Trang 1 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH ĐÀO THANH LƯỠNGCÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Trang 2 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH ĐÀ
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ĐÀO THANH LƯỠNG
CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ĐÀO THANH LƯỠNG
CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận án
Đào Thanh Lưỡng
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 4BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
BCHTW: Ban Chấp hành Trung ương CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CTQG: Chính trị quốc gia
CT-XH: Chính trị - xã hội ĐCSVN: Đảng Cộng sản Việt Nam ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng HTCT: Hệ thống chính trị KT-XH: Kinh tế - xã hội MTTQ: Mặt trận Tổ quốc NTM: Nông thôn mới Nxb: Nhà xuất bản
QP, AN: Quốc phòng, an ninh UBND: Ủy ban nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 6
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI 21
1.3 KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 25
Chương 2: CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY – NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 28
2.1 CÁC TỈNH, TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở CÁC TỈNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY 28 2.2 CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI - KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC 52
Chương 3: XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM 64
3.1 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở CÁC TỈNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 64
3.2 CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM 74
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ĐẾN NĂM 2025 106
4.1 DỰ BÁO NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 106
4.2 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ĐẾN NĂM 2025 117
KẾT LUẬN 144
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 146
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 147
PHỤ LỤC 162
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi giành được chính quyền, Đảng ta luôn coi việc lãnh đạo xây dựng
và phát triển kinh tế nông nghiệp, phát huy vai trò to lớn của nông dân, chăm lo
đời sống vật chất và tinh thần của nông dân là nhiệm vụ quan trọng của Đảng,
Nhà nước Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta khẳng định:
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ
sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ
vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước [61,
tr 123-124]
Sau hơn 30 năm thực hiện đường đối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá to lớn và
toàn diện Tuy nhiên, Đảng ta cũng khẳng định, những thành tựu đạt được về
phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn và cải thiện đời sống nông dân chưa
tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Thực hiện
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05-8-2008 của Ban Chấp hành Trung ương
(BCHTW) khóa X “về nông nghiệp, nông dân và nông thôn”, Chính phủ đã ra
Nghị quyết số 24/NQ-CP ngày 28-10-2008 ban hành “Chương trình hành động
của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung
ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, trong đó xác định rõ các
mục tiêu chủ yếu cần đạt được, trong đó xây dựng nông thôn mới (NTM) bền
vững theo hướng văn minh, giàu đẹp, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc Tiếp đó, ngày 16-4-2009 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết
định số 491/QĐ-TTg “Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”; ngày
04-6-2010 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 800/QĐ-TTg “Ban hành
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020”; ngày
05-4-2016 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 558/QĐ-TTg về việc ban
hành Tiêu chí huyện nông thôn mới và Quy định thị xã, thành phố trực thuộc
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 72 cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020;
ngày 17-10-2016 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1980/QĐ-TTg về việc
ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; ngày 16-8-2016 Thủ tướng
Chính phủ ký Quyết định số 1600/QĐ-TTg phê duyệt chương trình mục tiêu
quốc gia, xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Có thể nói, đến nay,
vấn đề xây dựng NTM được đề cập một cách cơ bản, toàn diện và sâu sắc, đáp
ứng mong muốn của nhân dân và yêu cầu chiến lược sớm xây dựng đất nước ta
cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Xây dựng
NTM là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước ta hiện nay
Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là một vùng đồng bằng lớn nhất ở phía
Bắc nước ta, gồm 2 thành phố (Hà Nội, Hải Phòng) và 9 tỉnh trực thuộc Trung
ương (Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh,
Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình) Đây là vùng lãnh thổ có vị trí, vai trò đặc
biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh (QP, AN)
của cả nước Đây cũng là một trong những đồng bằng, vựa lúa lớn của cả nước, là
trung tâm của nền văn hóa Việt và là một trong những trọng điểm Đảng, Nhà nước
đang triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM
Với vai trò, chức năng là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội đại hội đại
biểu đảng bộ tỉnh, các tỉnh ủy ở ĐBSH có chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo toàn
diện các lĩnh vực phát triển KT-XH, QP, AN trên địa bàn tỉnh, trong đó có lĩnh
vực xây dựng NTM Sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH là nhân tố quan
trọng hàng đầu, quyết định sự nghiệp xây dựng NTM ở từng trong vùng Thực
hiện các nghị quyết của BCHTW và các quyết định của Chính phủ về xây dựng
NTM, những năm qua, các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đã sớm thành lập ban chỉ đạo
và tiến hành chọn các xã điểm (riêng tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo và tiến hành đồng
loạt ở tất cả các xã) trong tỉnh triển khai xây dựng mô hình NTM giai đoạn
2010-2020 Qua 6 năm triển khai thực hiện Chương trình, bước đầu thu được kết
quả quan trọng về nhiều mặt Sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ngày càng đi vào
chiều sâu, đem lại hiệu quả tích cực Tuy nhiên, sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 83 vùng ĐBSH đối với sự nghiệp xây dựng NTM còn nhiều hạn chế Một số nhiệm
vụ của chương trình xây dựng NTM được cấp ủy, chính quyền các tỉnh ở vùng
ĐBSH triển khai chậm, nhất là công tác quy hoạch xã NTM, công tác giải ngân
vốn… Lãnh đạo xây dựng quy hoạch xây dựng NTM chậm, quy hoạch chưa thật
khoa học và hợp lý Chưa huy động được các nguồn lực, chưa phát huy tốt tiềm
năng, thế mạnh của địa phương trong xây dựng NTM Lãnh đạo chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp chưa hiệu quả, chậm cải thiện mức thu nhập của nông
dân Lãnh đạo phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường sinh thái… chưa
đáp ứng yêu cầu đề ra HTCT cơ sở nông thôn, QP, AN, trật tự, an toàn xã hội
ở nông thôn chưa thật vững chắc Về phương thức lãnh đạo, một số tỉnh ủy còn
hạn chế trong lãnh đạo tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết, chủ trương về
xây dựng NTM; chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động cán bộ,
đảng viên và nhân dân tham gia xây dựng NTM của một số tỉnh ủy chưa cao;
hiệu quả hoạt động của ban chỉ đạo chương trình xây dựng NTM các cấp chưa
rõ nét, một số tổ chức trong HTCT ở các cấp trong tỉnh chưa tích cực tham gia
chương trình; việc lãnh đạo xây dựng các mô hình thí điểm, các điển hình NTM,
sơ kết, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến còn hình thức; chưa phát huy tốt
tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong tham gia xây dựng
NTM; công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy đảng đối với quá trình xây
dựng NTM còn nhiều hạn chế
Xuất phát từ tình hình trên, tác giả chọn vấn đề “Các tỉnh ủy ở vùng đồng
bằng sông Hồng lãnh đạo xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay”
làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn các tỉnh ủy ở vùng
ĐBSH lãnh đạo xây dựng NTM, luận án đề xuất phương hướng và những giải
pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đối với xây
dựng NTM đến năm 2025
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 94
2.2 Nhiệm vụ
- Tổng quan các công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án
- Xác lập và luận giải khái niệm NTM và xây dựng NTM ở các tỉnh vùng
ĐBSH; khái niệm, nội dung, phương thức lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh
ủy ở vùng ĐBSH
- Đánh giá đúng thực trạng xây dựng NTM và thực trạng các tỉnh ủy vùng
ĐBSH lãnh đạo xây dựng NTM, rút ra nguyên nhân, đúc kết những kinh nghiệm
lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH
- Dự báo những nhân tố tác động, xác định mục tiêu, phương hướng và đề
xuất những giải pháp chủ yếu tăng cường lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh
ủy ở vùng ĐBSH đến năm 2025
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo xây
dựng NTM giai đoạn hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: vùng ĐBSH gồm 11 tỉnh, thành phố, luận án chỉ
nghiên cứu 9 tỉnh, gồm Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương,
Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình
Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của các tỉnh ủy vùng
ĐBSH đối với xây dựng NTM từ năm 2008 đến nay; phương hướng, giải pháp
luận án đề xuất có giá trị đến năm 2025
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương hiện nay của Đảng
Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) về sự lãnh đạo, nội dung và phương thức
lãnh đạo của Đảng
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 105
4.1 Cơ sở thực tiễn
Cơ sở thực tiễn của luận án là thực trạng xây dựng NTM và thực trang các
tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo xây dựng NTM từ năm 2008 đến nay
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp chuyên ngành, liên ngành như: lịch
sử - lôgic, phân tích, tổng hợp, khảo sát, thống kê, tổng kết thực tiễn
5 Những đóng góp mới của luận án
- Khái niệm tỉnh ủy lãnh đạo xây dựng NTM; xác định nội dung, phương
thức lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH
- Năm kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH
- Đề xuất hai giải pháp mang tính đột phá: tăng cường lãnh đạo phát huy
vai trò của cán bộ, đảng viên và lãnh đạo phát huy vai trò của nông dân, hội
nông dân các cấp ở các tỉnh vùng ĐBSH trong xây dựng NTM
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận án
Luận án góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về tỉnh ủy
lãnh đạo xây dựng NTM; kinh nghiệm về lãnh đạo xây dựng NTM trong thời
gian qua; những giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH
đối với xây dựng NTM đến năm 2025
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Luận án có thể được dùng làm tài liệu để các tỉnh ủy, thành ủy trong toàn quốc
tham khảo trong quá trình lãnh đạo xây dựng NTM; làm tài liệu tham khảo phục vụ
giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong toàn Học viện Chính trị quốc gia
(CTQG) Hồ Chí Minh, các trường chính trị các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương và các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thị xã, thành phố trong toàn quốc
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình củatác giả dã công
bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án
gồm 4 chương, 9 tiết
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 116
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1.1.1 Sách
- Nguyễn Trung Quế (1995), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn vùng
đồng bằng sông Hồng” [115] Các tác giả cuốn sách đã đề cập những vấn đề lý
luận về cơ cấu kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn; thực trạng,
phương pháp xác định cơ chế kinh tế nông nghiệp nông thông ĐBSH và trình
bày đôi nét về cơ cấu kinh tế huyện Gia Lâm (Hà Nội), Thuận Thành (Hà Bắc),
Tiên Lãng (Hải Phòng), Vĩnh Lạc (Vĩnh Phú)
- GS, TS Lương Xuân Quỳ (1996), “Những biện pháp kinh tế tổ chức và
quản lý để phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa và đổi mới cơ cấu kinh tế
nông thôn Bắc bộ” [116] Trên cơ sở phân tích rõ những luận cứ khoa học của
phương hướng tổ chức lại và xây dựng cơ chế quản lý mới đối với các cơ sở
kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong nông nghiệp, nông thôn,
tác giả đã xác định phương hướng và các biện pháp cụ thể về kinh tế, tổ chức và
quản lý để thúc đẩy chuyên môn hóa, tập trung hóa, công nghiệp hóa nhằm phát
triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn ở các
vùng khác nhau thuộc Bắc bộ Theo đó, một nền nông nghiệp hàng hóa phát
triển còn phản ánh một cơ cấu sản xuất và kinh doanh hợp lý - một cơ cấu tăng
dần tỷ lệ giá trị sản phẩm công nghiệp và dịch vụ, tỷ lệ giá trị sản phẩm thuần
nông giảm dần Điều đó tất yếu dẫn đến hệ quả là yếu tố lao động sống trong
cấu thành giá trị sản phẩm đã qua chế biến có nguồn gốc nguyên liệu nông sản
giảm cả tuyệt đối và tương đối
- TS Nguyễn Văn Bích - KS Chu Tiến Quang (1996), “Chính sách kinh tế
và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam”
[18] Tác giả đã đề cập một cách khá toàn diện những vấn đề chính sách kinh tế
phát triển nông nghiệp, nông thôn Thông qua việc phân tích, đánh giá vai trò của
các chính sách kinh tế đó, bức tranh về quá trình phát triển nông nghiệp, nông
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 127 thôn Việt Nam được tái hiện với tất cả những thành tựu và hạn chế, khiếm khuyết,
những thách thức và mâu thuẫn, những tiềm năng dự báo và giới hạn phát triển,
những vấn đề đang đặt ra và hướng xử lý các chính sách và giải pháp lớn…
- Vũ Thị Ngọc Trân (1997), “Phát triển kinh tế nông hộ sản xuất hàng
hoá ở vùng đồng bằng sông Hồng” [41] Cuốn sách đã đề cập vai trò của sản
xuất hàng hóa và sự cần thiết phải chuyển kinh tế nông hộ nông dân lên sản xuất
hàng hóa; thực trạng, kết quả và phương hướng phát triển kinh tế hộ nông dân
sản xuất hàng hóa ở vùng ĐBSH
- TS Nguyễn Văn Trung (1998), “Phát triển nguồn nhân lực trẻ ở nông
thôn, để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp nước ta” [154]
Nội dung cuốn sách gồm ba phần, đề cập ba vấn đề lớn: vị trí, vai trò của nông
thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông
thôn nước ta; thực trạng nghề nghiệp, việc làm của thanh niên nông thôn và vai
trò của họ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng NTM; một số mô hình,
kinh nghiệm và chính sách phát triển thanh niên nông thôn hiện nay
- GS, TS Lưu Văn Sùng (2004), “Một số kinh nghiệm điển hình về phát
triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [128] Tác giả
cho rằng, nước ta là một nước có đa số dân cư sống bằng nghề nông, nên vấn đề
CNH, HĐH nông nghịêp, nông thôn được đặt lên hàng đầu trong sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước CNH, HĐH nông nghịêp, nông thôn là quá trình xây dựng
cơ sở vật chất - kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại; gắn nông nghiệp với công nghiệp và
dịch vụ, cho phép phát huy có hiệu quả cao mọi nguồn lực và lợi thế của nền
nông nghiệp, mở rộng giao lưu trong nước và quốc tế Thực chất của CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình phát triển nông thôn theo hướng tiến
bộ về KT-XH của một nước công nghịêp Điều đó có nghĩa là, không chỉ phát
triển công nghiệp, mà còn bao gồm cả việc phát triển toàn bộ các hoạt động, các
lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và đời sống văn hóa, tinh thần ở nông thôn phù hợp
với nền sản xuất công nghiệp ở nông thôn cả nước nói chung Từ đa dạng hóa
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 138 sản xuất, tạo ra nhiều loại sản phẩm nông nghiệp đến phát triển công nghiệp chế
biến là bước đi tất yếu của phát triển nông nghiệp trong thời kỳ CNH, HĐH
- PGS, TS Vũ Năng Dũng (2004), “Cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí,
bước đi, cơ chế, chính sách trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn”[50] Cuốn sách được biên soạn dựa trên cơ sở kết quả nghiên
cứu đề tài khoa học - công nghệ cấp Nhà nước KC.07.02 Cuốn sách nghiên cứu,
trình bày cơ sở lý luận, quan điểm, mô hình, phương thức của CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn nước ta
- GS, TS Hoàng Chí Bảo (2005), "Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
nước ta hiện nay” [17] Tác giả cho rằng, HTCT ở cơ sở nông thôn có vai trò rất
quan trọng trong việc tổ chức và điều hành nhân dân thực hiện đường lối, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, huy
động mọi khả năng phát triển KT-XH, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư
Do vậy, xây dựng HTCT cơ sở nông thôn vững mạnh là nhiệm vụ đặc biệt quan
trọng trong giai đoạn hiện nay
- TS Đặng Kim Sơn (2008), “Nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt
Nam hôm nay và mai sau” [124] Với hệ thống tư liệu, số liệu phong phú, cuốn
sách đã làm rõ thực trạng nông nghiệp, nông thôn, nông dân ở Việt Nam trong
hơn 20 năm đổi mới (1986-2007) và thực trạng giải quyết vấn đề nông nghiệp,
nông thôn, nông dân trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất
những định hướng, kiến nghị những chính sách nhằm đưa nông nghiệp, nông
dân, nông thôn Việt Nam phát triển
- PGS, TS Ngô Huy Tiếp (2010), “Đảng lãnh đạo xây dựng giai cấp nông
dân trong giai đoạn hiện nay” [130] Công trình này đã phân tích vai trò quan
trọng của giai cấp nông dân trong lịch sử dân tộc cũng như trong sự nghiệp đổi
mới và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; phân tích những đặc điểm cơ bản
của giai cấp nông dân Việt Nam hiện nay Đặc biệt, công trình đã nêu và phân
tích khái niệm sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng giai cấp nông dân Việt
Nam là quá trình Đảng đề ra các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách,
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 149 biện pháp xây dựng giai cấp nông dân; tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát
việc thực hiện các chủ trương chính sách đó, cũng như tiến hành các hoạt động
khác có liên quan nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng giai cấp
nông dân diễn ra đúng quan điểm, mục tiêu và đường lối đã đề ra Các tác giả đã
làm rõ nội dung và phương thức Đảng lãnh đạo xây dựng giai cấp nông dân,
phân tích thực trạng giai cấp nông dân Việt Nam hiện nay; nêu lên những bức
xúc chủ yếu của nông dân Trên cơ sở phân tích thực trạng về nội dung và
phương thức lãnh đạo của Đảng trong xây dựng giai cấp nông dân, các tác giả đã
đề xuất mục tiêu, quan điểm và giải pháp nhằm xây dựng giai cấp nông dân Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay Theo các tác giả, cần thực hiện đồng bộ các giải
pháp từ công tác tư tưởng, công tác tổ chức thực hiện đường lối xây dựng giai
cấp nông dân đến những giải pháp cụ thể về lãnh đạo nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của nông dân Trong hệ thống các giải pháp đó, các tác giả coi trọng
giải pháp đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức đảng ở
nông thôn
- PGS, TS Tô Huy Rứa - PGS, TS Nguyễn Cúc - PGS, TS Trần Khắc
Việt (2003), “Giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở các tỉnh
miền núi nước ta hiện nay” [118] Cuốn sách là tập hợp các bài tham luận được
tuyển chọn từ các hội thảo của đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước “Các giải
pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi nước ta hiện
nay” Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động của HTCT các
tỉnh miền núi nước ta những năm qua, các tác giả đề xuất quan điểm, giải pháp tiếp
tục đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của từng tổ chức thành
viên và toàn bộ HTCT từng cấp ở các tỉnh miền núi trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương
- TS Mai Ngọc Anh (2010), “An sinh xã hội đối với nông dân trong nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam”[1] Tác giả khẳng định: an sinh xã hội là một vấn
đề hết sức quan trọng, vì nó không chỉ bảo đảm đời sống cho người dân, mà còn
góp phần ổn định kinh tế, chính trị, tạo điều kiện phát triển kinh tế đất nước một
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 1510cách bền vững Ở Việt Nam, số đông dân cư sống ở khu vực nông thôn, phần
lớn vẫn chịu cảnh nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất nông nghiệp còn phải chịu nhiều
rủi ro Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để giải
quyết những khó khăn trên, song tình trạng thất nghiệp, thiếu công ăn việc làm
cho người lao động vẫn còn khá phổ biến; khoảng cách thu nhập giữa người lao
động, giữa các vùng, miền chưa được thu hẹp; tình trạng đói nghèo và tái nghèo
vẫn chưa được giải quyết một cách bền vững Bên cạnh đó, người nông dân
hằng ngày vẫn phải đối mặt với những rủi ro như ốm đau, bệnh tật, thiên tai, bão
lụt… Do đó, hệ thống an sinh xã hội càng có vai trò quan trọng hơn đối với
người nông dân Cuốn sách còn đề cập đến một số vấn đề đang được đặt ra
trong thực tiễn nước ta lien quan đến vấn đề an sinh xã hội trong nông thôn,
nông dân ở nước ta Cuốn sách tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực
tiễn; phân tích thực trạng để chỉ ra những thành tựu, hạn chế và những vấn đề
đặt ra đối với việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân nước ta
từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Trên cơ sở đó,
tác giả đã đề xuất phương hướng, các giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ
thống an sinh xã hội đối với nông dân ở nước ta những năm tới
- TS Phạm Ngọc Dũng (2011), “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
nông nghiệp, nông thôn từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay” [50] Cuốn
sách bao gồm 3 chương: chương I - Cơ sở lý luận và thực tiễn xem xét, đánh giá
kinh tế, xã hội trong thực tiễn CNH, HĐH ở nông thôn; chương II - Thực trạng
kinh tế, xã hội ở nông thôn Việt Nam trong quá trình thực hiện CNH, HĐH;
chương III - Một số quan điểm, giải pháp phát triển kinh tế, xã hội nông thôn Việt
Nam theo hướng CNH, HĐH bền vững Nội dung cuốn sách làm rõ hơn về vai
trò quan trọng của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong quá trình CNH,
HĐH đất nước; làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn trong phát triển bền vững; đánh giá đúng thực trạng KT-XH ở
nông thôn nước ta cũng như nguyên nhân nảy sinh vấn đề kinh tế, xã hội bức
xúc trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay; đưa
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 16ra các giải pháp hợp lý, có tính thực tiễn cao nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu
tổng quát và lâu dài của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là xây dựng một
nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất,
chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học,
công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; xây dựng nông
thôn ngày càng giàu đẹp, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết
cấu hạ tầng KT-XH phát triển ngày càng hiện đại
1.1.2 Đề tài khoa học
- PGS, TS Lưu Văn Sùng (1999), “Sự lãnh đạo kinh tế của các tỉnh ủy
trong điều kiện hiện nay” [127] Công trình này đã chỉ rõ sự lãnh đạo kinh tế của
tỉnh ủy trong phạm vi một tỉnh vừa thực hiện nhiệm vụ của Trung ương trên địa
bàn tỉnh, vừa phát triển kinh tế địa phương, đồng thời thông qua các huyện ủy,
đảng ủy trực thuộc chỉ đạo đến cơ sở Tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện bố trí chiến lược
kinh tế của Trung ương trên địa bàn tỉnh; lãnh đạo việc thực thi chính sách, pháp
luật của Nhà nước trên địa bàn tỉnh; khai thác nguồn lực địa phương, phát huy nội
lực, tranh thủ các nguồn lực đầu tư từ bên ngoài, góp phần thực hiện CNH, HĐH
trên địa bàn tỉnh; phát hiện nhân tố mới, nghiên cứu triển khai, thí điểm, tổng kết
và kiến nghị để có thể trở thành chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Nguyễn Đức Minh (2000), “An ninh nông thôn trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay” [99] Các tác giả phân tích thực trạng
an ninh nông thôn, dự báo tình hình an ninh nông thôn, đề xuất các giải pháp cơ
bản đảm bảo an ninh nông thôn trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH Một
trong những giải pháp mà các tác giả đề cập đến để giữ vững an ninh nông thôn
là phải thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đảng, chính quyền cơ sở trong
sạch, vững mạnh
1.1.3 Luận án, luận văn
* Luận án tiến sĩ:
- Phạm Công Khâm (2000), “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long hiện nay” [84] Tác giả luận án đã
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 1712làm rõ thêm cơ sở khoa học, nét đặc thù về vị trí, vai trò cấp xã và của đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp xã nói chung và ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Trên cơ sở phân tích thực trạng đội ngũ cán
bộ chủ chốt và công tác cán bộ, tác giả chỉ rõ mục tiêu, quan điểm và các giải
pháp khả thi để xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã đáp ứng được yêu cầu,
nhiệm vụ
- Bùi Văn Khoa (2005), “Xây dựng đội ngũ đảng viên ở nông thôn đồng
bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay” [85] Tác giả luận án đánh giá
thực trạng đội ngũ đảng viên và công tác xây dựng đội ngũ đảng viên ở nông
thôn đồng bằng Sông Cửu Long, đề xuất các giải pháp khả thi góp phần xây
dựng đội ngũ đảng viên ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long Những giải
pháp mà tác giả luận án đề xuất có giá trị tham khảo trong quá trình phát huy
tính tiền phong gương mẫu của người đảng viên trong phong trào xây dựng
NTM hiện nay
- Lê Tấn Lập (2007), “Sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong việc thực
thi quyền lực của nhân dân ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long” [86] Tác
giả luận án đã nghiên cứu về quyền lực của nhân dân, những đặc trưng quyền
lực của nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng và đề xuất những giải pháp nâng cao
hiệu quả lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn đồng bằng sông Cửu
Long Đặc biệt, luận án này làm rõ mối quan hệ giữa vai trò lãnh đạo của tổ
chức cơ sở đảng với việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở nông thôn
đồng bằng sông Cửu Long Những kết quả của luận án có giá trị tham khảo tốt
đối với quá trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của các tỉnh ủy trong sự nghiệp xây
dựng NTM hiện nay
- Nguyễn Dương Hùng (2008), “Kiện toàn hệ thống chính trị ở xã nhằm
thực hiện quyền làm chủ của nhân dân vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay”
[82] Luận án đã nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn quá trình kiện
toàn HTCT ở cấp xã vùng ĐBSH; mối quan hệ giữa việc kiện toàn HTCT ở cấp
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 18xã với việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong khu vực Luận án đã đưa
ra giải pháp để kiện toàn HTCT cấp xã vùng ĐBSH
- Nguyễn Thị Tố Uyên (2012), “Các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Hồng
lãnh đạo đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai
đoạn hiện nay” [157] Luận án đã tổng quan được các công trình khoa học tiêu
biểu liên quan đến đề tài; phân tích, làm rõ được các khái niệm liên quan; khái
quát được chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của các tỉnh ủy vùng ĐBSH; tỉnh
ủy lãnh đạo đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn – khái niệm, nội
dung, phương thức lãnh đạo Luận án cũng đánh giá được thực trạng CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSH; thực trạng các tỉnh ủy vùng ĐBSH
lãnh đạo đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Những ưu, khuyết
điểm được tác giả đánh giá khá công phu, sát thực tế, phân tích sâu sắc nguyên
nhân của ưu, khuyết điểm, khái quát được 06 kinh nghiệm có giá trị lý luận và
thực tiễn cao Luận án đã đề xuất được mục tiêu, phương hướng và 07 giải pháp
tăng cường sự lãnh đạo các các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo đẩy nhanh CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020
* Luận văn thạc sĩ:
- Hồ Thái Sơn (2007), “Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo xây dựng nông
thôn mới từ năm 1996 đến năm 2005”[126] Trong công trình này, tác giả đã
làm rõ chủ trương xây dựng NTM của Tỉnh ủy Hà Tĩnh qua hai giai đoạn:
1996-2001 và 2001-2005 nhằm mục tiêu xây dựng nông thôn có cuộc sống ấm
no, hạnh phúc, văn minh, có nền sản xuất hàng hóa phát triển bền vững theo
hướng CNH, HĐH; có kết cấu hạ tầng phát triển; đảm bảo dân chủ, công bằng
xã hội, ổn định chính trị, QP, AN vững mạnh Tác giả làm rõ quá trình tổ chức
triển khai thực hiện chủ trương xây dựng NTM ở Hà Tĩnh gồm nhiều khâu:
thành lập ban chỉ đạo và xây dựng các tiêu chí NTM; tổ chức triển khai quán
triệt và tuyên truyền chủ trương xây dựng NTM; xây dựng đề án triển khai; tiến
hành kiểm tra, đánh giá xếp loại hằng năm Đặc biệt, tác giả đã khái quát kết quả
và rút ra 05 kinh nghiệm xây dựng NTM của đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh: nhận thức
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 1914đúng đắn của các cấp ủy đảng về vị trí, vai trò xây dựng NTM là nhân tố quyết
định đến kết quả của quá trình lãnh đạo; các cấp ủy, chính quyền phải bám sát
đặc điểm, tình hình của nông thôn địa phương để đưa ra các biện pháp, tiêu chí
phù hợp; biết huy động, tranh thủ tất cả các nguồn lực, nhưng chú trọng phát
huy nội lực là yếu tố quan trọng để thực hiện xây dựng NTM thành công; phải
tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự quản lý, điều hành của chính
quyền và sự phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể; xây dựng đội ngũ cán bộ có
đạo đức cách mạng, có trình độ chuyên môn, năng lực thực tiễn là nhân tố ảnh
hưởng lớn đến sự thành công xây dựng NTM ở Hà Tĩnh
- Trịnh Đình Mao (2009), “Tỉnh ủy Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác giảm
nghèo cho nông dân giai đoạn hiện nay” [96] Tác giả đã làm rõ vai trò lãnh đạo
của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đối với công tác giảm nghèo cho nông dân, đề xuất giải
pháp tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đối với công tác
này Luận văn đã đề cập đến một nội dung lãnh đạo quan trọng của các tỉnh ủy
đối với sự nghiệp xây dựng NTM - lãnh đạo nâng cao thu nhập cho nông dân
Do đó, luận văn có giá trị tham khảo tốt trong quá trình triển khai nghiên cứu đề
tài luận án
- Bùi Văn Nghiêm (2012), “Tỉnh ủy Vĩnh Long lãnh đạo xây dựng nông
thôn mới trong giai đoạn hiện nay” [102] Tác giả trình bày quan niệm về xây
dựng NTM và Tỉnh ủy Vĩnh Long lãnh đạo xây dựng NTM Theo tác giả, xây
dựng NTM ở Vĩnh Long là tổng thể các hoạt động, các mặt công tác của cả
HTCT và toàn xã hội, trước hết là các tầng lớp nhân dân ở nông thôn, dưới sự
lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long, tiến hành cải tạo, nâng cấp toàn diện nông
thôn cũ, loại bỏ những yếu tố tiêu cực, lạc hậu, kế thừa và phát huy những yếu
tố tích cực, tiến bộ để quy hoạch, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ
thuật và HTCT ở nông thôn vững mạnh; thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội, nâng cao đời sống mọi mặt cho cư dân nông thôn, bảo đảm QP, AN ở cơ sở;
làm thay đổi bộ mặt nông thôn cổ truyền nghèo nàn và lạc hậu thành NTM xã
hội chủ nghĩa (XHCN) văn minh, hiện đại, phát triển thích ứng với yêu cầu thị
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 20trường trong nước và quốc tế Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long đối với xây
dựng NTM là tổng thể các hoạt động của Tỉnh ủy trong việc đề ra chủ trương,
nghị quyết về xây dựng NTM; lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức đảng và đảng viên,
tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết đó; bảo đảm
cho nghị quyết của Tỉnh ủy được thực thi thắng lợi trong thực tiễn, làm thay đổi
nông thôn Vĩnh Long từ nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển thành NTM XHCN
phát triển mạnh mẽ, giàu đẹp, văn minh Chủ thể lãnh đạo xây dựng NTM là
Tỉnh ủy Vĩnh Long Đối tượng lãnh đạo xây dựng NTM là các tổ chức, các lực
lượng, cán bộ, đảng viên và nhân dân với tư cách là chủ thể xây dựng NTM
Quá trình lãnh đạo của Tỉnh ủy bao gồm: ban hành chủ trương, nghị quyết,
quyết định những vấn đề về xây dựng NTM; lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức đảng
thuộc quyền, chính quyền và các tổ chức trong HTCT tổ chức thắng lợi nghị
quyết đó; tổ chức kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên thuộc quyền
thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy Mục tiêu lãnh đạo của Tỉnh ủy là xây dựng
thành công một NTM giàu bản sắc, văn minh, hiện đại theo định hướng XHCN
Đặc biệt, luận văn đã nêu lên những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo
của Tỉnh ủy Vĩnh Long đối với xây dựng NTM đến năm 2015 và tầm nhìn đến
2020: nâng cao nhận thức, trách nhiệm của Tỉnh ủy, của các cấp ủy, tổ chức
đảng và cán bộ, đảng viên, nhân dân trong tỉnh về xây dựng NTM; tiếp tục đổi
mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long đối với xây dựng
NTM; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long đối với công tác
quy hoạch, kế hoạch; huy động các nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -
kỹ thuật, giữ vững QP, AN, bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn; nâng cao
chất lượng các tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở
nông thôn; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương
- Nguyễn Quốc Thể (2012), “Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lãnh đạo xây dựng
nông thôn mới giai đoạn hiện nay” [132] Tác giả đã đưa ra các vấn đề lý luận
và thực tiễn về đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lãnh đạo xây dựng NTM, nêu ra khái
niệm và tám nội dung xây dựng NTM ở tỉnh Đồng Tháp Đồng thời, tác giả
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2116cũng đã khái quát được thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm trong suốt quá
trình xây dựng NTM ở đây; đề xuất 05 giải pháp cơ bản để tăng cường hơn nữa
sự lãnh đạo của đảng bộ tỉnh Đồng Tháp đối với quá trình xây dựng NTM
- Lê Văn Diến (2012),“Các huyện ủy ở tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo xây dựng
nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay” [47] Tác giả đã nêu ra quan niệm
niệm xây dựng NTM, 10 nội dung xây dựng NTM ở tỉnh Bắc Ninh; nội dung và
phương thức lãnh đạo của các huyện ủy ở tỉnh Bắc Ninh đối với xây dựng NTM
Đồng thời, tác giả đã đánh giá thực trạng và kết quả xây dựng NTM; ưu điểm và
hạn chế trong lãnh đạo xây dựng NTM của các huyện ủy ở tỉnh Bắc Ninh từ
năm 2005, đề xuất 05 phương hướng cơ bản để nâng cao sự lãnh đạo của các
huyện ủy ở tỉnh Bắc Ninh đối với quá trình xây dựng NTM
- Nguyễn Thị Giang (2013), “Tỉnh ủy Nghệ An lãnh đạo xây dựng nông
thôn mới giai đoạn hiện nay” [71] Tác giả trình bày khái niệm xây dựng NTM ở
tỉnh Nghệ An, làm rõ những đặc trưng về xây dựng NTM ở tỉnh Nghệ An, xây
dựng khái niệm Tỉnh ủy Nghệ An lãnh đạo xây dựng NTM, khảo sát thực trạng
NTM và thực trạng Tỉnh ủy Nghệ An lãnh đạo xây dựng NTM, để xuất 06 giải
pháp tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với xây dựng NTM ở Nghệ An
1.1.4 Bài viết trên các báo, tạp chí
- GS, TS Lê Hữu Nghĩa (2008), “Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam -
những vấn đề đặt ra và giải pháp” [101] Bài viết đã nêu thực trạng xây dựng
NTM ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và những vấn đề đặt ra từ thực trạng
xây dựng NTM Từ đó, tác giả đã nêu những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu xây
dựng NTM ở Việt Nam trong những năm tới
- Hồ Xuân Hùng (2011), “Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách
mạng lâu dài của Đảng và nhân dân ta” [80] Tác giả khẳng định: trong lãnh
đạo cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta luôn coi trọng xây
dựng nông thôn Nhưng, với Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05-8-2008 và bộ
tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ ban hành, vấn đề xây dựng NTM lần đầu tiên
được đề cập một cách cơ bản, toàn diện và sâu sắc, đáp ứng mong muốn của
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2217nhân dân và yêu cầu chiến lược xây dựng đất nước cơ bản thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Trong xu thế phát triển hiện nay,
không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu và
đời sống nông dân còn thấp Vì vậy, xây dựng NTM là một trong những nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Để đạt được mục
tiêu xây dựng NTM, tác giả cho rằng, trước hết cần thống nhất nhận thức về nội
dung, chức năng NTM XHCN Việt Nam, bao gồm: nội dung, chức năng NTM
XHCN Việt Nam và những biện pháp chủ yếu thực hiện các giải pháp của
Chương trình mục tiêu quốc gia về NTM Trong quá trình tổ chức cuộc vận
động xã hội về xây dựng NTM, phải nhận thức được vị thế chủ thể của người
nông dân (bao gồm cả vị thế chính trị, vị thế kinh tế); quyết định lựa chọn một
cách khoa học, sát thực tế với từng địa phương những nội dung, việc cần ưu tiên
làm trước; kiên trì, lâu dài hỗ trợ nông dân về khoa học - kỹ thuật, ứng dụng tiến
bộ khoa học vào nông nghiệp, nông thôn; đầu tư từ nhiều nguồn cho nông thôn;
hình thành "giá đỡ" để nông dân yên tâm sản xuất sản phẩm nông, lâm, ngư
nghiệp; tạo môi trường tốt nhất cho các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với
trình độ cư dân từng xã, làng, từng loại hình sản phẩm cây trồng, vật nuôi, làng
nghề , tính chất sản phẩm của từng dân tộc với mục tiêu tạo ra sản phẩm hàng
hóa có giá trị cao, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn; củng cố, xây dựng các tổ
chức xã hội vì lợi ích trực tiếp của chính cư dân nông thôn
- PGS, TS Vũ Văn Phúc (2011), Báo cáo đề dẫn Hội thảo khoa học “Xây
dựng nông thôn mới - những vấn vấn đề lý luận và thực tiễn” [110] Tác giả đã
hệ thống hóa những quyết sách chiến lược từ nông thôn, cho nông thôn vì sự
phát triển bền vững của nông thôn Xây dựng NTM trong chiến lược phát triển
của đất nước nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn toàn diện theo hướng hiện
đại, hiệu quả, bền vững và không ngừng chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của
nông dân là quyết sách cơ bản và toàn diện của Đảng ta Ngay từ những năm
đầu tiên, việc xây dựng NTM đã trở thành phong trào của cả nước, các nhiệm vụ
xây dựng NTM được đặt ở vị trí quan trọng trong các nghị quyết của đại hội
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2318đảng các cấp Phong trào này bước đầu đạt được những kết quả đáng khích lệ,
bên cạnh đó còn nhiều khó khăn, vướng mắc, cản trở trong xây dựng NTM Từ
đó, tác giả nêu lên một loạt các vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết trong quá
trình xây dựng NTM
- PGS, TS Nguyễn Sinh Cúc (2012), “Chương trình xây dựng nông thôn
mới sau hai năm thí điểm” [35] Tác giả tổng kết thực tiễn xây dựng NTM, nêu
rõ những kết quả bước đầu: mô hình xây dựng NTM đã hình thành trên thực tế
tại các xã điểm của Trung ương và địa phương; đã khẳng định chủ trương lấy xã
làm thí điểm xây dựng mô hình NTM là đúng đắn; xác định được cơ chế, chính
sách cần đổi mới (cơ chế, chính sách tài chính và quản lý xây dựng cơ bản các
kết cấu hạ tầng); nhận thức của các cấp, ngành và người dân về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn được nâng cao Bên cạnh đó, việc thực hiện chương trình
này còn một số hạn chế, bất cập: mục tiêu chương trình đề ra chưa rõ ràng, các
tiêu chí quá cao; kết quả đạt được còn thấp so với mục tiêu và yêu cầu; bất cập
về vốn; nặng về phát triển kết cấu hạ tầng, chưa chú trọng phát triển sản xuất
tăng thu nhập, văn hóa và môi trường; các địa phương tập trung cho quy hoạch,
chưa có chuyển biến rõ rệt trong phát triển sản xuất; nhận thức về Chương trình
xây dựng NTM chưa thật đúng và chưa đầy đủ Từ đó, tác giả làm rõ thêm các
mục tiêu của Chương trình, kiến nghị các bộ, ban, ngành, địa phương có các văn
bản hướng dẫn việc tổ chức thực hiện; điều chỉnh một số nội dung và phân vùng
tiêu chí NTM, cần quan tâm nhiều hơn đối với các xã miền núi, vùng cao, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số
- Tuấn Anh (2012), “Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước
trên thế giới” [3] Tác giả đã khảo sát kinh nghiệm xây dựng NTM thành công ở
một số quốc gia trên thế giới Mỹ phát triển ngành “kinh doanh nông nghiệp”,
Nhật Bản hình thành và phát triển mô hình “mỗi làng một sản phẩm”, Hàn Quốc
có “phong trào làng mới”, Thái Lan sử dụng “trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước”
để xây dựng NTM Việt Nam cần vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm thành
công của nước ngoài trong xây dựng NTM
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 24- Trương Tấn Sang (2012), “Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông
thôn mới - những kết quả bước đầu và một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn”
[120] Bài viết đã nêu mục tiêu và quá trình triển khai chương trình xây dựng
NTM ở 11 xã điểm trong cả nước và những kết quả chủ yếu sau gần 3 năm thực
hiện Chương trình về các mặt: quy hoạch NTM; xây dựng kết cấu hạ tầng; về
phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân; về văn hóa, xã hội,
môi trường; về xây dựng HTCT vững mạnh vừa là mục tiêu, vừa là cơ sở bảo
đảm việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng NTM; về nguồn lực để thực hiện
chương trình Trên cơ sở tổng kết 3 năm xây dựng NTM, bài viết đã rút ra một số
kinh nghiệm chủ yếu: một là, phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, quán
triệt, tạo được sự thống nhất cao về nhận thức trong Ðảng, trong nhân dân các xã
về quan điểm, nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế chính sách của nhà
nước về xây dựng NTM để cả HTCT ở cơ sở và mỗi người dân hiểu rõ, từ đó
đồng tâm, chung sức, tự giác, chủ động tham gia; hai là, coi trọng công tác đào
tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ và tập huấn về kiến thức xây dựng NTM cho
đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ ở cơ sở xã, thôn, bản, những người
trực tiếp chỉ đạo thực hiện; ba là, mỗi địa phương phải căn cứ vào đặc điểm, lợi
thế và yêu cầu bức thiết của người dân, cần phát huy dân chủ rộng rãi, tiếp thu ý
kiến của nhân dân, có cách làm chủ động, sáng tạo, lựa chọn những nội dung bức
thiết cần làm trước, cần tập trung đầu tư, những nội dung có thể làm sau, cách
thức huy động nguồn lực tổng hợp, tạo ra sự liên doanh liên kết với các doanh
nghiệp, phân công thực hiện cho các tổ chức trong HTCT phù hợp với điều kiện
và đặc điểm cụ thể của từng xã, không rập khuôn, máy móc; bốn là, đa dạng hóa
việc huy động các nguồn lực cho xây dựng NTM; có sự chỉ đạo tập trung, sâu sát,
cụ thể, thường xuyên kiểm tra đôn đốc và thu hút được sự tham gia chủ động, tích
cực của cả HTCT và nhân dân trên địa bàn
- Nguyễn Văn Tạo (2012), “Đưa trí thức trẻ về nông thôn- một hướng đi
mới góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững” [129] Tác giả khẳng định, việc
đưa trí thức trẻ về đảm nhận những chức danh ở cấp xã tại các vùng nông thôn
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2520khó khăn, vùng sâu, vùng xa là một hướng đi mới góp phần củng cố HTCT cơ
sở, góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững Đội ngũ này năng động, nhiệt tình,
mong muốn vận dụng kiến thức đã được học tập vào cuộc sống, tuy nhiên họ
thiếu kinh nghiệm công tác, kinh nghiệm sống và hiểu biết văn hóa bản địa Cần
khắc phục những hạn chế của đội ngũ này, tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong
công tác, đời sống đồng thời cần phải kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động của
đội ngũ này
- Vũ Văn Ninh (2014), “Nhìn lại hơn 3 năm thực hiện Chương trình Mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới: kết quả và một số bài học kinh nghiệm”
[105] Sau 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, cả
nước có 11,6% số xã đạt tiêu chí giao thông, 31,7% số xã đạt tiêu chí thủy lợi,
67,2% số xã đạt tiêu chí về điện; 14,9% số xã đạt tiêu chí về bưu điện; 30,2% số
xã đạt tiêu chí về chợ nông thôn, 21,9% số xã đạt tiêu chí về trường học; 45,9%
số xã đạt tiêu chí chuẩn quốc gia về y tế; 7,7% số xã đạt chuẩn về cơ sở vật chất
văn hóa, 30,1% số xã đạt tiêu chí về thu nhập… Tác giả đánh giá, quá trình xây
dựng NTM có 04 ưu điểm nổi bật: các cấp ủy, chính quyền và cả HTCT chủ
động, tích cực, sáng tạo triển khai thực hiện xây dựng NTM; phong trào xây
dựng NTM mạnh mẽ khắp cả nước; nhận thức của phần lớn cán bộ và người dân
về xây dựng NTM có chuyển biến rõ rệt; bộ mặt nông thôn ở nhiều nơi được đổi
mới, văn minh hơn Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra 04 hạn chế, vướng mắc trong quá
trình thực hiện xây dựng NTM: một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa
nhận thức đầy đủ về vai trò, ý nghĩa, nội dung của xây dựng NTM; nguồn vốn
đầu tư ngân sách cho Chương trình xây dựng NTM còn hạn chế; một số cơ chế,
chính sách và văn bản hướng dẫn thực hiện còn chậm được ban hành, việc sửa
đổi bổ sung còn chưa kịp thời; nhiều đề án tập trung vào xây dựng kết cấu hạ
tầng, chưa chú trọng đến những vấn đề phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập,
phát triển văn hóa, cải thiện môi trường… Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác
giả tổng kết năm bài học kinh nghiệm và đề xuất 07 giải pháp quan trọng nhằm
tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chương trình trong thời gian tới
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 26- Hoàng Phó Dân (2014), “Phát huy vai trò của giai cấp nông dân và Hội
Nông dân Việt Nam trong xây dựng nông thôn mới”[46] Tác giả bài viết cho
rằng, giai cấp nông dân là chủ thể trong xây dựng NTM; Hội Nông dân Việt
Nam là trung tâm và nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng
NTM Trong thời gian tới, cần thực hiện 04 nhiệm vụ trọng tâm để phát huy vai
trò giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam trong xây dựng NTM
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
1.2.1 Các công trình nghiên cứu của Trung Quốc
Ở Trung Quốc có nhiều công trình nghiên cứu ở về vấn đề nông nghiệp,
nông dân, nông thôn; về xóa đói, giảm nghèo nông thôn; về xây dựng một số
vùng NTM; về vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng ở nông thôn , trong đó có các
công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
- Dang Guoying (2006), “Agriculture, rural areas and farmers in China
(Nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở Trung Quốc)” [72] Tác giả nêu khái
quát chung về nông nghiệp, các vùng nông thôn và các trang trại ở Trung Quốc;
phân tích tình hình kinh tế và xã hội ở các khu vực nông thôn Trung Quốc; sự
thành thị hóa và sự luân chuyển dân số nông thôn ra thành thị và đưa ra một số
phương hướng phát triển xây dựng một số vùng NTM
- Trác Vệ Hoa (2008), “Lý luận và thực tiễn cải cách và phát triển nông
thôn Trung Quốc 30 năm” [74] Tác giả phân kỳ sự phát triển của nông thôn
Trung Quốc qua 30 năm thành bốn giai đoạn: từ năm 1978 đến năm 1984 là
giai đoạn đột phá cải cách nông thôn; từ năm 1985 đến năm 1991 là giai đoạn
thúc đẩy cải cách toàn diện nông thôn; từ năm 1992 đến năm 2001 là giai
đoạn cải cách nông thôn chuyển toàn diện sang thể chế kinh tế thị trường
XHCN; từ năm 2002 đến nay là giai đoạn mới tính toán tổng thể phát triển
thành thị và nông thôn, xây dựng NTM XHCN Tác giả khái quát những
thành tựu quan trọng và rút ra một số kinh nghiệm, đồng thời nêu lên một số
giải pháp thúc đẩy xây dựng NTM ở Trung Quốc
- Cát Chí Hoa (2009), “Từ nông thôn mới đến đất nước, con người” [73]
Cuốn sách tập hợp các bài nghiên cứu về thực trạng và biến động của nông thôn
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2722Trung Quốc trong công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn và lý luận,
nguồn gốc hình thành và đặc trưng của vấn đề "tam nông" ở Trung Quốc
- Chu Chí Hòa (2010), “Đổi mới công tác xây dựng Đảng ở nông thôn”
[75] Theo tác giả, công tác xây dựng Đảng ở nông thôn Trung Quốc phải đổi
mới về hàng loạt vấn đề như: cơ cấu tổ chức, công tác giáo dục, quản lý, giám
sát đảng viên, công tác lựa chọn, bổ nhiệm bí thư, tổ chức đảng thôn, phương
thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng Để đổi mới công tác xây dựng Đảng ở
nông thôn Trung Quốc, theo tác giả, phải đổi mới tu duy, nâng những biện pháp
có hiệu quả lên thành chế độ, đồng thời đổi mới chế độ theo sự biến động của
tình hình thực tế, đổi mới hình thức tuyên truyền, đổi mới cơ chế theo hướng
dân chủ, thông thoáng, khoa học, từng bước thực hiện chế độ hóa, tiêu chuẩn
hóa, quy trình hóa công tác xây dựng đảng ở nông thôn
1.2.2 Các công trình nghiên cứu của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào
- Phêngphavăn Đaophoncharơn (2005), “Về vấn đề nâng cao sử dụng vốn
đầu tư của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở Cộng hòa Dân
chủ nhân dân Lào” [66] Tác giả luận án đã hệ thống hóa và khai thác những nguyên
lý cơ bản về hiệu quả đầu tư; phân tích thực trạng đầu tư nhà nước vào lĩnh vực
KT-XH nông thôn Lào, từ đó đưa ra các giải pháp có tính khả thi về nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước trong phát triển KT-XH nông thôn ở Lào những
năm tới
- Kenglao Bliayao (2007), “Quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông
thôn Lào từ 1975 đến 2000” [21] Tác giả đã khái quát thực trạng phát triển
KT-XH nông thôn từ năm 1975 đến năm 1985; trình bày chính sách đổi mới, quá
trình thực hiện chính sách đổi mới và thành tựu phát triển KT-XH nông thôn
Lào trong những năm 1986-2000; nhận xét, đánh giá về quá trình phát triển
KT-XH ở nông thôn Lào trong những năm 1975-2000
- Xỉnxỏn Phunbunsỉ (2010), “Kinh tế nông thôn ở Cộng hòa Dân chủ
nhân dân Lào thời kỳ đổi mới” [112] Tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực
tiễn phải phát triển kinh tế nông thôn Lào trong thời kỳ đổi mới; phân tích thực
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2823trạng phát triển kinh tế nông thôn, đề xuất quan điểm, phương hướng, giải pháp
phát triển kinh tế nông thôn Lào trong thời gian tới
- Lachay Sinhsuvan (2011), “Đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông
thôn Lào hiện nay” [122] Tác giả khái quát lý luận và thực tiễn HTCT cấp cơ sở ở
nông thôn Lào, trình bày thực trạng, quan điểm, giải pháp đổi mới HTCT cơ sở ở
nông thôn Lào hiện nay
- Bunthoong Chitmani (2011), “Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo
xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay” [34] Tác giả nêu quan niệm
về NTM và chỉ rõ những đặc trưng cơ bản của NTM ở Cộng hòa Dân chủ nhân
dân Lào là nông thôn được quy hoạch lại, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ,
hiện đại; sản xuất, dịch vụ, giáo dục phát triển, đời sống vật chất của nhân dân
ấm no, đời sống văn hóa, tinh thần phát triển phong phú giàu bản sắc dân tộc; an
ninh trật tự ổn định; môi trường trong sạch, tươi đẹp Tác giả trình bày khái
niệm Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng NTM là hệ thống các
hoạt động của Đảng, từ đề ra đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng NTM
đến tổ chức thực hiện đường lối chủ trương, chính sách đó, nhằm cải tạo và xây
dựng, làm thay đổi nông thôn còn nhiều khó khăn, nghèo nàn, lạc hậu, chậm
phát triển hiện nay thành nông thôn XHCN năng động, phát triển mạnh mẽ, giàu
có, văn minh, hiện đại, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị quan
trọng của Đảng Tác giả làm rõ nội dung, phương thức, quy trình Đảng Nhân
dân cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng NTM Tác giả khái quát thực trạng Đảng
Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng NTM Từ đó, tác giả đề xuất
phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
Nhân dân cách mạng Lào đối với xây dựng NTM giai đoạn hiện nay
1.2.3 Các công trình nghiên cứu của một số nước khác
- “Israel’s Agriculture” (Nông nghiệp Ixraen) [133] Ixraen là một quốc
gia nhỏ bé (với diện tích 21.000 km²), nổi tiếng với khí hậu và địa hình phức tạp,
có nơi cận nhiệt đới nơi lại khô cằn, có khu vực thấp hơn mực nước biển 400 m,
lại có những vùng là đụn cát, gò đất phù sa… Hơn nửa, diện tích đất đai của
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 2924quốc gia này là hoang mạc và bán hoang mạc, nửa còn lại là rừng và đồi dốc;
trong đó, chỉ 20% diện tích đất đai (khoảng 4.100 km²) là có thể trồng trọt
Ixraen đã không ngừng nghiên cứu, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong
nông nghiệp nhằm giải quyết nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp gia tăng
nhanh chóng Kết quả là, chỉ trong thời gian ngắn quốc gia này đã chuyển từ tình
trạng thiếu lương thực đến tự túc lương thực, thực phẩm và trong 5 năm gần
đây, giá trị sản xuất nông nghiệp luôn vượt con số 3,5 tỷ USD/năm, trong đó
xuất khẩu chiếm trên 20% Đất nước này luôn đi đầu trong ứng dụng khoa học
vào sản xuất nông nghiệp, đã trở thành một điển hình nông nghiệp của thế giới
Canh tác nhà kính được xem như một giải pháp công nghệ chìa khoá trong phát
triển nông nghiệp công nghệ cao của Ixraen Hệ thống tới tiêu hiện đại, tiết kiệm
tối đa nguồn nước như: tưới nhỏ giọt, sử dụng các van tự động, lọc nhiều tầng,
dùng vòi phun áp lực thấp và phun mưa loại nhỏ, nông dân tiết kiệm được 60%
lượng nước Toàn bộ các khâu từ canh tác đến thu hoạch, bảo quản, tiêu thụ hiện
nay ở Ixraen đều được áp dụng công nghệ thông tin Bên cạnh đó, công nghệ
bảo quản sau thu hoạch phát triển mạnh mẽ Sở dĩ nông nghiệp Ixraen phát triển
là do hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) Các ứng dụng R&D có định
hướng trong nông nghiệp đã được tiến hành tại Ixraen từ đầu thế kỷ 20, nguồn
kinh phí dành cho R&D chủ yếu thông qua các quỹ đầu tư mạo hiểm; từ nguồn
vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài Lĩnh vực nông nghiệp hiện nay của
nước này hầu như gắn chặt với sự liên kết 4 nhà (nhà nước, nhà khoa học, nông
dân và nhà doanh nghiệp) Chìa khóa của thành công này là nhờ các thông tin
hai chiều giữa bản thân các nhà khoa học và các nhà nông Thông qua mạng lưới
dịch vụ mở rộng nông nghiệp (và sự tích cực tham gia của nhà nông vào toàn bộ
tiến trình R&D), các vấn đề trong nông nghiệp được chuyển trực tiếp tới các nhà
nghiên cứu để kiếm tìm giải pháp Từ đó, các kết quả nghiên cứu khoa học cũng
được nhanh chóng chuyển tới đồng ruộng để thử nghiệm, thích nghi và điều
chỉnh Nhiều phát kiến khoa học và công nghệ về nông nghiệp của Ixraen được
xuất khẩu ra nước ngoài
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 301.3 KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ
CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN CẦN TIẾP TỤC
NGHIÊN CỨU
1.3.1 Kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố có
liên quan đến đề tài luận án
Có thể nói, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài
nước có liên quan đến xây dựng NTM và các tỉnh ủy lãnh đạo xây dựng NTM
nói chung, trong đó có các tỉnh ĐBSH, ở những phương diện và mức độ khác
nhau Các công trình nghiên cứu đó đã làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn
có liên quan đến đề tài nghiên cứu Cụ thể:
Về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng ĐBSH, các công trình nghiên
cứu đã khái quát một số đặc điểm chung của vùng ĐBSH và phân tích sự tác
động, ảnh hưởng của chúng đến đến đối tượng nghiên cứu riêng của từng công
trình Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đó không đi sâu phân tích ảnh
hưởng của đặc điểm địa - kinh tế, đặc điểm xã hội - nhân văn, đặc điểm an ninh,
quốc phòng đến quá trình xây dựng NTM ở địa bàn các tỉnh vùng ĐBSH
Về xây dựng NTM, đến nay, đã có nhiều bài viết được công bố trên các
tạp chí khoa học bàn về NTM với những quan niệm, đặc trưng khác nhau Các
bài viết này góp phần tổng kết quá trình thực hiện xây dựng NTM ở từng địa
phương và trên phạm vi cả nước, rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình triển
khai thực hiện; đề xuất các kiến nghị, giải pháp để thúc đẩy quá trình thực hiện
xây dựng NTM hiệu quả hơn
Về các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH, một số công trình đã góp phần làm rõ vai
trò, chức năng, nhiệm vụ của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đối với lĩnh vực nghiên
cứu của các công trình, đề tài Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình, đề tài nào
đề cập đến vai trò, trách nhiệm của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH trong lãnh đạo xây
dựng NTM
Về nội dung lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy, có thể khẳng định,
nội dung lãnh đạo xây dựng NTM của các cấp ủy đảng nói chung, các tỉnh ủy
nói riêng đã được nhiều công trình, bài viết đề cập ở các mức độ, nội dung,
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3126phạm vi khác nhau Cũng đã có một số luận án, luận văn đề cập đến nội dung,
phương thức lãnh đạo xây dựng NTM của tỉnh ủy (Vĩnh Long), của Đảng Nhân
dân cách mạng Lào Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào đề cập một cách
có hệ thống, tương đối đầy đủ về những nội dung lãnh đạo xây dựng NTM của
các tỉnh ủy vùng ĐBSH Đây vẫn là mảng vấn đề cần được đi sâu nghiên cứu
Về phương thức lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy, các giải pháp
tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đối với xây dựng NTM
Đây là mảng vấn đề đã được nhiều công trình đề cập ở các mức độ và phạm vi
khác nhau Cũng đã có luận án, luận văn bàn đến những giải pháp chủ yếu tăng
cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy (Vĩnh Long), Đảng Nhân dân cách mạng Lào đối
với xây dựng NTM Tuy nhiên, các giải pháp trên dành cho một chủ thể lãnh
đạo ở tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long và đối với Đảng Nhân dân
cách mạng Lào Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu, luận giải một cách
có hệ thống về những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy
vùng ĐBSH đối với xây dựng NTM
Tóm lại, các nghiên cứu nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với tác giả
trong việc triển khai nghiên cứu đề tài luận án, giúp tác giả tiếp cận hệ thống tư
liệu, nội dung nghiên cứu Tuy nhiên, đến nay, chưa có công trình, đề tài, bài
viết nào đề cập một cách cơ bản và có hệ thống về các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH
lãnh đạo xây dựng NTM
1.3.2 Những vấn đề luận án cần tập trung nghiên cứu
Một là, tiếp tục làm rõ các khái niệm công cụ có liên quan đến đề tài như:
NTM, xây dựng NTM; những đặc trưng của NTM; đặc điểm, tầm quan trọng
của xây dựng NTM ở vùng ĐBSH và phương thức xây dựng NTM ở vùng này
Hai là, làm rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo xây dựng NTM của
các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH
Ba là, xác lập và luận giải khái niệm, nội dung, phương thức, những vấn đề có
tính nguyên tắc và quy trình lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 32Bốn là, đánh giá đúng thực trạng NTM và thực trạng các tỉnh ủy ở vùng
ĐBSH lãnh đạo xây dựng NTM; làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan của
thực trạng, rút ra những kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở
vùng ĐBSH
Năm là, dự báo những thuận lợi, khó khăn, xác định mục tiêu, phương
hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo xây dựng
NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đến năm 2025
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 33Chương 2 CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY –
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CÁC TỈNH, TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở CÁC TỈNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
2.1.1 Khái quát về các tỉnh ở vùng đồng bằng sông Hồng
Hiện nay, vùng ĐBSH có 02 thành phố trực thuộc Trung ương và 09 tỉnh
Các tỉnh thuộc vùng ĐBSH bao gồm: Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh
Phúc, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình Theo Niên giám
thống kê của Tổng cục thống kê, tính đến ngày 31-12-2014, ĐBSH có số đơn vị
hành chính tương đối cao so với các vùng khác trong cả nước: 11 thành phố trực
thuộc tỉnh, 17 quận, 7 thị xã, 94 huyện, 400 phường, 120 thị trấn và 1.932 xã
Riêng 09 tỉnh ở vùng ĐBSH (không kể 02 thành phố Hà Nội, Hải Phòng) có 68
huyện, quận; 17 thành phố, thị xã; 266 phường, thị trấn và 1.385 xã (Phụ lục 1)
2.1.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiên các tỉnh ở vùng đồng bằng sông Hồng
Vị trí địa lý và địa hình, ĐBSH là khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc
với vùng Tây Bắc, giữa vùng núi phía Bắc với miền Trung Vùng này có địa
hình đa dạng, bao gồm đồng bằng, đồi núi, biển và rừng; có hệ thống sông ngòi
đa dạng chảy ra vịnh Bắc Bộ, phía Đông và Đông Nam là vùng biển rộng lớn
ĐBSH là một trong hai đồng bằng lớn nhất cả nước Hầu hết các tỉnh, thành phố
(trừ tỉnh Thái Bình và tỉnh Hưng Yên) thuộc vùng ĐBSH đều có đồi núi xen kẽ
châu thổ, thung lũng với những vùng đất trũng: Nho Quan (Ninh Bình), Chương
Mỹ, Mỹ Đức (Hà Nội), Bình Lục (Hà Nam)… Vùng này có nguồn tài nguyên
khá đa dạng, khí hậu thuận lợi, kết cấu hạ tầng khá phát triển… tạo ra những
điều kiện thuận lợi để phát triển KT-XH
Về khí hậu, các tỉnh vùng ĐBSH có khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới, nhiệt
độ không khí trung bình năm khoảng 22,5-23,5°C, lượng mưa trung bình năm
1.400-2.000 mm Điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho việc gieo trồng lúa nước,
các cây nhiệt đới khác, các cây ngắn ngày á nhiệt đới và ôn đới, làm cho cơ cấu
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3429cây trồng ở vùng này rất đa dạng, phong phú, nhiều loại cây có giá trị cao Bên
cạnh đó, mạng lưới sông ngòi dày đặc, chế độ thủy văn khá ổn định rất thuận lợi
cho tưới, tiêu, nuôi, trồng thủy sản
Về đất đai, thổ nhưỡng, vùng ĐBSH có nguồn tài nguyên đất đai nông
nghiệp với trữ lượng phù sa lớn do hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi
đắp Vùng có diện tích trồng cây lương thực đứng thứ hai trong cả nước, với
diện tích đạt 1242,9 nghìn ha Khả năng mở rộng diện tích của đồng bằng vẫn
còn khoảng 137 nghìn ha Quá trình mở rộng diện tích gắn liền với quá trình
chinh phục biển thông qua sự bồi tụ và thực hiện các biện pháp quai đê lấn biển
theo phương thức “lúa lấn cói, cói lấn sú vẹt, sú vẹt lấn biển” Tài nguyên sinh
vật các tỉnh trong vùng khá phong phú, với nhiều động, thực vật quý hiếm đặc
trưng cho giới sinh vật của Việt Nam Mặc dù các tỉnh trong vùng có các khu
dân cư và đô thị phân bố dầy đặc, nhưng giới sinh vật vẫn được bảo tồn ở các
vườn quốc gia Ba Vì, Cát Bà, Cúc Phương, Quất Lâm
Về tài nguyên khoáng sản, đáng kể nhất là tài nguyên đất sét, đặc biệt là
đất sét trắng ở Hải Dương, đá vôi, than nâu, khí đốt… Tài nguyên đất sét trắng ở
Hải Dương phục vụ cho phát triển sản xuất các sản phẩm sành sứ Tài nguyên đá
vôi ở Thủy Nguyên (Hải Phòng) đến Kim Môn (Hải Dương), dải đá vôi từ Hà
Tây (cũ) đến Ninh Bình chiếm 5,4% trữ lượng đá vôi cả nước, phục vụ cho phát
triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Tài nguyên than nâu ở độ sâu 200 m
đến 2.000 m có trữ lượng hàng chục tỷ tấn, đứng hàng đầu cả nước, hiện chưa
có điều kiện khai thác Ngoài ra, các tỉnh vùng còn có tiềm năng về khí đốt
Nhìn chung, khoáng sản của vùng ĐBSH không nhiều chủng loại và có trữ
lượng vừa và nhỏ, nên việc phát triển công nghiệp phụ thuộc nhiều vào nguồn
nguyên liệu từ bên ngoài
Về vùng biển, ĐBSH có một vùng biển rộng lớn, với bờ biển kéo dài từ
Thủy Nguyên (Hải Phòng) đến Kim Sơn (Ninh Bình) Bờ biển có bãi triều rộng
và phù sa dày là cơ sở nuôi, trồng thủy, hải sản, nuôi rong câu và chăn vịt ven
bờ Ngoài ra, một số bãi biển, đảo có thể phát triển thành khu du lịch như bãi
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3530biển Bãi Cháy, Đồ Sơn, huyện đảo Cát Bà, đảo Bạch Long Vĩ, đảo Cô Tô Bên
cạnh đó, các tỉnh vùng này còn có cảng biển lớn Hải Phòng, cảng nước sâu Cái
Lân và một số cảng ở các tỉnh ven biển
Bên cạnh sự ưu đãi của thiên nhiên, ĐBSH cũng thường xuyên chịu ảnh
hưởng của thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh… Theo dự báo, trong
những năm tới, ĐBSH sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, nhất là
vùng ven biển, đất sản xuất bị xâm nhập mặn… gây ra những khó khăn không
nhỏ đối với sản xuất và đời sống của nhân dân
2.1.2 Đặc điểm kinh tế các tỉnh ở vùng đồng bắng sông Hồng
Kinh tế các tỉnh vùng này đang chuyển dịch khá mạnh từ chủ yếu là sản
xuất nông nghiệp phục vụ nhu cầu lương thực của địa phương sang sản xuất
nông nghiệp hàng hóa, hàng hóa chất lượng cao và phát triển công nghiệp - xây
dựng, dịch vụ Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các tỉnh trong vùng thể
hiện khá rõ nét: tỷ trọng giá trị công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong tổng
GDP ở các tỉnh, nhất là ở các thành phố và các tỉnh gần Thủ đô Hà Nội, gần các
khu công nghiệp trọng điểm, ngày càng tăng Ở nhiều tỉnh, tỷ trọng giá trị nông
nghiệp trong tổng GDP đang giảm mạnh, lao động nông nghiệp ngày càng giảm
và có xu hướng chuyển dịch sang ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ
Vùng ĐBSH có diện tích trồng cây lương thực và tổng sản lượng lương
thực chỉ đứng sau vùng đồng bằng sông Cửu Long Tính chung trong cả nước,
năng suất nông nghiệp của các tỉnh vùng ĐBSH là cao nhất, vì các tỉnh vùng
này có trình độ thâm canh cao Bên cạnh lúa nước, hầu hết các tỉnh vùng này
đều trồng một số cây ưa lạnh, như: cây ngô đông, khoai tây, suhào, bắp cải, cà
chua và trồng hoa xen canh Ở một số địa phương, vụ đông đã được trở thành vụ
chính, đem lại hiệu quả kinh tế cao Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các
tỉnh trong vùng, cây lương thực luôn giữ địa vị hàng đầu với diện tích cây lương
thực khoảng gần một triệu ha, chiếm khoảng 14% diện tích cây lương thực của
cả nước Sản lượng lương thực chiếm gần 20% sản lượng lương thực toàn quốc
Nhìn chung, các tỉnh vùng ĐBSH tự đáp ứng được nhu cầu lương thực và đang
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3631đẩy mạnh xuất khẩu Tuy nhiên, việc đảm bảo an ninh lương thực của vùng chưa
vững chắc
Trong những năm gần đây, giá trị công nghiệp của các tỉnh trong vùng
tăng mạnh, trọng điểm là công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất
hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng và công nghiệp cơ khí Những sản phẩm công
nghiệp tiểu biểu của các tỉnh trong vùng là máy công cụ, động cơ điện, phương
tiện giao thông, thiết bị điện tử, hàng dệt kim, giấy viết, vật liệu xây dựng
Công nghiệp phát triển đã đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ phục vụ các khu
công nghiệp, khu chế xuất và ven đô, thành phố lớn, góp phần quan trọng vào
việc phát triển KT-XH, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân
Cùng với sự phát triển của công nghiệp, các ngành tiểu thủ công nghiệp
cũng phát triển khá mạnh mẽ, đa dạng, phục vụ nhu cầu sản xuất và đời sống
của nhân dân Các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp ngày càng nhiều chủng loại và
có chất lượng, có sức hấp dẫn không chỉ nội vùng, mà còn ở những vùng khác
trong cả nước, đem lại nguồn thu đáng kể cho nhân dân và địa phương Một
trong những đặc điểm nổi bật của vùng ĐBSH là có nhiều làng nghề truyền
thống với những sản phẩm nổi tiếng trong nước và trên thế giới, tiêu biểu như:
đúc đồng ở Vụ Bản (Nam Định) và ở Đại Bái, huyện Gia Bình (Bắc Ninh); rèn ở
Đa Hội, Tiên Du (Bắc Ninh); dệt lụa, xây dựng ở Nội Duệ (Bắc Ninh); sản xuất
đồ gỗ ở La Xuyên, huyện Ý Yên (Nam Định); chiếu cói ở Phát Diệm, huyện
Kim Sơn (Ninh Bình); gốm, sứ ở Bát Tràng, huyện Gia Lâm (Hà Nội)… Hiện
nay, các làng nghề truyền thống trong vùng có nhiều điều kiện thuận lợi để mở
rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh
tranh, khẳng định thương hiệu ở thị trường trong nước và trên thế giới
Kinh tế du lịch của vùng ĐBSH đang có chiều hướng phát triển tốt, trở
thành một trong thế mạnh đặc biệt trong quá trình phát triển KT-XH Các tỉnh
trong vùng có nhiều tiềm năng, thế mạnh về du lịch cảnh quan thiên nhiên, du
lịch di tích lịch sử, văn hóa, du lịch tín ngưỡng, tôn giáo, du lịch sinh thái…
Trên cơ sở đó, có thể xây dựng, phát triển các tuyến du lịch liên vùng
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 37Cơ cấu kinh tế của các tỉnh trong vùng ĐBSH đang có sự chuyển dịch
đúng hướng, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ đang trên đà
phát triển và có triển vọng tốt Bên cạnh đó, vùng ĐBSH vẫn còn một số mặt
hạn chế và đang đứng trước những thách thức lớn: KT-XH phát triển chưa tương
xứng với tiềm năng; quy mô còn nhỏ, các ngành sản xuất với công nghệ hiện đại
chiếm tỷ lệ thấp, chưa tạo ra được tiền đề cho sự phát triển nhanh, bền vững
Một số loại thị trường hình thành chậm và chưa đồng bộ Kết cấu hạ tầng
KT-XH còn bất cập Công nghiệp, đô thị phát triển khá, nhưng còn mang tính tự
phát; môi trường bị ô nhiễm nặng Chưa hình thành được các vùng sản xuất
nông sản hàng hóa tập trung cho xuất khẩu, giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích
chưa cao Tỷ lệ lao động nông nghiệp thiếu việc làm còn lớn Đời sống của một bộ
phận nhân dân ở nhiều vùng nông thôn còn khó khăn Trình độ phát triển giữa các
địa phương trong vùng, giữa các tiểu vùng còn có sự chênh lệch đáng kể
Nhìn chung, vùng ĐBSH là một vùng kinh tế động lực quan trọng của cả
nước, bởi các hoạt động hoạt động tài chính, ngân hàng, xuất nhập khẩu, du lịch,
thông tin, tư vấn, chuyển giao công nghệ có ảnh hưởng đến mạnh mẽ đối với các
tỉnh, thành phố phía Bắc, thậm chí lan tỏa trong phạm vi cả nước (Phụ lục 2)
2.1.3 Đặc điểm chính trị các tỉnh ở vùng đồng bắng sông Hồng
Ở các tỉnh vùng ĐBSH, từ cấp tỉnh đến cấp xã đã hình thành HTCT đầy
đủ, bao gồm cả các tổ chức đảng, cơ quan chính quyền, MTTQ và các tổ chức
CT-XH
Nhân dân ở các tỉnh vùng ĐBSH có truyền thống yêu nước, hiếu học,
anh dũng, sáng tạo trong chiến đấu và lao động sản xuất Những truyền thống
tốt đẹp đó đang được phát huy mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới nhằm từng
bước tiến đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Nhân dân vùng này tin tưởng vào vai trò và năng lực lãnh đạo của các cấp ủy
đảng, gắn bó mật thiết với Đảng Sự gắn bó đó được thử thách, kiểm nghiệm
và khẳng định qua biết bao khó khăn, gian khổ, thách thức quyết liệt để đi
đến thắng lợi Tuy xảy ra một số "điểm nóng" về chính trị - xã hội (CT-XH) ở
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3833nơi này nơi khác, vào thời điểm này, thời điểm khác, nhưng nhìn chung, nhân
dân vùng này vẫn gắn bó mật thiết với Đảng Nhân dân tích cực tham gia xây
dựng Đảng thông qua các tổ chức CT-XH, cùng với Đảng đấu tranh kiên
quyết với những cán bộ, đảng viên không giữ vững được tư cách, phẩm chất
của người cộng sản; góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của các cấp ủy đảng, tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên của các tỉnh ở
vùng này
2.1.4 Đặc điểm văn hóa, xã hội các tỉnh ở vùng đồng bắng sông Hồng
Với bề dày lịch sử văn hóa hàng nghìn năm, nơi đây được coi là một trong
những cái nôi văn hóa của cả nước Sinh hoạt văn hóa của các tỉnh vùng này khá
phong phú Trước hết, là các loại hình nghệ thuật dân gian như chèo, tuồng, múa
rối nước, hát ả đào và đặc biệt là các loại dân ca như hát ví, trống quân, quan họ
Tiêu biểu nhất, tạo nên sắc thái độc đáo nhất của văn hóa truyền thống trong
vùng chính là dân ca quan họ tại các làng, xã ở Bắc Ninh, trở thành vốn văn hóa
vô cùng quý báu không chỉ của vùng, mà của cả nước Một hình thức khác tiêu
biểu cho sinh hoạt văn hóa dân gian của khu vực này là các lễ hội Có thể nói,
đây là nơi tập trung nhiều lễ hội nhất của cả nước, với nhiều hoạt động vừa có ý
nghĩa, vừa thú vị và sôi nổi Lễ hội tương đối đa dạng Có những lễ hội liên
quan đến sản xuất nông nghiệp, có những lễ hội liên quan đến các danh nhân và
di tích lịch sử, lại có những lễ hội gắn với sinh hoạt văn hóa của người dân và
những lễ hội gắn với đời sông tâm linh, tín ngưỡng Quy mô của các lễ hội cũng
thay đổi đa dạng, từ thu hút cả một vùng đến một vài làng hoặc thậm chí chỉ
người dân trong một làng (hội làng) Hầu như bất kỳ một làng quê nào trong tiểu
vùng cũng có lễ hội Lễ hội (đặc biệt là hội làng) là một sinh hoạt cộng đồng tiêu
biểu, nhằm biểu dương và làm tăng thêm sức mạnh cộng đồng trong việc giữ
làng, giữ nước
Theo điều tra dân số vào thời điểm ngày 01-4-2011, dân số của toàn vùng
ĐBSH là 19.883.325 người, chiếm 22,7% dân số cả nước Ở nơi đây có nhiều
dân tộc sinh sống, trong đó người Việt (Kinh) là chủ yếu, ngoài ra còn có các
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 3934dân tộc thiểu số như: Dao, Cao Lan, Sán Dìu, Tày, Nùng, Hoa, Mường Người
dân tộc thiểu số chiếm tỷ rất nhỏ so với tổng số dân toàn vùng và so với người
Kinh Đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tập trung ở các huyện như: Lập
Thạch (Vĩnh Phúc), Hải Hà (Quảng Ninh), Nho Quan (Ninh Bình) Trong
những năm qua, mặc dù tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong vùng giảm mạnh, nhưng
mật độ dân số vẫn cao nhất nước (934 người/km2), gấp 3,7 lần so với bình quân
cả nước, gấp 2,14 lần so với vùng đồng bằng sông Cửu Long, gấp 8 lần so với
các tỉnh miền núi và trung du phía Bắc và gấp hơn 10 lần so với Tây Nguyên
Dân cư đông, một mặt là lợi thế đặc biệt của vùng này, bởi vừa tạo ra thị trường
sức mua lớn, vừa tạo ra nguồn lao động dồi dào, có chất lượng tốt, nhưng mặt
khác, làm cho diện tích đất canh tác bình quân đầu giảm dần (hiện chưa đạt 450
m2/người)
Nguồn nhân lực dồi dào, phong phú và có chất lượng cao hơn so với các
vùng khác là một trong những đặc điểm nổi bật của các tỉnh vùng ĐBSH Ở
vùng này, tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng, các cơ sở nghiên cứu khoa
học Trình độ dân trí của vùng ngày càng được nâng cao, chất lượng nguồn nhân
lực ngày càng được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT-XH của
các tỉnh trong vùng
Trong tiến trình đổi mới, đời sống nhân dân trong vùng ngày càng được
cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhanh và giảm đáng kể Bên cạnh đó, một bộ
phận dân cư thuộc vùng sâu, vùng miền núi, hải đảo, dân tộc ít người còn gặp
khó khăn về đời sống vật chất và tinh thần Mặt khác, khoảng cách giàu, nghèo
giữa các bộ phận nhân dân có xu hướng gia tăng, nhất là giữa cư dân thành thị
và cư dân nông thôn
Về tình hình tôn giáo, tín ngưỡng, vùng ĐBSH là nơi phát triển nhiều tôn
giáo lớn ở nước ta như đạo Phật, Công giáo, đi theo là các công trình đình, chùa,
nhà thờ - đây vừa là nơi sinh hoạt tôn giáo vừa là điểm du lịch văn hóa… Ở
nhiều địa phương, tỷ lệ dân cư theo Công giáo rất đông như ở Nghĩa Hưng
(Nam Định), Kim Sơn (Ninh Bình)
Luận văn thạc sĩ xây dựng
Trang 402.1.5 Đặc điểm quốc phòng, an ninh các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng
ĐBSH là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, xã
hội, ngoại giao, QP, AN của cả nước, nơi tập trung nhiều trung tâm lớn của phía
Bắc và cả nước như: Thủ đô Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của
cả nước; thành phố cảng Hải Phòng, cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc;
thành phố du lịch Hạ Long Vùng ĐBSH bao quanh Thủ đô, địa hình đa dạng,
có đồng bằng, đồi núi, duyên hải với 425 km bờ biển, hơn 3.000 đảo lớn nhỏ án
ngữ hướng biển Đông và Đông Bắc Tổ quốc, có điều kiện xây dựng thế trận che
chắn, hỗ trợ nhau ĐBSH có vị trí, vai trò rất quan trọng về an ninh, quốc phòng
Vùng này là địa bàn chiến lược của cách mạng, nơi bảo đảm an toàn cho các cơ
quan lãnh đạo cấp cao của Đảng Vùng ĐBSH là nơi tập trung nhiều cơ quan
đầu não, cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, nhiều khu công nghiệp, nên số
lượng mục tiêu cần bảo vệ nhiều, tính chất phức tạp, yêu cầu bảo vệ rất cao Nơi
đây là một trọng điểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của
các thế lực thù địch Bên cạnh đó, các nhóm đối tượng cơ hội chính trị ở Hải
Phòng, Hà Nội kết hợp với các nơi khác và lực lượng bên ngoài lợi dụng khiếu
kiện, đình công và các mâu thuẫn nội bộ khác để tuyên truyền, xuyên tạc, kích
động, chia rẽ chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Nhìn chung, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các tỉnh
vùng ĐBSH tuy được đảm bảo, song vẫn còn tiềm ẩn những yếu tố có thể gây
phức tạp xuất phát từ việc đền bù, giải phóng mặt bằng; tốc độ đô thị hóa khá
nhanh, tệ cờ bạc, rượu chè, các tệ nạn xã hội khác; thanh thiếu niên hư; hoạt
động của các thế lực lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng; tệ quan liêu, tham nhũng,
sách nhiễu dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên…
2.1.2 Các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng - chức năng, nhiệm
vụ, đặc điểm và vai trò
Theo Điều lệ ĐCSVN, tỉnh ủy là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa
hai kỳ đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Ban thường vụ tỉnh ủy tổ chức thực hiện
Luận văn thạc sĩ xây dựng