Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, cần thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau: - Tìm hiểu một số khái niệm lý thuyết liên quan đến ngân hàng thương mại
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
-
LÊ THỊ KIM THANH
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NGOÀI QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS, TS HOÀNG VĂN CHÂU
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
-
LÊ THỊ KIM THANH
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NGOÀI QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS, TS HOÀNG VĂN CHÂU
HÀ NỘI - 2008
Trang 31
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Hầu hết các nước phát triển trên thế giới đều xây dựng được một hệ thống ngân hàng hiện đại, mức độ tự động hoá cao, các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phong phú, đa dạng, Dịch vụ ngân hàng trở thành thiết yếu đối với đời sống người dân, các công ty và các tổ chức
Việt nam là nước có nền kinh tế thị trường phát triển muộn, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn nhiều hạn chế Ngân hàng thương mại quốc doanh là những ngân hàng dẫn đầu, có tiềm lực vốn mạnh và đã xây dựng được một cơ sở khách hàng tương đối vững chắc Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế-xã hội, đời sống của người dân được nâng cao, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng của các cá nhân, tổ chức ngày càng gia tăng, các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh được thành lập nhiều, ngày càng phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế - xã hội Bên cạnh những thành tựu đạt được, còn tồn tại một số hạn chế nhất định, đòi hỏi các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh phải luôn luôn ý thức và nỗ lực nhiều hơn để tồn tại, phát triển và cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Đặc biệt, việc thành lập quá nhiều ngân hàng thương mại thuộc doanh nghiệp, vấn đề đầu tư tràn lan vào các lĩnh vực khác đã làm suy yếu vai trò, chức năng của ngân hàng, gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Xuất phát từ tình hình trên, tác giả muốn tập trung tìm hiểu về thực trạng phát triển ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh Việt nam thời gian qua và
từ đó đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm phát triển lành mạnh hệ thống ngân hàng
Trang 42
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Phân tích và chỉ ra những bất cập, hạn chế trong quá trình phát triển ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh ở Việt nam thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển đúng hướng ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh ở Việt nam trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh
Phạm vi nghiên cứu là tập trung vào tìm hiểu, phân tích thực trạng, tình hình phát triển của ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh ở Việt nam trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến hết quý I/2008
4 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, cần thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tìm hiểu một số khái niệm lý thuyết liên quan đến ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh nói riêng
- Các loại hình ngân hàng thương mại ở Việt nam
- Vai trò của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế
- Phân tích thực trạng phát triển ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh
ở Việt nam thời gian qua, một số thành tựu cũng như hạn chế trong những mặt cụ thể
- Đưa ra quan điểm, định hướng chung của Đảng, Nhà nước về phát triển ngân hàng thương mại thời gian tới
- Tìm hiểu kinh nghiệm phát triển ngân hàng thương mại của một số nước trên thế giới
- Đưa ra một số đề xuất, kiến nghị cá nhân để phát triển ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh thời gian tới
Trang 5cổ phần
Bên cạnh đó, năm 2007 là năm mà các tập đoàn, các (tổng) công ty có xu hướng thành lập ngân hàng riêng, đây là vấn đề thời sự mang tính chất nóng bỏng, nhưng chưa có tiền lệ ở Việt nam, cũng như rất ít gặp trên thế giới Do vậy, các tài liệu nghiên cứu, tổng kết về vấn đề này cũng không nhiều
Mặc dù các tài liệu về tập đoàn, đặc biệt là tập đoàn tài chính ngân hàngkhông nhiều, nhưng luận văn cũng sử dụng những tài liệu này để phục vụ thêm cho mục đích nghiên cứu Những tài liệu đó, cùng với những tài liệu về ngân hàng thương mại nói chung sẽ được trích dẫn cụ thể trong phần tài liệu tham khảo
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Lênin được vận dụng xuyên suốt đề tài để đảm bảo tính liên kết về mặt thời gian và nội dung giữa các chương, mục và tính hệ thống của đề tài
Mác Phương pháp tiếp cận cá biệt và so sánh dùng để tìm hiểu thực trạng phát triển ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh của Việt nam thời gian qua trên số mặt cụ thể như vốn, công nghệ, nhân lực, dựa trên sự so sánh với ngân hàng thương mại quốc doanh và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích
Trang 64
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài “Ngân hàng thương mại ngoài
quốc doanh ở Việt nam - thực trạng phát triển và một số đề xuất, kiến nghị”,
luận văn gồm 03 chương với kết cấu như sau:
- Chương 1: Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh và vai trò của nó đối với nền kinh tế
- Chương 2: Thực trạng phát triển ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh ở Việt nam thời gian qua
- Chương 3: Một số đề xuất, kiến nghị phát triển ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh ở Việt nam trong thời gian tới
Trang 75
CHƯƠNG 1:
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NGOÀI QUỐC DOANH VÀ
VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh Việt nam
1.1.1 Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một trong những ngành công nghiệp lâu đời nhất Ngân hàng thương mại đầu tiên của Hoa Kỳ được thành lập vào năm
1782, trước khi Hiến pháp Liên Bang được thông qua và những ngân hàng được thành lập từ những năm 1980 đến nay vẫn đang hoạt động Trong các định chế tài chính, ngân hàng thương mại là định chế quan trọng nhất [4] Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những người chủ sở hữu, tránh gây mất mát Đổi lại, người chủ sở hữu phải trả cho người giữ một khoản tiền công Khi công việc này mang lại nhiều lợi ích cho những người gửi, các đồ vật cần gửi ngày càng đa dạng hơn, và đại diện cho các vật có giá trị như vậy là tiền, dần dần, ngân hàng là nơi giữ tiền cho những người có tiền Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu
về tiền ngày càng lớn, tức là phát sinh nhu cầu vay tiền ngày càng lớn trong
xã hội Khi nắm trong tay một lượng tiền, những người giữ tiền nảy ra một nhu cầu cho vay số tiền đó, vì lượng tiền trong tay họ không phải bao giờ cũng bị đòi trong cùng một thời gian, tức là có độ chênh lệch lượng tiền cần gửi và lượng tiền cần rút của người chủ sở hữu Từ đó phát sinh nghiệp vụ đầu tiên nhưng cơ bản nhất của ngân hàng nói chung, đó là huy động vốn và cho vay vốn
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng vay tiền của người gửi và cho
các công ty và cá nhân vay lại Tiền huy động được của người gửi gọi là “tài sản nợ” của ngân hàng Tiền cho công ty và cá nhân vay lại cũng như tiền gửi
Trang 86
ở các ngân hàng khác và số trái phiếu ngân hàng sở hữu gọi là “tài sản có”
của ngân hàng Phần chênh lệch giữa số tiền huy động được và số tiền đem
cho vay, gửi ngân hàng và mua trái phiếu gọi là vốn tự có của ngân hàng
thương mại Phần tài sản có tính thanh khoản được giữ để đề phòng trường
hợp tiền gửi vào ngân hàng bị rút ra đột ngột gọi là tỷ lệ dự trữ của ngân
hàng Toàn bộ số vốn của ngân hàng được chia làm hai loại: vốn cấp 1 và vốn cấp 2 Vốn cấp 1, còn gọi là vốn nòng cốt, về cơ bản bao gồm vốn điều lệ cộng với lợi nhuân không chia cộng với các quỹ dự trữ được lập trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của tổ chức tín dụng như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển Vốn cấp 2 về cơ bản bao gồm: (i) phần giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản của tổ chức tín dụng, (ii) nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài (bao gồm trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và một số công cụ nợ thứ cấp nhất định) và (iii) dự phòng chung cho rủi ro tín dụng
Như vậy, ngân hàng thương mại (ngân hàng trung gian) là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán [4]
Cách tiếp cận thận trọng là có thể xem xét ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất Một số định nghĩa dựa trên các hoạt động chủ yếu Luật các Tổ chức tín dụng của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam: "hoạt động ngân hàng là hoạt động
kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.”
Trang 97
Hệ thống ngân hàng nước ta là hệ thống ngân hàng hai cấp, trong đó ngân hàng Nhà nước làm nhiệm vụ của Ngân hàng Trung ương, còn các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác hoạt động như là các ngân hàng trung gian thực hiện chức năng kinh doanh
1.1.2 Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh Việt nam
Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh Việt nam trước hết là một ngân hàng thương mại (phân biệt với ngân hàng Trung Ương), có hoạt động kinh doanh và thực hiện các nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại nói chung nhằm mục tiêu lợi nhuận; nhưng khi nói “ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh Việt nam” thì tức là chúng ta đang muốn nói đến hình thức và tính chất
sở hữu, phân biệt nó với ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam và ngân hàng thương mại nước ngoài khác
Ngân hàng thương mại quốc doanh là ngân hàng thương mại do Nhà nước thành lập, để thực hiện một hoặc một số mục tiêu kinh tế nhất định của Nhà nước thông qua các hoạt động, nghiệp vụ kinh doanh cụ thể
Ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt nam hiện nay bao gồm chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài, ngân hàng 100% vốn nước ngoài khi Việt nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và theo lộ trình cam kết của Việt nam thì loại hình ngân hàng thương mại nước ngoài sẽ được mở rộng, đa dạng, cạnh tranh bình đẳng hơn với các ngân hàng thương mại Việt nam trong việc thực hiện các giao dịch, nghiệp vụ
Sau khi Ngân hàng Ngoại thương Việt nam tiến hành cổ phần hoá, nhưng trong đó Nhà nước vẫn nắm cổ phần chi phối thì hiện nay còn có một loại hình ngân hàng thương mại mới, tạm gọi là ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước
Trang 108
Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh Việt nam có thể bao gồm các ngân hàng thương mại cổ phần thông thường (Nhà nước không nắm cổ phần chi phối), ngân hàng liên doanh (trong đó có bên Việt nam tham gia góp vốn thành lập), nhưng trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ xin đi sâu nghiên cứu, phân tích tìm hiểu về thực trạng phát triển ngân hàng thương mại cổ phần thông thường
1.2 Chức năng, vai trò của ngân hàng thương mại
Nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng thương mại rất phong phú, đa dạng Với việc đưa vào hoạt động hình thức công ty nắm giữ một ngân hàng
và với sự nới lỏng một số hạn chế mà các ngân hàng phải thực hiện trước đây, một số lớn các dịch vụ khác nhau do các ngân hàng thương mại và các chi nhánh của nó cung cấp được mở rộng Những đổi mới gần đây trong nghiệp
vụ ngân hàng bao gồm việc đưa vào sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ kiểm toán đối với các doanh nghiệp, factoring, tín dụng thuê mua, máy trả tiền tự động, môi giới, chiết khấu
Tầm quan trọng của các ngân hàng thương mại có thể được minh họa một cách chi tiết thông qua các chức năng, vai trò cơ bản của nó
1.2.1 Tạo tiền
Chức năng này được thực hiện thông qua các hoạt động tín dụng và đầu
tư của các ngân hàng thương mại trong mối quan hệ với hệ thống các ngân hàng Sức mạnh của hệ thống ngân hàng nhằm tạo tiền mang ý nghĩa kinh tế
to lớn Hệ thống tín dụng năng động là điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế theo một hệ số tăng trưởng vững chắc Nếu tín dụng ngân hàng không tạo được tiền để mở ra những điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và những hoạt động của nó thì trong nhiều trường hợp, sản xuất không thực hiện được và nguồn tích lũy từ lợi nhuận và các nguồn khác sẽ bị hạn chế Hơn thế nữa, đơn vị sản xuất có thể phải gánh chịu tình trạng ứ đọng vốn luân chuyển
Trang 119
không được sử dụng trong quá trình sản xuất, nhưng trong các thời kỳ cao điểm mang tính thời vụ của các hoạt động, doanh nghiệp lại không đủ vốn để thúc đẩy nhu cầu sản xuất kinh doanh
Một trong những nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước là nhằm đưa ra một khối lượng tiền cung ứng phù hợp với chính sách ổn định giá cả, sự tăng trưởng kinh tế lành mạnh, và tạo được nhiều việc làm
Các ngân hàng thương mại đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi chính sách này Chúng phục vụ như là một kênh dẫn để thông qua đó, tiền cung ứng được tăng lên hoặc giảm xuống nhằm đạt được những mục tiêu quan trọng nói trên
1.2.2 Cơ chế thanh toán
Việc đưa ra một cơ chế thanh toán, hay nói một cách khác, sự vận động vốn là một trong những chức năng quan trọng do các Ngân hàng thương mại thực hiện và nó càng trở nên quan trọng khi được sự tín nhiệm trong việc sử dụng séc và thẻ tín dụng
Phần lớn séc trong nước được thanh toán bù trừ thông qua hệ thống Ngân hàng thương mại Việc phát hành séc để rút ra và ký thác trong cùng một ngân hàng đơn thuần chỉ là sự chuyển vốn từ tài khoản này sang tài khoản khác Việc thanh toán séc giữa hai ngân hàng có thể được thực hiện thông qua việc trao đổi trực tiếp hoặc thông qua tổ chức thanh toán bù trừ nhờ vào hệ thống các ngân hàng đại lý
Các ngân hàng đã và đang trang bị máy vi tính và các phương tiện kỹ thuật nhằm làm cho quá trình thanh toán bù trừ thực hiện nhanh chóng, giảm bớt chi phí và đạt độ chính xác cao
Trong những năm gần đây, ngân hàng đã sử dụng một vài hình thức chuyển tiền bằng điện tử Thẻ tín dụng ngân hàng được sử dụng cho các máy
tự động trong cửa hàng bán lẻ Các máy tính trong các ngân hàng đặt khắp nơi
Trang 1210
trong nước được mạng hoá, thực hiện việc chuyển vốn của người mua sang tài khoản của người bán Điểm thuận lợi cơ bản của hệ thống này là nhờ vào việc lắp đặt và sử dụng hệ thống máy tự động, thẻ tín dụng ngân hàng có thể được
sử dụng để rút tiền từ một tài khoản cụ thể, thực hiện việc gửi tiền, thanh toán
nợ và chuyển vốn giữa tiền gửi tiết kiệm và tài khoản séc của cùng một chủ tài khoản
1.2.3 Huy động tiết kiệm
Các ngân hàng thương mại thực hiện một dịch vụ rất quan trọng đối với tất cả các khu vực của nền kinh tế bằng cách cung ứng những điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiết kiệm của dân chúng Người gửi tiền được nhận một khoản tiền thưởng dưới danh nghĩa lãi suất trên tổng số tiền gửi tiết kiệm ở các ngân hàng, với mức độ an toàn và hình thức thanh khoản cao Số tiền huy động được thông qua hình thức tiết kiệm luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nhằm mở rộng khả năng sản xuất và các mục đích sinh hoạt cá nhân như mua sắm các mặt hàng tiêu dùng và nhà cửa Phần lớn tiền gửi tiết kiệm được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thương mại
1.2.4 Mở rộng tín dụng
Chức năng quan trọng của các ngân hàng thương mại là mở rộng tín dụng đối với các khách hàng đáng tin cậy Ngay từ khi mới bắt đầu, những người tổ chức ngân hàng thương mại đã luôn tìm kiếm các cơ hội để thực hiện cho vay, coi đó như là chức năng quan trọng nhất của mình, và trong một số trường hợp việc cho vay đó được chính phủ bảo lãnh đối với một số nhu cầu tín dụng
Tín dụng của các ngân hàng thương mại có ý nghĩa quan trọng thiết yếu đối với toàn bộ nền kinh tế, nó tạo ra khả năng tài trợ cho các hoạt động công
Trang 1311
thương nghiệp và sản xuất nông, lâm nghiệp, .của đất nước, giúp cho nền sản xuất, thương mại, đầu tư trong nền kinh tế phát triển thuận lợi, trôi chảy
1.2.5 Tạo điều kiện để tài trợ ngoại thương
Các ngân hàng thương mại cung ứng các dịch vụ ngân hàng quốc tế cần thiết đối với các hoạt động ngoại thương, nguyên nhân là do mỗi nước có một
hệ thống tiền tệ riêng, không đồng nhất, và với năng lực tài chính của người mua (nhập khẩu) và người bán (xuất khẩu) ở các nước khác nhau cũng không giống nhau; trong một số trường hợp còn có một số hạn chế về ngôn ngữ, chính trị, văn hoá, hệ thống pháp luật
Các hoạt động tài trợ ngoại thương có thể được các ngân hàng thương mại thực hiện bằng nhiều nghiệp vụ khác nhau như phát hành thư bảo lãnh, tài trợ xuất nhập khẩu, hay phát hành thư tín dụng
1.2.6 Dịch vụ ủy thác
Khi mà thu nhập tăng lên đã tạo khả năng tích lũy lành mạnh, góp phần phát triển dịch vụ ủy thác của ngân hàng thương mại, trong đó các ngân hàng thương mại nhận vốn góp của các cá nhân, các tổ chức trong xã hội, thực hiện việc quản lý, đầu tư theo danh mục nhất định, mang lại lợi nhuận cho khách hàng dựa trên những nguyên tắc, mục tiêu cụ thể
1.2.7 Bảo quản an toàn vật có giá
Đây là một trong những dịch vụ lâu đời nhất được các ngân hàng thương mại thực hiện Chức năng này bao gồm bảo quản an toàn các vật có giá và bảo quản an toàn các giấy tờ có giá và các chứng từ quan trọng khác có liên quan Trái phiếu, cổ phiếu được giữ lại làm thế chấp đối với nợ vay cũng đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải thực hiện công việc bảo quản an toàn giấy
tờ có giá để đảm bảo việc thực hiện quyền và lợi ích cho các bên liên quan Các ngân hàng nhỏ thường không có điều kiện thiết lập kho riêng biệt để bảo quản an toàn các chứng khoán như các ngân hàng lớn Một thực tế phổ
Trang 1412
biến đối với các công ty tài chính và phi tài chính - là các chứng khoán nợ bao giờ cũng được bảo quản ở các ngân hàng Đôi khi những người sở hữu chứng khoán đòi hỏi ngân hàng không những giữ hộ những chứng khoán đó của họ trong kho bảo quản trong một thời kỳ dài mà còn yêu cầu làm dịch vụ thu lãi chứng khoán và đưa vào tài khoản của khách hàng
Chức năng này của các ngân hàng thương mại Việt nam chưa thực sự được chú trọng phát triển, một phần do điều kiện cơ sở vật chất chưa vững chắc, đầy đủ, một phần do nhu cầu bảo quản an toàn của người dân còn chưa xuất hiện nhiều
Như vậy, ngân hàng là một loại hình tổ chức, có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng Từ một góc độ khác hơn, rõ ràng, ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong nền kinh tế Vấn đề ở chỗ không chỉ các chức năng của các ngân hàng đang thay đổi, mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh của ngân hàng cũng không ngừng thay đổi Thực tế là rất nhiều tổ chức tài chính, bao gồm cả các công ty chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, các quỹ tương hỗ và các công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân hàng Ngược lại, ngân hàng cũng đối phó với các
Trang 1513 đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng về lĩnh vực bất động sản, bảo hiểm môi giới chứng khoán, đầu tư vào các quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác
Một ví dụ về nỗ lực của các tổ chức tài chính thế giới trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng được ghi nhận từ những năm 1980 khi rất nhiều công
ty bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán lớn, bao gồm cả Merrill Lynch, Prudential nhảy vào lĩnh vực ngân hàng bằng cách thành lập cái mà họ gọi là
“các ngân hàng phi ngân hàng” Những điều đó đã dẫn đến sự nhầm lẫn trong công chúng khi phân biệt ngân hàng với các tổ chức tài chính khác Từ đó, một số quan điểm cho rằng, cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục và dịch
vụ tài chính đa hạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán-và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.” Sự đa hạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng dẫn đến việc chúng được gọi là các “bách hóa tài chính” (financial department stores) [4]
Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay được thể hiện trong biểu đồ 1.1 sau đây:
Trang 1614
Sơ đồ 1.1 Chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước)
1.3 Các khuynh hướng ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng
- Thứ nhất, khuynh hướng gia tăng nhanh chóng trong danh mục các dịch vụ ngân hàng Quá trình mở rộng danh mục dịch vụ đã tăng tốc trong những năm gần đây dưới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác và áp lực cạnh tranh trong nội bộ ngành ngân hàng, từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng và từ sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ
Nó cũng làm tăng chi phí của ngân hàng và dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn Các dịch vụ mới đã có ảnh hưởng tốt đến ngành này thông qua việc tạo ra những nguồn thu mới cho ngân hàng - các khoản lệ phí của dịch vụ không phải lãi - một bộ phận có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn so với nguồn thu truyền thống từ lãi cho vay
- Thứ hai là sự gia tăng cạnh tranh Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính - ngân hàng đang ngày càng trở nên quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục dịch vụ cung cấp Hầu hết các ngân hàng cung cấp dịch vụ tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ
Trang 1715
tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng Đây là những dịch
vụ đang phải đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các ngân hàng khác, các hiệp hội tín dụng, các công ty chứng khoán, các công ty tài chính, các tập đoàn bảo hiểm, áp lực cạnh tranh này đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ ngân hàng cho tương lai
- Thứ ba là khuynh hướng phi quản lý hóa Cạnh tranh và quá trình mở rộng dịch vụ ngân hàng (hai khuynh hướng trên) cũng được thúc đẩy bởi sự nới lỏng các quy định - giảm bớt sức mạnh kiểm soát của Nhà nước và Chính phủ Điều này bắt đầu bằng việc Ngân hàng Nhà nước nâng lãi suất trần đối với tiền gửi tiết kiệm nhằm cố gắng giúp người dân có mức thu nhập cao hơn
từ tiền gửi tiết kiệm, các ngân hàng thương mại thì có thể linh hoạt, tự chủ hơn trong điều chỉnh lãi suất Nhiều loại tài khoản tiền gửi mới được phát triển giúp người dân có thể hưởng lãi trên các tài khoản giao dịch Tuy nhiên, cùng với sự nới lỏng quản lý của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng thương mại thì chi phí và rủi ro tổn thất chung đối với nền kinh
tế cũng theo đó mà tăng lên, nguy cơ khủng hoảng, nguy cơ “bong bóng” cũng tăng lên
- Thứ tư là sự gia tăng chi phí vốn Sự nới lỏng luật lệ kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí trung bình thực tế của tài khoản tiền gửi - nguồn vốn cơ bản của ngân hàng Với sự nới lỏng các luật lệ, ngân hàng buộc phải trả lãi cao hơn do thị trường cạnh tranh quyết định cho phần lớn tiền gửi Điều đó buộc phải cắt giảm các chi phí hoạt động khác; ngân hàng cũng phải tìm các nguồn vốn mới như chứng khoán hóa một số tài sản Cũng do cạnh tranh mà các ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động, giảm lãi suất cho vay để sử dụng hiệu quả nguồn vốn, làm cho chênh lệch lãi suất của ngân hàng bị giảm xuống, chi phí vốn tăng theo
Trang 1816
- Thứ năm là sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất Các quy định của Nhà nước đối với ngân hàng phần nào đó giúp cho người dân có khả năng nhận được khoản thu nhập cao hơn từ tiền gửi, nhưng chỉ có người dân mới làm cho khả năng đó thành hiện thực Những tài khoản có tỷ lệ thu nhập cũng thay đổi theo xu hướng và điều kiện của thị trường Ngày càng có nhiều kênh đầu tư hấp dẫn giúp cho người dân có thể có khả năng tái đầu tư và gia tăng thu nhập Ngân hàng cũng nhận ra rằng họ đang phải giao dịch với khách hàng ngày càng đòi hỏi cao hơn và nhạy cảm hơn với lãi suất Các khoản tiền gửi tiết kiệm “trung thành” của họ có thể bị tăng khả năng cạnh tranh trên phương diện thu nhập và nhạy cảm hơn với ý thích thay đổi của xã hội trong vấn đề phân phối các khoản thu nhập đó
- Thứ sáu là xu hướng cách mạng trong công nghệ ngân hàng Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây, các ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho
hệ thống dựa trên lao động thủ công, đặc biệt là trong việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín dụng Những ví dụ nổi bật nhất là các máy rút tiền
tự động ATM, cho phép khách hàng truy nhập tài khoản của họ 24/24; máy chấp nhận thanh toán thẻ (POS) được lắp đặt ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phương tiện thanh toán qua quầy bằng giấy; hệ thống máy vi tính hiện đại cho phép xử lý nhanh chóng hàng ngàn giao dịch Ngân hàng đang trở thành ngành sử dụng nhiều vốn và chi phí cố định Các giao dịch điện tử ngày càng trở nên thuận tiện Tuy nhiên, một ngành ngân hàng hoàn toàn tự động vẫn là điều xa vời, nhu cầu về nhân sự cao cấp trong ngân hàng vẫn đang là nhu cầu cấp bách; một tỷ lệ lớn khách hàng vẫn ưa chuộng các dịch vụ do con người và những cơ hội để nhận được sự tư vấn cá nhân về các vấn đề tài chính
Trang 1917
- Thứ bảy là khuynh hướng củng cố và mở rộng hoạt động về mặt địa lý
Sử dụng có hiệu quả quá trình tự động hóa và những đổi mới công nghệ đòi hỏi ngân hàng phải có quy mô lớn để tận dụng hết những lợi thế về quy mô, giảm chi phí cố định bình quân Vì vậy ngân hàng phải mở rộng cơ sở khách hàng bằng cách tìm kiếm các thị trường mới, gia tăng số lượng các tài khoản của khách hàng, tăng thêm số lượng chi nhánh và các điểm giao dịch Hiện nay các ngân hàng đang tìm mọi cách để đạt được sự đa dạng hóa và ngân hàng không còn muốn duy trì mô hình ngân hàng cổ điển, mà muốn nhấn mạnh vai trò của nó như là các tổ chức tài chính đa năng, đổi mới và hướng
về khách hàng Công nghệ hiện đại cũng giúp ngân hàng có thể gia tăng khả năng tiếp cận bước đầu với khách hàng ở những vùng miền xa xôi thông qua việc lắp đặt các thiết bị giao dịch điện tử
- Cuối cùng là khuynh hướng toàn cầu hóa ngân hàng Sự bành trướng địa lý và hợp nhất ngân hàng đã vượt qua ranh giới lãnh thổ quốc gia để lan rộng với quy mô toàn cầu Các ngân hàng lớn trên thế giới đặt trụ sở ở nhiều quốc gia khác nhau Sự cạnh tranh trong ngành ngân hàng vì thế không phải chỉ diễn ra giữa các ngân hàng trong nước; sự cạnh tranh đó ngày càng quyết liệt hơn do có sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài
1.4 Các dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây
1.4.1 Cho vay tiêu dùng
Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng đều không tích cực cho vay đối với
cá nhân và hộ gia đình bởi họ cho rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đối cao và do đó làm cho chúng có mức sinh lời thấp Hiện nay, các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho những món vay thương mại lớn Sau đó là sự cạnh tranh khốc liệt trong việc huy động tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng
Trang 2018
tiềm năng, trung thành Hình thức tín dụng tiêu dùng này đã rất phát triển trên thế giới và đang bắt đầu được các ngân hàng thương mại Việt nam chú trọng khai thác, phát triển
Qua nhiều năm, các ngân hàng đã phát hiện ra rằng một số dịch vụ mà
họ làm cho họ cũng có ích cho khách hàng Một trong những ví dụ nổi bật là dịch vụ quản lý tiền mặt, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho các công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán hoặc các khoản đầu tư sinh lợi khác, hay các khoản tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán Trên thế giới, các ngân hàng đã tiến hành quản lý tiền mặt không chỉ cho các công ty lớn mà còn cho cả những khách hàng cá nhân, nhưng hiện nay ở Việt nam, dịch vụ này mới chỉ được các ngân hàng thực hiện cho những doanh nghiệp lớn, hơn nữa chất lượng dịch vụ cũng chưa cao, chưa tạo thành một nguồn thu đáng kể cho ngân hàng thương mại
1.4.4 Thuê mua thiết bị
Đây là dịch vụ mà trong đó ngân hàng mua thiết bị rồi cho khách hàng thuê lại Sau khi hợp đồng cho thuê kết thúc, hai bên hoàn thành nghĩa vụ và thanh lý hợp đồng, tài sản, thiết bị, máy móc cho thuê có thể thuộc quyền sở hữu của ngân hàng, cũng có thể bán lại luôn cho khách hàng thuê theo giá trị
Trang 2119
còn lại (sau khi đã khấu hao) Dịch vụ này tạo điều kiện cho khách hàng không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để đầu tư máy móc thiết bị, mà vẫn có máy móc, thiết bị để sử dụng trong quá trình kinh doanh, nhất là đối với những máy móc, thiết bị mà doanh nghiệp chỉ cần sử dụng một lần Điều này thúc đẩy nền kinh tế sản xuất phát triển thuận lợi Về phía ngân hàng, hoạt động này cũng được xem là một hoạt động đầu tư mà trong đó khách hàng là người vay dưới hình thức trả góp, đối tượng đầu tư là tài sản, máy móc, thiết
bị, ngoài việc thu phí dịch vụ, trong một số trường hợp ngân hàng còn hưởng
sự chênh lệch từ việc đầu tư này Trường hợp khác, khi kết thúc hợp đồng, ngân hàng vẫn là chủ sở hữu của tài sản thì ngân hàng vẫn có thể cho thuê tiếp khách hàng khác, khi tài sản vẫn có giá trị sử dụng; mặt khác, ngân hàng
có thể tính khấu hao chúng trong một số kỳ nhất định nhằm tăng lợi ích về thuế
1.4.5 Bán các dịch vụ bảo hiểm tín dụng
Đây là hoạt động rất phát triển trên thế giới, trong đó ngân hàng thương mại bán bảo hiểm tín dụng cho khách hàng, điều đó đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng vay vốn gặp phải rủi ro nhất định nào đó quy định trong hợp đồng (thông thường là khi khách hàng bị tử vong hoặc tàn phế) Hiện nay, trên thế giới, ngân hàng thường bảo hiểm cho khách hàng thông qua các liên doanh hoặc các đại lý kinh doanh độc quyền (theo thoả thuận), theo đó một công ty bảo hiểm đồng ý đặt một văn phòng đại lý tại hành làng của ngân hàng và ngân hàng sẽ nhận một khoản thu nhập từ các dịch vụ đó Trong một số trường hợp, ngân hàng có thể được phép cung cấp trực tiếp dịch vụ bảo hiểm tín dụng đó Đối với những tập đoàn tài chính - ngân hàng lớn thì đây là một lợi thế khi họ được phép hoạt động trong cả lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm
Trang 2220
1.4.6 Cung cấp các kế hoạch hưu trí
Đây là dịch vụ phổ biến trên thế giới, trong đó ngân hàng thương mại thường có một phòng ban gọi là phòng uỷ thác, họ được các doanh nghiệp hoặc bản thân cá nhân người lao động uỷ thác để lập ra các kế hoạch hưu trí
từ quỹ lương hưu của họ, quản lý quỹ đó cho đến khi người sở hữu kế hoạch này cần đến Ngân hàng không chỉ thu được phí dịch vụ mà ngoài ra đây còn
là một nguồn vốn góp phần quan trọng vào hoạt động của ngân hàng thương mại Khách hàng được tư vấn kế hoạch sử dụng cũng như được hưởng lợi từ
sự an toàn, bên cạnh đó có thể được hưởng lãi suất nhất định nếu giữa ngân hàng và khách hàng có thoả thuận về việc sử dụng quỹ để đầu tư tài chính, mức lãi suất tuỳ thuộc vào tính chất khoản đầu tư mà khách hàng chấp thuận
uỷ thác cho ngân hàng thực hiện Dịch vụ này có nét tương đồng với dịch vụ
uỷ thác đầu tư, nhưng với đối tượng khách hàng khác biệt, ngân hàng cũng có chính sách tư vấn và chiến lược hoạt động khác, trong đó đặc trưng cơ bản vẫn là cung cấp kế hoạch hưu trí, giữ hộ nguồn tiền gửi
1.4.7 Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
Trên thị trường hiện nay, không ít ngân hàng đang cố gắng để trở thành một “bách hoá tài chính” thực sự, cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu tại một địa điểm Đây là một trong những
lý do khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán khác bên ngoài Trong một vài trường hợp, ngân hàng mua lại công ty môi giới chứng khoán đang hoạt động hoặc thành lập các liên doanh với công ty môi giới ở Việt nam thời gian qua, các hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần cũng cố gắng thành lập công ty chứng khoán riêng, nhưng việc thu hút khách hàng của
Trang 2321
ngân hàng và khách hàng của công ty chứng khoán về một mối còn là vấn đề cần nhiều nỗ lực của cả ngân hàng và công ty chứng khoán thành viên
1.4.8 Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp
Do ngân hàng cung cấp các tài khoản tiền gửi truyền thống với lãi suất thấp, nhiều khách hàng đã hướng tới việc sử dụng sản phẩm đầu tư, đặc biệt
là các tài khoản của quỹ tương hỗ và hợp đồng trợ cấp, những loại hình cung cấp mang lại triển vọng thu nhập cao hơn tài khoản tiền gửi dài hạn, cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai (chẳng hạn là ngày nghỉ hưu) Quỹ tương hỗ bao gồm các chương trình đầu tư được quản lý một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ (tối đa hoá thu nhập, hay đạt được sự tăng giá trị vốn, hay đảm bảo mức
an toàn và lợi nhuận tối thiểu) Dịch vụ này mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho khách hàng, giúp khách hàng sử dụng đồng vốn một cách hiệu quả hơn, chuyên nghiệp hơn Ngân hàng ngoài việc thu phí dịch vụ, cũng có thể có nguồn vốn dồi dào luân chuyển, cân đối đầu tư, mang lại lợi nhuận cho quỹ
1.4.9 Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn
Ngân hàng ngày nay đang theo chân các tổ chức tài chính hàng đầu trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và dịch vụ ngân hàng bán buôn cho các tập đoàn lớn Những dịch vụ này bao gồm xác định mục tiêu hợp nhất, tài trợ mua lại công ty, mua bán chứng khoán cho khách hàng, bảo lãnh phát hành chứng khoán, cung cấp công cụ marketing chiến lược, các dịch vụ hạn chế rủi ro cho khách hàng, hoặc các dịch vụ tư vấn cơ hội kinh doanh trong và ngoài nước cho khách hàng Ngoài ra các ngân hàng thương mại cũng tham gia vào thị trường bảo đảm, hỗ trợ các khoản nợ do Chính phủ và công ty phát hành để những khách hàng này có thể vay vốn với chi phí thấp nhất từ thị trường tự do hay từ các tổ chức cho vay khác trong và ngoài nước Riêng với
Trang 2422
dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, ngân hàng không chỉ giúp cho khách hàng một kênh vay vốn dài hạn mới với chi phí thấp hơn hình thức tín dụng truyền thống, mà điều này còn cho phép nhân viên tín dụng ngân hàng cộng tác chặt chẽ với công ty môi giới chứng khoán trong quá trình tài trợ, tìm nguồn vốn cho khách hàng
Nhìn chung trên thế giới đã phát triển những dịch vụ ngân hàng nói trên, tuy nhiên ở Việt nam, một số dịch vụ mới được phát triển thời gian gần đây, các NHTMCP là những ngân hàng chịu khó học hỏi, nắm bắt nhanh nhạy để thu hút khách hàng, trong khi còn một số dịch vụ còn chưa được các ngân hàng thương mại chú trọng khai thác, làm hạn chế nguồn thu của ngân hàng thương mại Việt nam nói chung và các NHTMCP Việt nam nói riêng Các NHTMCP cần tìm ra lợi thế của riêng mình để bắt đầu lựa chọn hướng đi, phát triển sản phẩm, dịch vụ cho phù hợp
1.5 Các loại hình ngân hàng thương mại ở Việt nam
Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài, có thể tạm phân chia các loại hình ngân hàng thương mại ở Việt nam theo hai tiêu chí cơ bản sau:
1.5.1 Phân loại theo tính chất sở hữu
a) Ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam
b) Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh Việt nam
c) Ngân hàng nước ngoài tại Việt nam
1.5.2 Phân loại theo tính chất liên kết ngành, lĩnh vực (theo tính chất của quá trình hình thành)
a) Ngân hàng thương mại hình thành độc lập
b) Ngân hàng thương mại hình thành từ tập đoàn, (tổng) công ty
Đó có thể là tập đoàn, (tổng) công ty tài chính (bảo hiểm, chứng khoán), khi thành lập ngân hàng sẽ hình thành nên tập đoàn tài chính-ngân hàng; đó cũng
Trang 251.6 Vai trò của ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh đối với nền kinh tế Việt nam
- Tăng tính cạnh tranh, giảm độc quyền của ngân hàng thương mại quốc doanh Các ngân hàng thương mại quốc doanh được hình thành từ vốn sở hữu của Nhà nước, do đó cũng khó tránh khỏi sự “ưu ái” của Nhà nước dành cho khối ngân hàng này trong quá trình thực hiện nghiệp vụ, cung cấp dịch vụ cho khách hàng Hơn nữa, với qui mô lớn, các ngân hàng này cũng dễ dàng hơn trong quá trình chiếm lĩnh thị phần, thu hút lượng khách hàng lớn, trung thành Bên cạnh những lợi thế, thì khối ngân hàng này cũng có những sự hạn chế nhất định, đó là sự cồng kềnh trong bộ máy quản lý, trong quá trình ra các quyết định hoạt động Sự hình thành nhanh và nhiều các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh, với sự năng động, nhạy bén trong quá trình chuyển đổi nhanh của nền kinh tế thị trường cùng với nhu cầu dịch vụ ngân hàng ngày cao của người dân đã đem lại cho khách hàng những cơ hội chọn lựa cho họ những ngân hàng phục vụ khác ngoài khối ngân hàng thương mại quốc doanh
- Nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng Chính sự ra đời, phát triển của khối ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh làm gia tăng tính cạnh
Trang 2624
tranh giữa các ngân hàng trong khối, giữa ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh với ngân hàng thương mại quốc doanh buộc tất cả các ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường phải nâng cao chất lượng, công tác, dịch vụ phục vụ khách hàng để chiếm lĩnh thị phần, gia tăng lợi nhuận, vì lợi nhuận của họ xuất phát từ chính công tác khách hàng
- Đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách hàng Đây là yếu tố cơ bản giúp ngân hàng thu hút khách hàng Trong khi các ngân hàng ngày càng nhiều, nhu cầu của khách hàng đối với các dịch vụ ngân hàng ngày càng cao thì sự đơn điệu trong sản phẩm, dịch vụ không thể giúp ngân hàng níu giữ khách hàng trung thành với ngân hàng Từ sự ra đời và phát triển của ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh mà sự cạnh tranh giữa ngân hàng ngày càng tăng, các ngân hàng buộc phải đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ; từ những dịch vụ truyền thống, các ngân hàng phát triển, mở rộng hoạt động sang những dịch vụ hiện đại, thậm chí ngay trong các dịch vụ truyền thống, các ngân hàng cũng có sự đa dạng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chẳng hạn, đối với dịch vụ huy động tiền gửi tiết kiệm, từ sản phẩm tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ đến sản phẩm tiết kiệm lĩnh lãi định kỳ, rồi sản phẩm tiết kiệm rút gốc linh hoạt, tiết kiệm có thưởng, và với sự hỗ trợ của công nghệ, khách hàng có thể gửi tiền tiết kiệm qua máy ATM,
- Tạo thêm điều kiện thuận lợi cho ngân hàng Nhà nước thực hiện các công cụ, chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế Với tốc độ phát triển nhanh của nền kinh tế, với lượng vốn huy động trong và ngoài nước dành cho nền kinh tế ngày càng lớn để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, ngân hàng Nhà nước không thể chỉ dựa vào ngân hàng thương mại quốc doanh để thực hiện các công cụ điều tiết vĩ mô, hay thực hiện các mục tiêu của mình, trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước có thể dùng sự quản lý của mình để
Trang 27tế Sự ra đời, phát triển ngân hàng cổ phần giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày nay có cơ hội vay vốn tín dụng với sự bình đẳng trong tương quan với các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp lớn khác
Trang 2826
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NGOÀI QUỐC DOANH Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
2.1 Về số lượng, loại hình ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh
ở Việt nam thời gian qua
Có thể nói, năm 2007 là một năm đánh dấu sự phát triển vượt bậc về số lượng của các NHTMCP Việt nam NHTMCP Việt nam bao gồm cả ngân hàng thương mại cổ phần đô thị và ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Xét về tư cách pháp nhân, ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh Việt nam mới có ngân hàng cổ phần, các ngân hàng với tư cách pháp nhân khác: tư nhân, trách nhiệm hữu hạn,… chưa phát triển ở Việt nam
Tính đến cuối năm 2007, theo thống kê chính thức từ trang thông tin điện
tử của Ngân hàng Nhà nước, các NHTMCP đã được thành lập và đi vào hoạt động gồm có 33 ngân hàng thương mại cổ phần đô thị (trong đó bao gồm cả một số ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn chuyển đổi sang) và 01 ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn
Năm 2007 là năm Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhận được nhiều đơn xin phép thành lập ngân hàng nhất trong vòng 10 năm trở lại đây Theo Vụ các Ngân hàng, trước khi quy chế cấp phép thành lập ngân hàng có hiệu lực (20/7/2007), đã có hơn 20 hồ sơ gửi tới Ngân hàng Nhà nước Trong vòng một tuần cuối tháng 7, có tới 10/20 bộ hồ sơ đã nộp lại mới và được tiếp nhận chính thức Đến đầu tháng 12/2007, Ngân hàng Nhà nước đã ký văn bản chấp thuận về mặt nguyên tắc đối với hồ sơ thành lập bốn ngân hàng, đó là ngân hàng FPT, ngân hàng Bảo Việt, ngân hàng Liên Việt và ngân hàng dầu khí Trong đó, ngân hàng cổ phần FPT có vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng, với các cổ
Trang 2927 đông sáng lập là Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Công nghệ FPT, Tổng công ty Tái Bảo hiểm VINARE và VMS Mobifone
Ngân hàng cổ phần Bảo việt có vốn điều lệ 1.500 tỷ đồng, trong đó riêng Tổng công ty Bảo việt có đóng góp 40% vốn Theo quy định, mỗi cổ đông là
tổ chức chỉ được phép góp tối đa là 20% vốn điều lệ Tuy nhiên, trường hợp Bảo việt đã được Thủ tướng chấp thuận cho nâng tỷ lệ này lên gấp đôi
Ngân hàng cổ phần Liên việt đăng ký với số vốn lên tới 3.300 tỷ đồng, với sự tham gia của các cổ đông lớn là công ty trách nhiệm hữu hạn Himlam, công ty vận tải Hàng không phía Nam, Tổng công ty thương mại Sài gòn Ngân hàng cổ phần Dầu khí là trường hợp có vốn điều lệ lớn nhất, đạt 5.000 tỷ đồng Tập đoàn dầu khí, Tổng công ty Hàng không Việt nam và Ngân hàng cổ phần Quốc tế (VIBank) là các cổ đông sáng lập ngân hàng này Ngoài bốn ngân hàng kể trên, thời gian sau còn có thêm năm ngân hàng nữa được phê duyệt Đó là NHTMCP Năng lượng, Ngoại thương Châu á, Ngôi sao Việt nam, Đông Dương Thương Tín và Bảo Tín Các trường hợp này đều có vốn điều lệ đăng ký là 1.000 tỷ đồng Trong đó, góp vốn thành lập NHTMCP Năng lượng là các Tổng công ty Lilama, Sông Đà và Tập đoàn Than Khoáng sản Việt nam
Bốn ngân hàng còn lại đều có sự tham gia góp vốn của các ngân hàng đang hoạt động hiện nay Ngân hàng Ngoại thương Việt nam (Vietcombank) chung vốn với một số công ty trách nhiệm hữu hạn để lập ngân hàng Ngoại thương Châu á Techcombank cùng tổng công ty Hóa chất Việt nam và công
ty cổ phần khu công nghiệp Tân Tạo ITA góp vốn thành lập NHTMCP Ngôi sao Việt nam
Đông Dương Thương Tín là ngân hàng thứ hai có nguồn gốc quân đội
Cổ đông sáng lập của ngân hàng này là ngân hàng cổ phần quân đội (MB) và một số doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng
Trang 3028
Ngân hàng Bảo Tín có sự tham gia góp vốn của ngân hàng cổ phần Nhà
Hà nội (Habubank), Satra Sài gòn
Đầu năm 2006 không chỉ các công ty chứng khoán được thành lập nhiều
do sự phát triển của thị trường chứng khoán, cả thị trường chính thức lần thị trường OTC, mà các ngân hàng cũng không chịu thua kém trong cuộc chạy đua này Tuy nhiên, sau Nghị định số 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ vào tháng 11/2006 về danh mục mức vốn pháp định của Tổ chức tín dụng, đặc biệt là Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN vào tháng 06/2007 của NHNN về điều kiện thành lập ngân hàng mới, việc thành lập NHTMCP đã trở nên khó khăn hơn Đáng chú ý là mức vốn điều lệ tối thiểu của một NHTMCP đô thị tăng vọt từ 70 tỷ đồng lên 1.000 tỷ đồng
Bảng 2.1 Các NHTMCP nộp hồ sơ xin cấp phép tính đến hết tháng 08/2007
STT Tên ngân hàng VĐL (tỷ đồng) Địa phương
10 NHTMCP Phát triển đô thị Việt nam 1.000 Hà Nội
Trang 3129
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt nam)
Đến hết tháng 8/2007, có 13 bộ hồ sơ được gửi lên NHNN để xin thành lập NHTMCP theo quy định mới, trong đó có nhiều dự án đã có đủ và cao hơn mức vốn điều lệ tối thiểu, chẳng hạn như bốn ngân hàng nêu trên, ngoài
ra còn có NHTMCP Việt Tín (vốn điều lệ 1.680 tỷ đồng), NHTMCP Kinh Bắc (vốn điều lệ 1.500 tỷ đồng) Tuy nhiên, nhu cầu thành lập mới các ngân hàng chủ yếu ở Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh
Theo dõi thời gian thành lập, số đăng ký và ngày cấp giấy phép của hệ thống các ngân hàng hiện đang hoạt động, trong đó có NHTMCP nông thôn, NHTMCP đô thị, ta có thể nhận thấy rằng hầu hết các NHTMCP đó đều được hình thành trong khoảng thời gian 1992 - 1993 Từ năm 1996 đến 2005, số lượng các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh được thành lập không nhiều, chủ yếu là sự chuyển đổi từ NHTMCP nông thôn sang mô hình NHTMCP đô thị Riêng năm 2007 đã có tới 09 ngân hàng được cấp phép về mặt nguyên tắc (bằng một phần tư tổng số NHTMCP đô thị và NHTMCP nông thôn được thành lập và đang hoạt động trong suốt thời gian từ năm
1991, và gần bằng tổng số các NHTMCP được thành lập mới trong suốt năm
1994 - 2006) Đó là chưa tính đến sự mở rộng nhanh chóng các chi nhánh, các phòng giao dịch của những ngân hàng đang hoạt động
Trang 32sè l-îng ng©n hµng ®-îc thµnh lËp
Hiện có không ít ý kiến lo ngại về việc có thêm nhiều chi nhánh và nhiều ngân hàng mới ra đời, trong khi số lượng ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nhiều là điều từ lâu đã phổ biến trên thế giới Hầu hết các quốc gia đều có số lượng ngân hàng và chi nhánh ngân hàng (nội địa và nước ngoài) rất lớn Đức
có 2.430 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng; Mỹ 6.700, Tây Ban Nha: 300; Singapore: 115 tính đến tháng 06/2007 Đó là những nước có thu nhập quốc dân bình quân đầu người cao Ngay từ 50 năm trước, tỷ lệ người dân được hưởng dịch vụ ngân hàng bình quân đã rất cao Chẳng hạn ở các thành phố lớn Châu Âu, bình quân 1.000 dân có một chi nhánh ngân hàng; ở Châu á, con số này là 1.500 Tại các nước phát triển, bình quân cứ 700 - 1.000 người dân thì có một chi nhánh ngân hàng, các nước đang phát triển thì số lượng ít hơn Riêng Việt nam với 80 triệu dân nhưng chỉ có khoảng 4.000 chi nhánh, phòng giao dịch (bình quân 20.000 người dân mới có một chi nhánh ngân hàng) [8], [12] Vì vậy, theo quan điểm cá nhân, số lượng các ngân hàng, chi nhánh và phòng giao dịch của Việt nam chưa phải là nhiều; hơn nữa, vấn đề không phải ở số lượng ngân hàng và chi nhánh ngân hàng mà là số lượng và chất lượng sản phẩm, dịch vụ được cung cấp; nếu chỉ hoạt động tín dụng thì
Trang 3331
không cần nhiều, nhưng nếu dịch vụ bán lẻ, thanh toán, quản lý tài sản thì cần nhiều ngân hàng và chi nhánh ngân hàng, nhất là khi trình độ công nghệ, tự động hóa chưa cao
Tuy nhiên cổ đông thành lập chín ngân hàng mới nêu trên chủ yếu là các tập đoàn kinh tế lớn hoặc các NHTMCP hiện đang hoạt động Điều hi hữu trên thế giới nhưng phổ biến ở nước ta là ngân hàng nằm trong tập đoàn, hoặc liên minh với các tập đoàn, ngân hàng do tập đoàn thành lập để trở thành các tập đoàn tài chính đa năng có khả năng chi phối một ngành sản phẩm Những rủi ro vay nội bộ, bán chéo sản phẩm trong tập đoàn hoặc liên minh, hoặc sự
đổ vỡ hệ thống mới là điều đáng lo ngại cho hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung (mục 2.6 sẽ trình bày cụ thể)
Như vậy, có thể thấy thời gian qua, các ngân hàng thương mại cổ phần mới được thành lập nhiều, các ngân hàng đều đáp ứng nhanh chóng số vốn pháp định do nhà nước quy định Tuy nhiên, các cổ đông hầu hết đều là các ngân hàng đang hoạt động, các tập đoàn kinh tế, trở thành các ngân hàng riêng của tập đoàn, gây ra một số lo ngại liên quan đến rủi ro hệ thống; các ngân hàng được thành lập hầu hết là ở các tỉnh, thành phố lớn, những khu vực, vùng miền khác chưa được các ngân hàng chú trọng khai thác, mở rộng dịch vụ; việc thành lập trong năm 2007 còn mang tính phong trào Hiệu quả hoạt động, phát triển của những ngân hàng này sẽ còn được thực tế kiểm chứng trong thời gian tới
2.2 Về vốn và một số chỉ tiêu kinh doanh
Tính đến cuối năm 2004, nhìn chung tiềm lực tài chính của các NHMTCP Việt nam còn quá nhỏ bé so với các nước trên thế giới và trong khu vực Năng lực tài chính yếu kém, rủi ro trong hoạt động ngân hàng ở mức
cao, năng lực cạnh tranh còn thấp Vốn tự có nhỏ so với quy mô tài sản Có
thể so sánh với quy mô của một số ngân hàng trên thế giới, tổng tài sản và
Trang 3432
vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thường ở mức khá lớn khi so sánh với GDP của nước đó như tại Trung quốc, tỷ lệ này lần lượt là 31% và 2,1%; Thái lan là 22% và 1,5%; Singapore là 102% và 6,8%; trong khi đó tại Việt nam là 17% và 0,9% Điều này cho thấy quy mô của các NHTMCP Việt nam còn quá khiêm tốn so với đà tăng trưởng được đánh giá là đứng thứ hai sau Trung quốc (xét về giá trị tuyệt đối của tổng tài sản và vốn chủ sở hữu, xét về thứ
hạng thì cũng thua xa so với các ngân hàng trong khu vực) Chất lượng tài
sản thấp, tỷ lệ nợ xấu tương đối cao, tỷ lệ an toàn vốn (vốn tự có/tổng tài sản
có rủi ro) chưa đủ tiêu chuẩn theo chuẩn mực quốc tế (dưới 8%), khả năng tự
bù đắp rủi ro yếu [9]
Bảng 2.2: Quy mô của một số ngân hàng trên thế giới (xem phụ lục)
Thực trạng của các NHTMCP trong năm 2005 tương đối khá hơn rất nhiều so với trước kia xét về các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh, quy mô vốn
Đến năm 2007 các NHTMCP đã có sự phát triển vượt bậc về vốn huy động từ phát hành thêm cổ phiếu mới, tăng vốn điều lệ Một trong những nguyên nhân của việc này là sự phát triển của thị trường chứng khoán, cổ phiếu của ngành tài chính-ngân hàng được đánh giá cao Đến nay hầu hết các NHTMCP đều có vốn điều lệ gấp 2-3 lần số vốn cuối năm 2004
Theo số liệu thống kê đến tháng 10/2006, NHTMCP Sacombank đang dẫn đầu, đạt hơn 1.899 tỷ đồng Tiếp đến là NHTMCP Nhà Hà nội (Habubank) cũng đã hoàn thành kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 1.185 tỷ đồng
Trang 3533
Thứ ba là ACB đạt hơn 1.100 tỷ đồng NHTMCP Kỹ thương Việt nam (Techcombank) dự kiến trong tháng 11/2006 tăng vốn điều lệ lên 1.500 tỷ đồng, so với vốn điều lệ vào đầu tháng 10/2006 là 830 tỷ đồng NHTMCP Xuất nhập khẩu Việt nam (Eximbank) đến hết 10/10/2006 hoàn thành việc tăng vốn điều lệ từ 815 tỷ đồng lên 1.200 tỷ đồng NHTMCP Phương Nam tăng từ 600 tỷ đồng lên 1.430 tỷ đồng trong quý IV/2006
Các NHTMCP đô thị khác cũng có quy mô vốn điều lệ lên 600 - 1.000 tỷ đồng Đến hết năm 2006, có khoảng 70% số NHTMCP đô thị có vốn điều lệ
từ 1.000 tỷ đồng trở lên Bên cạnh đó các NHTMCP đều triển khai kế hoạch tiếp tục tăng vốn điều lệ trong năm 2007
Cuối năm 2007, vốn điều lệ của Sacombank là 4.449 tỷ đồng, Habubank đạt vốn điều lệ 1.400 tỷ đồng, ACB có vốn điều lệ là 2.630 tỷ đồng, Techcombank: 1.700 tỷ đồng, Eximbank: 2.800 tỷ đồng So sánh số liệu về vốn điều lệ của các ngân hàng tại hai thời điểm cuối 2006 và 2007 cho thấy tốc độ phát triển vốn điều lệ nhanh chóng của các NHTMCP, trong đó vốn điều lệ của ngân hàng ACB, ngân hàng Eximbank và ngân hàng Sacombank năm 2007 tăng khoảng 135% so với 2006
Bảng 2.5 Sự phát triển vượt bậc về vốn điều lệ của một số NHTMCP giai đoạn 2006 - 2007
Ngân hàng Năm 2006 Năm 2007 Tăng trưởng
Sacombank 1.899 tỷ đồng 4.449 tỷ đồng 134 %
Eximbank 1.200 tỷ đồng 2.800 tỷ đồng 133 %
Năm 2007 là cũng là năm kỷ lục về tăng vốn của OceanBank Vốn điều
lệ tăng lên 1.000 tỷ đồng, gấp 5,9 lần năm 2006 và hoàn thành kế hoạch tăng vốn trước bảy tháng Tổng tài sản cũng tăng lên 13.680 tỷ đồng, gấp gần 14 lần và vượt gần 37% kế hoạch
Trang 3634
Tính đến 31/12/2007, tổng tài sản của Techcombank đạt hơn 39.558 tỷ đồng, tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2006 và tăng 18% so với kế hoạch; lợi nhuận trước thuế đạt 709 tỷ đồng, tăng 131% so với năm 2006 [1], [3]
Các NHTMCP thường xuyên phải tăng vốn điều lệ, đặc biệt là từ năm
2006, bên cạnh lý do xuất phát từ sự phát triển của thị trường tài chính, còn bởi các quy định pháp luật về tỷ lệ an toàn:
Một là, theo Quyết định số 457/2005/QĐ - NHNN ngày 19/04/2005 của
Thống đốc NHNN ban hành quy định các tỷ lệ an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng thì các tổ chức này phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản có rủi ro Trong cơ cấu vốn tự có lại chủ yếu là vốn điều lệ Bên cạnh đó, dư nợ cho vay và đầu tư thường xuyên tăng cao, làm cho tỷ lệ an toàn vốn giữa vốn tự có so với tài sản có rủi ro quy định và theo thông lệ quốc tế tối thiểu là 8% của các ngân hàng thương mại ngày càng giảm xuống Do đó quy mô hoạt động ngân hàng càng tăng, dư nợ cho vay tăng cao, thì vốn điều lệ cũng phải tăng cao
Theo Quyết định 888/2005/QĐ - NHNN ngày 16/06/2006 của Thống đốc NHNN thì một trong số các điều kiện để mở chi nhánh của tổ chức tín dụng là số vốn điều lệ hiện có trừ đi số vốn pháp định tối thiểu, thì mỗi chi nhánh bình quân phải có 20 tỷ đồng Do đó, tổ chức tín dụng muốn phát triển kinh doanh, mở rộng địa bàn và chiếm lĩnh thị phần bằng việc thường xuyên lập thêm chi nhánh mới thì tất nhiên phải tăng thêm vốn điều lệ
Cũng theo quy định của pháp luật hiện hành, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng không được đầu tư quá 50% vốn điều lệ vào tài sản cố định Do
đó, để hiện đại hóa và mở rộng trụ sở, các chi nhánh, phòng giao dịch; đầu tư hiện đại hóa công nghệ, trang bị máy ATM, máy tính hiện đại, trang thiết bị khác, NHTMCP phải thường xuyên tăng vốn điều lệ
Trang 3735
Hai là, trong quá trình phát triển kinh doanh, đa dạng hóa dịch vụ theo
thông lệ quốc tế và theo yêu cầu hội nhập, các ngân hàng thương mại ngày càng mở ra nhiều công ty trực thuộc Vì vậy, các ngân hàng thương mại phải tăng thêm vốn điều lệ để có vốn cấp thành lập cho các công ty trực thuộc, như: công ty chứng khoán, công ty cho thuê tài chính, công ty kiều hối, công
ty thương mại dịch vụ, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản,
Ba là, quy mô vốn tự có của các NHTMCP ở nước ta hiện nay còn quá
nhỏ bé so với các nước trong khu vực Bình quân các NHTMCP mới đạt 9.000 tỷ đồng, tương đương 600 triệu USD Trong khi đó, con số bình quân này tại các NHTMCP trong khu vực lên tới 50 tỷ USD
Bốn là, theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, một ngân hàng
thương mại không được cho một khách hàng vay vốn vượt quá 15% vốn chủ
sở hữu, trong khi quy mô vốn của mỗi dự án ngày càng lớn Do đó, các NHTMCP buộc phải tăng vốn để đáp ứng nhu cầu vốn vay của doanh nghiệp, giữ chân khách hàng truyền thống, khách hàng làm ăn, kinh doanh có hiệu quả [7]
Việc thường xuyên tăng thêm vốn điều lệ là yêu cầu khách quan theo quy định của pháp luật về hoạt động ngân hàng và yêu cầu khách quan về phát triển kinh doanh của bản thân mỗi ngân hàng Các NHTMCP hiện nay vẫn đang tiếp tục kế hoạch tăng vốn điều lệ
Ngoài sự phát triển vốn, những năm gần đây cũng chứng kiến sự tăng trưởng một số chỉ tiêu kinh doanh của các NHTMCP Về quy mô tài sản, kết thúc năm 2005, bình quân các NHTMCP có tốc độ tăng qui mô tài sản khoảng
48 - 50% so với cuối năm 2004, gấp 2,5 lần tốc độ tăng chung của toàn ngành ngân hàng Việt nam và gấp 5 - 6 lần tốc độ tăng trung bình của thế giới Đến cuối năm 2007, nhiều NHTMCP đã hoàn thành việc bổ sung vốn điều lệ, đáp ứng các yêu cầu tối thiểu về tỷ lệ an toàn vốn theo thông lệ quốc tế Hiện nay,
Trang 3836
phần lớn các NHTMCP đạt tỷ lệ an toàn vốn 10 - 12% hoặc lớn hơn Điều này góp phần tăng cường năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh của các NHTMCP trong khu vực Đồng thời, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng này cũng
đã được khống chế ở mức khá thấp trong khoảng 1% đến 3% tổng dư nợ cấp tín dụng Các NHTMCP đã đạt tăng trưởng lợi nhuận cao nhất trong 10 năm trở lại đây [3], [8], [12]
Biểu đồ 2.2 Tăng trưởng tổng tài sản của một số NHTMCP
(Nguồn: Thời báo kinh tế Việt nam)
Kết thúc năm 2005, NHTMCP Quốc tế (VIBank) có tốc độ tăng cao nhất, đạt tổng tài sản 8.978,2 tỷ đồng, tăng 117,9% so với cuối năm 2004 Tiếp đến là NHTMCP Kỹ thương Việt nam (Techcombank), đạt tốc độ trên 63%; NHTMCP Phương Đông OCB, tăng 58,9%; NHTMCP á châu ACB tăng 56,2%; NHTMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh VPBank tăng 55% so với cuối năm 2004
Trong tám tháng đầu năm 2006, khối NHTMCP vẫn tiếp tục có tốc độ tăng cao, bình quân đạt 35 - 40% so với cuối năm 2005, trong đó ACB là NHTMCP có quy mô tài sản lớn nhất Tổng tài sản của ACB đến hết tháng 7/2006 đạt 33.849 tỷ đồng, tăng gấp hơn 2 lần so với con số đạt được cuối năm 2004 Đến cuối năm 2006, con số này đã tăng hơn nữa và đã lớn hơn quy
mô của một NHTM quốc doanh
Trang 392004 là 36,7%; Sacombank chia 23,8% so với mức của năm trước là 26%; NHTMCP Đông á (EAB) và VPBank đều chia 20%, tăng gấp 1,5 lần so với năm 2004
Một điều đáng kể nữa là cơ cấu lợi nhuận của của các NHTMCP cũng có
sự thay đổi theo hướng tích cực hơn, thay vì lệ thuộc hoàn toàn vào nguồn thu
từ chênh lệch lãi suất huy động - cho vay, lợi nhuận của các ngân hàng đã đến
từ các sản phẩm, dịch vụ mới, trong đó có cả những sản phẩm phái sinh hay việc góp vốn mua cổ phần, hùn vốn liên doanh, kinh doanh chứng khoán, Sự chuyển dịch cơ cấu lợi nhuận như vậy nhìn chung là phù hợp với xu hướng chung của thế giới
Trong năm 2007, cơ cấu thị phần trên thị trường ngân hàng cũng có thay đổi rõ rệt Cụ thể, trong khi NHTMCP có lượng vốn huy động tăng 98,69% (158.755 tỷ đồng) thì khối tổ chức tín dụng nhà nước chỉ tăng 21,11% (119.737 tỷ đồng) Thị phần dư nợ tuy vẫn tập trung chủ yếu ở khối quốc doanh nhưng so với năm 2006 thì thị phần này tại khối quốc doanh trong năm
Trang 4038
2007 giảm 7,24%; ngược lại khối cổ phần có sự gia tăng 6% Việc lấn sân của khối cổ phần được đánh giá sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn trong năm 2008, gắn liền với nỗ lực mở rộng thị phần và gia tăng chất lượng dịch vụ [8], [12]
Về quy mô mạng lưới chi nhánh, tính đến hết tháng 06/2006, hầu hết các NHTMCP đô thị có số lượng chi nhánh, mạng lưới giao dịch tăng gấp 2 lần năm 2004 Trong 2 năm 2005 - 2006 các NHTMCP tập trung mở thêm chi nhánh và phòng giao dịch ở hầu hết các khu vực đô thị mới, khu dân cư tập trung, trung tâm thương mại; ở các thành phố lớn; thành lập mới các chi nhánh cấp 1 ở các tỉnh, thành phố giàu tiềm năng
Từ 2005 - 2007, hầu hết các chỉ tiêu quan trọng của một ngân hàng thương mại cổ phần đều có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các năm trước
đó và so với tốc độ tăng bình quân chung của toàn ngành ngân hàng, bình quân chung của khu vực và thế giới
Cùng với việc nâng cấp các NHTMCP nông thôn thành ngân hàng đô thị, tốc độ tăng vốn tự có của các NHTMCP nhanh chưa từng có, đạt trên 20%; tốc độ tăng tổng tài sản 35% Chất lượng tài sản được cải thiện đáng kể,
tỷ lệ nợ xấu tính theo chuẩn kế toán Việt nam (VAS) chỉ còn dưới 2%, tính theo chuẩn kế toán quốc tế (IAS) đã đạt dưới 5% Khả năng sinh lời tiếp tục duy trì ở mức cao: tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản có (ROA) đạt xấp xỉ 0,9%;
tỷ lệ thu nhập trên vốn (ROE) đạt 16-17% Mức sinh lời này được coi là rất cao trong điều kiện vốn tự có và tổng tài sản tăng nhanh trong một thời gian ngắn
Tuy nhiên, chỉ sau gần 3 tháng, nhiều ngân hàng đã phải điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận năm 2008 trong kỳ họp Đại hội cổ đông quý I/2008 Chẳng hạn, kế hoạch lợi nhuận trước thuế năm 2008 của ACB là 2.500 tỷ đồng (năm
2007 đạt 2.000 tỷ đồng), thay vì 2.800 tỷ đồng như dự kiến trước đó Sacombank giảm kế hoạch lợi nhuận xuống còn 2.000 tỷ đồng (năm 2007 đạt