TRẦN QUANG TÙNG Hà Nội - 2017 Trang 3 Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 I LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan nội dung trong luận văn đề tài “phân tích định lượng một số nguyên tố chín
Trang 1- -
ĐỖ ĐỨC THẮNG
PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG MỘT SỐ NGUYÊN TỐ CHÍNH TRONG QUẶNG APATIT BẰNG PHƯƠNG PHÁP
HUỲNH QUANG TIA X (XRF)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Kỹ thuật Hóa học
Hà Nội - 2017
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 2- -
ĐỖ ĐỨC THẮNG
PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG MỘT SỐ NGUYÊN TỐ CHÍNH TRONG QUẶNG APATIT BẰNG PHƯƠNG PHÁP HUỲNH QUANG TIA X
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Kỹ thuật Hóa học
Hà Nội - 2017
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 3Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 I
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung trong luận văn đề tài “phân tích định lượng một
số nguyên tố chính trong quặng Apatit bằng phương pháp huỳnh quang tia X (XRF)” là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Trần Quang Tùng Số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực
và chưa được bất kỳ tác giả nào công bố
Hà Nội, ngày tháng năm
Học viên
Đỗ Đức Thắng
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 4Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Trung tâm phân tích thí nghiệm địa chất, Tổng cục địa chất, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã luôn tạo điều kiện trong công tác để tôi có thể hoàn thành khóa học này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp những người đã luôn bên cạnh, thông cảm và động viên để tôi có thể hoàn thành khóa học
Trang 5Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 III
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC HÌNH 7
DANH MỤC BẢNG 8
MỞ ĐẦU 1
1 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 2
1.1 Giới thiệu chung về quặng apatit 2
1.1.1 Phân loại quặng apatit 3
1.1.1.1 Phân loại theo thạch học 3
1.1.1.2 Phân loại theo thành phần vật chất 4
1.1.1.3 Phân loại theo thành phần hóa học 4
1.1.2 Một số ứng dụng của quặng apatit 5
1.1.3 Tình trạng khai thác trong nước và quốc tế 7
1.1.3.1 Tình trạng khai thác trong nước 7
1.1.3.2 Tình hình khai thác apatit trên thế giới 9
1.2 Giới thiệu chung về các phương pháp phân tích quạng Apatit 12
1.2.1 Phương pháp khối lượng xác định SiO 2 ,P 2 O 5 12
1.2.2 Phương pháp thể tích xác định P 2 O 5 ,CaO,MgO,Al 2 O 3 ,Fe 2 O 3 13
1.2.3 Phương pháp trắc quang xác định tổng sắt TFe 2 O 3 , TiO 2 17
1.2.4 Phương pháp quang phổ phát xạ nguyên tử nguồn cảm ứng cao tần plasma (ICP-AES) xác định sắt, titan, magie, nhôm, canxi 18
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 6Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 IV
1.2.5 Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử xác định MgO 19
1.3 Giới thiệu chung về thiết bị huỳnh quang tia X 19
1.3.1 Giới thiệu chung về tia X 19
1.3.2 Nguyên lý hoạt động 21
1.3.3 Hệ thống máy huỳnh quang tia X đang hoạt động tại Việt Nam 22
2 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Hóa chất và thiết bị 26
2.2 Phương pháp lập đường chuẩn để phân tích 26
2.2.1 Khái niệm cơ bản về gia công mẫu 26
2.2.2 Các bước lập đường chuẩn 32
2.3 Nội dung nghiên cứu 33
2.3.1 Xây dựng phương pháp định lượng các nguyên tố dưới dạng oxit SiO 2 , P 2 O 5 , Al 2 O 3 , Fe 2 O 3 , CaO, MgO trong quặng apatit 33
2.3.2 Ứng dụng phân tích các nguyên tố dưới dạng oxit SiO 2 , P 2 O 5 , Al 2 O 3 , Fe 2 O 3 , CaO, MgO trong mẫu quặng apatit thực tế 34
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu 34
2.3.3.1 Lấy mẫu và bảo quản mẫu 34
2.3.3.2 Chuẩn bị mẫu nghiên cứu 34
2.3.3.3 Xử lý mẫu để phân tích 35
2.3.3.4 Lựa chọn các thông số đo của thiết bị cho từng nguyên tố 36
3 CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Thiết lập đường chuẩn cho các nguyên tố 38
3.1.1 Xây dựng đường chuẩn theo phương pháp nén ép 38
3.1.2 Xây dựng đường chuẩn theo phương pháp thủy tinh hóa 42
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 7Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 V
3.2 Ứng dụng phương pháp thủy tinh hóa phân tích một số mẫu thật 46
3.2.1 Phương pháp xử lý số liệu 46
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 8Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 VI
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 9Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 VII
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Tinh thể Apatit 2
Hình 1.2 Một số hình ảnh khai thác và chế biến quặng apatit 9
Hình 1.3 Tình hình khai thác quặng photphat trên thế giới 10
Hình 1.4 Dự báo mức tăng dân số thế giới (A) và sản lượng quặng photphat (B) giai đoạn 2010-2040 12
Hình 3.1 Đường chuẩn Al2O3 chuẩn bị mẫu bằng phương pháp nén ép 39
Hình 3.2 Đường chuẩn CaO chuẩn bị mẫu bằng phương pháp nén ép 40
Hình 3.3 Đường chuẩn Fe2O3 chuẩn bị mẫu bằng phương pháp nén ép 40
Hình 3.4 Đường chuẩn MgO chuẩn bị mẫu bằng phương pháp nén ép 41
Hình 3.5 Đường chuẩn P2O5 chuẩn bị mẫu bằng phương pháp nén ép 41
Hình 3.6 Đường chuẩn SiO2 chuẩn bị mẫu bằng phương pháp nén ép 42
Hình 3.7 Đường chuẩn Al2O3 chuẩn bị mẫu bằng phương pháp thủy tinh hóa 43
Hình 3.8 Đường chuẩn CaO chuẩn bị mẫu bằng phương pháp thủy tinh hóa 44
Hình 3.9 Đường chuẩn Fe2O3 chuẩn bị mẫu bằng phương pháp thủy tinh hóa 44
Hình 3.10 Đường chuẩn MgO chuẩn bị mẫu bằng phương pháp thủy tinh hóa 45
Hình 3.11 Đường chuẩn SiO2 chuẩn bị mẫu bằng phương pháp thủy tinh hóa 45
Hình 3.12 Đường chuẩn P2O5 chuẩn bị mẫu bằng phương pháp thủy tinh hóa 46
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 10Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010
VIII DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Các thông số đo của Máy huỳnh quang tia X (XRF) model ARL - ADVANT’XP để xác định các nguyên tố trong quặng apatit 37
Bảng 3.1 Hàm lượng các nguyên tố trong các mẫu chuẩn 38
Bảng 3.2 Kết quả phân tích bằng các phương pháp khác………47
Bảng 3.3 Kết quả phân tích mẫu 1 bằng XRF 49
Bảng 3.4 Kết quả phân tích mẫu 2 bằng XRF 49
Bảng 3.5 Kết quả phân tích mẫu 3 bằng XRF 50
Bảng 3.6 Kết quả phân tích mẫu 4 bằng XRF 50
Bảng 3.7 Kết quả phân tích mẫu 5 bằng XRF 51
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 11Việc nghiên cứu thăm dò quặng Apatit để đánh giá trữ lượng cũng như việc khai thác để sản xuất phân bón, sản xuất axit H3PO4.v.v đang là một vấn đề thời
sự Trong đó việc phân tích mẫu để có được các hàm lượng chính xác phục vụ cho phân tích Apatit nói chung và các khoáng sản khác nói riêng là rất quan trọng
Chính vì vậy đề tài “phân tích định lượng một số nguyên tố chính trong quặng
Apatit bằng phương pháp huỳnh quang tia X (XRF)” đã được chọn để nghiên
cứu với mục đích tạo luận cứ khoa học cho việc phân tích các khoáng sản - tài nguyên thiên nhiên của đất nước Đó là nhu cầu khách quan và cấp thiết trong bối
cảnh kinh tế xã hội hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả đề tài được ứng dụng vào công tác xác định hàm lượng các nguyên tố trong mẫu Apatit bằng phương pháp huỳnh quang tia X (XRF) tại trung tâm phân tích thí nghiệm địa chất Kết quả của đề tài có khả năng áp dụng rộng dãi cho các phòng thí nghiệm có thiết bị XRF, góp phần đánh giá trữ lượng cho công tác khai thác cũng như vẽ bản đồ khoáng sản trong cả nước
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 12Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 2
1 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu chung về quặng apatit
Ở Việt Nam khi nói đến quặng apatit thì thường tập chung chủ yếu ở lào cai Quặng apatit Lào Cai là một loại quặng photphat có nguồn gốc trầm tích biển, thành
hệ tiền Cambri chịu các tác dụng biến chất và phong hóa Các khoáng vật phosphat trong đá trầm tích không nằm ở dạng vô định như ta tưởng trước đây mà nằm ở dạng ẩn tinh, phần lớn chúng biến đổi giữa floroapatit
Ca5(PO4)6F2 và cacbonat-floroapatit Ca5([PO4],[CO3])3F Hầu hết các photphat trầm tích dưới dạng cacbonat-floroapatit gọi là francolit Dưới tác dụng của biến chất, các đá phi quặng biến thành đá phiến, đolomit và quaczit, còn đá chứa photphat chuyển thành quặng apatit-đolomit
Hình 1.1 Tinh thể Apatit
Quặng apatit Lào Cai là loại quặng thuộc thành hệ metan photphorit đolomit), là thành hệ chủ yếu được sử dụng cho ngành công nghiệp sản xuất phân bón chứa lân (chứa photpho) ở nước ta Về trữ lượng thuộc thành hệ apatit-đolomit
(apatit-có trữ lượng lớn nhất phân bố dọc theo bờ phải sông Hồng thuộc địa phận Lào Cai
Mỏ apatit Lào Cai có chiều dày 200m, rộng từ 1 – 4 km chạy dài 100 km nằm trong địa phận Việt Nam, từ Bảo Hà ở phía Đông Nam đến Bát Xát ở phía Bắc, giáp biên giới Trung Quốc [1]
Quặng apatit ở đây được phát hiện từ năm 1924 Các nhà địa chất đã hoàn thành các nghiên cứu về khảo sát chi tiết địa tầng chứa apatit, nghiên cứu cấu trúc kiến tạo của khu mỏ, nghiên cứu và xác định trữ lượng từng loại quặng
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 13Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 3
1.1.1 Phân loại quặng apatit
1.1.1.1 Phân loại theo thạch học
Căn cứ vào đặc điểm thạch học người ta chia toàn bộ khu mỏ apatit Lào Cai thành 8 tầng, ký hiệu từ dưới lên trên (theo mặt cắt địa chất) là tầng cốc san (KS) KS1, KS2 KS7, KS8 Trong đó, quặng apatit nằm ở các tầng KS4, KS5, KS6 và KS7 Trong từng tầng lại được chia thành các đới phong hóa hóa học và chưa phong hoá hoá học
Tầng KS4 (còn gọi là tầng dưới quặng) là tầng nham thạch apatit cacbonat - thạch anh - muscovit có chứa cacbon Nham thạch của tầng này thường có màu xám sẫm, hàm lượng chất chứa cacbon tương đối cao, khoáng vật chứa cacbonat là dolomit và canxit trong đó đolomit nhiều hơn canxit Tầng này gồm 2 loại phiến thạch chính là đolomit - apatit - thạch anh và apatit - thạch anh - đolomit, chứa khoảng 35-40% apatit, các dạng trên đều chứa một lượng cacbon nhất định và các hạt pyrit phân tán xen kẽ nhau, chiều dày của tầng này từ 35 - 40m
Tầng KS5 (còn gọi là tầng quặng): Đây là tầng apatit cacbonat Nham thạch apatit cacbonat nằm trên lớp phiến thạch dưới quặng và tạo thành tầng chứa quặng chủ yếu trong khu vực bể photphorit Nằm dọc theo trung tâm khu mỏ Lào Cai từ Đông Nam lên Tây Bắc chạy dài 25 km Quặng apatit hầu như đơn khoáng thuộc phần phong hoá của tầng quặng (KS5) có hàm lượng P2O5 từ 28 - 40% gọi là quặng loại 1, chiều dày tầng quặng dao động từ 3 - 4m tới 10 - 12m Ngoài ra, còn có các phiến thạch apatit - đolomit, đolomit -apatit - thạch anh - muscovit
KS6, KS7 (còn gọi là tầng trên quặng) Nằm trên các lớp nham thạch của tầng quặng và thường gắn liền với các bước chuyển tiếp trầm tích cuối cùng Nham thạch của tầng này khác với loại apatit cacbonat ở chỗ nó có hàm lượng thạch anh, muscovit và cacbonat cao hơn nhiều và hàm lượng apatit giảm Phiến thạch của tầng này có màu xanh nhạt, ở trong đới phong hoá thường chuyển thành màu nâu sẫm Về thành phần khoáng vật, khoáng vật tầng trên quặng gần giống như tầng dưới quặng nhưng ít muscovit và hợp chất chứa cacbon hơn và hàm lượng apatit cao hơn rõ rệt Chiều dày của tầng quặng này từ 35 - 40m [1]
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 14Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 4
1.1.1.2 Phân loại theo thành phần vật chất
Dựa vào sự hình thành và thành phần vật chất, khoáng sản apatit Lào Cai phân chia ra 4 loại quặng khác nhau:
Quặng loại I: Là loại quặng aptatit hầu như đơn khoáng thuộc phần phong hóa của tầng quặng KS5 hàm lượng P2O5 chiếm khoảng từ 28 - 40%
Quặng loại II: Là quặng apatit-đolomit thuộc phần chưa phong hóa của tầng quặng KS5 hàm lượng P2O5 chiếm khoảng 18 - 25%
Quặng loại III: Là quặng apatit-thạch anh thuộc phần phong hóa của tầng dưới quặng KS4 và trên quặng KS6 và KS7, hàm lượng P2O5 chiếm khoảng từ 12 - 20%, trung bình khoảng 15%
Quặng loại IV: Là quặng apatit-thạch anh-đolomit thuộc phần chưa phong hóa của tầng dưới quặng KS4 và các tầng trên quặng KS6 và KS7 hàm lượng P2O5khoảng 8 - 10%
Xuất phát từ điều kiện tạo thành của tầng quặng và dựa vào kết quả phân tích thành phần vật chất, vị trí phân bố, đặc tính cơ lý và công nghệ, quặng apatit Lào Cai được chia làm 2 kiểu: kiểu quặng apatit nguyên sinh và kiểu apatit phong hoá Các tầng cốc san được chia làm 2 đới: đới phong hoá hoá học và đới chưa phong hoá hoá học
Quặng apatit loại 3 Lào Cai là quặng apatit-thạch anh nằm trong đới phong hoá thuộc các KS4 và KS6,7 có chứa 12,20% P2O5
Quặng apatit loại 3 là quặng phong hoá (thứ sinh) được làm giàu tự nhiên nên quặng mềm và xốp hơn quặng nguyên sinh Đây chính là đất đá thải trong quá trình khai thác quặng apatit loại 1 và là nguyên liệu cho nhà máy tuyển quặng apatit loại
3 Lào Cai [1]
1.1.1.3 Phân loại theo thành phần hóa học
Theo các tài liệu địa chất, trong các loại quặng apatit loại 1 loại 2 cũng như loại 3, khoáng vật apatit đều có cấu trúc Ca5F(PO4)3 thuộc loại fluoapatit Kết quả
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 15Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 5
phân tích thành phần hóa học các mẫu quặng 3 ở các cốc san thu được giá trị như sau: khoảng 42,26% P2O5; 3,78% F và 50% CaO [2-4]
1.1.2 Một số ứng dụng của quặng apatit
Quặng apatit vẫn chủ yếu được khai thác làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất phân bón có nguồn gốc lân (photpho) như: phân lân nung chảy Văn Điển; phân lân của Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao; phân bón Bình Điền; phân NPK Hoàng Liên, phân lân và phân NPK Lào Cai
Trong xử lý môi trường: Apatit có công thức hóa học là: Ca5(PO4)3X (X: Cl,
F, OH ), thường có màu xanh nước biển, hay vàng nhạt, tỷ trọng 3,17, thuộc nhóm tinh thể có 6 cạnh hình trụ Trong thành phần của apatit có nhiều nguyên tố vi lượng như: Sr, Ba, Mg, Mn, Fe, Al Quặng tự nhiên của apatit ở dạng kết tinh, khó phân hủy, không tan trong nước và có tính kiềm yếu
Do có cấu trúc hóa học đặc biệt nên apatit có khả năng cố định các kim loại nặng, đồng thời cũng có tác dụng xử lý một phần chất hữu cơ, vi khuẩn coliform, chất rắn lơ lửng trong nước thải Một số tài liệu còn cho rằng, apatit có khả năng xử
lý những kim loại nặng nào mà tích số tan của kim loại đó với PO4
-3
nhỏ hơn tích số tan của Ca3(PO4)2
Trong quá trình xử lý nước thải, đồng thời với quá trình xử lý kim loại nặng và các thành phần khác một lượng nhỏ các hợp chất của photpho cũng được hòa tan vào trong nước, cung cấp thêm dinh dưỡng cho thực vật thủy sinh và vi sinh vật, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xử lý sinh học sau này Do đó, trong nhiều công nghệ xử lý nước thải (như nước thải chế biến gỗ), apatit được sử dụng như là một nguồn dinh dưỡng thay thế cho axit photphoric đề tạo tỷ lệ thích hợp với cacbon và nitơ Người ta có thể sử dụng apatit trong công nghệ xử lý nước thải chứa kim loại nặng trong các ngành mạ điện, cơ khí, luyện kim và chế biến gỗ
Dùng apatit để xử lý kim loại nặng trong đất là phương pháp mới đã được ứng dụng ở nhiều nước trên thế giới với các tên gọi khác nhau như in-situ remediation technicques (Canada), phot-phát - induce metal stabilization (Hoa Kỳ)
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 16Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 6
Như chúng ta đã biết, kim loại nặng trong đất có khả năng gây nhiễm độc cho thực vật, động vật và cho con người cũng như hệ sinh thái nói chung Tuy nhiên, chúng ta không thể đánh giá mức độ nguy hại của kim loại nặng đối với hệ sinh thái đất một cách đơn giản thông qua việc xác định tổng lượng kim loại nặng trong đất
vì mức độ nguy hại phụ thuộc vào trạng thái tồn tại của kim loại nặng Chúng có thể tồn tại ở trạng thái phản ứng (linh động), hay không phản ứng (cố định) Chính bởi vậy, cơ sở của việc xử lý kim loại nặng trong đất là việc cố định các kim loại nặng, ngăn chặn chúng chuyển sang trạng thái linh động Apatit có khả năng xử lý hầu hết các kim loại nặng và chất phóng xạ như: đồng, asen, kẽm, thori, actini, urani, plutoni và nhất là chì Apatit có khả năng cố định một lượng kim loại nặng bằng 20% khối lượng của nó Tác dụng cô lập này đạt được trong thời gian rất ngắn (10 -
20 phút) kể từ khi trộn apatit với đất bị nhiễm kim loại nặng Apatit có được khả năng trên là do nó cung cấp PO4-3 tạo kết tủa với ion kim loại nặng
Khi trộn lẫn apatit với đất sẽ tạo hệ đệm mới trong dung dịch đất Apatit cũng tạo điều kiện cho kim loại nặng kết tủa ở các dạng khác như cacbonat, oxit, hyđroxit Các kim loại nặng có thể thay thế vị trí cạnh (Ca) trong cấu trúc của apatit
Do yêu cầu của vật liệu xử lý kim loại nặng là ít flo, ít hoặc không có kim loại nặng đi kèm, nhiều thành phần cacbonat, có độ xốp thích hợp, cho nên không phải loại apatit nào cũng có khả năng xử lý kim loại nặng Trong hầu hết các nghiên cứu
và ứng dụng người ta chỉ sử dụng apatit loại IV (5%) là thích hợp
Như đã trình bày ở trên, chưa có công nghệ nào có thể tách được hoàn toàn kim loại nặng ra khỏi đất mà chỉ có thể vô hiệu hóa tác động gây độc của chúng đối với sinh vật, cũng như ngăn chặn khả năng lan truyền của chúng Bởi vậy giải pháp
đề ra ở đây là trộn bột apatit loại 5% với đất bị nhiễm kim loại nặng
Rác thải chứa kim loại nặng được coi là chất thải nguy hại và được xử lý bằng biện pháp chôn lấp theo quy trình kỹ thuật riêng Nếu nền đáy bãi thải được lót bằng vật liệu là bột apatit thì các kim loại nặng sẽ không thấm được xuống các tầng nước ngầm Apatit cũng có thể được sử dụng kết hợp với vật liệu sét truyền thống
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 17Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 7
làm lớp lót bãi thải Ngoài ra, apatit bột còn được sử dụng kết hợp với vữa xi măng
để xây dựng bồn, bể chứa chất thải có chứa các kim loại nặng đặc biệt nguy hại Nước ta có mỏ apatit với trữ lượng lớn trong đó loại quặng apatit có hàm lượng P2O5 thấp không sử dụng cho sản xuất phân bón nhưng lại có nhiều triển vọng được sử dụng làm vật liệu xử lý môi trường [5]
1.1.3 Tình trạng khai thác trong nước và quốc tế
1.1.3.1 Tình trạng khai thác trong nước
Mỏ quặng apatit tại Lào Cai được đánh giá là lớn nhất khu vực Đông Nam Á với trữ lượng thời điểm hiện tại được xác định là 701 triệu tấn Mỗi năm Công ty TNHH một thành viên Apatit Việt Nam khai thác, tuyển khoáng khoảng 8 - 10 triệu tấn quặng Trữ lượng dồi dào, nhưng trong nhiều năm qua, quặng apatit vẫn chủ yếu được khai thác phục vụ nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất phân bón có nguồn gốc lân như: Phân lân nung chảy Văn Điển; phân lân của Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao; phân bón Bình Điền; phân NPK Hoàng Liên, phân lân và phân NPK Lào Cai
Chiến lược chế biến sâu nguồn quặng nói chung và quặng apatit nói riêng hiện đang được Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đặc biệt quan tâm trong giai đoạn hiện nay Chế biến sâu quặng apatit có ý nghĩa quan trọng là gia tăng giá trị nguồn tài nguyên quốc gia, chuyển dịch cơ cấu sản xuất, giải quyết việc làm Là quốc gia lấy mặt trận sản xuất nông nghiệp xếp lên hàng đầu, việc ưu tiên nguồn khoáng sản cho sản xuất phân bón là điều hết sức cần thiết Năm 2009, Nhà máy sản xuất phân bón DAP số I tại Đình Vũ (Hải Phòng) chính thức hoàn thành với năng lực sản xuất 330 nghìn tấn phân bón chất lượng cao mỗi năm Đây là dự án chế biến sâu nguồn quặng apatit với sản lượng lớn nhất tính đến thời điểm đó, doanh thu hằng năm đạt 330 triệu USD, giảm chi phí nhập khẩu nguồn phân bón DAP hằng năm là 200 triệu USD
Tại Lào Cai, dự án Nhà máy sản xuất phân bón DAP số II đang xây dựng tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng (Bảo Thắng) được coi là điển hình tiếp theo về chế
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 18Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 8
biến sâu nguồn quặng apatit Với tổng mức đầu tư hơn 5 nghìn tỷ đồng, ngoài năng lực sản xuất 330 nghìn tấn phân bón chất lượng cao, Nhà máy sản xuất phân bón DAP số II còn sản xuất 420 nghìn tấn axit H2SO4 đậm đặc (98,5%) và 162 nghìn tấn axit H3PO4 Với nguồn nguyên liệu chính trên 1 triệu tấn quặng apatit, mỗi năm nhà máy sản xuất phân bón DAP số II sẽ cho doanh thu gần 400 triệu USD, đó là giá trị
mà các nhà máy phân bón khác phải phấn đấu trong nhiều năm Cũng tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng, từ năm 2004 đến nay đã có 5 nhà máy sản xuất photpho vàng với nguyên liệu chính là apatit đã được xây dựng và đi vào hoạt động Giá trị từ sản phẩm này mang lại đối với nền kinh tế quốc dân là rất đáng kể, khoảng 10 tấn quặng apatit (trị giá 14 triệu đồng) sẽ sản xuất được 1 tấn phốt pho vàng với trị giá
50 triệu đồng Nếu các nhà máy phốt pho vàng tại Lào Cai hoạt động hết công suất
có thể cung ứng cho thị trường trên 50 nghìn tấn sản phẩm/năm Bên cạnh đó còn phải kể đến Nhà máy sản xuất phân bón của Công ty Cổ phần Vật tư nông sản - Apromaco với công suất 200 nghìn tấn phân lân và 150 nghìn tấn NPK/năm, Nhà máy sản xuất phụ gia thức ăn gia súc của Công ty Phúc Lâm tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng với công suất 50 nghìn tấn/năm cũng là điển hình về các dự án chế biến sâu nguồn quặng apatit
Đối với Công ty TNHH một thành viên Apatit Việt Nam, truyền thống hoạt động trong nhiều năm là khai thác và tuyển khoáng, nhưng những năm gần đây, đơn
vị tập trung vào lĩnh vực chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị kinh tế từ nguồn quặng apatit Có thể kể đến hoạt động sản xuất phân bón NPK với năng lực trên 30 nghìn tấn/năm, doanh thu trên 200 tỷ đồng, sản xuất photpho vàng với công suất khoảng
10 nghìn tấn/năm Hiện Công ty TNHH một thành viên Apatit Việt Nam đang hoàn thiện các thủ tục đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất H2SO4 với công suất 250 nghìn tấn/năm nhằm cung ứng nguyên liệu đầu vào cho Nhà máy DAP số II, Nhà máy sản xuất phụ gia thức ăn gia súc và Dự án nhà máy sản xuất phân bón cao cấp với nguyên liệu chính là quặng apatit tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng Hiện trong nước chưa có nhà máy nào sản xuất loại phân bón cao cấp này mặc dù nhu cầu sử dụng trên thị trường nội địa rất lớn, dự kiến công suất nhà máy phân bón cao cấp của Công ty TNHH một thành viên Apatit Việt Nam sẽ đạt 60 - 70 nghìn tấn/năm
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 19Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 9
Chế biến sâu nguồn quặng apatit đồng nghĩa với phát triển sản xuất, đa dạng hóa các sản phẩm công nghiệp có giá trị kinh tế cao Với lợi thế kề cận vùng mỏ, các dự án sản xuất công nghiệp với nguồn nguyên liệu là quặng apatit đang đóng góp ngày càng lớn vào cơ cấu giá trị sản lượng ngành công nghiệp của tỉnh Theo báo cáo của ngành công thương, giá trị sản xuất tại các khu, cụm công nghiệp của tỉnh trong 6 tháng đầu năm đạt trên 600 tỷ đồng, doanh thu ước đạt 4.000 tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó Khu công nghiệp Tằng Loỏng vẫn chiếm ưu thế với nhiều nhà máy có quy mô lớn về sản xuất công nghiệp Điều đó càng chứng minh định hướng tập trung chế biến sâu nguồn quặng apatit là quan trọng, đúng như việc biến thau… thành vàng ròng [6]
Hình 1.2 Một số hình ảnh khai thác và chế biến quặng apatit
1.1.3.2 Tình hình khai thác apatit trên thế giới
Trong 30 năm qua, tình hình khai thác quặng photphat trên thế giới đã trải qua nhiều biến động (hình 1.3) Năm 1982, sản lượng quặng photphat giảm 15% so với năm 1981, đạt 123.5 triệu tấn quặng Sau đó sản lượng photphat được phục hồi, đạt đỉnh cao vào năm 1988 với khoảng 51,3 triệu tấn (P2O5), nhưng đến năm 1993 lại giảm 23,9% so với năm 1992 đạt đỉnh điểm của sự xụt giảm sản lượng khai thác với chỉ 118,6 triệu tấn
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 20Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 10
Hình 1.3 Tình hình khai thác quặng photphat trên thế giới
Những đợt suy giảm đột ngột sản lượng quặng photphat trước tiên là do tình hình kinh tế - chính trị - xã hội diễn ra hàng loạt ở các nước Đông âu và Liên xô cũ vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, sau đó sản lượng quặng photphat được phục hồi nhanh từ năm 1994-1995
Năm 1995, một số mỏ mới trên thế giới đã được đưa vào khai thác như: Các
mỏ nam pactur và nam fort Midi tại Florida (Hoa Kỳ) với tổng công suất 5,8 triệu tấn/năm; Mỏ Xidi Chinhian ở Khourigba (Ma rốc) công suất 1,5 triệu tấn/năm; Mỏ
El Sidia (Giocdani) công suất 4,6 triệu tấn/năm, Mỏ Baiovar (Peru) công suất 0,55 triệu tấn/năm Cùng thời điểm này, Arap Xeut cũng đưa vào vận hành một mỏ có công suất 4,1 triệu tấn/năm và Áo khi đó đang xây dựng mỏ có công suất 0,7 triệu tấn/năm Cuối năm 1996 Ai cập đưa vào vận hành mỏ Abu-tatut với công suất ban đầu là 0,6 triệu tấn/năm tuy nhiên tổng công suất thiết kế của mỏ này là 2 triệu tấn/năm
Từ năm 2000, sản lượng của các cơ sở sản xuất photphoric ở các nước đã đạt gần với mức thiết kế Ngoài ra nhiều nước tiếp tục xây dựng một số nhà máy axit photphoric và sản xuất phân lân mới, dẫn đến nhu cầu về photpho tăng Chính vì vậy việc sản xuất và tiêu thụ quặng photphat trên thế giới sau khi đạt mức thấp vào năm 2001 (Sản lượng đạt khoảng 127,7 triệu tấn, hàm lượng P2O5 trung bình
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 21Về mức tiêu thụ quặng photphat trên thế giới đứng đầu là Hoa Kỳ Năm 2001 Hoa Kỳ tiêu thụ khoảng 26% sản lượng quặng photphat của cả thế giới Châu Phi và các nước xã hội chủ nghĩa Châu Á tiêu thụ tổng cộng khoảng 31% Đứng tiếp theo
là Liên xô cũ và Trung đông
Từ năm 2002, ngành sản xuất quặng photphat trên thế giới bắt đầu thời kỳ phát triển lâu dài với mức tăng trưởng trung bình hàng năm 3,2% cho đến năm 2007 Nhưng mức khai thác và tiêu thụ năm 2007 khi đó được dự báo sẽ chỉ đạt 97% của mức năm
1990 Thời điểm đó các chuyên gia ước lượng mức tiêu thụ quặng phốt phát thế giới tăng đến khoảng 47,5 triệu tấn P2O5 vào năm 2007, tức là tăng 20% so với năm 2001
Dự báo sản lƣợng photphat thế giới giai đoạn 2010 đến 2040:
Khoảng 90% sản lượng quặng photphat thế giới được dùng để sản xuất phân bón Hiệp hội phân bón quốc tế IFA đã nêu lên mối quan hệ giữa mức tăng dân số thế giới với mức tăng sản lượng quặng photphat như sau:
Theo tính toán từ 1990 đến 2040 dân số thế giới sẽ tăng 87%, nhưng mức tăng dân số sau 2010 sẽ giảm Khi quy mô sản xuất nông nghiệp ổn định thì mức tăng sản lượng nông nghiệp sẽ chủ yếu do tăng năng xuất mùa màng nhờ kỹ thuật gien
và tăng lượng phân bón được sử dụng
Tại thời điểm đó tổ chức này dự báo đến năm 2010 dân số thế giới sẽ lên đến 7,2
tỷ và đến 2040 sẽ đạt 9,9 tỷ (hình 1.4), còn sản lượng quặng photphat của thế giới trong giai đoạn này cũng được dự báo theo 2 phương án với mức tăng 1 phần trăm/năm và 2 phần trăm/năm
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 22Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 12
Sơ đồ dưới đây trình bày phương án 1 với mức tăng 1 phần trăm/năm căn cứ vào tình hình sản xuất quặng photphat thế giới giai đoạn 2001 đến 2007 Theo phương án này đến năm 2010 sản lượng quặng photphat thế giới sẽ đạt 195 triệu tấn
và đến năm 2040 sẽ đạt 263 triệu tấn [7]
Hình 1.4 Dự báo mức tăng dân số thế giới (A) và sản lượng quặng photphat (B)
giai đoạn 2010-2040
1.2 Giới thiệu chung về các phương pháp phân tích quặng Apatit
Có nhiều phương pháp xác định các nguyên tô có trong quặng apatit
1.2.1 Phương pháp khối lượng xác định SiO 2 , P 2 O 5
- Xác định silic bằng phưng pháp khối lượng theo (QT AP.02-HH/05)
Phương pháp dựa trên việc phân hủy mẫu bằng cách nung chảy với kalihiđroxit, sau đó tách axit silicic trong môi trường axit clohiđric và nung chúng ở 900-1000oC để được silic đioxit
Ảnh hưởng của Flo được che bằng axit boric
Trang 23
Trong đó:
m: khối lượng kết tủa magie pirophôtphat cân được, tính bằng gam;
m1: lượng cân mẫu lấy để kết tủa, tính bằng gam;
0.6379: hệ số chuyển magie pirophotphat Mg2P2O7 ra anhiđrit photphoric
1.2.2 Phương pháp thể tích xác định P 2 O 5 , CaO, MgO, Al 2 O 3 , Fe 2 O 3
- Xác định P 2 O 5 bằng phương pháp thể tích, theo (QT AP.03-HH/05)
Bản chất của phương pháp: trong môi trường axit nitric 5-10% với sự có mặt của amoni nitrat, ion photphat phản ứng với amoni molipđat cho kết tủa màu vàng amoniphotphomolipđat Kết tủa được hòa tan trong lượng dư natri hiđroxit Chuẩn
độ lượng dư natri hiđroxit bằng axit nitric, từ đó xác định được lượng photpho có trong mẫu
Công thức tính:
Trong đó:
VNaOH - Thể tích dung dịch NaOH tiêu tốn khi hòa tan kết tủa molipdat, ml
amoni-photpho-VHNO3 - Thể tích axit HNO3 tiêu tốn khi chuẩn độ, ml
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 24Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 14
K - Hệ số tỷ lệ nồng độ của dung dịch chuẩn độ axit HNO3 và NaOH (hệ số thực nghiệm)
Vdm - Thể tích định mức dung dịch hòa tan mẫu sau khi tách axit silicic, ml
Vh - Thể tích dung dịch lấy để phân tích, ml
m - Khối lượng mẫu cân, gam
- Xác định CaO,MgO bằng phương pháp chuẩn độ complexon (QT AP HH/05)
07-Bản chất của phương pháp: phương pháp dựa trên cơ sở chuẩn độ tổng lượng canxi và magie bằng trilon B trong môi trường đệm amoniac pH = 9,5-10 với chỉ thị eriocrom đen T Chuẩn độ canxi bằng dung dịch trilon B trong môi trường kiềm pH=13 với chỉ thị fluoresson Từ hiệu số thể tích trilon B của hai phép chuẩn nêu trên tính được hàm lượng magie
T : Độ chuẩn dung dịch trilon B theo CaO, g/ml
V1: Thể tích dung dịch trilon B chuẩn độ canxi trong mẫu phân tích đã trừ thể tích trilon B chuẩn độ mẫu trắng, ml
Vdm1: Thể tích định mức dung dịch 1 (sau khi hòa tan tách loại silic)
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 25m: Khối lượng mẫu cân, gam
Hàm lượng phần trăm của magie trong mẫu được tính theo công thức
Trong đó:
T : Độ chuẩn dung dịch trilon B theo MgO, g/ml
V1: Thể tích dung dịch trilon B chuẩn độ canxi trong mẫu phân tích đã trừ thể tích trilon B chuẩn độ mẫu trắng, ml
V2: Thể tích dung dịch trilon B chuẩn độ magie trong mẫu phân tích đã trừ thể tích trilon B chuẩn độ mẫu trắng, ml
Vdm1: Thể tích định mức dung dịch 1(sau khi hòa tan tách loại silic)
Vdm2: Thể tích định mức dung dịch 2(sau khi tách loại các nguyên tố ảnh hưởng), ml
Vh1: Thể tích hút ra từ dung dịch 1, ml
Vh2: Thể tích dung dịch hút ra từ dung dịch 2, ml
m: Khối lượng mẫu cân, gam
- Xác đinh nhôm bằng phương pháp chuẩn độ complexon (QT
AP.04-HH/05)
Phương pháp dựa trên khả năng ion hóa nhôm (III), tạo phức với trilon B ở PH=5-6, phức nhôm trilonat được trao đổi chọn lọc với natri florua để tạo thành phức bền của nhôm với florua và giải phóng lượng trilon B tương đương với lượng nhôm Xác định lượng trilon B này bằng cách chuẩn độ kẽm axetat với chỉ thị xilen
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 26Ảnh hưởng của titan được loại trừ khi có mặt của H3PO4
Công thức tính:
Trong đó:
- Thể tích dung dịch kẽm axetat chuẩn độ dung dịch phân tích sau khi thêm natri florua, ml
- Độ chuẩn dung dịch kẽm axetat theo nhôm oxit, g/ml
dm - Thể tích dung dịch định mức sau khi tách axit silicic, ml
h - Thể tích dung dịch lấy để xác định,ml
- Khối lượng mẫu cân,g
- Xác đinh sắt tổng số bằng phương pháp chuẩn độ bicromat (QT
AP.08-HH/05)
Phương pháp dựa trên phản ứng khử ion sắt (III) về ion sắt (II) bằng thiếc (II) trong môi trường axit clohiđric Chuẩn độ ion sắt (II) bằng dung dịch kali bicromat với chỉ thị natri điphenylamin sunfonat khi có mặt hỗn hộp axit sunfuric và axit photphoric Ảnh hưởng của lượng dư thiếc (II) được khắc phục bằng muối thủy ngân (II) clorua
Công thức tính:
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 27Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 17
Trong đó:
mẫu phân tích, đã trừ thể tích dung dịch kali bicromat tiêu tốn khi chuẩn độ mẫu trắng, ml
Vdm - Thể tích dung dịch định mức sau khi tách axit silicic, ml
Vh - Thể tích hút dung dịch phân tích, ml
1.2.3 Phương pháp trắc quang xác định tổng sắt TFe 2 O 3 , TiO 2
- Phương pháp đo màu với axit sunfosalixilic (QT AP.09-HH/05)
Phương pháp sử dụng dung dịch sau khi loại silic bằng phương pháp đo phức màu vàng của sắt (III) với axit sunfosalixilic trong môi trường kiềm ammoniac Hàm lượng TFe2O3 được tính:
Vh - Thể tích dung dịch lấy để phân tích, ml
M - Khối lượng mẫu cân, gam
- Xác định titan bằng phương pháp đo màu với hiđro peroxit (QT
Trang 28Vh - Thể tích dung dịch lấy để phân tích, ml
m - Khối lượng mẫu cân, gam
1.2.4 Phương pháp quang phổ phát xạ nguyên tử nguồn cảm ứng cao tần
plasma (ICP-AES) xác định sắt, titan, magie, nhôm, canxi
Hệ thống ICP-MS bao gồm một nguồn ICP (nguồn cảm ứng cao tần plasma) nhiệt độ cao và một khối phổ kế Nguồn ICP chuyển các nguyên tử của nguyên tố trong mẫu thành các ion Sau đó, nhưng ion này được phân tách và phát hiện bằng thiết bị khối phổ
Nguyên tắc của phương pháp:
Mẫu sau khi phân hủy thành dung dịch bằng cách nung chảy với Na2O2 trong chén Zr được hòa tan bằng axit HCl Dung dịch được phun vào plasma Lần lượt đo cường độ phát xạ của nguyên tử và ion tự do của từng nguyên tố khi bị kích thích bởi năng lượng plasma để từ đó xác định nồng độ của chúng theo phương trình sau
Cx= a.Ix+b
hoặc Cx= a.I2x +b.Ix
Trong đó:
Cx Nồng độ của nguyên tố x
Ix Cường độ pháp xạ của nguyên tố x
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 29Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 19
a, b, c - Các hệ số được xác định bằng thực nghiệm trên cơ sở đo cường độ phát xạ của dãy dung dịch chuẩn của nguyên tố x rồi tính toán theo phương pháp hồi quy
1.2.5 Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử xác định MgO
Đo đường chuẩn magie và nồng độ magie trong mẫu trên máy quang
phổ hấp thụ nguyên tử tại bước sóng 285,2 nm, hoặc 202,6 nm tùy theo hàm lượng
Mg trong dung dịch đã vô cơ hóa và đặc tính của máy, sử dụng ngọn lửa axetilen/không khí, sử dụng dung dịch lantan clorua để giảm tác động ion hóa Các thông số làm việc của máy theo hướng dẫn của nhà sản xuất
Mg% = 4
10
)(
m
V b a
m - là lượng mẫu cân đã sấy khô kiệt tính bằng gam (g);
V - là thể tích định mức mẫu sau khi vô cơ hóa tính bằng mililit (ml);
104 - là hệ số chuyển đổi
1.3 Giới thiệu chung về thiết bị huỳnh quang tia X
1.3.1 Giới thiệu chung về tia X
Tia X còn gọi là tia Rơnghen do W.K Roentgen phát minh ra năm 1895 khi bắn chùm electron vào lá kim loại Lúc đầu vì chưa biết rõ bản chất của loại bức xạ này nên ông gắn cho nó tên gọi là tia X
Tia X thực chất là bức xạ điện từ nhưng có bước sóng ngắn, nằm trong giải từ 0,01Å (angstrom) tới 10Å (hoặc thậm chí dài hơn) và có năng lượng từ 1.25-100
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 30Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 20
keV Các tia X có bước sóng ngắn hơn 1Å gọi là tia X cứng và dài hơn 1Å gọi là tia
X mềm Năng lượng của tia X tính theo bước sóng như sau
Trong đó, E đo bằng KeV, λ đo bằng Å
Việc phát minh ra tia X là một sự kiện quan trọng trong lịch sử phát triển của nghành vật lý Tia X và tia gamma giống nhau ở chỗ đều là bức xạ điện từ, nhưng
có nguồn gốc khác nhau Tia gamma sinh ra từ hạt nhân còn tia X sinh ra từ nguyên
tử Năng lượng của tia X đặc trưng bằng hiệu năng lượng liên kết của hai vành electron trong nguyên tử, do đó nó đặc trưng cho từng nguyên tố Người ta ví năng lượng tia X là “dấu vân tay” của các nguyên tố hóa học nên có thể căn cứ vào đó để xây dựng một phương pháp định tính và định lượng cac nguyên tố gọi là phương pháp phân tích huỳnh quang tia X Ngày nay phương pháp này được phát triển trở thành một công cụ phân tích mạnh đối với hầu hết các nguyên tố từ nhôm (Al) tới Uranium (U) trong bảng tuần hoàn, đáp ứng yêu cầu của nhiều lĩnh vực nghiên cứu
và ứng dụng
Hình 1.5.nguyên lý phát xạ huỳnh quang tia X
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 31Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 21
1.3.2 Nguyên lý hoạt động
Hình 1.6 Sơ đồ cấu tạo phổ kế WD XRF
Các tia X đặc trưng phát ra từ mẫu phân tích (gồm nhiều bước sóng khác nhau) được định hướng chiếu vào một bộ phận gọi là tinh thể nhiễu xạ (hay tinh thể phân tích) trước khi được ghi nhận bởi detector (thông thường là ống đếm tỷ lệ) Tinh thể nhiễu xạ hoạt động dựa trên hiện tượng nhiễu xạ Cụ thể là khi quay tinh
thể nhiễu xạ đến một góc thỏa mãn định luật Bragg đối với một bước sóng nào
đó trong chùm tia X phát ra từ mẫu:
n =2dhkl.sin
Trong đó: n là số nguyên và được gọi là bậc nhiễu xạ;
dhkl là khoảng cách giữa các mặt phẳng (hkl) của tinh thể nhiễu xạ
Khi chùm tia X phát xạ sẽ xảy ra hiện tượng nhiễu xạ, detector đặt sau tinh thể nhiễu xạ với bề mặt thu tia vuông góc với chùm tia đi từ tinh thể nhiễu xạ, do đó
chỉ khi xảy ra nhiễu xạ thì mới có tín hiệu đi vào detector Bằng cách quét góc ta
sẽ thu được các tia X có bước sóng khác nhau thỏa mãn điều kiện nhiễu xạ, tức là thu được các vạch phổ đặc trưng của các nguyên tố khác nhau
Cường độ của các vạch phổ tỷ lệ thuận với hàm lượng các nguyên tố trong mẫu phân tích do đó có thể xác định định lượng sự có mặt của các nguyên tố này trong mẫu
Luận văn thạc sĩ Khoa học
Trang 321.3.3 Hệ thống máy huỳnh quang tia X đang hoạt động tại Việt Nam
Các hệ máy XRF dựa trên nguyên lý bức xạ bước sóng (WD-XRF) và bức xạ năng lượng (ED-XRF) Do hệ máy theo nguyên lý bức xạ bước sóng chính xác hơn, hoạt động bền bỉ và ổn định hơn, thích hợp trong phân tích các khoáng sản, nên các phòng thí nghiệm thường trang bị dòng máy này
Model máy ARL – ADVANT’XP:
Đơn vị sử dụng: Trung tâm phân tích thí nghiệm địa chất
Luận văn thạc sĩ Khoa học