Để đối phó với thực trạng nói trên, một giải pháp tài chính hiệu quả nhằm phòng ngửa rủi ro biến động giá năng lượng và đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng và phát triển thành công
Trang 1NGUYỄN LỆ THU
PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH NHẰM PHÒNG NGỪA RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ NĂNG LƯỢNG CỦA VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM MỘT
SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Ng ười hướng dẫn khoa học:
P GS TS NGUYỄN THỊ QUY
Hµ Néi - 2008
Trang 2MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH TRONG PHÒNG NGỪA RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ NĂNG LƯỢNG 1.1 Tổng quan về các công cụ phái sinh 5
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Đặc điểm 6
1.1.3 Các loại công cụ phái sinh 6
1.1.3.1 Hợp đồng kỳ hạn 7
1.1.3.2 Hợp đồng tương lai 8
1.1.3.3 Hợp đồng quyền chọn 11
1.1.3.4 Hợp đồng hoán đổi 14
1.2 Tổng quan về rủi ro biến động giá và rủi ro biến động giá năng lượng 16
1.2.1 Rủi ro 16
1.1.1.1 Khái niệm rủi ro 16
1 1.1.2 Đặc điểm của rủi ro 17
1 1.1.3 Phân loại rủi ro 17
1.2.2 Rủi ro biến động giá và rủi ro biến động giá năng lượng 19
1.2.2.1 Khái niệm rủi ro biến động giá 19
1.2.2.2 Đặc điểm của rủi ro biến động giá 19
1 2.2.3 Phân loại rủi ro biến động giá 20
1 2.2.4 Rủi ro biến động giá năng lượng 20
1.3 Vai trò của các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng 23
1.3.1 Vai trò quản lý rủi ro 23
1.3.2 Vai trò xác định sự biến động của giá cả 23
1.3.3 Vai trò phân phối lại rủi ro giữa các nhà đầu tư 24
1.3.4 Vai trò thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính 25
Trang 3CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH NHẰM PHÒNG NGỪA RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ NĂNG LƯỢNG TẠI MỘT
SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.1 Rủi ro và phòng ngừa rủi ro biến động giá trên thị trường năng lượng thế giới
bằng các công cụ phái sinh… ………… ……… … … ……… 27
2.1.1 Rủi ro biến động giá trên thị trường năng lượng thế giới.……… ….27
2.1.1.1 Thị trường năng lượng thế giới.… ………… ………….27
2.1.1.2 Rủi ro biến động giá năng lượng.……… ……… ……30
2.1.2 Phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng bằng các công cụ phái sinh 34
2.1.2.1 Phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng.………… ……… …34
2.1.2.2 Các công cụ phái sinh sử dụng trong phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng……… ………35
2.2 Kinh nghiệm phát triển các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng của một số nước trên thế giới … … 37
2.2.1 Mỹ.……….……… ………… ……… … ………38
2.2.2 Singapore.……… ……… ………….…….……… …………45
2.2.3 Anh…… ……… ……… ………….… ……… … ………49
2.2.4 Ấn Độ… ……… ………….… ……… …………53
2.2.5 Các bài học kinh nghiệm rút ra……… 58
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH NHẰM PHÒNG NGỪA RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ NĂNG LƯỢNG TẠI VIỆT NAM 3.1 Thực trạng sử dụng các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng tại Việt Nam……… ……… ……….63
3.1.1 Tổng quan về thị trường năng lượng Việt Nam 63
3.1.2 Tình hình biến động giá năng lượng tại Việt Nam trong thời gian gần đây……… ……….66
3.1.3 Tiềm năng phát triển thị trường bảo đảm xăng dầu Việt Nam……… 69
3.1.4 Thực trạng sử dụng các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá………72
3.1.5 Đánh giá chung……… ……….……74
3.2 Định hướng phát triển các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng tại Việt Nam……….…… ……… … 78
Trang 43.2.1 Định hướng phát triển thị trường năng lượng Việt Nam……… ….… … 78
3.2.2 Định hướng phát triển các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng tại Việt Nam……… … 78
3.3 Các giải pháp phát triển các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng tại Việt Nam……… ……….…… …….80
3.3.1 Các giải pháp vĩ mô……….……….80
3.3.1.1 Xây dựng, hoàn thiện môi trường pháp lý tạo điều kiện thúc đẩy việc sử dụng các công cụ phái sinh……….……… 80
3.3.1.2 Xây dựng thị trường tài chính hiện đại……… ………82
3.3.1.3 Hiện đại hoá hệ thống thông tin kinh tế-tài chính… ……… 83
3.3.1.4 Xây dựng một chính sách an ninh năng lượng quốc gia 84
3.3.2 Các giải pháp vi mô……….……….84
3.3.2.1 Nâng cao hiểu biết về việc sử dụng các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng 84
3.3.2.2 Phát triển đa dạng và hoàn thiện các công cụ phái sinh 86
3.3.2.3 Xây dựng quy trình quản lý rủi ro biến động giá tại mỗi doanh nghiệp kinh doanh năng lượng, gắn liền quản lý rủi ro biến động giá với hoạt động kinh doanh……… 86
3.3.2.4 Xây dựng chiến lược và chính sách quản lý rủi ro biến động giá tương thích tại doanh nghiệp kinh doanh năng lượng 87
3.3.2.5 Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin kinh doanh hiện đại có chức năng quản lý rủi ro biến động giá 88
3.3.2.6 Gắn việc sử dụng hiệu quả các công cụ phái sinh với lợi ích doanh nghiệp 89
3.3.2.7 Kết hợp giữa lợi ích ngân hàng cung cấp các sản phẩm phái sinh với lợi ích doanh nghiệp kinh doanh năng lượng 89
3.4 Các kiến nghị về điều kiện thực hiện ………… ………… ……….….90
KẾT LUẬN… ……… …… ……… …92 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5Trang
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Các hợp đồng năng lượng phái sinh được giao dịch qua người môi giới tại Anh……… ……… ……52 Bảng 2.2: Các công cụ phái sinh trên trường phi tập trung tại Anh……….… 53 Bảng 3.1: Danh sách các doanh nghiệp xăng dầu đầu mối và các doanh nghiệp sử dụng xăng dầu lớn tại Việt Nam……… …… … 69 Bảng 3.2: Dự báo nhu cầu tiêu thụ xăng dầu của thị trường Việt Nam……… … 70 Bảng 3.3: Khối lượng giao dịch bình quân của một số loại hợp đồng xăng dầu năm 2007……… ……… 71 Bảng 3.4: Tỷ lệ bảo đảm giá nhiêu liệu tại một số hãng hàng không khu vực năm 2007 71
Trang 6Trang
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Diễn biến và dự đoán giá dầu thô trên thị trường thế giới từ năm 2004 đến năm 2010 ………… ………….30 Hình 2.2: Giá giao ngay đối với 1 số mặt hàng từ 1/1999 đến 9/2001 … …….….31
Hình 2.3: Giá giao ngay đối với một số mặt hàng năng lượng từ 1/1999 đến 5/2002 32
Hình 2.4: Giá bán buôn điện ở một số khu vực từ 3/1999 đến 3/2002 … ….……33 Hình 2.5: Tiêu thụ năng lượng tại Mỹ phân theo nguồn năng lượng từ năm 1635 đến năm 2000……… … ……38 Hình 2.6: Sản xuất và tiêu thụ năng lượng tại Mỹ từ năm 1950 đến năm 2000.… 39 Hình 2.7: Doanh số các hợp đồng phái sinh năng lượng tại Ấn Độ 1/2004-10/2008 58 Hình 3.1: Kim ngạch xuất khẩu xăng dầu hàng năm của Việt nam……… …… … 64 Hình 3.2: Đề xuất về quy trình quản lý rủi ro biến động giá năng lượng của các doanh nghiệp Việt Nam.……….….…… … …… 87
Trang 7MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Nền kinh tế thế giới ngày nay phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu tự nhiên là năng lượng Việc sản xuất và phân phối năng lượng rất quan trọng đối với gần như tất cả các quốc gia trên thế giới Giá năng lượng gây ảnh hưởng lớn đến mọi doanh nghiệp, cho dù là doanh nghiệp lớn hay doanh nghiệp nhỏ, cũng như gây ảnh hưởng đến mọi cá thể tiêu dùng năng lượng Ngoài ra, chi phí năng lượng chiếm tỷ lệ lớn trong chi phí hàng hoá của hầu hết mọi hàng hoá chúng ta sản xuất ra Chi phí năng lượng gây ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của một quốc gia và tiêu chuẩn sống của quốc gia đó Do vậy, sự biến động của giá mặt hàng này có thể gây ra biến động lớn cho cả nền kinh tế của mỗi quốc gia, thậm chí ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế thế giới Thực tiễn thời gian qua cho thấy, sự biến động mạnh của giá năng lượng trên thế giới là thách thức to lớn đối với khả năng quản lý rủi ro của các chính phủ và doanh nghiệp
Để đối phó với thực trạng nói trên, một giải pháp tài chính hiệu quả nhằm phòng ngửa rủi ro biến động giá năng lượng và đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng và phát triển thành công chính là các công cụ phái sinh, giải pháp này góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro biến động giá cho các chính phủ và các doanh nghiệp kinh doanh năng lượng
Bên cạnh đó, các công cụ phái sinh làm chuyển đổi hoàn toàn cấu trúc và sự vận hành của thị trường năng lượng trong suốt những năm qua, không chỉ làm cho các doanh nghiệp tăng cường năng lực kiểm soát giá cả mà còn tạo ra nhiều thành viên mới tham gia vào thị trường như các ngân hàng và các nhà kinh doanh tài chính, những người sẵn sàng gánh một phần rủi ro từ sự biến động của giá năng lượng
Tại Việt Nam hiện nay, việc nhận thức đúng đắn về vai trò của các công cụ phái sinh cũng như việc phát triển và sử dụng các công cụ này trong phòng ngừa rủi ro biến động giá nói chung và giá năng lượng nói riêng còn rất hạn chế
Trang 8Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Phát triển các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng của Việt nam từ kinh nghiệm một số nước trên thế giới” là cấp thiết và người viết đã chọn đề tài này làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU:
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng như: Restoring Confidence in U.S energy trading markets (International Swaps and Derivatives Association - April 2003), Energy Derivatives (Karen McCann & Mary Nordström, Financial Markets Unit - December 1995), Derivatives and Risk Management in the Petroleum, Natural Gas, and Electricity Industries Energy (Information Administration U.S Department of Energy Washington,
DC 20585 - October 2002), The Structure of Derivatives Exchanges: Lessons from Developed and Emerging Markets Finance Department (College of Business Administration Drexel University and Panos Varangis Development Research Group, The World Bank - December 1997) Nhìn chung, các nhà kinh tế học nước ngoài thường đi sâu phân tích đặc điểm các công cụ phái sinh và ảnh hưởng của chúng tại các thị trường phái sinh năng lượng (energy derivatives market) trên thế giới Những nghiên cứu như vậy là nguồn tham khảo rất hữu ích cho người viết trong quá trình thực hiện luận văn này
Tại Việt Nam, tuy không nhiều nhưng các nhà kinh tế trong nước cũng có một số nghiên cứu về công cụ phái sinh và vai trò ảnh hưởng của chúng trong quản lý rủi ro tài chính như: Quản trị ngân hàng (TS Nguyễn Duệ - NXB Thống Kê – 2001), Giáo trình Thanh toán quốc tế trong Ngoại Thương (PGS.Đinh Xuân Trình, NXB Giáo dục – 1999), Các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý rủi ro giá cả tài chính trong kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam (đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ / Nguyễn Trọng Hải: chủ nhiệm đề tài - Đại học Ngoại thương, 2006)
Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn chưa có đề tài nào đề cập một cách hệ thống về việc sử dụng các công cụ phái sinh sử dụng trong kinh doanh năng lượng, rút ra được các bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới để từ đó đưa ra các giải pháp phát triển các công cụ này nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng ở Việt Nam
Trang 93 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
biến động giá năng lượng
động giá năng lượng tại một số nước trên thế giới để rút ra những bài học kinh nghiệm phát triển các công cụ phái sinh phòng ngừa rủi ro biến năng lượng
rủi ro biến động giá năng lượng tại Việt Nam và các bài học kinh nghiệm từ các nước trên thế giới, đề xuất các giải pháp nhằm phát triển các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng của Việt Nam
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
ro biến động giá
công cụ phái sinh sử dụng trong phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng
động giá năng lượng tại một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm của các nước này
động giá năng lượng tại Việt Nam
ro biến động giá năng lượng của Việt Nam
5 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng Tuy nhiên, do năng lượng là một phạm trù rộng lớn, bao gồm nhiều mặt hàng nên đề tài chủ yếu lựa chọn các sản phẩm xăng dầu làm làm ví dụ điển hình trong quá trình nghiên cứu
Trang 10 Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi
ro biến động giá năng lượng tại một số nước trên thế giới và tại Việt Nam trong 10 năm gần đây
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Luận văn dựa trên lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê nin, của phép biện chứng duy vật, đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước
Luận văn sử dụng các phương pháp điều tra, tổng hợp, phân tích, diễn giải, qui nạp, so sánh trên cơ sở các số liệu thống kê để nghiên cứu
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố cục làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro biến
động giá năng lượng
Chương 2: Thực trạng phát triển các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến
động giá năng lượng tại một số nước trên thế giới
Chương 3: Giải pháp phát triển các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến
động giá năng lượng tại Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH TRONG PHÒNG
NGỪA RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ NĂNG LƯỢNG 1.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH
“Công cụ phái sinh là một loại công cụ tài chính phụ thuộc vào một tài sản cơ sở
để phái sinh giá trị của chúng” [17]
“Công cụ phái sinh là một loại hợp đồng theo đó giá của chúng bị ảnh hưởng bởi giá của một tài sản cơ sở” [42]
“Công cụ phái sinh là một công cụ tài chính mà giá của nó dựa trên một tài sản
Trang 121.1.2 Đặc điểm
Công cụ phái sinh là bộ phận của các công cụ tài chính với bản chất là một công
cụ tài chính hoặc một hợp đồng với đầy đủ 3 đặc điểm sau:
của công cụ tài chính, giá hàng hóa, tỷ giá hối đoái; chỉ số giá hoặc lãi suất; chỉ số tín dụng hoặc xếp hạng tín dụng hoặc các chỉ số khác với điều kiện trong trường hợp các chỉ số khác này là biến số phi tài chính thì biến số đó không liên quan đến một bên nào của hợp đồng;
khoản đầu tư thuần ban đầu nhỏ hơn so với các loại hợp đồng khác có các phản ứng tương tự trước sự biến đổi của các yếu tố thị trường;
Nội dung kinh tế, cơ chế thực hiện giao dịch về công cụ phái sinh nhìn chung khá phức tạp Công cụ phái sinh được mua, bán, giao dịch trên thị trường tài chính, bao gồm
cả thị trường chính thức và thị trường phi chính thức Tại thị trường chính thức, nơi thị trường được tổ chức và quản lý một cách có hệ thống và các hợp đồng giao dịch được tiêu chuẩn hóa, nhờ đó thị trường của các công cụ phái sinh có tính thanh khoản cao
1.1.3 Các loại công cụ phái sinh
Công cụ phái sinh bao gồm các loại công cụ chuẩn sau: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi Những năm gần đây, trên thị trường tài chính đã xuất hiện nhiều công cụ tài chính phái sinh khác được thiết kế dựa trên những nguyên lý cơ bản của các công cụ tài chính quyền chọn và hợp đồng mua bán tương lai, gọi là hợp đồng quyền chọn Exotics (Exotics option contract), hay còn gọi là những công cụ phái sinh không chuẩn như hợp đồng quyền chọn bắt đầu trong tương lai (là loại hợp đồng phải trả ngay), nhưng chỉ bắt đầu tại thời điểm nào đó trong tương lai; hợp đồng quyền chọn hỗn hợp là hợp đồng quyền chọn dựa trên hợp đồng quyền chọn Có 4 loại hợp đồng hỗn hợp chính: quyền chọn mua dựa trên quyền chọn mua, quyền chọn bán dựa trên quyền chọn mua, quyền chọn bán dựa trên quyền chọn bán, quyền chọn mua dựa trên quyền chọn bán; hợp đồng hoán đổi lãi suất chéo
Trang 13(Cross Currency Swap – CCS) - loại nghiệp vụ phái sinh cơ bản giúp cho khách hàng có khả năng phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất
Tuy nhiên, cho đến nay, các công cụ phái sinh được sử dụng trong phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng, hay còn được gọi là các công cụ phái sinh năng lượng (energy derivatives), chỉ là các công cụ phái sinh chuẩn Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu các công cụ phái sinh chuẩn bao gồm hợp đồng
kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi
1.1.3.1 Hợp đồng kỳ hạn
Khái niệm:
Hợp đồng kỳ hạn (forward contract) là những thoả thuận được ký hôm nay giữa hai bên tham gia nhằm mục đích trao đổi hàng hóa tại một thời điểm trong tương lai Đây là một công cụ phái sinh đơn giản, là thoả thuận/hợp đồng mua hoặc bán hàng hoá hay tài sản tài chính tại một thời điểm trong tương lai với mức giá xác định trước Công
cụ này là loại hợp đồng "song phương", thực hiện vô điều kiện Theo đó, hai bên phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ qui định trong hợp đồng Hợp đồng kỳ hạn thường được giao dịch trên thị trường phi tập trung, không có một qui định/thể chế nào bắt buộc đối với các giao dịch giữa các tổ chức/cá nhân Trong hợp đồng kỳ hạn, hàng hoá có thể là tiền
tệ, hàng hoá thông thường hoặc một khoản lãi suất nhất định Như vậy, tương ứng với chúng là các hợp đồng kỳ hạn tiền tệ, hợp đồng kỳ hạn hàng hoá và hợp đồng kỳ hạn lãi suất
Giá của hợp đồng kỳ hạn được coi là giá kỳ hạn (forward price), cả người mua và người bán của hợp đồng kỳ hạn sẽ không chấp nhận giá trị trừ khi phi tỷ giá, giá cả hàng hoá hoặc lãi suất khác với kỳ vọng Vì vậy, giá trị hiện tại thuần dự tính của hợp đồng vào lúc ký kết đối với một hợp đồng kỳ hạn ngang giá (at –market) bằng không
Việc quyết toán hợp đồng kỳ hạn thường đòi hỏi việc giao hàng một sản phẩm vật chất nào đó và thanh toán một lần vào lúc đáo hạn Tuy nhiên, các hợp đồng kỳ hạn cũng có thể quyết toán bằng tiền, cụ thể là cả hai bên mua và bán chỉ cần thanh toán
Trang 14khoản chênh lệch giữa giá cả hợp đồng với giá cả giao ngay tại ngày đáo hạn của hợp đồng trong tương lai
Đặc điểm của hợp đồng này là:
hoặc giữa tổ chức tài chính với các khách hàng là doanh nghiệp phi tài chính (các
hợp đồng này thường được ký kết song phương trên thị trường phi tập trung)
đồng
đồng do bên lỗ gây ra càng lớn
position), người bán được gọi là người giữ thế đoản vị (short position)
giao ngay tại thời điểm đáo hạn giảm so với giá thực hiện và ngược lại, giá biến
động càng mạnh thì lãi/lỗ càng lớn
kết hoặc trong thời kỳ hiệu lực của hợp đồng: Đến thời điểm đáo hạn người giữ vị thế đoản vị phải thực hiện bán tài sản cho người giữ vị thế trường vị và nhận một khoản tiền từ người mua với mức giá cả đã định trước trong hợp đồng, cho dù vào thời điểm đó giá thị trường của tài sản đó có cao hơn hoặc thấp hơn giá xác định trong hợp đồng Nếu giá thị trường cao hơn giá hợp đồng thì người giữ vị thế trường
vị sẽ có lãi (có giá trị dương), còn người giữ vị thế đoản vị bị lỗ (có giá trị âm); và ngược lại Điều này có thể dẫn đến rủi ro không thực hiện do bên lỗ không chịu trả
tiền cho bên lãi
1.1.3.2 Hợp đồng tương lai
Khái niệm:
Hợp đồng tương lai (future contract) là một cam kết sẽ mua hoặc bán một khối lượng nhất định một tài sản nhất định với một mức giá nhất định vào một thời điểm xác
Trang 15định trong tương lai Thời điểm xác định trong tương lai gọi là ngày thanh toán hợp đồng hay ngày đáo hạn Thời gian từ ngày ký hợp đồng đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn của hợp đồng Giá xác định áp dụng trong ngày thanh toán hợp đồng gọi là giá tương lai (future price)
Hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn giống nhau ở chỗ chúng đều là phương thức cam kết trước về việc giao hàng trong tương lai Cả hai loại hợp đồng này đều ký kết mua hoặc bán vào một ngày trong tương lai với một mức giá thỏa thuận hôm nay Tuy nhiên, hợp đồng tương lai đã giảm thiểu được rủi ro tín dụng so với hợp đồng kỳ hạn Theo dó, hợp đồng tương lai được chuẩn hoá cao hơn, giá cả, số lượng và các chi tiết của hợp đồng được đảm bảo bởi trung tâm thanh toán bù trừ, hoặc bởi một định chế tài chính đóng vai trò này (thường là ngân hàng thương mại) Các hợp đồng được chuẩn hoá và các thành viên tham gia thị trường phải tuân thủ các qui định giới hạn về giá để hạn chế sự biến động mạnh gây bất ổn cho thị trường Do hợp đồng được chuẩn hoá cao, các thành viên có thể ước lượng được khối lượng hàng hoá giao dịch nên đảm bảo tính thanh khoản của thị trường Hầu hết các hợp đồng tương lai được thực hiện qua trung tâm thanh toán bù trừ và phải trả phí Các bên tham gia phải có tiền đặt cọc/ký quĩ
để đảm bảo thực hiện hợp đồng Bù lại, hai bên mua và bán trong hợp đồng không nhất thiết phải biết nhau (tiết kiệm được chi phí tìm kiếm đối tác) mà chỉ cần trao đổi qua trung gian Sau khi thực hiện hợp đồng, các khoản tiền này sẽ được hoàn trả, do đó thị trường tương lai đảm bảo an toàn cho các giao dịch Trên thực tế, chính nơi giao dịch của các ngân hàng thương mại cũng đồng thời là trung tâm giao dịch các hợp đồng tương lai, và khi đó, ngân hàng thương mại đảm nhiệm luôn vai trò là trung tâm thanh toán bù trừ để làm dịch vụ cho khách hàng, hoặc tự mình kinh doanh với khách hàng Khi tự mình kinh doanh, các ngân hàng thương mại thường nhường cho khách hàng đóng vai trò chọn trước là người mua hay là người bán còn bản thân mình sẵn sàng làm đối tác Khi đó, các ngân hàng thông thường sẽ giữ vị thế sở hữu hàng hoá ngược với vị thế hiện thời trên thị trường giao ngay
Đặc điểm của hợp đồng này là:
lượng các đơn vị tài sản cơ sở mua bán, thể thức thanh toán, kỳ hạn, giá trị tài sản và
Trang 16ngày đáo hạn, Do đó, hợp đồng tương lai cho phép thị trường tương lai tương đối năng động và linh hoạt hơn so với thị trường kỳ hạn
khi hợp đồng kỳ hạn được thỏa thuận trực tiếp giữa hai bên của hợp đồng
những khoản chênh lệch về giá trị của hợp đồng tương lai được thanh toán vào cuối mỗi ngày làm việc Như vậy, thời hạn thực hiện của một hợp đồng tương lai giảm theo việc định giá hay quyết toán hàng ngày theo thị trường và rủi ro tín dụng cũng
giảm một cách tương ứng
(the clearing house) Với vai trò trung gian của mình, trung tâm thanh toán bù trừ tách riêng rẽ và phi định danh các hợp đồng tương lai, từ đó giúp giải quyết các vấn
đề liên quan đến chi phí phát sinh do việc không thực hiện hợp đồng gây ra Trong khi đó, hợp đồng kỳ hạn được thỏa thuận trực tiếp giữa hai bên của hợp đồng nên không linh hoạt bằng hợp đồng tương lai
mua hoặc người bán tháo lui khỏi hợp đồng vì sự biến động giá trên thị trường bất lợi cho mình, hoặc do đến thời điểm thanh toán, người mua không có khả năng tài chính, các bên ký kết hợp đồng tương lai phải nộp một khoản tiền đặt cọc vào tài khoản đặt cọc (margin requirements) Khoản tiền đặt cọc thường phải đủ lớn để trang trải cho những biến động lớn nhất về giá trị của hợp đồng tương lai Lúc mua hoặc bán một hợp đồng các bên tham gia phải nộp một khoản tiền đặt cọc ban đầu (initial margin) Vào cuối mỗi ngày giao dịch, các khoản lãi/ lỗ được ghi có/ghi nợ vào tài khoản đặt cọc tương ứng Khi số dư của tài khoản đặt cọc của một bên nào
đó giảm xuống dưới số dư tối thiểu thì bên đó bị yêu cầu phải bổ sung thêm tiền đặt cọc đến mức ban đầu, nếu không được bổ sung thêm để đạt số dư tối thiểu thì tài
khoản sẽ bị đóng
giới trên thị trường (các sàn giao dịch); và người mua và người bán thường không quen biết nhau, do vậy đơn vị môi giới thường đưa ra một số các tiêu chuẩn cho những hợp đồng này Những thị trường chứng khoán mua bán hợp đồng trong tương
Trang 17lai trên thế giới gồm một số thị trường điển hình như Hội đồng mậu dịch Chicago - Chicago Board of Trade (CBOT), Sở thương mại Chicago - Chicago Mercantile Exchange (CME), Sở giao dịch các hợp đồng tương lai London, Các loại hàng hoá được giao dịch trên thị trường chứng khoán mua bán hợp đồng trong tương lai gồm, heo, bò, đường, len, năng lượng , sản phẩm tài chính gồm chỉ số chứng
khoán, ngoại tệ, trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ
trước, mà được qui định theo tháng và khoảng thời gian của tháng phải giao Người môi giới xác định khối lượng, chất lượng của hàng hoá giao dịch, cách giao hàng, giá hợp đồng, và cũng có thể xác định luôn giá trị hợp đồng mua bán tương lai thay
đổi trong ngày
được xác định trên sàn giao dịch
hoa hồng, họ sẽ thực hiện mua bán theo lệnh của nhà đầu tư và tính hoa hồng; thứ
hai là người tự đầu tư
và người bán phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng nếu người mua thực hiện quyền của mình Giá trả cho quyền này, ngoài giá chính thức chỉ biết được từ hiệu số rủi ro kỳ vọng trong hợp đồng xác định trước với rủi ro thực lúc đáo hạn thì người mua quyền còn phải trả trước phí đặt cọc cho người bán (premium) Phí đặt cọc, hay phí cuộc chơi chính là một bộ phận của giá để nhận ra năng lực dự báo rủi ro của người mua, do đó phí đặt cọc trở thành giới hạn thấp nhất của rủi ro nếu người mua quyền "thua cuộc" và
Trang 18từ chối thực hiện hợp đồng vào thời điểm nào đó trong giới hạn thời gian hiệu lực của hợp đồng
Có hai loại hợp đồng quyền chọn: Hợp đồng quyền chọn mua (call option) và hợp đồng quyền chọn bán (put option) Hợp đồng quyền chọn mua là thỏa thuận cho phép người cầm hợp đồng có quyền mua sản phẩm từ một nhà đầu tư khác với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn của hợp đồng Còn hợp đồng quyền chọn bán là thoả thuận cho phép người cầm hợp đồng có quyền bán sản phẩm cho một nhà đầu tư khác với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn của hợp đồng Trong khi người mua hợp đồng quyền chọn mua mong muốn giá của sản phẩm hợp sẽ tăng lên trong ngày đáo hạn thì người mua hợp đồng quyền chọn bán lại hy vọng giá xuống, nếu giá cao hơn giá định trước họ sẽ từ chối quyền bán và chịu mất quyền phí
Về cơ bản, nội dung hợp đồng quyền chọn bao gồm các điều khoản sau đây:
10.000 tấn dầu thô Brent
lượng tài sản cơ sở nào đó gọi là quyền chọn mua (call) Quyền chọn nào cho phép người mua quyền được bán một loại tài sản cơ sở nào đó gọi là quyền chọn bán
đồng quyền chọn theo kiểu Mỹ và theo kiểu châu Âu Theo kiểu Mỹ là thực hiện quyền chọn vào bất kỳ thời điểm nào trước ngày đáo hạn Theo kiểu châu Âu là thực hiện quyền chọn chỉ trong ngày đáo hạn Hiện nay trên các thị trường chứng khoán hầu hết thực hiện theo kiểu Mỹ
dụng nếu người mua quyền thực hiện quyền chọn
cho bên bán ngay khi ký hợp đồng quyền chọn Phí này là thu nhập của bên bán quyền cho dù bên mua có thực hiện hay không thực hiện quyền chọn
cho đến khi hợp đồng hết giá trị hiệu lực
Trang 19 Đặc điểm của hợp đồng quyền chọn là:
bắt buộc các bên phải giao sản phẩm Hợp đồng chỉ quy định quyền giao hay nhận,
mà không bắt buộc thực hiện nghĩa vụ của mình Người mua quyền có thể: thực hiện quyền, hay bán quyền cho một người mua khác; hay không thực hiện quyền Để có quyền này, khi ký hợp đồng, người cầm hợp đồng phải trả quyền phí, giá trong hợp đồng được gọi là giá thực hiện hay là giá nổ (strike price); ngày định trong hợp đồng gọi là ngày đáo hạn hay ngày thực hiện
hiện thông qua trung tâm thanh toán bù trừ, cả hai bên không cần giao dịch trực tiếp với nhau mà thông qua các thành viên đã đăng ký của trung tâm giao dịch, các thỏa thuận mua và bán hợp đồng quyền chọn được khớp khi hồ sơ của cả hai bên thống nhất với nhau về giá thực hiện, phí quyền chọn, ngày đáo hạn; nếu không, giao dịch phải "tạm treo" để chờ, hoặc trung tâm giao dịch sẽ làm việc để thanh lý Điều đáng chú ý là việc từ chối hay không từ chối quyền khi giá vào ngày đáo hạn cao (hay thấp) hơn giá trong hợp đồng sẽ được quyết định trên cơ sở mức độ chênh lệch giữa giá định trước với giá thực tế của sản phẩm chính ở ngày đáo hạn và quyền phí Nghĩa là giá của hợp đồng quyền chọn bằng chênh lệch giá giữa giá thực tế với giá trong hợp đồng cộng với phí mua quyền nếu người mua quyền thực hiện được quyền thành công theo hợp đồng, hoặc đơn giản chỉ là phí để rút lui không thực hiện hợp đồng Cụ thể, trong khi người mua hợp đồng quyền chọn mua mong muốn giá của sản phẩm hợp đồng sẽ tăng lên trong ngày đáo hạn thì người mua hợp đồng lựa chọn bán lại hy vọng giá xuống, nếu cao hơn giá định trước họ sẽ từ chối quyền bán và chịu mất quyền phí
hoặc thị trường tập trung hoặc thị trường phi tập trung Hiện nay, chủ yếu các hợp đồng quyền chọn được mua bán rộng rãi tại các Sở giao dịch như Sở giao dịch quyền chọn Chicago–CBOE, Sở giao dịch Philadelphia–PHLX, Trung tâm giao dịch chứng khoán New York–NYSE, Sở giao dịch hàng hoá tương lai quốc tế London – LIFFE Việc mua bán dưới hình thức hợp đồng quyền chọn tại các Sở giao dịch có nhiều khía cạnh giống như mua bán hợp đồng tương lai Các Sở giao dịch phải xác định rõ các điều kiện, mức độ, thời gian đáo hạn và ấn định giá của hợp đồng quyền
Trang 20chọn được mua bán trên thị trường của họ Và để giảm rủi ro của việc thực hiện hợp đồng, lúc mua hàng hoá (ví dụ như cổ phiếu hay các sản phẩm năng lượng), người đầu tư mở tài khoản dự trữ bắt buộc với người môi giới của họ, mức độ dự trữ tuỳ thuộc vào loại hàng hoá được giao dịch và tuỳ vào từng tình huống cụ thể Đồng thời, cũng có những quy định để kiểm soát thị trường hợp đồng quyền chọn, như những qui định kiểm soát ứng xử của thương nhân, của những người tạo lập thị trường
1.1.3.4 Hợp đồng hoán đổi
Khái niệm:
Hợp đồng hoán đổi (swap contract) là thỏa thuận mua và bán đồng thời tài sản gốc tương tự hoặc nghĩa vụ tương đương với số tiền vốn mà việc hoán đổi các giao dịch tài chính cho phép cả hai bên tham gia các điều kiện thuận lợi hơn mong muốn Thực chất của hợp đồng này là hai bên thoả thuận trao đổi những dòng tiền cụ thể vào những thời gian cụ thể
Hợp đồng hoán đổi bao gồm các loại: hợp đồng hoán đổi lãi suất, hợp đồng hoán đổi tiền tệ và hợp đồng hoán đổi hàng hoá, trong đó hợp đồng hoán đổi lãi suất là loại phổ biến nhất
Khả năng quản lý rủi ro của các loại hợp đồng kỳ hạn, tương lai và hoán đổi là như nhau Tuy nhiên, dù lợi ích tương tự nhau nhưng các công cụ này cũng khác nhau
về rủi ro tín dụng Với một hợp đồng hoán đổi và một hợp đồng kỳ hạn gần như nhau thì rủi ro tín dụng của một hợp đồng hoán đổi đối với các bên tham gia hợp đồng thấp hơn nhiều so với hợp đồng kỳ hạn
Trong một hợp đồng hoán đổi điển hình, một bên (gọi là bên thứ nhất) thực hiện công việc thanh toán định kỳ cho bên đối tác (gọi là bên thứ hai) tại giá cố định cho mỗi đơn vị khối lượng ước định hàng hóa nào đấy Bên đối tác phải trả cho bên thứ nhất giá thả nổi hay giá thay đổi cho khối lượng ước định của hàng hóa đó Những hàng hóa thường giống nhau và giá thả nổi thường được định nghĩa như giá trung bình Giá trung bình được tính dựa trên giá tại chỗ qua một thời gian định trước
Trang 21 Đặc điểm của hợp đồng hoán đổi là:
trường hoán đổi Mỹ, hầu như chưa có qui định nào ràng buộc Hiện nay, Hiệp hội hoán đổi và phái sinh quốc tế (International Swaps and Derivatives Association - ISDA) mới chỉ đưa ra tài liệu chuẩn về quy trình giao dịch và thủ tục pháp lý (chỉ áp dụng ở Mỹ) Ở Châu Âu, thị trường hoán đổi chủ yếu do các ngân hàng vận hành, được điều chỉnh bởi một số quy định của Luật Ngân hàng Nhìn chung, cho đến nay chỉ có quy định đối với người môi giới về việc tổ chức các giao dịch hoán đổi, không quy định về trách nhiệm của các đối tác trên thị trường đối với việc thực hiện hợp đồng Hạn chế của thị trường này là khi muốn giao dịch, một bên đối tác phải tìm được đối tác bên kia đang sẵn sàng làm đối tác giao dịch với mình (phải có sự trùng hợp về nhu cầu đối với thời gian đáo hạn, cấu trúc các dòng tiền và khối lượng vốn) Hợp đồng hoán đổi được thiết kế riêng theo nhu cầu của hai bên đối tác, chính
vì vậy các điều kiện của hợp đồng mang tính cứng nhắc và thiếu linh hoạt Hợp đồng hoán đổi ra đời để xử lý những bất tương xứng giữa tài sản có và tài sản nợ của Ngân hàng và doanh nghiệp về lãi suất, kỳ hạn và quốc tịch của đồng tiền, giúp ngân hàng và doanh nghiệp quản lý tốt hơn các dòng lưu chuyển tiền tệ của mình Trước khi các giao dịch hoán đổi xuất hiện, bên vay và bên cho vay thường bị giới hạn ở lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi, cấp vốn hoặc cho vay trên cơ sở tiền mặt Nhà đầu tư hoặc ngân hàng sẽ gặp phải sự không tương xứng về lãi suất giữa tài sản có
và tài sản nợ Ví dụ công ty vay lãi suất cố định, nhưng lại đầu tư vào thị trường lãi suất thả nổi, chắc chắn sẽ bị lỗ khi lãi suất giảm do không có khoản tăng thu nhập từ tài sản có lãi suất thả nổi Giao dich hoán đổi được tạo ra để xử lý những sự không tương xứng này, tạo cho ngân hàng, doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn các dòng lưu chuyển tiền tệ của mình Khi mới xuất hiện công cụ này vào những năm đầu thập kỷ
80 của thế kỷ 20, các ngân hàng dàn xếp các giao dịch hoán đổi cho các bên có nhu cầu bổ sung cho nhau Các ngân hàng thu được phí do làm đại diện trong các giao dịch của các khách hàng của mình Thị trường càng phát triển, ngân hàng càng sẵn sàng tham gia với vai trò chủ chốt, thực hiện những bù trừ tất cả các trạng thái với các bên ngang nhau và đối tác mong muốn Thu nhập được tạo ra từ sự chênh lệch giữa lãi suất hoán đổi thanh toán và nhận được, hoặc phí trả trước để dàn xếp
Trang 22 Điều kiện tiên quyết của một hợp đồng hoán đổi là cả hai bên đều có các lợi thế tương đối mà phía bên kia quan tâm, cả hai bên phải có sự lành mạnh và tương đối ngang bằng về tài chính
1.2 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ VÀ RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ NĂNG LƢỢNG
1.2.1 Rủi ro
1.2.1.1 Khái niệm rủi ro
Có nhiều định nghĩa về rủi ro (risk) Theo từ điển Kinh tế - kinh doanh Anh - Việt thì “rủi ro là một tình hình mà xác suất của một biến số có thể biết được nhưng không biết lúc nào xảy ra” [3, tr.911] Theo từ điển Kinh tế học hiện đại (the MIT Dictionary of Modern Economics: 4th Edition) thì “ rủi ro là hoàn cảnh trong đó một sự kiện xảy ra với một xác suất nhất định hoặc trong trường hợp quy mô của sự kiện đó có một phân phối xác suất” [20, tr.414] Tóm lại, rủi ro là khả năng xảy ra sự khác biệt giữa kết quả thực tế và kết quả kỳ vọng theo kế hoạch Rủi ro là một hiện tượng khách quan có liên quan và/hoặc có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến mục tiêu hoạt động của con người mà con người có thể nhận biết được nhưng con người không thể lượng hoá được những rủi ro đó xảy ra ở đâu, lúc nào và mức độ tác động xấu đến mục đích của con người như thế nào Khi có rủi ro người ta không thể thể dự đoán được chính xác kết quả, rủi ro gây ra sự không chắc chắn, nguy cơ rủi ro có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào
và khó có thể dự đoán trước được Như vậy, nói đến rủi ro là nói đến những sự kiện không may mắn, bất ngờ có thể xảy ra gây ra thiệt hại về lợi ích cho con người gồm sức khoẻ, tinh thần, tài sản, lợi mất hưởng và rủi ro là sự biến động tiềm ẩn trong những kết quả
Để đối phó với rủi ro, con người đã dùng một số biện pháp như:
làm cho người ta không dám làm gì do vậy cũng không thu được kết quả gì
pháp để ngăn ngừa, hạn chế rủi ro và hậu quả của nó như hệ thống phòng cháy chữa
Trang 23cháy, các biện pháp an toàn lao động, hạn chế tai nạn, các luật và quy tắc trong hoạt động kinh tế… Tuy nhiên những biện pháp này cũng không thể ngăn chặn được rủi ro xảy ra
khi có rủi ro thì dùng quỹ đó để bù đắp Biện pháp này không phải cá nhân hay tổ chức nào cũng làm được, nếu có rủi ro lớn như thảm hoạ thì cũng không thể bù đắp được, hơn nữa sẽ gây đọng vốn lớn trong xã hội nếu các nhân hay tổ chức nào cũng làm như vậy
chuyên nghiệp chịu trách nhiệm về các rủi ro thay mình Biện pháp này không gây đọng vốn cho xã hội, phạm vi bù đắp rộng lớn, có thể bù đắp rủi ro có tính chất thảm hoạ
1.2.1.2 Đặc điểm của rủi ro
Rủi ro có các đặc điểm chính là bất ngờ, gây tổn thất và ngoài mong đợi Một sự kiện được xác định là rủi ro khi sự kiện này mang đầy đủ cả ba đặc điểm này:
được chắc chắn kết quả của nó Bất ngờ chính là yếu tố bất định của rủi ro, vì khi người ta biết chắc chắn sự kiện nào đó sẽ gây hậu quả xấu trong tương lai thì người ta không coi sự kiện đó là rủi ro nữa mà chỉ là một sự kiện ngoài mong muốn
nghiêm trọng hoặc không nghiêm trọng Mọi tổn thất do rủi ro gây ra đều có đặc tính chung là gây giảm sút lợi ích cho con người
may mắn và đạt được nhiều lợi ích, không ai mong đợi gặp phải tổn thất cả Rủi ro gây ra tổn thất cho con người nên rủi ro là các sự kiện xảy ra ngoài mong đợi của con người
1 2.1.3 Phân loại rủi ro
Xét trên phạm vi kinh tế, rủi ro được chia thành các loại sau:
Trang 24 Rủi ro kinh doanh (business risk): là rủi ro liên quan đến thị trường sản phẩm của công ty, bao gồm rủi ro trong các hoạt động: đổi mới công nghệ (trang thiết bị, nguyên vật liệu mới), thiết kế sản phẩm (sản phẩm thay thế), tiếp thị (nhu cầu thị trường, hoạt động của đối thủ cạnh tranh)
trong thị trường tài chính, bao gồm các rủi ro do: biến động giá (do sự thay đổi của các biến số tài chính như lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá cả hàng hoá), khả năng tạo ra lợi nhuận, khả năng thanh toán nợ, khả năng thanh khoản
trong môi trường kinh tế và chính trị
xuống hạng về tín dụng của một đối tác Biên độ tín dụng (credit spread) là một trong các thước đo của rủi ro tín dụng
Xét riêng về các giao dịch phát sinh, các loại rủi ro tiềm tàng khi mua/ bán/ giao dịch các công cụ phái sinh bao gồm:
nhân gây ra thất thoát tài chính cho đối tác khác do không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán
cụ phái sinh bị dao động do những thay đổi về giá thị trường, gồm các loại: rủi ro lãi suất; rủi ro tỷ giá; rủi ro giá cả khác
vụ đi kèm với trách nhiệm tài chính khi mua/ bán công cụ tài chính phái sinh
Tập trung rủi ro: tập trung rủi ro gia tăng từ các công cụ tài chính phái sinh có những tính chất tương tự và chịu ảnh hưởng tương tự do những thay đổi trong điều kiện kinh tế và các điều kiện khác
người, và Hệ thống không hoạt động hoặc không đầy đủ hoặc từ các sự kiện bên ngoài liên quan đến hoạt động mua/ bán các công cụ phái sinh
Trang 251.2.2 Rủi ro biến động giá và rủi ro biến động giá năng lƣợng
1.2.2.1 Khái niệm rủi ro biến động giá
Rủi ro biến động giá (price risk) là rủi ro mà doanh nghiệp phải đối mặt do những biến động của giá cả tài chính gây ra Nhìn chung, các doanh nghiệp đều có thể phải đối mặt với rủi ro biến động giá khi giá cả tài chính thay đổi, nhưng các doanh nghiệp thuần tuy kinh doanh trong nước thì ít chịu ảnh hưởng của rủi ro biến động giá hơn so với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
Một số điểm cần lưu ý khi nghiên cứu về rủi ro biến động giá là:
cao
Như vậy, trong điều kiện giá cả càng biến động mạnh thì xác suất xảy ra những
xu hướng bất lợi của tỷ giá, lãi suất, giá hàng hoá đối với doanh nghiệp càng lớn nên khả năng gặp rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp càng cao
1.2.2.2 Đặc điểm của rủi ro biến động giá
Về bản chất, rủi ro biến động giá là một loại rủi ro tài chính đặc thù, do vậy, nó
có nhiều đặc điểm chung với các rủi ro tài chính thông thường khác Tuy nhiên, nó cũng
có các đặc điểm riêng biệt, cụ thể, rủi ro biến động giá chỉ xuất hiện khi có sự biến động của giá cả tài chính, tức là sự biến động của hàng hoá, dịch vụ đầu vào hoặc đầu ra hoặc
tỷ giá hoặc lãi suất Nhìn chung, tất cả các doanh nghiệp đều phải chịu rủi ro biến động giá, tuy nhiên, các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế thì chịu ảnh hưởng của rủi ro biến động giá nhiều hơn và phức tạp hơn so với các doanh nghiệp thuần tuý kinh doanh nội địa Bởi lẽ, khi tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp không chỉ phải đối mặt trực tiếp với rủi ro do biến động của giá cả hàng hoá, dịch vụ và lãi suất trong nước mà còn phải đối mặt với rủi ro do biến động của giá cả hàng hoá, dịch vụ và lãi suất nước ngoài
Trang 261.2.2.3 Phân loại rủi ro biến động giá
Rủi ro biến động giá bao gồm ba loại: rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất và rủi ro giá cả hàng hoá
Rủi ro tỷ giá (exchange rate): là rủi ro do biến động của tỷ giá gây ra Rủi ro tỷ
giá bao gồm rủi ro giao dịch ngoại hối và rủi ro chuyển đổi
Rủi ro giao dịch ngoại hối thường xảy ra khi có sự không tương xứng giữa thu
và chi ngoại tệ, do đó nó chỉ tập trung vào tác động trực tiếp của thu hoặc chi ngoại
tệ
Rủi ro chuyển đổi phản ánh mức biến động bất lợi có thể xảy ra về giá trị doanh nghiệp khi những tài sản ngoại tệ được chuyển sang đồng nội tệ
Rủi ro lãi suất (interest rate): là rủi ro do biến động của lãi suất gây ra Loại rủi
ro này liên quan đến các khoản vay phải trả của doanh nghiệp khi có sự thay đổi lãi suất trên thị trường Trên thực tế, khi nói đến sự thay đổi lãi suất trên thị trường người ta có thể nghĩ đến tác động của nó đối với các khoản lãi vay phải trả và sẽ thu trong tương lai Tuy nhiên, điều này chỉ đúng với các tổ chức tài chính kinh doanh dựa trên chênh lệch lãi suất các khoản đi vay và cho vay Do vậy, với doanh nghiệp rủi ro lãi suất thường ảnh hưởng đến các khoản vốn vay Trên thị trường tài chính quốc tế, việc áp dụng lãi suất thả nổi biến động theo lãi suất LIBOR, SIBOR khi cho doanh nghiệp vay vốn là rất phổ biến tại các ngân hàng và các tổ chức tín dụng Do
đó, rủi ro lãi suất cũng là loại rủi ro doanh nghiệp cần quan tâm
Rủi ro giá cả hàng hoá (commodity price risk): là rủi ro do biến động bất lợi của
giá cả hàng hoá gây ra Khi giá cả đầu vào của doanh nghiệp biến động bất lợi sẽ có thể làm tăng giá thành sản phẩm dẫn đến làm tăng chi phí, giảm năng lực cạnh tranh, giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1 2.2.4 Rủi ro biến động giá năng lượng
Sự biến động giá năng lượng có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, nó nó thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế, hay gây tác động đến nền chính phủ và do
đó tác động đến nền kinh tế thông qua phản ứng của chính phủ, hoặc gây ảnh hưởng trực tiếp đến các cá thể kinh doanh và người tiêu dùng
Trang 27Các công ty kinh doanh trong các ngành công nghiệp dầu mỏ, khí ga tự nhiên và điện lực rất dễ bị ảnh hưởng bởi rủi ro thị trường, cụ thể hơn là rủi ro biến động giá Rủi
ro biến động giá năng lượng là hậu quả của sự biến động giá cực lớn của giá năng lượng Trên phạm vi rộng, khi đánh giá được chính xác rủi ro biến động giá năng lượng, các nhà quản lý của các công ty năng lượng và các nhà đầu tư có thể ước lượng chính xác được khả năng thành công của các dự án khai thác, khả năng xảy ra thất bại của các nhà máy lọc dầu hay hiệu suất của các máy phát điện Nhìn chung, đã có nhiều công cụ truyền thống hiệu quả để quản lý những rủi ro này như các hợp đồng dài hạn, sự trữ hàng tồn kho, bảo hiểm,
Khi giá năng lượng giảm, giá trị vốn hoá của các công ty sản xuất năng lượng cũng giảm, và do đó, dòng tiền mặt trở nên khan hiếm khiến cho các hợp đồng mua bán năng lượng có thể không được thanh toán Khi giá tăng, chính phủ có xu hướng bảo vệ người tiêu dùng của mình Do vậy, giá cả hàng hoá đóng vai trò rất quan trọng trong các ngành năng lượng, và việc sử dụng các công cụ phái sinh trở thành một phương tiện thông dụng giúp các doanh nghiệp năng lượng, các nhà đầu tư, các khách hàng quản lý hiệu quả rủi ro nảy sinh từ sự biến động mạnh của giá năng lượng
Rủi ro biến động giá năng lượng được chia thành hai loại: rủi ro cơ bản và rủi ro hỗn hợp
Rủi ro cơ bản (basis risk): Trên thị trường năng lượng, sự biến động của thị trường có thể bị gây ra bởi các nhân tố như thời tiết xấu, các tiến bộ về chính trị, các sự kiện tự nhiên hay sự thay đổi quy định Các nhân tố này gây nên rủi ro cơ bản trên thị trường năng lượng theo các dạng sau:
Nguyên liệu hàng thực tại một địa điểm không thể giúp làm giảm bớt sự thiếu hụt nghiêm trọng ở một địa điểm khác
Chất lượng khác nhau của sản phẩm không thể thay thế cho sản phẩm năng lượng đang trong tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng Tình trạng này thường xảy ra trên thị trường ống dẫn khí và thị trường điện khi có vấn đề phát sinh với hệ thống truyền tải
Trang 28 Không có đủ thời gian vận chuyển hay sản xuất các sản phẩm năng lượng để làm giảm bớt sự thiếu hụt trên thị trường
Khi điều hành quản lý rủi ro biến động giá năng lượng, hợp đồng phái sinh lý tưởng là hợp đồng có rủi ro bằng không hoặc giá năng lượng theo hợp đồng đó có rủi ro
cơ bản thấp nhất Rủi ro cơ bản càng lớn thì tính hữu dụng của các sản phẩm phái sinh dùng cho mục đích quản trị rủi ro càng thấp
Sự thu hút của thị trường phi tập trung với các hợp đồng hoán đổi và quyền chọn năng lượng thể hiện ở chỗ rủi ro cơ bản có lúc có thể bằng không vì các hợp đồng trên thị trường phi tập trung có thể thường xuyên định giá giống giá tham chiếu hàng thực Tuy nhiên, các hợp đồng tương lai được giao dịch tại các Sở giao dịch thì có giá tham chiếu riêng của mình và được quy định cố định theo quy tắc của các Sở giao dịch Điều này nghĩa là nếu giá tham chiếu không giá hàng thực được giao dịch thì rủi ro cơ bản thì hoặc là phải chấp nhận giá đó hoặc phải tìm giá thay thế trên thị trường phi tập trung
Rủi ro cơ bản hỗn hợp (Mixed basis risk): xảy ra khi tài sản cơ sở được bảo hiểm rủi ro với nhiều hơn một cách kết hợp giữa mặt hàng năng lượng (phụ thuộc vào việc quản lý rủi ro biến động giá) và chỉ số giá tham chiếu của các công cụ phái sinh được sử dụng Rủi ro cơ bản hỗn hợp được tính toán dựa trên hai cơ sở là cơ sở thời gian và cơ sở vị trí địa lý
Cơ sở thời gian: đây là cơ sở để tính toán rủi ro tại nhiều thị trường Trên thị trường năng lượng, sử dụng cơ sở thời gian có thể rất nguy hiểm, đặc biệt là khi có sự di chuyển đột ngột về nhu cầu hay khi xảy ra các vấn đề về vận chuyển Ví dụ, một nhà máy điện ở Mỹ kỳ vọng rằng giá khí tự nhiên vào mùa hè sẽ tăng (do sử dụng nhiều điều hoà, ) Công ty này sẽ tự bảo hiểm bằng cách mua hợp đồng tương lai tháng 8 tại NYMEX Nếu có sự khan hiếm chất đốt vào đầu mùa hè - khoảng tháng 6 thì tháng 7 giá khí tự nhiên sẽ tăng mạnh hơn giá khí tự nhiên vào tháng 8 Do vậy, hợp đồng tương lai khí tự nhiên tháng 8 không thể đáp ứng thoả đáng được nhu cầu khí tự nhiên trong tháng 7
Cơ sở vị trí địa lý: với cùng một loại hợp đồng phái sinh năng lượng với mức giá như nhau nhưng hợp đồng thực hiện tại những khu vực địa lý khác nhau thì có rủi ro
Trang 29biến động giá căn cứ theo cơ sở vị trí địa lý khác nhau Các nhân tố nguồn cung/cầu nội địa, sự căng thẳng chính trị, các vấn đề với hệ thống đường ống, trong trường hợp khí tự nhiên là các vấn đề với hệ thống ống dẫn khí, tại các khu vực định giá cho hợp đồng phái sinh hoặc ở khu vực có nguồn cung hàng thực có thể làm cho hợp đồng phái sinh năng lượng đó trở thành một nghĩa vụ pháp lý hơn là một công cụ giảm thiểu rủi ro có lợi
1.3 VAI TRÒ CỦA CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH TRONG PHÒNG NGỪA RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ NĂNG LƢỢNG
1.3.1 Vai trò quản lý rủi ro
Các công cụ phái sinh cung cấp một cơ chế hiệu quả cho phép các doanh nghiệp năng lượng phòng tránh và dịch chuyển rủi ro sang những người muốn chọn rủi ro để kiếm lời Trên thực tế, từ khi ra đời cho đến nay, các công cụ phái sinh đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới như là công cụ bảo hiểm không thể thiếu trong vai trò quản lý rủi
ro đối với các ngân hàng, các nhà đầu tư và đi vay quốc tế cũng như các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu năng lượng Chúng cho phép người sử dụng giao dịch có thể tham gia vào thị trường vốn mới và tận dụng những ưu thế để gia tăng vốn mà không gia tăng rủi
ro kèm theo Đồng thời, chúng cho phép các doanh nghiệp năng lượng có thể xác định trước các khoản lợi nhuận có được cũng như chi phí phải bỏ ra trong các hoạt động kinh doanh quốc tế có liên quan đến khối lượng lớn ngoại tệ Điều này giúp doanh nghiệp năng lượng quản lý vốn một cách hiệu quả hơn, tránh được những rủi ro có thể gây tác động xấu đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, các doanh nghiệp năng lượng có thể an tâm hoàn toàn, dành toàn bộ sức lực của mình cống hiến cho các hoạt động kinh doanh mà không phải lo ngại những nguy cơ rủi ro biến động giá có thể xuất hiện bất ngờ
1.3.2 Vai trò xác định sự biến động của giá cả
Các công cụ phái sinh năng lượng đặc biệt hữu ích để quản lý rủi ro biến động giá Việc sử dụng các công cụ này tại thị trường năng lượng không có gì đáng ngạc nhiên khi mà chúng đã được sử dụng thành công để quản lý rủi ro biến động giá nông nghiệp trong hơn một thế kỷ qua Các công cụ phái sinh cho phép các nhà đầu tư
Trang 30chuyển rủi ro sang những ai có thể thu được lợi ích từ việc nhận lấy rủi ro, và chúng ngày càng được các nhà đầu tư sử dụng rộng rãi để tách biệt các khoản lãi thu được khỏi
sự biến động thất thường của giá cả
Vai trò xác định sự biến động của giá cả của các công cụ phái sinh thể hiện rõ nhất ở hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn Các thị trường kỳ hạn và tương lai là nguồn thông tin quan trọng đối với giá cả Đặc biệt, thị trường tương lai được xem là một công cụ chủ yếu để xác định giá giao ngay của tài sản Điều này không hề bất bình thường, bởi có rất nhiều hàng hoá được giao dịch trên thị trường tương lai nhưng thị trường giao ngay của nó rất rộng lớn và phân tán nên rất khó có thể xác định được giá giao ngay của chúng Ở đây, thường giá tương lai của những giao dịch sớm nhất sẽ được xác định là giá giao ngay Sở dĩ như vậy là vì giá của hợp đồng tương lai phản ánh
dự đoán của thị trường về giá giao ngay trong tương lai Trong một thị trường hiệu quả thì của hợp đồng tương lai sẽ tiến tới bằng hoặc xấp xỉ gần bằng giá giao ngay khi hợp đồng đáo hạn Do vậy, giá của hợp đồng tương lai phản ánh khá sát tình hình cung cầu trên thị trường Thêm nữa, thị trường tương lai trên thế giới thường nhộn nhịp hơn nên các thông tin do nó cung cấp có tính tin cậy cao hơn Những thông tin được cung cấp trên thị trường phái sinh dù trực tiếp hay gián tiếp đều góp phần hình thành giá giao ngay trong tương lai một cách có hiệu quả mà những người tham gia thị trường có thể chốt lại trong giới hạn chấp nhận của mình
Thị trường quyền chọn không trực tiếp phản ánh dự đoán về giá giao ngay trong tương lai, nhưng nó lại phản ánh sự biến động giá của hàng hoá được giao dich, tức là phản ánh độ rủi ro gắn liền với mỗi loại hàng hoá cơ sở Những hợp đồng quyền chọn
có mức phí cao chứng tỏ hàng hoá được mua bán trong hợp đồng có khả năng biến động mạnh theo hướng có lợi cho người mua và bất lợi cho người bán, và mức phí cao sẽ là phần bù đắp chi phí cho hợp đồng quyền chọn nếu thị trường biến động theo đúng dự đoán của người mua trong hợp đồng
1.3.3 Vai trò phân phối lại rủi ro giữa các nhà đầu tƣ
Trên thị trường năng lượng, một nhà sản xuất kinh doanh năng lượng muốn phòng ngừa rủi ro phải tìm được một người khác có nhu cầu đối lập hoàn toàn với mình,
Trang 31tức là rủi ro của người muốn phòng ngừa rủi ro phải được hấp thụ bởi các nhà đầu cơ
Sở dĩ có thể tồn tại kiểu giao dịch này có thể được thực hiện vì mỗi nhà đầu tư có nhu cầu và khả năng chấp nhận rủi ro khác nhau Sở dĩ có thể tồn tại kiểu giao dịch này có thể được thực hiện vì mỗi nhà đầu tư có nhu cầu và khả năng chấp nhận rủi ro khác nhau và những nhà đầu cơ nhận thấy việc đầu tư vào công cụ tài chính phái sinh lại tạo điều kiện cho việc phòng ngừa các rủi ro ít tốn kém hơn và hiệu quả hơn Và thế là họ gặp nhau và tiến hành việc chuyển giao một phần rủi ro của mình cho đối tác Cần khẳng định chắc chắn rằng, thị trường phái sinh năng lượng không hề tạo ra mà cũng chẳng thể phá huỷ được tài sản cơ sở (các mặt hàng năng lượng), chúng chỉ là những phương tiện chuyển giao rủi ro trên thị trường, những rủi ro sẵn có cuả thị trường tài sản, chuyển những khoản rủi ro đó từ những không đủ khả năng chấp nhận nó sang những người sẵn sàng tiếp nhận nó, chính là những nhà đầu cơ Không có thêm bất kỳ một rủi ro nào được sinh ra trên thị trường này Và lợi ích từ thị trường không chỉ bó hẹp trong lợi ích của những nhà đầu cơ mà nó lan toả ra toàn xã hội
1.3.4 Vai trò thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính
Các công cụ phái sinh vừa là công cụ phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng vừa là công cụ để kinh doanh kiếm lời thông qua hoạt động đầu cơ do thị trường các sản phẩm phái sinh cho phép đầu tư với tỷ suất lợi nhuận cao Chính điều này đã hấp dẫn các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm Do vậy, thị trường các sản phẩm phái sinh có tính thanh khoản cao, huy động thêm nhiều nguồn lực xã hội Ngoài ra, việc tham gia trên thị trường này không đòi hỏi chi phí lớn, do đó các nhà đầu tư có thể dễ dàng tham gia hoặc rút khỏi thị trường, thu hút được nhiều đối tượng trong nền kinh tế tham gia như các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Từ đó, chúng đã giúp thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính Thị trường tài chính phát triển đồng thời lại tạo cơ hội đa dạng hoá các công cụ phái sinh giúp phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng hiệu quả hơn
các doanh nghiệp năng lượng, nhất là trong bối cảnh kinh tế tài chính của thế giới hiện nay với sự biến động phức tạp của giá năng lượng, khi mà các doanh nghiệp đang phải đối mặt với rất nhiều rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh Trong bối cảnh hiện
Trang 32nay, việc tăng cường sử dụng các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng sẽ đem lại lợi ích cho không chỉ riêng một chủ thể nào của nền kinh tế
mà cho toàn thể nền kinh tế
Trang 33CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH NHẰM PHÒNG
NGỪA RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ NĂNG LƯỢNG TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI BẰNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH
2.1.1 Rủi ro biến động giá trên thị trường năng lượng thế giới
2.1.1.1 Thị trường năng lượng thế giới
Thị trường năng lượng thế giới là một thị trường đang nổi phát triển chậm chạp bắt nguồn từ hai thập kỷ bị ám ảnh bởi đầu cơ và thương mại Kỷ nguyên của những thương nhân năng lượng bắt đầu từ đầu những năm 1980 với việc nới lỏng kiểm soát đối với thị trường dầu mỏ của chính quyền Reagan, chính quyền Thatcher, thời kỳ phát triển sau này được đánh dấu bằng quyền lực tập trung của Enron và việc các công ty lữ hành mở rộng lĩnh vực kinh doanh sang khí tự nhiên và điện lực, sau đó là kết thúc bất ngờ vào năm 2002 với sự sụp đổ của nhiều công ty theo mô hình Enron
Thị trường dầu mỏ thế giới phát triển trong sự bao bọc của chính sách bảo hộ của
Mỹ - mức độ nhập khẩu thường được Washington điều chỉnh cùng với Uỷ ban đường
bộ Texas, theo đó việc giao dịch hàng hoá toàn cầu khổng lồ sẽ được thực hiện bởi hàng ngàn chủ tàu chở dầu hoặc được kiểm soát bởi các công ty lớn nhất thế giới Trong đó, Thị trường Trao đổi Hàng hoá New York (NYMEX) là những trung tâm kinh doanh toàn cầu hoá nhất, chính là tâm điểm của mọi thị trường năng lượng của thế giới
Sự phát triển của thị trường dầu mỏ tương lai NYMEX là thành tựu nổi bật trong lịch sử không chỉ đối với ngành kinh doanh dầu mỏ mà còn cả với nền kinh tế toàn cầu Thị trường khí tự nhiên và điện lực gần đây đã thoát ra khỏi thời kỳ thị trường sơ khai Trong khi đó, dầu mỏ đã được hầu hết chính phủ các nước nới lỏng kiểm soát về mức
độ nhập khẩu vào những năm 1980, khí tự nhiên được nới lỏng kiểm soát vào đầu những năm 1990 và điện lực được nới lỏng kiểm soát vào cuối những năm 1990 và hiện chúng chỉ còn bị Chính phủ kiểm soát tại một số nước mà thôi Ngành công nghiệp khí
tự nhiên và điện lực đang trở thành một trong những chủ thể truyền thống đem lại nhiều
Trang 34lợi ích nhất trong nền kinh tế Do vậy, thị trường giao dịch các mặt hàng này ngày càng phát triển
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường năng lượng thế giới hiện nay gồm:
(OPEC), các cuộc tấn công khủng bố ở Trung Đông, tình hình nội chiến ở Nga, tình hình tại Irắc
và hiệu quả sử dụng cuối cùng
“Theo đánh giá của các chuyên gia năng lượng trên thế giới, trong hai thập kỷ tới
sẽ chưa có thay đổi lớn về tỉ trọng các dạng năng lượng sử dụng Tiêu thụ năng lượng vẫn tăng mạnh, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Trong đó các nước Châu Á đang phát triển sẽ chiếm 40% trong tổng số năng lượng tiêu thụ tăng trên toàn cầu Trong 20 năm tới than vẫn tiếp tục là nguồn nhiên liệu chính cho sản xuất điện, nhưng khí tự nhiên sẽ dần khẳng định vai trò của mình trong lĩnh vực này nhờ hiệu suất sử dụng cao hơn và các lợi ích trong việc bảo vệ môi trường Năng lượng hạt nhân sẽ chiếm khoảng 5% năng lượng sơ cấp tiêu thụ trên toàn thế giới vào năm 2025, trong khi đó năng lượng tái tạo sẽ chiếm khoảng 8% ” [24]
Sự phát triển trong năm năm cuối của thế kỷ 20 đã cho thấy sự phân tách của thị trường năng lượng thành nhiều mảng với các chủ thể tham gia, đặc điểm, rủi ro và nhu
Trang 35cầu tín dụng khác nhau Một phân đoạn thị trường chủ yếu được phân loại theo mức độ đối mặt với cạnh tranh (phụ thuộc vào việc nó vận hành thế nào trong thị trường cạnh tranh), loại sản phẩm giao dịch (hàng hoá hay dịch vụ), tuy nhiên không cần thiết phải phân theo loại nhiên liệu Do vậy, nếu xu thế hiện tại vẫn tiếp diễn, các thị trường sau sẽ phát triển dần dần và trở nên thống nhất:
(margin) thấp đối với các sản phẩm dầu thô và các sản phẩm phụ của dầu mỏ, điện lực và khí tự nhiên
marketing bán lẻ điện lực và khí tự nhiên và cũng có thể bao gồm cả các dịch vụ sử dụng năng lượng hiệu quả
hình thành nhiều công ty cạnh tranh để phục vụ rộng rãi cư dân nông thôn các nguồn năng lượng tái tạo hoặc năng lượng hoá thạch
vụ hỗ trợ, các công ty phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng, các mạng lưới quy
mô nhỏ trong các hệ thống cô lập dựa vào các hệ thống năng lượng hỗn hợp, tái tạo Thị trường xăng dầu thế giới trong tương lai sẽ tiếp tục có nhiều biến động, những xung đột về địa lý chính trị không thể lường trước ở các nước sản xuất dầu mỏ bao gồm Vịnh Ả rập, các nước Châu Phi… và sự cạnh tranh quyết liệt giữa các tập đoàn lớn nhằm giành quyền cung cấp dầu/sản phẩm từ dầu vì lợi ích kinh tế Ngày nào con người còn chưa tìm được các sản phẩm thay thế cho xăng dầu, nền an ninh năng lượng của tất
cả các quốc gia trên thế giới sẽ còn bị đe doạ, bao gồm các siêu cường như Mỹ, Trung Quốc… cho đến các nước đang phát triển như Việt Nam
Giá dầu trên thế giới tiếp tục có những biến động rất khó đoán biết và có xu hướng tăng cao Hiện tại, giá dầu tiếp tục duy trì ở mức trên 60 USD/thùng Điều này cũng khiến cho giá các chế phẩm từ dầu liên tục có những biến động bất ngờ Nhìn vào Hình 2.1 thể hiện giá dầu thô WTI thế giới từ tháng 1/2004 đến nay và dự báo đến tháng 1/2010, theo đó chúng ta thấy được rằng giá dầu thô biến động rất mạnh và với xu hướng tăng mạnh
Trang 36Hình 2.1: Diễn biến và dự đoán giá dầu thô trên thị trường thế giới
từ năm 2004 đến năm 2010
2.1.1.2 Rủi ro biến động giá năng lượng
Giá năng lượng biến động mạnh hơn giá các hàng hoá khác và giá này cũng rất nhạy cảm theo khu vực địa lý Sự biến động tăng của giá năng lượng gây khó khăn cho dòng tiền, việc quản lý tín dụng và việc thâm nhập vào các khoản đầu tư triển vọng đáng giá Các dữ liệu giá cả trong lịch sử minh hoạ cho sự biến động cao của giá năng lượng Hình 2.2 so sánh giá giao ngay đối với các mặt hàng đường (sugar), vàng (gold), dầu thô (WTI Crude Oil) và chỉ số chứng khoán (S&P 500) từ tháng 1 năm 1989 đến tháng 12 năm 2001 Có thể thấy giá đường khá ổn định vào khoảng 10 xu một pound, ngoại trừ đợt tăng đỉnh điểm vào cuối năm 200 đầu năm 2001 Giá vàng lên xuống trong mức từ 350$ đến 420$/ounce từ năm 1989 đến năm 1995, và đã sụt giảm từ giữa năm 1996 Chỉ số S&P 500 đã tăng vừa phải và đạt đỉnh vào đầu năm 2000, và sau đó
Trang 37Hình 2.2: Giá giao ngay đối với 1 số mặt hàng từ 1/1999 đến 9/2001
Nguồn: Energy Information Administration
Trái ngược với mô hình về giá giao ngay của các hàng hoá khác, giá năng lượng thể hiện một xu thế không thể thấy rõ Ví dụ, hình 2.3 thể hiện giá giao ngay trên thị trường đối với dầu thô, dầu đốt, xăng không chì và khí tự nhiên Giá của dầu thô thể hiện sự biến động ngẫu nhiên xung quanh mức trung bình vào khoảng 20$/thùng, đồng thời giá dầu đốt và giá gas có xu hướng biến thiên theo giá dầu Giá khí tự nhiên tại thị trường giao ngay luôn đạt đỉnh điểm định kỳ mà không thể cảnh báo rõ ràng được
Trang 38Hình 2.3: Giá giao ngay đối với một số mặt hàng năng lƣợng từ 1/1999 đến 5/2002
Nguồn: Energy Information Administration
Giá điện bán buôn kể từ năm 1999 (xem hình 2.4) ở Midwest (ECAR) và ở khu vực Pennsylvania-Maryland-New Jersey (PJM), ở ranh giới California-Oregon (COB)
và ở Palo Verde, trung tâm nhập khẩu chủ yếu điện vào California, đã tăng đột biến trong những tháng hè Bên cạnh đó, giá điện bán buôn ở West Coat cũng biến động rất mạnh vào mùa đông và mùa xuân năm 2001
Trang 39Hình 2.4: Giá bán buôn điện ở một số khu vực từ 3/1999 đến 3/2002
Nguồn: Energy Information Administration
Khí tự nhiên và điện đặc biệt phụ thuộc vào sự biến động giá theo nhu cầu đáp ứng sự thay đổi của thời tiết Hàng dự trữ là một khoản hữu hạn giúp làm giảm sự bùng
nổ của giá cả vì những người sử dụng khí tự nhiên tiêu biểu không dự trữ một lượng lớn hàng dự trữ, và điều kiện để dự trữ điện thường ít và khá tốn kém (bơm thuỷ lực, bể chứa, dung tích nhàn rỗi ) Việc vận chuyển với chi phí thấp thấp đến những khu vực
có giá cao là rất khó khăn với những ngành này do sự giới hạn khả năng của hệ thống vật chất kết nối giữa khách hàng với nhà cung cấp Khả năng hạn chế dự trữ và sự thiếu hụt các nhà cung cấp thay thế rẻ hơn từ các khu vực khác có thể làm giá cả biến động mạnh ở khu vực cầu tăng đột biến
Sự biến động giá là nguyên nhân gây nên sự di chuyển giữa cung và cầu của hàng hoá Giá khí tự nhiên và giá điện bán buôn đặc biệt biến động theo mùa Cầu tăng nhanh phản ứng lại sự biến đổi thời tiết, trong khi đó việc tăng khả năng sản suất thì
Trang 40giới hạn và đắt đỏ Ngoài ra, không chỉ không thể di chuyển năng lượng đến nơi có nhu cầu một cách nhanh chóng mà lượng dự trữ nội địa thì có hạn, đặc biệt là mặt hàng điện Các chính sách công nhằm phấn đấu làm giảm sự biến động giá đã tập trung vào việc tăng năng lực dự trữ sản xuất và khả năng vận chuyển Gần đây, người ta đã nhấn mạnh tới khả năng làm cho người sử dụng có thể xác định được giá năng lượng để họ thực hành tiết kiệm khi nguồn cung khan hiếm, từ đó làm hạn chế đẩy giá cả lên cao
Tóm lại, qua các phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy nhóm ngành tài chính có mức biến động tổng thể thấp nhất và nhóm ngành điện có mức biến động cao nhất Nhìn chung, các mặt hàng năng lượng có biến động riêng biệt cao hơn các loại mặt hàng khác
2.1.2 Phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lƣợng bằng các công cụ phái sinh
2.1.2.1 Phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng
Các nhà đầu tư, các nhà quản lý và các chủ doanh nghiệp muốn phòng tránh rủi
ro là vì họ có nhiều động lực để hành động chống lại rủi ro Sự đa dạng hoá đầu tư trong các ngành kinh doanh không liên quan đến nhau, thường là ở các khu vực khác nhau, có thể là cách hiệu quả để làm giảm sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào hiệu suất của một ngành hay một dự án riêng biệt nào đó Về mặt lý thuyết thì có thể đa dạng hoá tất cả mọi rủi ro của một dự án cụ thể Tuy nhiên, trên thực tế, việc đa dạng hoá kinh doanh rất tốn kém và thường thất bại do sự phức tạp của việc điều hành kinh doanh đa dạng
Về cơ bản, sự thành công của hầu hết các dự án ràng buộc chặt chẽ với tình trạng chung của nền kinh tế với mục đích để vận mệnh của các ngành kinh doanh và các dự án khác nhau không độc lập mà phụ thuộc lẫn nhau Do vậy, ở thế giới thực tại, việc đa dạng hoá kinh doanh thường không phải là biện pháp kháng cự lại được rủi ro
Một phương pháp phòng ngừa rủi ro khác được tạo ra bởi sự biến động giá là phương pháp sử dụng hợp đồng cố định giá dài hạn: chủ doanh nghiệp đầu tư vào một
dự án khí tự nhiên đơn giản có thể ký một hợp đồng dài hạn với nhà cung cấp gas Ví
dụ, vào tháng 1 năm 2008 chúng ta có thể chốt giá gas là 3.59USD/Btu, chốt giá gas năm 2009 là 3.92USD/Btu, Tuy nhiên, chiến lược bảo hiểm giá như vậy vẫn còn một
số rủi ro Nếu giá thị trường giao ngay đối với khí tự nhiên năm 2009 hạ xuống chỉ còn