Anhchị hãy làm rõ nội dung nguyên tắc thống nhất giưa lý luận và thực tiễn; vai trò của nguyên tắc này đối với việc ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều bằng dẫn chứng thực tế. ĐẶT VẤN ĐỀ Theo quan điểm của triết học Mác Lênin và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lý luận được hình thành trong mối liên hệ với thực tiễn. Do vậy, giữa thực tiễn và lý luận có quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại nhau; trong đó, thực tiễn giữ vai trò quyết định lý luận và lý luận có sự tác động to lớn trở lại thực tiễn. Vì vậy, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, một mặt, phải tránh tuyệt đối hoá thực tiễn, hạ thấp lý luận; mặt khác, đồng thời với coi trọng lý luận phải coi trọng thực tiễn, không được cường điệu vai trò của lý luận, coi thường thực tiễn, tách rời lý luận khái thực tiễn. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”1.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH
BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ
HỌC PHẦN: TRIẾT HỌC NÂNG CAO
Thời gian: 60 phút
Họ và tên: Trần Trọng Hoàn
Ngày, tháng, năm sinh: 19/11/1983
Học viên Cao học Ngành: CNTT & ĐTVT
BÀI LÀM
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin và quan điểm của Chủ tịch HồChí Minh, lý luận được hình thành trong mối liên hệ với thực tiễn Do vậy, giữathực tiễn và lý luận có quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại nhau;trong đó, thực tiễn giữ vai trò quyết định lý luận và lý luận có sự tác động to lớntrở lại thực tiễn Vì vậy, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, một mặt, phảitránh tuyệt đối hoá thực tiễn, hạ thấp lý luận; mặt khác, đồng thời với coi trọng
lý luận phải coi trọng thực tiễn, không được cường điệu vai trò của lý luận, coithường thực tiễn, tách rời lý luận khái thực tiễn Điều đó đòi hỏi chúng ta phảiquán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức khoa
học và hoạt động cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [1]
II NỘI DUNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN; VAI TRÒ CỦA NGUYÊN TẮC NÀY ĐỐI VỚI VIỆC NGĂN NGỪA, KHẮC PHỤC BỆNH KINH NGHIỆM VÀ BỆNH GIÁO ĐIỀU.
Trang 21 Nội dung nguyên tắc thống nhất giưa lý luận và thực tiễn
1.1 Định nghĩa thực tiễn và lý luận
loài người Tư tưởng đó tiếp tục được Lênin khẳng định: "Quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức".
Theo quan điểm của triết học mácxít, thực tiễn là những hoạt động vậtchất cảm tính, có mục đích, có tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải tạo tựnhiên và xã hội Quan điểm đó đã chỉ ra rằng thực tiễn không phải bao gồm toàn
bộ hoạt động của con người, mà chỉ là những hoạt động vật chất để (phân biệtvới hoạt động tinh thần, hoạt động lý luận), hay nói theo thuật ngữ của Mác làhoạt động cảm tính của con người Trong hoạt động thực tiễn, con người phải
sử dụng các phương tiện, công cụ vật chất, sức mạnh vật chất của mình tác độngvào tự nhiên, xã hội để cải tạo làm biến đổi chúng phù hợp với nhu cầu củamình Bằng hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi bản thân sự vật tronghiện thực, từ đó làm cơ sở để biến đổi hình ảnh của sự vật trong nhận thức Do
đó, hoạt động thực tiễn là hoạt động có tính năng động, sáng tạo, là quá trìnhchuyển hoá cái tinh thần thành cái vật chất Hoạt động thực tiễn là quá trìnhtương tác giữa chủ thể và khách thể Chủ thể luôn hướng vào cải tạo khách thểtrên cơ sở đó nhận thức khách thể Vì vậy, thực tiễn trở thành mắt khâu trunggian nối liền ý thức con người với thế giới bên ngoài
Dạng cơ bản đầu tiên của thực tiễn là hoạt động sản xuất vật chất Đây làdạng hoạt động thực tiễn nguyên thuỷ nhất và cơ bản nhất vì nó quyết định sựtồn tại và phát triển của xã hội loài người và quyết định các dạng khác của hoạtđộng thực tiễn; nó tạo thành cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt độngsống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật.Một dạng cơ bản khác của thực tiễn là hoạt động chính trị - xã hội nhằm cải tạo,biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, chế độ xã hội Ngoài ra, với sự ra
Trang 3đời và phát triển của khoa học, một dạng cơ bản khác của thực tiễn cũng xuấthiện - đó là hoạt động thực nghiệm khoa học Dạng hoạt động thực tiễn nàyngày càng trở nên quan trọng do sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạngkhoa học - kỹ thuật hiện đại.
Quá trình nhận thức trải qua hai giai đoạn là nhận thức cảm tính và nhậnthức lý tính Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức, là sựphản ánh trực tiếp, cụ thể, sinh động hiện thực khách quan vào các giác quancủa con người Nhận thức cảm tính gồm các hình thức cảm giác, tri giác và biểutượng Nhận thức lý tính hay tư duy trìu tượng là giai đoạn cao của nhận thức,
nó là sự phản ánh trìu tượng, khái quát và gián tiếp hiện thực Nhận thức lý tínhđược hình thành từ những tài liệu do nhận thức cảm tính đem lại và được thểhiện dưới các hình thức là khái niệm, phán đoán và suy luận
Sự phát triển của nhận thức con người tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của lýluận Lý luận là sản phẩm cao của nhận thức của sự phản ánh hiện thực kháchquan Xét về bản chất, lý luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từthực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giớikhách quan Trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, các nguyên lý và các quyluật tạo nên lý luận, quy luật là hạt nhân của lý luận, là sản phẩm của quá trìnhnhận thức nên bản chất của lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới kháchquan
1.1.2 Định nghĩa lý luận
Lý luận là một hệ thống những tri thức về tự nhiên và xã hội được kháiquát từ thực tiễn phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất yếu, những tính quyluật của thế giới khách quan được biểu đạt bằng hệ thống khái niệm, phạm trù,
nguyên lý, quy luật Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [2]
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tập 8, tr 496.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 8, tr 497.
Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm Tri thức lý luận là
tri thức khái quát tri thức kinh nghiệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Lý luận
là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về
Trang 4tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” Lý luận được hình thành
trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng không phải mọi lý luận đều trực tiếpxuất phát từ kinh nghiệm Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đitrước những dữ kiện kinh nghiệm mà vẫn không làm mất đi mối liên hệ giữa lýluận với kinh nghiệm Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng vàkhái quát cao nên nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luậtcủa các sự vật, hiện tượng khách quan Vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức lý luận
là đem quy sự vận động bề ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận độngbên trong thực sự
2 Nội dung nguyên tắc thống nhất giưa lý luận và thực tiễn (quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và lý luận).
Vấn đề thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyêntắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận vàthực tiễn không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức khoa học và hoạtđộng thực tiễn nói chung mà còn là yêu cầu khách quan đối với việc cải tạo xãhội Vì vậy, nghiên cứu, làm rõ mối quan hệ này góp phần quan trọng khẳngđịnh vị trí, vai trò nguyên tắc cơ bản của triết học Mác - Lênin nói chung và lýluận nhận thức mácxít nói riêng trong hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong nhữngnguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và của lý luận nhậnthức mácxít nói riêng Nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễnđược thể hiện ở những nội cụ thể sau:
Thứ nhất, giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ hữu cơ với nhau Lý
luận được hình thành không phải ở bên ngoài thực tiễn mà trong mối liên hệ vớithực tiễn Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau, tácđộng qua lại nhau, ràng buộc lẫn nhau, đấu tranh và chuyển hóa lẫn nhau, trong
đó thực tiễn giữ vai trò quyết định, ngược lại lý luận luôn có tác động trở lạihướng dẫn hoạt động thực tiễn
Thứ hai, lý luận trở thành khoa học khi gắn liền với thực tiễn Thực chất
nội dung này là sự khẳng định vai trò to lớn của thực tiễn đối với lý luận.Ăngghen nhận xét rằng: "Từ trước tới nay khoa học tự nhiên cũng như triết học
đã hoàn toàn coi thường ảnh hưởng của hoạt động con người đối với tư duy của
Trang 5họ Hai môn, một mặt chỉ biết có tự nhiên, mặt khác chỉ biết có tư tưởng Nhưngchính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới tựnhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tưduy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đãhọc cải biến tự nhiên".
Tư tưởng đó được Lênin tiếp tục khẳng định: "Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp" Con người quan hệ với thế giới bắt đầu không phải bằng lý
luận mà bằng thực tiễn Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo thếgiới mà nhận thức, lý luận ở con người mới được hình thành và phát triển Bằnghoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới, buộc thế giới phải bộc lộnhững thuộc tính, những tính quy luật để cho con người nhận thức chóng Banđầu con người thu nhận những tài liệu cảm tính, những kinh nghiệm, sau đó tiếnhành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá để phát triểnthành lý tính, xây dựng thành lý luận, khoa học phản ánh bản chất, quy luật vậnđộng của các sự vật, hiện tượng trong thế giới Do đó, có thể nói, thực tiễn cungcấp những tài liệu cho nhận thức, cho lý luận Không có thực tiễn thì không cónhận thức, không có lý luận Mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp đối vớingười này hay người kia, thế hệ này hay thế hệ khác dù ở giai đoạn cảm tínhhay lý tính, ở trình độ kinh nghiệm hay lý luận xét đến cùng đều bắt nguồn từthực tiễn
Trong quá trình tồn tại, con người không được thế giới đáp ứng thỏa mãn,nên con người phải cải tạo thế giới bằng hoạt động thực tiễn của mình Chínhtrong quá trình biến đổi thế giới, con người cũng biến đổi luôn cả bản thânmình, phát triển năng lực bản chất, năng lực trí tuệ của mình Nhờ đó, con ngườingày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới,làm phong phú và sâu sắc tri thức của mình về thế giới Thực tiễn cũng đề ranhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức, lý luận Nhu cầu,thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lýluận, thúc đẩy sự ra đời phát triển của các ngành khoa học
Như vậy, trong quá trình hoạt động thực tiễn, trí tuệ con người dược pháttriển, được nâng cao dần cho đến lúc có lý luận, khoa học Song bản thân lýluận, khoa học không có mục đích tự thân Lý luận, khoa học ra đời chính vì vàchủ yếu vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người Thực tiễn làmục đích của nhận thức, lý luận Nhận thức, lý luận sau khi ra đời phải quay vềphục vụ thực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn, phải biến thành hành động thực
Trang 6tiễn của quần chúng Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chóng đượcvận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn phục vụ mục tiêu phát triển nói chung.
Lênin đã chỉ ra rằng thế giới bí ẩn sẽ hoàn toàn bí ẩn với con người nếukhông có sự tác động của con người vào đó Sự tác động của con người vào thếgiới khách quan diễn ra một quá trình từ việc thu thập những tài liệu cảm tính,những kinh nghiệm, sau đó tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quáthoá, trừu tượng hoá… để phát triển thành lý luận và từ lý luận lại trở về chỉ đạothực tiễn
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, lý luận còn thể hiện ở chỗ thực
tiễn là tiêu chuẩn của chân lý Mác viết: "Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý" Chỉ có lấy thực tiễn kiểm nghiệm mới xác nhận được
tri thức đạt được là đúng hay sai, là chân lý hay sai lầm Thực tiễn sẽ nghiêmkhắc chứng minh chân lý, bác bỏ sai lầm Tuy nhiên, cần phải hiểu tiêu chuẩnthực tiễn một cách biện chứng, tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối (hay tínhxác định) vừa có tính tương đối (hay tính không xác định)
Thứ ba, thực tiễn chỉ đạt được mục đích khi có lý luận dẫn dắt Bên cạnh
việc đề cao vai trò của thực tiễn đối với lý luận, nguyên tắc cũng chỉ ra vai tròcủa lý luận đối với thực tiễn thể hiện ở tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nó.Hay nói cách khác, bản thân lý luận, khoa học không có mục đích tự thân Lýluận sau khi ra đời quay về phục vụ thực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn Lýluận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn,cải tạo thực tiễn, phục vụ cho mục tiêu phát triển Lý luận tác động trở lại thựctiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người
Lý luận giúp cho chủ thể hoạt động thực tiễn có những quan niệm khoahọc về thế giới Lý luận có thể dự kiến được sự vận động, phát triển của sự vật,chỉ ra những phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn, là "kim chỉnam" soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo cho hành động Lênin viết: Không có lý luậncách mạng thì cũng không có phong trào cách mạng, chỉ có đảng nào có lý luậntiên phong hướng dẫn thì đảng đó mới làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong Lýluận một khi thâm nhập vào quần chúng thì biến thành sức mạnh vật chất, lýluận có thể dự kiến được sự vận động và phát triển của sự vật trong tương lai,chỉ ra những phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn Nhờ có lý luậnkhoa học mà hoạt động của con người trở lên chủ động, tự giác, hạn chế tình
Trang 7trạng mò mẫm, tự phát Như vậy, lý luận một khi đã thâm nhập vào quần chúngthì biến thành sức mạnh vật chất to lớn Lý luận giúp cho con người nhận thức
hệ thống nguyên tắc, phương pháp trong hoạt động nhận thức và thực tiễn; giúpchủ thể hoạt động thực tiễn những mục tiêu cần đạt được trong tình hình cụ thể.Nhờ có lý luận cách mạng mà chủ thể hoạt động thực tiễn có cơ sở hình thành,phát triển nhân cách và nâng cao chất lượng hoạt động thực tiễn Như vậy, lýluận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, cùng vớinhận thức được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của lý luận thì chủ thể hoạtđộng không nên cường điệu vai trò của lý luận, coi thường thực tiễn, tách lýluận khỏi thực tiễn
Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn thống nhất với nhau dưới nhiềuhình thức và trình độ biểu hiện khác nhau Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, phảnánh (khái quát) những vấn đề của đời sống sinh động Thước đo trình độ phảnánh của lý luận trước hết ở chỗ lý luận phải giải quyết những vấn đề do chính sựphát triển của thực tiễn đặt ra, do đó, lý luận góp phần thúc đẩy thực tiễn pháttriển, bởi vì ở bên ngoài sự thống nhất lý luận và thực tiễn, tự thân lý luậnkhông thể biến đổi được hiện thực, nói cách khác, hoạt động lý luận không cómục đích tự thân mà vì phục vụ thục tiễn, để cải tạo thực tiễn
2.1 Lý luận khoa học phải được hình thành trên cơ sở thực tiễn, xuất phát
từ thực tiễn, bằng con đường tổng kết thực tiễn (Vai trò của thực tiễn đối với lý luận và quán triệt quan điểm thực tiễn).
2.1.1 Vai trò của thực tiễn đối với lý luận
Lý luận được hình thành không phải ở bên ngoài thực tiễn, mà ở trongmối liên hệ với thực tiễn Do vậy, giữa thực tiễn và lý luận có quan hệ biệnchứng với nhau, tác động qua lại nhau; trong đó, thực tiễn giữ vai trò quyết định
lý luận và lý luận có sự tác động to lớn trở lại thực tiễn
Vai trò của thực tiễn được biểu ở chỗ, thực tiễn là cơ sở, động lực, mụcđích chủ yếu và trực tiếp của lý luận, là tiêu chuẩn của chân lý
Thứ nhất, thực tiễn là cơ sở của lý luận
Trong lịch sử, con người bắt đầu sự tồn tại của mình bằng lao động sảnxuất biến đổi giới tự nhiên Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạothế giới buộc con người phải nhận thức thế giới, do đó mà nhận thức, lý luận,khoa học ở con người mới được hình thành và phát triển Bằng hoạt động thựctiễn, con người trực tiếp tác động vào sự vật, hiện tượng và quá trình của thếgiới, bắt chúng phải bộc lộ những thuộc tính, những bí ẩn, những tính quy luật
Trang 8để cho con người nhận thức chúng Điều đó có nghĩa là thực tiễn cung cấpnhững tài liệu cho nhận thức, cho lý luận, cho khoa học Tri thức của con ngườithu nhận được dưới dạng trực tiếp hoặc dưới dạng gián tiếp, từ thế hệ nàytruyền cho thế hệ khác đều nảy sinh từ hoạt động thực tiễn Nhận thức là dothực tiễn sinh ra*, ngay từ đầu đã do thực tiễn quy định và phát triển trên cơ sởcủa thực tiễn.
Do đó, không có thực tiễn thì không có nhận thức, không có lý luận vàkhông có khoa học Xa rời thực tiễn, nhận thức chỉ đưa lại những “đoá hoakhông kết quả” Hiểu biết của con người xét đến cùng phải bắt nguồn từ thựctiễn
* Không riêng nhận thức xã hội mà nhận thức khoa học tự nhiên và ngay cả toán học cũng đều sinh
ra từ những nhu cầu thực tiễn của con người: từ sự đo diện tích các khoảnh đất, đo dung tích những bình
chứa, từ sự tính toán thời gian và từ sự chế tạo cơ khí (Xem C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tập 20, tr 59).
V.I.Lênin viết rằng: “Muốn hiểu biết thì phải bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu từ kinh nghiệm, từ kinh nghiệm mà đi đến cái chung Muốn tập bơi phải nhảy xuống nước” [3]
Thực tiễn còn là người thầy, là trường đời, là trang sách cuộc đời để ngỏcho những ai muốn trưởng thành, khôn lớn
Thứ hai, thực tiễn là động lực của lý luận
Quá trình biến đổi thế giới là quá trình con người ngày càng đi sâu vàonhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, làm phong phú và sâusắc tri thức của mình về thế giới Thực tiễn không ngừng biến đổi, phát triển vàluôn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức, của lýluận, cho sự ra đời của các ngành khoa học Thực tiễn luôn đặt ra những vấn đềmới đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết, khái quát kinh nghiệm mớithành lý luận mới Trên cơ sở đó thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngànhkhoa học, nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh
Thực tiễn đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đạt được rất nhiềuthành tựu nhưng cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần tổng kết để bổ sung lý luận
về con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đại hội XI của Đảng đã đề ra
nhiệm vụ : ‘‘Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một
số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta và những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình đổi mới, không
Trang 9ngừng phát triển lý luận,’’ [4] Đó chính là động lực thúc đẩy nhận thức, lý luận,khoa học phát triển
Hơn bao giờ hết, thực tiễn phát triển của thời đại chúng ta hôm nay xác
nhận tính đúng đắn ý kiến Ph.Ăngghen nói rằng, “Nếu trong xã hội xuất hiện một nhu cầu kỹ thuật thì điều đó sẽ thúc đẩy khoa học tiến lên nhiều hơn một chục trường đại học” [5]
[3] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tập 29, tr 220
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr 255 - 256.
[5] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tập 39, tr 271.
Thực tiễn còn là cơ sở góp phần rèn luyện giác quan của con ng-ười, làmcho chúng phát triển tinh tế hơn, hoàn thiện hơn Trên cơ sở đó giúp con ng¬ườinhận thức hiệu quả hơn, khái quát lý luận đúng đắn hơn Thông qua hoạt độngthực tiễn, con ng¬ười cũng cải biến luôn chính bản thân mình, phát triển năng
lực, trí tuệ của mình Ph.Ăngghen đã viết: ‘‘ chính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ
sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên’’ [6]
Thực tiễn còn là động lực chế tạo ra những dụng cụ, phương tiện, máymóc như kính thiên văn, máy ghi âm, máy tính để hỗ trợ con người nhận nhậnthức hiệu quả hơn và khái quát lý luận đúng đắn hơn Chính nhu cầu chế tạo, cảitiến công cụ sản xuất cũng như công cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận thức
đã thúc đẩy nhận thức, tư duy, lý luận và bản thân thực tiễn phát triển
Vì vậy, quan hệ giữa thực tiễn và khoa học được ví như quan hệ giữa ca
Trang 10Sơ đồ trên cho thấy: Ở thế kỷ XIX, thực tiễn (Ca nô) đi trước khoa học(Xà lan), thì thực tiễn (Ca nô) kéo khoa học (Xà lan) đi theo Sang thế kỷ XX,thực tiễn (Ca nô) đi sau khoa học (Xà lan), thì thực tiễn (Ca nô) đẩy khoa học(Xà lan) đi trước Như vậy, chúng ta thấy rõ rằng: thực tiễn (Ca nô) có thể đi
trước hoặc đi sau khoa học (Xà lan), nhưng thực tiễn (Ca nô) luôn giữ vai trò
là động lực, vì phải có động lực thì mới kéo hoặc đẩy khoa học (Xà lan) được.
Thứ ba, thực tiễn là mục đích của lý luận
Từ hoạt động thực tiễn mà có tri thức lý luận và tri thức khoa học; song,bản thân lý luận, khoa học không có mục đích tự thân; nghĩa là, không có nhậnthức vị nhận thức, không có lý luận vị lý luận; mà lý luận, khoa học ra đời chính
vì và chủ yếu vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người; nghĩa
là, chỉ có nhận thức vị thực tiễn, chỉ có lý luận vị thực tiễn Cho nên, sau khi tađời, nhận thức, lý luận, khoa học phải quay về phục vụ thực tiễn, hướng dẫn chỉđạo thực tiễn sản xuất vật chất, cải tạo chính trị - xã hội, vào thực nghiệm khoahọc phục vụ con người, phải biến thành hành động cách mạng của quần chúng
Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễncải tạo tự nhiên, xã hội, phục vụ mục tiêu phát triển con người
Nói khác đi, thước đo đánh giá giá trị của nhận thức, lý luận, khoa họcchính là thực tiễn Nếu nhận thức, lý luận không vì thực tiễn, không nhằm phục
vụ, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn mà vì chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩathành tích, chủ nghĩa hình thức thì nhất định sẽ mất phương hướng, phải trả giá
Thứ tư, thực tiễn là tiêu chuẩn đánh giá sự đúng, sai của lý luận, là
tiêu chuẩn của chân lý
Thực tiễn không chỉ là cơ sở, động lực và mục đích của lý luận, là tiêuchuẩn đánh giá sự đúng, sai của lý luận, mà còn là tiêu chuẩn của chân lý
Chân lý là tri thức có nội dung phù hợp với thế giới khách quan mà nó phản ánh
Nói gọn lại chân lý là sự thật Đã là sự thật thì không sớm thì muộn cũng sẽ được biểu hiện ra, cho nên không được phủ nhận sự thật, không được
che giấu sự thật, không được né tránh sự thật, không được trang trí sự thật, …
Theo triết học Mác - Lênin, chân lý không phải bao giờ cũng thuộc về sốđông Chân lý cũng không phải cái gì đó hiển nhiên Chân lý cũng không phảichỉ là cái có ích, có lợi
Triết học Mác - Lênin khẳng định và chứng minh rằng, thực tiễn là tiêuchuẩn kiểm tra nhận thức, lý luận, khoa học Nghĩa là, sau khi có tri thức lýluận, tri thức khoa học; vấn đề không phải là bàn cãi, tranh luận suông xem tri
Trang 11thức nào đúng, sai, mà chỉ có lấy thực tiễn kiểm nghiệm (tức là đem áp dụng lýluận, khoa học vào thực tiễn, thông qua hoạt động thực tiễn, con người mới vậtchất hoá được tri thức, hiện thực hoá được tư tưởng) mới xác nhận tri thức đạtđược là chân thực hay giả dối Thực tiễn là tiêu chuẩn đanh thép chứng minhchân lý, nghiêm khắc bác bỏ sai lầm.
Tuy nhiên, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý vừa có tính tuyệt đối, vừa
có tính tương đối:
Tính tuyệt đối của tiêu chuẩn thực tiễn thể hiện ở chỗ, chỉ có thực tiễn
mới là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm nghiệm chân lý, thực tiễn ở mỗigiai đoạn lịch sử có thể khẳng định hay bác bỏ tính chân lý của lý luận Đây lànguyên tắc bất di, bất dịch
Tính tương đối của tiêu chuẩn chân lý thể hiện ở chỗ, thực tiễn khôngphải là bất biến, đứng nguyên một chỗ mà luôn vận động, biến đổi, phát triển.Thực tiễn là một quá trình, cho nên nhận thức chân lý cũng là một quá trình.Điều đó đòi hỏi nhận thức của con người cũng phải đổi mới và phát triển chophù hợp với thực tiễn mới Nhận thức ngày hôm qua là phù hợp, là chân lý;
song, nếu đem áp dụng nhận thức, lý luận cũ vào thực tiễn đã thay đổi (thực tiễn mới) sẽ làm cho nhận thức, lý luận trở nên bảo thủ, sai lầm.
2.1.2 Quán triệt quan điểm của thực tiễn
Từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, lý luận, khoa học; chúng ta rút
ra ý nghĩa phương pháp luận là phải có quan điểm thực tiễn trong nhận thức vàhoạt động cách mạng Quán triệt quan điểm thực tiễn với yêu cầu khi đề ra chủtrương, đường lối phải gắn với thực tiễn, sát thực tiễn; phải lấy thực tiễn làmtiêu chuẩn đánh giá sự đúng, sai của lý luận, chủ trương, đường lối chính sách;phải tăng cường tổng kết thực tiễn để kiểm tra lý luận, chủ trương, đường lối,chính sách và kịp thời bổ sung, điều chỉnh, phát triển lý luận cũng như chủtrương, đường lối, chính sách cho phù hợp thực tiễn mới Phải thấm nhuần lời
căn dặn của V.I.Lênin: ‘‘Quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức’’[7] Tại Đại hội XII, nhìn lại
30 năm đổi mới, từ những thành tựu cũng như những hạn chế, khuyết điểm, mộttrong năm bài học được Đảng ta nêu ra là: “Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, cóbước đi phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sátthực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyếtkịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra”[8]
Trang 12Người hoạch định đường lối phải nắm chắc thực tế[9] - “Thực tế là cácvấn đề mình phải giải quyết, là mâu thuẫn của sự vật ”[10] , phản ánh trung thựctình hình mới đề ra mục tiêu, nhiệm vụ và biện pháp đúng Chủ tịch Hồ Chí
Minh dạy rằng: “Cán bộ phải chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc suy nghĩ để thiết thực điều tra, rút kinh nghiệm”[11]
V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.167
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2016, tr 69
Thực tế: Thực: đúng đắn; Tế: thích đáng = 1 Sự có thật trong cuộc sống; 2 Sát với sự thật; Không viển vông, không mơ hồ, không lãng mạn.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tập 8, tr 497.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 5, tr 711.
2.2 Thực tiễn luôn phải được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận khoa học, nếu không sẽ là thực tiễn mù quáng, mò mẫm (Vai trò của lý luận đối với thực tiễn và ý nghĩa phương pháp luận)
2.2.1 Vai trò của lý luận đối với thực tiễn
Triết học Mác - Lênin chỉ ra rằng, coi trọng thực tiễn không có nghĩa làcoi nhẹ lý luận, hạ thấp vai trò của lý luận, mà phải thấy được vai trò của lý luậnđối với thực tiễn Tuy xuất hiện trên cơ sở thực tiễn; song, lý luận không thụđộng chịu sự quy định thực tiễn, mà nó có tính độc lập tương đối và tác độngtích cực trở lại thực tiễn
Vai trò của lý luận đối với thực tiễn thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, lý luận đóng vai trò soi đ¬ường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn:
Lý luận khái quát những kinh nghiệm thực tiễn; do đó, lý luận khoa hocsoi đường dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn, điều chỉnh hoạt động thực tiễn đạt kết quảcao Lý luận khoa học làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động, tự
giác Do vậy, V.I.Lênin viết: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể
có phong trào cách mạng Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong.”[12] Lý luận khoahọc là kim chỉ nam cho hành động cách mạng
Thứ hai, lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập
hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đôngđảo quần chúng:
Lý luận khoa học góp phần định hướng cho quần chúng trong cuộc sống
và trong hoạt động thực tiễn Do vậy, khi lý luận khoa học thâm nhập được vàođông đảo quần chúng sẽ tạo thành sức mạnh vật chất vĩ đại Trên cơ sở đó tạo
Trang 13thành khối thống nhất giữa lý luận và quần chúng để cải tạo tự nhiên và xã hội
phục vụ con người C.Mác viết: “Lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”[13]. Lý luận càng được phổ biến rộng rãibao nhiêu, sẽ tập hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễnrộng lớn bấy nhiêu Chính vì vậy, mọi lực lượng xã hội đều tìm cách phổ biến lý
luận của mình Nếu lý luận cách mạng được truyền bá rộng rãi thì nó sẽ tạo nên những phong trào cách mạng rộng khắp; ngược lại, nếu lý luận phản động
được truyền bá rộng rãi và không được ngăn chặn kịp thời thì nó sẽ tạo nên sứccản trở lớn đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc hoặc của cả nhân loại
Phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động sở
dĩ được phát triển trên toàn thế giới là vì chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá
ở mọi quốc gia, dân tộc Lý luận ấy đã đem lại ánh sáng, niềm tin, niềm hy vọnglớn lao cho quần chúng lao khổ và tiến bộ trên toàn thế giới
V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb, Tiến bộ, Mátxcơva, 1975, tập 6, tr 30, 32.
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 1, tr 580.
Thứ ba, lý luận, nếu phản ánh đúng quy luật vận động, phát triển của sự
vật, của thực tiễn sẽ góp phần dự báo, định hướng đúng đắn cho hoạt động thựctiễn; giúp cho hoạt động thực tiễn bớt mò mẫm, vòng vo, chủ động, tự giác hơn
Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”[14]
[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tập 8, tr 496.
Thứ tư, lý luận khoa học cung cấp cho con người những tri thức khoa
học về tự nhiên, xã hội và về bản thân con ng¬ười Trên cơ sở những tri thứckhoa học đó, con người có thể thông qua hoạt động thực tiễn làm biến đổi tựnhiên, xã hội và bản thân phục cho mục đích của mình
Thứ năm, lý luận có tính độc lập tương đối so với thực tiễn; do vậy, nó
có thể thông qua hoạt động thực tiễn tác động trở lại thực tiễn, góp phần làmbiến đổi thực tiễn Lý luận có vai trò tác động tích cực đối với thực tiễn, một khi
nó phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, thâm nhập được vào đông đảoquần chúng nhân dân và được con ng¬ười vận dụng nó một cách sáng tạo, linhhoạt, phù hợp điều kiện thực tiễn, lịch sử - cụ thể Nếu lý luận sai lầm, ảo tưởng,chủ quan, duy ý chí, giáo điều, kinh nghiệm v.v sẽ tác động tiêu cực trở lại đốivới thực tiễn
Trang 14Mức độ, hiệu quả tác động của lý luận đối với thực tiễn phụ thuộc vàonhiều yếu tố, nhưng trước hết phụ thuộc vào tính đúng đắn, khoa học của lýluận; mức độ thâm nhập của lý luận vào quảng đại quần chúng nhân dân; vào sựvận dụng sáng tạo, đúng đắn lý luận hay không bởi chủ thể hoạt động thực tiễn.
2.2.2 Ý nghĩa phương pháp luận
Từ vai trò của lý luận đối với thực tiễn trên đây, chúng ta rút ra ý nghĩa phương pháp luận là phải thấy được vai trò to lớn của lý luận khoa học, trên
cơ sở đó, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức không ngừng học tập,nâng cao trình độ lý luận chính trị cho bản thân Phải thấm nhuần lời dạy củaV.I.Lênin: “Học, học nữa, học mãi” Tuy nhiên, khi học tập lý luận không đượctuyệt đối hóa lý luận; học tập lý luận thì phải liên hệ với thực tiễn đất nước và
thời đại Phải thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ tịch “Lý luận rất cần thiết nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả Do đó, trong lúc học tập
lý luận chúng ta cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tế”[15]
[15] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1996, tập 8, tr 496.
Từ tất cả những điều đã phân tích trên có thể rút ra yêu cầu cơ bản củanguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin là:
Thứ nhất, mọi lý luận phải xuất phát từ thực tiễn, phải phục vụ thực tiễn,
được kiểm nghiệm trong thực tiễn, được bổ sung, phát triển qua thực tiễn
Thứ hai, mọi thực tiễn phải được soi sáng bởi lý luận, phải được lý luận
dẫn đường
3 Vai trò của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đối với việc ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
3.1 Bệnh kinh nghiệm
3.1.1 Bản chất của bệnh kinh nghiệm
Đó là khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hoá kinh nghiệm
thực tiễn, hoàn toàn thoả mãn với kinh nghiệm bản thân, chỉ dừng lại ở trình độkinh nghiệm, coi kinh nghiệm là tất cả, hạ thấp lý luận, ít am hiểu lý luận, coithường lý luận khoa học, ngại học lý luận, lười học lý luận, không chịu vươnlên để nắm lý luận, không quan tâm tổng kết kinh nghiệm để đề xuất lý luận Sựyếu kém về lý luận không chỉ dẫn đến bệnh kinh nghiệm, mà còn dẫn đến bệnhgiáo điều Bởi vì, chính sự yếu kém về lý luận sẽ dẫn tới sự tiếp thu chủ nghĩa
Trang 15Mác - Lênin một cách giản đơn, phiến diện, cắt xén, sơ lược, không đến nơi,đến chốn.
3.1.2 Có nhiều nguyên nhân của bệnh kinh nghiệm ở nước ta
Chẳng hạn như ảnh hưởng tiêu cực của nền sản xuất nhỏ, lúa nước, theomùa, theo chu kỳ; ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng gia trưởng, phong kiến; ảnhhưởng của kinh nghiệm chiến tranh du kích quá lâu dài, v.v Nhưng nguyênnhân cơ bản, trực tiếp nhất là vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận vàthực tiễn, không hiểu quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn của cán bộ,đảng viên
3.1.3 Bệnh kinh nghiệm đã gây ra hậu quả
Dễ dẫn đến tư duy áng chừng, đại khái, thiếu chính xác, thiếu chặt chẽtrong công tác; dễ rơi vào sự vụ trong công tác, thiển cận, tự mãn, thiếu nhìn xatrông rộng; dễ dẫn đến coi thường chất xám, coi thường giới trý thức, coithường đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật; dễ nặng về quá khứ, rơi vào khuynhhướng thủ cựu, phục cổ, bảo thủ trì trệ, không chịu đổi mới, không chịu làmcách mạng; dễ rơi vào khuynh hướng đánh giá cán bộ nặng về quá khứ, quátrình, lấy quá khứ, quá trình làm tiêu chuẩn để đề bạt cán bộ Đó là những táchại của bệnh kinh nghiệm Về tác hại của căn bệnh này, Chủ tịch Hồ Chí Minh
viết: “Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”[16]
[16] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tập 5, tr 234.
3.2 Bệnh giáo điều
3.2.1 Bản chất của bệnh giáo điều
Đó là khuynh hướng tư tưởng và hành động cường điệu lý luận, tuyệt
đối hoá lý luận, coi thường kinh nghiệm thực tiễn, coi lý luận là bất di, bất dịch,tách rời lý luận khái thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử cụ thể
Bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều là một sai lầm trong tư duy của chủ thểnhận thức Người mắc các căn bệnh này thường có xu hướng hoặc là tuyệt đốihóa vai trò của kinh nghiệm hoặc tuyệt đối hóa vai trò của lý luận, do sai lầm
đó, chủ thể nhận thức thường có những hành động gây ra tình trạng kém hiệuquả trong hoạt động của cá nhân và tổ chức Ảnh hưởng của hai căn bệnh này,đặc biệt nguy hại khi chủ thể là những cán bộ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý trong