Để quản lý và bảo vệ môi trường, bên cạnh các công cụ pháp luật, truyền thông, nhiều quốc gia đã sử dụng các công cụ kinh tế mang tính mềm dẻo hơn, trong đó sử dụng nhãn sinh thái được x
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT TIÊU CHÍ DÁN NHÃN SINH THÁI VÀ ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ÁP DỤNG CHO SẢN PHẨM NGÀNH CHẾ BIẾN HẠT ĐIỀU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN HẠT VIỆT -TỈNH BÌNH
DƯƠNG
Chuyên ngành : KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS LÊ THANH HẢI
Th.S: HỒ THỊ NGỌC HÀ Sinh viên thực hiện : BÙI THỊ HÕA VIÊN MSSV: 09B1080181 Lớp: 09HMT03
TP Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2011
Trang 2Nhãn sinh thái là một trong các biện pháp nhằm thông tin và giáo dục người tiêu dùng về các lợi thế môi trường của sản phẩm, đồng thời có thể tạo ra các áp lực đòi hỏi và khuyến khích đổi mới dẫn tới việc giảm các tác động môi trường trong sản xuất và tiêu thụ Liệu nhãn sinh thái có thể đóng góp cho việc giảm thiểu sự căng thẳng về môi trường hay không và giảm được bao nhiêu là việc cần được đặt
ra trước khi triển khai chương trình Các tác động của chương trình cấp nhãn sinh thái còn phụ thuộc rất nhiều vào sự liên quan và tầm quan trọng của các tiêu chí cấp nhãn sinh thái cũng như thị phần của sản phẩm được cấp nhãn sinh thái Nhãn sinh thái ở một chừng mực nhất định còn được dùng như một hình thức quảng cáo, một công cụ marketing có hiệu quả cho sản phẩm
Trước tình hình trên, nhiều quốc gia nhiều công ty, đã thay đổi chiến lược sản xuất, tạo ra những sản phẩm xanh, ít gây độc hại đến môi trường Cùng với đó là sự
ra đời của các tổ chức làm nhiệm vụ xây dựng tiêu chí, giám định và cấp nhãn sinh thái cho những sản phẩm thân thiện với môi trường
Để quản lý và bảo vệ môi trường, bên cạnh các công cụ pháp luật, truyền thông, nhiều quốc gia đã sử dụng các công cụ kinh tế mang tính mềm dẻo hơn, trong đó sử dụng nhãn sinh thái được xem là một biện pháp thuộc nhóm công cụ kinh tế nhằm khuyến khích người tiêu dùng và nhà sản xuất bảo vệ môi trường thông qua việc khuyến khích sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường Việc tiếp cận trên nhiều quốc gia đã có những quy định về nhãn sinh thái
Trang 3riêng cho mình và trên thực tế, nhãn sinh thái đã trở thành một trong những công cụ kinh tế quan trọng để quản lý môi trường trong các doanh nghiệp có định hướng sản phẩm góp phần thực hiện chiến lược phát triển bền vững
Được biết đến như một vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Dương là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thu hút nhiều nhà đầu tư trong
và ngoài nước, nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng phát triển công nghiệp và các dịch vụ đi kèm Tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế, hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo sự phát triển lâu dài, cân đối, bền vững trong tương lai
Đề tài “Nghiên cứu đề xuất tiêu chí dán nhãn sinh thái và đánh giá tiềm năng
áp dụng cho sản phẩm ngành chế biến hạt điều của Công ty cổ phần Hạt Việt tỉnh Bình Dương’’ sẽ góp phần nâng cao uy tín, khẳng định thương hiệu cho Công ty cổ
phần Hạt Việt nói riêng và tạo tiền đề cho việc áp dụng đại trà cho các doanh nghiệp khác có cùng ngành chế biến hạt điều trên địa bàn tỉnh Bình Dương, đồng thời góp phần vào công tác bảo vệ môi trường phục vụ mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương nói riêng và Việt Nam nói chung
2 Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu các cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng tiêu chí và đánh giá tiềm năng áp dụng nhãn sinh thái cho sản phẩm hạt điều nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký xin cấp nhãn sinh thái của các doanh nghiệp khi nhà nước tiến hành đánh giá chứng nhận Xa hơn nữa là nhằm nâng cao uy tín và giá trị thương hiệu của các công ty nói riêng và của tỉnh Bình Dương nói chung Khuyến khích việc sản xuất và tiêu dùng những sản phẩm thân thiện với môi trường, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội gắn với lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp Điều đó có nghĩa nhãn sinh thái là một lĩnh vực mà các lợi ích kinh tế - môi trường chủ yếu có thể được nhận qua việc khai thác mối quan tâm đến môi trường của người tiêu thụ sản phẩm
3 Nội dung nghiên cứu
Trang 4- Tổng hợp, tham khảo, kế thừa các nghiên cứu, tài liệu liên quan về công cụ nhãn sinh thái và đánh giá vòng đời sản phẩm
- Đánh giá vòng đời sản phẩm cho sản phẩm đối tượng
- Đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA) cho sản phẩm hạt điều
- Đề xuất các tiêu chí đánh giá cho sản phẩm hạt điều
- Khảo sát thực tế và thu thập dữ liệu về Công ty đối tượng và đánh giá thử nghiệm theo tiêu chí đã đưa ra
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập các số liệu, tài liệu có liên quan từ các sách, giáo trình nghiên cứu, báo cáo khoa học, trang thông tin điện tử
Phương pháp quan sát: Khảo sát thực tế tại một số nhà máy chế biến hạt điều để đánh giá vòng đời sản phẩm
Phương pháp đánh giá vòng đời sản phẩm: Đánh giá vòng đời sản phẩm là phân tích đầu vào, đầu ra cũng như tác động môi trường tiềm ẩn của hệ thống sản phẩm/dịch vụ trong suốt chu trình sống của nó để tìm hiểu rõ hơn mức độ tác động của nó đối với môi trường Phương pháp này được áp dụng để đề xuất các tiêu chí
cụ thể của nhãn sinh thái cho sản phẩm hạt điều
Phương pháp phân tích tổng hợp: Sau khi tiến hành việc khảo sát thực tế để thu thập số liệu cụ thể và phân tích tổng hợp các số liệu, tài liệu đã thu thập được từ
đó đánh giá khả năng xây dựng chương trình dán nhãn sinh thái cho sản phẩm
Phương pháp trao đổi ý kiến với chuyên gia: Trao đổi ý kiến với các chuyên gia có kinh nghiệm về nhãn sinh thái, tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Sản phẩm ngành chế biến hạt điều được lựa chọn làm đối tượng cho việc nghiên cứu đánh giá tiềm năng áp dụng nhãn sinh thái vì:
- Đây là loại dản phẩm được khá nhiều người biết đến trên thị trường
- Thương hiệu được gắn nhãn sinh thái sẽ có nhiều thuận lợi trong việc quảng
bá hình ảnh cho doanh nghiệp và tăng tính cạnh tranh Dễ dàng hòa nhập thị trường quốc tế
Trang 56 Ý nghĩa thực tiễn
Việc áp dụng nhãn sinh thái đã được thực hiện từ rất lâu trên thế giới Tuy nhiên, tại Việt Nam vấn đề này vẫn còn khá mới mẽ Cho đến thời điểm này, tại Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng, việc nghiên cứu xây dựng các tiêu chí liên quan đến việc áp dụng nhãn sinh thái cho sản phẩm ngành chế biến hạt điều vẫn chưa được thực hiện
Đề tài nghiên cứu giúp sản phẩm của các công ty có bước chuẩn bị tốt, đáp ứng phần nào các yêu cầu của tiêu chuẩn cấp nhãn sinh thái của các cơ quan chức năng khi ban hành và đánh giá Các sản phẩm của công ty dễ dàng đạt được tiêu chuẩn để được cấp nhãn sinh thái cho sản phẩm của mình Đáp ứng được xu thế phát triển chung của thế giới Điều này giúp các doanh nghiệp tăng thị phần tại thị trường nội địa, cũng như có thể xâm nhập vào những thị trường khó tính, đòi hỏi những sản phẩm hàng hóa không chỉ đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng mà còn đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, tạo tính cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các nước
Bên cạnh đó các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương có thể tham khảo
mô hình này để xây dựng chương trình nhãn sinh thái cho doanh nghiệp mình
7 Kết cấu đồ án
Gồm 4 chương, phần mở đầu và phần kết luận – kiến nghị
Chương 1: Tổng quan về nhãn sinh thái
Chương 2: Tổng quan về ngành chế biến hạt điều tại Việt Nam và Bình Dương Chương 3: Đề xuất tiêu chí dán nhãn sinh thái cho sản phẩm ngành chế biến hạt điều
Chương 4: Áp dụng dán nhãn sinh thái cho sản phẩm nhân hạt điều của Công ty Cổ Phần Hạt Việt
Chương 5: Đề xuất các giải pháp nhằm tiến tới đạt được nhãn sinh thái cho Công ty
Cổ Phần Hạt Việt
Trang 6CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NHÃN SINH THÁI
1.1 QUÁ TRÌNH RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÃN SINH THÁI
Từ những năm 1990, người tiêu dùng, đặc biệt là người tiêu dùng từ các nước Châu Âu và Mỹ đã bắt đầu quan tâm tới vấn đề môi trường khi đã ra quyết định mua một sản phẩm nào đó, và họ bắt đầu đặt ra yêu cầu về các sản phẩm mang tính
“thân thiện với môi trường” Chính nhu cầu này đã thúc đẩy các nhà sản xuất chú tâm đến việc tạo ra các sản phẩm “xanh” và dấy lên làn sóng nhãn sinh thái trên toàn thế giới
Nhãn sinh thái (hay cũng gọi là nhãn xanh, nhãn môi trường) có thể được hiểu
là các nhãn mác của sản phẩm, dịch vụ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng về
sự thân thiện với môi trường hơn so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại Nói một cách khác nhãn sinh thái là sự công bố bằng lời hoặc ký hiệu hay sơ đồ nhằm chỉ rõ các thuộc tính môi trường của sản phẩm và dịch vụ Qua đó, người tiêu dùng và khách hàng nắm bắt được nhiều thông tin hơn về các tác động của sản phẩm hoặc dịch vụ đối với môi trường và sức khoẻ con người và họ ngày càng có nhận thức cao hơn đối với những vấn đề môi trường Những lý do này làm cho ngày càng có nhiều người tiêu dùng muốn chuyển tải những nhận thức của họ sang sự thay đổi về
ý thức mua hàng cái mà người ta vẫn dùng là “người tiêu dùng xanh”
Trong những năm gần đây, con người không khỏi lo lắng về những tác động tiêu cực đối với môi trường trong quá trình tạo sản phẩm như cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí và các vấn đề tiềm ẩn mang tính toàn cầu như mưa axit, lỗ thủng tầng ôzôn ngày càng lớn, sự biến đổi lớn của khí hậu mà con người không thể lường trước được Các nhân tố này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, sức lao động của con người
Trong bối cảnh đó, nhiều nhà tiêu dùng đã có những hành động thiết thực để bảo vệ môi trường, làm giảm các tác động xấu đến môi trường bằng cách đưa ra yêu cầu và chỉ mua những sản phẩm mà họ cho rằng ít có hại cho môi trường và không hại đến sức khỏe của họ.Ví dụ như nhãn sinh thái châu Âu với biểu tượng bông hoa
Trang 7ra đời vào năm 1992, được áp dụng rộng rãi tại 27 nước thành viên liên minh Châu
Âu và một số nước khác, ảnh hưởng đến thói quen tiêu dùng của hơn 340 triệu người ở châu Âu Một cuộc nghiên cứu tại Đan Mạch vào năm 2004 cho thấy, người dân sẵn sàng trả thêm từ 10-17% để mua giấy vệ sinh và bột giặt có dán nhãn sinh thái thân thiện với môi trường Một dạng nhãn sinh thái rất phổ biến khác mà chúng ta có thể thấy rất nhiều ở thiết bị sử dụng điện như máy vi tính, ti-vi, tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng cho đến đèn huỳnh quang, đó là nhãn tiết kiệm năng lượng Energy star Để đạt được chuẩn này, các sản phẩm phải có một mức độ tiết kiệm năng lượng nhất định so với các sản phẩm thông thường Ví dụ đối với ti-vi là 30%, tủ lạnh là 15%, đèn huỳnh quang 75% so với đèn dây tóc… Các tòa nhà đạt chuẩn Energy star phải tiết kiệm ít nhất 15% so với các tòa nhà thông thường Một cuộc khảo sát khác tại Mỹ năm 2007 cho thấy có đến 62% người dân sẵn lòng trả tiền để mua sản phẩm có biểu tượng Energy star
Việc giới thiệu, quảng cáo sản phẩm tới người tiêu dùng được thể hiện dưới hình thức nhãn hiệu trên sản phẩm hoặc bao bì Để đảm bảo uy tín, các nhà sản xuất thường đưa sản phẩm của mình cho bên thứ ba cấp nhãn Các nước trên thế giới đã thành lập chương trình cấp nhãn, chuyên cấp nhãn hiệu theo yêu cầu này của nhà sản xuất, từ đó chương trình nhãn sinh thái ra đời
1.2 KHÁI NIỆM NHÃN SINH THÁI
Nhãn sinh thái là một danh hiệu của nhà nước cấp cho các sản phẩm không gây ra ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hoặc quá trình sử
dụng các sản phẩm đó
Nhãn sinh thái là khái niệm được hiểu theo nhiều cách khác nhau Tuy nhiên, khi nghiên cứu về những khái niệm liên quan đến tính thân thiện với môi trường của hàng hóa và dịch vụ, khái niệm nhãn sinh thái có những cách hiểu tương đối phổ biến như sau:
Theo tổ chức thương mại thế giới (WTO) và Ngân hàng thế giới (WB)
thì: Nhãn sinh thái là một loại nhãn được cấp cho những sản phẩm thoả mãn một số
tiêu chí nhất định do một cơ quan chính phủ hoặc một tổ chức được chính phủ uỷ
Trang 8nhiệm đề ra Các tiêu chí này tương đối toàn diện nhằm đánh giá tác động đối với môi trường trong những giai đoạn khác nhau của chu kỳ sản phẩm: từ giai đoạn
sơ chế, chế biến, gia công, đóng gói, phân phối, sử dụng cho đến khi bị vứt bỏ Cũng có trường hợp người ta chỉ quan tâm đến một tiêu chí nhất định đặc trưng cho sản phẩm, ví dụ mức độ khí thải phát sinh, khả năng tái chế, v.v…
Theo Mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu (GEN) định nghĩa: Nhãn sinh thái là
nhãn chỉ ra tính ưu việt về mặt môi trường của một sản phẩm, dịch vụ so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại dựa trên các đánh giá vòng đời sản phẩm
Theo Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO: Nhãn sinh thái là sự khẳng định, biểu
thị thuộc tính môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ có thể dưới dạng một bản công bố, biểu tượng hoặc biểu đồ trên sản phẩm hoặc nhãn bao gói, trong tài liệu
về sản phẩm, tạp chí, kỹ thuật, quảng cáo các hình thức khác
Dù hiểu theo phương diện nào, nhãn sinh thái là danh hiệu dành cho các sản phẩm ít có tác động tiêu cực đến môi trường trong tất cả các giai đoạn hoặc trong một giai đoạn vòng đời từ lúc khai thác nguyên nhiên liệu, đến sản xuất, đóng gói,
sử dụng và loại bỏ các sản phẩm đó Về bản chất, nhãn sinh thái là thông điệp truyền tải tính ưu việt đối với môi trường của sản phẩm nhằm khuyến khích nhu cầu tiêu thụ và cung cấp các loại sản phẩm, dịch vụ ít gây tác động tiêu cực đến môi trường, do đó thúc đẩy các quá trình cải thiện chất lượng môi trường
Mục tiêu chung của nhãn sinh thái là nhằm khuyến khích nhu cầu tiêu thụ và cung cấp các loại sản phẩm, dịch vụ ít gây tác động xấu đến môi trường, do đó có vai trò quan trọng trong thúc đẩy việc cải thiện môi trường
1.3 PHÂN LOẠI NHÃN SINH THÁI
Theo định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế ISO, có thể chia nhãn sinh thái thành 3 loại gọi tắt là loại I, loại II, loại III với các yêu cầu cụ thể được nêu trong bộ tiêu chuẩn ISO 14024:1999; ISO 14021: 1999; ISO 14025: 2000
1.3.1.Chương trình nhãn sinh thái loại I (ISO 14024):
Là chương trình tự nguyện, dựa trên các tiêu chí của bên thứ ba nhằm cấp chứng nhận uỷ quyền sử dụng nhãn môi trường cho các sản phẩm thể hiện được sự
Trang 9thân thiện với môi trường nói chung theo loại hình cụ thể dựa trên việc xem xét chu trình sống của sản phẩm
Việc dán nhãn phải được bên thứ ba công nhận (không phải do nhà sản xuất hay các đại lý bán lẻ thực hiện), dựa trên phương pháp đánh giá chu trình sống của sản phẩm (Chu trình sống là các giai đoạn kế tiếp và liên kết với nhau của một hệ thống sản phẩm, từ khi tiếp cận nguyên liệu thô hoặc từ khi phát sinh của các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho đến khi thải bỏ cuối cùng) Theo tiêu chuẩn này thì các sản phẩm phải đáp ứng được các yêu cầu khác nhau và thường phụ thuộc vào mức
độ khắt khe của tiêu chuẩn và vào cơ quan quản lý tiêu chuẩn
Đến nay, Nhãn loại I là loại được áp dụng phổ biến hơn cả, với khoảng trên 40 quốc gia tham gia với các tên gọi khác nhau như: Dấu Xanh (Green Seal) ở Mỹ; Sự lựa chọn Môi trường (Environmental choice); Biểu trưng sinh thái ở Canada; Oxtrâylia, Niu Di Lân ; Dấu sinh thái (Ecomark) ở Nhật; Ấn Độ ; Nhãn xanh (Green Mark/Label) ở EU; Hàn Quốc, Sigapo; Thái Lan
Bảng 1.1- Một số nước trên thế giới áp dụng chương trình nhãn sinh thái loại I
1 Đức Thiên thần xanh 1977
2 Canada Sự lựa chọn của môi trường 1988
3 Nhật Bản Nhãn sinh thái 1989
4 Các nước Bắc Âu Thiên nga trắng 1989
5 Mỹ Con dấu xanh 1989
6 Thụy Điển Sự lựa chọn tốt cho môi trường 1990
7 Ấn Độ Nhãn sinh thái 1991
8 Hàn Quốc Nhãn sinh thái 1992
9 Liên minh Châu Âu Bông hoa Châu Âu 1993
Nguồn: www.ecolabelindex.com
Tại 4 nước dẫn đầu là Mỹ, Canada, Nhật và Hàn Quốc, có khoảng 20 - 30% sản phẩm có hoạt động môi trường tốt nhất được cấp giấy chứng nhận nhãn môi trường
Trang 10loại I Tại Việt Nam, khái niệm "Nhãn môi trường" vẫn còn khá xa lạ với người sản xuất và người tiêu dùng
1.3.2.Chương trình nhãn sinh thái loại II (ISO 14021):
Nhãn môi trường kiểu II là sự tự công bố về môi trường mang tính chất thông tin Là giải pháp môi trường do các nhà sản xuất, nhập khẩu hoặc bất cứ ai khác được lợi nhờ công bố môi trường không có sự tham gia của cơ quan chứng nhận
Do nhà sản xuất hoặc các đại lý bán lẻ tự nghiên cứu, đánh giá và công bố cho mình, đôi khi còn được gọi là “Công bố xanh”, có thể công bố bằng lời văn, biểu tượng hoặc hình vẽ lên sản phẩm do nhà sản xuất hoặc các đại lý bán lẻ quyết định Công bố loại này phải đáp ứng được một số yêu cầu cụ thể như: phải chính xác và không gây nhầm lẫn, được minh chững và được kiểm tra, xác nhận, tương ứng với sản phẩm cụ thể và chỉ được sử dụng trong hoàn cảnh thích hợp hoặc đã định, không gây ra sự diễn giải sai… Còn đối với việc lựa chọn biểu tượng đặc trưng dựa trên cơ sở chúng đã được thừa nhận hoặc sử dụng rộng rãi, ví dụ như vòng Mobius, dùng cho các công bố về hàm lượng tái chế hoặc tái chế được
1.3.3.Chương trình nhãn sinh thái loại III (ISO 14025):
Nhãn môi trường kiểu III là chương trình tự nguyện được lượng hoá bằng các
dữ liệu về sản phẩm dưới các loại chỉ tiêu do Bên thứ ba có trình độ chuyên môn về sản phẩm định trước và dựa trên sự đánh giá chu trình sống của sản phẩm và được một bên thứ ba có trình độ chuyên môn khác xác nhận
Bao gồm các thông tin định lượng về sản phẩm dựa trên đánh giá chu trình sống của sản phẩm Mục đích chính là cung cấp dữ liệu môi trường được định lượng và có thể được dùng để thể hiện sự so sánh giữa các sản phẩm Cũng giống với nhãn kiểu I là việc công bố phải được bên thứ ba công nhận nhưng các thông số môi trường của sản phẩm còn phải được thông báo rộng rãi trong báo cáo kỹ thuật
Điểm chung của ba loại này là đều phải tuân thủ các nguyên tắc được nêu trong tiêu chuẩn ISO 14020: 1998 (TCVN ISO 14020:2000), trong đó kiểm soát mấu chốt các thông tin đưa ra phải khoa học, chính xác và dựa trên kết quả của quá
Trang 11trình đánh giá vòng đời sản phẩm, các thủ tục phải không cản trở cho hoạt động thương mại quốc tế
Trong cả ba loại nhãn sinh thái trên, thì nhãn sinh thái loại I có ưu thế hơn
cả, do có khả năng phổ biến rộng rãi, minh bạch, và độ tin cậy cao, dễ tạo ra thúc đẩy việc bảo vệ môi trường Trong thực tế, nhãn sinh thái loại I ngày càng chiếm ưu thế và được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng
1.4 MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC ÁP NHÃN SINH THÁI
1.4.1 Mục đích chung
Nhằm đảm bảo quyền lợi chung của cộng đồng thế giới, tạo nên môi trường sinh thái trong sạch, lành mạnh, từ đó tạo đà cho phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng sống cộng đồng
1.4.2 Mục đích cụ thể
Nhãn sinh thái cung cấp các thông tin rõ ràng về đặc tính môi trường, khía cạnh môi trường cụ thể của các sản phẩm hoặc dịch vụ Người tiêu dùng có thể sử dụng các thông tin trên trong việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ Bên cạnh đó, từ những thông tin môi trường giới thiệu, cộng đồng có thể thay đổi nâng cao kiến thức của mình về môi trường, về sự biến đổi thành phần tính chất môi trường dưới tác động của con người, đến hoạt động của hệ thống kinh tế, từ đó có những hành động đúng đắn để bảo vệ môi trường
Mục đích của việc áp nhãn sinh thái là khuyến khích sản xuất và tiêu dùng những sản phẩm thân thiện với môi trường, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội gắn với lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp Điều đó có ý nghĩa nhãn sinh thái là một lĩnh vực mà các lợi ích kinh tế, môi trường chủ yếu có thể được nhân qua việc khai thác mối quan tâm đến môi trường của người tiêu thụ sản phẩm Nhãn sinh thái ra đời giúp cho người tiêu dùng nhận biết được những tính năng thân thiện với môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ, để từ đó đưa ra sự lựa chọn của mình Nếu sản phẩm được cấp nhãn sinh thái càng ngày càng được người tiêu dùng lựa chọn thì điều đó chứng tỏ nó đã khuyến khích các công ty thay đổi quá trình công nghệ nhằm đáp ứng được các tiêu chí môi trường và yêu cầu của
Trang 12người tiêu dùng, hay nói một cách khác là đạt được kết quả sản xuất và tiêu dùng bền vững
1.5 CÁC NGUYÊN TẮC KHI CẤP NHÃN SINH THÁI
Khi tiến hành một chương trình dán nhãn môi trường cho một sản phẩm, cần phải đảm bảo theo các nguyên tắc chung là:
- Chương trình cấp nhãn sinh thái phải được xây dựng và quản lý theo nguyên tắc tự nguyện
- Công bố môi trường và nhãn sinh thái phải chính xác có thể kiểm tra xác nhận được, thích hợp không hiểu lầm
- Nhãn sinh thái không được gây hiểu nhầm hoặc khó hiểu Do đó nhãn sinh tái phải đơn giản, dễ hiểu những điểm về nội dung khi được công bố phải rõ ràng, biểu tượng biểu đồ không được phức tạp
- Việc công bố phải dựa trên phương pháp luận khoa học hoàn chỉnh, để chứng minh cho các công bố và tạo kết quả chính xác
- Thông tin về chuẩn cứ, phương pháp luận để chứng minh nhãn phải sẵn có
và cung cấp khi có yêu cầu từ bên hữu quan
- Tính đến các khía cạnh môi trường liên quan đến chu trình sống của sản phẩm khi công bố
- Không gây kìm hãm sự đổi mới về việc cải thiện kết quả hoạt động về môi trường
- Hạn chế tối thiểu các yêu cầu mang tính hành chính hoặc các đòi hỏi không hợp lý trong việc sử dụng nhãn
- Quá trình xây dựng chuẩn cần có sự tham gia của các bên hữu quan
- Bên đưa ra nhãn môi trường hoặc công bố môi trường phải sẵn có cho khách hang về khía cạnh môi tường của sản phẩm và dịch vụ tương ứng với nhãn môi trường hoặc công bố môi trường đó
1.6 LỢI ÍCH CỦA VIỆC CẤP NHÃN SINH THÁI
1.6.1 Lợi ích đối với môi trường
Trang 13Việc áp dụng nhãn sinh thái đã phả ánh những lợi ích với môi trường gắn với quá trình sản xuất phân phối, tiêu dung và loại bỏ sản phẩm Điều này thể hiện ở chỗ, nhãn sinh thái cho phép tạo điều kiện phát triển nguyên liệu thân thiện hơn với môi trường và quá trình phân phối, tiêu dùng sẽ tự loại bỏ những sản phẩm chưa dán nhãn sinh thái, góp phần làm cho môi trường ngày càng cải thiện hơn
1.6.2 Lợi ích đối với chính phủ
Chính phủ với tư cách là một chủ thể tiêu dùng, đặc biệt trong nền kinh tế cũng có những lợi ích do việc dán nhãn sinh thái mang lại Đối với quy định mua sắm của chính phủ phải đáp ứng yêu cầu “xanh’’, thì việc áp nhãn sinh thái đối với các sản phẩm sẽ giúp cho việc thực hiện các chương trình mua sắm của chính phủ được thực hiện hữu hiệu và dễ dàng hơn
Trường hợp khác, khi chính phủ với tư cách là một cơ quan hành pháp hay một
cơ quan pháp lý nhà nước, thì việc dãn nhãn có ý nghĩa rất lớn Giúp chính phủ quản lý tốt hơn về vấn đề môi trường quốc gia, quản lý tình hình lưu thông phân phối hàng hóa và dịch vụ trên thị trường, theo dõi việc chăm sóc sức khỏe của người dân, thực hiện tốt các mục tiêu mà nhà nước đề ra
1.6.3 Lợi ích đối với các ngành
Khi áp nhãn sinh thái, doanh nghiệp có được uy tín và hình ảnh tốt về việc thân thiện với môi trường, có trách nhiệm với môi trường Thông qua việc áp dụng nhãn sinh thái doanh nghiệp có thể quảng bá được những khía cạnh, lợi ích môi trường của sản phẩm
Hiện nay khách hàng ngày càng quan tâm và có nhiều hiểu biết tới môi trường các sản phẩm có nhãn sinh thái sẽ được ưu tiên lựa chọn so với những sản phẩm cùng loại mà không đáp ứng hay không có nhãn sinh thái
1.6.4 Lợi ích đối với người tiêu dùng
Nhãn sinh thái chính là một nguồn cung cấp thông tin mới cho khách hàng, giúp họ có những nhận biết, hiểu rõ hơn về môi trường, về những lợi ích do việc sử dụng sản phẩm có nhãn sinh thái mang lại Thông qua đó họ dần có thể ý thức được
Trang 14rằng những sản phẩn không in ấn họa tiết cầu kỳ lại mang những ý nghĩa lớn lao đối với môi trường, đối với sức khỏe con người
1.6.5 Lợi ích đối với doanh nghiệp
Một sản phẩm hoặc dịch vụ được cấp nhãn sinh thái tức là nó được công nhận
ở một mặt nào đó có ý nghĩa với môi trường Như vậy nó sẽ tác động vào người tiêu dùng Người tiêu dùng thông minh sẽ hiểu rằng sản phẩm được cấp nhãn sinh thái
có lợi cho môi trường và cho sức khỏe, do đó người ta sẽ có xu hướng sử dụng những sản phẩm này nhiều hơn Như vậy, nhãn sinh thái một mặt giúp cho doanh nghiệp tiêu thụ được sản phẩm hàng hóa trên thị trường, có cơ hội hội nhập cao hơn vào thị trường thế giới Đồng thời, nhãn sinh thái cũng giúp cho người tiêu dùng nhận ra rằng đây là sản phẩm tốt cho chính họ Cả hai bên người tiêu dùng và doanh nghiệp cùng có lợi Và như thế, đương nhiên về mặt xã hội thì nền kinh tế quốc gia được phát triển khi các doanh nghiệp phát triển tốt
Đặc biệt, trong quá trình hội nhập hiện nay nhãn sinh thái càng có ý nghĩa khi chúng tham gia vào các thị trường lớn và mạnh trên thế giới với những hàng rào kỹ thuật chặt chẽ Nhãn sinh thái làm cho các doanh nghiệp nhận thức ra được yêu cầu của việc nâng cao chất lượng, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mạnh hơn theo hướng phát triển bền vững
1.7 TÌNH HÌNH ÁP DỤNG NHÃN SINH THÁI
1.7.1 Trên thế giới
Vào những năm 90, người tiêu dùng trên thế giới, đặc biệt là người tiêu dùng ở nước Mỹ và các nước Châu Âu ngày càng quan tâm đến vấn đề môi trường và họ bắt đầu có nhu cầu về các sản phẩm xanh, sản phẩm được quảng bá là thân thiện với môi trường Điều này làm cho các nhà sản xuất quan tâm hơn đến sản phẩm xanh
Từ đó, sản phẩm xanh phát triển rộng khắp thế giới
Chương trình nhãn sinh thái ra đời do nhu cầu của người tiêu dùng trong nước
về những sản phẩm thân thiện với môi trường và nhằm cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin về sản phẩm đó Ví dụ: Chương trình nhãn sinh thái của EU,
“Thiên thần xanh’’ của Đức, “Sự lựa chọn môi trường” của Canada
Trang 15 Tại Đức
Đức được xem là một quốc gia đầu tiên thực hiện dán nhãn sinh thái cấp quốc gia cho các sản phẩm hàng tiêu dùng
Chương trình nhãn sinh thái “Thiên thần xanh” tại Đức đã được khởi xướng từ
năm 1977 nhằm khuyến khích người tiêu dùng mua và sử dụng các sản phẩm hàng hóa Các sản phẩm nằm trong chương trình được Ban giám khảo độc lập xem xét, xác nhận về sự phù hợp với môi trường so với các sản phẩm khác
Ở Đức việc gắn nhãn hiệu môi trường lên các sản phẩm dệt may đang trở nên rất quan trọng Nhãn hiệu quan trọng nhất là Oko – Tex Standar 100 Nhãn hiệu Oko – Tex được đưa vào sử dụng để đánh dấu các sản phẩm dệt có tác động tốt đến môi trường xét về hàm lượng nguyên liệu có nguy cơ độc hại Các sản phẩm phải thoả mãn giới hạn dành cho kim loại nặng, thuốc trừ sâu, Phooc-man-đe-hit và pentachlorophenon Đồng thời có thể không được phép sử dụng biôxit, carcinogenic hay thuốc nhuộm gây dị ứng Đối với nhãn hiệu này, khác hẳn với các nhãn hiệu khác được nhắc đến ở trên, tiêu chuẩn chỉ áp dụng với thành phẩm
Tại Pháp
Nhãn “ NF Environnement ’’ là nhãn sinh thái của Pháp được thiết lập từ năm
1992, đặc trưng là biểu tượng chiếc lá phủ lên trái đất
Nhãn hiệu này thể hiện sản phẩm có những tác động tới môi trường thấp hơn những sản phẩm cùng loại trên thị trường Những nhà công nghiệp mong muốn những cố gắng của họ về môi trường được nêu bật có thể tự nguyện sử dụng nhãn sinh thái trên sản phẩm của họ
Quá trình cấp phép được thực hiện trên cơ sở sự tiếp cận đa tiêu chuẩn, trong
phạm vi một số nhóm sản phẩm: sơn, túi rác có thể tái chế, nhớt ô tô
Trang 16như máy vi tính, sơn, giấy, Các nhãn sinh thái khác chỉ cấp cho một sản phẩm cụ thể, ví dụ: nhãn xanh của sản phẩm ô tô, nhãn sinh thái của sản phẩm máy tính,
“Con dấu xanh” là chương trình của một tổ chúc độc lập và phi lợi nhuận, với mục tiêu làm cho môi trường trong lành và sạch hơn thông qua việc xác định và thúc đẩy những sản phẩm và dịch vụ ít thải ra chất độc hại, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường
Trong những năm 80 của thế kỷ XX, sau nhiều năm không đạt kết quả trong việc bảo vệ môi trường, các thành viên của chiến dịch trách nhiệm xã hội và cộng đồng đối với môi trường đã nghiên cứu kinh nghiệm bảo vệ môi trường tại một số nước như Đức, Canada và đã đưa ra một cách tiếp cận mới trong việc bảo vệ môi trường Họ đã khởi xướng một chương trình cấp nhãn sinh thái Do đó “Con dấu xanh” được chính thức thành lập vào năm 1989, có chức năng cấp nhãn sinh thái cho những sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường
Tại Châu Âu (EU)
Thị trường Châu Âu có tiềm năng rất lớn về sản phẩm xanh, vì họ rất quan tâm đến việc quảng bá cũng như cung cấp thông tin, kiến thức về môi trường cho người dân của họ nói chung và người tiêu dùng nói riêng Theo kết quả nghiên cứu
có khoảng 40% người tiêu dùng tại Châu Âu trung thành với sản phẩm xanh và 75% người tiêu dùng sẵn sàng trả thêm chi phí cho sản phẩm xanh Cũng giống như nước Mỹ người tiêu dùng Châu Âu cũng không tin tưởng nhiều vào nhãn sinh thái hay những nhãn được công bố là thân thiện với môi trường, vì sản phẩm có nhãn sinh thái tràn ngập trên thị trường mà người tiêu dùng không biết nhãn nào thật sự
là nhãn thân thiện môi trường, không gây tác động xấu đến môi trường
Tháng 12 năm 1991, Hội đồng Bộ Trưởng môi trường của EU đã thông qua chương trình cấp nhãn sinh thái EU theo quyết định số 880/92(EEC) của hội đồng pháp luật để thúc đẩy việc thiết kế, sản xuất, bán và sử dụng sản phẩm xanh là những sản phẩm có những tác động đến môi trường được giảm nhẹ trong toàn bộ vòng đời sản phẩm và cung cấp cho người tiêu dùng thông tin về những sản phẩm xanh này Chương trình đã thu hút sự tham gia của 18 nước, trong đó có 15 nước là
Trang 17thành viên của EU bao gồm: Bỉ, Đức, Pháp, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Đan Mạch, Ireland, Vương Quốc Anh, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Áo, Phần Lan và 03 nước Nauy, Iceland, Liechtenstein Trong đó Đức là nước đầu tiên khởi việc dán nhãn sinh thái vào năm 1977
Nhãn sinh thái Châu Âu hay còn gọi là (nhãn sinh thái EU hay Nhãn hoa) là một nhãn hiệu sinh thái chính thức của Châu Âu, cấp cho những hàng hóa và dịch
vụ không bao gồm thực phẩm, đồ uống và dược phẩm Các sản phẩm có gắn biểu tượng hình bông hoa là dấu hiệu nhận biết sản phẩm mà những tác động đến môi trường được giảm hơn so với các sản phẩm cùng loại do những sản phẩm này đã đáp ứng được tập hợp tất cả các tiêu chí môi trường được công bố bởi các quốc gia thành viên EU
Càng ngày, người tiêu dùng càng quan tâm đến việc tiêu thụ các sản phẩm thân thiện với môi trường, nhưng việc xác định các sản phẩm nào thật sự mang bản chất “xanh” thì hoàn toàn không dễ dàng chút nào Nhãn môi trường với mục đích đem lại thông tin tốt hơn cho người tiêu dùng, các doanh nghiệp và các xí nghiệp vừa và nhỏ ở các quốc gia đang phát triển, chương trình dùng sản phẩm xanh nhằm thu hút các ngành công nghiệp khác áp dụng vào chương trình này
Tại Nhật
Trong những năm gần đây, người tiêu dùng ở nước Nhật nhận thức rất cao về
sự phát thải các chất thải ra môi trường, vì thế nhu cầu về sản phẩm có nhãn sinh thái có xu hướng tăng cao Theo thông kê, khoảng 60% người tiêu dùng có ý thức
về việc bảo vệ môi trường và nhiều công ty đã sử dụng sản phẩm xanh hay nhãn
sinh thái để tạo hình ảnh tốt cho công ty của mình
Tại Canada
Năm 1988, Canada bắt đầu một chương trình gọi là “Biểu trưng sinh thái’’ Chính phủ nước này đã lựa chọn các loại sản phẩm quan trọng dành cho việc đánh giá môi trường Tiêu chuẩn các nhóm sản phẩm này được xây dựng bởi ngành công nghiệp, các cơ quan của chính phủ và các tổ chức môi trường Tiêu chuẩn được xây dựng đảm bảo cho các sản phẩm giảm được những ảnh hưởng xấu đến môi trường ở
Trang 18mức tối thiểu Để có được “Biểu trưng sinh thái”, các sản phẩm phải đáp ứng được
các tiêu chuẩn mà chương trình đưa ra
Tại Öc
Hiệp hội cấp nhãn môi trường Úc đã xây dựng chương trình bao gồm nhãn môi trường và dịch vụ định giá sản phẩm với xu hướng tăng lợi nhuận thị trường cho các loại hàng hóa thân thiện môi trường Khẩu hiệu của chương trình: “Khuyến khích nhu cầu tiêu thụ và cung cấp hàng hóa nhằm giảm bớt áp lực cho môi trường cho toàn bộ vòng đời sản phẩm”
Tại Thái Lan
Chương trình “Nhãn sinh thái xanh” do Hội đồng doanh nghiệp phát triển bền vững của Thái Lan thành lập năm 1993 đến tháng 4 năm 1994, Viện môi trường Thái Lan hợp tác với Bộ công nghệ tiến hành thực hiện chương trình
Chương trình nhãn xanh Thái Lan áp dụng cho những sản phẩm và dịch vụ ( không bao gồm những lĩnh vực thực phẩm, nước uống và dược phẩm) đạt được các tiêu chuẩn đề ra
Tại Sigapore
Chương trình nhãn xanh của Singapore do Bộ thương mại Singapore thực hiện, bắt đầu từ tháng 5 năm 1992 Hiện nay Singapore đã chọn được 21 sản phẩm
để cấp nhãn xanh theo các tiêu chuẩn tương ứng
Nhãn sinh thái “Green Label’’ là một phần của kế hoạch quản lý môi trường toàn quốc của Singapore có tên gọi “Green Plan” Chương trình nhãn sinh thái
“Green Label” là một chương trình dán nhãn tự nguyện và được áp dụng đối với tất
cả những công ty của Singapore và công ty nước đạt được các tiêu chuẩn về sản phẩm đã công bố
Theo Bộ Môi trường Singapore: Nhãn sinh thái “Green Label” được thiết kế
để nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về những sản phẩm có tác động tới môi trường ở mức thấp hơn những sản phẩm cùng loại Thêm vào đó nhãn sinh thái khuyến khích các nhà sản xuất trả tiển cho những tác động môi trường mà sản phẩm
Trang 19của họ gây ra, đồng thời khuyến khích các nhà sản xuất thiết kế và cung cấp những
sản phẩm thân thiện với môi trường
Khi chương trình nhãn sinh thái được bắt đầu vào năm 1992, tiêu chuẩn công
bố được ban hành chỉ cho 5 loại sản phẩm Đến tháng 6 năm 1997, chương trình đã
xây dựng tiêu chuẩn cho 26 loại sản phẩm chia thành 10 nhóm Tháng 3 năm 1977,
đã có 702 sản phẩm của 137 nhà sản xuất khác nhau được dán nhãn sinh thái“Green
11
Nordic 5 countries
Thiên Nga trắng
2
Ustralia
Sự lựa chọn của môi trường
12
New Zealand
Sự lựa chọn của môi trường
Trang 206
Czech Republic
Nhãn sinh thái Sản phẩm thân thiện với môi trường
17
Hong kong
Nhãn xanh
Trang 21Nguồn: www.ecolabelindex.com
1.7.2 Tại Việt Nam
1.7.2.1 Mức đô quan tâm đến nhãn sinh thái
Người tiêu dùng
Theo kết quả điều tra của đề tài nghiên cứu khoa học “ Đánh giá hiệu quả của nhãn sinh thái tại thị trường Thành phố Hồ Chí Minh” cho thấy số người tiêu dùng chưa từng biết về nhãn sinh thái chiếm 54%, số người tiêu dùng biết nhưng không nắm rõ lắm về nhãn sinh thái chiếm 34%, số người không quan tâm chiếm 2% và số người tiêu dùng biết rõ chiếm 10% Qua kết quả điều tra trên chúng ta có thể thấy được sự quan tâm của người tiêu dùng đến nhãn sinh thái còn rất ít Điều này có thể
lý giải là do thị trường Việt Nam các sản phẩm có dán nhãn môi trường hầu hết được nhâp từ các nước Châu Âu và Châu Mỹ, các sản phẩm được dán nhãn không được tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng Mặt khác do mức sống
ở nước ta còn thấp mới được nâng lên trong vài năm gần đây nên khi mua sản phẩm
họ quan tâm về chất lượng và giá cả là trên hết
Trang 22Biểu đồ 1.1: Biểu đồ thơng tin về nhãn sinh thái ( Nguồn: [1] )
Doanh nghiệp
Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê đã cĩ 100 tổ chức doanh nghiệp được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn ISO 14001:1998, nhưng khái niệm “nhãn mơi trường” vẫn cịn quá xa lạ với người sản xuất và tiêu dùng, hiện nay vẫn cịn 100% các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam chưa nộp đơn xin cấp nhãn mơi trường bởi nhiều lý do như: tiêu chí cấp nhãn đưa ra quá cao, mức phí tham gia tương đối lớn, chương trình khơng mang tính bắt buộc Đã đến lúc chúng ta cần quan tâm đến vấn đề này để quá trình phát triển kinh tế của nước ta khơng phải trả giá cao cho các
hủy hoại mơi trường do chính chúng ta gây nên
Việc áp dụng nhãn mơi trường đang trong giai đoạn khuyến khích chứ chưa bắt buộc Hơn nữa do tính chất phức tạp của vấn đề cũng như trình độ phát triển sản xuất hàng hĩa trên cơ sở cơng nghệ của từng nhĩm quốc gia cịn cĩ sự cách biệt, nên việc áp dụng các loại nhãn này cần nghiên cứu thận trọng và xem xét đầy đủ mọi khía cạnh
1.7.2.2 Tình hình sử dụng sản phẩm thân thiện mơi trường
Cĩ thể nĩi, việc sử dụng các sản phẩm thân thiện với mơi trường đang là xu hướng chủ đạo của tiêu dùng thế giới Và hiện nay đang dần triển khai tại Việt
Biế t rõ Khô ng quan tâ m
Trang 23Nam Người tiêu dùng (NTD) hiện đại không chỉ muốn sử dụng sản phẩm chất lượng tốt mà còn muốn sản phẩm đó an toàn và thân thiện với môi trường Vì vậy, ngày càng có nhiều NTD sẵn sàng chi nhiều tiền hơn cho một sản phẩm cùng loại nhưng được sản xuất bằng công nghệ xanh từ nguồn nguyên liệu xanh Thực tế cho thấy, sản phẩm xanh có thể mắc hơn một chút trước mắt nhưng lại rẻ hơn nếu sử dụng lâu dài và sức khỏe được bảo vệ Ví dụ như khi mua một chiếc tivi có khả năng tiết kiệm điện chắc chắn sẽ mắc hơn tivi thường nhưng về lâu dài, số tiền điện phải đóng hàng tháng cũng sẽ được giảm đáng kể Hoặc như thay vì chọn nước uống đóng chai bằng nhựa thì họ cũng dần ưu tiên cho loại đựng trong chai thủy tinh bởi vừa có thể tái sư dụng vỏ chai, vừa bảo vệ sức khỏe
Xu hướng “người tiêu dùng xanh” (green consumer) đã hình thành nhận thức
và quan niệm mới trong sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường Khái niệm “người tiêu dùng xanh” được hiểu là NTD thân thiện với môi trường và thông qua xu hướng tiêu dùng, họ đang tạo ảnh hưởng tích cực làm thay đổi nhận thức về môi trường Ở Việt Nam, các nhà sản xuất và nguời tiêu dùng cũng đang hướng đến các sản phẩm xanh như: Chiến dịch xanh do Báo Sài Gòn Gải phóng phối hợp với Sở Công Thương TPHCM, Hợp tác xã Thương mại TPHCM (Saigon Co.op) thực hiện nhằm khuyến khích cộng đông mua và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp xanh, qua đó, thể hiện vai trò của mình trong công tác bảo vệ môi trường đang được triển khai rộng rãi trên khắch thành phố Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp NTD tiếp xúc được với các sản phẩm an toàn và chất lượng hơn từ phía các doanh nghiệp (DN) Ngoài ra, với “Giải thưởng Doanh nghiệp xanh” (do Bộ Tài nguyên - Môi trường, UBND TPHCM chủ trì, Báo SGGP phối hợp với Sở Tài nguyên – Môi trường TPHCM tổ chức) sẽ làm cho NTD an tâm khi
sử dụng sản phẩm do DN làm ra Nếu giữ ổn định và ngày càng làm tốt hơn để xứng đáng với giải thưởng đó thì uy tín của DN sẽ nâng cao
Một trong những thuận lợi mà các doanh nghiệp (DN) triển khai sản xuất các sản phẩm xanh chính là được NTD cũng như các nhà nhập khẩu tin tưởng hơn Khi
DN cam kết sản xuất sản phẩm xanh cũng có nghĩa là tăng cơ hội cạnh tranh so với
Trang 24sản phẩm khác khi xuất khẩu, góp phần nâng cao vi thế của sản phẩm Việt Nam ra thế giới Đối với các sản phẩm sử dụng trong nhà bếp ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe NTD, nhà sản xuất phải tự áp dụng tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất để cho ra đời những sản phẩm xanh Và dĩ nhiên sản phẩm xanh không chỉ được NTD trong nước lựa chọn mà còn gây được nhiều thiện cảm đối với các nước nhập khẩu, đặt biệt là
sự tin tưởng của các nhà bán lẻ tầm cỡ thế giới khi nhập hàng bán tại các kênh siêu thị
Bên cạnh đó, để xuất khẩu hàng hóa vào thị trường quốc tế, bắt buộc DN Việt Nam phải có các chứng nhận đạt tiêu chuẩn bảo vệ môi trường Thế nhưng, để có thể trụ vững và cạnh tranh được trên thị trường quốc tế thì ngoài ra việc sản phẩm phải đảm bảo chát lượng, giá thành thấp, việc thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường, sản phẩm đạt tiêu chí sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường là một yếu
tố rất quan trọng
1.7.2.3 Sự quan tâm và chính sách của nhà nước
Ngày 25 tháng 6 năm 1998, Bộ Chính Trị Ban chấp hành Trung Ương Đảng
ban hành chỉ thị 36/CT-TW về “ tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước’’ Quán triệt quan điểm chỉ đạo của
Đảng và cam kết của chính phủ Chiến lược quốc gia bảo vệ môi trường đến năm
2011 và định hướng đến năm 2020 được phê duyệt tại quyết định số 256/2003 TTg ngày 2 tháng 12 năm 2003 của Thủ tướng Chính Phủ Trong mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 thì có 80% cơ sở sản xuất, kinh doanh được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO 14001 Đồng thời, 100% sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu và 50%
QĐ-hàng hóa nội địa được cấp nhãn sinh thái theo tiêu chuẩn ISO 14024
Nhiều thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, trong đó có EU đã yêu cầu có nhãn sinh thái đối với hàng nhập khẩu
Ngày 5/3/2009, Bộ tài nguyên và Môi trường ra quyết định số BTNMT về chương trình cấp nhãn sinh thái hay chương trình nhãn môi trường xanh Việt Nam ( gọi tắt là nhãn xanh Việt Nam)
Trang 25253/QĐ-Ngày 13/12/2010, Bộ tài nguyên và Môi trường ra quyết định số BTNMT về việc phê duyệt tiêu chí nhãn xanh Việt Nam cho nhóm sản phẩm: Bột giặt (mã tiêu chí : NXVN 01:2010), Bóng đèn huỳnh quang (mã tiêu chí : NXVN 02:2010) và Bao bì nhựa tự phân hủy sinh học dùng gói hàng khi mua sắm (mã tiêu chí : NXVN 03:2010) Việc ban hành này đã tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất những nhóm sản phẩm này sớm xúc tiến để thực hiện đăng ký và lấy chứng nhận nhãn xanh Việt Nam, cũng như tạo tiền đề thực hiện cho các nhóm ngành hàng sản phẩm khác
2322/QĐ-Tính đến nay, Việt Nam đã có 02 doanh nghiệp được cấp thí điểm “ Nhãn xanh Việt Nam” Đó là sản phẩm: “Bột giặt Tide” của công ty Công ty TNHH Procter&Gamble Đông Dương và “Bóng đèn Huỳnh quang” của công ty Điện Quang đã được tổ chức công bố quyết định cấp thí điểm “ Nhãn xanh Việt Nam ’’ vào ngày 27/1/2011 tại Hà Nội.“ Nhãn xanh Việt Nam ’’ của 02 công ty này có giá trị đến ngày 18/01/2014 Việc cấp thí điểm Nhãn xanh Việt Nam cho hai doanh nghiệp đầu tiên cho hai doanh nghiệp rất có ý nghĩa vì nó liên quan đến khía cạnh cuộc sống thông qua sản phẩm thân thiện môi trường
Sản phẩm được gắn Nhãn xanh Việt Nam Công ty TNHH Procter&Gamble Đông Dương và công ty Điện Quang đã đáp ứng được các tiêu chuẩn về chất lượng
và những tiêu chí về môi trường Sử dụng sản phẩm được gắn Nhãn xanh Việt Nam chính là bảo vệ sức khỏe của người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và thể hiện trách nhiệm với xã hội
Việc cấp thí điểm Nhãn xanh Việt Nam cho hai doanh nghiệp đầu tiên cho hai doanh nghiệp rất có ý nghĩa vì nó liên quan đến khía cạnh cuộc sống thông qua sản phẩm thân thiện môi trường
Mục tiêu của Nhãn xanh Việt Nam là tăng cường sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường thông qua việc khuyến khích các mẫu hình sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường và xây dựng Nhãn xanh Việt Nam trở thành một thương hiệu mạnh, có uy tín trong hệ thống cấp chứng nhận trong nước, được nhìn nhận trong khu vực và thế giới [2]
Trang 261.7.2.4 Triển khai chương trình nhãn sinh thái
Hiện nay, nước ta đang xúc tiến xây dựng chương trình nhãn sinh thái cho các sản phẩm dịch vụ sau:
Nhãn Bông sen xanh
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống khách sạn nói riêng và xã hội nói chung về sử dụng hợp lý tài nguyên, năng lượng để bảo vệ môi trường, Vụ Khách sạn (Tổng cục Du lịch) đã lập dự án Chương trình Nhãn sinh thái “Bông sen xanh” cho các cơ sở lưu trú tại Việt Nam và đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt ngày 16/10/2009
Chương trình Nhãn sinh thái “Bông sen xanh” thực hiện việc phê duyệt đề cương Chương trình cho các khách sạn ở Việt Nam, triển khai các hoạt động nâng cao nhận thức và kiến thức của các khách sạn ở Việt nam trong quản lý và bảo vệ môi trường, xây dựng và ban hành các tiêu chí về nhãn sinh thái, hệ thống văn bản pháp lý đánh giá, chứng nhận và cấp nhãn… Tiếp đến, Vụ Khách sạn sẽ trực tiếp lựa chọn mẫu một số khách sạn hạng từ 3 - 5 sao ở 3 miền Bắc – Trung - Nam để thí điểm thực hiện Theo kế hoạch, đến năm 2011, sẽ triển khai áp dụng rộng rãi việc cấp Nhãn sinh thái cho các khách sạn ở Việt Nam
Bên cạnh đó, Vụ sẽ phối hợp xây dựng cơ sở dữ liệu về hệ thống các khách sạn được cấp nhãn sinh thái, liên kết dữ liệu chính thức với một số trang web về môi trường xanh của một số nước, tổ chức trong khu vực và trên thế giới, đồng thời, thực hiện chương trình tuyên truyền, quảng bá trên các ấn phẩm, báo chí, phổ biến lợi ích Nhãn sinh thái cho khách du lịch và tham gia mạng lưới nhãn sinh thái quốc
tế vào năm 2012
Trang 27
Hình 1.1: Mẫu biểu trƣng nhãn sinh thái Bông sen xanh
Nhãn tiết kiệm năng lƣợng
Ngày 16/11/2006 Bộ trưởng Bộ Công nghiệp đã ký ban hành Thông tư số 08/2006/TT- về việc hướng dẫn trình tự thủ tục đăng ký, đánh giá, cấp giấy chứng nhận và dán nhãn tiết kiệm năng lượng đối với các sản phẩm sử dụng năng lượng được lựa chọn hàng năm và là một nội dung quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Tuy nhiên, mục tiêu đầu tiên của DN khi dán nhãn tiết kiệm năng lượng (TKNL) là để người tiêu dùng phân biệt sản phẩm dán nhãn TKNL với những sản phẩm chưa dán nhãn, cũng như sự khác nhau giữa các sản phẩm của các DN Từ đó,
họ sẽ định hình cho mình hướng tiêu dùng phù hợp với mình nhất Theo đó khuyến khích doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu các thiết bị gia dụng như: thiết bị chiếu sáng, máy lạnh, tủ lạnh, máy giặt, nồi cơm điện, quạt điện dán nhãn năng lượng tự nguyện trước ngày 1/7/2011 Đến ngày 1/1/2013 thì việc dán nhãn này bắt buộc Nếu sản phẩm có hiệu suất năng lượng thấp hơn mức tối thiểu quy định sẽ không được lưu thông
Đối với các thiết bị văn phòng và thương mại như máy photocopy, bộ nguồn máy tính, tủ giữ lạnh thương mại và các thiết bị tiêu thụ năng lượng khác được khuyến khích dán nhãn năng lượng trước ngày 1/1/2014 và dán nhãn bắt buộc từ
Trang 28Tuy nhiên, với sự nhốn nháo của thị trường hiện nay, mục tiêu của các DN khó lòng đạt được Những sản phẩm “từa tựa” sản phẩm được chứng nhận TKNL rất đa dạng và khó kiểm soát chất lượng VN đã có đèn compact được chứng nhận
là sản phẩm TKNL thay bóng đèn sợi đốt với nhiều thương hiệu nổi tiếng như: Rạng Đông, Điện Quang, Philips Mặc dù vậy, “phiên bản” của những sản phẩm này tràn lan khắp thị trường, thậm chí, còn có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc Điều đáng sợ hơn nữa là chúng có sức cạnh tranh ngang ngửa với các sản phẩm cùng loại của VN Còn những sản phẩm TKNL “made in VN” hiện nay thường có giá cao hơn các sản phẩm khác cùng loại Tâm lý không chắc chắn về nguồn gốc xuất xứ, cộng với sự thiếu tin cậy về tính năng tiết kiệm điện khiến người tiêu dùng rơi vào tình thế “không biết đâu mà lần”, còn các DN thì cảm thấy oan ức
Hình 1.2: Mẫu biểu trƣng nhãn sinh thái tiết kiệm năng lƣợng
Trang 29CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHẾ BIẾN HẠT ĐIỀU TẠI
VIỆT NAM VÀ TỈNH BÌNH DƯƠNG
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHẾ BIẾN HẠT ĐIỀU TẠI VIỆT NAM
2.1.1 Tại Việt Nam
Vươn lên trở thành nước có sản lượng nhân điều xuất khẩu đứng đầu thế giới
từ năm 2006, là một tin vui, là đòn bẩy thúc đẩy cho ngành điều Việt Nam phát triển vươn lên Tuy nhiên, cũng là một thách thức và trọng trách nặng nề đang đè nặng lên vai: Làm sao cả người trồng điều, ngành điều, các cơ sở chế biến điều Việt Nam phải đổi mới phương thức canh tác - thu hoạch - chế biến - mở rộng thị trường mang thương hiệu điều sạch – bền vững cả về số lượng lẫn chất lượng, toả rộng thị trường năm châu Có như vậy, mới trụ vững nổi trong xu thế cạnh tranh, hội nhập và khẳng định vị thế vương quốc điều thế giới
Bên cạnh tình trạng thiếu nguyên liệu để sản xuất, ngành điều Việt Nam cũng đang trong tình trạng thiếu lao động Năng lực của người lao động còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành chế biến điều xuất khẩu Hiện nay, tổng số lao động ngành điều trên 300.000 người và số lao động này mới đáp ứng được 60% cho các doanh nghiệp chế biến điều và còn thiếu hơn 40% lao động cho ngành chế biến nông sản này Nguyên nhân chính dẫn đến thiếu lao động là do thu nhập thấp, nhiều công nhân hạt điều đã bỏ sang các ngành chế biến gỗ, thự phẩm, thuỷ sản, nhưng nơi có thu nhập đảm bảo cuộc sống cho họ hơn
Để ngành hạt điều Việt Nam có cơ hội tham gia sâu rộng hơn vào thị trường thế giới đồng thời khẳng định vị trí số 1 về xuất khẩu hạt điều, Hiệp hội điều Việt Nam đã xây dựng chiến lược phát triển bền vững đặc biệt chú trọng phát triển vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước
Theo Hiệp hội điều Việt Nam, hiện nay tổng công suất chế biến điều của Việt Nam đạt 731.700 tấn điều thô mỗi năm thì nguồn nguyên liệu chưa đáp ứng đủ 50%
Trang 30công suất chế biến Vì vậy, trong Quyết định số 39/2007/QĐ-BNN phê duyệt phát triển ngành điều đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Bộ NN&PTNT chủ trương: không mở rộng thêm công suất hay đầu tư thêm nhà máy mới, giảm dần các
cơ sở chế biến nhỏ bằng cách thành lập các công ty, tập đoàn có tiềm lực tài chính mạnh, trình độ công nghệ cao, tập trung đầu tư cùng nguyên liệu, tìm giống mới tăng năng suất, chất lượng sản phẩm để xây dựng cho hạt điều Việt Nam một thương hiệu mạnh trên trường quốc tế
Các tỉnh trồng điều trọng điểm vùng tại Đông Nam Bộ đã và Tây Nguyên đang thực hiện kế hoạch quy hoạch lại các vùng trông điều theo hướng chuyên canh
và thâm canh cây điều bằng các giống cao sản mới Hiện nay, năng suất trung bình cây điều trên trên cả nước vào khoảng 1 tấn/ha, nhưng với các dòng điều cao sản , nếu chăm sóc đúng kỹ thuật, điều kiện thổ nhưỡng phù hợp như một số vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, năng suất có thể đạt 3tấn/ha Phấn đấu đến 2015, diện tích trồng điều bằng giống cao sản mới đạt trên 50% tổng diện tích của khu vực, đưa diện tích trồng điều của cả nước tăng từ 350.000 ha lên 450.000 ha Năng suất bình quân của ngành điều cả nước sẽ đạt 1,4-2 tấn/ha nhằm đưa sản lượng điều thô lên 500.000, phấn đấu hoàn thành mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu hạt điều đạt
700 triệu USD vào năm 2015 và đạt 820 triệu USD vào năm 2020
Để đạt được mục tiêu trên, ông Nguyễn Thái Học, Chủ tịch thường trực Hiệp hội điều Việt Nam nhấn mạnh: Muốn xuất khẩu gia tăng về lượng và cả về giá trị thì yêu cầu đặt ra đó là: Các doanh nghiệp chế biến điều phải áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng quốc tế BRC, HACCP, GMP, ISO, ISO14000, đầu tư xây dựng thương hiệu ngành điều và thương hiệu doanh nghiệp để trở thành thương hiệu uy tín và thương hiệu mạnh ngành điều Việt Nam trên thế giới Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần tập trung nghiên cứu và đưa thiết bị cơ khí tự động, hiện đại phục vụ cho công nghiệp chế biến nhân điều và các sản phẩm sau nhân điều, phù hợp với yêu cầu của thị trường, tiếp thu đầu tư nghiên cứu giống điều cao sản, chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật cho người trồng, liên kết dọc giữa doanh nghiệp chế biến và người sản xuất, mục tiêu là tăng trưởng về năng suất và chất lượng sản phẩm”.[3]
Trang 31Ước tính cả nước có trên 200 DN chế biến hạt điều, nhưng mới chỉ có 20
DN đạt ISO 9001:2000 và HACCP Xuất Khẩu Hạt Điều Toàn quốc có 203 DN tham gia XK điều, nhưng các DN XK có quy mô, kim ngạch XK từ 5 triệu USD trở lên, chỉ có 38 DN Nhiều DN tổ chức XK không có nhà máy chế biến, khi thuận lợi tham gia, khi khó khăn thì bỏ Đây cũng là một trong những khó khăn chung của toàn ngành chế biến hạt điều tại Việt Nam
Bảng 2.1 - Tình hình sản xuất hạt điều thô trong những
năm qua và quá trình chế biến:
Năm Số lượng hạt điều sản
xuất trong nước (T)
Số lượng hạt điều nhập khẩu (T)
Tổng số lượng hạt điều đã chế biến (T) (1) (2) (3) (4)
(2), (3), (4): Hiệp hội Điều Việt Nam
(*) 1998: Năm đầu tiên Việt Nam nhập khẩu hạt điều thô và là năm đầu tiên Việt Nam được ghi nhận là nước có chế biến và xuất khẩu nhân điều
2.1.1.1 Tình hình sản xuất điều trong nước
Trang 32Diện tích hạt điều của Việt Nam hiện có 382 ngàn ha, trong đó Bình Phước là trên 156 ngàn ha (chiếm 40,85%), Đồng Nai - 49 ngàn ha và Đắk Lắk - 36,4 ngàn
ha Dự báo diện tích điều sẽ tiếp tục giảm trong 5 năm tới xuống còn 340- 350 ngàn
ha
Tại Hội nghị tổng kết hoạt động sản xuất và kinh doanh điều năm 2010 và triển khai kế hoạch năm 2011 diễn ra tại TP.HCM, Hiệp hội điều Việt Nam cho biết vụ điều năm nay sẽ đến trễ hơn 1 tháng, nghĩa là từ đầu tháng 4 mới vào vụ thu hoạch chính, và sản lượng sẽ không được mùa như dự kiến trước đó Hội nghị cho biết sản lượng điều vụ mùa năm 2011 ước đạt 300.000 tấn điều thô, giảm hơn 21 %
so với 380 ngàn tấn dự đoán trước đây Nguyên nhân khiến năng suất điều giảm là
do diện tích điều trồng tại nhiều nơi đã già cỗi, đang vào thời kỳ thoái hóa, đặc biệt
là tại các tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Cộng thêm vấn đề ảnh hưởng và tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết thay đổi như mưa trái mùa, hạn hán, sâu bệnh xuất hiện nhiều trên cây điều tại Đồng Nai và Bình Phước, hai tỉnh có diện tích trồng điều lớn nhất nước ta, nên sản lượng điều thu hoạch đã không đạt như dự kiến
2.1.1.2 Tình hình nhập khẩu hạt điều
Theo Hiệp hội điều Việt Nam (VINACAS) cả nước gần 390.000 ha điều được trồng tập trung nhiều nhất chủ yếu ở các tỉnh Đông Nam bộ như: Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai và vùng Tây Nguyên Mặc dù trong giai đoạn nền kinh
tế thế giới phục hồi chậm sau khủng hoảng tài chính nhưng tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu nhân điều năm 2010 của Việt Nam ước đạt trên 1 tỷ USD, cao nhất từ
trước tới nay
Với kết quả ấn tượng này, trong 4 năm liên tục (2006-2010) VN đã trở thành nước có số lượng và kim ngạch xuất khẩu nhân điều số 1 thế giới và giữ vững vị trí nước chế biến đứng thứ 2 thế giới sau Ấn Độ và đứng thứ 3 thế giới về năng suất và sản lượng sau Ấn Độ và bờ biển Ngà
Như vậy so với chỉ tiêu đề ra của Bộ NN-PTNT, ngành điều VN đã vượt cả 3 chỉ tiêu về sản lượng chế biến, sản lượng nhân điều xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu (vượt từ 27% đến hơn 52%) Tuy nhiên, các chỉ tiêu về diện tích cây điều,
Trang 33năng suất và sản lượng điều nguyên liệu cho chế biến còn thấp (đạt từ 60% đến hơn 87% chỉ tiêu)
Theo Cục Chế biến Nông lâm sản và Nghề muối ( Bộ NN & PTNT), hiện nay diện tích trồng điều cả nước đạt 433.000 ha với sản lượng thu hoạch 350.000 tấn điều thô mỗi năm Năm 2006, cả nước có 225 doanh nghiệp chế biến điều với gần
300 nhà máy, đã chế biến và xuất khẩu được 127.000 tấn nhân điều, thu về 504 tỷ USD Ngoài ra, các doanh nghiệp chế biến điều thường mạnh ai người nấy làm, không chú trọng phát triển vùng nguyên liệu bền vững đã đẩy rất nhiều doanh nghiệp chế biến điều đứng bên bờ vực phá sản do giá nguyên liệu bị đẩy lên quá cao Theo ông Nguyễn Hoàng Lưu, Phó Chủ tịch Hiệp hội các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam: “ muốn tăng năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế, các doanh nghiệp chế biến điều Việt Nam phải liên kết chặt chẽ với nhau để tạo ra sức mạnh tổng lực, thu hút nhiều vốn đầu tư, cải tiến dây chuyền sản xuất hiện đại để tạo ra sản phẩm chất lượng cao”
Mặc dù, hạt điều Việt Nam đã ngày càng khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế nhưng thực tế các doanh nghiệp sản xuất, chế biến xuất khẩu hạt điều đang phải đối mặt với những khó khăn thách thức Sau gần 15 năm phát triển, hạt điều chế biến Việt Nam chưa xây dựng được thương hiệu riêng Sản phẩm chủ yếu của ngành điều Việt Nam cũng mới chỉ dừng lại ở sản phẩm điều nhân Các doanh nghiệp kinh doanh chế biến điều chủ yếu có quy mô nhỏ dẫn đến làm giảm khả năng cạnh tranh của hạt điều Việt Nam trên trường quốc tế Tình trạng “ tranh mua” nguyên liệu vẫn đang tiếp tục diễn ra do nguồn nguyên liệu trong nước không
đủ đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất
2.1.1.3 Tình hình xuất khẩu hạt điều
Theo báo cáo thống kê của Tổng cục Hải quan, tháng 5 cả nước xuất khẩu 13.280 tấn hạt điều, thu về 105,12 triệu USD (tăng 17,3% về lượng và tăng 18,18%
về kim ngạch so với tháng trước đó); đưa tổng lượng hạt điều xuất khẩu 5 tháng đầu năm lên 53.609 tấn, trị giá 399,09 triệu USD (giảm 12,9% về lượng nhưng tăng 22,7% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 26,8% kế hoạch năm 2011)
Trang 34Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hà Lan luôn là 3 thị trường lớn nhất tiêu thụ hạt điều của Việt Nam Xuất khẩu hạt điều sang Hoa Kỳ tháng 5 tiếp tục tăng 12,99% so với tháng trước đó, đạt 31,12 triệu USD; đưa kim ngạch cả 5 tháng lên 124,83 triệu USD, chiếm 31,28% trong tổng kim ngạch, tăng 21,23% so với cùng kỳ
Xuất khẩu hạt điều sang Trung Quốc tháng 5 tăng 73,3% so với T4/2011, đạt 25,95 triệu USD; tổng cộng 5 tháng đạt 88,31 triệu USD, chiếm 22,13% tổng kim ngạch, tăng 97,84% so cùng kỳ Tháng 5 xuất khẩu sang Hà Lan tiếp tục tăng 5,36% so với tháng 4, đạt 13,16 triệu USD; đưa kim ngạch cả 5 tháng lên 55,32 triệu USD, chiếm 13,86% tổng kim ngạch, tăng 12,93% so cùng kỳ Tháng 5 các thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh trên 70% về kim ngạch so với tháng 4 là: Philippines (+99,66%); Trung Quốc (+73,3%) và Canada (+71,79%) Ngược lại, kim ngạch xuất khẩu sang Tây Ban Nha giảm mạnh nhất 83,88% so với tháng 4; sau đó là U.A.E (-43,4%); Nhật Bản (-36,7%); Anh (-35,14%)
Tính chung cả 5 tháng đầu năm 2011, trong số 23 thị trường xuất khẩu hạt điều, có một nửa số thị trường tăng trưởng dương và một nửa số thị trường tăng trưởng âm về kim ngạch so với cùng kỳ; trong đó xuất khẩu sang Singapore mặc dù không lớn, chỉ đạt 2,83 triệu USD, nhưng tăng cực mạnh tới 332,7% so cùng kỳ; tiếp sau đó là Trung Quốc tăng 97,84%, đạt 88,31 triệu USD; Đài Loan tăng 92,3%, đạt 4,97 triệu USD Tuy nhiên, xuất khẩu lại sụt giảm mạnh ở thị trường Pakistan và Tây Ban Nha với mức giảm tương ứng 61,97% và 40,5%
Bảng 2.2: Thị trường xuất khẩu hạt điều 5 tháng đầu năm 2011 (ĐVT: USD)
Thị trường Tháng 5/2011 5T/2011 % tăng
giảm KN T5/2011 so với T4/2011
% tăng giảm KN T5/2011 so với T5/2010
% tăng giảm
KN 5T/2011
so với 5T/2010
Tổng cộng 105.121.171 399.092.624 +18,18 +21,91 +22,77 Hoa Kỳ 31.119.827 124.832.208 +12,99 -2,57 +21,23 Trung quốc 25.945.377 88.307.637 +73,31 +134,78 +97,84
Hà Lan 13.158.351 55.316.749 +5,36 -6,89 +12,93
Trang 35Nguồn: Tổng cục Hải Quan Việt Nam
Mặc dù Việt Nam là quốc gia xuất khẩu điều chế biến đứng đầu thế giới hiện nay nhưng nguồn nguyên liệu cung cấp cho hoạt động chế biến và xuất khẩu không
đủ Sản lượng 293.180 tấn trong năm 2010 chỉ đáp ứng 60% nguyên liệu cho sản xuất; số còn lại phải nhập khẩu từ các nước châu Phi Hiệp hội Điều Việt Nam nhận định năm 2011 toàn ngành điều sẽ phải nhập khẩu khoảng 450 ngàn tấn điều thô nhằm đáp ứng nhu cầu chế biến trong nước Mục tiêu xuất khẩu của toàn ngành điều Việt Nam năm 2011 là 190.000 tấn điều nhân, với kim ngạch 1,4-1,5 tỷ USD, tăng khoảng 32% so với năm 2010
Bảng 2.3: Một số mặt hàng xuất khẩu sang các thị trường
có chương trình nhãn sinh thái STT Một số mặt hàng xuất
khẩu
Các thị trường xuất khẩu có chương trình
nhãn sinh thái
1 Thủy sản Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan,Australia, Trung
Quốc, Sigapore, Bỉ, Tây Ban Nha, Italy, Đan
Australia 6.468.710 27.502.087 -18,86 +22,36 +12,90 Nga 3.921.104 15.118.790 +7,15 +12,41 +6,77 Anh 2.258.409 10.054.060 -35,14 -38,79 -17,65 Canada 2.180.492 8.206.546 +71,79 +0,87 -27,06 Đức 1.823.460 7.116.273 -24,58 +25,80 +9,52 Thái Lan 2.065.037 6.187.521 +15,20 +2,34 -25,87 Đài Loan 2.104.885 4.971.823 +27,40 +89,31 +92,30 Italia 1.017.054 3.215.466 +23,09 +152,99 +27,70 Tiểu vương
quốc Ả Rập
thống nhất
534.005 2.987.529 -43,39 +203,45 -6,14
Singapore 287.898 2.828.500 -32,32 +25,87 +332,65 Nhật Bản 626.450 2.424.566 -36,70 +9,87 +37,50 Hồng Kông 343.655 2.152.707 -16,50 -28,88 -16,84 Tây Ban Nha 134.050 1.815.568 -83,88 -76,23 -40,51 Malaysia 331.248 1.474.120 -21,53 +20,85 +20,32
Trang 36Mạch, Phần Lan, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Áo
2 Dệt may Pháp, Đức, Hà Lan, Anh, Bỉ, Tây Ban Nha,
Italy, Đan Mạch, Phần Lan, Ireland, Luxembourg, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Mỹ,
7 Cà phê Pháp, Đức, Hà Lan, Anh, Bỉ, Tây Ban Nha,
Italy, Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan,Trung Quốc, Thụy Điển
Trang 372.2 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHẾ BIẾN HẠT ĐIỀU TẠI BÌNH DƯƠNG 2.2.1 Tình hình phát triển, kinh doanh, sản xuất
Bình Dương hiện có trên 50 cơ sở sản xuất chế biến hạt điều, ước tính trong 6 tháng đầu năm 2011, ngành chế biến nhân hạt điều tại Bình Dương tăng trưởng liên tục, mặc dù nguồn nguyên liệu đang khan hiếm nhưng các doanh nghiệp chế biến hạt điều tại Bình Dương vẫn cố gắng duy trì nguyên liệu cho việc ổn định sản xuất như: nhập khẩu nguyên liệu thô từ các nước trên thế giới: Bờ Biển Ngà, Ấn Độ và xuất khẩu nhân hạt điều 6 tháng đầu năm nay đạt 250 triệu đô la Mỹ nhưng Trung tâm tin học và thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự báo kim ngạch xuất khẩu nhân hạt điều của toàn tỉnh năm nay có thể đạt 400 triệu đô la
Các doanh nghiệp chế biến nhân điều trên địa bàn tỉnh phải kể đến như: Công
ty CP Hạt Việt, Công ty Thành Lễ, Xí nghiệp thu mua chế biến hàng nông sản Vĩnh Hòa , hầu hết các doanh nghiệp nằm đều trên các huyện như: Tân Uyên, Dĩ An, Bến cát Hằng năm các doanh nghiệp trên có giái trị kinh ngạch xuất khẩu cao, theo Tổng cục Thống kê, trong 06 tháng đầu năm nay, toàn tỉnh xuất khẩu được 80.000 tấn điều nhân, thu về 1,011 tỉ đô la Mỹ, tăng chỉ 7,3% về lượng nhưng tới 22,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái tăng 20% so với cùng kỳ năm trước Đây là thông tin đáng mừng trong tình hình khách quan không thuận lợi do ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu tác động Đồng thời nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp chế biến hạt điều phải luôn nỗ lực trong việc xúc tiến thương mại mở rộng thị trường mới, đầu tư thiết bị công nghệ và đa dạng mẫu mã sản phẩm, đặc biệt là có chiến lược hợp lý trong hoạt động sản xuất - kinh doanh phù hợp với tình hình khó khăn
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, tỉnh Bình Dương đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng nội địa đóng vai trò quan trong trong định hướng phát triển chung của toàn tỉnh, năm 2010 là năm đầu tiên kim ngạch xuất khẩu hạt điều của Bình Dương chạm mốc 300 triệu đô
la Con số này đã giúp ngành chế biến hạt điều tại Bình Dương giữ vững vị thế so với các tỉnh lân cận và mở ra một tiềm năng mới về ngành chế biến hạt điều chung
Trang 38của Bình Dương So với cùng kỳ năm 2009, xuất khẩu điều tăng gần 11% về lượng nhưng tăng tới 31,9% về giá trị Giá xuất khẩu nhân điều bình quân hiện đạt khoảng 6.600 USD/tấn, tăng 27% so với cùng kỳ năm trước
Bước sang năm 2011 mục tiêu xuất khẩu được ngành chế biến hạt điều Bình Dương đặt ra là thu về kim ngạch 400 triệu đô la, tăng khoảng 32% về giá trị so với năm 2010 "Đây là mục tiêu tương đối khó khăn trong bối cảnh nguyên liệu đầu vào
và lao động phục vụ cho chế biến xuất khẩu còn thiếu, sản phẩm chưa đa dạng và chi phí chế biến ngày càng tăng Ước tính cả nước có trên 200 DN chế biến hạt điều, nhưng mới chỉ có 20 DN đạt ISO 9001:2000 và HACCP
Ông Nguyễn Đức Thanh - quyền Chủ tịch Hiệp hội Điều VN - cho rằng: "Cần phải có chính sách kích cầu tiêu dùng trong nước, xuất khẩu hạt điều đảm bảo ít nhất 5% thị phần vào năm 2010, 10% thị phần năm 2015 và 20% thị phần năm 2020" Nhiều DN chế biến - XK điều đã kiến nghị: Cần phải tăng cường hơn nữa việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong chế biến - XK điều Nỗ lực đến năm
2015, phải có 20% số nhà máy và năm 2020, Xuất Khẩu Hạt Điều có 50% số nhà máy chế biến - XK điều đạt các tiêu chuẩn ISO, HACCP và RFC; đồng thời, cởi bỏ thuế nhập khẩu điều thô Đây là những chuẩn mực và điều kiện để hạt điều VN đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều sản phẩm được chế biến từ hạt điều có thể nói đến như: hạt điều rang muối, hạt điều chiên bơ, kẹo hạt điều, bơ hạt điều, với nhiều thành phần chất dinh dưỡng, giá cả phải chăng phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân
2.2.2 Hiện trạng công tác bảo vệ môi trường ở các cơ sở chế biến hạt điều
ở Bình Dương
Bảng 2.4: thông tin điều tra tổng hợp ngành chế biến hạt điều
2 Tổng số doanh nghiệp có giấy phép môi trường 31 65.96
3 Tổng số doanh nghiệp có phát sinh chất thải rắn nguy hại 35 74.47
Trang 394 Tổng số doanh nghiệp có hợp đồng xử lý chất thải rắn nguy
5 Tổng số doanh nghiệp có giấy đăng ký chủ nguồn thải và
chất thải nguy hại
6 Tổng số doanh nghiệp có phát sinh nước thải/ có hệ thống
xử lý nước thải/ đã nghiệm thu hệ thống xử lý nước thải
47/24/6 100/51.06/25
7 Tổng số doanh nghiệp có phát sinh khí thải/ có hệ thống xử
lý khí thải/ đã nghiệm thu hệ thống xử lý khí thải
32/13/1 68.09/40.63/
7.69
9 Tổng số doanh nghiệp có quan trắc định kỳ 11 23.4
11 Tổng số doanh nghiệp không bị khiếu nại về môi trường 46 97.87
12 Tổng số doanh nghiệp có cảnh quan môi trường tốt ( tỉ lệ
cây xanh trên 10%)
13 Tổng số doanh nghiệp có giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi
trường
15 Tổng số doanh nghiệp không thực hiện phân hạng 47 100.00
(Nguồn: xây dựng sách xanh cho một số cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương_năm 2009)
Bảng 2.5: Thông tin điều tra các doanh nghiệp chế biến hạt điều
Trang 405 Cty TNHH Hải Long SX và gia công
đồ trang trí nội thất bằng gỗ
8 Cty TNHH Tấn Khải Chế biến gỗ - x - - x - - x x x
9 Cty TNHH Phú An Chế biến xuất
13 Cty TNHH TN-DV
Khiêm Minh
Chế biến gỗ xuất khẩu
X: thiếu hoặc vi phạm CQMT: Cảnh quan môi trường
GPMT: giấy phép môi trường a Tình trạng vệ sinh
HTXL: Giấy nghiệm thu hệ thống xử lý b tỷ lệ cây xanh
VPHC: vi phạm hành chính YK: ý kiến cộng đồng
TCVN: tuân thủ TCVN SXSH: sản xuất sạch hơn