sống

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Quan niệm ĐNCB là người Khmer và xây dựng ĐNCB là người Khmer

- Quan niệm tỉnh uỷ ở ĐBSCL lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer

- Một số kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer của các

tỉnh ủy ở ĐBSCL từ năm 2010 đến nay: Một là, giải quyết hài hòa các mối quan

hệ trong công tác các bộ theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa

XII; Hai là, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác

cán bộ, đặc biệt đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu

- Giải pháp: Một là, cụ thể hoá tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá có tính đặc

thù đối với cán bộ là người Khmer trong HTCT ở các tỉnh ĐBSCL hiện nay; Hai

là, lãnh đạo phát huy khát vọng vươn lên và ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện,

của ĐNCB là người Khmer

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 12

6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án góp phần làm làm rõ hơn những vấn đề lý luận, thực tiễn

về tỉnh ủy ở ĐBSCL lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer giai đoạn

hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo

trong quá trình lãnh đạo lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer của các tỉnh

ủy ở ĐBSCL trong những năm tới

- Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể được dùng làm tài liệu tham

khảo phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học về xây dựng Đảng ở

các trường chính trị tỉnh, thành phố ở ĐBSCL và ở Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh, nhất là Học viện Chính trị Khu vực IV

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương, 10 tiết, kết luận, danh mục công

trình khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài

liệu tham khảo và phụ lục

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 13

7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI CÓ LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1.1 Các công trình khoa học nghiên cứu có liên quan đến vấn đề

cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ

1.1.1.1 Sách

Ở Nhật Bản, các công trình nghiên cứu của Mitokaza Aoki (1991) Nguyên

tắc quản lý kiểu Nhật [91], Matsushita Konouke (1999) Nhân sự - chìa khoá của

thành công [88], khẳng định vai trò của yếu tố con người, cách chọn người, sử

dụng người trong công tác quản lý

Công trình nghiên cứu vấn đề này ở Trung Quốc đáng quan tâm có các tác

phẩm: "Toàn thư công tác Đảng vụ" của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nxb

Nghiên cứu Trung Quốc, Bắc Kinh và "Hồ Cẩm Đào, con đường phía trước"

của Mã Linh, Lý Minh (2003) [86] Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành cải

cách mạnh mẽ công tác tổ chức cán bộ và gọi chung là chế độ nhân sự cán bộ

Nguyên tắc rất quan trọng trong công tác cán bộ là Đảng Cộng sản Trung Quốc

lãnh đạo thống nhất công tác cán bộ, trong đó đánh giá, khảo sát cán bộ, đề bạt,

bổ nhiệm cán bộ là khâu chủ yếu Đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của

công tác tiến cử cán bộ một cách dân chủ, rộng mở, chủ yếu là sự tiến cử, giới

thiệu trước khi bổ nhiệm Đây là cơ sở để tác giả đề xuất giải pháp trong quy

trình công tác cán bộ và xây dựng ĐNCB là người Khmer ơ các tỉnh ĐBSCL

hiện nay

Ở Liên Xô trước đây có nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng ĐNCB

cho Đảng nhà nước và Quân đội dưới nhiều góc độ khác nhau như: Tiến sĩ Sử học

Ioble A.M "Hoạt động của Đảng Cộng sản Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo cán bộ

quân đội"; Thượng tướng I.Rodionov (1993) "Một số vấn đề tuyển chọn, đào tạo

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 14

8

cán bộ, sĩ quan cấp cao" [73] Nhưng các tác giã có những quan điểm tương đồng

đều khẳng định cán bộ là nhân tố hàng đầu quyết định mọi công việc trong đó lựa

chọn và đào tạo cán bộ là khâu quan trọng

1.1.1.2 Bài tạp chí khoa học

Unkẹo Sipasợt (2009), ''Công tác tổ chức cán bộ cấp tỉnh ở Cộng hòa Dân

chủ nhân dân (CHDCND) Lào hiện nay'' [151], khẳng định yếu tố quyết định để

tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách chính là công tác tổ chức, cán

bộ Đào tạo cán bộ lãnh đạo và quản lý trong cơ chế thị trường vừa phải có tinh

thần đổi mới, phải giữ vững những vấn đề nguyên tắc như: phải quán triệt quan

điểm giai cấp, tạo sự bình đẳng về cơ hội cho tài năng nảy nở và phát huy, nhất

là đối với cán bộ xuất thân công nhân, con em công nhân, gia đình có công với

cách mạng, DTTS, phụ nữ

Bunthoong Chitmany (2011), ''Một số giải pháp chủ yếu nâng cao năng

lực lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào đối với vấn đề xây dựng, phát

triển nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay'' [34] Bài viết đưa ra giải pháp

nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý của ĐNCB chủ chốt cơ sở ở nông thôn

bằng việc hoàn thiện các khâu nhận xét, đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bố trí,

sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ; Tổ chức tốt việc thi tuyển công chức;

Tăng cường tiếp nhận, bố trí những sinh viên người địa phương đã tốt nghiệp các

trường cao đẳng, đại học làm công chức cơ sở để tạo nguồn cán bộ chủ chốt;

Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng; tự kiểm tra và kiểm tra; lắng nghe ý kiến của

nhân dân

Trong bài viết "Kinh nghiệm Nhật Bản về phát triển nguồn nhân lực

(HRD)" [160], Yasuhiko Inoue (2012) đưa ra quan điểm: Với các nhà lý thuyết

và thực tiễn phương Tây, chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá bởi kỹ năng

công việc, vì vậy theo họ, để cải tiến chất lượng nguồn nhân lực phải cải tiến

hoạt động giáo dục tại trường học, tăng cường các chương trình đào tạo kỹ năng

thông qua sự hợp tác từ cả phía chính phủ và khối tư nhân

Khonesanga PHIMMASONE (2018), ''Một số giải pháp nhằm xây dựng

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 15

9

đội ngũ Bí thư kiêm Huyện trưởng ở CHDCND Lào" [77, tr.56-60] Tác giả bài

viết đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng xây dựng

đội ngũ bí thư kiêm huyện trưởng ở nước CHDCND Lào Từ đó, tác giả nêu lên

5 giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ Bí thư kiêm Huyện trưởng đáp ứng được yêu

cầu sự nghiệp đổi mới đất nước ở CHDCND Lào

1.1.1.3 Luận án

Khăm Phăn Phôm Ma Thắt (2005), Công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNCB

lãnh đạo chủ chốt thuộc diện Trung ương quản lý ở nước Cộng hoà Dân chủ

Nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới [75] Luận án hệ thống hoá các vấn đề lý

luận về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo quan điểm Mác xít Đồng thời

phân tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo chủ

chốt thuộc diện trung ương quản lý ở nước CHDCND Lào trong thời gian qua;

đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt ở nước CHDCND Lào trong thời gian tới

Kham Bay Malasing (2012), Vai trò của ĐNCB lãnh đạo, quản lý cấp cơ

sở và những người có uy tín ở thôn bản trong phát triển cộng đồng ở CHDCND

Lào [74] Tác giả đã phân tích vai trò của ĐNCB lãnh đạo quản lý cấp cơ sở và

những người có uy tín ở thôn bản trong phát triển cộng đồng ở CHDCND Lào,

trong đó yếu tố tuổi tác động mạnh nhất Luận án cũng cho thấy, sự tham gia của

khối cán bộ lãnh đạo, quản lý về các nội dung phát triển cộng đồng còn có sự

khác nhau nhất định, trong đó khối cán bộ chính quyền thôn, bản thường có vai

trò tích cực nhất Tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng

cao vai trò của ĐNCB lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở và những người có uy tín ở

thôn, bản trong phát triển cộng đồng trong thời gian tới

Sam Lan Phan Kha Vông (2014), Xây dựng ĐNCB chuyên trách công tác

thi đua, khen thưởng cấp tỉnh của nươc Công hoà Dân chủ Nhân dân Lào trong

giai đoạn hiện nay [101] Luận án đã phân tích sâu hơn trong thi đua, khen

thưởng có vai trò và tác dụng to lớn đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng

dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào Trong phần giải pháp tác

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 16

10

giả đưa ra năm giải pháp chủ yếu để tiếp tục xây dựng ĐNCB chuyên trách công

tác thi đua, khen thưởng cấp tỉnh ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, trong giải

pháp thứ ba cũng làm rõ tiêu chuẩn cán bộ chuyên trách công tác thi đua, khen

thưởng, tiêu chuẩn chức danh công tác thi đua khen thưởng

Viengmaly SOULIXAY (2019), Xây dựng đội ngũ chủ tịch Hội Liên hiệp

phụ nữ huyện ở CHDCND Lào giai đoạn hiện nay [154] Luận án đã chỉ ra rằng,

việc xây dựng đội ngũ chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ huyện ở CHDCND Lào là

vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách, đó là mấu chốt để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ

công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) trong giai đoạn hiện nay Muốn xây

dựng được đội ngũ chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ huyện ở CHDCND Lào đồng

bộ, có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ văn hóa, năng lực đáp ứng yêu

cầu phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh và của đất nước Lào trong thời kỳ mới, cần

có những giải pháp đồng bộ, trong đó chú trọng gắn liền xây dựng đội ngũ với

cơ cấu và quy hoạch cán bộ, với chức năng nhiệm vụ, xây dựng, cụ thể hóa tiêu

chuẩn; coi trọng việc tự đào tạo, bồi dưỡng rèn luyện của mỗi chủ tịch Hội liên

hiệp phụ nữ huyện

Khonsanga Phimmasone (2019), Xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng

ở CHDCND Lào giai đoạn hiện nay [78] Tác giả đánh giá, trong những năm

gần đây, công tác xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng ở CHDCND Lào đã có

nhiều cố gắng đổi mới, nhằm xây dựng ĐNCB đủ phẩm chất chính trị và năng

lực lãnh đạo, phục vụ yêu cầu phát triển của các huyện trong cả nước Trên cơ sở

phân tích thực trạng xây dựng đội ngũ bí thư - huyện trưởng ở CHDCND Lào

hiện nay, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản để xây dựng đội ngũ bí

thư - huyện trưởng ở CHDCND Lào đến năm 2030

1.1.2 Các công trình khoa học nghiên cứu về Đảng cầm quyền lãnh

đạo xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng

1.1.2.1 Sách

Hạ Quốc Cường (2004), Không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo và trình

độ cầm quyền, tăng cường năng lực chống tha hóa, phòng biến chất và chống rủi

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 17

11

ro [41] Trong bài viết này, tác giả đã bàn đến vấn đề PTLĐ, phương thức cầm

quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc Tác giả nhấn mạnh việc tăng cường và cải

tiến toàn diện việc xây dựng tác phong của Đảng, nhất là xây dựng sự liêm chính

và đấu tranh chống tham nhũng Bên cạnh đó, tác giả làm rõ nội dung tăng cường

xây dựng chế độ, kiên trì đẩy mạnh cải cách chế độ trong Đảng, thúc đẩy và đảm

bảo cho việc xây dựng Đảng bằng chế độ

Triệu Gia Kỳ (2004), ''Tăng cường xây dựng Đảng ủy địa phương, phát

huy đầy đủ vai trò hạt nhân lãnh đạo'' [81] Tác giả đã phân tích công tác xây

dựng đảng và chỉ ra những bài học kinh nghiệm có giá trị như: Thiết thực tăng

cường xây dựng bản thân mình, không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo và

trình độ cầm quyền Nắm chắc nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, thiết thực đảm

đương trách nhiệm thúc đẩy kinh tế, xã hội địa phương phát triển toàn diện,

hài hoà và bền vững, gồm: luôn luôn coi phát triển là chức trách hàng đầu của

Đảng uỷ địa phương; tối ưu hoá môi trường phát triển, đẩy mạnh sang tạo về thể

chế; kiên trì giải quyết tốt mối quan hệ giữa cải cách, phát triển và ổn định

Lưu Chấn Hoa (2010), Bàn về công tác xây dựng năng lực cầm quyền của

Đảng [60] Theo tác giả, xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng là một chủ đề

mang tính trường tồn, là một công trình có tính hệ thống (nội dung cầm quyền, thể

chế cầm quyền, chủ thể cầm quyền), và là một thử thách lớn Tác giả cho rằng cần

thiết phải nâng cao ý thức lãnh đạo của Đảng đồng thời củng cố vững chắc nền

tảng cầm quyền Trong khi bàn luận về phương thức cầm quyền của Đảng, tác giả

nhấn mạnh vai trò hạt nhân của tổ chức đảng và đảng viên nằm trong các cơ quan

nhà nước và đoàn thể quần chúng Tác giả nêu yêu cầu phải thay đổi PTLĐ,

phương thức cầm quyền một cách khoa học, dân chủ và theo hiến pháp, pháp luật,

nâng cao nhận thức về quy luật cầm quyền của Đảng Cộng sản

Hoàng Văn Hổ (2014), Cầm quyền khoa học [67] Bàn về vấn đề cầm

quyền khoa học của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tác giả làm rõ quan điểm cầm

quyền, ý nghĩa quan trọng của cầm quyền khoa học, bản chất của cầm quyền

khoa học, mối quan hệ tương hỗ giữa cầm quyền khoa học, cầm quyền dân chủ,

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 18

12

cầm quyền theo pháp luật, kinh nghiệm vận dụng cầm quyền khoa học Các yếu

tố cơ bản tạo nên năng lực cầm quyền khoa học gồm: năng lực học tập đổi mới,

năng lực điều tiết lợi ích, năng lực tích hợp tài nguyên, năng lực cầm quyền theo

pháp luật, năng lực tự thanh lọc Phương pháp nâng cao năng lực cầm quyền

khoa học là tăng cường trang bị lý luận, hoàn thiện cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm

cán bộ, tăng cường đào tạo cán bộ

1.1.2.2 Luận án

Xỏm Nức - Xổm Vi Chít (2008), Đổi mới phương thức Đảng lãnh đạo

Nhà nước ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào hiện nay [159] Tác giả trình bày

sự cần thiết phải đổi mới PTLĐ của Đảng nhân dân cách mạng Lào đối với Nhà

nước của Lào; đưa ra những giải pháp quan trọng như: Tăng cường vai trò lãnh

đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào, đồng thời phát huy hiệu lực quản lý của

Nhà nước Lào; khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động lãnh đạo

của Đảng nhân dân cách mạng Lào; phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân

dân Tác giả nhấn mạnh, để đổi mới PTLĐ của Đảng nhân dân cách mạng Lào

đối với từng lĩnh vực đời sống xã hội và với Nhà nước Lào phải coi trọng công

tác cán bộ, xây dựng ĐNCB có trình độ, năng lực, nhất là ĐNCB chủ chốt của

Đảng nhân dân cách mạng Lào và Nhà nước Lào ở các cấp, các ngành

Thoong Băn Seng Aphone (2011), Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh

đạo giữ vững an ninh quốc gia trong giai đoạn hiện nay [110] Tác giả xác định

khá đầy đủ những nội dung chủ yếu về đổi mới nội dung và PTLĐ của Đảng

nhân dân cách mạng Lào đối với giữ vững an ninh quốc gia; đưa ra những giải

pháp đổi mới PTLĐ của Đảng nhân dân cách mạng Lào đối với giữ vững an ninh

quốc gia Lào như: tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp uỷ đảng đối với

bảo đảm an ninh tại các địa phương ở Lào, xây dựng lực lượng an ninh Lào trở

thành lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức;

thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng an ninh Lào

Bun-Thoong Chit-Ma-Ni (2016), Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh

đạo xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay [35] Tác giả đã đưa ra

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 19

13

khái niệm Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng nông thôn mới; chỉ

ra nội dung và PTLĐ trong xây dựng nông thôn mới của Đảng nhân dân cách

mạng Lào Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào đối

với xây dựng nông thôn mới thì Đảng phải nâng cao chất lượng hoạt động ra

nghị quyết; xây dựng, hoàn thiện và thực hiện nghiêm nguyên tắc, quy trình lãnh

đạo; đổi mới công tác cán bộ

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC Ở TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.2.1 Các công trình khoa học nghiên cứu về cán bộ và xây dựng đội

ngũ cán bộ

1.2.1.1 Sách và các đề tài khoa học

Trần Đình Hoan (2007), Cơ sở lý luận và thực tiễn đánh giá, luân chuyển

cán bộ lãnh đạo quản lý trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

[61] Lần đầu tiên các nhà khoa học bàn về công tác luân chuyển cán bộ với tư

cách là khâu góp phần đào tạo cán bộ qua thực tiễn Luân chuyển gắn liền với

quy hoạch và có thể theo ba hướng: luân chuyển ngang, trên xuống, dưới lên

Những vấn đề liên quan đến chế độ chính sách hỗ trợ đời sống, điều kiện,

phương tiện để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ cũng là nội dung được tổng kết và

đề xuất trong Đề tài Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể giúp Luận án

hoàn thiện hơn trong giải pháp đổi mới nội dung xây dựng ĐNCB là người

Khmer ở ĐBSCL hiện nay phần đổi mới công tác luân chuyển cán bộ tạo nguồn

lâu dài

Lô Quốc Toản (2010), Phát triển nguồn cán bộ DTTS ở các tỉnh miền núi

phía Bắc nước ta hiện nay [137] Cuốn sách đưa ra định nghĩa khái niệm "Nguồn

cán bộ DTTS" Khi quan niệm Phát triển nguồn cán bộ DTTS là "phát triển

những con người ở các DTTS, tạo điều kiện thuận lợi để họ trở thành cán bộ" và

"phát triển về năng lực và trình độ công tác của ĐNCB DTTS", tác giả đã phân

biệt 2 nhóm nguồn khác nhau: người DTTS chưa là cán bộ và cán bộ người

DTTS Ở mục đánh giá về công tác phát triển nguồn, tác giả đề cập đến 3 việc cụ

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 20

14

thể: khôi phục và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú; thực hiện

chế độ cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp; đào tạo cán bộ

nguồn quy hoạch lãnh đạo, quản lý càng thể hiện rõ quan niệm phát triển nguồn

theo tác giả thực chất chỉ là nội dung đào tạo, bồi dưỡng nguồn

Nguyễn Đăng Thành (2012), Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc

thiểu số ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

đất nước [108] Cuốn sách trình bày những luận cứ lý thuyết và thực tiễn nhằm

để nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở vùng

dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, tác giả còn đề xuất hệ quan điểm, giải pháp toàn

diện cho hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số phục

vụ yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, tại các

vùng dân tộc thiểu số nói riêng

Nguyễn Minh Tuấn (2012), Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác cán bộ thời

kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH [138] Cuốn sách gồm 03 chương, đi sâu phân tích tầm

quan trọng của việc xây dựng ĐNCB; quan điểm của Đảng về xây dựng ĐNCB

thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; đổi mới mạnh mẽ PTLĐ của Đảng đối

với công tác cán bộ.Trên cơ sở phân tích các nội dung này, cuốn sách đề cập việc

tiếp tục đổi mới đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ, nhấn mạnh việc tập

trung thực hiện có chất lượng, hiệu quả từng khâu, sự đổi mới mang tính đột phá,

tạo bước chuyển căn bản về công tác cán bộ trong giai đoạn hiện nay

Trịnh Thanh Tâm (2013), Xây dựng đội ngũ nữ cán bộ chủ chốt của

HTCT cấp xã (qua khảo sát thực tiễn ở đồng bằng sông Hồng) [104] Cuốn

sách đã khái quát và làm rõ những nội dung cơ bản của công tác xây dựng

ĐNCB của HTCT HTCT cấp xã, khẳng định vai trò và tầm quan trọng của

công tác xây dựng đội ngũ nữ cán bộ chủ chốt của HTCT cấp xã (Qua khảo

sát thực tiễn ở đồng bằng sông Hồng), tác giả đã phân tích, đưa ra nhiều nhận

xét khách quan và đúc rút được những kinh nghiệm có giá trị, đồng thời đưa

ra một số giải pháp nhằm tăng cường công tác xây dựng đội ngũ nữ cán bộ chủ

chốt của HTCT cấp xã

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 21

15

Trương Thị Thông (2014), Chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ và cốt

cán người Khmer vùng Tây Nam Bộ [112].Trên cơ sở tài liệu và với phương

pháp nghiên cứu văn bản, thu thập thông tin, điều tra xã hội học và phỏng vấn

sâu, đề tài đã đánh giá một cách toàn diện về thực trạng việc ban hành và thực

hiện chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ và cốt cán người Khmer vùng Tây

Nam bộ, xác định nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm Đề tài cũng đã đề

xuất với các chủ thể của công tác cán bộ và cốt cán về những giải pháp hoàn

thiện, bổ sung (hoặc ban hành chính sách mới) chính sách, tổ chức thực thi có

hiệu quả, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ và cốt cán người Khmer vùng Tây

Nam bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đủ về số lượng, đảm bảo chất

lượng, đồng bộ về cơ cấu, ổn định và phát triển trong những năm tiếp theo

Phan Hữu Tích (2014), Xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức

cơ quan tham mưu của Thành ủy Hà Nội [118] Trên cơ sở nghiên cứu lý luận,

thực tiễn về cán bộ, công chức, công vụ và các chủ trương, chính sách của Đảng,

Nhà nước về xây dựng tiêu chuẩn, chức danh cán bộ, công chức trong HTCT;

đánh giá thực trạng xây dựng tiêu chuẩn cán bộ, công chức các cơ quan tham

mưu Thành ủy Hà Nội (bao gồm: BTC, Ban Tuyên Giáo, Cơ quan Ủy ban Kiểm

tra, Ban Dân vận, Văn phòng Thành ủy); đề tài đã xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh

giá cán bộ, công chức các cơ quan tham mưu Thành ủy Hà Nội, đồng thời đề

xuất giải thực hiện bộ tiêu chuẩn cán bộ, công chức các cơ quan tham mưu

Thành ủy Hà Nội

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Hội đồng Lý luận Trung

ương (2016), Những giải pháp có tính chất đột phá nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự

suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đảng, những biểu hiện "tự

diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ" [66] Các bài tham luận phân tích các

giải pháp như: thực hiện tốt tự phê bình và phê bình; đổi mới PTLĐ của Đảng;

Đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" và chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê

phán những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; học tập và làm theo tấm

gương đạo đức Hồ Chí Minh; việc làm gương, nêu gương của cán bộ, nhất là

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 22

16

người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp; Xác định rõ thẩm quyền,

trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể

cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tăng cường kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong Đảng,

Thào Xuân Sùng (2016), Xây dựng ĐNCB dân vận người DTTS trong thời

kỳ mới [103] Cuốn sách được kết cấu thành 3 chương, trình bày một số vấn đề

lý luận về dân tộc, DTTS và xây dựng ĐNCB dân vận người DTTS Đồng thời,

cuốn sách đã tập trung phân tích thực trạng, ưu, nhược điểm, nguyên nhân, kinh

nghiệm xây dựng ĐNCB dân vận người DTTS Trên cơ sở đó, đề ra những mục

tiêu, nguyên tắc và những giải pháp cơ bản xây dựng ĐNCB dân vận người

DTTS trong thời kỳ mới

Nguyễn Minh Tuấn, Trần Khắc Việt, Nguyễn Văn Giang (2018), Đổi mới

việc đánh giá, sử dụng cán bộ [139] Đây là kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp

bộ trọng điểm của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Cuốn sách đã khái

quát những vấn đề lý luận về đánh giá, sử dụng cán bộ Thực trạng, nguyên nhân và

những vấn đề đặt ra trong đánh giá và sử dụng cán bộ hiện nay Mục tiêu, phương

hướng và giải pháp đổi mới việc đánh giá, sử dụng cán bộ ở nước ta

Tạp chí Tổ chức Nhà nước, Bộ Nội vụ (2020), Giải pháp xây dựng ĐNCB

cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ [105]

Cuốn sách tập hợp bài viết của các nhà lãnh đạo, quản lý, nhà nghiên cứu phân

tích về vị trí, vai trò, những kết quả đạt được cũng như mặt hạn chế, bất cập của

công tác xây dựng ĐNCB chiến lược, từ đó đề xuất các giải pháp xây dựng

ĐNCB vừa hồng vừa chuyên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ theo tinh thần Nghị

quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII Nội

dung cuốn sách gồm 04 phần Cuốn sách góp phần cung cấp thêm nguồn tài liệu

tham khảo hữu ích cho tác giả khi nghiên cứu vấn đề xây dựng ĐNCB, trong đó

có ĐNCB nói chung ở ĐBSCL

1.2.1.2 Bài tạp chí khoa học

Chu Xuân Khánh, Đào Thị Thanh Thủy (2011), ''Đổi mới công tác đánh giá

công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước'' [76, tr.15-16] Theo các tác giả,

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 23

17

việc đánh giá nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước có thể thực hiện

trên các nội dung: Đánh giá hiệu quả làm việc; đánh giá năng lực, trình độ chuyên

môn nghiệp vụ của tổ chức; đánh giá tiềm năng; đánh giá động cơ làm việc

Nguyễn Thị Hồng Hải (2012), ''Đánh giá thực thi công vụ nhằm đảm bảo

hiệu quả hoạt động của tổ chức hành chính nhà nước'' [58, tr.8-11] Tác giả đã

giới thiệu hai cấp độ đánh giá (Tổ chức và cá nhân công chức) và các chỉ số đánh

giá ở hai cấp độ khác nhau Từ đó nêu lên một số vấn đề đặt ra khi thực hiện

công tác đánh giá

Nguyễn Văn Quynh (2014), ''Đề án 165 - Những kết quả giai đoạn I và

định hướng cho giai đoạn tiếp theo'' [100] Tác giả nêu lên những kết quả, kinh

nghiệm đào tạo cán bộ của Đề án 165 (Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh

đạo, quản lý ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước); nêu định hướng tiếp theo:

Mở rộng loại hình bồi dưỡng ngắn hạn và trung hạn cho cán bộ lãnh đạo, quản lý

và cán bộ trong quy hoạch tại các cơ sở đào tạo có uy tín ở nước ngoài; học trực

tiếp bằng ngoại ngữ nhằm bồi dưỡng về kỹ năng lãnh đạo, quản lý, khả năng sử

dụng ngoại ngữ và giao tiếp quốc tế

Nguyễn Thế Trung (2014), ''Tiếp tục nâng cao chất lượng đánh giá và sử

dụng cán bộ trong tình hình hiện nay'' [143] Bài viết khẳng định trong công tác cán

bộ, việc đánh giá và sử dụng cán bộ là các khâu cực kỳ quan trọng Đánh giá chính

xác cán bộ là cơ sở cho việc quyết định bố trí, sử dụng hợp lý, tạo động lực mạnh

mẽ, động viên cán bộ cống hiến sức lực, tài trí, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Bởi vậy, đánh giá và sử dụng cán bộ phải được xem xét, thực hiện thống nhất trên

nền tảng những quan điểm và phương pháp đúng đắn, khoa học Tác giả đã làm rõ 4

lý do vì sao đánh giá cán bộ khó Trên cở sở đó, 4 giải pháp đồng bộ đã được tác giả

đưa ra nhằm nâng cao chất lượng đánh giá và sử dụng cán bộ

Lại Đức Vượng (2014), “Đánh giá cán bộ, công chức” [157, tr.48] Tác

giả đã làm rõ nguyên tắc, căn cứ đánh giá, phân loại cán bộ, công chức; Phương

pháp, nội dung đánh giá cán bộ, công chức; Trình tự, thủ tục và tiêu chí đánh giá

cán bộ, công chức Đánh giá cán bộ, công chức phải dựa trên mức độ thực hiện

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 24

18

chức trách, nhiệm vụ được giao, thể hiện ở khối lượng, chất lượng, tiến độ, hiệu quả

của công việc trong từng vị trí, từng thời gian; tinh thần trách nhiệm trong hoạt

động công vụ Cần áp dụng các phương pháp đánh giá cán bộ, công chức tiên tiến;

đổi mới quy trình đánh giá cán bộ, công chức, đảm bảo dân chủ, công bằng, công

khai, chính xác và trách nhiệm đối với việc đánh giá cán bộ, công chức

Thân Minh Quế (2016), ''Nâng chất lượng đánh giá cán bộ, công chức'' [97]

Tác giả đã nêu bật những điểm mới trong công tác đánh giá cán bộ, công chức qua

thực tiễn ở tỉnh Bắc Giang Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp để đổi mới, nâng cao

chất lượng đánh giá cán bộ trước yêu cầu phát triển mới của địa phương

Đoàn Minh Huấn (2018), ''Xây dựng ĐNCB cấp chiến lược ở nước ta hiện

nay - quan niệm, đặc điểm và những mâu thuẫn cần giải quyết'' [69] Các bài viết

đã làm rõ thêm khái niệm cán bộ cấp chiến lược, vai trò, đặc điểm và những mâu

thuẫn cũng như phương thức giải quyết mâu thuẫn để xây dựng, phát triển

ĐNCB cấp chiến lược ở nước ta hiện nay

Phạm Ngọc Hùng (2020), ''Xây dựng ĐNCB trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là

người DTTS gắn với tinh gọn tổ chức bộ máy: Kinh nghiệm thực tiễn ở huyện

Đồng Văn, tỉnh Hà Giang'' [70] Bài viết chỉ rõ một số kết quả đạt được trong

việc sắp xếp tổ chức bộ máy gắn với phát triển ĐNCB trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là

người DTTS, đồng thời đưa ra các giải pháp thực hiện hiệu quả việc tinh gọn tổ

chức bộ máy gắn với phát triển ĐNCB trẻ, cán bộ nữ và cán bộ DTTS: Thứ nhất,

tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức, hành động của cấp ủy các cấp, nhất là người

đứng đầu; Thứ hai, tiếp tục rà soát, xây dựng, cơ cấu ĐNCB, công chức, viên

chức theo vị trí việc làm và trình độ đào tạo; Thứ ba, tăng cường công tác kiểm

tra, giám sát

1.2.1.3 Luận án

Nguyễn Thành Dũng (2012), Nâng cao chất lượng ĐNCB chủ chốt cấp

huyện ở các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay [44] Luận án đề cập đến

chất lượng toàn diện của từng cán bộ chủ chốt cấp huyện, tác giả đã đề xuất năm

giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng ĐNCB chủ chốt cấp huyện ở các

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 25

19

tỉnh Tây Nguyên, trong đó có đề cập đến giải pháp cụ thể hoá tiêu chuẩn các

chức danh ĐNCB chủ chốt gắn với phát huy tinh thần tự phấn đấu, rèn luyện, tu

dưỡng, quản lý của cán bộ chủ chốt

Trương Thị Bạch Yến (2014), Đào tạo nguồn cán bộ, công chức xã người

DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay [162] Luận án nghiên cứu,

phân tích rõ thực trạng, ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân, kinh nghiệm và những

vấn đề đặt ra, đề xuất những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tạo nguồn cán bộ, công

chức xã người DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên Hệ thống 7 giải pháp được tác giả

tập trung luận giải khá công phu

Lê Văn Hạnh (2017), Xây dựng ĐNCB chuyên trách công tác đảng trong

công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giai đoạn hiện nay, [59] Luận

án đã trình bày vị trí vai trò của cán bộ chuyên trách công tác đảng trong công an

tỉnh, thành phố trong giai đoạn mới, nội dung xây dựng ĐNCB và thực trạng xây

dựng ĐNCB này thời gian qua và đề xuất nhiều giải pháp thiết thực cho ngành

công an xây dựng ĐNCB chuyên trách công tác đảng tốt hơn trong thời gian tới

Trần Thanh Sang (2018), Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở

ĐBSCL giai đoạn hiện nay [102] Luận án đã đánh giá những thành tựu và hạn

chế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã của các tỉnh, thành phố ở

ĐBSCL thời gian qua, chỉ ra nguyên nhân của hạn chế là do: một số cấp uỷ,

chính quyền địa phương và ĐNCB cấp xã chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò

của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã; chưa chú trọng công tác quy

hoạch cán bộ cấp xã và lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cụ thể; thiếu sự

phối hợp giữa các tổ chức, cơ quan; đội ngũ giảng viên, báo cáo viên chưa chịu

khó nâng cao tay nghề, kỹ năng truyền thụ; việc xây dựng đội ngũ giảng viên,

báo cáo viên, lực lượng phục vụ cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chưa được

chú trọng đúng mức; kinh phí, cơ sở vật chất và chế độ chính sách cho công tác

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở ĐBSCL chưa phù hợp, chưa tạo động lực

cho người học và cũng chưa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 26

20

Đậu Văn Côi (2020), Xây dựng ĐNCB lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược

về kinh tế của Việt Nam trong hội nhập quốc tế [39] Luận án đã trình bày tương

đối hoàn chỉnh khung lý thuyết vế xây dựng ĐNCB lãnh đạo, quản lý cấp chiến

lược về kinh tế ở Việt nam, đánh giá sát thực trạng tình hình quản lý kinh tế của

ĐNCB này thời gian qua và đế xuất một số giải pháp quan trọng để xây dựng

ĐNCB lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược về kinh tế trong thời kỳ hội nhập quốc tế

1.2.2 Các công trình khoa học nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng,

của tỉnh ủy đối với các lĩnh vực đời sống xã hội và công tác cán bộ

1.2.2.1 Sách và các đề tài khoa học

Ngô Huy Tiếp ()2008, Đổi mới PTLĐ của Đảng đối với trí thức nước ta

hiện nay [119] Tác giả đề xuất những giải pháp cần thiết đổi mới PTLĐ của

Đảng đối với đội ngũ trí thức như: nâng cao nhận thức, đổi mới công tác tư

tưởng; xây dựng ĐNCB lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực khoa học - công nghệ;

đổi mới chính sách giáo dục và đào tạo; xây dựng chính sách thu hút và sử dụng,

đãi ngộ và tôn vinh

Nguyễn Thị Thanh (2010), Đảng lãnh đạo thực hiện Chiến lược cán bộ

thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước từ năm 1998 đến năm

2008 [106] Đề tài đã đề cập các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết, thông tư, hướng

dẫn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương

Đảng về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

nước Đồng thời, nêu rõ yêu cầu khách quan đổi mới công tác cán bộ và quá

trình Đảng tổ chức chỉ đạo thực hiện chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nêu rõ kết quả và kinh nghiệm thực hiện

chiến lược cán bộ

Nguyễn Văn Huyên (2011), Đảng Cộng sản cầm quyền - nội dung và

phương thức cầm quyền của Đảng [71] Trong công trình nghiên cứu này, tác giả

đã đề xuất các giải pháp đổi mới nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng

đối với các lĩnh vực công tác Trong các giải pháp, đáng chú ý là giải pháp đổi

mới công tác tư tưởng của Đảng Yêu cầu đổi mới công tác tư tưởng là tăng

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 27

21

cường công tác lý luận, lấy các tiêu chí khoa học, khách quan làm trọng tâm, lấy

công khai, minh bạch và phản biện độc lập làm hàng đầu, phát huy tính chủ động

của các tổ chức gắn với các hoạt động thực tế

Trần Khắc Việt, Nguyễn Văn Giang và Phạm Tất Thắng (2015), Tiếp tục

đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ

chức chính trị - xã hội (CT-XH) trong điều kiện mới [156] Tập thể tác giả đã

trình bày một cách sâu sắc về PTLĐ, đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước,

MTTQ và các tổ chức CT-XH Đáng chú ý, trong quá trình đổi mới PTLĐ cần

tránh sự tuỳ tiện hoặc không theo đa số khi đề ra nghị quyết, chủ trương Cần có

sự thay đổi quy trình chuẩn bị các Nghị quyết, kết luận quan trọng của Đảng đòi

hỏi cơ quan nhà nước phải thể chế hoá, cụ thể hoá và tổ chức thực hiện ngay trên

thực tế Cần xác định rõ trách nhiệm của đảng đoàn, Ban cán sự đảng và người

đứng đầu cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức CT-XH trong việc cụ thể hoá

nghị quyết của Đảng

Trần Đình Thắng (2020), Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công

chức, viên chức nhà nước [108] Cuốn sách đi sâu phân tích, luận giải các vấn đề

lý luận và thực tiễn, đồng thời nghiên cứu, tổng kết quá trình lịch sử Đảng lãnh

đạo, chỉ đạo cải cách chế độ công vụ, xây dựng ĐNCB, công chức, viên chức

nhà nước từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến nay

Qua đó, cuốn sách đã đưa ra nhiều đề xuất, kiến nghị nhằm đẩy mạnh công tác

xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, tiên tiến, hiện đại; xây dựng và đào tạo

ĐNCB, công chức, viên chức nhà nước Đồng thời, cuốn sách khẳng định rõ hơn

vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với việc cải cách bộ máy nhà nước và nền

công vụ, công chức, viên chức nhà nước

1.2.2.2 Bài tạp chí khoa học

Trần Khắc Việt (2013), ''Quá trình phát triển nhận thức về PTLĐ của

Đảng đối với Nhà nước trong thời kỳ đổi mới'' [155, tr.48-54] Tác giả trình bày

khái quát quá trình đổi mới và phát triển nhận thức của Đảng về đổi mới PTLĐ

của Đảng đối với Nhà nước trong thời kỳ đổi mới Tác giả có những đánh giá,

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 28

22

lập luận sâu sắc về các nội dung trong PTLĐ của Đảng qua các văn kiện Đảng

quan trọng Tác giả nhận định: Đảng ngày càng cụ thể thẩm quyền và trách

nhiệm của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, nhất là cấp Trung ương, đối với hoạt

động của các cơ quan nhà nước, định hướng PTLĐ của các cấp ủy đảng đối với

chính quyền địa phương

Nguyễn Danh Châu (2014), ''Đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước''

[36, tr.43-46] Tác giả đánh giá về thành tựu và hạn chế đổi mới PTLĐ của Đảng

đối với Nhà nước qua 30 năm đổi Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất 4 nhóm giải

pháp đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước: thực hiện dân chủ hóa trong

quá trình đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước; thể chế hóa mối quan hệ

giữa Đảng và Nhà nước; đổi mới về phong cách và lề lối làm việc của cán bộ,

đảng viên; nâng cao chất lượng ĐNCB lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là ở cấp

chiến lược Tuy bài viết này không trực tiếp đề cập đến nội dung tỉnh ủy lãnh

đạo nhưng 4 nhóm giải pháp mà tác giả đề xuất có giá trị tham khảo trong việc

đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy trong xây dựng ĐNCB

Phạm Hồng Kiên (2015), "Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo phát triển

nguồn nhân lực (2001-2015)" [79, tr.104-107] Tác giả đã trình bày những chủ

trương, nghị quyết, thành tựu, hạn chế trong lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực

của Đảng bộ tỉnh Bình Dương giai đoạn từ năm 2001-2005 Những kinh nghiệm

mà tác giả đúc rút trong bài tạp chí là nguồn tham khảo giá trị đối với luận án

Hoàng Chí Bảo (2016), ''Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nội

dung, phương thức hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân'' [21,

tr.20-26] Bài viết đã chỉ ra rằng Đảng lãnh đạo đổi mới chính trị và HTCT, muốn có

kết quả, hiệu quả, Đảng phải tự đổi mới chính mình để thúc đẩy đổi mới xã hội

Lãnh đạo các đoàn thể, xét cả về nội dung và phương thức, đều liên quan tới

mối quan hệ giữa Đảng với các đoàn thể mà thực chất là quan hệ giữa Đảng

với Dân Lãnh đạo bằng sự gương mẫu là cách lãnh đạo tốt nhất, có tác dụng

nhất Đặc biệt, tác giả chỉ ra rằng Đảng lãnh đạo đổi mới nội dung và phương

thức hoạt động của Mặt trận trong tình hình mới quan trọng nhất là cần phải

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 29

23

có chiến lược cán bộ, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng lâu dài ĐNCB Đảng,

Mặt trận và các đoàn thể về mọi mặt, từ năng lực, trình độ chuyên môn, tư

tưởng chính trị, đạo đức và phong cách công tác, nhất là phương pháp, kỹ năng

và phong cách dân vận

Nguyễn Thị Tĩnh (2017), "Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về

xây dựng ĐNCB DTTS trong thời kỳ đổi mới" [134, tr.113-116] Bài tạp chí

là công trình khoa học công phu khái quát, đánh giá các chủ trương, các văn

bản của Đảng về xây dựng ĐNCB người DTTS trong giai đoạn từ năm 1986

đến nay

Nguyễn Thị Tĩnh (2017), "Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo xây dựng

ĐNCB người DTTS" [135, tr.73-77] Tác giả đã đánh giá kết quả lãnh đạo xây

dựng ĐNCB người DTTS của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk qua các nhiệm kỳ, với hệ

thống số liệu minh chứng thuyết phục Từ đó, tác giả rút ra một số kinh nghiệm

trong lãnh đạo xây dựng ĐNCB người DTTS để vận dụng vào xây dựng ĐNCB

hiện nay

Vũ Khánh Hoàn (2018), ''Các tỉnh, thành uỷ ở Đông Nam Bộ lãnh đạo

công tác nội chính giai đoạn hiện nay'' [63] Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra

những thành tựu và hạn chế trong lãnh đạo công tác nội chính của các tỉnh, thành

ủy ở Đông Nam Bộ trong thời gian từ năm 2015-2020 Từ đó, tác giả đưa ra một

số giải pháp nâng cao hiệu quả lãnh đạo công tác nội chính của các tỉnh, thành

ủy ở Đông Nam Bộ trong thời gian tới

1.2.2.3 Luận án

Lê Thị Minh Hà (2016), Các tỉnh uỷ vùng đồng bằng sông Hồng lãnh đạo

chính quyền tỉnh giai đoạn hiện nay [57] Điểm mới của tác giả là chỉ ra nội

dung tỉnh uỷ lãnh đạo chính quyền tỉnh: lãnh đạo chính quyền tỉnh phối hợp với

Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh và các đoàn thể CT-XH, các tổ

chức xã hội khác chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân

tham gia quản lý nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước

Nguyễn Trung Thanh (2018), Nội dung và phương thức cầm quyền của

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 30

24

Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện mới [107] Tác giả xác định các

phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện mới,

đáng chú ý là phương thức Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền bằng thiết

lập và hoạt động của hệ thống tổ chức đảng trong bộ máy nhà nước; Đảng

Cộng sản Việt Nam cầm quyền bằng phát huy vai trò của MTTQ và các tổ

chức CT-XH trong thực hành quyền dân chủ, xây dựng khối đại đoàn kết toàn

dân tộc, thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp

luật của Nhà nước

Nguyễn Thị Tĩnh (2018), Đảng bộ tỉnh Đak Lak lãnh đạo xây dựng đội

ngũ cán bộ DTTS từ năm 2005 đến 2015 [136] Luận án đã trình bày khá đầy đủ

khung hệ thống lý luận về nội dung, PTLĐ của tỉnh uỷ cũng như thực trạng xây

dựng đội ngũ án bộ người DTTS ở tỉnh Đak Lak và đề ra nhiều giải pháp thiết

thực phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương

Phạm Hồng Kiên (2018), Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo xây dựng

đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2015 [80] Luận án tập

trung làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo xây dựng ĐNCB

chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2015, từ đó rút ra một số bài học kinh

nghiệm để tiếp tục xây dựng ĐNCB chủ chốt cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm

vụ trong giai đoạn hiện nay của tỉnh

Vũ Khánh Hoàn (2020), Các tỉnh, thành uỷ ở Đông Nam Bộ lãnh đạo

công tác nội chính giai đoạn hiện nay [64] Đóng góp mới của luận án là đã đưa

ra khái niệm khá hoàn chỉnh về các tỉnh, thành uỷ ở Đông Nam Bộ lãnh đạo

công tác nội chính, chỉ ra một số kinh nghiệm tỉnh, thành ủy ở Đông Nam Bộ

lãnh đạo công tác nội chính Luận án đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ

yếu, khả thi tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh, thành uỷ ở Đông Nam Bộ đối

với công tác nội chính đến năm 2030, trong đó có hai giải pháp mới: Một là,

nâng cao năng lực xây dựng và lãnh đạo tổ chức thực hiện các nghị quyết về

công tác nội chính của các tỉnh, thành uỷ; Hai là, xây dựng ĐNCB các công tác

nội chính đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 31

25

1.3 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH

KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG

GIẢI QUYẾT

1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có

liên quan đến đề tài luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án cho thấy đã

có nhiều công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu về xây dựng ĐNCB Đồng

thời nghiên cứu nội dung và phương thức tỉnh uỷ lãnh đạo trên các lĩnh vực

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã có đóng góp rất lớn về mặt khoa

học, những vấn đề lý luận và thực tiễn được trình bày một cách sâu sắc, mỗi

công trình có sự khai thác ở những bình diện, cấp độ khác nhau về ĐNCB và về

tỉnh uỷ, thành uỷ lãnh đạo Các công trình trên đã nghiên cứu, tổng kết công phu,

nghiêm túc trên quy mô lớn và mang tính khoa học cao về nội dung xây dựng

ĐNCB nói chung, cán bộ cấp cơ sở, cán bộ cấp địa phương, cán bộ cấp chiến

lược Việt Nam trong tình hình mới và cấp uỷ các cấp lãnh đạo trên các lĩnh vực

Cụ thể như sau:

Một là, các công trình đã bàn đến nhiều mặt công tác cán bộ và xây dựng

ĐNCB, như: quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bố trí sử dụng cán bộ, đánh

giá cán bộ, luân chuyển cán bộ, tạo nguồn cán bộ; nội dung và cách thức xây

dựng ĐNCB nói chung

Hai là, nhiều công trình đã luận bàn về Đảng, các cấp uỷ cấp tỉnh ở các

vùng của nước ta lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội; đưa ra khái niệm, nội

dung và PTLĐ; đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, cấp uỷ

cấp tỉnh đối với một số lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có một số lĩnh vực gần

với lĩnh vực xây dựng ĐNCB người Khmer, như: xây dựng đội ngũ cán bộ, công

chức, viên chức nhà nước; xây dựng ĐNCB người DTTS; phát triển nguồn nhân

lực; đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức

chính trị - xã hội…

Tuy nhiên, những công trình quan trọng nêu trên đều mới đề cập đến

ĐNCB nói chung, chưa phân định, xác định các tiêu chuẩn, tiêu chí đối với cán

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 32

26

bộ là người Khmer và quy định những yêu cầu nội dung, phương pháp có tính

đặc thù để phát triển ĐNCB là người Khmer ở ĐBSCL trong thời kỳ hội nhập

kinh tế quốc tế

Vấn đề tỉnh ủy lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer ở các tỉnh

ĐBSCL hiện nay chưa có một công trình, một đề tài nào nghiên cứu có hệ thống,

toàn diện, hoàn chỉnh

1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Kế thừa những công trình khoa học trước đó, tiếp tục giải quyết những

vấn đề đặt ra, luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề sau đây:

Một là, làm rõ khái niệm, nội dung, PTLĐ xây dựng ĐNCB là người

Khmer của tỉnh ủy ở ĐBSCL; những vấn đề chủ yếu về chủ thể lãnh đạo (các

tỉnh ở ĐBSCL), đối tượng lãnh đạo Từ sự phân tích đặc điểm của con người,

cán bộ là người Khmer các tỉnh ĐBSCL, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu, phân tích

nội dung, phương thức lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ là người Khmer các

tỉnh ĐBSCL với những nét đặc thù, vừa trung thành với các quan điểm, mục tiêu

của Đảng, vừa vận dụng sáng tạo, phù hợp với đặc điểm các tỉnh ĐBSCL nói

chung cũng như đội ngũ cán bộ là người dân tộc Khmer

Hai là, nghiên cứu thực tiễn về các tỉnh uỷ ở ĐBSCL (gồm 6 tỉnh có đông

đồng bào Khmer sinh sống là Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Cà

Mau, Bạc Liêu) lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer; điều tra xã hội học

về sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer Từ kết

quả nghiên cứu thực tiễn và điều tra xã hội học, luận án đánh giá ưu điểm, hạn

chế trong thực hiện nội dung lãnh đạo và PTLĐ xây dựng ĐNCB là người

Khmer của các tỉnh uỷ ở ĐBSCL trong thời gian qua; chỉ ra các nguyên nhân của

ưu điểm và của hạn chế; đồng thời tổng kết những kinh nghiệm về các tỉnh uỷ ở

ĐBSCL lãnh đạo xây dựng ĐNCB là người Khmer

Ba là, dự báo tình hình có liên quan; đề xuất và phân tích phương hướng,

những giải pháp khả thi để tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh uỷ ở ĐBSCL đối

với xây dựng ĐNCB là người Khmer đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 33

27

Những đặc điểm của các tỉnh ĐBSCL với những tác động và những

chuyển biến hết sức nhanh chóng, toàn diện và nhiều mặt của tình hình KT-XH

trong tương lai 10 năm tới và những năm tiếp theo là những đòi hỏi khách quan

phải đổi mới công tác cán bộ, trong đó phải đổi mới mạnh mẽ công tác xây dựng

ĐNCB là người Khmer Nhiệm vụ trọng đại ấy phụ thuộc một cách quyết định ở

vai trò của các tỉnh ủy đối với công tác cán bộ nói chung và xây dựng ĐNCB là

người Khmer

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng lãnh đạo của các tỉnh ủy ĐBSCL về

công tác cán bộ và kết quả lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ là người Khmer,

xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của các tỉnh trong thời kỳ mới, các chủ trương

mới của Đảng về công tác cán bộ, tác giả đề xuất những giải pháp vừa tổng thể,

vừa cụ thể, sát thực, khả thi để góp phần tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy

ở ĐBSCL đối với công tác xây dựng ĐNCB là người Khmer, đáp ứng với yêu

cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới Đây cũng là một trong những giải

pháp quan trọng để góp phần thực hiện chính sách cán bộ nói chung và chính

sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 34

28

Chương 2 CÁC TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LÃNH ĐẠO

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀ NGƯỜI KHMER -

NHỮNG VẤN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CÁC TỈNH, ĐẢNG BỘ TỈNH, TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG

CỬU LONG

2.1.1 Khái quát tình hình các tỉnh và đồng bào Khmer ở đồng bằng

sông Cửu Long

2.1.1.1 Khái quát tình hình các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long gồm thành phố Cần Thơ - thành phố trực

thuộc Trung ương và 12 tỉnh: Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà

Vinh, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, Hậu

Giang Ở 12 tỉnh có 14 thành phố (trực thuộc tỉnh), 13 thị xã và 98 huyện, với

1.539 xã, phường, thị trấn [Phụ lục 1] Phía Nam ĐBSCL giáp biển Đông, phía

Tây giáp vịnh Thái Lan, có vùng biển rộng lớn, bờ biển dài 750 km, chiếm 23%

chiều dài bờ biển nước ta, có hơn 360.000 km2

biển và đặc quyền kinh tế, có 02 huyện đảo là Phú Quốc và Kiên Hải ĐBSCL tiếp giáp với biển của các nước

Đông Nam Á (Singapor, Thái Lan, Malayxia, Philipine, Indonesia) Đây là vùng

có nhiều đường giao thông hàng hải, quốc tế quan trọng, có nhiều cảng biển lớn

thuận tiện cho việc giao lưu trao đổi hàng hóa, phát triển kinh tế với các tỉnh

trong nước và với các quốc gia, khu vực Nam Á với Đông Á, châu Úc và các

quần đảo ở Thái Bình Dương ĐBSCL là phần đất cuối cùng của lưu vực sông

Mê Công và vùng cực Nam của nước ta

Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng lớn nhất nước ta, một trong

những đồng bằng lớn trong khu vực Đông Nam châu Á; có diện tích tự nhiên

39.574.500 ha, chiếm 12% diện tích cả nước; đa dạng về sinh thái, phù sa phì

nhiêu, có núi, rừng, nhiều sông rạch; gần một nửa diện tích bị ngập lũ từ 3 - 4

tháng mỗi năm Đặc trưng này, tuy ảnh hưởng nhất định đối với canh tác nông

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 35

29

nghiệp, giao thông, song đem lại nhiều lợi ích như: gia tăng nguồn thủy sản tự

nhiên hàng năm; bổ sung phù sa cho đồng ruộng; vệ sinh làm sạch môi

trường; thau chua, rửa mặn; bổ sung nguồn nước ngầm Hiện nay, các nước

thượng nguồn song Mê Kông xây dựng nhiều đập thủy điện, cùng với biến đổi

khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến nguồn nước, lượng phù sa và sự phát triển của

các tỉnh vùng

Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số

429/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án thành lập vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL,

gồm 4 tỉnh, thành phố (thành phố Cần Thơ, tỉnh Cà Mau, An Giang, Kiên

Giang) Đây là trung tâm kinh tế lớn, nòng cốt của ĐBSCL; thúc đẩy toàn vùng

phát triển sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản; đóng góp

lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước; góp phần quan trọng xây dựng

ĐBSCL giàu mạnh, các mặt văn hóa - xã hội tiến kịp mặt bằng chung của cả

nước; bảo đảm ổn định chính trị, an ninh - quốc phòng vững chắc [112];…

Dân số ở ĐBSCL hiện nay khoảng 17,5 triệu người, chiếm 23% dân số cả

nước, trong đó có 82% dân số sống ở nông thôn, 18% dân số ở thành thị Dân số

trong độ tuổi lao động trung bình một hộ nông dân ở ĐBSCL cao hơn mức bình

quân chung của cả nước là 0,5 nhân khẩu/hộ Dân cư ở ĐBSCL phân bố không

đều, chủ yếu tập trung trên các tuyến giao thông chính và ven sông Toàn vùng

có mật độ dân số bình quân là 410 người/km2

, ở phía Tây ĐBSCL dân số thưa thớt: các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu và Kiên Giang có dưới 240 người/km2, trong

khi đó ở phía Đông dân số tập trung khá đông: Tiền Giang 692 người/km2, Vĩnh

Long 687 người/km2

[Phụ lục 1]

Ở ĐBSCL có 4 dân tộc chính là: Kinh, Hoa, Khmer và Chăm Văn hóa nơi

đây vừa mang bản sắc văn hóa Việt Nam, vừa đa dạng, phong phú trong sự giao

thoa nhiều nền văn hóa của nhiều nước trên thế giới Nơi đây, có 6 tôn giáo lớn:

Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài và Hồi giáo Trong lịch

sử, các tín đồ tôn giáo nơi đây đã đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh

giành độc lập, thống nhất Tổ quốc Trình độ mọi mặt của cư dân ở các tỉnh

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 36

30

ĐBSCL nhìn chung thấp so với nhiều vùng khác trong cả nước, phong tục, tập

quán lạc hậu của một số DTTS còn tác động khá mạnh đến hoạt động và cuộc

sống của nhiều người dân và ĐNCB, nhất là cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn

Nhiều tỉnh, thành phố ở ĐBSCL có biên giới đất liền với Campuchia gần

400km, có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng,

đối ngoại, đặc biệt trong quan hệ với nước láng giềng Campuchia và các nước

ASEAN Nơi đây, là một trong những trọng điểm tấn công phá hoại chế độ ta

của các thế lực thù địch, bọn chúng thường lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc và

lịch sử hình thành của vùng đất Nam bộ để kích động gây thù hằn nhằm chia rẽ

đoàn kết dân tộc

2.1.1.2 Đặc điểm đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

Một là, đồng bào Khmer ở các tỉnh ĐBSCL có số lượng khá lớn, sống ở

hầu hết các tỉnh, thành phố trong vùng, song tập trung ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc

Trăng, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau và Bạc Liêu

Ở ĐBSCL có gần 1,3 triệu người Khmer sinh sống, chiếm gần 7% số dân

ĐBSCL, sống rải rác ở các tỉnh, thành phố trong vùng, song sống tập trung với

số lượng khá lớn ở tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau và

Bạc Liêu, đông nhất, là ở tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng người Khmer sống tập

trung ở đồng bằng ven biển; ở tỉnh An Giang và Kiên Giang họ sống tập trung ở

vùng biên giới từ thị xã Châu Đốc (An Giang) đến tỉnh Kiên Giang Đồng bào

chủ yếu cư trú co cụm trên đất giồng, đất ruộng, ven theo các con kênh, rạch

nhỏ; dọc đường giao thông dạng vành khăn ven theo chân núi; mật độ dân số

tăng nhanh và không đồng đều với các loại hình cư trú

Hai là, đồng bào Khmer ở ĐBSCL có nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa

nước cổ truyền với các loại hình đa dạng, phong phú gắn liền với chùa Phật giáo

Tiểu thừa Khmer

Đồng bào Khmer ở ĐBSCL sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước

theo kiểu đặc trưng của đồng bằng miền Tây Nam bộ Đây là nghề truyền thống

từ lâu đời Đồng bào có nhiều kinh nghiệm về gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 37

31

lúa và hoa màu Hơn 90% dân số Khmer chuyên sống bằng việc sản xuất ra lúa

gạo và gần như toàn bộ đất đai của người Khmer dành cho việc trồng lúa và hoa

màu Trên đất rẫy, đồng bào Khmer trồng các loại hoa màu như hành, tỏi, rau,

đậu,… Ngoài sản xuất nông nghiệp, đồng bào còn sản xuất đồ gốm, dệt vải,

đường thốt nốt; đan lát và chế tạo các đồ dùng bằng tre, mây, như: thúng, rổ rá,

bàn ghế, nông cụ phục vụ đời sống và lao động, sản xuất Tuy nhiên, phương

thức sản xuất của đồng bào còn mang nặng tính tự cung, tự cấp, sản xuất nông

nghiệp chủ yếu độc canh, các ngành nghề dịch vụ chậm phát triển; mức sống của

đồng bào thấp; tỷ lệ tăng dân số cao, dân số ngày càng đông, trong khi đất sản

xuất dần bị thu hẹp; tài nguyên ngày càng có nguy cơ cạn kiệt…

Văn hóa của đồng bào Khmer ở ĐBSCL thường gắn với tín ngưỡng dân

gian và các lễ nghi tôn giáo (khoảng 15 lễ hội) Ngôn ngữ Khmer thuộc nhóm

ngôn ngữ Môn - Khmer trong ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic) Ngày nay, tiếng

Khmer thường được sử dụng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày ở gia đình,

trong sinh hoạt tôn giáo, trong giao tiếp giữa người Khmer với nhau Cùng với

ngôn ngữ, chữ viết, văn học dân gian của đồng bào Khmer rất phong phú, gồm

tục ngữ, dân ca, truyện dân gian, như: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ

ngôn và truyện cười

Ba là, "Phum", "Sóc" là những đơn vị cư trú cổ truyền của đồng bào

Khmer ở ĐBSCL

Phum bao gồm nhiều hộ gia đình có quan hệ huyết thống và quan hệ hôn

nhân cùng cư trú Một số nơi phum có một vài gia đình không có quan hệ huyết

thống hay có cả gia đình người Kinh, người Hoa cùng cư trú Việc quản lý phum

do một "Mê phum" - người có uy tín và thuộc vai lớn trong dòng họ - người đại

diện cho các thành viên trong phum lo mọi công việc công cộng trong phum và

quan hệ giữa các phum trong Sóc "Sóc" là đơn vị cư trú rộng hơn, bao gồm

nhiều phum Ở ĐBSCL, phần lớn các Sóc của đồng bào Khmer đều có sự chen

lẫn ít nhiều gia đình người Kinh, người Hoa và các dân tộc khác cùng cư trú

Trước đây, việc quản lý mọi hoạt động của Sóc do của Ban quản trị srok

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 38

32

tiến hành Ban quản trị bầu ra Mê srok (chủ Sóc) - người đàn ông lớn tuổi, có

hiểu biết sâu rộng về phong tục tập quán của đồng bào Khmer và có uy tín trong

srok Nhiệm vụ cơ bản của Mê Sóc và Ban quản trị là thay mặt cho các thành

viên chăm lo công việc trong srok cũng như quan hệ với các Sóc bên ngoài, giữa

Sóc với nhà chùa Hiện nay, việc điều hành xã hội theo kiểu truyền thống trong

đồng bào Khmer ở ĐBSCL hầu như không tồn tại Ban quản trị Sóc, mê Sóc, mê

phum dần trở thành nhân viên trong bộ máy hành chính xã, ấp, song các ban

quản trị này vẫn còn chi phối ở mức độ nhất định hoạt động của đồng bào Khmer

ở nhiều nơi

Bốn là, đời sống tinh thần của đồng bào Khmer ở ĐBSCL thiên về tâm

linh; chùa là nơi sinh hoạt tôn giáo tập trung của đồng bào

Đây là yếu tố chi phối rất lớn đến đời sống tinh thần và văn hóa ứng cử

của người Khmer Chùa có vai trò quan trọng, có tính chất quyết định trong đời

sống tinh thần của đồng bào Khmer ở ĐBSCL Chùa vừa là trung tâm sinh hoạt

tín ngưỡng, tôn giáo, vừa là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng là nơi dạy chữ, dạy

nghề và là nơi lưu trữ các thư tịch cổ, các hiện vật văn hóa, lịch sử, kiến trúc

Các vị sư Khmer được đồng bào hết sức tôn kính, trọng vọng Họ có sức ảnh

hưởng, chi phối nhất định trong các quan hệ xã hội của đồng bào Khi xảy ra bất

hòa, xung đột trong xóm, ấp, dòng họ, đồng bào thường tìm đến chùa để xin ý

kiến chỉ bảo của các nhà sư Việc can thiệp của chính quyền địa phương đối với

họ nhiều khi gặp khó khăn

Năm là, đồng bào Khmer ở các tỉnh ĐBSCL có mối quan hệ mật thiết với

người Campuchia

Đây là đặc điểm về nguồn gốc dân tộc của đồng bào Khmer ở các tỉnh

ĐBSCL Mối quan hệ này xuất phát từ các yếu tố, như: địa lý, lịch sử, văn hóa,

tôn giáo… Đồng bào Khmer nơi đây có nhiều điểm tương đồng về tiếng nói, chữ

viết, văn hóa, tôn giáo với người Campuchia Đặc biệt, nhiều tỉnh ở ĐBSCL có

đường biên giới với Campuchia khá dài; mối quan hệ truyền thống giữa hai nước

Việt Nam và Campuchia, nhìn chung tốt đẹp, hòa bình hữu nghị, đoàn kết hợp

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 39

33

tác, tương thân, tương ái… Bởi vậy, giữa đồng bào Khmer với người Campuchia

thường xuyên giao lưu, trao đổi với nhau về mọi mặt để làm ăn, sinh sống, lập

gia đình, học nghề… Tuy nhiên, trên thực tế, có lúc, có nơi đã xuất hiện những

phức tạp nhất định về vấn đề dân tộc, tôn giáo do các thế lực thù địch chia rẽ,

kích động, ảnh hưởng nhất định đến an ninh chính trị, trật tự và một số mặt khác

ở một số nơi của ĐBSCL

Sáu là, vấn đề dân tộc và văn hóa của đồng bào Khmer là một trong

những trọng tâm được các thế lực lợi dụng để xuyên tạc, phá hoại khối đại đoàn

kết dân tộc Việt Nam, chống phá Đảng và chế độ ta

Vấn đề dân tộc và văn hóa của đồng bào Khmer luôn được các thế lực thù

địch lợi dụng để xuyên tạc hòng phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam;

phá hoại Đảng, chế độ và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta;

trước hết là chia rẽ gây thù hằn dân tộc và phá hoại sự nghiệp đổi mới ở các tỉnh

ĐBSCL Chúng thường kết hợp vấn đề này với lịch sử hình thành vùng đất Nam

bộ để xuyên tạc, phá hoại Các hoạt động phá hoại được đặt trong chiến lược lợi

dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc thuộc Chiến lược "ba Tây" (Tây Bắc, Tây Nguyên

và Tây Nam bộ) của chung

2.1.2 Các đảng bộ tỉnh, tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Cửu Long - chức

năng, nhiệm vụ, vai trò và đặc điểm

2.1.2.1 Các đảng bộ tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long

Ở ĐBSCL có 12 tỉnh Tương ứng với 12 tỉnh có 12 đảng bộ tỉnh và 12

tỉnh ủy với 172 đảng bộ trực thuộc, trong đó, có 125 đảng bộ cấp huyện, 47 đảng

bộ khối và tương đương cấp huyện, 7.448 tổ chức cơ sở đảng và 545.595 đảng

viên, trong đó có 18.205 đảng viên là người Khmer [Phụ lục 5]

Nhiệm vụ của các đảng bộ tỉnh ở ĐBSCL là lãnh đạo toàn diện các lĩnh

vực của đời sống xã hội: Kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an

ninh, đối ngoại và công tác xây dựng nội bộ đảng; lãnh đạo chính quyền, MTTQ

(MTTQ) và các tổ chức CT-XH, các tổ chức kinh tế, xã hội, xã hội - nghề nghiệp

trên địa bàn tỉnh

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 40

34

Trong những năm qua, bên cạnh những thuận lợi do thành quả của công

cuộc đổi mới đất nước đem lại, tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, duy trì

nền nếp sinh hoạt và công tác theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và của các

tỉnh ủy, phát huy được tinh thần chủ động, tích cực của mỗi cán bộ, đảng viên

trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị Nội dung lãnh đạo của các đảng bộ tỉnh

ở ĐBSCL đã bám sát chủ trương, đường lối của Đảng và điều kiện cụ thể ở địa

phương PTLĐ của các đảng bộ tỉnh ở ĐBSCL từng bước được đổi mới Đảng

bộ các tỉnh ở ĐBSCL luôn coi trọng lãnh đạo HTCT, thường xuyên đổi mới nội

dung và PTLĐ đối với chính quyền, MTTQ và các tổ chức CT-XH Nội dung

lãnh đạo bám sát các chủ trương, đường lối của Đảng, nghị quyết của Trung

ương và của các tỉnh ủy về KT-XH, quốc phòng, an ninh (QPAN) phù hợp với

điều kiện cụ thể của địa phương Các đảng bộ tỉnh có mối quan hệ đoàn kết gắn

bó với nhau, cùng Trao đổi hướng dẫn giúp đỡ và cùng nhau giải quyết những

vấn đề khó khăn trong khu vực ĐBSCL

2.1.2.2 Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long

Tỉnh ủy là gọi tắt của ban chấp hành đảng bộ tỉnh trực thuộc Trung ương

Điểm 1, Điều 9 Điều lệ Đảng quy định: "Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là

Đại hội đại biểu toàn quốc Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc

đại hội đảng viên Giữa hai kỳ đại hội cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp

hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp

ủy)" [48, tr.17]

Điều 19, Điều lệ Đảng cũng quy định: "Cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc

Trung ương (gọi tắt là tỉnh ủy, thành ủy)" [48, tr.33]

Như vậy, cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh ở các ĐBSCL giữa hai kỳ đại

hội là tỉnh ủy

Theo Quy định số 10-QĐi/TW ngày 12/12/2018 về chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và mối quan hệ công tác của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành

phố trực thuộc Trung ương, tỉnh ủy ở các tỉnh ĐBSCL có chức năng, nhiệm vụ

sau đây [18]:

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Ngày đăng: 19/01/2024, 10:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2015), Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 20/10/2015 về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 20/10/2015 về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2015
2. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2018), Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/01/2018 về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/01/2018 về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tình hình mới
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2018
3. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang (2015), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020, An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang
Năm: 2015
4. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang (2020), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2020 - 2025, An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2020 - 2025
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang
Năm: 2020
5. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu (2015), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2015-2020, Bạc Liêu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu
Năm: 2015
6. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu (2020), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Bạc Liêu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020 - 2025
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu
Năm: 2020
7. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Kiên Giang (2015), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, nhiệm kỳ 2015-2020, Kiên Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Kiên Giang
Năm: 2015
8. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Kiên Giang (2020), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Kiên Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2020 - 2025
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Kiên Giang
Năm: 2020
9. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng (2015), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III, nhiệm kỳ 2015-2020, Sóc Trăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng
Năm: 2015
10. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng (2020), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Sóc Trăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV, nhiệm kỳ 2020 - 2025
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng
Năm: 2020
11. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Trà Vinh (2015), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020, Trà Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Trà Vinh
Năm: 2015
12. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Trà Vinh (2020), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Trà Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Trà Vinh
Năm: 2020
13. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2015), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2015-2020, Cà Mau.Luận văn thạc sĩ xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cà Mau
Năm: 2015

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng hỏi chỉ phục vụ vào nghiên cứu của luận án. Xin chân thành cảm ơn! - Luận án tiến sĩ xây dựng đảng và chính quyền nhà nước  các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông cửu long lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ là người khmer giai đoạn hiện nay
Bảng h ỏi chỉ phục vụ vào nghiên cứu của luận án. Xin chân thành cảm ơn! (Trang 192)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w