1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cạnh tranh không lành mạnh thực trạng và những đề xuất xử lý vi phạm ở việt nam

110 970 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cạnh tranh không lành mạnh: Thực trạng và những đề xuất xử lý vi phạm ở Việt Nam
Tác giả Vũ Thu Giang
Người hướng dẫn PGS, TS Tăng Văn Nghĩa
Trường học Trường Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1 CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ............... 8 1.1 KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH ........................................................... 8 1.1.1 KHÁI NIỆM CẠNH TRANH ............................................................ 8 1.1.2 CÁC HÌNH THỨC CẠNH TRANH ................................................. 10 1.1.3 VAI TRÒ CỦA CẠNH TRANH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ ................................................................................................................. 14 1.2 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH ................................ 15 1.2.1 KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT CẠNH TRANH ........................................................................................................ 15 1.2.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH ............... 16 1.2.3 VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH ....... 18 1.3 PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH........ 20 1.3.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ................................................................. 20 1.3.2 CÁC QUAN NIỆM VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH .... 22 1.3.3 NỘI DUNG ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ................................................................. 25 CHƢƠNG II: HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ THỰC TRẠNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM ................... 32 2.1 HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ......................... 32 2.1.1 KHÁI NIỆM ...................................................................................... 32 2.1.2 ĐẶC ĐIỂM BIỂU HIỆN CỦA HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH .............................................................................................. 33 2.1.3 CÁC LOẠI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ...... 34 2.1.3.1 CÁC LOẠI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH THEO LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM NĂM 2004........... 34 2.1.3.2 CÁC LOẠI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ĐƢỢC QUI ĐỊNH TRONG CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT KHÁC ..... 36 2.2 THỰC TRẠNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM ................................................................................................................. 45 2.2.1 TỔNG QUAN .................................................................................... 46 2.2.2 THỰC TRẠNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRÊN THỊ TRƢỜNG VIỆT NAM HIỆN NAY .............................................................. 48 2.2.2.1 BÁN GIÁ THẤP NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ..................................................................................................... 48 2.2.2.2 KHUYẾN MẠI NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ..................................................................................................... 49 2.2.2.3 QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ..................................................................................................... 51 2.2.2.4 CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ...................................................................... 56 2.2.2.5 DÈM PHA, BÔI NHỌ ĐỐI THỦ CẠNH TRANH .................. 58 2.2.2.6 ÉP BUỘC KHÁCH HÀNG ...................................................... 59 2.2.2.7 GÂY RỐI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP KHÁC ...................................................................................... 61 2.2.2.8 BÁN HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH ........................................... 62 2.2.3 NHẬN XÉT ....................................................................................... 65 2.3 THỰC TRẠNG XỬ LÝ VÀ GIẢI QUYẾT CHANH CHẤP CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM .......................................... 66 2.3.1 THÔNG QUA CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH ............................... 66 2.3.2 THÔNG QUA TÒA ÁN ..................................................................... 71 2.3.3 ĐÁNH GIÁ ........................................................................................ 74 CHƢƠNG III: NHỮNG ĐỀ XUẤT XỬ LÝ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM ............................................................. 68 3.1 NHU CẦU XỬ LÝ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM ................................................................................................................. 77 3.2 ĐỀ XUẤT XỬ LÝ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM .................................................................................................. 78 3.2.1 HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ................................................................. 79 3.2.2 VỀ THẨM QUYỀN XỬ LÝ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH .............................................................................................. 83 3.2.3 VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH GÂY RA ................................................................ 89 3.2.3.1 THIỆT HẠI THỰC TẾ CỦA NGƢỜI BỊ HẠI ....................... 91 3.2.3.2 TỔN THẤT VỀ CƠ HỘI KINH DOANH CỦA NGƢỜI BỊ THIỆT HẠI ............................................................................................. 92 3.2.3.3 CHI PHÍ NGĂN CHẶN VÀ KHẮC PHỤC THIỆT HẠI ....... 93 2.2.3.4 CHI PHÍ LUẬT SƢ................................................................... 95 3.2.3.5 BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI CHO NGƢỜI TIÊU DÙNG ...... 95 3.2.4 SỬ DỤNG THỰC TIỄN TƢ PHÁP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ........................................... 96 3.2.5 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT KHÁC ............................................................... 98 3.2.5.1 NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ TỰ BẢO VỆ CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NGƢỜI TIÊU DÙNG ....................................... 98 3.2.5.2 XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP ................................................................................................ 100 3.2.5.3 PHÁT HUY VAI TRÒ THƢƠNG LƢỢNG VÀ HOÀ GIẢI TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH .......................... 101 KẾT LUẬN ........................................................................................................ 103 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 104

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS,TS Tăng Văn Nghĩa

Hà Nội - 2010

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp, tác giả đã nhận đợc sự hớng dẫn, chỉ đạo nhiệt tình và quý báu của PGS, TS Tăng Văn Nghĩa và tập thể các thầy cô giáo Khoa sau Đại học - Đại học Ngoại thơng Hà Nội

Nhân dịp này, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS, TS Tăng Văn Nghĩa và các Thầy cô giáo Khoa sau Đại học - Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình, ngời thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, hỗ trợ tài liệu, tạo mọi điều kiện tốt nhất đồng thời đóng góp những ý kiến quý báu để hoàn thành công trình nghiên cứu cuối khoá tại Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm tài liệu, nghiên cứu và tìm hiểu thực tế nhng do thời gian hạn chế nên Luận văn không thể tránh khỏi những sai sót Tác giả rất mong nhận đợc sự quan tâm đóng góp ý kiến của Quý thầy cô, bạn

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN

Cooperation

Diễn đàn hợp tác kinh tế - Châu á Thái Bình Dơng

Trang 4

LTM Luật thơng mại Việt Nam

Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thơng mại

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

I- TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cạnh tranh là một quy luật và thuộc tính tất yếu của quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế Cạnh tranh là một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Song cạnh gay gắt quá sẽ dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM)

Các hành vi CTKLM giữa các doanh nghiệp đã xâm hại quyền tự do kinh doanh, gây hậu quả xấu cho môi trường kinh doanh, cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính và cho người tiêu dùng Cơ chế thị trường cũng đặt ra nhu cầu phải thiết lập và duy trì một môi trường cạnh tranh công bằng và bình đẳng cho các chủ thể kinh doanh Đây cũng là một điều kiện để Việt Nam thực hiện cam kết sau khi gia nhập WTO

Vấn đề chống CTKLM và chống hạn chế cạnh tranh (độc quyền) tiếp tục là vấn đề nóng bỏng và sôi động của khoa học pháp lý nói chung và khoa học pháp lý kinh tế nói riêng không chỉ đối với các quốc gia đã có nền kinh tế thị trường phát triển mà cả ngay ở các quốc gia mới chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, trong

đó có Việt Nam

Những năm qua, ở nước ta vấn đề cạnh tranh đã thu hút được sự quan tâm của nhiều giới, nhiều nhà khoa học và có một số công trình nghiên cứu vấn đề này lần lượt ra đời Pháp luật vừa góp phần bình ổn các quan hệ kinh tế vừa điều chỉnh quan hệ kinh tế để nền kinh tế phát triển một cách lành mạnh, ổn định, có tổ chức, theo định hướng, mục tiêu đã định

Các hoạt động CTKLM trên thị trường giữa doanh nghiệp nước ngoài với doanh nghiệp trong nước; giữa hàng nội và hàng ngoại; giữa các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế quốc doanh vẫn đã và đang diễn ra không ngừng

Vì thế, việc xây dựng chế định pháp lý về cạnh tranh, chống CTKLM và chống độc quyền trong chỉnh thể của hệ thống pháp luật nói chung và khung pháp luật kinh tế nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt nhằm cải thiện môi trường pháp lý,

Trang 6

khuyến khích hơn nữa các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế trong và ngoài nước

Nền kinh tế thị trường càng phát triển, sự vận động của các quan hệ kinh tế càng phong phú, đa dạng thì quy mô và mức độ cạnh tranh ngày càng tăng, những hành vi CTKLM xuất hiện ngày càng nhiều Trong khi đó thực thi pháp luật cạnh tranh còn chưa thực sự có hiệu quả, Cơ quan quản lý cạnh tranh còn chưa phát huy hết vai trò của mình trong việc chống lại các hành vi CTKLM Vì vậy vấn đề chống CTKLM ở một quốc gia đang trên đà phát triển và hội nhập như Việt Nam hiện nay

là một vấn đề cấp thiết

Vì những lý do trên đây, người viết chọn đề tài "Cạnh tranh không lành mạnh: Thực trạng và những đề xuất xử lý vi phạm ở Việt Nam." làm luận văn tốt nghiệp của mình

II - TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Những năm qua, ở nước ta, pháp luật chống CTKLM ngày càng thu hút được

sự quan tâm đông đảo của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực Nhiều công trình khoa học ở những phạm vi và mức độ tiếp cận khác nhau đã đề cập đến cơ sở lý luận về cạnh tranh và pháp luật chống CTKLM, tìm hiểu nội dung pháp luật chống CTKLM của một số nước trên thế giới, nêu ra nhu cầu và phương hướng xây dựng pháp luật cạnh tranh nói chung và pháp luật chống CTKLM nói riêng ngày một hoàn thiện hơn

Tiêu biểu phải kể đến một số tài liệu tham khảo và công trình nghiên cứu

như: Tài liệu tham khảo “Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện

chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Như Phát và

Bùi Nguyên Khánh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; Tài liệu tham khảo

“Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống CTKLM ở Việt Nam” của tác giả Đặng

Vũ Huân, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Tài liệu tham khảo“cạnh tranh và

xây dựng pháp luật cạnh tranh ở VN hiện nay” của Viện nghiên cứu nhà nước và

pháp luật, Nxb công an nhân dân, Hà nội, 2001; Tài liệu tham khảo “Pháp luật

Trang 7

chống cạnh tranh không lành mạnh” của tác giả Nguyễn Như Phát, Viện nghiên

cứu nhà nước và pháp luật, 2005

Luật cạnh tranh (LCT) của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 03/12/2004 và chính thức có hiệu lực ngày 01/07/2005 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự điều tiết nền kinh tế theo cơ chế thị trường tại nước ta Sau thời điểm này cũng có nhiều tài liệu tham khảo và công trình nghiên cứu về vấn đề này

được đăng tải Tiêu biểu như Đề tài NCKH cấp bộ, Những nội dung cơ bản của

Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004 và đề xuất áp dụng của TS Tăng Văn Nghĩa,

2005; Đề tài NCKH cấp bộ “Những vấn đề đặt ra và giải pháp thực thi có hiệu quả

Luật cạnh tranh trong thực tiễn” của TS Tăng Văn Nghĩa, 2007; Tạp chí Luật học

của Trường ĐH Luật HN, số 6/2006 đăng bài “Đưa pháp luật chống CTKLM vào

cuộc sống” của tác giả Nguyễn Như Phát; Luận án tiến sỹ luật học “Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” của tác giả Lê Anh Tuấn, Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2008; Giáo trình “Luật cạnh tranh” của tác giả Tăng Văn Nghĩa,

Nxb giáo dục Việt Nam, 2009

Ngoài ra còn rất nhiều bài báo, tạp chí đã đưa ra được thực trạng CTKLM, xây dựng và đóng góp ý kiến quý báu cho việc hoàn thiện chính sách, pháp luật CTKLM đã được đăng tải trên các tạp chí như Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí kinh tế

Tuy nhiên từ đó đến nay, sau hơn 4 năm LCT có hiệu lực, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống thực trạng CTKLM tại Việt Nam từ đó xây dựng và đưa ra các chế tài để Luật cạnh tranh của Việt Nam năm

2004 (LCT 2004) ngày càng hoàn thiện hơn, đồng thời xây dựng nền kinh tế cạnh tranh ngày càng lành mạnh hơn trong quá trình hội nhập và phát triển

III - MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về Pháp luật cạnh tranh, cụ thể là pháp luật phòng tránh CTKLM, đánh giá thực trạng

về CTKLM ở Việt Nam từ đó đưa ra đề xuất, giải pháp nhằm xử lý thỏa đáng hành

vi CTKLM ở Việt Nam

Trang 8

Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:

- Nghiên cứu, tìm hiểu về cạnh tranh và pháp luật về cạnh tranh nói chung và pháp luật chống CTKLM nói riêng;

- Nghiên cứu các loại hành vi CTKLM và nghiên cứu thực trạng CTKLM trên thị trường cũng như thực trạng xử lý và giải quyết tranh chấp về CTKLM ở Việt Nam hiện nay;

- Đưa ra những đề xuất xử lý hành vi CTKLM ở Việt Nam

IV - PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật CTKLM, chủ yếu đề cập đến LCT

2004, thực trạng CTKLM ở Việt Nam Bên cạnh đó luận văn cũng tham khảo một

số Luật cạnh tranh của một số nước trên thế giới

V - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để hoàn thành Luận văn, phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm:

- Phương pháp so sánh được sử dụng cho phép chúng ta tìm hiểu quan điểm tiếp cận của pháp luật chống CTKLM từ thực tiễn điều chỉnh pháp luật của nước ngoài cũng như thấy được khía cạnh quốc tế của CTKLM

- Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ

cơ sở lý luận về cạnh tranh nói chung và CTKLM nói riêng Phương pháp thống kê cũng được sử dụng để làm rõ thực trạng CTKLM và sự điều chỉnh pháp luật đối với các hành vi CTKLM ở Việt Nam

VI – BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh

Chương 2: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh và thực trạng cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam

Chương 3: Những đề xuất xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Trang 9

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH

VÀ PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

1.1 - Khái quát về cạnh tranh

1.1.1 - Khái niệm cạnh tranh

Kinh tế thị trường được xem là một trong những phát minh vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại khi con người đã trải qua sự thống trị của kinh tế tự nhiên luôn làm cho xã hội vận động chậm chạp và sự thống trị của kinh tế chỉ huy là mất động lực kinh tế, triệt tiêu tính năng động sáng tạo của con người Cho đến nay chúng ta không thể tìm ra được kiểu tổ chức kinh tế nào có hiệu quả hơn kinh tế thị trường vì nó luôn hàm chứa trong mình những thách thức đối với sự nhạy bén và sáng tạo của con người thông qua môi trường cạnh tranh

Trong thời kỳ chưa có nền sản xuất hàng hoá, thị trường chưa hình thành và phát triển thì không thể có hiện tượng cạnh tranh giữa những người sản xuất với nhau Từ khi có nền sản xuất hàng hóa vào thế kỷ XIV – XV, cạnh tranh xuất hiện trong cuộc cách mạng tư sản và công nghiệp

Điều cần nhấn mạnh là cạnh tranh chỉ xuất hiện với đặc trưng là động lực phát triển nội tại của nền kinh tế trước áp lực liên tục của người tiêu dùng đối với giá cả buộc các chủ thể kinh doanh phải phản ứng tự phát, phù hợp với các mong muốn thay đổi của người tiêu dùng, cạnh tranh cũng chỉ xuất thân là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển nhằm nâng cao năng xuất lao động, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong điều kiện các yếu tố của sản xuất như tài nguyên, chất xám, sức lao động đều là hàng hoá Hơn nữa cạnh tranh cũng chỉ xuất hiện thực sự với đặc trưng là một cuộc đua tranh trong một nghành, một lĩnh vực kinh tế nào đó khi có sự tham gia của các chủ thể kinh doanh có lợi ích cơ

Trang 10

bản là mâu thuẫn nhau Những phân tích trên đây đã cho phép kết luận rằng, cạnh tranh chỉ xuất hiện trong điều kiện của kinh tế thị trường, nơi mà cung cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo và cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường [12]

Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện mục đích vì lợi nhuận và chi phối thị trường Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức kinh doanh và uy tín kinh doanh của mỗi chủ thể cạnh tranh trong quan hệ đối với những chủ thể tạo ra tiềm lực cạnh tranh của doanh nghiệp, quan hệ với người tiêu dùng và các đối thủ cạnh tranh khác Dưới tác động điều tiết vĩ mô của nhà nước đối với hoạt động cạnh tranh, cạnh tranh ở mỗi nước còn có bản chất chính trị khác nhau, tuỳ thuộc vào sự hoạch định và thực thi chính sách kinh tế và chính sách xã hội của mỗi nước

Thông qua sự phân tích nguồn gốc, cơ sở của hiện tượng cạnh tranh đã chứng tỏ rằng: Cạnh tranh là một trong nhứng hiện tượng xã hội rất phức tạp và đòi hỏi cần phải được làm sáng tỏ ở nhiều tầng tiếp cận khác nhau và chính điều này cũng lý giải tính không thống nhất trong các định nghĩa về cạnh tranh đặc biệt là về phạm vi của thuật ngữ này

Theo từ điển tiếng Việt cạnh tranh được hiểu là “sự cố gắng giành phần hơn,

phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm lợi ích như nhau” [14] Với khái niệm này, cạnh tranh được xem xét ở góc độ chung nhất của

đời sống xã hội

Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ đưa ra quan niệm cạnh

tranh với một quốc gia như sau: "Cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở

đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất các hàng hoá

và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của các thị trường quốc tế, đồng thời duy trì

Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia

là: "Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức

sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian" [39]

Trang 11

Rõ ràng cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp có thể tiếp cận

ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, dưới góc độ sản xuất, kinh doanh trong điều kiện của cơ chế thị trường, khái niệm cạnh tranh có thể được hiểu một cách chung

nhất như sau: "Cạnh tranh được coi là hành vi của các chủ thể trong khi tiến hành

các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường với mục đích giành

và thiết lập cho mình những ưu thế có lợi nhất để thu lợi nhận cao nhất " [9, tr.6]

Qua các khái niệm trên có thể nhận thấy một điểm chung là cạnh tranh là sự chạy đua giữa hai hay nhiều đối thủ Cạnh tranh trong kinh tế về bản chất được hiểu

là sự chạy đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm không ngừng tung ra thị trường những sản phẩm và dịch vụ tốt nhất với giá cả thấp nhất nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình Với mục đích tối ưu hoá lợi nhuận của các doanh nghiệp, cạnh tranh đã thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung tư bản diễn ra không đều ở các nghành, các lĩnh vực kinh tế khác nhau Đây là tiền đề vật chất cho sự hình thành các hình thái CTKLM và độc quyền Cạnh tranh còn là môi trường đào thải các nhà kinh doanh không thích nghi được với các điều kiện của thị trường

1.1.2 - Các hình thức cạnh tranh

Cạnh tranh có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, song ý nghĩa thực tiễn của việc phân chia này phụ thuộc hoàn toàn vào tiêu chí phân loại các hình thái thị trường vì cạnh tranh bao giờ cũng được biểu hiện trong những hình thái thị trường cụ thể Bởi vậy, việc xác lập tiêu chí phân loại các hình thái thị trường luôn luôn có một ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt Cụ thể có các hình thái cạnh tranh được phân loại dựa trên các tiêu trí sau:

- Dựa vào tính chất của thủ đoạn cạnh tranh và ảnh hưởng của nó, người

ta chia cạnh tranh thành: Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh

Cạnh tranh lành mạnh

Là hình thức cạnh tranh hợp pháp, trung thực, trong sáng, giữ gìn đạo đức và tập quán kinh doanh, cạnh tranh bằng chính nội lực, tiềm lực thực có của chủ thể cạnh tranh (kinh doanh) mà không gây thiệt hại cho người khác và lợi ích công Đó

Trang 12

là những hoạt động nhằm thu hút khách hàng mà pháp luật không cấm và phù hợp với tập quán thương mại, đạo đức kinh doanh, truyền thống như: Đăng ký nhãn hiệu thương phẩm, hạ giá bán hàng hoá trên cơ sở đổi mới công nghệ, giảm chi phí sản xuất, lưu thông, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, thường xuyên đổi mới phương thức giao tiếp Có thể nói, nếu cạnh tranh đạt được các tiêu chí sau đây sẽ là cạnh tranh lành mạnh

+ Tuân theo pháp luật;

+ Tôn trọng truyền thống, tập quán đạo lý kinh doanh;

+ Kết hợp hài hoà lợi ích của người kinh doanh với lợi ích của người khác, lợi ích cộng

Cạnh tranh không lành mạnh

Cạnh tranh không lành mạnh là một hình thức cạnh tranh đối lập với hình thức cạnh tranh lành mạnh Trong đó các doanh nghiệp thực hiện các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp, trái đạo đức xã hội, truyền thống, tập quán kinh doanh, gây thiệt hại cho chủ thể cạnh tranh khác, lợi ích người tiêu dùng và lợi ích công

Tuy nhiên, việc nêu ra khái niệm CTKLM chỉ có tính chất tương đối vì nội hàm của nó luôn có sự thay đổi tuỳ thuộc vào nhận thức ở từng giai đoạn lịch sử và

ở từng quốc gia cũng như các hành vi cạnh tranh luôn đa dạng, phức tạp

- Dựa vào mức độ tác động của nhà nước đối với cạnh trạnh, có cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước

Cạnh tranh tự do

Cạnh tranh tự do là một hình thái thị trường thoát khỏi mọi sự can thiệp của nhà nước Đây là quy luật đặc thù của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi mà giá cả tự do vận động lên xuống theo sự chi phối của quan hệ cung cầu, của các thế lực trên thị trường Đây là thời kỳ mà tư tưởng tự

do kinh tế đang thắng thế, tạo điều kiện tích tụ và tập trung tư bản trên nền tảng "tự

do được nuôi dưỡng bởi chính tự do" Định nghĩa "Bàn tay vô hình"của Ađam Smith - một nhà triết gia nổi tiếng của Scotland, sinh năm 1723 tại Kirkcaldy đã chỉ

ra rằng: Trong khi chạy theo tư lợi thì có một "bàn tay vô hình" buộc con người

Trang 13

kinh tế đồng thời phải thực hiện một nhiệm vụ không nằm trong dự kiến là đáp ứng lợi ích xã hội và đôi khi họ còn đáp ứng lợi ích xã hội tốt hơn ngay cả khi họ có ý định làm điều đó từ trước "Bàn tay vô hình" đó chính là các quy luật kinh tế khách quan tự phát, hoạt động chi phối hoạt động của con người Đây là thời kỳ không có

“Bàn tay hữu hình”, Nhà nước và pháp luật được xem là kẻ thù của cạnh tranh, khuyết tật của thị trường được bùng phát và gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội

Ngày nay do sự khác biệt về quyền lợi, chủ sở hữu của các thành phần kinh

tế đòi hỏi phải có sự cân bằng, hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia trên thị trường, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững nên sự tự do của các doanh nghiệp bị giới hạn trong các quy định pháp luật Cạnh tranh tự do được thay thế bằng cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước

Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước

Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước là hình thái thị trường của các nền kinh tế thị trường hiện đại Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 - 1933 đã chứng kiến sự sụp đổ của hình thái thị trường cạnh tranh tự do và định nghĩa "Bàn tay vô hình"của Ađam Smith Trong giai đoạn này, cạnh tranh tự do đã bộc lộ những mặt trái của nó: Thất nghiệp, sự phá sản hàng loạt, sự lãng phí tài nguyên

Vì thế nhà nước không thể đứng yên và đứng ngoài đời sống kinh tế-xã hội Quyền lực Nhà nước đã xuất hiện để khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo

vệ tự do cạnh tranh - động lực phát triển kinh tế, thực hiện mục tiêu kinh tế của bản thân nhà nước và giai cấp thống trị Tự do cạnh tranh trong hình thái này được bảo

vệ, nuôi dưỡng và giới hạn bởi các thể chế, chính sách và pháp luật của Nhà nước

- Dưới góc độ cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh có các hình thức cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền

Cạnh tranh hoàn hảo

Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà quyết định của người bán và người mua không làm ảnh hưởng đến giá cả thị trường Trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá cả của sản phẩm được hình thành hoàn toàn dựa trên quan hệ cung cầu, quy luật giá trị, không có sự chi phối, can thiệp của bất kỳ quyền lực nào Hình

Trang 14

thức cạnh tranh này chủ yếu tồn tại trong đó các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh

có quy mô tương đối nhỏ so với quy mô của thị trường và do đó mỗi doanh nghiệp coi giá trị sản phẩm trên thị trường như đã được định trước Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, có rất nhiều người mua và bán cùng một loại sản phẩm thuần nhất nhưng họ đều không có sức mạnh thị trường

Do quy mô của các nhà kinh doanh trên thị trường rất nhỏ so với thị trường nên tham gia vào thị trường cạnh tranh hoàn hảo phải có một số lượng rất lớn các nhà kinh doanh, do đó việc gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường được thực hiện một cách dễ dàng mà không gặp bất kỳ một trở ngại nào Trong hình thái thị trường này, các nhà kinh doanh đã hoạt động cũng không có ưu thế gì hơn so với những người mới gia nhập thị trường và các yếu tố sản xuất được tự do chuyển dịch, chi phí vận chuyển được coi như bằng không

Nghiên cứu về cạnh tranh hoàn hảo và hình thái thị trường của nó chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận khi chúng ta nghiên cứu một cách toàn diện các loại hình thái thị trường, các hình thức cạnh tranh cũng như chính sách cạnh tranh Trên thực tế, cạnh tranh hoàn hảo chưa bao giờ tồn tại, ngay cả trong thời kỳ sơ khai nhất của sản xuất hàng hoá

Cạnh tranh không hoàn hảo

Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành sản xuất mà ở đó các cá nhân bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực có thể chi phối giá cả sản phẩm của mình trên thị trường

Sở dĩ có thực trạng này là vì mục đích tối đa hoá lợi nhuận của các doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh đã thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung tư bản, phân bố các doanh nghiệp diễn ra không đều ở các ngành và lĩnh vực kinh tế khác nhau Trước điều kiện về chi phí nhập ngành và yêu cầu công nghệ cao đã có thể làm cho sản lượng một ngành chỉ do một số ít các doanh nghiệp cung cấp

Độc quyền

Là hình thái thị trường trong đó một doanh nghiệp duy nhất bán một sản phẩm mà không có doanh nghiệp nào có cùng loại sản phẩm cạnh tranh với nó

Trang 15

Việc thâm nhập vào ngành sản xuất sản phẩm này rất khó khăn hoặc không thể được

Do là người duy nhất cung ứng một sản phẩm duy nhất nên họ có thể giảm sản lượng sản phẩm để tăng giá bán trên thị trường Trong trường hợp này, nhu cầu đối với hàng hoá của họ trên thị trường có thể giảm nhưng không bao giờ xuống đến mức bằng không Đây là điểm khác với trường hợp có sự tồn tại của cạnh tranh, bởi trong môi trường cạnh tranh, nếu một doanh nghiệp nâng giá sản phẩm của mình lên cao hơn so với giá sản phẩm cùng loại của các hãng khác, lập tức nhu cầu đối với sản phẩm của họ sẽ giảm xuống và có thể sẽ giảm xuống bằng không do khách hàng chuyển mua hàng của hãng khác

Vật cản mang tính kinh tế chính là những khó khăn của bản thân nền kinh tế làm cho các nhà kinh doanh thấy rằng việc gia nhập thị trường là không có lợi

Sự hiện diện của độc quyền đã loại bỏ cạnh tranh trong nền kinh tế và gây ra nhiều hậu quả, tiêu cực đối với sản xuất và đời sống xã hội

1.1.3 - Vai trò của cạnh tranh đối với sự phát triển kinh tế

Đến nay hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường đều đã có hệ thống pháp luật cạnh tranh và sử dụng chúng như một công cụ khuyến kích và bảo đảm "linh hồn sống" của cơ chế thị trường Cạnh tranh đã cho thấy nhiều vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đó là:

Thứ nhất, điều chỉnh quan hệ cung cầu trên cơ sở quyền tự do lựa chọn của

người tiêu dùng Người tiêu dùng dễ dàng tìm thấy hàng hoá, dịch vụ họ muốn với giá thấp nhất có thể trong môi trường cạnh tranh khó có thể bóc lột người tiêu dùng

vì luôn có một đối thủ khác chào bán sản phẩm với giá tốt hơn;

Thứ hai, đảm bảo đáp ứng thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng Người

tiêu dùng có thể nhận cái mà họ muốn vì nếu một người bán không cung cấp cho khách hàng cái mà họ muốn thì sẽ có một người khác sẵn sàng đứng ra làm điều đó;

Thứ ba, cạnh tranh giúp tạo sức ép, buộc các doanh nghiệp phải phân bổ

nguồn lực xã hội một cách có hiệu quả, là động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển;

Trang 16

Thứ tư, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất thích ứng hàng loạt với sự biến

động của nhu cầu xã hội và đổi mới công nghệ;

Thứ năm, tạo cơ sở hình thành phương thức hợp lý và công bằng cho quá

trình phân phối lại trong xã hôị;

Thứ sáu, thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm và đổi mới

tổ chức nền kinh tế Công nghệ mới giúp giảm chi phí sản xuất và các hãng áp dụng công nghệ mới sẽ có khả năng chiếm được phần lớn thị trường do sản phẩm của họ tốt hơn và giá thành thấp hơn các đối thủ cạnh tranh;

Thứ bảy, là môi trường đào thải các nhà sản xuất, kinh doanh không thích

nghi được với điều kiện của thị trường Do đó là nhân tố tự hiệu chỉnh bên trong của thị trường

Thứ tám, cạnh tranh giúp tạo sự đổi mới chung, thường xuyên và liên tục vì

vậy mang lại sự tăng trưởng kinh tế chung cho toàn xã hội

Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có những tiêu cực, thể hiện ở xu hướng phân hoá các doanh nghiệp, phân hoá giàu nghèo, gây ra tình trạng phá sản, nạn thất nghiệp, gây mất ổn định về mặt xã hội, tạo sức ép lớn đối với chính sách kinh tế và chính sách xã hội của mỗi quốc gia Cạnh tranh không lành mạnh càng tạo ra nhiều hậu quả tiêu cực đối với người tiêu dùng và với chủ thể tham gia cạnh tranh

1.2 - Tổng quan về pháp luật cạnh tranh

1.2.1 - Khái niệm và cơ sở hình thành pháp luật cạnh tranh

Cạnh tranh chỉ có thể hình thành, tồn tại và phát triển trong điều kiện của kinh tế thị trường Tuy nhiên, muốn phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của cạnh tranh cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật Bất kỳ nền kinh tế thị trường của quốc gia nào thì pháp luật kinh tế cũng phải quan tâm đến hai vấn đề chính trong một thể thống nhất là quyền tự do kinh doanh và khả năng, hình thức can thiệp của công quyền vào đời sống kinh tế Pháp luật về cạnh tranh chỉ xuất hiện và can thiệp vào cạnh tranh như là một công cụ khuyến khích và đảm bảo của những tiền đề cụ thể Đó là tiền đề của nguyên tắc tự do thương mại mà theo đó là

tự do kinh doanh, tự do khế ước và quyền tự chủ cá nhân được hình thành và đảm

Trang 17

bảo Tự do kinh doanh, tự do khế ước cùng với sự thúc đẩy của quy luật giá trị và bản tính của con người nên các hoạt động cạnh tranh tự phát luôn có thiên hướng thái quá, cực đoan nhằm gây rối, ngăn cản, hạn chế hoặc thủ tiêu cạnh tranh của các đối thủ Những hành vi cạnh tranh mang mục đích đó, khi thái quá, đến lượt nó, lại quay lại huỷ hoại động lực phát triển kinh tế, phá huỷ cạnh tranh

Như vậy pháp luật canh tranh được hiểu là Hệ thống các quy phạm cũng như

các công cụ pháp luật khác nhằm bảo vệ tự do cạnh tranh, cơ cấu thị trường cũng như môi trường cạnh tranh bình đẳng và công bằng

Thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do canh tranh, ý tưởng của Ađam Smith về vai trò của "Bàn tay vô hình" thị trường được thể hiện rõ nét qua mô hình cạnh tranh hoàn hảo mà theo đó nhà nước và pháp luật là kẻ thù của cạnh tranh, của đời sống kinh tế, rõ ràng lúc đó chưa có sự kiểm soát và điều tiết cạnh tranh, vì vậy cũng chưa có pháp luật về cạnh tranh Tuy nhiên, thực tế cấu trúc và hành vi thị trường không đảm bảo cạnh tranh hoàn hảo (chẳng hạn do độc quyền, rào cản nhập cuộc, các hành vi hạn chế cạnh tranh ) nên từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều quan tâm đến việc kiểm soát và điều tiết cạnh tranh bằng việc ban hành pháp luật nhằm chống lại mọi hành vi CTKLM và hạn chế cạnh tranh nhằm khuyến khích, bảo vệ cạnh tranh, kiểm soát và chống xu hướng độc quyền Để điều tiết cạnh tranh, nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau như chính sách thuế, kiểm soát giá cả, điều chỉnh độc quyền thậm chí quốc hữu hoá Song ban hành và cho thực hiện pháp luật về cạnh tranh là phương thức có hiệu quả hơn cả trong điều kiện của nhà nước pháp quyền và xã hội công dân

1.2.2 - Nội dung cơ bản của pháp luật cạnh tranh

Pháp luật cạnh tranh là hệ thống các quy phạm cũng như các công cụ pháp luật khác nhằm bảo vệ tự do cạnh tranh, cơ cấu thị trường, tạo môi trường cạnh tranh công bằng và bình đẳng Các học thuyết về cạnh tranh chỉ thống nhất với nhau

ở chỗ phải ngăn cản và cấm đoán những hành vi gây rối, ngăn cản hoặc hạn chế cạnh tranh mà thôi Xuất phát từ sự bất lực của pháp luật khi điều chỉnh các hành vi

Trang 18

cạnh tranh mang tính tích cực (cạnh tranh hợp pháp), các nhà làm luật, trong lịch sử đều tiếp cận từ mặt trái của những hành vi cạnh tranh (CTKLM) Vì vậy pháp luật cạnh tranh không thể đưa ra những dấu hiệu để xác định cạnh tranh hợp pháp và khái niệm CTKLM (hiểu theo nghĩa rộng) đã được sử dụng cho các trường hợp cạnh tranh vi phạm các chuẩn mực đạo đức kinh doanh thông thường

Mặt khác, cạnh tranh là hoạt động, hành vi của các chủ thể hoạt động theo luật tư, trong đó việc pháp luật cấm đoán, ngăn cản những hành vi cạnh tranh có khi lại phải thực hiện theo phương pháp của luật công Hơn thế nữa, hình thức và phương pháp cạnh tranh là "luật chơi" riêng của thương trường mà trong cơ chế thị trường, con người được tự do và sáng tạo nên lại không thể có luật chơi cụ thể cho mọi thành viên ở mọi điều kiện, hoàn cảnh (mà luật pháp phải cụ thể) Tuy nhiên, tự

do cũng chỉ là sự nhận thức quy luật và quyền tự do nào đó cũng có điểm dừng của

nó Điểm dừng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố và chính vào lúc này, Nhà nước và Pháp luật xuất hiện

Vì vậy, tiếp cận từ mặt sau và không triệt để về tính xác định về mặt nội dung là đặc điểm căn bản của pháp luật cạnh tranh Đây là những dấu hiệu để phân biệt pháp luật cạnh tranh với những lĩnh vực pháp luật khác như luật công ty hay luật hình sự Có lẽ vì lý do đó mà ở nhiều quốc gia phương tây đều coi pháp luật cạnh tranh là chế định pháp luật cơ bản của luật kinh tế

Ở các quốc gia có sự ổn định tương đối về pháp luật cạnh tranh, mặc dù có

cơ cấu của hệ thống cơ chế thị trường cạnh tranh khác nhau (Mỹ, Đức, Nhật) song khi xem xét các cấu thành cụ thể họ đều chia pháp luật cạnh tranh thành hai lĩnh vực khác biệt đó là pháp luật chống CTKM và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh (HCCT)

Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh: Pháp luật chống CTKLM ra

đời sớm hơn pháp luật chống HCCT Pháp luật chống CTKLM điều chỉnh những hành vi CTKLM Pháp luật cạnh tranh của mỗi một quốc gia là khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của các quốc gia khác nhau mà đảm nhiệm vai trò và nhiệm vụ khác nhau Tuy nhiên ở bất cứ quốc gia nào thì pháp luật cạnh tranh

Trang 19

cũng được xây dựng nhằm tạo ra một thị trường cạnh tranh thực sự bên cạnh các thiết chế cần thiết để duy trì và bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh Ngoài ra

hệ thống pháp luật cạnh tranh còn có vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, điều chỉnh các hành vi cạnh tranh của các doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng

Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh: Trong khi pháp luật chống CTKLM

nhằm vào đối thủ kinh doanh cụ thể thì pháp luật chống HCCT lại nhằm vào hiện tượng có tính chất HCCT, độc quyền làm thay đổi cơ cấu thị trường Theo nghĩa đó, pháp luật chống HCCT là pháp luật bảo vệ cơ cấu và tương quan thị trường Vì thế

nó có sự liên hệ mật thiết với pháp luật liên quan đến gia nhập thị trường Pháp luật chống HCCT bao gồm ba nội dung: Cấm thỏa thuận HCCT, Cấm lạm dụng sức

mạnh thị trường và kiểm soát tập trung kinh tế

Nếu xét về mức độ tác hại đối với thị trường thì HCCT tạo thế độc quyền có mức nguy hại cao hơn so với CTKLM và bị xử lý nghiêm khắc hơn về mặt pháp luật Khả năng áp dụng các chế tài là mạnh mẽ, đa dạng và nghiêm khắc như cấm, buộc từ bỏ, tuyên bố vô hiệu, phạt hành chính và bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, pháp luật chống HCCT và kiểm soát độc quyền cũng rất mềm dẻo thông qua việc đưa ra các trường hợp miễn trừ

Tóm lại: Ngoài một số quy định về cơ chế áp dụng pháp luật và địa vị pháp

lý của loại cơ quan đặc thù có trách nhiệm thực thi pháp luật cạnh tranh thì những nội dung cơ bản của pháp luật cạnh tranh (theo nghĩa rộng) bao gồm pháp luật chống CTKLM (vì ra đời trước nên gọi là pháp luật cạnh tranh cổ điển hay theo nghĩa hẹp) và pháp luật chống HCCT hay còn gọi là chống hoặc kiểm soát độc quyền

1.2.3 - Vai trò và đặc điểm của pháp luật cạnh tranh

Để điều chỉnh các quan hệ kinh tế trong đời sống xã hội, Nhà nước phải ban hành một hệ thống pháp luật bao gồm các văn bản pháp luật khác nhau Nếu xét về chức năng thì hệ thống này có thể bao gồm ba bộ phận hợp thành đó là pháp luật

Trang 20

đầu vào hay còn gọi là pháp luật gia nhập thị trường, pháp luật điều chỉnh các quan

hệ thị trường và pháp luật đầu ra hay còn gọi là pháp luật thoát khỏi thị trường Cạnh tranh vừa là qui luật vừa là môi trường vận động của nền kinh tế thị trường Hoạt động cạnh tranh xuất hiện trong mọi lĩnh vực của nề kinh tế và bản thân các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường đều chứa đựng trong nó yếu tố cạnh tranh Pháp luật với chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội có nhiệm vụ định hướng và đưa các quan hệ này theo một trật tự nhất định phù hợp với ý trí và định hướng của nhà nước Bởi vậy để đảm bảo các quan hệ kinh tế vận hành có hiệu quả, theo hướng đã định, đòi hỏi pháp luật cạnh tranh phải đáp ứng các điều kiện như: Định ra khuân khổ cho quá trình cạnh tranh, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, chống lại có hiệu quả các hành vi CTKLM, mọi xu hướng dẫn tới HCCT, triệt tiêu cạnh tranh [4, tr.45]

Với những mục đích đó, pháp luật về cạnh tranh có thể can thiệp và định hướng vào hầu hết các nhóm quan hệ kinh tế do pháp luật kinh tế điều chỉnh Nó phải được hình thành trên cơ sở đồng bộ với các định khung pháp luật khác như: Tự

do cạnh tranh, tự do khế ước, tự do hình thành giá cả, đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường cùng các chuẩn mực về đạo đức kinh doanh truyền thống, tập quán thương mại lành mạnh được xã hội và pháp luật thừa nhận

Sự can thiệp, điều tiết hoạt động cạnh tranh trên thị trường mang tính tất yếu trong điều kiện nhà nước quản lý, điều tiết kinh tế thị trường theo các mục tiêu, chính sách của mình Sự can thiệp, điều tiết đó nhằm mục đích:

- Bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, trung thực, công bằng giữa các chủ thể cạnh tranh;

- Điều tiết cạnh tranh theo mức độ, phạm vi phát triển của thị trường trong nước và ngoài nước, của từng loại hàng hoá;

- Bảo vệ lợi ích của người sản xuất, lợi ích người tiêu dùng và lợi ích của Nhà nước, xã hội;

Trang 21

- Làm cho cạnh tranh thực sự trở thành động lực phát triển sản xuất, phát triển nền kinh tế quốc dân, tạo thế cạnh tranh của quốc gia trên thị trường quốc tế;

- Hạn chế tình trạng bóp nghẹt cạnh tranh tự do, lành mạnh và công bằng;

- Chống mọi hành vi CTKLM;

- Góp phần điều tiết toàn bộ nền kinh tế thị trường theo mục tiêu, chính sách

đã chọn; giữ vững kỷ cương, pháp luật của nhà nước;

- Định hướng chuẩn mực, đạo đức trong kinh doanh, cạnh tranh, giữ gìn tập quán kinh doanh, thông lệ cạnh tranh được nhà nước và xã hội chấp nhận;

- Đảm bảo cho tiến trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng và hiệu quả Các quốc gia đang tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, toàn cầu hóa thông qua việc mở rộng thị trường nội địa, giảm và xóa bỏ các hàng rào cản trở hoạt động thương mại, dành cho nhau các ưu đãi trên nguyên tắc không phân biệt đối xử Pháp luật cạnh tranh với vai trò bảo vệ sự phát triển lành mạnh của thị trường nội địa sẽ thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa phát triển nhanh chóng và hiệu quả trên cơ sở các thành viên tham gia đều khai thác lợi thế của mình và tận dụng được lợi thế của đối tác

Bằng pháp luật của mình, nhà nước quy định các hành vi cạnh tranh bị coi là không lành mạnh, các quy định HCCT (độc quyền) và những biện pháp xử lý nhằm đảo bảo nguyên tắc về tính đa dạng của các chủ thể kinh tế, về tự do kinh doanh, tự

do khế ước trên thương trường Vì thế pháp luật cạnh tranh - pháp luật tạo ra môi trường pháp lý bình đẳng trong kinh doanh của các chủ thể kinh doanh phải được xây dựng trên những nguyên tắc, điều kiện của cấu trúc khung pháp luật kinh tế và

là bộ phận quan trọng hợp thành hệ thống pháp luật kinh tế trong cơ chế kinh tế thị trường theo nguyên tắc: Mọi chủ thể kinh doanh bình đẳng và tự do cạnh tranh theo khả năng của mình mà không bị bất cứ một sự chèn ép nào từ phía các chủ thể khác

và từ nhà nước

1.3 - Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh

1.3.1 - Khái niệm và vai trò của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh

Trang 22

a) Khái niệm

Cạnh tranh có từ rất lâu trong lịch sử, song pháp luật về cạnh tranh lại xuất hiện muộn hơn rất nhiều, sớm nhất cũng mới gần 100 năm nay Khi mới ra đời, pháp luật cạnh tranh được hiểu đồng nghĩa với pháp luật chống CTKLM theo cách hiểu của ngày nay

Ban đầu, một số quốc gia ban hành các đạo luật riêng biệt về chống CTKLM mạnh như Đức, Áo, Thụy Sĩ Một số nước khác quy định trong bộ luật dân sự của mình những quy định chống CTKLM như Pháp, Italia Bộ Luật Dân sự Pháp (Code Civil - 1804) đã giành các điều 1382 và 1383 quy định về chống CTKLM Các quy định của Bộ Luật Dân sự Pháp cùng một số văn bản pháp luật đơn hành chính là cơ sở pháp lý tạo thành chế định pháp luật chống CTKLM ngày nay

Các nước Anh, Mỹ không ban hành một đạo luật riêng về chống CTKLM nhưng đã vận dụng các nguyên tắc chung từ Common law để xử lý vấn đề này

Mặc dù cách làm luật và kỹ thuật điều chỉnh có thể khác nhau nhưng sự nhận thức về khái niệm pháp luật chống CTKLM cơ bản là thống nhất Pháp luật chống

CTKLM có thể được hiểu là những quy phạm cũng như các công cụ pháp luật do

nhà nước ban hành nhằm chống lại những hành vi CTKLM đảm bảo quyền tự do, bình đẳng trong kinh doanh, bảo vệ lợi ích của mọi chủ thể sản xuất, kinh doanh, cung ứng dịch vụ tham gia cạnh tranh trên thị trường, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và lợi ích xã hội nói chung

b) Vai trò của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh

Canh tranh lành mạnh tạo cho bạn hàng cơ hội lựa chọn tối ưu, phân bổ các nguồn lực hợp lý, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, lao động

và các nguồn vốn khác Sức ép cạnh tranh là động lực thúc đẩy công nghệ nói riêng

và kinh tế nói chung phát triển

Đối lập với cạnh tranh lành mạnh là CTKLM, việc xác định là lành mạnh hay không được căn cứ trên cơ sở mục đích, tính chất và phương pháp tiến hành cạnh tranh trên thị trường CTKLM là những hành vi cạnh tranh đi ngược lại các

Trang 23

nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm phạm lợi ích của các nhà kinh doanh khác, lợi ích người tiêu dùng và lợi ích của xã hội [4, tr.30-31]

Với tư cách là luật lệ của cuộc tranh đua, pháp luật chống CTKLM ra đời nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia cạnh tranh, duy trì cơ chế cạnh tranh như là xương sống của nền kinh tế thị trường, đặt các hoạt động cạnh tranh dưới sự ràng buộc của luật pháp

Ở môt số quốc gia, pháp luật chống CTKLM và pháp luật bảo vệ người tiêu dùng được xây dựng độc lập với nhau như Đức, Pháp Ở một số quốc gia khác, pháp luật CTKLM và pháp luật bảo vệ người tiêu dùng được xây dựng hợp nhất với nhau và cùng đồng thời bảo vệ hai loại lợi ích - lợi ích nhà cạnh tranh và lợi ích người tiêu dùng

Sau 1970, nhiều quốc gia ban hành luật chống CTKLM đã bổ sung hai chức năng mới là bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và bảo vệ lợi ích công Pháp luật về bảo

vệ người tiêu dùng và pháp luật chống CTKLM được xây dựng hợp nhất với nhau

và bảo vệ có hiệu quả nhiều nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội Đây cũng chính là đặc trưng của pháp luật chống CTKLM hiện đại

Tại Việt Nam, LCT đã được Quốc hội thông qua ngày 02/12/2004 Với 6 chương, 123 điều khoản, LCT chính thức có hiệu lực ngày 01/07/2005, là một trong những văn bản đồ sộ và có tầm quan trọng đặc biệt trong việc định hướng cho nền kinh tế thị trường ngày càng phức tạp ở nước ta Luật cạnh tranh ra đời với kỳ vọng

sẽ góp phần làm thị trường lành mạnh hơn, những hành vi thiếu lành mạnh trong kinh doanh gây hậu quả nghiêm trọng cho Nhà nước, cộng đồng các doanh nghiệp

và người tiêu dùng sẽ bị hạn chế

1.3.2 - Các quan niệm về cạnh tranh không lành mạnh

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quan niệm khác nhau về hành vi

CTKLM, song có 3 quan điểm chủ yếu sau:

1.3.2.1 - Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong mối quan hệ với quyền tự do cạnh tranh

Trang 24

Với quan niệm cho rằng "CTKLM bao gồm tất cả các hành vi xâm hại tới hoạt động cạnh tranh trên thị trường, xâm hại tới quyền tự do cạnh tranh công bằng của các doanh nghiệp"

Phải thừa nhận rằng, nhờ có cạnh tranh đã đem lại cho xã hội những lợi ích đáng kể như tạo ra sản phẩm cho chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn với giá thành thấp hơn Vì vậy cạnh tranh lành mạnh phải được pháp luật bảo hộ với tư cách là quyền của các nhà kinh doanh và là một nội dung không thể thiếu của quyền tự do kinh doanh Cũng có thể khẳng định rằng quyền tự do cạnh tranh của các nhà kinh doanh là cạnh tranh lành mạnh đó là hình thức cạnh tranh đẹp, trong sáng và giải thoát được khỏi thói hư tật xấu trong cuộc sống đời thường[6] Trong quan hệ với các quyền tự do kinh doanh khác, quyền tự do cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng Nó chính là động lực thúc đẩy việc thực hiện quyền sở hữu về vốn, tự do hợp đồng

Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và đưa

ra những đảm bảo pháp lý nhằm thúc đẩy tự do cạnh tranh đặc biệt là tự do cạnh tranh lành mạnh

Để đảm bảo quyền tự do cạnh tranh lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh thì phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Phải có hệ thống pháp luật về cạnh tranh phù hợp

- Nhà nước phải có cơ chế kiểm soát giá cả

- Phải có chế tài nghiêm ngặt đối với các hành vi CTKLM, cạnh tranh bất hợp pháp và các mặt tiêu cực khác của cạnh tranh

- Phải đảm bảo sự bình đẳng cho các thành phần kinh tế

Tuy nhiên tự do cạnh tranh không được hiểu là sử dụng mọi biện pháp, mọi hành vi để lôi kéo khách hàng Nhiệm vụ của LCT chính là xác định những giới hạn

đó Doanh nghiệp được sử dụng tất cả những biện pháp mà LCT cho phép để thu hút khách hàng

1.3.2.2 - Hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo công ƣớc Paris

Công ước Paris ra đời từ ngày 20/03/1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) Trong đó điều 10 bis được bổ sung vào công ước năm 1900 quy

Trang 25

định về CTKLM, theo đó "Bất cứ hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các hành động trung thực, thiện chí, trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là hành vi CTKLM"

Điều 10 bis có nghĩa rất to lớn trong thương mại quốc tế, nó là một mẫu hình pháp luật hiện đại trong đó bao gồm các điều khoản chung và có liệt kê các hành vi CTKLM bị cấm Có 3 nhóm hành vi CTKLM bị cấm đó là: Các hành vi gây rối (lộn xộn), các hành vi bôi nhọ, nói xấu, các luận điệu lừa rối

Điều 10 bis đã thiết lập nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên cam kết có những biện pháp pháp lý thích hợp để kiểm soát hành vi CTKLM và chấp nhận hiệp hội các nhà công nghiệp, các nhà sản xuất hoặc các thương gia từ các quốc gia thành viên khác có thể khởi kiện tại Toà án như các hiệp hội của quốc gia

Các quy định của công ước Paris đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các thiết chế trong mỗi quốc gia chống lại các hành vi CTKLM trên phạm vi quốc tế

Có thể nói, toàn bộ công ước Paris được xây dựng trên nền tảng bảo vệ quyền lợi các chủ thể cạnh tranh trong công nghiệp và thương mại, khía cạnh bảo vệ người tiêu dùng và bảo vệ lợi ích công đã được đặt sang một bên Theo đó, tiêu chuẩn xác định "trung thực trong hoạt động công nghiệp và hoạt động thương mại" được hiểu như là sự liên quan đến hoạt động kinh doanh hơn là những người tiêu dùng Điều 10 bis đã tập trung điều chỉnh sự cạnh tranh có tính xung đột giữa các nhà kinh doanh Nó khó có thể được mở rộng để trở thành một công cụ pháp lý nói chung cho việc kiểm soát thị trường như nó đã thể hiện trong pháp luật hiện đại vì bất cứ sự sửa đổi điều khoản nào của công ước Paris đều đòi hỏi sự nhất trí của khoảng trên 100 quốc gia trên thế giới trong điều kiện hiện nay là khó có thể đạt được

1.3.2.3 - Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong mối quan hệ với chuẩn mực đạo đức kinh doanh

Quan niệm thứ ba về hành vi CTKLM được quy định tại Điều 3, Khoản 4, LCT 2004 Theo đó "CTKLM là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá

Trang 26

trình kinh doanh trái với những chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác hoặc người tiêu dùng"

Theo quan niệm này, hành vi CTKLM là những hành vi đi ngược lại với đạo đức kinh doanh thông thường Nó phản ánh chuẩn mực đạo đức kinh doanh của các chủ thể tham gia thị trường Thông thường để xác định doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác hay không phải dựa trên các tiêu chí thể hiện năng lực và trình độ kinh doanh như qui mô, doanh số, công nghệ, lợi nhuận Đối với các doanh nghiệp CTKLM, thay vì quan tâm đầu tư để có được các tiêu chí trên

họ tiến hành các hành vi cạnh tranh thiếu trung thực, giả rối như nói xấu, dèm pha doanh nghiệp khác, quảng cáo thiếu trung thực Nhìn chung hành vi CTKLM theo quan niệm này là những hành vi đi ngược lại với các chuẩn mực đạo đức của xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm hại đến lợi ích của những nhà kinh doanh trung thực và lợi ích người tiêu dùng

Với những dấu hiệu trên thì không phải bất kỳ hành vi nào xâm hại đến lợi ích của doanh nghiệp đều bị coi là hành vi CTKLM mà chỉ những hành vi do đối thủ cạnh tranh thực hiện, không vì mục đích cạnh tranh sẽ không bị coi là hành vi CTKLM Những hành vi đó sẽ bị xử lý bởi pháp luật chung - pháp luật dân sự Mặt khác để đảm bảo quyền tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh của các chủ thể tham gia trên thị trường được diễn ra một cách công bằng, bình đẳng, nhà nước quy định hoạt động cạnh tranh phải tuân theo pháp luật, tuân thủ nguyển tắc trung thực, công bằng, không xâm hại lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người tiêu dùng

1.3.3 - Nội dung điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Hiện nay, nội dung của pháp luật chống CTKLM, nếu xét về phương diện lập pháp thì được giải quyết một cách không thống nhất ở các quốc gia có thừa nhận chế định pháp luật này Tuy nhiên, khi xem xét về nội dung của pháp luật chống CTKLM, thông thường có những hành vi (hoặc nhóm hành vi) thuộc đối tượng phải điều chỉnh như sau:

Trang 27

1.3.3.1 - Những hành vi xâm phạm lợi ích của các đối thủ tham gia cạnh tranh

Vì mục đích cạnh tranh mà một chủ thể nào đó trong hoạt động cạnh tranh của mình đã xâm hại đến lợi ích của một chủ thể cạnh tranh khác thì pháp luật chống CTKLM phải "can thiệp"

Khó có thể thống kê đầy đủ những hành vi CTKLM của các chủ thể cạnh tranh đã vì mục đích cạnh tranh mà gây thiệt hại cho đối thủ của mình trên thương trường vì hoạt động kinh doanh luôn luôn diễn ra một cách nhanh chóng, sôi động đầy bí ẩn khó lường với nhiều thủ pháp khác nhau Nhưng cũng có thể kể ra một số loại hành vi thông thường là:

- Ngăn cản

Ngăn cản các đối thủ khác tham gia cạnh tranh là loại hành vi CTKLM tương đối phổ biến và thường gặp trong thực tế Ngăn cản thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật chống CTKLM Ngăn cản các đối thủ cạnh tranh ở đây chủ yếu được thực hiện thông qua thủ thuật bán giá thấp

Pháp luật chống CTKLM trong trường hợp này chủ yếu thông qua việc quy định cấm bán hàng dưới giá vốn trong điều kiện bình thường Như vậy, trên thực tế pháp luật cũng cho phép các doanh nghiệp bán hàng dưới giá vốn trong một số trường hợp không bình thường như: Hàng hoá có nguy cơ hư hỏng nhanh do ngoại cảnh bất thường, bán hàng dọn kho do thay đổi cơ cấu sản xuất, kinh doanh, hàng hoá thuộc tài sản phá sản

Trên thực tế, các hoạt động khuyến mại mà chủ yếu là thông qua việc hạ giá sản phẩm vẫn được thực hiện ở khắp mọi nơi Những trường hợp như vậy chưa hẳn

là bán giá thấp mà thực chất là những biện pháp kinh tế-tài chính hợp pháp của mọi doanh nghiệp Tuy nhiên, ở đây pháp luật vẫn xuất hiện và can thiệp khi những hành vi này mang tính CTKLM Vì vậy, pháp luật chống CTKLM cũng có các quy định ngăn cản và giới hạn hạ giá hay khuyến mại

Trang 28

Bên cạnh dạng biểu hiện chủ yếu như trình bầy ở trên, thuộc nhóm hành vi

ngăn cản đối thủ cạnh tranh còn có hành vi tẩy chay, thâu tóm khách hàng của đối

thủ cũng thuộc nhóm hành vi ngăn cản đối thủ cạnh tranh

- Dèm pha , bôi nhọ đối thủ cạnh tranh

Trong cuộc sống hàng ngày và quan hệ giữa con người với nhau cũng như với xã hội nói chung, việc đưa tin thất thiệt hoặc nói xấu người khác là điều khó tránh khỏi Vấn đề này trước hết thuộc về đạo đức, lối sống và sau đó thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự của mọi quốc gia nhằm bảo vệ nhân phẩm, danh dự, uy tín của con người, của tổ chức hay nói cách khác của mọi pháp nhân và thể nhân (bao gồm cả các pháp nhân và thể nhân có tư cách thương nhân) Bộ Luật Dân sự (BLDS) cũng như Luật thương mại (LTM) hay LCT thông thường có các quy định cụ thể giành cho các thương nhân với tư cách là các đối thủ cạnh tranh của nhau trên thương trường Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp thường sử dụng các thủ thuật dèm pha hoặc bôi nhọ đối thủ cạnh tranh để gây thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình Rõ ràng các hành vi này là không lành mạnh

Hành vi dèm pha, bôi nhọ nhằm vào đối thủ cạnh tranh có thể bao gồm nhiều nội dung cụ thể liên quan đến doanh nghiệp như: Chất lượng sản phẩm, giá cả và cách thức phục vụ, tiềm lực kinh tế-tài chính, lực lượng lao động hoặc ban lãnh đạo doanh nghiệp

Pháp luật chống CTKLM điều chỉnh loại hành vi này nhằm bảo đảm cho các hoạt động cạnh tranh diễn ra một cách trung thực, chân chính theo nguyên tắc hiệu quả, tạo cho khách hàng sự lựa chọn sản phẩm hoặc định vị theo các tiêu chí chất lượng, số lượng, giá thành và các điều kiện thương mại khác

Trang 29

- Vi phạm quy định liên quan đến bí mật kinh doanh

Bất cứ một doanh nghiệp nào khi hoạt động trên thương trường đều có bí mật kinh doanh riêng của mình Điều này càng có ý nghĩa trong môi trường cạnh tranh

vì đó chính là một trong những công cụ, phương tiện bảo vệ lợi ích và sự thành đạt của doanh nghiệp Nhưng cũng vì mục tiêu cạnh tranh mà các đối thủ cạnh tranh luôn tìm mọi cách để biết hoặc chiếm đoạt cho được những bí mật trong kinh doanh của đối thủ khác Xuất phát từ nhận thức bí mật kinh doanh là một bộ phận thuộc lợi ích hợp pháp của từng doanh nghiệp nên chúng phải được pháp luật bảo hộ

Khái niệm bí mật kinh doanh có nội hàm tương đối rộng và không nhất thiết phải là đối tượng của SHCN Chúng có thể là những tài liệu riêng của doanh nghiệp như: Bản thiết kế máy, công thức hay cách pha chế, danh sách đại diện hay khách hàng của doanh nghiệp, hồ sơ dự thầu

Vi phạm nghĩa vụ bảo mật này thông thường là nhân viên làm việc tại doanh nghiệp mà theo đó, họ có thể tiếp cận với tài liệu "nội bộ" để đánh cắp thông tin phục vụ cho mục đích riêng của mình hoặc đưa tin ra ngoài

Hiện nay, quan điểm của đa số các nhà luật học còn cho rằng, ngay cả các thành viên hội đồng quản trị hay ban kiểm soát của công ty cổ phần hoặc giám đốc điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn mà tiết lộ bí mật kinh doanh cũng bị coi là

vi phạm Những hành vi kiểu như vậy không những là không lành mạnh mà ở nhiều quốc gia còn bị coi là hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự

- Bóc lột

Bóc lột được hiểu được hiểu là sự hưởng dụng trái phép hay lạm dụng những thành quả lao động của một doanh nghiệp này đối với một doanh nghiệp khác Biểu hiện tập trung của loại hành vi này là việc sản xuất và cho lưu hành hàng hoá, sản phẩm mà các dữ kiện và thông số về chúng là không trung thực mà chúng ta vẫn gọi

là "hàng giả"

Liên quan đến nhóm hành vi bóc lột là hàng loạt các hành vi hay quan hệ xã hội, được điều chỉnh gần gũi với pháp luật về sáng chế, bản quyền, quyền tác giả,

Trang 30

kiểu dáng công nghiệp Pháp luật chỉ cấm những hành vi man trá về nguồn gốc của sản phẩm, hàng hoá khi:

+ Nguồn gốc của sản phẩm chính hiệu là có thật và đã được đăng ký bảo hộ; + Hành vi man trá đó phải vì mục đích cạnh tranh mà cụ thể là lừa dối, tìm cách thay thế hay gây nhầm lẫn với sản phẩm của hãng "chính hiệu", ngăn cản sự cạnh tranh bình thường của đối thủ cạnh tranh

Tương tự như vậy là hành vi sao chép hình dáng, kiểu cách, kiểu dáng các sản phẩm đã được đăng ký Trên thực tế, nhiều nhà sản xuất không sao chép nguyên bản hình dáng, kiểu cách, tên gọi của hàng hoá, sản phẩm mà họ làm tương tự nên người tiêu dùng rất khó phân biệt Tất cả các hành vi gây nhầm lẫn hay chí ít là nguy cơ gây nhầm lẫn đều bị coi là hành vi CTKLM Gây nhầm lẫn cho khách hàng qua việc lợi dụng uy tín của đối thủ cạnh tranh là hành vi CTKLM tương đối phổ biến Cùng với việc bóc lột uy tín của đối thủ cạnh tranh là việc quảng cáo dựa dẫm Quảng cáo dựa dẫm cũng tương tự như quảng cáo so sánh có tiền đề là lạm dụng, bóc lột người khác

1.3.3.2 - Những hành vi xâm hại lợi ích của khách hàng

Trong thực tế, có những hành vi CTKLM, cùng một lúc có thể xâm hại đến lợi ích của cả đối thủ cạnh tranh lẫn của khách hàng hay người tiêu dùng Pháp luật chống CTKLM điều chỉnh cả những nhóm hành vi xâm hại đến lợi ích của các đối thủ cạnh tranh và cả những hành vi xâm hại đến lợi ích của khách hàng

Cũng như những hành vi xâm hại lợi ích của các đối thủ cạnh tranh, nhóm hành vi xâm hại lợi ích của khách hàng hay người tiêu dùng cũng khá đa dạng, bao gồm:

- Can thiệp vào quyền tự do quyết định của khách hàng

Trong cơ chế thị trường, tự do kinh doanh sẽ kéo theo quyền tự do lựa chọn, hàng hóa, dịch vụ của khách hàng Vì vậy, phía khách hàng cũng được pháp luật bảo vệ Đó là những quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng, quyền khởi kiện của hiệp hội người tiêu dùng và quyền huỷ hợp đồng đặc biệt của khách hàng khi có hiện tượng không lành mạnh từ phía người bán hàng

Trang 31

Trong số những hành vi nhằm tác động vào sự tự do định đoạt của khách hàng trước hết phải kể đến hành vi lừa dối nhằm quyến rũ khách hàng, dẫn đến khách hàng có những quyết định sai trong quan hệ mua bán

Pháp luật chống CTKLM cũng cấm cả những hành vi có mục đích cưỡng ép khách hàng Trong cơ chế thị trường, mọi khách hàng đều được tự do định đoạt trong môi trường chào hàng cạnh trạnh Vì vậy, một nhà bán hàng sẽ xử sự không lành mạnh khi họ dồn khách vào thế bí mà không có cách nào khác là phải tiếp nhận quan hệ mua bán

Cũng có một số hành vi ép buộc khách hàng là không lành mạnh Trong thế giới văn minh mà ở đó cuộc sống riêng tư cần được tôn trọng và bảo vệ thì mọi sự

"mời chào"quá mức và không chờ đợi đều bị coi là quấy rầy và thậm chí vi phạm đến tự do cá nhân Ngày nay, có nhiều kiểu quấy rầy khá "thông minh" của những hãng bán hàng như: bằng điện thoại, bằng thư hay trên mạng Internet

Bên cạnh đó, các hãng bán hàng còn tổ chức các cuộc "vui chơi có thưởng"

để thâu tóm khách hàng Bằng cách đó, các hãng bán hàng sẽ có thưởng cho những khách hàng nào lôi kéo thêm được nhiều khách hàng mới Những khách hàng mới này, do bị lôi kéo nên khó có thể tự do định đoạt trong việc quyết định tham gia quan hệ mua bán

Pháp luật chống CTKLM của nhiều quốc gia còn coi là không lành mạnh kể

cả những quảng cáo gây ấn tượng quá mạnh hay gây hoảng sợ, tạo lòng thương hại hay đánh mạnh vào tâm lý của khách hàng

- Khuyến mại

Khuyến mại được coi là biện pháp nhằm thực hiện những sản phẩm hoặc dịch vụ phụ, không mất tiền, trên cơ sở có việc mua bán những sản phẩm, dịch vụ chính Ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, khuyến mại bị coi là CTKLM nên có thể bị cấm

Khuyến mại diễn ra rất phong phú, đang dạng Khi ngăn cấm một số dạng khuyến mại, trước hết không vì mục đích bảo vệ người tiêu dùng hay khách hàng

mà là bảo vệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ - những doanh nghiệp còn yếu về tiềm

Trang 32

lực kinh tế - tài chính không đủ sức tham gia cuộc chơi như các doanh nghiệp bậc

"đàn anh"

Khuyến mại tạo tâm lý, thói quen và sự lệ thuộc dần dần của khách hàng đối với người bán hàng có khuyến mại Khách hàng luôn luôn nhìn thấy cái "lợi"cho mình nên ít quan tâm đến hàng hoá của đối thủ cạnh tranh khác Khi thói quen mua hàng được khuyến mại trở thành phản xạ có điều kiện, khách hàng sẽ ít dần sự quan tâm đến chất lượng của sản phẩm Tính không lành mạnh của khuyến mại chính là ở chỗ đó

- Quảng cáo sai lệch

Quảng cáo, đưa tin không trung thực về các dữ liệu liên quan đến hàng hoá

và phương thức, điều kiện thương mại là hành vi CTKLM mang tính "kinh điển" Trung thực trong kinh doanh được coi là nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất mà pháp luật cạnh tranh cần khuyến khích và bảo vệ Việc quảng cáo, đưa tin dối trá về sản phẩm, hàng hoá gây tổn hại cho đối thủ cạnh tranh đã được nói ở trên còn nội dung đề cập ở đây là những hành vi quảng cáo hay đưa tin man trá nhằm lừa dối khách hàng

Trong lĩnh vực này, pháp luật quan tâm đến việc xác định khái niệm "dữ liệu" Dữ liệu về sản phẩm, hàng hoá được hiểu là mọi hình thức mô tả về hàng hoá

và những điều kiện bán hàng, tồn tại dưới dạng hình ảnh, chữ viết hay các hình thức khác Điều đáng lưu ý là: Những dữ liệu này phải có khả năng thẩm định được trên thực tế, nghĩa là, bằng những biện pháp khác nhau, người ta có thể công bố kết quả sau khi thẩm định là dữ liệu đưa ra đúng hay sai sự thật Những dữ liệu về nghe, nhìn nhằm mô tả hàng hoá, sản phẩm phải tạo cho khách hàng có ngay ấn tượng

từ những tiếp xúc lần đầu Pháp luật quan niệm như vậy vì cho rằng: Khách hàng là những người không thể thông thạo về sản phẩm nên họ dễ nhầm lẫn ngay từ khi tiếp xúc lần đầu bởi vì ngay lúc đó cơ hội bán hàng đã xuất hiện

Trang 33

CHƯƠNG II HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ THỰC TRẠNG

CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM

Thuật ngữ cạnh tranh lành mạnh và CTKLM là một trong những thuật ngữ được sử dụng để biểu thị tính cạnh tranh trên thị trường ở khía cạnh đạo đức trong kinh doanh của những người tham gia kinh doanh trên thị trường Thông thường để xác định một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh với doanh nghiệp khác hay không phải căn cứ vào chỉ tiêu thể hiện năng lực và trình độ trong kinh doanh như quy mô đầu tư, doanh số, công nghệ, hiệu quả, lợi nhuận Trong khi đó, một số doanh nghiệp thay vì quan tâm quan tâm đầu tư để có được các chỉ tiêu trên họ tiến hành cạnh tranh bằng các biện pháp thiếu trung thực, giả rối

Xét ở góc độ khái quát, "CTKLM là những hành vi cạnh tranh đi ngược lại với các nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm phạm lợi ích của các nhà kinh doanh khác, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của toàn xã hội".[4, tr.30-31]

Trang 34

Có thể nói hành vi CTKLM là "những hành vi cụ thể, đơn phương, vì mục đích cạnh tranh của chủ thể kinh doanh luôn thể hiện tính không lành mạnh (chứ không phải là bất hợp pháp) mà mục tiêu của nó là gây cho một hay các đối thủ cạnh tranh sự bất lợi hay thiệt hại trong hoạt động kinh doanh" [18, tr.241]

Hành vi CTKLM là một dạng của hành vi vi phạm pháp luật và để ngăn chặn cũng như phòng chống hành vi này cần có một cơ chế đặc thù Việc xác định hành

vi nào là hành vi CTKLM là một vấn đề rất quan trọng về mặt chính sách Về nguyên tắc, ngoài các qui định đã được nêu ra trong công ước Paris năm 1883, các quốc gia tuỳ từng điều kiện, hoàn cảnh, nhu cầu cụ thể của nước mình mà xác định hành vi nào là hành vi CTKLM

Theo Khoản 4, Điều 3, LCT 2004, CTKLM là hành vi của doanh nghiệp nhằm mục đích cạnh tranh trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác và người tiêu dùng

Xét trên góc độ doanh nghiệp, bản chất của hành vi CTKLM là các hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc là hành vi huỷ hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh tranh giả tạo

2.1.2 - Đặc điểm biểu hiện của hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Tính không lành mạnh của các hành vi cạnh tranh lệ thuộc vào nhiều yếu tố của quan hệ thị trường và luôn được điều chỉnh bằng phương thức của luật tư Tức

là, người bị ảnh hưởng, bị thiệt hại hay có nguy cơ bị thiệt hại chừng nào chưa đưa

ra sự phản đối và khiếu kiện thì pháp luật và Toà án chưa thể vào cuộc Hành vi CTKLM có những đặc điểm biểu hiện chính sau:

- Thứ nhất: Chủ thể thực hiện hành vi CTKLM là các chủ thể tham gia trên

thị trường thuộc mọi thành phần kinh tế dù có thuộc doanh nghiệp hay không Đặc điểm này xác định phạm vi chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, khẳng định hành vi CTKLM xảy ra trong mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, mọi công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh

Trang 35

- Thứ hai: Hành vi CTKLM trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức

kinh doanh Đặc điểm này thể hiện bản chất của hành vi vi phạm và đây cũng là căn

cứ pháp lý để xác định hành vi cạnh tranh trên thị trường có lành mạnh hay không

Có thể thấy hành vi CTKLM diễn ra với nhiều phương diện, lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế với nhiều hình thức biểu hiện ngày càng đa dạng, tinh vi, gây khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế Do đó việc xác định một hành vi cạnh tranh

là không lành mạnh tương đối phức tạp và cần phải dựa trên hai căn cứ chính Một

là, căn cứ vào luật định là những tiêu chuẩn đã được lượng hóa bằng pháp luật, khi hành vi cạnh tranh đi trái với quy định của pháp luật sẽ bị coi là không lành mạnh Hai là, căn cứ vào tập quán kinh doanh thông thường, tập quán này đã được thừa nhận rộng rãi trong đời sống của thị trường

- Thứ ba: đặc điểm về hậu quả của hành vi, theo đó hành vi CTKLM gây

thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người tiêu dùng Với đặc điểm này, hậu quả của hành vi giúp phân biệt dưới dạng lý thuyết hành vi CTKLM với các hành vi khác

2.1.3 - Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh

2.1.3.1 - Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004

Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004 điều chỉnh hầu như toàn điện các hành

vi CTKLM Điều 39, LCT 2004 qui định 10 loại CTKLM như sau:

a) Chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn

"Chỉ dẫn thương mại là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, gồm nhẵn hiệu hàng hoá, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhẵn hàng hoá " và "sử dụng chỉ dẫn thương mại là các hành vi gắn chỉ dẫn thương mại

đó lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo, bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập hẩu hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại đó" (Điều 4, Nghị định số 54/2000 về bảo hộ

Trang 36

quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh liên quan đến SHCN)

Trong thương mại, những chỉ dẫn thương mại rõ ràng, mạch lạc, đáng tin cậy

sẽ tác động tới quyết định mua sắm đúng đắn của khách hàng Ngược lại những chỉ dẫn thương mại sai sẽ dẫn đến những nhận thức sai lệch của khách hàng về hàng hoá và dịch vụ Theo Điều, 40 LCT 2004 qui định "Cấm doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh" và "Cấm kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn quy định tại Khoản 1 Điều này"

Có thể nói Điều 40 của LCT 2004 là một điều luật mở vì điều luật không liệt

kê hết được tất cả các loại chỉ dẫn gây nhầm lần mà còn bao gồm "các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ" để cho phép mở rộng chỉ dẫn trong trường hợp phát sinh thêm những loại chỉ dẫn mới không được liệt kê chi tiết trong luật này và đồng thời trong quá trình thực thi có thể kết hợp Luật và một số văn bản pháp luật khác

b) Xâm phạm bí mật kinh doanh

Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều có những thông tin cần được lưu giữ bảo mật như danh khách khách hàng, bản thiết kê, bảng giá sản phẩm và những thông tin này được gọi là bí mật kinh doanh

Khoản 10, Điều 3, LCT 2004 có qui định "Bí mật kinh doanh là thông tin có

đủ các điều kiện sau đây: a) Không phải là hiểu biết thông thường; b) Có khả năng

áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin

đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó; c) Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết

lộ và không dễ dàng tiếp cận được."

Để đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp, Điều 41, LCT 2004 đưa ra các quy định cấm doanh nghiệp thực hiện các hành vi như tiếp cận, thu thập thông tin thuộc

bí mật kinh doanh; tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh hay vi phạm hợp đồng bảo mật

Trang 37

Có thể thấy rằng hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh được quy định trong LCT 2004 như là một hành vi CTKLM với các chế tài xử lý hành chính Trong khi

đó Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) bảo hộ bí mật kinh doanh dưới góc độ là một đối tượng độc lập của quyền SHTT, xử lý vi phạm theo chế tài dân sự, đặc biệt là quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại (BTTH) như hiệp định TRIPS và Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ quy định

c) Ép buộc trong kinh doanh

Trong cơ chế thị trường, mọi khách hàng đều được tự do định đoạt trong môi trường chào hàng cạnh tranh Một doanh nghiệp có hành vi dồn khách hàng vào thế bắt buộc phải mua hoặc không được phép mua hàng hoá hoặc dịch vụ mà không có

sự lựa chọn nào khác hoặc có hành vi ép buộc hoặc đe doạ đối thủ cạnh tranh bắt họ không được giao dịch hoặc ép buộc họ ngừng giao dịch với đối thủ cạnh tranh thì được coi là CTKLM và hành vi này bị pháp luật ngăn cấm

Theo điều 42, LCT 2004 quy định "Cấm doanh nghiệp ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó."

Theo như quy định của Điều này, pháp luật chỉ cấm những hành vi “đe dọa hoặc cưỡng ép” đối với khách hàng hay đối tác kinh doanh của doanh ghiệp khác Quy định trên còn khá chung chung, chưa quy định được rõ ràng các hành vi cưỡng

ép, đe dọa cũng như chưa bao quát được hết các trường hợp sảy ra trong thực tiễn

d) Gièm pha doanh nghiệp khác

Việc đưa thông tin sai lệch gây hậu quả rất lớn cho tổ chức cá nhân cũng như đối với doanh nghiệp Pháp luật không chỉ có những quy định bảo vệ nhân phẩm, danh dự, cho mọi cá nhân mà còn bảo vệ uy tín, danh dự của các tổ chức, đặc biệt là đối với doanh nghiệp Mọi hành vi dù trực tiếp hay gián tiếp gây ảnh hưởng đến uy tín đưa ra thông tin không trung thực gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác được cho là hành vi gièm pha doanh nghiệp khác

Theo Điều 43, LCT 2004 quy định "Cấm doanh nghiệp gièm pha doanh

Trang 38

nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó."

Pháp luật cạnh tranh chỉ cấm và tác động đến những hành vi gièm pha, bôi nhọ doanh nghiệp khác khi hành vi đó được thực hiện bởi đối thủ cạnh tranh Việc doanh nghiệp sử dụng báo trí như là một công cụ để thể hiện hành vi bôi nhọ, hạ thấp uy tín của đối thủ cạnh tranh là một ví dụ diển hình về hành vi CTKLM Ngoài

ra hành vi gièm pha doanh nghiệp khác là đối thủ cạnh tranh trong cùng một thị trường hàng hoá dịch vụ và thường liên quan đến các vấn đề như năng lực kinh tế - tài chính, lực lượng lao động hoặc người quản lý, diều hành doanh nghiệp

Có thể thấy, hành vi gièm pha doanh nghiệp khác được quy định trong luật cạnh tranh Việt Nam là khá rõ ràng nhưng trong thực tế để hiểu được như thế nào là

"gièm pha" thì rất khó vì đây chỉ là một vấn đề mang tính chất định tính, khó có thể hiểu được chính xác và áp dụng trong thực tế

e) Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác

Các hành vi dù trực tiếp hay gián tiếp làm cản trở hay gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được gọi là hành vi gây rối loạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Điều 44, LCT 2004 quy định "Cấm doanh nghiệp gây rối hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó."

Cũng như các loại hành vi được kể ra trên đây, hành vi gây nhiếu hệ thống thông tin liên lạc, làm trục trặc hệ thống điện nước, làm ô nhiễm môi trường, lắp đặt các chướng ngại vật tại địa điểm đối thủ kinh doanh của đối thủ cạnh tranh đều có thể trở thành hành vi CTKLM ở dạng biểu hiện này

f) Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Quảng cáo đưa thông tin sai lệch về dữ liệu của của hàng hoá và phương thức điều kiện thương mại và một trong những hành vi CTKLM mang tính phổ biến nhất Hiện nay ở Việt Nam hành vi này diễn ra khá mạnh dưới nhiều hình thức góc

Trang 39

độ khác nhau

Doanh nghiệp có quyền quảng cáo để giới thiệu, khuếch trương về hàng hóa hay dịch vụ của mình Với bản chất là quá trình thông tin có ý nghĩa lớn trong định hướng hành vi mua sắm và sử dụng dịch vụ của khách hàng, quảng cáo là phương pháp quan trọng giúp doanh nghiệp quảng bá sản phẩm của mình, cạnh tranh giành thị phần trên thị trường Để đạt được mục tiêu này ở mức độ tối đa, một số doanh nghiệp có thể thực hiện hành vi quảng cáo không trung thực như so sánh hàng hoá dịch vụ của mình với hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp khác, sử dụng những sản phẩm quảng cáo hoặc những thông tin có thể gây nhầm lẫn cho khách hàng Những hành vi quảng cáo như vậy đều được cho là lành vi CTKLM

Điều 45, LCT 2004 quy định cấm doanh nghiệp thực hiện hoạt động quảng cáo nhằm CTKLM Có thể nhận thấy rằng điều khoản này là tương đối rõ ràng nhưng riêng với Khoản 3 (Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các nội dung sau đây) có sự trùng lặp với điều 40 - Chỉ dẫn nhầm lẫn Thêm vào đó Khoản 4 (Các hoạt động quảng cáo khác mà pháp luật có quy định cấm) còn chưa liệt kê được rõ ràng là các hoạt động quảng cáo khác mà pháp luật có quy định cấm là các hoạt động nào

g) Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Có thể nói khuyến mại được coi là những biện pháp nhằm thực hiện những sản phẩm hoặc dịch vụ không mất tiền trên cơ sở khách hàng mua bán những sản phẩm và dịch vụ chính

Luật thương mại Việt Nam quy định "Khuyến mại là hành vi thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc bán hàng, cung ứng dịch vụ bằng cách giành cho khách hàng những lợi ích nhất định"

Lợi ích mà khách hàng có thể nhận được từ đợt khuyến mại đó có thể là quà tặng, hàng mẫu dùng thử, giảm giá, bốc thăm trúng thưởng Do bị tác động từ những lợi ích đó nhiều khi khách hàng không quan tâm đến hàng hoá của doanh nghiệp khác thậm trí không quan tâm đến cả chất lượng sản phẩm Đây chính là hành vi CTKLM

Trang 40

Thực tế trên thị trường Việt Nam cho thấy, một số lượng không nhỏ khách hàng cho rằng khuyến mại là sự “ưu đãi” của doanh nghiệp đối với khách hàng và

đó cũng là một trong những sự ưu việt của nền kinh tế thị trường Song ở các nước

có nền kinh tế thị trường phát triển, khuyến mại có thể được cho là hành vi CTKLM và qua đó bị pháp luật cấm

Điều 46, LCT 2004 có quy định cụ thể 5 loại hành vi khuyến mại bị cấm Khuyến mại diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú và đa dạng Khi pháp luật đứng ra chống lại một số dạng khuyến mại trước hết bảo vệ quyền lợi và lợi ích của người tiêu dùng, sau là bảo vệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ - nơi mà không có

đủ tiềm lực và kinh tế để thực hiện các hành vi đó

Khuyến mại cũng tạo cho khách hàng tâm lý lệ thuộc vào thương gia khuyến mại Họ bị lợi dụng tâm lý tham lam, hám lợi nên ít có cơ hội để tham gia vào hàng hoá của đối thủ cạnh tranh khác Rút cục là khi thói quen mua hàng có khuyến mại trở thành phản xạ có điều kiện, khách hàng không còn quan tâm đến chất lượng của sản phẩm nữa và hậu quả là chính khách hàng là người bị lợi dụng đầu tiên Tính không lành mạnh và tác hại của việc khuyến mại thể hiện ở điều đó

h) Phân biệt đối xử của hiệp hội

Hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội hành nghề được thành lập dựa trên cơ sở sự

tự nguyện của các doanh nghiệp thành viên có chung lợi ích, nơi mà cung cấp các thông tin đã được xử lý về các lĩnh vực trên thị trường trong nước và quốc tế Hiệp hội cũng là nơi học hỏi, trao đổi kinh nghiệm giữa các doanh nghiệp, nơi tập trung các nguyện vọng để phản ánh lên chính phủ Với vai trò này, doanh nghiệp có thể tạo nên tình trạng CTKLM giữa các doanh nghiệp thông qua các hành vi như từ chối gia nhập hoặc rút khỏi hiệp hội của các doanh nghiệp có đủ điều kiện mà ở đó việc từ chối mang tính phân biệt đối xử và làm cho doanh nghiệp đó gặp trở ngại trong quá trình cạnh tranh, hạn chế các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thành viên

Theo Điều 47, LCT 2004 quy định

"Cấm hiệp hội ngành nghề thực hiện các hành vi sau đây:

1 Từ chối doanh nghiệp có đủ điều kiện gia nhập hoặc rút khỏi hiệp hội nếu

Ngày đăng: 23/06/2014, 17:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Ngọc Cường (2001), Một số vấn đề tự do kinh doanh trong PLKT hiện hành ở Việt Nam, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tự do kinh doanh trong PLKT hiện hành ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Ngọc Cường
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia
Năm: 2001
2. Đại học Luật Hà Nội (2006), “Đưa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh vào cuộc sống”, Tạp chí Luật học, số 6/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh vào cuộc sống”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2006
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội đại biểu toàn Quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn Quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
4. Đặng Vũ Huân (2004), Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống CTKLM ở Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống CTKLM ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Vũ Huân
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2004
5. Nguyễn Hữu Huyên (2004), Luật cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu, Nxb tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu
Tác giả: Nguyễn Hữu Huyên
Nhà XB: Nxb tư pháp
Năm: 2004
6. Nguyễn Mạnh Kháng (2008), Bàn về chức năng tố tụng của Tòa án và vấn đề độc lập của hoạt động xét xử, Tạp trí Nhà nước và pháp luật, số 10/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp trí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Mạnh Kháng
Năm: 2008
7. Phạm Duy Nghĩa (2002), Giáo trình Luật thương mại Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật thương mại Việt Nam
Tác giả: Phạm Duy Nghĩa
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2002
8. Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật kinh tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên khảo Luật kinh tế
Tác giả: Phạm Duy Nghĩa
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
9. Tăng Văn Nghĩa (2005), Những nội dung cơ bản của Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004 và đề xuất áp dụng, Đề tài NCKH cấp bộ (GDĐT), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung cơ bản của Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004 và đề xuất áp dụng
Tác giả: Tăng Văn Nghĩa
Năm: 2005
10. Tăng Văn Nghĩa (2007), Những vấn đề đặt ra và giải pháp thực thi có hiệu quả Luật cạnh tranh trong thực tiễn, Đề tài NCKH cấp bộ (GDĐT), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề đặt ra và giải pháp thực thi có hiệu quả Luật cạnh tranh trong thực tiễn
Tác giả: Tăng Văn Nghĩa
Năm: 2007
11. Tăng Văn Nghĩa (2009), Giáo trình Luật cạnh tranh, Nxb giáo dục Việt nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật cạnh tranh
Tác giả: Tăng Văn Nghĩa
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt nam
Năm: 2009
12. Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh (2001), Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2001
13. Nguyễn Như Phát (2005), Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
Tác giả: Nguyễn Như Phát
Năm: 2005
14. Hoàng Phê (1998), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển tiếng Việt, Hà Nội 15. Nguyễn Mạnh Quân (2007), Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp,Đại học kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt", Trung tâm từ điển tiếng Việt, Hà Nội 15. Nguyễn Mạnh Quân (2007), "Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp
Tác giả: Hoàng Phê (1998), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển tiếng Việt, Hà Nội 15. Nguyễn Mạnh Quân
Năm: 2007
16. Steven Presman (2003), 50 nhà kinh tế tiêu biểu, NXb Lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 nhà kinh tế tiêu biểu
Tác giả: Steven Presman
Năm: 2003
17. Lê Anh Tuấn (2008), Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
Tác giả: Lê Anh Tuấn
Năm: 2008
18. Viện nghiên cứu nhà Nước và Pháp luật (2001), Cạnh tranh và xây dựng Pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh và xây dựng Pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Viện nghiên cứu nhà Nước và Pháp luật
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2001
19. Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội.Và một số trang Web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam
Tác giả: Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
38. Mục 29, "Glossary of Industrial organization economic and competition law", http://www.oecd.org/dataoecd/8/61/2376087.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Glossary of Industrial organization economic and competition law
39. The relatiónhip betwen competion, competitivness and development (TDB- COM2, Intergovernmental Group of Experts on Competition law and Policy, 4th session. 3-5 July2002), April 2002, www.unctad.org Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w