1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ xây dựng đảng các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông hồng lãnh đạo xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay

192 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Tỉnh Ủy Ở Vùng Đồng Bằng Sông Hồng Lãnh Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới Trong Giai Đoạn Hiện Nay
Tác giả Đào Thanh Lưỡng
Người hướng dẫn PGS, TS Trần Khắc Việt, PGS, TS Nguyễn Vũ Tiến
Trường học Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xây dựng đảng và chính quyền nhà nước
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang 1 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH ĐÀO THANH LƯỠNGCÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Trang 2 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH ĐÀ

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐÀO THANH LƯỠNG

CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐÀO THANH LƯỠNG

CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả luận án

Đào Thanh Lưỡng

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 4

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

BCHTW: Ban Chấp hành Trung ương CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CTQG: Chính trị quốc gia

CT-XH: Chính trị - xã hội ĐCSVN: Đảng Cộng sản Việt Nam ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng HTCT: Hệ thống chính trị KT-XH: Kinh tế - xã hội MTTQ: Mặt trận Tổ quốc NTM: Nông thôn mới Nxb: Nhà xuất bản

QP, AN: Quốc phòng, an ninh UBND: Ủy ban nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 6

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI 21

1.3 KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 25

Chương 2: CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY – NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 28

2.1 CÁC TỈNH, TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở CÁC TỈNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY 28 2.2 CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI - KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC 52

Chương 3: XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM 64

3.1 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở CÁC TỈNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 64

3.2 CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM 74

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ĐẾN NĂM 2025 106

4.1 DỰ BÁO NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 106

4.2 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ĐẾN NĂM 2025 117

KẾT LUẬN 144

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 146

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 147

PHỤ LỤC 162

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ khi giành được chính quyền, Đảng ta luôn coi việc lãnh đạo xây dựng

và phát triển kinh tế nông nghiệp, phát huy vai trò to lớn của nông dân, chăm lo

đời sống vật chất và tinh thần của nông dân là nhiệm vụ quan trọng của Đảng,

Nhà nước Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta khẳng định:

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ

sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ

vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy

bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước [61,

tr 123-124]

Sau hơn 30 năm thực hiện đường đối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng,

nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá to lớn và

toàn diện Tuy nhiên, Đảng ta cũng khẳng định, những thành tựu đạt được về

phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn và cải thiện đời sống nông dân chưa

tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Thực hiện

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05-8-2008 của Ban Chấp hành Trung ương

(BCHTW) khóa X “về nông nghiệp, nông dân và nông thôn”, Chính phủ đã ra

Nghị quyết số 24/NQ-CP ngày 28-10-2008 ban hành “Chương trình hành động

của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung

ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, trong đó xác định rõ các

mục tiêu chủ yếu cần đạt được, trong đó xây dựng nông thôn mới (NTM) bền

vững theo hướng văn minh, giàu đẹp, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản

sắc văn hóa dân tộc Tiếp đó, ngày 16-4-2009 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết

định số 491/QĐ-TTg “Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”; ngày

04-6-2010 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 800/QĐ-TTg “Ban hành

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020”; ngày

05-4-2016 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 558/QĐ-TTg về việc ban

hành Tiêu chí huyện nông thôn mới và Quy định thị xã, thành phố trực thuộc

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 7

2 cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020;

ngày 17-10-2016 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1980/QĐ-TTg về việc

ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; ngày 16-8-2016 Thủ tướng

Chính phủ ký Quyết định số 1600/QĐ-TTg phê duyệt chương trình mục tiêu

quốc gia, xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Có thể nói, đến nay,

vấn đề xây dựng NTM được đề cập một cách cơ bản, toàn diện và sâu sắc, đáp

ứng mong muốn của nhân dân và yêu cầu chiến lược sớm xây dựng đất nước ta

cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Xây dựng

NTM là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp đẩy

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước ta hiện nay

Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là một vùng đồng bằng lớn nhất ở phía

Bắc nước ta, gồm 2 thành phố (Hà Nội, Hải Phòng) và 9 tỉnh trực thuộc Trung

ương (Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh,

Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình) Đây là vùng lãnh thổ có vị trí, vai trò đặc

biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh (QP, AN)

của cả nước Đây cũng là một trong những đồng bằng, vựa lúa lớn của cả nước, là

trung tâm của nền văn hóa Việt và là một trong những trọng điểm Đảng, Nhà nước

đang triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM

Với vai trò, chức năng là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội đại hội đại

biểu đảng bộ tỉnh, các tỉnh ủy ở ĐBSH có chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo toàn

diện các lĩnh vực phát triển KT-XH, QP, AN trên địa bàn tỉnh, trong đó có lĩnh

vực xây dựng NTM Sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH là nhân tố quan

trọng hàng đầu, quyết định sự nghiệp xây dựng NTM ở từng trong vùng Thực

hiện các nghị quyết của BCHTW và các quyết định của Chính phủ về xây dựng

NTM, những năm qua, các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đã sớm thành lập ban chỉ đạo

và tiến hành chọn các xã điểm (riêng tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo và tiến hành đồng

loạt ở tất cả các xã) trong tỉnh triển khai xây dựng mô hình NTM giai đoạn

2010-2020 Qua 6 năm triển khai thực hiện Chương trình, bước đầu thu được kết

quả quan trọng về nhiều mặt Sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ngày càng đi vào

chiều sâu, đem lại hiệu quả tích cực Tuy nhiên, sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 8

3 vùng ĐBSH đối với sự nghiệp xây dựng NTM còn nhiều hạn chế Một số nhiệm

vụ của chương trình xây dựng NTM được cấp ủy, chính quyền các tỉnh ở vùng

ĐBSH triển khai chậm, nhất là công tác quy hoạch xã NTM, công tác giải ngân

vốn… Lãnh đạo xây dựng quy hoạch xây dựng NTM chậm, quy hoạch chưa thật

khoa học và hợp lý Chưa huy động được các nguồn lực, chưa phát huy tốt tiềm

năng, thế mạnh của địa phương trong xây dựng NTM Lãnh đạo chuyển dịch cơ

cấu kinh tế nông nghiệp chưa hiệu quả, chậm cải thiện mức thu nhập của nông

dân Lãnh đạo phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường sinh thái… chưa

đáp ứng yêu cầu đề ra HTCT cơ sở nông thôn, QP, AN, trật tự, an toàn xã hội

ở nông thôn chưa thật vững chắc Về phương thức lãnh đạo, một số tỉnh ủy còn

hạn chế trong lãnh đạo tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết, chủ trương về

xây dựng NTM; chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động cán bộ,

đảng viên và nhân dân tham gia xây dựng NTM của một số tỉnh ủy chưa cao;

hiệu quả hoạt động của ban chỉ đạo chương trình xây dựng NTM các cấp chưa

rõ nét, một số tổ chức trong HTCT ở các cấp trong tỉnh chưa tích cực tham gia

chương trình; việc lãnh đạo xây dựng các mô hình thí điểm, các điển hình NTM,

sơ kết, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến còn hình thức; chưa phát huy tốt

tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong tham gia xây dựng

NTM; công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy đảng đối với quá trình xây

dựng NTM còn nhiều hạn chế

Xuất phát từ tình hình trên, tác giả chọn vấn đề “Các tỉnh ủy ở vùng đồng

bằng sông Hồng lãnh đạo xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay”

làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn các tỉnh ủy ở vùng

ĐBSH lãnh đạo xây dựng NTM, luận án đề xuất phương hướng và những giải

pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đối với xây

dựng NTM đến năm 2025

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 9

4

2.2 Nhiệm vụ

- Tổng quan các công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án

- Xác lập và luận giải khái niệm NTM và xây dựng NTM ở các tỉnh vùng

ĐBSH; khái niệm, nội dung, phương thức lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh

ủy ở vùng ĐBSH

- Đánh giá đúng thực trạng xây dựng NTM và thực trạng các tỉnh ủy vùng

ĐBSH lãnh đạo xây dựng NTM, rút ra nguyên nhân, đúc kết những kinh nghiệm

lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH

- Dự báo những nhân tố tác động, xác định mục tiêu, phương hướng và đề

xuất những giải pháp chủ yếu tăng cường lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh

ủy ở vùng ĐBSH đến năm 2025

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo xây

dựng NTM giai đoạn hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: vùng ĐBSH gồm 11 tỉnh, thành phố, luận án chỉ

nghiên cứu 9 tỉnh, gồm Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương,

Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình

Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của các tỉnh ủy vùng

ĐBSH đối với xây dựng NTM từ năm 2008 đến nay; phương hướng, giải pháp

luận án đề xuất có giá trị đến năm 2025

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương hiện nay của Đảng

Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) về sự lãnh đạo, nội dung và phương thức

lãnh đạo của Đảng

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 10

5

4.1 Cơ sở thực tiễn

Cơ sở thực tiễn của luận án là thực trạng xây dựng NTM và thực trang các

tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo xây dựng NTM từ năm 2008 đến nay

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp chuyên ngành, liên ngành như: lịch

sử - lôgic, phân tích, tổng hợp, khảo sát, thống kê, tổng kết thực tiễn

5 Những đóng góp mới của luận án

- Khái niệm tỉnh ủy lãnh đạo xây dựng NTM; xác định nội dung, phương

thức lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH

- Năm kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH

- Đề xuất hai giải pháp mang tính đột phá: tăng cường lãnh đạo phát huy

vai trò của cán bộ, đảng viên và lãnh đạo phát huy vai trò của nông dân, hội

nông dân các cấp ở các tỉnh vùng ĐBSH trong xây dựng NTM

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận của luận án

Luận án góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về tỉnh ủy

lãnh đạo xây dựng NTM; kinh nghiệm về lãnh đạo xây dựng NTM trong thời

gian qua; những giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH

đối với xây dựng NTM đến năm 2025

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án

Luận án có thể được dùng làm tài liệu để các tỉnh ủy, thành ủy trong toàn quốc

tham khảo trong quá trình lãnh đạo xây dựng NTM; làm tài liệu tham khảo phục vụ

giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong toàn Học viện Chính trị quốc gia

(CTQG) Hồ Chí Minh, các trường chính trị các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương và các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thị xã, thành phố trong toàn quốc

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình củatác giả dã công

bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án

gồm 4 chương, 9 tiết

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 11

6

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

1.1.1 Sách

- Nguyễn Trung Quế (1995), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn vùng

đồng bằng sông Hồng” [115] Các tác giả cuốn sách đã đề cập những vấn đề lý

luận về cơ cấu kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn; thực trạng,

phương pháp xác định cơ chế kinh tế nông nghiệp nông thông ĐBSH và trình

bày đôi nét về cơ cấu kinh tế huyện Gia Lâm (Hà Nội), Thuận Thành (Hà Bắc),

Tiên Lãng (Hải Phòng), Vĩnh Lạc (Vĩnh Phú)

- GS, TS Lương Xuân Quỳ (1996), “Những biện pháp kinh tế tổ chức và

quản lý để phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa và đổi mới cơ cấu kinh tế

nông thôn Bắc bộ” [116] Trên cơ sở phân tích rõ những luận cứ khoa học của

phương hướng tổ chức lại và xây dựng cơ chế quản lý mới đối với các cơ sở

kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong nông nghiệp, nông thôn,

tác giả đã xác định phương hướng và các biện pháp cụ thể về kinh tế, tổ chức và

quản lý để thúc đẩy chuyên môn hóa, tập trung hóa, công nghiệp hóa nhằm phát

triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn ở các

vùng khác nhau thuộc Bắc bộ Theo đó, một nền nông nghiệp hàng hóa phát

triển còn phản ánh một cơ cấu sản xuất và kinh doanh hợp lý - một cơ cấu tăng

dần tỷ lệ giá trị sản phẩm công nghiệp và dịch vụ, tỷ lệ giá trị sản phẩm thuần

nông giảm dần Điều đó tất yếu dẫn đến hệ quả là yếu tố lao động sống trong

cấu thành giá trị sản phẩm đã qua chế biến có nguồn gốc nguyên liệu nông sản

giảm cả tuyệt đối và tương đối

- TS Nguyễn Văn Bích - KS Chu Tiến Quang (1996), “Chính sách kinh tế

và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam”

[18] Tác giả đã đề cập một cách khá toàn diện những vấn đề chính sách kinh tế

phát triển nông nghiệp, nông thôn Thông qua việc phân tích, đánh giá vai trò của

các chính sách kinh tế đó, bức tranh về quá trình phát triển nông nghiệp, nông

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 12

7 thôn Việt Nam được tái hiện với tất cả những thành tựu và hạn chế, khiếm khuyết,

những thách thức và mâu thuẫn, những tiềm năng dự báo và giới hạn phát triển,

những vấn đề đang đặt ra và hướng xử lý các chính sách và giải pháp lớn…

- Vũ Thị Ngọc Trân (1997), “Phát triển kinh tế nông hộ sản xuất hàng

hoá ở vùng đồng bằng sông Hồng” [41] Cuốn sách đã đề cập vai trò của sản

xuất hàng hóa và sự cần thiết phải chuyển kinh tế nông hộ nông dân lên sản xuất

hàng hóa; thực trạng, kết quả và phương hướng phát triển kinh tế hộ nông dân

sản xuất hàng hóa ở vùng ĐBSH

- TS Nguyễn Văn Trung (1998), “Phát triển nguồn nhân lực trẻ ở nông

thôn, để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp nước ta” [154]

Nội dung cuốn sách gồm ba phần, đề cập ba vấn đề lớn: vị trí, vai trò của nông

thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông

thôn nước ta; thực trạng nghề nghiệp, việc làm của thanh niên nông thôn và vai

trò của họ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng NTM; một số mô hình,

kinh nghiệm và chính sách phát triển thanh niên nông thôn hiện nay

- GS, TS Lưu Văn Sùng (2004), “Một số kinh nghiệm điển hình về phát

triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [128] Tác giả

cho rằng, nước ta là một nước có đa số dân cư sống bằng nghề nông, nên vấn đề

CNH, HĐH nông nghịêp, nông thôn được đặt lên hàng đầu trong sự nghiệp

CNH, HĐH đất nước CNH, HĐH nông nghịêp, nông thôn là quá trình xây dựng

cơ sở vật chất - kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn

theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại; gắn nông nghiệp với công nghiệp và

dịch vụ, cho phép phát huy có hiệu quả cao mọi nguồn lực và lợi thế của nền

nông nghiệp, mở rộng giao lưu trong nước và quốc tế Thực chất của CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình phát triển nông thôn theo hướng tiến

bộ về KT-XH của một nước công nghịêp Điều đó có nghĩa là, không chỉ phát

triển công nghiệp, mà còn bao gồm cả việc phát triển toàn bộ các hoạt động, các

lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và đời sống văn hóa, tinh thần ở nông thôn phù hợp

với nền sản xuất công nghiệp ở nông thôn cả nước nói chung Từ đa dạng hóa

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 13

8 sản xuất, tạo ra nhiều loại sản phẩm nông nghiệp đến phát triển công nghiệp chế

biến là bước đi tất yếu của phát triển nông nghiệp trong thời kỳ CNH, HĐH

- PGS, TS Vũ Năng Dũng (2004), “Cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí,

bước đi, cơ chế, chính sách trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông

nghiệp, nông thôn”[50] Cuốn sách được biên soạn dựa trên cơ sở kết quả nghiên

cứu đề tài khoa học - công nghệ cấp Nhà nước KC.07.02 Cuốn sách nghiên cứu,

trình bày cơ sở lý luận, quan điểm, mô hình, phương thức của CNH, HĐH nông

nghiệp, nông thôn nước ta

- GS, TS Hoàng Chí Bảo (2005), "Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn

nước ta hiện nay” [17] Tác giả cho rằng, HTCT ở cơ sở nông thôn có vai trò rất

quan trọng trong việc tổ chức và điều hành nhân dân thực hiện đường lối, chính

sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, huy

động mọi khả năng phát triển KT-XH, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư

Do vậy, xây dựng HTCT cơ sở nông thôn vững mạnh là nhiệm vụ đặc biệt quan

trọng trong giai đoạn hiện nay

- TS Đặng Kim Sơn (2008), “Nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt

Nam hôm nay và mai sau” [124] Với hệ thống tư liệu, số liệu phong phú, cuốn

sách đã làm rõ thực trạng nông nghiệp, nông thôn, nông dân ở Việt Nam trong

hơn 20 năm đổi mới (1986-2007) và thực trạng giải quyết vấn đề nông nghiệp,

nông thôn, nông dân trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất

những định hướng, kiến nghị những chính sách nhằm đưa nông nghiệp, nông

dân, nông thôn Việt Nam phát triển

- PGS, TS Ngô Huy Tiếp (2010), “Đảng lãnh đạo xây dựng giai cấp nông

dân trong giai đoạn hiện nay” [130] Công trình này đã phân tích vai trò quan

trọng của giai cấp nông dân trong lịch sử dân tộc cũng như trong sự nghiệp đổi

mới và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; phân tích những đặc điểm cơ bản

của giai cấp nông dân Việt Nam hiện nay Đặc biệt, công trình đã nêu và phân

tích khái niệm sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng giai cấp nông dân Việt

Nam là quá trình Đảng đề ra các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách,

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 14

9 biện pháp xây dựng giai cấp nông dân; tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát

việc thực hiện các chủ trương chính sách đó, cũng như tiến hành các hoạt động

khác có liên quan nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng giai cấp

nông dân diễn ra đúng quan điểm, mục tiêu và đường lối đã đề ra Các tác giả đã

làm rõ nội dung và phương thức Đảng lãnh đạo xây dựng giai cấp nông dân,

phân tích thực trạng giai cấp nông dân Việt Nam hiện nay; nêu lên những bức

xúc chủ yếu của nông dân Trên cơ sở phân tích thực trạng về nội dung và

phương thức lãnh đạo của Đảng trong xây dựng giai cấp nông dân, các tác giả đã

đề xuất mục tiêu, quan điểm và giải pháp nhằm xây dựng giai cấp nông dân Việt

Nam trong giai đoạn hiện nay Theo các tác giả, cần thực hiện đồng bộ các giải

pháp từ công tác tư tưởng, công tác tổ chức thực hiện đường lối xây dựng giai

cấp nông dân đến những giải pháp cụ thể về lãnh đạo nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần của nông dân Trong hệ thống các giải pháp đó, các tác giả coi trọng

giải pháp đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức đảng ở

nông thôn

- PGS, TS Tô Huy Rứa - PGS, TS Nguyễn Cúc - PGS, TS Trần Khắc

Việt (2003), “Giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở các tỉnh

miền núi nước ta hiện nay” [118] Cuốn sách là tập hợp các bài tham luận được

tuyển chọn từ các hội thảo của đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước “Các giải

pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi nước ta hiện

nay” Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động của HTCT các

tỉnh miền núi nước ta những năm qua, các tác giả đề xuất quan điểm, giải pháp tiếp

tục đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của từng tổ chức thành

viên và toàn bộ HTCT từng cấp ở các tỉnh miền núi trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,

HĐH đất nước phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương

- TS Mai Ngọc Anh (2010), “An sinh xã hội đối với nông dân trong nền

kinh tế thị trường ở Việt Nam”[1] Tác giả khẳng định: an sinh xã hội là một vấn

đề hết sức quan trọng, vì nó không chỉ bảo đảm đời sống cho người dân, mà còn

góp phần ổn định kinh tế, chính trị, tạo điều kiện phát triển kinh tế đất nước một

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 15

10cách bền vững Ở Việt Nam, số đông dân cư sống ở khu vực nông thôn, phần

lớn vẫn chịu cảnh nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất nông nghiệp còn phải chịu nhiều

rủi ro Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để giải

quyết những khó khăn trên, song tình trạng thất nghiệp, thiếu công ăn việc làm

cho người lao động vẫn còn khá phổ biến; khoảng cách thu nhập giữa người lao

động, giữa các vùng, miền chưa được thu hẹp; tình trạng đói nghèo và tái nghèo

vẫn chưa được giải quyết một cách bền vững Bên cạnh đó, người nông dân

hằng ngày vẫn phải đối mặt với những rủi ro như ốm đau, bệnh tật, thiên tai, bão

lụt… Do đó, hệ thống an sinh xã hội càng có vai trò quan trọng hơn đối với

người nông dân Cuốn sách còn đề cập đến một số vấn đề đang được đặt ra

trong thực tiễn nước ta lien quan đến vấn đề an sinh xã hội trong nông thôn,

nông dân ở nước ta Cuốn sách tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực

tiễn; phân tích thực trạng để chỉ ra những thành tựu, hạn chế và những vấn đề

đặt ra đối với việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân nước ta

từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Trên cơ sở đó,

tác giả đã đề xuất phương hướng, các giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ

thống an sinh xã hội đối với nông dân ở nước ta những năm tới

- TS Phạm Ngọc Dũng (2011), “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

nông nghiệp, nông thôn từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay” [50] Cuốn

sách bao gồm 3 chương: chương I - Cơ sở lý luận và thực tiễn xem xét, đánh giá

kinh tế, xã hội trong thực tiễn CNH, HĐH ở nông thôn; chương II - Thực trạng

kinh tế, xã hội ở nông thôn Việt Nam trong quá trình thực hiện CNH, HĐH;

chương III - Một số quan điểm, giải pháp phát triển kinh tế, xã hội nông thôn Việt

Nam theo hướng CNH, HĐH bền vững Nội dung cuốn sách làm rõ hơn về vai

trò quan trọng của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong quá trình CNH,

HĐH đất nước; làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn CNH, HĐH nông

nghiệp, nông thôn trong phát triển bền vững; đánh giá đúng thực trạng KT-XH ở

nông thôn nước ta cũng như nguyên nhân nảy sinh vấn đề kinh tế, xã hội bức

xúc trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay; đưa

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 16

ra các giải pháp hợp lý, có tính thực tiễn cao nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu

tổng quát và lâu dài của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là xây dựng một

nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất,

chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học,

công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; xây dựng nông

thôn ngày càng giàu đẹp, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết

cấu hạ tầng KT-XH phát triển ngày càng hiện đại

1.1.2 Đề tài khoa học

- PGS, TS Lưu Văn Sùng (1999), “Sự lãnh đạo kinh tế của các tỉnh ủy

trong điều kiện hiện nay” [127] Công trình này đã chỉ rõ sự lãnh đạo kinh tế của

tỉnh ủy trong phạm vi một tỉnh vừa thực hiện nhiệm vụ của Trung ương trên địa

bàn tỉnh, vừa phát triển kinh tế địa phương, đồng thời thông qua các huyện ủy,

đảng ủy trực thuộc chỉ đạo đến cơ sở Tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện bố trí chiến lược

kinh tế của Trung ương trên địa bàn tỉnh; lãnh đạo việc thực thi chính sách, pháp

luật của Nhà nước trên địa bàn tỉnh; khai thác nguồn lực địa phương, phát huy nội

lực, tranh thủ các nguồn lực đầu tư từ bên ngoài, góp phần thực hiện CNH, HĐH

trên địa bàn tỉnh; phát hiện nhân tố mới, nghiên cứu triển khai, thí điểm, tổng kết

và kiến nghị để có thể trở thành chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước

- Nguyễn Đức Minh (2000), “An ninh nông thôn trong chiến lược phát

triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay” [99] Các tác giả phân tích thực trạng

an ninh nông thôn, dự báo tình hình an ninh nông thôn, đề xuất các giải pháp cơ

bản đảm bảo an ninh nông thôn trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH Một

trong những giải pháp mà các tác giả đề cập đến để giữ vững an ninh nông thôn

là phải thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đảng, chính quyền cơ sở trong

sạch, vững mạnh

1.1.3 Luận án, luận văn

* Luận án tiến sĩ:

- Phạm Công Khâm (2000), “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã

vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long hiện nay” [84] Tác giả luận án đã

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 17

12làm rõ thêm cơ sở khoa học, nét đặc thù về vị trí, vai trò cấp xã và của đội ngũ

cán bộ chủ chốt cấp xã nói chung và ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng

trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Trên cơ sở phân tích thực trạng đội ngũ cán

bộ chủ chốt và công tác cán bộ, tác giả chỉ rõ mục tiêu, quan điểm và các giải

pháp khả thi để xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã đáp ứng được yêu cầu,

nhiệm vụ

- Bùi Văn Khoa (2005), “Xây dựng đội ngũ đảng viên ở nông thôn đồng

bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay” [85] Tác giả luận án đánh giá

thực trạng đội ngũ đảng viên và công tác xây dựng đội ngũ đảng viên ở nông

thôn đồng bằng Sông Cửu Long, đề xuất các giải pháp khả thi góp phần xây

dựng đội ngũ đảng viên ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long Những giải

pháp mà tác giả luận án đề xuất có giá trị tham khảo trong quá trình phát huy

tính tiền phong gương mẫu của người đảng viên trong phong trào xây dựng

NTM hiện nay

- Lê Tấn Lập (2007), “Sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong việc thực

thi quyền lực của nhân dân ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long” [86] Tác

giả luận án đã nghiên cứu về quyền lực của nhân dân, những đặc trưng quyền

lực của nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng và đề xuất những giải pháp nâng cao

hiệu quả lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn đồng bằng sông Cửu

Long Đặc biệt, luận án này làm rõ mối quan hệ giữa vai trò lãnh đạo của tổ

chức cơ sở đảng với việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở nông thôn

đồng bằng sông Cửu Long Những kết quả của luận án có giá trị tham khảo tốt

đối với quá trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của các tỉnh ủy trong sự nghiệp xây

dựng NTM hiện nay

- Nguyễn Dương Hùng (2008), “Kiện toàn hệ thống chính trị ở xã nhằm

thực hiện quyền làm chủ của nhân dân vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay”

[82] Luận án đã nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn quá trình kiện

toàn HTCT ở cấp xã vùng ĐBSH; mối quan hệ giữa việc kiện toàn HTCT ở cấp

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 18

xã với việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong khu vực Luận án đã đưa

ra giải pháp để kiện toàn HTCT cấp xã vùng ĐBSH

- Nguyễn Thị Tố Uyên (2012), “Các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Hồng

lãnh đạo đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai

đoạn hiện nay” [157] Luận án đã tổng quan được các công trình khoa học tiêu

biểu liên quan đến đề tài; phân tích, làm rõ được các khái niệm liên quan; khái

quát được chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của các tỉnh ủy vùng ĐBSH; tỉnh

ủy lãnh đạo đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn – khái niệm, nội

dung, phương thức lãnh đạo Luận án cũng đánh giá được thực trạng CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSH; thực trạng các tỉnh ủy vùng ĐBSH

lãnh đạo đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Những ưu, khuyết

điểm được tác giả đánh giá khá công phu, sát thực tế, phân tích sâu sắc nguyên

nhân của ưu, khuyết điểm, khái quát được 06 kinh nghiệm có giá trị lý luận và

thực tiễn cao Luận án đã đề xuất được mục tiêu, phương hướng và 07 giải pháp

tăng cường sự lãnh đạo các các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo đẩy nhanh CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020

* Luận văn thạc sĩ:

- Hồ Thái Sơn (2007), “Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo xây dựng nông

thôn mới từ năm 1996 đến năm 2005”[126] Trong công trình này, tác giả đã

làm rõ chủ trương xây dựng NTM của Tỉnh ủy Hà Tĩnh qua hai giai đoạn:

1996-2001 và 2001-2005 nhằm mục tiêu xây dựng nông thôn có cuộc sống ấm

no, hạnh phúc, văn minh, có nền sản xuất hàng hóa phát triển bền vững theo

hướng CNH, HĐH; có kết cấu hạ tầng phát triển; đảm bảo dân chủ, công bằng

xã hội, ổn định chính trị, QP, AN vững mạnh Tác giả làm rõ quá trình tổ chức

triển khai thực hiện chủ trương xây dựng NTM ở Hà Tĩnh gồm nhiều khâu:

thành lập ban chỉ đạo và xây dựng các tiêu chí NTM; tổ chức triển khai quán

triệt và tuyên truyền chủ trương xây dựng NTM; xây dựng đề án triển khai; tiến

hành kiểm tra, đánh giá xếp loại hằng năm Đặc biệt, tác giả đã khái quát kết quả

và rút ra 05 kinh nghiệm xây dựng NTM của đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh: nhận thức

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 19

14đúng đắn của các cấp ủy đảng về vị trí, vai trò xây dựng NTM là nhân tố quyết

định đến kết quả của quá trình lãnh đạo; các cấp ủy, chính quyền phải bám sát

đặc điểm, tình hình của nông thôn địa phương để đưa ra các biện pháp, tiêu chí

phù hợp; biết huy động, tranh thủ tất cả các nguồn lực, nhưng chú trọng phát

huy nội lực là yếu tố quan trọng để thực hiện xây dựng NTM thành công; phải

tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự quản lý, điều hành của chính

quyền và sự phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể; xây dựng đội ngũ cán bộ có

đạo đức cách mạng, có trình độ chuyên môn, năng lực thực tiễn là nhân tố ảnh

hưởng lớn đến sự thành công xây dựng NTM ở Hà Tĩnh

- Trịnh Đình Mao (2009), “Tỉnh ủy Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác giảm

nghèo cho nông dân giai đoạn hiện nay” [96] Tác giả đã làm rõ vai trò lãnh đạo

của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đối với công tác giảm nghèo cho nông dân, đề xuất giải

pháp tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đối với công tác

này Luận văn đã đề cập đến một nội dung lãnh đạo quan trọng của các tỉnh ủy

đối với sự nghiệp xây dựng NTM - lãnh đạo nâng cao thu nhập cho nông dân

Do đó, luận văn có giá trị tham khảo tốt trong quá trình triển khai nghiên cứu đề

tài luận án

- Bùi Văn Nghiêm (2012), “Tỉnh ủy Vĩnh Long lãnh đạo xây dựng nông

thôn mới trong giai đoạn hiện nay” [102] Tác giả trình bày quan niệm về xây

dựng NTM và Tỉnh ủy Vĩnh Long lãnh đạo xây dựng NTM Theo tác giả, xây

dựng NTM ở Vĩnh Long là tổng thể các hoạt động, các mặt công tác của cả

HTCT và toàn xã hội, trước hết là các tầng lớp nhân dân ở nông thôn, dưới sự

lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long, tiến hành cải tạo, nâng cấp toàn diện nông

thôn cũ, loại bỏ những yếu tố tiêu cực, lạc hậu, kế thừa và phát huy những yếu

tố tích cực, tiến bộ để quy hoạch, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ

thuật và HTCT ở nông thôn vững mạnh; thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã

hội, nâng cao đời sống mọi mặt cho cư dân nông thôn, bảo đảm QP, AN ở cơ sở;

làm thay đổi bộ mặt nông thôn cổ truyền nghèo nàn và lạc hậu thành NTM xã

hội chủ nghĩa (XHCN) văn minh, hiện đại, phát triển thích ứng với yêu cầu thị

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 20

trường trong nước và quốc tế Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long đối với xây

dựng NTM là tổng thể các hoạt động của Tỉnh ủy trong việc đề ra chủ trương,

nghị quyết về xây dựng NTM; lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức đảng và đảng viên,

tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết đó; bảo đảm

cho nghị quyết của Tỉnh ủy được thực thi thắng lợi trong thực tiễn, làm thay đổi

nông thôn Vĩnh Long từ nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển thành NTM XHCN

phát triển mạnh mẽ, giàu đẹp, văn minh Chủ thể lãnh đạo xây dựng NTM là

Tỉnh ủy Vĩnh Long Đối tượng lãnh đạo xây dựng NTM là các tổ chức, các lực

lượng, cán bộ, đảng viên và nhân dân với tư cách là chủ thể xây dựng NTM

Quá trình lãnh đạo của Tỉnh ủy bao gồm: ban hành chủ trương, nghị quyết,

quyết định những vấn đề về xây dựng NTM; lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức đảng

thuộc quyền, chính quyền và các tổ chức trong HTCT tổ chức thắng lợi nghị

quyết đó; tổ chức kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên thuộc quyền

thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy Mục tiêu lãnh đạo của Tỉnh ủy là xây dựng

thành công một NTM giàu bản sắc, văn minh, hiện đại theo định hướng XHCN

Đặc biệt, luận văn đã nêu lên những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo

của Tỉnh ủy Vĩnh Long đối với xây dựng NTM đến năm 2015 và tầm nhìn đến

2020: nâng cao nhận thức, trách nhiệm của Tỉnh ủy, của các cấp ủy, tổ chức

đảng và cán bộ, đảng viên, nhân dân trong tỉnh về xây dựng NTM; tiếp tục đổi

mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long đối với xây dựng

NTM; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long đối với công tác

quy hoạch, kế hoạch; huy động các nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -

kỹ thuật, giữ vững QP, AN, bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn; nâng cao

chất lượng các tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở

nông thôn; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương

- Nguyễn Quốc Thể (2012), “Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lãnh đạo xây dựng

nông thôn mới giai đoạn hiện nay” [132] Tác giả đã đưa ra các vấn đề lý luận

và thực tiễn về đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lãnh đạo xây dựng NTM, nêu ra khái

niệm và tám nội dung xây dựng NTM ở tỉnh Đồng Tháp Đồng thời, tác giả

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 21

16cũng đã khái quát được thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm trong suốt quá

trình xây dựng NTM ở đây; đề xuất 05 giải pháp cơ bản để tăng cường hơn nữa

sự lãnh đạo của đảng bộ tỉnh Đồng Tháp đối với quá trình xây dựng NTM

- Lê Văn Diến (2012),“Các huyện ủy ở tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo xây dựng

nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay” [47] Tác giả đã nêu ra quan niệm

niệm xây dựng NTM, 10 nội dung xây dựng NTM ở tỉnh Bắc Ninh; nội dung và

phương thức lãnh đạo của các huyện ủy ở tỉnh Bắc Ninh đối với xây dựng NTM

Đồng thời, tác giả đã đánh giá thực trạng và kết quả xây dựng NTM; ưu điểm và

hạn chế trong lãnh đạo xây dựng NTM của các huyện ủy ở tỉnh Bắc Ninh từ

năm 2005, đề xuất 05 phương hướng cơ bản để nâng cao sự lãnh đạo của các

huyện ủy ở tỉnh Bắc Ninh đối với quá trình xây dựng NTM

- Nguyễn Thị Giang (2013), “Tỉnh ủy Nghệ An lãnh đạo xây dựng nông

thôn mới giai đoạn hiện nay” [71] Tác giả trình bày khái niệm xây dựng NTM ở

tỉnh Nghệ An, làm rõ những đặc trưng về xây dựng NTM ở tỉnh Nghệ An, xây

dựng khái niệm Tỉnh ủy Nghệ An lãnh đạo xây dựng NTM, khảo sát thực trạng

NTM và thực trạng Tỉnh ủy Nghệ An lãnh đạo xây dựng NTM, để xuất 06 giải

pháp tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với xây dựng NTM ở Nghệ An

1.1.4 Bài viết trên các báo, tạp chí

- GS, TS Lê Hữu Nghĩa (2008), “Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam -

những vấn đề đặt ra và giải pháp” [101] Bài viết đã nêu thực trạng xây dựng

NTM ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và những vấn đề đặt ra từ thực trạng

xây dựng NTM Từ đó, tác giả đã nêu những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu xây

dựng NTM ở Việt Nam trong những năm tới

- Hồ Xuân Hùng (2011), “Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách

mạng lâu dài của Đảng và nhân dân ta” [80] Tác giả khẳng định: trong lãnh

đạo cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta luôn coi trọng xây

dựng nông thôn Nhưng, với Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05-8-2008 và bộ

tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ ban hành, vấn đề xây dựng NTM lần đầu tiên

được đề cập một cách cơ bản, toàn diện và sâu sắc, đáp ứng mong muốn của

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 22

17nhân dân và yêu cầu chiến lược xây dựng đất nước cơ bản thành nước công

nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Trong xu thế phát triển hiện nay,

không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu và

đời sống nông dân còn thấp Vì vậy, xây dựng NTM là một trong những nhiệm

vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Để đạt được mục

tiêu xây dựng NTM, tác giả cho rằng, trước hết cần thống nhất nhận thức về nội

dung, chức năng NTM XHCN Việt Nam, bao gồm: nội dung, chức năng NTM

XHCN Việt Nam và những biện pháp chủ yếu thực hiện các giải pháp của

Chương trình mục tiêu quốc gia về NTM Trong quá trình tổ chức cuộc vận

động xã hội về xây dựng NTM, phải nhận thức được vị thế chủ thể của người

nông dân (bao gồm cả vị thế chính trị, vị thế kinh tế); quyết định lựa chọn một

cách khoa học, sát thực tế với từng địa phương những nội dung, việc cần ưu tiên

làm trước; kiên trì, lâu dài hỗ trợ nông dân về khoa học - kỹ thuật, ứng dụng tiến

bộ khoa học vào nông nghiệp, nông thôn; đầu tư từ nhiều nguồn cho nông thôn;

hình thành "giá đỡ" để nông dân yên tâm sản xuất sản phẩm nông, lâm, ngư

nghiệp; tạo môi trường tốt nhất cho các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với

trình độ cư dân từng xã, làng, từng loại hình sản phẩm cây trồng, vật nuôi, làng

nghề , tính chất sản phẩm của từng dân tộc với mục tiêu tạo ra sản phẩm hàng

hóa có giá trị cao, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn; củng cố, xây dựng các tổ

chức xã hội vì lợi ích trực tiếp của chính cư dân nông thôn

- PGS, TS Vũ Văn Phúc (2011), Báo cáo đề dẫn Hội thảo khoa học “Xây

dựng nông thôn mới - những vấn vấn đề lý luận và thực tiễn” [110] Tác giả đã

hệ thống hóa những quyết sách chiến lược từ nông thôn, cho nông thôn vì sự

phát triển bền vững của nông thôn Xây dựng NTM trong chiến lược phát triển

của đất nước nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn toàn diện theo hướng hiện

đại, hiệu quả, bền vững và không ngừng chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của

nông dân là quyết sách cơ bản và toàn diện của Đảng ta Ngay từ những năm

đầu tiên, việc xây dựng NTM đã trở thành phong trào của cả nước, các nhiệm vụ

xây dựng NTM được đặt ở vị trí quan trọng trong các nghị quyết của đại hội

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 23

18đảng các cấp Phong trào này bước đầu đạt được những kết quả đáng khích lệ,

bên cạnh đó còn nhiều khó khăn, vướng mắc, cản trở trong xây dựng NTM Từ

đó, tác giả nêu lên một loạt các vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết trong quá

trình xây dựng NTM

- PGS, TS Nguyễn Sinh Cúc (2012), “Chương trình xây dựng nông thôn

mới sau hai năm thí điểm” [35] Tác giả tổng kết thực tiễn xây dựng NTM, nêu

rõ những kết quả bước đầu: mô hình xây dựng NTM đã hình thành trên thực tế

tại các xã điểm của Trung ương và địa phương; đã khẳng định chủ trương lấy xã

làm thí điểm xây dựng mô hình NTM là đúng đắn; xác định được cơ chế, chính

sách cần đổi mới (cơ chế, chính sách tài chính và quản lý xây dựng cơ bản các

kết cấu hạ tầng); nhận thức của các cấp, ngành và người dân về nông nghiệp,

nông dân, nông thôn được nâng cao Bên cạnh đó, việc thực hiện chương trình

này còn một số hạn chế, bất cập: mục tiêu chương trình đề ra chưa rõ ràng, các

tiêu chí quá cao; kết quả đạt được còn thấp so với mục tiêu và yêu cầu; bất cập

về vốn; nặng về phát triển kết cấu hạ tầng, chưa chú trọng phát triển sản xuất

tăng thu nhập, văn hóa và môi trường; các địa phương tập trung cho quy hoạch,

chưa có chuyển biến rõ rệt trong phát triển sản xuất; nhận thức về Chương trình

xây dựng NTM chưa thật đúng và chưa đầy đủ Từ đó, tác giả làm rõ thêm các

mục tiêu của Chương trình, kiến nghị các bộ, ban, ngành, địa phương có các văn

bản hướng dẫn việc tổ chức thực hiện; điều chỉnh một số nội dung và phân vùng

tiêu chí NTM, cần quan tâm nhiều hơn đối với các xã miền núi, vùng cao, vùng

đồng bào dân tộc thiểu số

- Tuấn Anh (2012), “Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước

trên thế giới” [3] Tác giả đã khảo sát kinh nghiệm xây dựng NTM thành công ở

một số quốc gia trên thế giới Mỹ phát triển ngành “kinh doanh nông nghiệp”,

Nhật Bản hình thành và phát triển mô hình “mỗi làng một sản phẩm”, Hàn Quốc

có “phong trào làng mới”, Thái Lan sử dụng “trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước”

để xây dựng NTM Việt Nam cần vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm thành

công của nước ngoài trong xây dựng NTM

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 24

- Trương Tấn Sang (2012), “Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông

thôn mới - những kết quả bước đầu và một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn”

[120] Bài viết đã nêu mục tiêu và quá trình triển khai chương trình xây dựng

NTM ở 11 xã điểm trong cả nước và những kết quả chủ yếu sau gần 3 năm thực

hiện Chương trình về các mặt: quy hoạch NTM; xây dựng kết cấu hạ tầng; về

phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân; về văn hóa, xã hội,

môi trường; về xây dựng HTCT vững mạnh vừa là mục tiêu, vừa là cơ sở bảo

đảm việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng NTM; về nguồn lực để thực hiện

chương trình Trên cơ sở tổng kết 3 năm xây dựng NTM, bài viết đã rút ra một số

kinh nghiệm chủ yếu: một là, phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, quán

triệt, tạo được sự thống nhất cao về nhận thức trong Ðảng, trong nhân dân các xã

về quan điểm, nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế chính sách của nhà

nước về xây dựng NTM để cả HTCT ở cơ sở và mỗi người dân hiểu rõ, từ đó

đồng tâm, chung sức, tự giác, chủ động tham gia; hai là, coi trọng công tác đào

tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ và tập huấn về kiến thức xây dựng NTM cho

đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ ở cơ sở xã, thôn, bản, những người

trực tiếp chỉ đạo thực hiện; ba là, mỗi địa phương phải căn cứ vào đặc điểm, lợi

thế và yêu cầu bức thiết của người dân, cần phát huy dân chủ rộng rãi, tiếp thu ý

kiến của nhân dân, có cách làm chủ động, sáng tạo, lựa chọn những nội dung bức

thiết cần làm trước, cần tập trung đầu tư, những nội dung có thể làm sau, cách

thức huy động nguồn lực tổng hợp, tạo ra sự liên doanh liên kết với các doanh

nghiệp, phân công thực hiện cho các tổ chức trong HTCT phù hợp với điều kiện

và đặc điểm cụ thể của từng xã, không rập khuôn, máy móc; bốn là, đa dạng hóa

việc huy động các nguồn lực cho xây dựng NTM; có sự chỉ đạo tập trung, sâu sát,

cụ thể, thường xuyên kiểm tra đôn đốc và thu hút được sự tham gia chủ động, tích

cực của cả HTCT và nhân dân trên địa bàn

- Nguyễn Văn Tạo (2012), “Đưa trí thức trẻ về nông thôn- một hướng đi

mới góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững” [129] Tác giả khẳng định, việc

đưa trí thức trẻ về đảm nhận những chức danh ở cấp xã tại các vùng nông thôn

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 25

20khó khăn, vùng sâu, vùng xa là một hướng đi mới góp phần củng cố HTCT cơ

sở, góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững Đội ngũ này năng động, nhiệt tình,

mong muốn vận dụng kiến thức đã được học tập vào cuộc sống, tuy nhiên họ

thiếu kinh nghiệm công tác, kinh nghiệm sống và hiểu biết văn hóa bản địa Cần

khắc phục những hạn chế của đội ngũ này, tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong

công tác, đời sống đồng thời cần phải kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động của

đội ngũ này

- Vũ Văn Ninh (2014), “Nhìn lại hơn 3 năm thực hiện Chương trình Mục

tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới: kết quả và một số bài học kinh nghiệm”

[105] Sau 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, cả

nước có 11,6% số xã đạt tiêu chí giao thông, 31,7% số xã đạt tiêu chí thủy lợi,

67,2% số xã đạt tiêu chí về điện; 14,9% số xã đạt tiêu chí về bưu điện; 30,2% số

xã đạt tiêu chí về chợ nông thôn, 21,9% số xã đạt tiêu chí về trường học; 45,9%

số xã đạt tiêu chí chuẩn quốc gia về y tế; 7,7% số xã đạt chuẩn về cơ sở vật chất

văn hóa, 30,1% số xã đạt tiêu chí về thu nhập… Tác giả đánh giá, quá trình xây

dựng NTM có 04 ưu điểm nổi bật: các cấp ủy, chính quyền và cả HTCT chủ

động, tích cực, sáng tạo triển khai thực hiện xây dựng NTM; phong trào xây

dựng NTM mạnh mẽ khắp cả nước; nhận thức của phần lớn cán bộ và người dân

về xây dựng NTM có chuyển biến rõ rệt; bộ mặt nông thôn ở nhiều nơi được đổi

mới, văn minh hơn Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra 04 hạn chế, vướng mắc trong quá

trình thực hiện xây dựng NTM: một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa

nhận thức đầy đủ về vai trò, ý nghĩa, nội dung của xây dựng NTM; nguồn vốn

đầu tư ngân sách cho Chương trình xây dựng NTM còn hạn chế; một số cơ chế,

chính sách và văn bản hướng dẫn thực hiện còn chậm được ban hành, việc sửa

đổi bổ sung còn chưa kịp thời; nhiều đề án tập trung vào xây dựng kết cấu hạ

tầng, chưa chú trọng đến những vấn đề phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập,

phát triển văn hóa, cải thiện môi trường… Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác

giả tổng kết năm bài học kinh nghiệm và đề xuất 07 giải pháp quan trọng nhằm

tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chương trình trong thời gian tới

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 26

- Hoàng Phó Dân (2014), “Phát huy vai trò của giai cấp nông dân và Hội

Nông dân Việt Nam trong xây dựng nông thôn mới”[46] Tác giả bài viết cho

rằng, giai cấp nông dân là chủ thể trong xây dựng NTM; Hội Nông dân Việt

Nam là trung tâm và nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng

NTM Trong thời gian tới, cần thực hiện 04 nhiệm vụ trọng tâm để phát huy vai

trò giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam trong xây dựng NTM

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

1.2.1 Các công trình nghiên cứu của Trung Quốc

Ở Trung Quốc có nhiều công trình nghiên cứu ở về vấn đề nông nghiệp,

nông dân, nông thôn; về xóa đói, giảm nghèo nông thôn; về xây dựng một số

vùng NTM; về vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng ở nông thôn , trong đó có các

công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:

- Dang Guoying (2006), “Agriculture, rural areas and farmers in China

(Nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở Trung Quốc)” [72] Tác giả nêu khái

quát chung về nông nghiệp, các vùng nông thôn và các trang trại ở Trung Quốc;

phân tích tình hình kinh tế và xã hội ở các khu vực nông thôn Trung Quốc; sự

thành thị hóa và sự luân chuyển dân số nông thôn ra thành thị và đưa ra một số

phương hướng phát triển xây dựng một số vùng NTM

- Trác Vệ Hoa (2008), “Lý luận và thực tiễn cải cách và phát triển nông

thôn Trung Quốc 30 năm” [74] Tác giả phân kỳ sự phát triển của nông thôn

Trung Quốc qua 30 năm thành bốn giai đoạn: từ năm 1978 đến năm 1984 là

giai đoạn đột phá cải cách nông thôn; từ năm 1985 đến năm 1991 là giai đoạn

thúc đẩy cải cách toàn diện nông thôn; từ năm 1992 đến năm 2001 là giai

đoạn cải cách nông thôn chuyển toàn diện sang thể chế kinh tế thị trường

XHCN; từ năm 2002 đến nay là giai đoạn mới tính toán tổng thể phát triển

thành thị và nông thôn, xây dựng NTM XHCN Tác giả khái quát những

thành tựu quan trọng và rút ra một số kinh nghiệm, đồng thời nêu lên một số

giải pháp thúc đẩy xây dựng NTM ở Trung Quốc

- Cát Chí Hoa (2009), “Từ nông thôn mới đến đất nước, con người” [73]

Cuốn sách tập hợp các bài nghiên cứu về thực trạng và biến động của nông thôn

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 27

22Trung Quốc trong công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn và lý luận,

nguồn gốc hình thành và đặc trưng của vấn đề "tam nông" ở Trung Quốc

- Chu Chí Hòa (2010), “Đổi mới công tác xây dựng Đảng ở nông thôn”

[75] Theo tác giả, công tác xây dựng Đảng ở nông thôn Trung Quốc phải đổi

mới về hàng loạt vấn đề như: cơ cấu tổ chức, công tác giáo dục, quản lý, giám

sát đảng viên, công tác lựa chọn, bổ nhiệm bí thư, tổ chức đảng thôn, phương

thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng Để đổi mới công tác xây dựng Đảng ở

nông thôn Trung Quốc, theo tác giả, phải đổi mới tu duy, nâng những biện pháp

có hiệu quả lên thành chế độ, đồng thời đổi mới chế độ theo sự biến động của

tình hình thực tế, đổi mới hình thức tuyên truyền, đổi mới cơ chế theo hướng

dân chủ, thông thoáng, khoa học, từng bước thực hiện chế độ hóa, tiêu chuẩn

hóa, quy trình hóa công tác xây dựng đảng ở nông thôn

1.2.2 Các công trình nghiên cứu của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào

- Phêngphavăn Đaophoncharơn (2005), “Về vấn đề nâng cao sử dụng vốn

đầu tư của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở Cộng hòa Dân

chủ nhân dân Lào” [66] Tác giả luận án đã hệ thống hóa và khai thác những nguyên

lý cơ bản về hiệu quả đầu tư; phân tích thực trạng đầu tư nhà nước vào lĩnh vực

KT-XH nông thôn Lào, từ đó đưa ra các giải pháp có tính khả thi về nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước trong phát triển KT-XH nông thôn ở Lào những

năm tới

- Kenglao Bliayao (2007), “Quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông

thôn Lào từ 1975 đến 2000” [21] Tác giả đã khái quát thực trạng phát triển

KT-XH nông thôn từ năm 1975 đến năm 1985; trình bày chính sách đổi mới, quá

trình thực hiện chính sách đổi mới và thành tựu phát triển KT-XH nông thôn

Lào trong những năm 1986-2000; nhận xét, đánh giá về quá trình phát triển

KT-XH ở nông thôn Lào trong những năm 1975-2000

- Xỉnxỏn Phunbunsỉ (2010), “Kinh tế nông thôn ở Cộng hòa Dân chủ

nhân dân Lào thời kỳ đổi mới” [112] Tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực

tiễn phải phát triển kinh tế nông thôn Lào trong thời kỳ đổi mới; phân tích thực

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 28

23trạng phát triển kinh tế nông thôn, đề xuất quan điểm, phương hướng, giải pháp

phát triển kinh tế nông thôn Lào trong thời gian tới

- Lachay Sinhsuvan (2011), “Đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông

thôn Lào hiện nay” [122] Tác giả khái quát lý luận và thực tiễn HTCT cấp cơ sở ở

nông thôn Lào, trình bày thực trạng, quan điểm, giải pháp đổi mới HTCT cơ sở ở

nông thôn Lào hiện nay

- Bunthoong Chitmani (2011), “Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo

xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay” [34] Tác giả nêu quan niệm

về NTM và chỉ rõ những đặc trưng cơ bản của NTM ở Cộng hòa Dân chủ nhân

dân Lào là nông thôn được quy hoạch lại, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ,

hiện đại; sản xuất, dịch vụ, giáo dục phát triển, đời sống vật chất của nhân dân

ấm no, đời sống văn hóa, tinh thần phát triển phong phú giàu bản sắc dân tộc; an

ninh trật tự ổn định; môi trường trong sạch, tươi đẹp Tác giả trình bày khái

niệm Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng NTM là hệ thống các

hoạt động của Đảng, từ đề ra đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng NTM

đến tổ chức thực hiện đường lối chủ trương, chính sách đó, nhằm cải tạo và xây

dựng, làm thay đổi nông thôn còn nhiều khó khăn, nghèo nàn, lạc hậu, chậm

phát triển hiện nay thành nông thôn XHCN năng động, phát triển mạnh mẽ, giàu

có, văn minh, hiện đại, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị quan

trọng của Đảng Tác giả làm rõ nội dung, phương thức, quy trình Đảng Nhân

dân cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng NTM Tác giả khái quát thực trạng Đảng

Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng NTM Từ đó, tác giả đề xuất

phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

Nhân dân cách mạng Lào đối với xây dựng NTM giai đoạn hiện nay

1.2.3 Các công trình nghiên cứu của một số nước khác

- “Israel’s Agriculture” (Nông nghiệp Ixraen) [133] Ixraen là một quốc

gia nhỏ bé (với diện tích 21.000 km²), nổi tiếng với khí hậu và địa hình phức tạp,

có nơi cận nhiệt đới nơi lại khô cằn, có khu vực thấp hơn mực nước biển 400 m,

lại có những vùng là đụn cát, gò đất phù sa… Hơn nửa, diện tích đất đai của

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 29

24quốc gia này là hoang mạc và bán hoang mạc, nửa còn lại là rừng và đồi dốc;

trong đó, chỉ 20% diện tích đất đai (khoảng 4.100 km²) là có thể trồng trọt

Ixraen đã không ngừng nghiên cứu, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong

nông nghiệp nhằm giải quyết nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp gia tăng

nhanh chóng Kết quả là, chỉ trong thời gian ngắn quốc gia này đã chuyển từ tình

trạng thiếu lương thực đến tự túc lương thực, thực phẩm và trong 5 năm gần

đây, giá trị sản xuất nông nghiệp luôn vượt con số 3,5 tỷ USD/năm, trong đó

xuất khẩu chiếm trên 20% Đất nước này luôn đi đầu trong ứng dụng khoa học

vào sản xuất nông nghiệp, đã trở thành một điển hình nông nghiệp của thế giới

Canh tác nhà kính được xem như một giải pháp công nghệ chìa khoá trong phát

triển nông nghiệp công nghệ cao của Ixraen Hệ thống tới tiêu hiện đại, tiết kiệm

tối đa nguồn nước như: tưới nhỏ giọt, sử dụng các van tự động, lọc nhiều tầng,

dùng vòi phun áp lực thấp và phun mưa loại nhỏ, nông dân tiết kiệm được 60%

lượng nước Toàn bộ các khâu từ canh tác đến thu hoạch, bảo quản, tiêu thụ hiện

nay ở Ixraen đều được áp dụng công nghệ thông tin Bên cạnh đó, công nghệ

bảo quản sau thu hoạch phát triển mạnh mẽ Sở dĩ nông nghiệp Ixraen phát triển

là do hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) Các ứng dụng R&D có định

hướng trong nông nghiệp đã được tiến hành tại Ixraen từ đầu thế kỷ 20, nguồn

kinh phí dành cho R&D chủ yếu thông qua các quỹ đầu tư mạo hiểm; từ nguồn

vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài Lĩnh vực nông nghiệp hiện nay của

nước này hầu như gắn chặt với sự liên kết 4 nhà (nhà nước, nhà khoa học, nông

dân và nhà doanh nghiệp) Chìa khóa của thành công này là nhờ các thông tin

hai chiều giữa bản thân các nhà khoa học và các nhà nông Thông qua mạng lưới

dịch vụ mở rộng nông nghiệp (và sự tích cực tham gia của nhà nông vào toàn bộ

tiến trình R&D), các vấn đề trong nông nghiệp được chuyển trực tiếp tới các nhà

nghiên cứu để kiếm tìm giải pháp Từ đó, các kết quả nghiên cứu khoa học cũng

được nhanh chóng chuyển tới đồng ruộng để thử nghiệm, thích nghi và điều

chỉnh Nhiều phát kiến khoa học và công nghệ về nông nghiệp của Ixraen được

xuất khẩu ra nước ngoài

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 30

1.3 KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ

CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN CẦN TIẾP TỤC

NGHIÊN CỨU

1.3.1 Kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố có

liên quan đến đề tài luận án

Có thể nói, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài

nước có liên quan đến xây dựng NTM và các tỉnh ủy lãnh đạo xây dựng NTM

nói chung, trong đó có các tỉnh ĐBSH, ở những phương diện và mức độ khác

nhau Các công trình nghiên cứu đó đã làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn

có liên quan đến đề tài nghiên cứu Cụ thể:

Về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng ĐBSH, các công trình nghiên

cứu đã khái quát một số đặc điểm chung của vùng ĐBSH và phân tích sự tác

động, ảnh hưởng của chúng đến đến đối tượng nghiên cứu riêng của từng công

trình Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đó không đi sâu phân tích ảnh

hưởng của đặc điểm địa - kinh tế, đặc điểm xã hội - nhân văn, đặc điểm an ninh,

quốc phòng đến quá trình xây dựng NTM ở địa bàn các tỉnh vùng ĐBSH

Về xây dựng NTM, đến nay, đã có nhiều bài viết được công bố trên các

tạp chí khoa học bàn về NTM với những quan niệm, đặc trưng khác nhau Các

bài viết này góp phần tổng kết quá trình thực hiện xây dựng NTM ở từng địa

phương và trên phạm vi cả nước, rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình triển

khai thực hiện; đề xuất các kiến nghị, giải pháp để thúc đẩy quá trình thực hiện

xây dựng NTM hiệu quả hơn

Về các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH, một số công trình đã góp phần làm rõ vai

trò, chức năng, nhiệm vụ của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đối với lĩnh vực nghiên

cứu của các công trình, đề tài Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình, đề tài nào

đề cập đến vai trò, trách nhiệm của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH trong lãnh đạo xây

dựng NTM

Về nội dung lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy, có thể khẳng định,

nội dung lãnh đạo xây dựng NTM của các cấp ủy đảng nói chung, các tỉnh ủy

nói riêng đã được nhiều công trình, bài viết đề cập ở các mức độ, nội dung,

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 31

26phạm vi khác nhau Cũng đã có một số luận án, luận văn đề cập đến nội dung,

phương thức lãnh đạo xây dựng NTM của tỉnh ủy (Vĩnh Long), của Đảng Nhân

dân cách mạng Lào Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào đề cập một cách

có hệ thống, tương đối đầy đủ về những nội dung lãnh đạo xây dựng NTM của

các tỉnh ủy vùng ĐBSH Đây vẫn là mảng vấn đề cần được đi sâu nghiên cứu

Về phương thức lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy, các giải pháp

tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đối với xây dựng NTM

Đây là mảng vấn đề đã được nhiều công trình đề cập ở các mức độ và phạm vi

khác nhau Cũng đã có luận án, luận văn bàn đến những giải pháp chủ yếu tăng

cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy (Vĩnh Long), Đảng Nhân dân cách mạng Lào đối

với xây dựng NTM Tuy nhiên, các giải pháp trên dành cho một chủ thể lãnh

đạo ở tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long và đối với Đảng Nhân dân

cách mạng Lào Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu, luận giải một cách

có hệ thống về những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy

vùng ĐBSH đối với xây dựng NTM

Tóm lại, các nghiên cứu nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với tác giả

trong việc triển khai nghiên cứu đề tài luận án, giúp tác giả tiếp cận hệ thống tư

liệu, nội dung nghiên cứu Tuy nhiên, đến nay, chưa có công trình, đề tài, bài

viết nào đề cập một cách cơ bản và có hệ thống về các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH

lãnh đạo xây dựng NTM

1.3.2 Những vấn đề luận án cần tập trung nghiên cứu

Một là, tiếp tục làm rõ các khái niệm công cụ có liên quan đến đề tài như:

NTM, xây dựng NTM; những đặc trưng của NTM; đặc điểm, tầm quan trọng

của xây dựng NTM ở vùng ĐBSH và phương thức xây dựng NTM ở vùng này

Hai là, làm rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo xây dựng NTM của

các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH

Ba là, xác lập và luận giải khái niệm, nội dung, phương thức, những vấn đề có

tính nguyên tắc và quy trình lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 32

Bốn là, đánh giá đúng thực trạng NTM và thực trạng các tỉnh ủy ở vùng

ĐBSH lãnh đạo xây dựng NTM; làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan của

thực trạng, rút ra những kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở

vùng ĐBSH

Năm là, dự báo những thuận lợi, khó khăn, xác định mục tiêu, phương

hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo xây dựng

NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đến năm 2025

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 33

Chương 2 CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY –

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CÁC TỈNH, TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI Ở CÁC TỈNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY

2.1.1 Khái quát về các tỉnh ở vùng đồng bằng sông Hồng

Hiện nay, vùng ĐBSH có 02 thành phố trực thuộc Trung ương và 09 tỉnh

Các tỉnh thuộc vùng ĐBSH bao gồm: Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh

Phúc, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình Theo Niên giám

thống kê của Tổng cục thống kê, tính đến ngày 31-12-2014, ĐBSH có số đơn vị

hành chính tương đối cao so với các vùng khác trong cả nước: 11 thành phố trực

thuộc tỉnh, 17 quận, 7 thị xã, 94 huyện, 400 phường, 120 thị trấn và 1.932 xã

Riêng 09 tỉnh ở vùng ĐBSH (không kể 02 thành phố Hà Nội, Hải Phòng) có 68

huyện, quận; 17 thành phố, thị xã; 266 phường, thị trấn và 1.385 xã (Phụ lục 1)

2.1.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiên các tỉnh ở vùng đồng bằng sông Hồng

Vị trí địa lý và địa hình, ĐBSH là khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc

với vùng Tây Bắc, giữa vùng núi phía Bắc với miền Trung Vùng này có địa

hình đa dạng, bao gồm đồng bằng, đồi núi, biển và rừng; có hệ thống sông ngòi

đa dạng chảy ra vịnh Bắc Bộ, phía Đông và Đông Nam là vùng biển rộng lớn

ĐBSH là một trong hai đồng bằng lớn nhất cả nước Hầu hết các tỉnh, thành phố

(trừ tỉnh Thái Bình và tỉnh Hưng Yên) thuộc vùng ĐBSH đều có đồi núi xen kẽ

châu thổ, thung lũng với những vùng đất trũng: Nho Quan (Ninh Bình), Chương

Mỹ, Mỹ Đức (Hà Nội), Bình Lục (Hà Nam)… Vùng này có nguồn tài nguyên

khá đa dạng, khí hậu thuận lợi, kết cấu hạ tầng khá phát triển… tạo ra những

điều kiện thuận lợi để phát triển KT-XH

Về khí hậu, các tỉnh vùng ĐBSH có khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới, nhiệt

độ không khí trung bình năm khoảng 22,5-23,5°C, lượng mưa trung bình năm

1.400-2.000 mm Điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho việc gieo trồng lúa nước,

các cây nhiệt đới khác, các cây ngắn ngày á nhiệt đới và ôn đới, làm cho cơ cấu

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 34

29cây trồng ở vùng này rất đa dạng, phong phú, nhiều loại cây có giá trị cao Bên

cạnh đó, mạng lưới sông ngòi dày đặc, chế độ thủy văn khá ổn định rất thuận lợi

cho tưới, tiêu, nuôi, trồng thủy sản

Về đất đai, thổ nhưỡng, vùng ĐBSH có nguồn tài nguyên đất đai nông

nghiệp với trữ lượng phù sa lớn do hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi

đắp Vùng có diện tích trồng cây lương thực đứng thứ hai trong cả nước, với

diện tích đạt 1242,9 nghìn ha Khả năng mở rộng diện tích của đồng bằng vẫn

còn khoảng 137 nghìn ha Quá trình mở rộng diện tích gắn liền với quá trình

chinh phục biển thông qua sự bồi tụ và thực hiện các biện pháp quai đê lấn biển

theo phương thức “lúa lấn cói, cói lấn sú vẹt, sú vẹt lấn biển” Tài nguyên sinh

vật các tỉnh trong vùng khá phong phú, với nhiều động, thực vật quý hiếm đặc

trưng cho giới sinh vật của Việt Nam Mặc dù các tỉnh trong vùng có các khu

dân cư và đô thị phân bố dầy đặc, nhưng giới sinh vật vẫn được bảo tồn ở các

vườn quốc gia Ba Vì, Cát Bà, Cúc Phương, Quất Lâm

Về tài nguyên khoáng sản, đáng kể nhất là tài nguyên đất sét, đặc biệt là

đất sét trắng ở Hải Dương, đá vôi, than nâu, khí đốt… Tài nguyên đất sét trắng ở

Hải Dương phục vụ cho phát triển sản xuất các sản phẩm sành sứ Tài nguyên đá

vôi ở Thủy Nguyên (Hải Phòng) đến Kim Môn (Hải Dương), dải đá vôi từ Hà

Tây (cũ) đến Ninh Bình chiếm 5,4% trữ lượng đá vôi cả nước, phục vụ cho phát

triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Tài nguyên than nâu ở độ sâu 200 m

đến 2.000 m có trữ lượng hàng chục tỷ tấn, đứng hàng đầu cả nước, hiện chưa

có điều kiện khai thác Ngoài ra, các tỉnh vùng còn có tiềm năng về khí đốt

Nhìn chung, khoáng sản của vùng ĐBSH không nhiều chủng loại và có trữ

lượng vừa và nhỏ, nên việc phát triển công nghiệp phụ thuộc nhiều vào nguồn

nguyên liệu từ bên ngoài

Về vùng biển, ĐBSH có một vùng biển rộng lớn, với bờ biển kéo dài từ

Thủy Nguyên (Hải Phòng) đến Kim Sơn (Ninh Bình) Bờ biển có bãi triều rộng

và phù sa dày là cơ sở nuôi, trồng thủy, hải sản, nuôi rong câu và chăn vịt ven

bờ Ngoài ra, một số bãi biển, đảo có thể phát triển thành khu du lịch như bãi

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 35

30biển Bãi Cháy, Đồ Sơn, huyện đảo Cát Bà, đảo Bạch Long Vĩ, đảo Cô Tô Bên

cạnh đó, các tỉnh vùng này còn có cảng biển lớn Hải Phòng, cảng nước sâu Cái

Lân và một số cảng ở các tỉnh ven biển

Bên cạnh sự ưu đãi của thiên nhiên, ĐBSH cũng thường xuyên chịu ảnh

hưởng của thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh… Theo dự báo, trong

những năm tới, ĐBSH sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, nhất là

vùng ven biển, đất sản xuất bị xâm nhập mặn… gây ra những khó khăn không

nhỏ đối với sản xuất và đời sống của nhân dân

2.1.2 Đặc điểm kinh tế các tỉnh ở vùng đồng bắng sông Hồng

Kinh tế các tỉnh vùng này đang chuyển dịch khá mạnh từ chủ yếu là sản

xuất nông nghiệp phục vụ nhu cầu lương thực của địa phương sang sản xuất

nông nghiệp hàng hóa, hàng hóa chất lượng cao và phát triển công nghiệp - xây

dựng, dịch vụ Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các tỉnh trong vùng thể

hiện khá rõ nét: tỷ trọng giá trị công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong tổng

GDP ở các tỉnh, nhất là ở các thành phố và các tỉnh gần Thủ đô Hà Nội, gần các

khu công nghiệp trọng điểm, ngày càng tăng Ở nhiều tỉnh, tỷ trọng giá trị nông

nghiệp trong tổng GDP đang giảm mạnh, lao động nông nghiệp ngày càng giảm

và có xu hướng chuyển dịch sang ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ

Vùng ĐBSH có diện tích trồng cây lương thực và tổng sản lượng lương

thực chỉ đứng sau vùng đồng bằng sông Cửu Long Tính chung trong cả nước,

năng suất nông nghiệp của các tỉnh vùng ĐBSH là cao nhất, vì các tỉnh vùng

này có trình độ thâm canh cao Bên cạnh lúa nước, hầu hết các tỉnh vùng này

đều trồng một số cây ưa lạnh, như: cây ngô đông, khoai tây, suhào, bắp cải, cà

chua và trồng hoa xen canh Ở một số địa phương, vụ đông đã được trở thành vụ

chính, đem lại hiệu quả kinh tế cao Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các

tỉnh trong vùng, cây lương thực luôn giữ địa vị hàng đầu với diện tích cây lương

thực khoảng gần một triệu ha, chiếm khoảng 14% diện tích cây lương thực của

cả nước Sản lượng lương thực chiếm gần 20% sản lượng lương thực toàn quốc

Nhìn chung, các tỉnh vùng ĐBSH tự đáp ứng được nhu cầu lương thực và đang

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 36

31đẩy mạnh xuất khẩu Tuy nhiên, việc đảm bảo an ninh lương thực của vùng chưa

vững chắc

Trong những năm gần đây, giá trị công nghiệp của các tỉnh trong vùng

tăng mạnh, trọng điểm là công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất

hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng và công nghiệp cơ khí Những sản phẩm công

nghiệp tiểu biểu của các tỉnh trong vùng là máy công cụ, động cơ điện, phương

tiện giao thông, thiết bị điện tử, hàng dệt kim, giấy viết, vật liệu xây dựng

Công nghiệp phát triển đã đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ phục vụ các khu

công nghiệp, khu chế xuất và ven đô, thành phố lớn, góp phần quan trọng vào

việc phát triển KT-XH, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân

Cùng với sự phát triển của công nghiệp, các ngành tiểu thủ công nghiệp

cũng phát triển khá mạnh mẽ, đa dạng, phục vụ nhu cầu sản xuất và đời sống

của nhân dân Các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp ngày càng nhiều chủng loại và

có chất lượng, có sức hấp dẫn không chỉ nội vùng, mà còn ở những vùng khác

trong cả nước, đem lại nguồn thu đáng kể cho nhân dân và địa phương Một

trong những đặc điểm nổi bật của vùng ĐBSH là có nhiều làng nghề truyền

thống với những sản phẩm nổi tiếng trong nước và trên thế giới, tiêu biểu như:

đúc đồng ở Vụ Bản (Nam Định) và ở Đại Bái, huyện Gia Bình (Bắc Ninh); rèn ở

Đa Hội, Tiên Du (Bắc Ninh); dệt lụa, xây dựng ở Nội Duệ (Bắc Ninh); sản xuất

đồ gỗ ở La Xuyên, huyện Ý Yên (Nam Định); chiếu cói ở Phát Diệm, huyện

Kim Sơn (Ninh Bình); gốm, sứ ở Bát Tràng, huyện Gia Lâm (Hà Nội)… Hiện

nay, các làng nghề truyền thống trong vùng có nhiều điều kiện thuận lợi để mở

rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh

tranh, khẳng định thương hiệu ở thị trường trong nước và trên thế giới

Kinh tế du lịch của vùng ĐBSH đang có chiều hướng phát triển tốt, trở

thành một trong thế mạnh đặc biệt trong quá trình phát triển KT-XH Các tỉnh

trong vùng có nhiều tiềm năng, thế mạnh về du lịch cảnh quan thiên nhiên, du

lịch di tích lịch sử, văn hóa, du lịch tín ngưỡng, tôn giáo, du lịch sinh thái…

Trên cơ sở đó, có thể xây dựng, phát triển các tuyến du lịch liên vùng

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 37

Cơ cấu kinh tế của các tỉnh trong vùng ĐBSH đang có sự chuyển dịch

đúng hướng, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ đang trên đà

phát triển và có triển vọng tốt Bên cạnh đó, vùng ĐBSH vẫn còn một số mặt

hạn chế và đang đứng trước những thách thức lớn: KT-XH phát triển chưa tương

xứng với tiềm năng; quy mô còn nhỏ, các ngành sản xuất với công nghệ hiện đại

chiếm tỷ lệ thấp, chưa tạo ra được tiền đề cho sự phát triển nhanh, bền vững

Một số loại thị trường hình thành chậm và chưa đồng bộ Kết cấu hạ tầng

KT-XH còn bất cập Công nghiệp, đô thị phát triển khá, nhưng còn mang tính tự

phát; môi trường bị ô nhiễm nặng Chưa hình thành được các vùng sản xuất

nông sản hàng hóa tập trung cho xuất khẩu, giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích

chưa cao Tỷ lệ lao động nông nghiệp thiếu việc làm còn lớn Đời sống của một bộ

phận nhân dân ở nhiều vùng nông thôn còn khó khăn Trình độ phát triển giữa các

địa phương trong vùng, giữa các tiểu vùng còn có sự chênh lệch đáng kể

Nhìn chung, vùng ĐBSH là một vùng kinh tế động lực quan trọng của cả

nước, bởi các hoạt động hoạt động tài chính, ngân hàng, xuất nhập khẩu, du lịch,

thông tin, tư vấn, chuyển giao công nghệ có ảnh hưởng đến mạnh mẽ đối với các

tỉnh, thành phố phía Bắc, thậm chí lan tỏa trong phạm vi cả nước (Phụ lục 2)

2.1.3 Đặc điểm chính trị các tỉnh ở vùng đồng bắng sông Hồng

Ở các tỉnh vùng ĐBSH, từ cấp tỉnh đến cấp xã đã hình thành HTCT đầy

đủ, bao gồm cả các tổ chức đảng, cơ quan chính quyền, MTTQ và các tổ chức

CT-XH

Nhân dân ở các tỉnh vùng ĐBSH có truyền thống yêu nước, hiếu học,

anh dũng, sáng tạo trong chiến đấu và lao động sản xuất Những truyền thống

tốt đẹp đó đang được phát huy mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới nhằm từng

bước tiến đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Nhân dân vùng này tin tưởng vào vai trò và năng lực lãnh đạo của các cấp ủy

đảng, gắn bó mật thiết với Đảng Sự gắn bó đó được thử thách, kiểm nghiệm

và khẳng định qua biết bao khó khăn, gian khổ, thách thức quyết liệt để đi

đến thắng lợi Tuy xảy ra một số "điểm nóng" về chính trị - xã hội (CT-XH) ở

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 38

33nơi này nơi khác, vào thời điểm này, thời điểm khác, nhưng nhìn chung, nhân

dân vùng này vẫn gắn bó mật thiết với Đảng Nhân dân tích cực tham gia xây

dựng Đảng thông qua các tổ chức CT-XH, cùng với Đảng đấu tranh kiên

quyết với những cán bộ, đảng viên không giữ vững được tư cách, phẩm chất

của người cộng sản; góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu

của các cấp ủy đảng, tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên của các tỉnh ở

vùng này

2.1.4 Đặc điểm văn hóa, xã hội các tỉnh ở vùng đồng bắng sông Hồng

Với bề dày lịch sử văn hóa hàng nghìn năm, nơi đây được coi là một trong

những cái nôi văn hóa của cả nước Sinh hoạt văn hóa của các tỉnh vùng này khá

phong phú Trước hết, là các loại hình nghệ thuật dân gian như chèo, tuồng, múa

rối nước, hát ả đào và đặc biệt là các loại dân ca như hát ví, trống quân, quan họ

Tiêu biểu nhất, tạo nên sắc thái độc đáo nhất của văn hóa truyền thống trong

vùng chính là dân ca quan họ tại các làng, xã ở Bắc Ninh, trở thành vốn văn hóa

vô cùng quý báu không chỉ của vùng, mà của cả nước Một hình thức khác tiêu

biểu cho sinh hoạt văn hóa dân gian của khu vực này là các lễ hội Có thể nói,

đây là nơi tập trung nhiều lễ hội nhất của cả nước, với nhiều hoạt động vừa có ý

nghĩa, vừa thú vị và sôi nổi Lễ hội tương đối đa dạng Có những lễ hội liên

quan đến sản xuất nông nghiệp, có những lễ hội liên quan đến các danh nhân và

di tích lịch sử, lại có những lễ hội gắn với sinh hoạt văn hóa của người dân và

những lễ hội gắn với đời sông tâm linh, tín ngưỡng Quy mô của các lễ hội cũng

thay đổi đa dạng, từ thu hút cả một vùng đến một vài làng hoặc thậm chí chỉ

người dân trong một làng (hội làng) Hầu như bất kỳ một làng quê nào trong tiểu

vùng cũng có lễ hội Lễ hội (đặc biệt là hội làng) là một sinh hoạt cộng đồng tiêu

biểu, nhằm biểu dương và làm tăng thêm sức mạnh cộng đồng trong việc giữ

làng, giữ nước

Theo điều tra dân số vào thời điểm ngày 01-4-2011, dân số của toàn vùng

ĐBSH là 19.883.325 người, chiếm 22,7% dân số cả nước Ở nơi đây có nhiều

dân tộc sinh sống, trong đó người Việt (Kinh) là chủ yếu, ngoài ra còn có các

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 39

34dân tộc thiểu số như: Dao, Cao Lan, Sán Dìu, Tày, Nùng, Hoa, Mường Người

dân tộc thiểu số chiếm tỷ rất nhỏ so với tổng số dân toàn vùng và so với người

Kinh Đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tập trung ở các huyện như: Lập

Thạch (Vĩnh Phúc), Hải Hà (Quảng Ninh), Nho Quan (Ninh Bình) Trong

những năm qua, mặc dù tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong vùng giảm mạnh, nhưng

mật độ dân số vẫn cao nhất nước (934 người/km2), gấp 3,7 lần so với bình quân

cả nước, gấp 2,14 lần so với vùng đồng bằng sông Cửu Long, gấp 8 lần so với

các tỉnh miền núi và trung du phía Bắc và gấp hơn 10 lần so với Tây Nguyên

Dân cư đông, một mặt là lợi thế đặc biệt của vùng này, bởi vừa tạo ra thị trường

sức mua lớn, vừa tạo ra nguồn lao động dồi dào, có chất lượng tốt, nhưng mặt

khác, làm cho diện tích đất canh tác bình quân đầu giảm dần (hiện chưa đạt 450

m2/người)

Nguồn nhân lực dồi dào, phong phú và có chất lượng cao hơn so với các

vùng khác là một trong những đặc điểm nổi bật của các tỉnh vùng ĐBSH Ở

vùng này, tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng, các cơ sở nghiên cứu khoa

học Trình độ dân trí của vùng ngày càng được nâng cao, chất lượng nguồn nhân

lực ngày càng được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT-XH của

các tỉnh trong vùng

Trong tiến trình đổi mới, đời sống nhân dân trong vùng ngày càng được

cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhanh và giảm đáng kể Bên cạnh đó, một bộ

phận dân cư thuộc vùng sâu, vùng miền núi, hải đảo, dân tộc ít người còn gặp

khó khăn về đời sống vật chất và tinh thần Mặt khác, khoảng cách giàu, nghèo

giữa các bộ phận nhân dân có xu hướng gia tăng, nhất là giữa cư dân thành thị

và cư dân nông thôn

Về tình hình tôn giáo, tín ngưỡng, vùng ĐBSH là nơi phát triển nhiều tôn

giáo lớn ở nước ta như đạo Phật, Công giáo, đi theo là các công trình đình, chùa,

nhà thờ - đây vừa là nơi sinh hoạt tôn giáo vừa là điểm du lịch văn hóa… Ở

nhiều địa phương, tỷ lệ dân cư theo Công giáo rất đông như ở Nghĩa Hưng

(Nam Định), Kim Sơn (Ninh Bình)

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Trang 40

2.1.5 Đặc điểm quốc phòng, an ninh các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng

ĐBSH là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, xã

hội, ngoại giao, QP, AN của cả nước, nơi tập trung nhiều trung tâm lớn của phía

Bắc và cả nước như: Thủ đô Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của

cả nước; thành phố cảng Hải Phòng, cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc;

thành phố du lịch Hạ Long Vùng ĐBSH bao quanh Thủ đô, địa hình đa dạng,

có đồng bằng, đồi núi, duyên hải với 425 km bờ biển, hơn 3.000 đảo lớn nhỏ án

ngữ hướng biển Đông và Đông Bắc Tổ quốc, có điều kiện xây dựng thế trận che

chắn, hỗ trợ nhau ĐBSH có vị trí, vai trò rất quan trọng về an ninh, quốc phòng

Vùng này là địa bàn chiến lược của cách mạng, nơi bảo đảm an toàn cho các cơ

quan lãnh đạo cấp cao của Đảng Vùng ĐBSH là nơi tập trung nhiều cơ quan

đầu não, cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, nhiều khu công nghiệp, nên số

lượng mục tiêu cần bảo vệ nhiều, tính chất phức tạp, yêu cầu bảo vệ rất cao Nơi

đây là một trọng điểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của

các thế lực thù địch Bên cạnh đó, các nhóm đối tượng cơ hội chính trị ở Hải

Phòng, Hà Nội kết hợp với các nơi khác và lực lượng bên ngoài lợi dụng khiếu

kiện, đình công và các mâu thuẫn nội bộ khác để tuyên truyền, xuyên tạc, kích

động, chia rẽ chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Nhìn chung, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các tỉnh

vùng ĐBSH tuy được đảm bảo, song vẫn còn tiềm ẩn những yếu tố có thể gây

phức tạp xuất phát từ việc đền bù, giải phóng mặt bằng; tốc độ đô thị hóa khá

nhanh, tệ cờ bạc, rượu chè, các tệ nạn xã hội khác; thanh thiếu niên hư; hoạt

động của các thế lực lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng; tệ quan liêu, tham nhũng,

sách nhiễu dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên…

2.1.2 Các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng - chức năng, nhiệm

vụ, đặc điểm và vai trò

Theo Điều lệ ĐCSVN, tỉnh ủy là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa

hai kỳ đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Ban thường vụ tỉnh ủy tổ chức thực hiện

Luận văn thạc sĩ xây dựng

Ngày đăng: 19/01/2024, 10:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS Mai Ngọc Anh (2010), An sinh xã hội đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: An sinh xã hội đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: TS Mai Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2010
2. Nguyễn Thị Mai Anh (2003), Về vấn đề củng cố tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn, Tạp chí Cộng sản, (15) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề củng cố tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Anh
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2003
3. Tuấn Anh (2012), Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 09-02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới
Tác giả: Tuấn Anh
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản điện tử
Năm: 2012
4. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh
Nhà XB: Bắc Ninh
Năm: 2015
5. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020, Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam
Nhà XB: Hà Nam
Năm: 2015
6. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương
Nhà XB: Hải Dương
Năm: 2015
7. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020, Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
Nhà XB: Hưng Yên
Năm: 2015
8. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nam Định (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020, Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nam Định
Năm: 2015
9. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020, Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
Năm: 2015
10. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: Quảng Ninh
Năm: 2015
11. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Bình (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020, Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Bình
Nhà XB: Thái Bình
Năm: 2015
12. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020, Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
Nhà XB: Vĩnh Phúc
Năm: 2015
13. Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (2010), Kế hoạch số 435/KH-BCĐ ngày 20-9-2010 triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020, Hà Nội.Luận văn thạc sĩ xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 435/KH-BCĐ ngày 20-9-2010 triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020
Tác giả: Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w