Trong bộ trang phục Mường còn có các đồ trang sức như khuyên tai, vòng cổ, vòng tay, xà tích, … Ngày thường, những đồ trang sức này như là thứ vật quý, nhất là những trang sức làm bằng b
Trang 1ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI BÀI THI ĐIỀU KIỆN
*****
BÀI THI ĐIỀU KIỆN MÔN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM
Giảng viên: T.S Nguyễn Anh Cường
Đề tài thảo luận cảu nhóm:
TÌM HIỂU VỀ DÂN TỘC MƯỜNG Ở VIỆT NAM
Hà Nội 2021
Trang 2Sinh viên thực hiện: Nhóm 7
1 Dương Hoài Thu 61DDL28265 Phong tục tập quán
2 Trần Thị Nhất 61DDL28218 Khái quát chung
Làm powerpoint
3 Trần Thị Thanh Trúc 61DDL28290 Văn hóa mưu sinh
(Nông nghiệp, chăn nuôi) Nhập word và soát lỗi
4 Nguyễn Thu Cúc 58DDL25025 Văn hóa phi vật thể
(lễ hội, văn học, văn nghệ dân gian)
5 Nguyễn Thị Nhung 61DDL28223 Văn hóa vật thể
(Trang phục, phương tiện vận chuyển)
Nhập word và soát lỗi
6 Phan Minh Đức 58DDL25042 Văn hóa tổ chức xã hội
7 Nguyễn Xuân Phúc 61DDL28229 Xu thế biến đổi
Nhập word, căn chỉnh và sửa lỗi
8 Nguyễn Thị Phượng 61DDL28235 Văn hóa vật thể
(nhà cửa, ẩm thực)
9 Phạm Huyền Ngọc 61DD28215 Văn hóa mưu sinh
(nghề thủ công, săn bắn hái lượm, trao
đổi buôn bán)
10 Trương Thị Thu Thảo 61DDL28260 Văn hóa phi vật thể
(ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo)
Trang 3MỤC LỤC 1) KHÁI QUÁT CHUNG
1.1: Tộc Danh 01
1.2: Dân Số 01
1.3:Địa Bàn 01
1.4: Lịch Sử Hình Thành Và Phát Triển 02
1.5: Môi Trường Sinh Sống 03
2) VĂN HÓA MƯU SINH 2.1: Nông Nghiệp 04
2.1.1: Nghề trồng lúa nước 04
2.1.2: Nương rẫy 07
2.2: Chăn Nuôi 08
2.3: Nghề Thủ Công 09
2.4: Săn Bắn Hái Lượm 11
2.5: Trao Đổi Và Buôn Bán 13
3) VĂN HÓA VẬT THỂ 3.1: Nhà ở Và Kiến Trúc 14
3.2: Trang Phục 18
3.2.1: Trang phục phụ nữ Mường 19
3.2.2: Trang phục nam giới Mường 23
3.2.3: Trang phục thầy mo 23
3.2.4: Trang phụ nàng dâu trong tang ma 28
3.2.5: Trang phục của nam giới trong tang ma 39
3.3: Ẩm Thực 30
3.3.1: Món ăn phong vị Mường 30
3.3.2: Rượu cần 37
3.4: Phương Tiện Vận Chuyển 39
Trang 44) VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
4.1: Ngôn Ngữ 41
4.1.1: Tiếng nói 41
4.1.2: Chữ viết 41
4.1.3: Tôn giáo 41
4.1.4: Tín ngưỡng 41
4.2: Lễ Hội 44
4.2.1: Hát sắc bùa 44
4.2.2: Pồn pôông 46
4.2.3: Đâm đuống 49
4.2.4: Tết của người Mường 52
4.3: Văn Học Dân Gian 58
4.4: Văn Nghệ Dân Gian 61
4.4.1: Sáo ôi 61
4.4.2: Cò ke 62
4.4.3: Cồng chiêng 63
5) VĂN HÓA TỔ CHỨC XÃ HỘI 5.1: Cơ Cấu Tổ Chức Làng, Bản Buôn 65
5.2: Cơ Cấu Tổ Chức Dòng Họ 68
5.3: Tổ Chức Gia Đình 69
6) PHONG TỤC TẬP QUÁN 6.1: Cưới Xin 70
6.2: Tang Ma 76
7) XU THẾ BIẾN ĐỔI 7.1: Văn Hóa Mưu Sinh 84
7.2: Văn Hóa Vật Thể 84
7.2.1: Ẩm Thực 84
Trang 57.2.2: Trang Phục Và Nghề Dệt Cổ Truyền 86
7.2.3: Nhà sàn người Mường 88
7.3: Văn Hóa Phi Vật Thể 89
7.3.1: Ngôn ngữ 89
7.3.2: Tín Ngưỡng tôn giáo 89
7.4: Văn Hóa Xã Hội 90
7.5: Phong Tục Tập Quán 91
7.6 : Kết 93
Trang 6NGƯỜI MƯỜNG 1) KHÁI QUÁT CHUNG
1.1: Tộc Danh
Tên gọi các nhóm thuộc dân tộc Mường: Mol, Mual, Mọi, Mọi bi, Ạo tá (Ạu tá) Người Mường tự gọi mình là Mol Có người cho rằng mol có nghĩa là người; còn từ Mường là để chỉ một dân tộc cụ thể có lẽ xuất hiện tương đối muộn Ạo tá (Ạu tá) có thể là tên liên quan đến một tầng lớp người chuyên giúp việc cho Lang Đạo
Thuật ngữ Mường hiện nay có một số ý kiến khác nhau Có người cho rằng, thuật ngữ Mường vốn là ngôn ngữ Thái, để chỉ một đơn vị cư trú, một đơn
vị xã hội cổ truyền, một vùng đất Thuật ngữ Mường gắn với tên dân tộc là để chỉ người sinh sống ở đơn vị cư trú, ở đơn vị xã hội, ở vùng đất đó Sau này, dần dần thuật ngữ Mường mới gắn với một dân tộc cụ thể, trở thành tên gọi một dân tộc – dân tộc Mường
1.2: Dân Số
Năm 2019 , theo kết quả tổng điều tra dân số thì số người Mường là
1.434.628 người Theo kết quả của cuộc Tổng điều tra Dân số và nhà ở được công bố vào ngày 1/4/2019, người Mường có dân số là 1.452.095 người, chiếm 1,5093% dân số cả nước
1.3: Địa Bàn
Dân tộc Mường cư trú chủ yếu ở tỉnh Hòa Bình và các tỉnh miền núi lân cận: Phú Thọ, Sơn La, Thanh Hóa, Ninh Bình Theo nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học, người Mường là một trong những cư dân bản địa ở Việt Nam Vùng cư trú ban đầu của người Mường được xác định từ lâu đời là Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động Các vùng này hiện nay được xác định là thuộc tỉnh Hòa Bình, với cái tên mới gắn với tên các huyện là: huyện Tân Lạc (Mường Bi), huyện Lạc Sơn (Mường Vang), huyện Kỳ Sơn (Mường Thàng),
Trang 7huyện Kim Bôi (Mường Động) Nhìn từ góc độ tiếng Mường thì có tác giả cho rằng không thể giải thích được ý nghĩa của các thuật ngữ Bi, Vang, Thàng, Động, nhưng những thuật ngữ này lại có thể giải thích được bằng ngôn ngữ dân tộc Thái Theo tiếng Thái, Mường là một vùng đất, còn các thuật ngữ Bi, có nghĩa là bậc anh chị, Vang có nghĩa là vắng vẻ, Thàng có nghĩa là đường đi, Động có nghĩa là rừng Từ đó các thuật ngữ Mường Bi là mường bậc anh chị, nay là huyện Tân Lạc; Mường Vang là mường vắng vẻ, nay thuộc huyện Lạc Sơn; Mường Thàng là mường có đường đi, thuộc huyện Kỳ Sơn; còn Mường Động là Mường có rừng rậm, nay là huyện Kim Bôi
Địa bàn sinh sống chủ yếu của người Mường
1 4: Lịch Sử Hình Thành Và Phát triển
Tuy vấn đề nguồn gốc người Việt - Mường hiện nay còn đang tiếp tục nghiên cứu, song hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng, họ là những cư dân bản địa Ý kiến được nhiều người tán đồng cho tổ tiên người Việt - Mường là người Lạc - Việt, một chủ nhân của văn hóa Đông Sơn nổi tiếng hay nói rộng hơn là nền văn minh Sông Hồng Do đó, có cơ sở để cho rằng, vào thời các Vua
Trang 8Hùng (hoặc trong thời đại đồng thau) và cả giai đoạn tiếp theo, Việt - Mường còn là một khối thống nhất Vào các thời kỳ sau, do những nguyên nhân và điều kiện lịch sử nhất định, sự phân hóa đã này sinh, khối cộng đồng Lạc - Việt đã dần phân ly thành hai Quá trình phân hóa đó diễn ra một cách lâu dài, chậm chạp, không đồng đều và chủ yếu là trong thời Bắc thuộc Từ sau thế kỷ X, XI, Việt và Mường đã bắt đầu trở thành hai tộc người, nhưng vẫn có sự giao lưu về kinh tế và văn hóa
Và sự phân tách thành hai dân tộc riêng biệt giữa người Kinh và người Mường được cho là kết thúc vào giai đoạn kháng chiến chống quân Nguyên Mông thời nhà Trần Các chính sách tiêu thổ kháng chiến của triều đình vô tình
đã khiến cho các cộng đồng Mường dần tụ cư thành một số cộng đồng vững chắc, biệt lập hoàn toàn trên nhiều khía cạnh văn hóa – xã hội tại các tỉnh có tính chất sơn địa hiểm trở Hòa Bình, Sơn La, Phú Thọ…
1.5: Môi Trường Sinh Sống
Người Mường sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viên của mỗi gia đình thường nổi bật lên những hàng cau, cây mít Ðại bộ phận ở nhà sàn, kiểu nhà bốn mái Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt chuồng gia súc, gia cầm, để cối giã gạo, các công cụ sản xuất khác
Người Mường sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi,
nơi đất thoải gần sông suối
Trang 92) VĂN HOÁ MƯU SINH
2.1 : Nông Nghiệp
2.1.1: Nghề nông trồng lúa nước
Người Mường sinh sống bằng nghề làm ruộng, cây trồng chính là cây lúa Đồng bào trồng lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ Do sinh sống ở trên núi, để làm lúa nước, đồng bào phải khai thác các triền đất dốc, các sườn đồi thành ruộng bậc thang Người Mường làm ruộng bậc thang với với kỹ thuật cao, gồm các khâu: cầy, bừa, gieo mạ, cấy lúa, làm cỏ, bón phân cho cây lúa Đồng bào không chỉ tận dụng các dòng chảy của sông suối, để đưa nước vào ruộng mà còn làm cọn nước để đưa nước lên cao, khai mương máng cho dòng chảy vào ruộng cao hơn mực nước sông, suối, mà dòng chảy tự nhiên không thể chảy vào được Tuy nhiên, có nơi do loại đất, đồng bào chỉ dùng trâu giẫm cho nát cỏ, nhuyễn đất, rồi cấy luôn Sau cấy độ một tháng, đồng bào làm cỏ cho cây lúa một lần Công
cụ làm đất phổ biến là chiếc cày chìa vôi, chiếc bừa đơn, nhỏ có răng bằng gỗ hoặc bằng tre Lúa chín dùng hái gặt lúa bó thành cụm gùi về nhà phơi khô rồi
để trên gác, khi cần dùng, lấy từng cụm bỏ vào máng gỗ, dùng chân chà lấy hạt rồi đem giã
Trang 10Người Mường có hai vụ mùa chính như người kinh là vụ đông xuân (từ tháng giêng đến tháng 5) và vụ hè thu (từ tháng 5 đến tháng 8), nhưng sau đồng bào đã tận dụng thời gian giữa hai vụ xuân của đất ruộng để trồng thêm vụ màu Cùng với sự cần cù và sáng tạo trong lao động và ứng dụng khoa học, kĩ thuật, đưa giống mới vào đồng ruộng, ở nhiều nơi đã chuyển từ hai vụ sang ba vụ trong một năm
Người Mường cũng có nhiều bộ lịch như: “lịch Đá rò (lịch Rùa), lịch cơm mới, lịch Khao roi (hay còn gọi là lịch Sao roi), lịch Con rác (lịch Con nước) Mỗi bộ lịch căn cứ vào hiện tượng tự nhiên mà hình thành cách tính Lịch Khao roi dựa vào sự dịch chuyển của sao Roi (sao Tua Rua/sao Khuê) trong tháng Lịch Đá rò căn cứ vào mùa và thời tiết Lịch Con rác dựa vào con nước lên, xuống theo các tháng trong năm Lịch của người Mường, đặc biệt là Lịch Sao Roi của được ghi trên thẻ tre là một di sản quý trong kho tàng di sản văn hóa của đất nước.”
Lịch Đoi truyền thống của người Mường còn lưu dấu vết rõ ràng vào âm lịch Việt Nam Có lẽ vì vậy mà trong tục ngữ của người Mường có câu: Ngày lui tháng tới để chỉ sự chênh lệch này trong cách tính thời gian Một chạp, Giêng hai được hiểu tháng Một theo Âm lịch là tháng 11 của người Mường; tháng Giêng trong Âm lịch là tháng 12 Năm mới của người Mường bắt đầu từ tháng
11 là thời điểm kết thúc vụ Mùa, được gọi là Tết lúa mới
Lịch đoi có ý nghĩa rất quan trọng đối với văn hóa Mường, thể hiện tài chiêm tinh của người Mường cổ thông qua việc quan sát trăng sao để dự báo thời tiết
Và đến nay người Mường vẫn tin tưởng vào những chỉ dẫn của lịch đoi mà họ coi đó là bảo bối của dân tộc Mường.Trong các vùng đất có người dân tộc Mường sinh sống, bộ lịch Mường vẫn được sử dụng như một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống Tuy nhiên, chỉ còn một số ít người trong cộng đồng còn thông thạo cách tính lịch này, chủ yếu họ là các thầy Mo, thầy Trượng Hiện vẫn chưa
có một công trình khoa học nào được công bố để lưu giữ và truyền bá vốn tri
Trang 11thức này Bộ lịch thẻ tre của người Mường có thể sẽ còn được lưu giữ ở đâu đó trong các bảo tàng hay bộ sưu tập tư nhân nhưng cách tính lịch của người Mường thì đang đứng trước nguy cơ thất truyền, rơi vào quên lãng
Lịch đoi của người Mường
Như lịch 10 tháng (lịch cơm mới)mà trong sử thi Đẻ đất đẻ nước nói, thời
xa xưa ấy con người chưa biết phân biệt đêm ngày, chỉ nghe tiếng ve kêu để biết tối sáng mà thôi, bởi vậy họ phải đặt năm, đặt tháng và ngày:
Một năm là bảy tháng ấm
Một năm là mười tháng
Một tháng là hai mươi ngày
Lúc này họ chỉ đặt lịch theo thời gian mùa vụ, làm ăn theo mười tháng, một tháng 20 ngày, để đoán biết thời tiết mà ta gọi là lịch Cơm mới Đặc biệt người xưa đoán định thời tiết, mùa vụ bằng việc quan sát đêm 30 tết (tháng Chạp) Nếu năm đó sáng trên, năm đó được mùa bông; lúa, sáng mặt đất năm đó được mùa khoai, sắn, sáng lưng chừng được mùa ngô Còn trời tối đen như mực cả trên, giữa, dưới thì năm đó mất mùa Ngược lại trời sáng cả năm đó được mùa Họ
Trang 12cũng theo dõi đêm đó các con vật trong nhà, con gì thức trước để biết tốt xấu Nếu chó sủa, năm đó lắm trộm cắp ở cả đồng lẫn ở nhà; con mèo đêm đó kêu nghêu ngao thì năm đó nhiều thú dữ; trâu bò dậy trước thì năm đó được mùa, làm ăn tấn tới; lợn thức trước thì năm đó ghẻ lở Họ ăn tết theo lịch 10 tháng một năm mà ngày nay ta còn thấy lễ ăn mừng cơm mới là dấu ấn
ma quỷ cai quản Cho nên họ tránh làm nương rẫy trên các vạt rừng, cây cổ thụ coi là linh thiêng - nơi ngự trị của thần rừng, thần cây, mặc cho đất đai có tơi xốp đến đâu
Nếu ruộng chuyên dùng trồng lúa nước thì nương lại chuyên trông ngô, khoai, sắn Các loại cây trông này được đồng bào sử dụng làm thức ăn chăn nuôi
Trang 13lợn, gà, vịt là chính, nhưng cũng có thể được sử dụng như nguồn lương thực dự phòng khi mùa màng thất bát, cây lúa nước bị thất thu khi hạn hán
Ngoài cây lương thực, đồng bào Mường ở tỉnh Thanh Hóa còn trồng một
số cây khác có giá trị kinh tế như: cây luồng, cây trẩu, cây sở, cây dâu, cây bông nuôi tằm, cây lấy cánh kiến Một số nơi còn trồng rau xanh, trồng cây ăn quả, nhưng chưa nhiều, chưa thành tập quán phổ biến trong các gia đình
là lợn, chó, mèo Chó, mèo dùng để giữ nhà, còn lợn chủ yếu để ăn thịt và làm
vật hiến cho các nghi lễ cúng bái cưới xin tang ma và cũng để bán
Gia cầm được nuôi phổ biến là gà vịt Cách nuôi cũng chủ yếu là chăn thả
ra vườn, ra đồi núi để tự kiếm ăn ban ngày, chiều tối gọi về cho ăn một bữa rồi chúng tự vào chuồng ngủ đêm
Trong môi trường vùng núi, một số gia đình nuôi ong lấy mật và sáp Mật ong dùng để ăn và bán hoặc làm vật trao đổi hàng
Ở một số nơi người dân nuôi tằm lấy tơ dệt lụa
Do địa bàn cư trú bán trung du và miền núi nên ao hồ nơi người người Mường ở ít xuất hiện Họ chủ yếu dựa vào đánh bắt cá, tôm tự nhiên ở sông, suối và các chi lưu của nó Công cụ đánh bắt chủ yếu là lưới, đó, đăng, chũm
Trang 14Công cụ đánh bắt cá chủ yếu của người Mường
có khung cửi dệt vải sợi to, khổ hẹp
Số vải dệt được, chủ yếu dùng trong
gia đình, váy áo của phụ nữ thường
may bằng vải tự dệt lấy Trước khi cắt
may, vải thường được nhuộm chàm,
nhuộm đen hoặc nhuộm nâu Cạp váy
hoa dệt khá công phu, mất nhiều thì
giờ và đòi hỏi phải có một kĩ thuật
nhất định Nhuững cạp váy đẹp, dệt bằng tơ nhuộm màu, trên mặt vải có nhiều hoa văn hình rồng, hình phượng, hình các loại thú như hươu, rùa, chim và các loại hoa văn hình học Họa tiết càng phức tạp, dệt càng khó, dệt cạp váy hoa hầu
Trang 15như chỉ thấy ở người Mường Nghề dệt thổ cẩm của người Mường rất độc đáo, với kĩ thuật dệt chiếc thắt lưng
Vùng người Mường sinh sống sẵn các sản vật: tre, luồng, song, mây Đàn ông Mường sử dụng các sản vật đó để đan những đồ gia dụng như thúng, mủng, dần, sàng, nong nia; đan các công cụ dùng đánh bắt cá như : đơm, đó, giỏ; dùng dây gai, dây đay để đan chìa, lưới đánh cá
Một số sản phẩm đan lát của người Mường
Người Mường cũng như các dân tộc khác, tự làm lấy nhà để ở Kĩ thuật làm nhà của người Mường đã đạt đỉnh cao của kĩ thuật đục, bào, ghép mộng Tuy nhiên ở nhiều nơi kĩ thuật dựng nhà vẫn chưa vượt qua kĩ thuật thô sơ ban
Trang 16đầu, tức là dùng ngoãm để đặt xà ngang, quá giang, cột nhà chôn thẳng xuống đất
Song, một số nghề thủ công
quan trọng như nghề gốm, đúc kim
loại, rèn hầu như không có Những
sản phẩm bằng gốm bằng kim khí đều
phải mua hoặc trao đổi
2.4: Săn Bắn Và Hái Lượm
Săn bắn là một hoạt động thường gặp trong đời sống của người Mường, nhưng không phải là nguồn sống quan trọng Săn bắn còn kết hợp với sản xuất
để chống thú rừng, bảo vệ mùa màng Nó không những là một nguồn lợi, nguồn cung cấp thức ăn mà còn là một thú vui Trong làng xóm, chưa có những người chuyên sống về săn bắn, nhưng người đàn ông nào cũng biết đi săn và gia đình nào cũng có nỏ và súng Người Mường có nhiều kinh nghiệm làm nỏ và tên thuốc độc Với tên thuốc độc, người ta có thể bắn chết những thú lớn trong rừng Súng có 2 loại chủ yếu là súng kíp và hỏa mai, nhưng súng kíp được ưa dùng hơn Trước đây, nhiều vùng có những buổi đi săn tập thể Cùng với việc săn bắn, đồng bào còn dùng các loại bẫy dùng để đánh cầy, cáo, chim, chuột,… Có nhiều loại bẫy khác nhau, nhưng phố biến là loại bẫy sập
Trang 17Vũ khí săn bắn của người Mường
Đánh cá cũng là một nghề phụ trong gia đình, tương đối phát triển ở những khu vực vên các con sông và suối lớn Ở vùng thấp, xung quanh làng xóm, phần lớn đều có ao, đầm, sông, suối nên dễ kiếm cá hơn Hầu như nam giới người nào cũng biết đánh cá, biết đan chài, lưới và gia đình nào cũng có đồ đánh cá các công cụ đánh cá khá đa dạng, ngoài những thứ như chài, lưới, vó có nhiều loại khác như đơm, đó, đăng,… Vào những ngày cuối năm, để chuẩn bị cho thức ăn ngày tết, người ta hay đi đánh cá Dịp này cá kiếm được tương đối nhiều Một số nơi còn lấy một số loại lá hoặc rễ cây đem giã ra rồi thả xuống nước Đánh cá kiểu này tuy kiếm được nhiều, nhưng cá chết hàng loạt, ảnh hưởng không tốt đến nguồn cá sau này Ngoài ra còn bắt tôm tép, cua ốc ở khe suối, ở ruộng hoặc bắt một số loại côn trùng
Lễ hội đánh cá của người Mường Hòa Bình
(Lỗ Sơn, Tân Lạc, Hòa Bình)
Trang 18Hái lượm là nguồn cung cấp thức ăn hàng ngày như lấy các loại rau rừng, măng, một số hoa quả Lúc đói kém người ta vào rừng lấy các loại củ: củ mài, môn, nâu, vớn hay bột báng để ăn thay cơm Đồng bào còn thu nhặt các loại lâm sản như nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, cánh kiến, các loại hạt có dầu, quế, mật ong, Những thứ đó một phần để dùng, nhưng chủ yếu để bán hoặc làm vật trao đổi Những nơi thuận tiện giao thông, đồng bào còn khai thác gỗ, bương, tre, nứa, mây song, … Đó cũng là một nguồn thu nhập đáng kể Còn những vùng giao thông khó khăn, không có phương tiện chuyên trở, người ta chỉ lấy lâm sản để làm nhà cửa và làm các dụng cụ gia đình
2.5: Trao Đổi Và Mua Bán
Tuy nền kinh tế tự túc, tự cấp là chính, nhưng bước đầu có một số hoạt động mua bán ở trong vùng người Mường Đó là sự hình thành các chợ nông thôn Trong các chợ này, đồng bào Mường bán các loại hàng nông sản như: trâu,
bò, lợn, gà, vịt, ngô, khoai, sắn, thổ cẩm; bán các lâm sản như măng khô, mật ong, nấm hương, mộc nhĩ, quế; mua các loại hàng nhu yếu phẩm như muối, dầu thắp, kim khâu, sách vở, giấy bút mực cho trẻ em đi học; mua các loại công cụ sản xuất như: lưỡi cuốc, lưỡi cày, thuổng, xẻng, dao, búa…
Ngoài ra, nhờ có vị trí thuận lợi là nằm xem kẽ giữa vùng của người Thái
và người Kinh vốn là những dân tộc phát triển thủ công nghiệp rất mạnh, đồng bào có thể tận dụng những sản phẩm của mình để đổi lấy những mặt hàng thủ công mà đồng bào không biết làm như: Kim khí, gốm sứ…
Trang 193) VĂN HOÁ VẬT THỂ
3.1: Kiến Trúc Và Nhà ở
Người Mường rất thận trọng trong việc chọn hướng nhà để đem lại tài lộc may mắn cho gia đình mình Nhưng mặt nhà bao giờ cũng không được ngược với hướng của đồi núi Nhà sàn luôn dựa lưng vào thế đất cao như sườn đồi sườn núi
để đón nhận tiết trời trong lành và tiện cho sinh hoạt Trong tín ngưỡng, người Mường coi con rùa là vật linh thiêng biểu tượng cho sự sống lâu, trường cửu Do vậy nhà của người Mường mô phỏng theo hình dáng của con rùa với bốn chân là bốn cái cột nhà, mai rùa là bốn mái nhà
Việc dựng nhà sàn của người Mường là kết quả của một quá trình dài đúc rút kinh nghiệm cư trú Điều đó thể hiện ở bản mo nổi tiếng họ là "Te tấc te đác" (đẻ đất đẻ nước) Trong bản mo đồ sộ này có đoạn nói về sự ra đời của nhà sàn người Mường Mo rằng: Khi người Mường sinh ra nhà chưa có nên phải sống trong các hang núi, hốc cây, họ phải đối mặt với nhiều thiên tai hiểm hoạ Một hôm, ông Đá Cần (còn gọi là lang Cun Cần) bắt được một con rùa đen trong rừng đang định đem ra làm thịt Rùa van xin Đá Cần tha chết và hứa nếu được thả thì rùa sẽ dạy cho ông cách làm nhà để ở, làm kho để lúa, để thịt:
Bốn chân tôi làm nên cột cái Nhìn sườn dài, sườn cụt mà xếp làm rui Nhìn qua đuôi làm trái
Nhìn lại mặt mà làm cửa thang cửa sổ Nhìn vào xương sống làm đòn nóc dài dài Muốn làm mái thì trông vào mai
Vào rừng mà lấy tranh, lấy nứa làm vách Lấy chạc vớt mà buộc kèo
Trang 20Lần dựng thứ nhất, nhà đổ Ông Đá Cần doạ làm thịt rùa Rùa lại phải dặn lấy gỗ tốt mà làm cột làm kèo… Từ đó, người Mường biết làm nhà để ở
Trước đây mái nhà thường lợp bằng rạ, cỏ gianh hay lá cọ nên ấm áp về mùa đông và mát mẻ về mùa hạ Nhưng hiện nay hầu hết được thay bằng gạch ngói hoặc xi măng Ngoài phần mái, hầu hết kết cấu trong ngôi nhà của người Mường đều làm bằng các vật liệu như tre, gỗ từ cột kèo tới tường, cửa, sàn nhà và cầu thang
Nhà người Mường luôn bố trí 2 cầu thang, còn gọi là " Màn " Cầu thang không dựng thẳng vào cửa chính, mà dựng vào mép một cái sảnh gỗ và đặt vuông góc với chiều đòn nóc nhà Cầu thang chính ở đầu hồi bên phải nhà dành cho chủ nhà và khách khứa; cầu thang phụ đặt ở đầu hồi bên trái chỉ dùng cho phụ nữ và sinh hoạt gia đình Theo quan niệm của người Mường, tổng số bậc cầu thang nhất thiết phải là số lẻ để của cải ngày càng giàu có, gia đình luôn được êm ấm, đoàn tụ, con cháu thành đạt
Về mặt bằng sinh hoạt
Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt của người Mường tùy nơi có thay đổi chút ít Xong vẫn giữ một quy cách chung
Thang chính (T1) thường đặt ở đầu hồi bên phải Thang phụ (T2) dành cho
nữ giới đặt ở đầu hồi bên trái (thuộc về phần nhà dành cho nữ giới)
Trong nhà chia làm hai phần theo chiều ngang: Phần thứ nhất (I) dành cho sinh hoạt của nam giới Đó là nơi tiếp khách nam (KN) và có bàn thờ tổ tiên (TT) Phần này gọi là bên ngoài
Phần thứ hai (II), bên trong dành cho bếp (BC) và sinh hoạt của nữ giới Nhà còn được chia theo chiều dọc: Bên trên và bên dưới Sự phân chia này có tính ước lệ không liên quan gì đến độ cao thấp Cái quan niệm này chỉ thể hiện khi xếp đặt chỗ ngồi ở trong nhà: người cao tuổi, người thuộc về thế hệ cao hơn hoặc có danh vọng, đáng tôn kính… bao giờ cũng được mời ngồi ở bên trên
Trang 21Sơ đồ mặt bằng nhà sàn người Mường
Nhà sàn của người Mường được phân ra làm ba mặt bằng, tầng trên cùng chứa lương thực và đồ dùng sinh hoạt gia đình; sàn tầng hai là nơi sinh hoạt chính, nghỉ ngơi và tiếp khách Trước đây gầm sàn tức là tầng một thường để những dụng
cụ sản xuất và nhốt gia súc Hiện nay với đời sống phát triển và văn minh hơn nên hầu hết các gia đình đã chuyển gia súc, gia cầm ra xa nơi ở hơn để đảm bảo vệ sinh sạch sẽ Trong nhà sàn người Mường, không gian được chia cả theo chiều dọc và chiều ngang Từ cầu thang chính bước vào theo chiều ngang, phía ngoài là để tiếp khách và dành cho nam giới; phía trong là nơi sinh hoạt của cả gia đình và dành cho nữ giới Theo chiều dọc, phía trên có các cửa sổ, gọi là cửa " Vóong " Chỗ ngồi gần cửa Vóong thường dành cho người cao tuổi Mỗi gian thường có từ một đến hai cửa sổ làm bằng gỗ ở phía trước của ngôi nhà, vì vậy mùa hè tại đây rất mát mẻ mà qua đó có thể ngắm nhìn phong cảnh xung quanh ngôi nhà Song ở bất
kì hướng nào, cửa sổ đều được coi là rất linh thiêng và điều tối kị nếu người phụ
nữ ngồi lên cửa sổ, bởi trong tiềm thức và phong tục lâu đời của người Mường cửa
sổ là nơi dùng để tiễn đưa những người thân trong gia đình sang thế giới bên kia
Trang 22Mỗi ngôi nhà sàn đều được chia thành các gian, nhà càng nhiều gian chứng
tỏ gia đình càng khá giả Mỗi gian bày biện những đồ vật khác nhau có những ý nghĩa nhất định Gian tiếp đón khách thường treo những đồ vật linh thiêng trong nhà như cồng chiêng các loại trống, các mũi tên, cung nỏ, sừng trâu, sừng bò
Bếp của người Mường là rất công phu Khuôn bếp được làm bằng loại gỗ đặc biệt cứng, có đường viền xung quanh, đáy lót bằng bẹ chuối rồi rải bùn lên trên Khi chuyển bếp mới, người Mường tìm một số loại cỏ thơm như cỏ mật phơi khô để vào bếp đốt lấy tro rồi mới bắc kiềng nấu nướng Bếp thường đặt trên trục nhà nơi nóc dọi xuống Có nhà bếp đặt gần cửa sổ để thông gió, tránh khói và hoả hoạn Tuy vậy, việc đặt bếp ở cửa sổ ít được ưa chuộng hơn vì người Mường quan niệm nếu đặt bếp gần cửa sổ thì hơi ẩm từ bếp toả ra ngôi nhà không đều Nhà người Mường thường có hai bếp chuyên dụng Một bếp để nấu nướng thức ăn, và phụ nữ, trẻ em trong gia đình ngồi sưởi Một bếp nhỏ hơn đặt ở gian gốc dùng để cho đàn ông trong gia đình ngồi sưởi vào mùa đông và đun nước uống hàng ngày hoặc tiếp khách Bếp này người phụ nữ trong gia đình ít khi được ngồi hoặc sử dụng, trừ phụ nữ cao tuổi như bà, cụ hay con gái út được yêu quý nhất
Về kết cấu nhà sàn truyền thống, thường có hai đỉnh kèo, bốn cột cái, tám cột con Giữa hai đầu cột có hai xà ngang nối với nhau, có đòn tay nối các vỉ kèo với nhau, trên các đòn tay có các hàng dui nối từ nóc nhà xuống tận mái hiên Trên dui có các hàng mè nằm vuông góc với dui Trên cùng - gác trên đầu các vỉ kèo, nóc nhà là đòn nóc Điều thú vị nhất trong tổng thể cấu trúc nhà sàn của người Mường là những kết cấu hoàn chỉnh, không chỉ tạo dựng lên một ngôi nhà sàn đặc trưng mà còn ở chỗ mỗi bộ phận cấu thành của nó đều mang một ý nghĩa tâm linh, sâu sắc gắn kết giữa con người với đời sống tự nhiên, dù trải qua hàng nghìn năm
vẫn không thay đổi
Trang 23Nhà sàn của người Mường
3.2: Trang Phục
Trang phục Mường tập trung kiểu cách, màu sắc ở nữ giới nhiều hơn Nhưng
dù nhiều hay ít nam hay nữ ở mỗi gia đình hay nói chung cũng vậy, đều chia thành các loại: Trang phục thường để lao động, sinh hoạt bình thường, ngày hội; Trang phục ngày cưới, gọi là quần áo du (dâu), cháu (rể); Trang phục tang lễ, gọi là đồ tem; Trang phục cho người chết, (gọi là bang khà); Gia đình có người làm mo, mỡi, trượng thì có thêm loại trang phục ấy
3.2.1: Trang phục của phụ nữ Mường
Khăn: là một mảnh vải
trắng hình chữ nhật, không có
hình vẽ hay thêu thùa Khăn này
có chiều rộng khoảng 35cm, chiều
dài khoảng 60cm Chiếc khăn này
dùng để giữ cho nếp tóc được gọn
Trang 24gàng, che cơ thể trước nhiệt độ và thời tiết ở núi rừng Chiếc khăn trắng của những người phụ nữa Mường có 1 ý nghĩa xã hội sâu xa gắn với truyền thuyết đầy lãng mạn về 1 mối tình giữa 1 chàng trai nghèo tên là Khỏe ở Mường Dậm, với 1 cô gái nhà Lang xinh đẹp tên là Út Dô Do khác biệt về thân thế và bị gia đình ngăn cản, nên đôi trai tài gái sắc không đến được với nhau Chàng Khỏe để bảo vệ bản làng nên đã tạm biệt người yêu và một mình chiến đấu với 2 con hổ, sau nhiều ngày giao tranh chàng Khỏe đã ôm 2 vợ chồng con hổ lao xuống vực sâu ở núi Zang Từ
đó người Mường tránh được tai họa thú dữ, nhưng nỗi đau mất người yêu của nàng
Út Dô ngày càng lớn Ngày nào nàng cũng ra bờ suối - nơi chia tay với Khỏe để đợi chàng và lấy mảnh vải trắng chưa kịp nhuộm màu mà chàng tặng xẻ ra từ vạt
áo để lau nước mắt Mỗi lần khỏa mảnh vải xuống suối thì lại thấy hình ảnh của chàng hiện về, mảnh vải ướt nàng lại vắt lên đầu Và 1 đêm trăng sáng nàng vì nhớ người tình nên đã tự tử, thân thể hóa cây Clang nở hoa trắng dọc 2 bên suối Từ đó tất cả phụ nữ Mường đều đội 1 cái khăn trắng trên đầu để tưởng nhớ mối tình của 2
người
Yếm: là một mảnh vải có cổ khoét tròn vòng cung với hai đầu dây buộc ở sau gáy và hai dây buộc ngang lưng, hình vuông, gần giống yếm của người Kinh nhưng ngắn hơn
Áo tứ thân: là áo có xẻ giữa nhưng không có cúc cài, không có khuy, ống tay dài Áo có hai màu trắng hoặc nâu, thân áo thường ngắn hơn so với loại áo cánh của người Việt
+ Váy: là mảnh vải đen bó thân người mặc từ nách xuống gần mắt cá chân bao gồm ba phần: Cạp váy: đây là nơi duy nhất được trang trí hoa văn dệt bằng khung cửi và bao gồm ba phần: rang trên là bộ phận trên cùng của cạp váy và là phần quan trọng nhất của váy bởi nó bắt nguồn từ ý thức hệ tôn giáo của người Mường; rang dưới là bộ phận quan trọng thứ hai của chiếc váy người phụ nữ Mường; cao là bộ phận tiếp liền với thân váy
Trang 25+ Thân váy
+ Gấu váy
Đi đôi với váy, chiếc thắt lưng hay còn gọi là tênh có vị trí nổi bật, nó tôn
thêm vẻ đẹp sang trọng của cạp váy, tênh may bằng vải lụa, dài chừng hơn sải tay, thắt đúng giữa eo trên nền cao váy Thắt lưng Mường có nhiều màu: trắng, xanh, tím, vàng, xanh lá mạ
Trong bộ trang phục Mường còn có các đồ trang sức như khuyên tai, vòng
cổ, vòng tay, xà tích, … Ngày thường, những đồ trang sức này như là thứ vật quý, nhất là những trang sức làm bằng bạc, người ta cất giữ trong hòm, trong rương Bộ
xà tích bằng bạc có ba hoặc bốn dây gập lại thành sáu hay tám móc vào thắt lưng
từ phía hông bên trái, trên đó còn treo thêm hộp trầu, chùm vuốt hổ bằng bạc Vào những ngày lễ tết, hội hè, cưới xin, phụ nữ mới mang ra dùng
Mường Hòa Bình: Trang phục phụ nữ Mường Hòa Bình với phần bên trong mặc áo yếm, bên ngoài khoác áo tứ thân không cài khuy để khoe được phần cạp váy dệt nhằm thể hiện sự khéo léo của mỗi người phụ nữ Mường
Mường Thanh Hóa: Nhóm Mường Thanh Hóa có loại áo ngắn chui đầu, gấu lượn, khi mặc cho vào trong cạp váy và cao lên đến ngực
Trang 26Khăn đội đầu:
Chiếc khăn đội đầu rộng khoảng 20cm, dài khoảng 60 - 80 cm buộc quá vòng đầu
để thắt sau gáy với nhiều kiểu thắt khác nhau Khăn có màu đen, hai đầu khăn
được dệt những họa tiết tinh tế, tạo điểm nhấn cho chiếc khăn
Áo Khóm: Áo Khóm của người phụ nữ Mường có chiều dài qua ngực, áo
chui đầu, cổ tròn được viền màu ôm khít chân cổ, có xẻ một chút hai bên vai để dễ
chui đầu Chỗ xẻ hai bên được cài bằng hai nút bạc hoặc dùng dây buộc (đôi khi
cũng xẻ một bên) Áo có một màu: Trắng, vàng, xanh…
Cạp váy (Trôôc vuôn): Nối giữa cạp váy và áo, chiếm trên 30% chiều dài
thân váy, là bộ phận đẹp nhất có giá trị trang trí cho toàn bộ chiếc váy Phần này
ngang lưng ôm trọn eo của người phụ nữ Cạp váy có 3 bộ phận, mỗi bộ phận được
dệt thành một tấm riêng, có tên gọi khác nhau, hoa văn, kích thước khác nhau, các
bộ phận đó bao gồm: Đang, buôn (vuôn), lai Cạp váy là chi tiết cực kỳ quan trọng
bởi đây là điểm nhấn đại diện cho sự sáng tạo của người Mường, cạp váy được dệt
bởi các họa tiết hoa văn cực kỳ tinh xảo không bị lệ thuộc vào các mẫu có sẵn mà
do ý tưởng sáng tạo của người dệt Các hoa văn trên cạp váy chủ yếu được thêu
hình Long, Phượng và các khối hình khác, nhưng nổi bật và mang tính phổ biến
của sự ảnh hưởng văn hóa trên mặt trống đồng Đông Sơn
Thân váy: Được dệt bằng sợi tơ tằm nhuộm màu đen dài đến gót chân người
phụ nữ Điểm nhấn của thân váy là gấu váy, phía bên trong gấu váy được điểm
thêm một miếng vải, có màu sắc tùy theo lứa tuổi Đối với thiếu nữ gấu váy được
lót màu đỏ, đối với các bà, các mẹ được lót bằng vải nâu
Khăn Tênh: Ngoài ra, để cho cạp váy không bị rơi khỏi cơ thể người mặc và
làm tăng thêm vẻ đẹp của bộ váy Còn có dây thắt lưng (hay còn gọi là khăn Tênh),
Trang 27có chiều dài khoảng 1m50 - 2m, chiều rộng khoảng 30 - 40cm, thường làm bằng vải tơ tằm hoặc len nhuộm màu xanh
Bổ trợ cho bộ trang phục nữ là các đồ trang sức như hoa tai, vòng cổ, vòng tay, xà tích Hoa tai, có thể là vàng hay bạc, nhưng vòng cổ và vòng tay làm bằng bạc, ngoài việc trang trí được coi như “bùa hộ mệnh” để giữ gìn sức khỏe cho mỗi người Đặc biệt chú ý là bộ xà tích (hay còn gọi là dây xuân thu) được phụ nữ Mường cài vào thắt lưng và buông lơi một bên xuống hông Xà tích được đánh bằng bạc, đối với người trẻ Phụ nữ và người già, xà tích đeo kèm cối giã trầu, chìa khóa, hộp kim làm bằng bạc có 9 cái dây đeo vào dây xà tích Hộp kim bằng bạc, được coi như vật chủ yếu để trừ tà ma và phòng trong khi cảm mạo
3.2.2: Trang phục của nam giới Mường
Áo ngắn, cổ tròn, có nẹp viền quanh rộng chừng 2cm Thân áo may dài trùm mông, mở tà từ eo lưng xuống gấu áo Áo có ba túi vải may bên ngoài, 1 túi may bên ngực trái và 2 túi dưới
Áo có kiểu dáng dài giống với kiểu áo của người Việt, áo chùng có màu thâm và trắng, may dài đến ngang đầu gối hoặc dài hơn, cài khuy lệch về bên phải,
cổ áo cao hơn áo ngắn
Quần được may bằng vải mộc thô màu trắng, nhuộm nâu hoặc nhuộm chàm, ống rộng, cạp to Khi mặc quần, người mặc sẽ bắt chéo 2 mép cạp dắt vào bên trong và dùng khăn thắt lại
Khăn của nam giới người Mường màu đen hoặc tím than bằng vải tự dệt
Trang 283.2.3: Trang phục của thầy mo
Trang phục và dụng cụ để tiến hành làm lễ tang ma được thầy Mo sử dụng mang tính đặc trưng truyền thống người Mường Khi tiến hành làm lễ, thầy Mo khoác chiếc áo dài 5 thân cài khuy bên nách phải, màu xanh đen, thắt đai lưng màu hồng, đội mũ vải nhọn đầu Trang phục của thầy Mo mang tính chất uy nghiêm và
có sự huyền bí của thánh, thần
Trang phục thầy mo
Trang 29Đồ vật được sử dụng để cầm, khoác lên vai hoặc đeo bên người khi thầy Mo tiến hành làm lễ tang gồm: Túi đựng (túi Thôông), dao lễ (hoặc kiếm), chuông…
Đó tất cả được coi là những vật linh thiêng, dùng làm vật hộ thân, là công cụ trấn trị ma quỷ, điều khiển khi hành lễ
Với ông thầy đi làm lễ có đeo một chiếc túi (được gọi là Thôông) Túi được may vải thổ cẩm, dùng để đựng các đồ dùng và dụng cụ làm lễ như: bao phép (túi Khot), dao lễ, chuông, trang phục thầy cúng…
Khi nhắc đến các thầy Mo Mường, chúng ta không thể không nhắc đến Túi Khót, vật dụng không thể thiếu của các thầy Mo Có người nói, bất kỳ ai cũng có thể trở thành thầy Mo, nhưng không có túi Khót thì không thể là một thầy Mo trân truyền – người được tất cả người Mường tôn kính như một nét đẹp văn hóa tâm linh cần gìn giữ
Đã gọi là nghề thì phải có công cụ, có thể chia công cụ hành nghề của thầy
Mo thành hai loại: Loại thứ nhất là công cụ không thể cầm, sờ được, thầy Mo phải nhớ trong đầu, loại hình công cụ này chỉ được dạy truyền miệng qua các đời thầy
Mo, không được ghi chép lại Đó là các bài cúng, các câu chú nguyện, các bài Mo Đây có thể gọi các là công cụ phi vật thể Loại thứ hai là đồ vật hữu hình có thể cầm, khoác lên người khi hành lễ, hay khi cần dùng trong hành nghề Túi Khót của thầy Mo là một trong nhiều công cụ vật thể Đó là những túi vải đựng những vật được cho là linh thiêng, dùng làm vật hộ thân, là công cụ trấn trị ma quỷ trong khi hành nghề, nên túi Khót còn được gọi là “túi phép” Gạt bỏ đi những yếu tố huyền hoặc, dị đoan, ta có thể thấy túi Khót của các thầy Mo Mường như biểu tượng văn hoá gắn liền với nền văn minh cổ xưa của người Mường
Điều đặc biệt nhất của thầy Mo có một chiếc “bao phép”, người Mường gọi là
“bùa”, đựng những vật thiêng trong quá trình làm mo (những vật thiêng gồm có cục đá thiêng, nanh của lợn rừng, nanh hổ, búa trời làm bằng đồng) Mỗi thầy Mo đều có riêng cho mình một chiếc “bao phép” (túi Khót) đựng những vật thiêng từ
Trang 30nhiều đời để lại nên các thầy Mo xem đó như một vật bất ly thân và ít khi người khác được tiếp cận
Khót nguyên bản cổ trong tiếng Mường được hiểu là những viên đá lạ, đá quý hiếm có linh hồn và có tính thiêng Túi Khót của thầy Mo không hẳn là túi chỉ đựng riêng khót (viên đá lạ), mà là tập hợp của nhiều loại đồ vật khác nhau Túi Khót càng nhiều thứ lạ thì oai thiêng của thầy Mo càng được dân gian tôn sùng Người Mường gọi túi Khót là túi đồ quý, đồ thiêng
Qua sưu tầm quan sát thấy túi Khót của thầy Mo có nhiều thứ, nếu phân loại thuần tuý theo vật liệu, có thể thấy cơ bản được làm từ: kim loại, đá, xương, sừng động vật và các loại quả thực vật dị dạng, những đồ vật người Mường tin rằng chứa đựng oai linh của núi rừng, của tinh hoa trời đất Trong đó đồ bằng kim khí, bằng đá chế tác chiếm vị trí quan trọng trong túi Khót, chiếm trên dưới 50% số lượng các đồ có trong túi Khót của các thầy Mo
Đồ kim khí có trong túi Khót của các thầy Mo chủ yếu được làm bằng đồng,
đó là các cổ vật thời xa xưa, có tính chất lưu truyền qua các đời thầy Mo Chúng được người Mường gọi chung là các Đoòng hoặc Chầm khét (Lưỡi tầm sét) … Đoòng trong tiếng Mường là từ đa nghĩa, trong đó cũng là chỉ loại vũ khí thô sơ bằng thân cây tre, vầu vót nhọn dùng để săn bắn, giống như là cây lao
Chầm khét – Lưỡi tầm sét là tên gọi xuất phát từ hiện tượng khi sét đánh xuống làm xới tung mặt đất, tại đó người ta thường nhặt được những lưỡi rìu bằng đồng hoặc các vật bằng kim loại Dân gian giải thích rằng đó là lưỡi rìu ông Thiên Lôi giáng xuống và bỏ lại đó Những đồ kim loại tìm được tại nơi sét đánh rất được các thầy Mo ưa chuộng cho là đồ rất thiêng dùng trong túi Khót Đoòng có nhiều hình dạng khác nhau như lưỡi rìu hình mũi hài, lưỡi rìu hình lá đa, búp đa, hoặc
Trang 31lưỡi rìu hình dạng gần giống với lưỡi rìu ngày nay, hoặc có hình mũi tên đầu có ngạnh sanh …
Các vật dụng thường có trong túi Khót của mo Mường
Bình thường một túi Khót của mỗi thầy Mo ít nhất cũng phải có 2 đến 3 chiếc Đoòng, có túi Khót có tới hơn 20 chiếc Đoòng đủ các loại Thầy Mo dùng những chiếc Đoòng này tượng trưng cho uy lực của Thiên Lôi được sử dụng để trấn áp, đánh ma quỷ
Đồ bằng đá trong túi Khót của thầy Mo cơ bản có hai loại chính, đó là các công cụ và đồ trang sức của người tiền sử được chế tác bằng đá, loại nữa là các hòn
đá quý tự nhiên được nhặt gom từ trong thiên nhiên, trong các túi Khót của thầy
Mo được gọi chung là Kẹo lẹt ma ươi – Kẹo lẹt là tiếng Mường cổ, hiện nay rất ít dùng trong đời sống kiểu, xin tạm dịch là Đồ của ma ươi
Bình thường mỗi túi Khót của thầy Mo có ít nhất 3 – 4 chiếc rìu Túi Khót
có thể có tới 16 chiếc rìu đá trong đó có: 13 chiếc rìu có vai, 3 chiếc không có vai, cái nhỏ nhất chỉ bằng 3 đầu ngón tay, cái to nhất bằng bàn tay người, tất cả đều có dấu hiệu rất rõ ràng của việc chế tác và sử dụng
Trang 32Đồ trang sức được chế tác từ đá là các vòng đeo tai, đeo tay, chủ yếu là bằng
đá hoa cương và đá thạch anh, loại trong suốt cũng có, loại mờ đục cũng có Người Mường gọi chung đó là những cái Lẹil
Ngoài ra các túi Khót của thầy Mo còn có nhiều thứ như: quả dọi của người xưa; các đồ vật bằng đá như đá mài, dùi đá đập vỏ cây hay các vật cứng…
Bao đời các thầy Mo, dân gian Mường không biết nguồn gốc của các Đoòng, các Kẹo Lẹt, Lẹil có từ đâu, song có một nguyên tắc luôn được các thầy
Mo tuân thủ, đó là các đồ vật kể trên phải là đồ nhặt được ngoài thiên nhiên mới dùng được trong túi Khót Nếu là đồ tự chế tác, tự làm sẽ không có giá trị
Về nguồn gốc các đồ vật trong túi Khót, không phải thứ nào cũng là đồ thầy
Mo tự mình nhặt được, chủ yếu là do người dân đi vào rừng, đi làm đồng, vô tình cày, cuốc, xới đất lên nhặt được các Đoòng, các Kẹo Lẹt Do tin rằng đây là những vật thiêng, nếu để trong nhà dễ gây ra đau ốm, nên họ thường mang cho các thầy
Mo, vì cho rằng các vị này có pháp thuật, có thể trấn, yểm sai khiến được chúng Đây là nguồn chủ yếu bổ sung các đồ kể trên trong túi Khót của các thầy Mo
Khi một ông thầy Mo nào đó đã già, hoặc vì một lý do nào đó không thể tiếp tục làm nghề Mo nữa thì phải thực hiện nghi lễ bàn giao việc thờ cúng tổ Mo
“truyền nghề” cho con cháu trong nhà hoặc truyền nghề cho một người khác Trong đó, nếu truyền nghề cho người bên ngoài thì bắt buộc phải kèm theo bàn giao cả việc thờ cúng tổ Mo; bàn giao dụng cụ hành lễ, sách cúng và cả túi Khót,
âm binh, ấn chiện… Nếu trong trường hợp không bàn giao được cho ai kế nghiệp thì thầy Mo phải làm lễ hóa giải âm binh, hóa giải đồ Khót để con cháu không bị các âm binh, âm hồn quấy quả
3.2.4: Trang phục nàng dâu trong tang ma
Đội Quạt ma, gồm những nàng dâu/ dâu cả, dâu hai… dâu cháu, dâu chắt của ông bà hoặc cha mẹ, đã vĩnh biệt chốn trần tục để về cõi vĩnh hằng Các nàng
Trang 33dâu “mặc đẹp như đi hội”, người Mường Bi có câu: “Diện như nàng dâu đi quạt”
áo ngắn thêu hoa hoặc áo dài bén gót, màu hồng hoặc màu trắng
Đầu đội chiếc mũ hình lưỡi búa tầm sét lộn
ngược thêu họa tiết, hoa văn Dải khăn buông từ mũ
xuôi qua lưng xuống đến thắt lưng được thêu và
đính kim sa, kim tuyến Bộ trang phục của các nàng
dâu múa quạt ma thướt tha, lộng lẫy Dường như
nghịch ngược với lễ tang ma Tay phải các nàng dâu
múa đều cầm một chiếc quạt cọ, hình tròn trôn ốc, mềm mại và vàng ươm Tay trái cầm gậy, chiếc gậy đặt lên vai, đầu gậy buộc một lá Tay ma (lá rừng có năm cánh như một bàn tay) và một chiếc kéo, chiếc gậy, chiếc lá và chiếc kéo để đề phòng
ma ác, quỹ giữ xâm hại hồn ma người thân quá cố
Áo tang của mỗi nàng dâu gồm: váy đen, cạp mới, áo ngắn, áo chùng trắng,
áo đỏ, mũ trang trí tua hạt cườm, vòng đeo tay hạt cườm, quạt cọ…
“Quạt ma” của dòng họ Quách, họ Bùi ở Thành Công được làm bằng bẹ măng tre, măng luồng đã khô Khi trong nhà hoặc trong họ có đám tang, những chiếc quạt ma này phải được người khác họ hoặc người khó khăn trong thôn làm
Đầu quạt là tấm bẹ đã khô được gắn với một que tre dài Vào các giờ cúng cơm trong ngày hoặc lúc thầy mo làm lễ các nàng dâu sẽ đứng quạt hoặc ngồi quạt phe phẩy vào quan tài Với nghi lễ này, người Mường ở Thành Công cho rằng, phải quạt như vậy để linh hồn người nằm trong quan tài được mát mẻ như khi còn sống được con dâu ngồi quạt cho cha mẹ
Trang 34Trang phục nàng dâu trong lễ quạt ma
3.2.5: Trang phục nam giới trong tang ma
Trang phục của nam giới gồm: quần, áo cánh ngắn, áo chùng, khăn bịt đầu, bằng vải bông màu trắng, may kiểu lộn trái ra ngoài để mặc Các con trai của người quá cố phải mặc đầy đủ bộ trang phục, riêng con trai cả phải đeo thêm vỏ dao Những người khác chỉ phải mặc một vài bộ phận, như em trai, con rể, cháu trai chỉ phải mặc quần và chít khăn tang Những người họ hàng thân thích tới dự cũng được phát khăn tang để đội Xưa kia, bố mẹ chết, con trai, con gái phải cắt tóc, nay chỉ cắt một tí mang tính tượng trưng, sau một trăm ngày mới được sửa tóc và nhuộm màu trang phục
Trang 35Trang phục nam giới Mường trong tang ma
3.3: Ẩm Thực
3.3.1: Món ăn phong vị Mường
Cũng như các anh em dân tộc trên đất Việt Nam thống nhất, dân tộc Mường cũng có hàng trăm, hàng nghìn món ăn Có món ăn giống người Việt, có những món ăn giống người Thái, người Tày… vì có mối giao lưu với nhau Song mỗi dân tộc đều có những món ăn đặc thù, hoặc từ món ăn chung có cách chế biến thành
những món ăn riêng mang tính độc đáo của mình
Nguyên liệu nấu ăn của người Mường hoàn toàn được lấy từ tự nhiên hoặc qua quá trình nuôi trồng tự nhiên Có đến hàng chục món đồ cùng đủ loại món luộc, món xào, món nấu, nướng, nộm Nhiều món ăn được người Mường ưa thích
và trở thành món chính trong các bữa ăn như: cơm nếp đồ, cá ốc đồ, măng đắng đồ; thịt gà, lợn luộc; nhuộng ong rừng rang với nước măng chua, chả lá bưởi, thịt trâu nấu lá lồm, ốc vặn nấu lá lốt, đu đủ muối tiết trâu bò, thịt lợn ướp thính, …
Cơm nếp đồ: Tiếng Mường gọi là cơm đếp (cơm rếp theo cách phát âm của từng vùng) Người Mường quý và ưa dùng các giống lúa nếp hơn, nhất là giống lúa nếp cái “Tlởng khe” Từ này nghĩa đen là trứng con ngóe Có lẽ hạt gạo “Tlởng
Trang 36khe” tròn và hơi nhỏ, nên dân gian mới đặt tên là như vậy Trước khi đồ, người ta đem gạo ngâm trong nước lã trong 5 – 6 giờ đồng hồ, vớt gạo ra cái “Koch” (dụng
cụ đan bằng tre hình phễu) cho ráo nước Sau đó bỏ gạo vào “hông” (chõ gỗ), đặt
“hông” lên cái “biểng” (cái nồi đun nước sôi để lấy hơi đồ cơm Cái nồi đo hình dong dỏng và trên miệng có mộng để đặt vừa khít cái “hông” đó) Trên miệng
“hông” có cái nắp bằng nan tre đậy cho “hông” kín vừa mà không ngưng tụ hơi nước rơi trở lại, không làm nhão cơm, đồ một lúc cơm dẻo là chín Người ta dỡ cơm ra một cái “bâm” (cái nong nhỏ đan bằng toàn nang cật bương, có chân bằng gỗ) đạy lá chuối, lá sung Vừa ăn vừa nắm, vừa bóp cho nắm cơm rền, hạt dính vào nhau
Người Mường rất thích ăn thức ăn có vị chua: củ kiệu, quả cà muối chua với
cá, rau cải muối dưa, quả đu đủ muối dưa tép, rau sắn muối dưa cá, lá lồm nấu thịt trâu, thịt bò, lá bểu, lá chau khao nấu cá đồng, muối thịt trâu, tiết bò ăn vào mùa nào cũng thích hợp Đặc biệt, trong góc bếp của mỗi gia đình Mường không thể thiếu những hũ măng chua Nguồn thức ăn quanh năm sẵn có nơi núi rừng Măng chua có thể xào nấu với cá, thịt gà, vịt, nước măng chua kho thịt trâu, kho cá, chấm rau sống hay ngâm ớt tươi
Dổi là cây rừng mọc tự nhiên, cây thân gỗ cao, ít cành Hạt dổi được dùng làm gia vị cho rất nhiều món ăn, tạo nên một hương vị đặc biệt Tây Bắc như cùng với mắc khén tạo thành gia vị chấm hoặc ướp cho thịt trâu gác bếp, thịt lợn
Măng chua là loại dùng đa dạng của món ăn Mường, có thể nấu, xào hoặc ranh với nhiều thứ Mỗi trường hợp đều có hương vị khác nhau món thịt gà nấu măng chua này mang cái thơm, cái đượm, cái chua, cái hăng hắc của con gà, măng
và dổi Để làm món gà nấu măng chua, trước tiên cần phải sử dụng măng tươi để làm măng chua Lấy phần non của măng rửa sạch, thái hoặc băm bào thật mỏng (hoặc băm vừa), chú ý không rửa măng sau khi đã thái Sau đó, sử dụng hũ, hoặc vại sành bỏ măng tươi đã thái vào, dùng nước lã đổ ngập, chỉ cần dùng nước lã bởi
Trang 37lẽ sau này khi măng đã chua, ta không sử dụng ngay, mà vẫn phải nấu chín Đậy kín nắp, để khoảng 2 tuần, khi nào thấy nước đã chuyển sang màu đục như nước gạo, có vị chua là có thể sử dụng được
Món thịt gà nấu măng chua hạt dổi
Thịt gà sau khi đã làm sạch, chặt nhỏ miếng vừa ăn rồi cho vào lẫn với măng chua và trộn nhào thật kĩ Sau đó cho nước lã vừa đủ rồi đun trên bếp cho sôi Hạt dổi phải nướng trên than hồng đồng bằng cách cho hạt dổi vào bát, lấy than lửa hồng đặt vào mà vừa thổi vừa đảo cho dổi chín đều Sau đó đem đã vội thả vào nồi nấu canh măng chua với thịt gà Với đồng bào Mường để thưởng thức món măng chua nấu thịt gà ngon thì không thể thiếu các loại rau ăn kèm như lá đu đủ, cải nương… ăn kèm thịt gà với các loại rau này sẽ tạo nên hương vị đặc sắc vị đắng lá
đu đủ kết hợp với cay của rau cải nương cùng hương vị thơm ngon của măng chua nấu thịt gà sẽ tốt cho sức khỏe
Trang 38Nói vể “đường ăn lòng nhớ mãi” ở người Mường còn phải kể đến những món từ lợn Lợn nuôi trong nhà quý nhất là ngày tết có đĩa “quếch” đặt trên bàn thờ cúng tổ tiên, gồm có: khấu đuôi, đoạn chân giò có móng, đầu mũi, cái lưỡi hợp thành đĩa “quếch” Món ăn này được ưa chuộng nhất trong ngày tết Một món ăn khác cũng từ con lợn mà chỉ bữa cỗ làng ngày tết mới có, đó là món “nách” gồm: Lưỡi, tai, mũi luộc chín thái chỉ, trộn với óc lợn dầm nhuyễn, thêm lát gừng giã nhỏ, lá hẹ cắt vừa phải (tắc ké) Đây là món ăn ưa thích nhất của người già, bữa cỗ thiếu món này chưa gọi là sang
Vị đắng cũng là vị mà người Mường rất yêu thích Măng đắng; lá, hoa, quả
đu đủ không chỉ là món ăn thường ngày mà còn là món để thờ phụng trong nhiều nghi lễ dân gian Ngoài ra còn có rau đốm, lá kịa, vừa là thức ăn vừa là thuốc đau bụng Đặc biệt, ruột và dạ dày con Don vừa là vị thuốc chữa dạ dày vừa là món ăn quý hiếm
Gắn với vị cay, người Mường có món Ớt nổi tiếng Ớt được băm lẫn với lòng cá; hay đầu, tiết luộc, ruột cắt nhỏ của con gà, vịt Băm nhỏ cho tất cả lên màu nâu sẫm, cắt nhỏ vài loại rau thơm trộn vào là được món ớt Vị ớt cay của người Mường thường dùng để chế biến thành những món ăn riêng chứ không làm gia vị xào nấu như một số dân tộc khác
Truyền thống của người Mường là thích bày cỗ trên lá chuối trong tất cả Trong mỗi dịp lễ tết, hội hè, món ăn và cách bày trí nó đều có những nét riêng, chứa đựng cả một tín ngưỡng Với người Mường, phần ngọn và mép lá tượng trưng cho Mường Sáng- Mường của người sống, phần gốc lá và mang lá tượng trưng cho Mường Tối- Mường ma, mường của người chết Chính thế, khi dùng lá chuối bày cỗ, người Mường có quy tắc phân biệt: Người vào, ma ra Tức là khi dọn
cỗ cho người sống, phần ngọn lá hướng vào trong, phần gốc lá hướng ra ngoài, còn
Trang 39khi dọn cỗ cho người ma thì ngược lại Đây là một quy tắc khá nghiêm ngặt, không thể vi phạm bởi người Mường tin rằng, sự vi phạm sẽ mang lại những điều dữ hoặc làm mất lòng khách
Mâm cỗ lá của người Mường
Văn hoá Mường góp phần rất lớn làm nên sự hấp dẫn đặc biệt cho mảnh đất giàu truyền thống văn hoá này Đến với Hoà Bình, tìm hiểu văn hoá bản địa, không thể không đến Bảo tàng Không gian văn hoá Mường - nơi tái hiện và lưu giữ lại cả không gian sống, lối sinh hoạt, lao động sản xuất và những nét văn hoá đặc sắc của chủ nhân mảnh đất Đến đây, chúng ta sẽ thực sự được hoà mình vào một xã hội Mường thu nhỏ, được thưởng thức ẩm thực dân gian trong khung cảnh nhà sàn, trong âm vang tiếng nhạc cồng chiêng, hoà cùng những lời ca tha thiết của các chàng trai, cô gái Mường Về với Hoà Bình, về với bản sắc văn hoá Mường cũng chính là đã tìm về cội nguồn, với lịch sử của dân tộc
Người Mường Hòa Bình có câu:
Cơm nếp, cơm chăm trên nương trên ná,
Trang 40Cá nhỏ, cá to trong ao dưới suối Săn đuổi trong rừng được thú được chim,
Đi hái đi tìm được rau được quả
Những câu trên đây phản ánh cơ cấu bữa ăn ở người Mường là họ vừa sản xuất được từ đồng ruộng, nương rẫy, vừa thu lượm, săn bắt được trong rừng, dưới sông suối, vừa nuôi được trong ao, trong chuồng; thành phần đủ cả cơm, rau, cá thịt
Chả cuốn lá bưởi: Cách chế biến món này khá đơn giản Đầu tiên ta lấy thịt lợn băm giã thật nhỏ và cho thêm 1 chút mắm, hành Tiếp đến chọn lá bưởi phải chọn lá bưởi non đầu xuân, không nên chọn lá non quá nếu không sẽ bị đắng và cũng đừng già quá để khi cuốn với thịt sẽ không bị nát
Người Mường làm chả lá bưởi để ăn quanh năm, nhưng muốn ăn món này ngon nhất thì phải làm vào mùa xuân Bởi, khi đó, cây bưởi đang độ ra hoa và kết lộc non, nên lá bưởi non mùa này được cho là ngon nhất trong năm Nó thấm đượm hương vị của nắng, của gió và những cơn mưa
Tiếp đến gói tròn lại hay làm vuông tùy ý, gắp đem nướng than hồng cho chín thịt mà lá bưởi cũng xem xém Khi căn miếng chả lá bưởi thơm giòn, gãy mảnh lẫn vào phần thịt săn vàng làm tiêu tan sự ngấy, chỉ còn lại mùi thơm Miếng chả nuốt rồi còn lại chút tê tê đầu lưỡi Đây là món nhắm rượu hấp dẫn và đặc biệt
nó là món thờ từ lâu đời dâng lên tổ tiên, thần thánh