Mục đích nghiên cứu của luận văn là đánh giá tác động của các cam kết kết thuế quan về hàng hoá của Việt Nam khi gia nhập WTO bao gồm: danh mục hàng hoá cam kết cắt giảm thuế quan, lộ tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
NGUYỄN THU TRANG
trÇn
TÁC ĐỘNG CỦA CAM KẾT THUẾ QUAN VỀ HÀNG HOÁ
ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM SAU KHI
GIA NHẬP WTO
Chuyên ngành : KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
Mã số : 603107
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI THỊ LÝ
HÀ NỘI- 2008
NGUYỄN THU TRANG
trÇn
TÁC ĐỘNG CỦA CAM KẾT THUẾ QUAN VỀ HÀNG HOÁ
ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM SAU KHI
GIA NHẬP WTO
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI- 2008
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường đại học Ngoại Thương trong suốt 5 năm học đại học, của thầy cô Khoa Sau Đại học trường Đại học Ngoại thương đã giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học và làm Luận văn Thạc sỹ Đặc biệt tôi xin bày tỏ cảm ơn chân thành tới
cô giáo, Tiến sỹ Bùi Thị Lý, người đã tận tình, trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thiện Luận văn tốt nghiệp này
Nhân đây tôi cũng gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp, bạn bè đã giúp
đỡ tôi tìm kiếm tài liệu, đóng góp ý kiến nhận xét trong suốt quá trình làm Luận văn Đặc biệt tôi cám ơn gia đình đã động viên tôi rất nhiều để có thể hoàn thành Luận văn đúng tiến độ
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2008
Trang 41 Tính cấp thiết của đề tài
Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ngày 11/1/2007 là một bước đánh dấu quan trọng trong tiến trình thương mại hoá và quốc tế hoá, thể hiện mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới Một trong những nội dung quan trọng Việt Nam đàm phán gia nhập WTO là các cam kết thuế quan về hàng hoá Sau hơn một năm tham gia, các cam kết này đã có những ảnh hưởng nhất định đối với hoạt động xuất nhập khẩu, sản xuất và đầu tư trong nước nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung Chính vì vậy việc tìm hiểu, phân tích những tác động của cam kết thuế quan về hàng hoá, trên cơ sở đó dự báo và đề xuất những chính sách, biện pháp nhằm tận dụng những lợi thế và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực là rất cần thiết trong thời điểm hiện nay Đây cũng
là lý do mà tác giả lựa chọn vấn đề “Tác động của cam kết thuế quan về hàng hóa đối với nền kinh tế Việt Nam sau khi gia nhập WTO” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Các tài liệu liên quan đến nội dung các cam kết gia nhập WTO, trong
đó có đề cập các cam kết về thuế quan hiện đã có tương đối nhiều Đáng chú
ý và đầy đủ có cuốn “Các văn kiện gia nhập tổ chức thương mại thế giới của Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, 2006 Ngoài ra hiện nay cũng đã có một
số tài liệu liên quan phân tích tác động hội nhập đến kinh tế xã hội Việt Nam, trong đó có đề cập đến tác động của việc cắt giảm thuế quan Ví dụ cuốn “Báo cáo tác động, ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đến nền kinh tế - tài chính Việt Nam” của Nhóm tư vấn chính sách (PAG), Bộ Tài chính; “ Báo
Trang 5cáo nghiên cứu tác động WTO đối với Việt Nam” do Uỷ ban Châu Âu (EC) phối hợp với Bộ Công Thương thực hiện trong khuôn khổ dự án MUTRAP II
Tuy nhiên các tài liệu hầu như phân tích tác động hội nhập ở diện rộng, chưa đi sâu tập trung phân tích tác động của riêng từng nhóm cam kết Vì vậy các giải pháp đưa ra cũng còn mang tính định hướng chung chung, chưa cụ thể và sâu sát Trong khuôn khổ có hạn của một luận văn thạc sỹ, tác giả xin được trình bày một cách tổng quan về cam kết thuế quan về hàng hoá của Việt Nam và tác động của việc cắt giảm thuế quan sau hơn một năm gia nhập WTO Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá, phân tích các tác động này, luận văn đưa
ra một số giải pháp để bạn đọc tham khảo
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đánh giá tác động của các cam kết kết thuế quan về hàng hoá của Việt Nam khi gia nhập WTO bao gồm: danh mục hàng hoá cam kết cắt giảm thuế quan, lộ trình thực hiện, mức thuế cắt giảm… đối với nền kinh tế Việt Nam, từ đó đề xuất các biện pháp, chính sách nhằm tận dụng các cơ hội và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, tìm hiểu các cam kết về cắt giảm thuế quan
Phân tích, đánh giá các tác động của cam kết thuế về hàng hoá đối với kinh tế Việt Nam sau hơn 1 năm gia nhập
Đề xuất biện pháp khả thi trên cơ sở rút kinh nghiệm và công tác dự báo
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: tác động của cam kết thuế quan về hàng hoá đối với các lĩnh vực của nền kinh tế sau hơn 1 năm gia nhập WTO như: Ngân sách nhà nước, đầu tư nước ngoài, cán cân thương mại, sản xuất và tiêu dùng, công nghệ
Trang 6 Phạm vi: Tác động của riêng cam kết thuế quan về hàng hoá (không bao gồm tất cả các cam kết)
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính: phân tích báo cáo, nhận xét, bình luận, ý kiến…
Phương pháp định lượng: thống kê kim ngạch, tính toán biểu đồ, vẽ
sơ đồ,…
Phương pháp chuyên gia: ý kiến chuyên ngành của các chuyên gia kinh tế, tài chính trong nước và các tổ chức quốc tế
Phương pháp tổng hợp: kết hợp các phương pháp trên
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có kết cấu gồm 3 chương chính như sau:
- Chương 1: Tổng quan các cam kết thuế quan về hàng hóa của Việt Nam khi gia nhập WTO
- Chương 2: Tình hình thực hiện cam kết thuế quan về hàng hóa trong WTO và những tác động đối với nền kinh tế Việt Nam
- Chương 3: Kinh nghiệm thực hiện các cam kết về thuế quan khi gia nhập WTO của một số nước và đề xuất những giải pháp cho Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CAM KẾT THUẾ QUAN VỀ HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO
1.1 Tổng quan về WTO và các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO
WTO là tổ chức thương mại quy mô toàn cầu, hiện có 151 Thành viên, được thành lập vào ngày 01 tháng 01 năm 1995 Tiền thân của tổ chức này là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), được 23 quốc gia ký kết vào năm 1947 nhằm tăng cường giao lưu thương mại giữa các quốc gia thông qua việc cắt giảm các hàng rào bảo hộ ở mỗi nước thành viên
Trong lịch sử gần 50 năm của mình, GATT đã tổ chức được 8 vòng đàm phán đa phương về thương mại Vòng thứ 8, thường được gọi là Vòng đàm phán Uruguay, diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994, đã hoàn tất quá trình cải tổ GATT để lập ra một định chế thương mại toàn cầu mới có tên là Tổ chức Thương mại thế giới, gọi tắt là WTO
GATT chỉ là một hiệp định thương mại đa phương, không phải là một
tổ chức Trong khi đó, WTO là một tổ chức hoàn chỉnh, bao gồm các cơ quan
có thẩm quyền như Hội nghị Bộ trưởng, Đại hội đồng, các Uỷ ban chức năng
và Cơ quan giải quyết tranh chấp Giúp việc cho các cơ quan này là Ban Thư
ký với hơn 600 nhân viên, đứng đầu là Tổng thư ký Trụ sở WTO đặt tại ne-vơ, Thụy Sỹ Các Thành viên tham gia vào hoạt động của WTO thông qua phái đoàn đại diện Các quyết định quan trọng nhất của WTO được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng (họp ít nhất 2 năm một lần) hoặc tại các cuộc họp của Đại hội đồng (cấp đại sứ, họp thường xuyên tại Giơ-ne-vơ) Mỗi thành viên
Trang 8Giơ-có một phiếu biểu quyết, không phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế hay mức niên liễm đóng góp
WTO có những chức năng cơ bản sau đây:
- Quản lý, giám sát và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi các hiệp định của WTO Trước khi WTO được thành lập, chỉ tồn tại duy nhất một hiệp định đa phương là GATT và hiệp định này chỉ điều chỉnh thương mại hàng hoá WTO, ngược lại, có cả một hệ thống hiệp định đa phương (bắt buộc) và hiệp định nhiều bên (không bắt buộc) với phạm vi điều chỉnh được mở rộng sang cả các lĩnh vực khác như thương mại dịch vụ, các biện pháp về đầu tư liên quan đến thương mại và các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
- Thúc đẩy tự do hoá thương mại thông qua các cuộc đàm phán đa phương về tự do hoá thương mại Năm 2001, vòng đàm phán đầu tiên của WTO được phát động với tên gọi là Nghị trình Phát triển Đô-ha, hay Vòng Đô-ha Vòng đàm phán này cho tới nay vẫn chưa kết thúc
- Giải quyết tranh chấp thương mại giữa các Thành viên theo các quy tắc, trình tự, thủ tục do WTO quy định Đây là bước phát triển mới so với GATT, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo đảm tuân thủ các luật lệ của WTO cũng như sự bình đẳng giữa các thành viên
- Cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển thông qua các chương trình tư vấn, đào tạo nguồn nhân lực; hợp tác với các tổ chức quốc tế khác
Các nguyên tắc cơ bản của WTO là:
- Không phân biệt đối xử: là nguyên tắc quan trọng nhất của WTO, thể hiện qua hai chế độ là đối xử tối huệ quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT) Đối xử MFN quy định một thành viên phải đối xử bình đẳng với tất cả các thành viên khác Đối xử NT quy định phải dành cho hàng hoá, dịch vụ và
Trang 9doanh nghiệp nước ngoài sự đối xử bình đẳng như dành cho hàng hoá, dịch
vụ và doanh nghiệp trong nước WTO cho phép có ngoại lệ về đối xử MFN
và NT nhưng phải theo đúng quy định của WTO
- Thúc đẩy thương mại quốc tế đối với hàng hoá và dịch vụ thông qua đàm phán dỡ bỏ rào cản giữa các quốc gia: bao gồm cắt giảm thuế nhập khẩu, loại bỏ các biện pháp phi thuế, xử lý các hành vi gây lệch lạc thương mại như trợ cấp, phá giá v.v
- Minh bạch hoá: bao gồm minh bạch về chính sách và minh bạch về tiếp cận thị trường Minh bạch về chính sách yêu cầu mọi quy định có liên quan đến thương mại của một thành viên phải được công bố công khai, dễ tiếp cận, phù hợp với luật lệ của WTO và áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ Đồng thời, phải dành cơ hội thoả đáng cho các bên có liên quan được góp
ý trong quá trình lập quy Minh bạch về tiếp cận thị trường yêu cầu các Thành viên nỗ lực ràng buộc mức trần cho thuế nhập khẩu và đưa ra các cam kết rõ ràng về mở cửa thị trường dịch vụ, giúp cho các doanh nghiệp có thể dự báo
và hoạch định chiến lược kinh doanh
Hệ thống văn kiện pháp lý của WTO bao gồm:
1 Hiệp định thành lập WTO, thường gọi tắt là Hiệp định WTO;
2 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), chuyên điều chỉnh thương mại hàng hoá;
3 Các hiệp định phụ trợ cho GATT (như Hiệp định Nông nghiệp, Hiệp định về hàng rào kỹ thuật đối với thương mại, Hiệp định về các biện pháp đầu
tư liên quan đến thương mại, Hiệp định về xác định trị giá hải quan v v.);
4 Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), chuyên điều chỉnh thương mại dịch vụ;
5 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs);
Trang 106 Thoả thuận về quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp;
7 Cơ chế rà soát chính sách thương mại;
8 Các hiệp định thương mại nhiều bên (Hiệp định về mua bán máy bay dân dụng, Hiệp định về mua sắm chính phủ)
Các văn kiện từ 1 đến 7 được gọi là các văn kiện đa phương, mang tính bắt buộc, các thành viên phải cam kết tuân thủ theo nguyên tắc “chấp nhận cả gói” Với các hiệp định nhiều bên không mang tính bắt buộc, các thành viên được khuyến khích tham gia trên cơ sở tự nguyện Tuy nhiên, các thành viên mới gia nhập từ năm 1995 đều phải tham gia các hiệp định này, chí ít là cũng phải đàm phán và đưa ra cam kết nào đó
1.1.1 Cam kết về thương mại hàng hóa
1 Các thành viên WTO thường yêu cầu nước xin gia nhập phải cam kết: (i) ràng buộc mức trần cho tất cả các dòng thuế trong biểu thuế nhập khẩu của mình; (ii) chỉ dùng thuế nhập khẩu làm công cụ để bảo hộ; và (iii) tại cửa khẩu, ngoài thuế nhập khẩu, không sử dụng phí, lệ phí và các khoản thu khác nhằm mục đích thu ngân sách Tiếp theo là yêu cầu phải giảm thuế, nhất là các mặt hàng đang có thuế suất áp dụng cao Ngoài ra, họ còn yêu cầu các nước xin gia nhập tham gia vào các hiệp định tự do hoá theo ngành để cắt giảm toàn bộ thuế áp dụng cho ngành đó xuống mức 0% (như Hiệp định công nghệ thông tin, Hiệp định về thiết bị máy bay dân dụng, thiết bị y tế) hoặc hài hoà thuế suất ở mức thấp (như Hiệp định hoá chất, Hiệp định hàng dệt may)
Trong đàm phán thuế nhập khẩu với Việt Nam, các thành viên đưa ra yêu cầu rất cao Nếu theo các yêu cầu này, tuyệt đại đa số các dòng thuế sẽ phải giảm xuống 0-5%, chỉ một số ít mặt hàng được duy trì mức 10-20% Thời gian để thực hiện giảm thuế thường không quá 3 năm, tuyệt đại đa số các trường hợp là phải giảm ngay từ khi gia nhập Những mặt hàng được các Thành viên đặc biệt quan tâm là nông sản (như thịt, sữa, đường, lá thuốc lá)
Trang 11và các nhóm hàng thuộc các hiệp định tự do hóa theo ngành (như rượu, bia, sản phẩm công nghệ thông tin, hoá chất, dệt may, thiết bị máy bay dân dụng, thiết bị xây dựng, giấy, cá )
Nguyên tắc cơ bản của ta trong đàm phán thuế nhập khẩu là: không gây biến động lớn đối với sản xuất trong nước, bảo hộ có chọn lọc, có thời hạn và xem xét việc giảm thuế trong bối cảnh đã có các cam kết cắt giảm thuế cho các nước ASEAN (theo CEPT/AFTA) và cho các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc (theo khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do) Ngoài ra, cần nỗ lực duy trì mức độ bảo hộ nhất định đối với một số mặt hàng trọng yếu, có ý nghĩa cơ bản đối với nền kinh tế, những mặt hàng nhạy cảm đối với sản xuất trong nước
2 Mức cam kết chung:
Việt Nam đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế (10.600 dòng) Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4%, thực hiện dần trong vòng 5-7 năm Mức thuế bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9%, thực hiện trong khoảng 5 năm Với hàng công nghiệp, mức bình quân giảm từ 16,8% xuống 12,6%, thực hiện chủ yếu trong vòng từ 5 đến 7 năm [9]
3 Mức cam kết cụ thể:
Có khoảng hơn 1/3 số dòng của biểu thuế sẽ phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20% Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ôtô, xe máy vẫn duy trì được mức bảo hộ nhất định Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện - điện tử Thuế nhập khẩu thịt lợn, thịt bò và phụ phẩm cũng phải cắt giảm ở mức tương đối lớn Ta đạt được mức thuế trần
Trang 12cao hơn mức đang áp dụng đối với các nhóm hàng xăng dầu, kim loại, hoá chất, phương tiện vận tải
Như tất cả các nước mới gia nhập khác, ta cũng cam kết tham gia một
số hiệp định tự do hoá theo ngành Những ngành mà ta cam kết tham gia đầy
đủ là sản phẩm công nghệ thông tin (ITA), dệt may và thiết bị y tế Những ngành mà ta tham gia một phần là thiết bị máy bay, hoá chất và thiết bị xây dựng Thời gian để giảm thuế là từ 3-5 năm
Về hạn ngạch thuế quan, ta bảo lưu quyền áp dụng với đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối Riêng muối là mặt hàng WTO không coi là nông sản, do vậy thường không được áp dụng công cụ hạn ngạch thuế quan nhưng
ta kiên quyết giữ để bảo vệ lợi ích của diêm dân Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch là tương đương mức thuế MFN hiện hành (trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 40-50%, thuốc lá lá 30%, muối ăn 30%) Mức thuế ngoài hạn ngạch cao hơn rất nhiều
1.1.2 Cam kết về thương mại dịch vụ
1 Phần Cam kết chung (còn gọi là Cam kết nền):
Trước hết, công ty nước ngoài không được hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh, trừ phi điều đó được ta cho phép trong từng ngành
cụ thể (những ngành như vậy không nhiều) Ta cũng bảo lưu những ưu đãi đã dành cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài trước khi Việt Nam gia nhập WTO để đảm bảo rằng hoạt động kinh doanh của họ không bị ảnh hưởng bởi các cam kết trong Biểu cam kết dịch vụ Ngoài ra, ta cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng mức mua cổ phần trong từng ngành phải phù hợp với mức độ cam kết của ngành đó trong Biểu cam kết dịch vụ (thí dụ, nếu ngành A ta chỉ cho phép thành lập liên doanh 51% vốn nước ngoài thì tỷ lệ mua cổ phần của nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam thuộc ngành đó cũng không được quá
Trang 1351%) Riêng ngân hàng, ta chỉ cho phép nước ngoài được mua tối đa 30% cổ phần
Ta cho phép công ty nước ngoài đưa cán bộ quản lý và các chuyên gia
có trình độ cao vào làm việc tại Việt Nam theo thông lệ của WTO nhưng tối thiểu 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam Ngoài ra, để được phép vào Việt Nam làm việc, ngoài việc tuân thủ các quy định hiện hành của Việt Nam về thủ tục xuất nhập cảnh và lưu trú, cán bộ quản lý mà công ty nước ngoài đưa vào phải đáp ứng được các tiêu chí được quy định rất
rõ tại phần Cam kết chung
Ta bảo lưu được phạm vi trợ cấp tương đối rộng, trong đó có trợ cấp để tạo công ăn việc làm cho đồng bào thiểu số, trợ cấp vì mục tiêu nghiên cứu và phát triển, trợ cấp cho các doanh nghiệp cổ phần hoá, v v Bảo lưu này rộng hơn nhiều so với cam kết của Trung Quốc khi gia nhập WTO
2 Phần Cam kết cụ thể:
Phần này đưa ra cam kết cho 11 ngành dịch vụ bao gồm: các dịch vụ kinh doanh, dịch vụ thông tin, xây dựng, phân phối, giáo dục, dịch vụ môi trường, dịch vụ tài chính, y tế, du lịch, văn hoá giải trí và dịch vụ vận tải Trong từng ngành lại chia tiếp thành phân ngành và tiểu ngành
Theo phân loại của GATS, ngành dịch vụ này được chia thành 46 phân ngành Ta cam kết 26 phân ngành: Dịch vụ pháp lý, Dịch vụ kế toán, kiểm toán, dịch vụ thuế, Dịch vụ kiến trúc, dịch vụ tư vấn kỹ thuật, Dịch vụ quy hoạch đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị, Dịch vụ máy tính, Dịch vụ quảng cáo, Dịch vụ nghiên cứu phát triển, Dịch vụ nghiên cứu thị trường, Dịch vụ tư vấn quản lý, Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật, Dịch vụ liên quan đến nông nghiệp, săn bắn và lâm nghiệp, Dịch vụ thú y, Dịch vụ liên quan đến khai thác mỏ, Dịch vụ liên quan tư vấn khoa học kỹ thuật, Dịch vụ liên quan đến sản xuất, dịch vụ sửa chữa thiết bị, Dịch vụ chuyển phát nhanh, Dịch vụ
Trang 14viễn thông, Dịch vụ nghe nhìn, Dịch vụ xây dựng, Dịch vụ phân phối, Dịch
vụ giáo dục, Dịch vụ môi trường, Dịch vụ bảo hiểm, Dịch vụ ngân hàng, Dịch
vụ chứng khoán, Dịch vụ y tế, Dịch vụ du lịch, Dịch vụ văn hoá giải trí, Dịch
vụ vận tải
1.2 Nội dung cam kết thuế quan về hàng hóa của Việt Nam khi gia nhập WTO
a Về thuế xuất khẩu
Về thuế xuất khẩu, Việt Nam chỉ cam kết về thuế xuất khẩu đối với duy nhất một nhóm hàng là phế liệu kim loại Cụ thể là:
- Việt Nam sẽ giảm thuế giảm thuế xuất khẩu của phế liệu sắt thép từ 35% xuống 17% trong vòng 5 năm;
- Giảm thuế phế liệu kim loại màu (đồng, nhôm, chì ) từ 40%, 45% xuống 22% trong vòng 5 năm
b Về thuế nhập khẩu
Cam kết về thuế quan của Việt Nam trong WTO như được thể hiện trong Biểu cam kết về Hàng hoá của Việt nam, theo đó Việt Nam cam kết ràng buộc với toàn bộ Biểu thuế nhập khẩu hiện hành gồm 10.600 dòng thuế; Thuế suất cam kết cuối cùng có mức bình quân giảm đi 23% so với mức thuế bình quân hiện hành (thuế suất MFN) của Biểu thuế (từ 17,4% xuống còn 13,4%) Thời gian thực hiện sau 5- 7 năm
Trong toàn bộ Biểu cam kết, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế với khoảng 3.800 dòng thuế (chiếm 35,5% số dòng của Biểu thuế); ràng buộc ở mức thuế hiện hành với khoảng 3.700 dòng (chiếm 34,5% số dòng của Biểu thuế); ràng buộc theo mức thuế trần – cao hơn mức thuế suất hiện hành với 3.170 dòng thuế (chiếm 30% số dòng của Biểu thuế), chủ yếu là đối với các nhóm hàng như xăng dầu, kim loại, hoá chất, một số phương tiện vận tải chuyên dùng Một số mặt hàng đang có thuế suất cao từ trên 20%, 30% sẽ được cắt giảm
Trang 15thuế ngay khi gia nhập Những nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc thiết bị điện-điện tử.[9]
Đối với lĩnh vực nông nghiệp, mức cam kết bình quân là 25,2% vào thời điểm gia nhập và 21,0% sẽ là mức cắt giảm cuối cùng So sánh với mức thuế MFN bình quân đối với lĩnh vực nông nghiệp hiện nay là 23,5% thì mức cắt giảm đi sẽ là 10%
Đối với lĩnh vực công nghiệp, mức cam kết bình quân vào thời điểm gia nhập là 16,1%, và mức cắt giảm cuối cùng sẽ là 12,6% So sánh với mức thuế MFN bình quân của hàng công nghiệp hiện nay là 16,6% thì mức cắt giảm đi sẽ là 23,9%
Mức độ cam kết và cắt giảm thuế của Việt Nam tổng hợp theo một số nhóm ngành hàng và nhóm mặt hàng chính với thời gian thực hiện được cụ thể hoá trong các bảng dưới đây:
Bảng 1.1 - Mức thuế cam kết bình quân theo nhóm ngành hàng chính
Nhóm mặt hàng Thuế suất cam kết tại thời
điểm gia nhập WTO (%)
Thuế suất cam kết cắt giảm cuối cùng cho WTO
Trang 16Nguồn: Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ Tài chính
Bảng 1.2 - Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu theo một số
nhóm mặt hàng chính
TT Ngành hàng/Mức thuế suất Thuế
suất MFN
Thuế suất khi gia nhập
Thuế suất cuối cùng
Thời gian thực hiện
Trang 17- Dệt may (thuế suất bình
quân)
gia nhập (thực tế
đã thực hiện theo
Trang 18hiệp định dệt may với Mỹ
+ Loại khác, thuế suất hiện
Nguồn: Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ Tài chính
Như tất cả các nước mới gia nhập khác, Việt Nam cũng cam kết tham gia vào một số Hiệp định tự do hoá theo ngành Những ngành mà Việt Nam cam kết tham gia đầy đủ là sản phẩm công nghệ thông tin (ITA), dệt may và thiết bị y tế Những ngành mà Việt Nam tham gia một phần là thiết bị máy
Trang 19bay, hoá chất và thiết bị xây dựng Thời gian để thực hiện cam kết giảm thuế
là từ 3-5 năm
Trong các Hiệp định trên, tham gia ITA là quan trọng nhất, theo đó khoảng 330 dòng thuế thuộc diện công nghệ thông tin sẽ phải có thuế suất 0% sau 3-5 năm Như vậy, các sản phẩm điện tử như: máy tính, điện thoại di động, máy ghi hình, máy-ảnh kỹ thuật số… sẽ đều có thuế suất 0%, thực hiện sau 3-5 năm, tối đa là sau 7 năm
Việc tham gia Hiệp định dệt may (thực hiện đa phương hoá mức thuế
đã cam kết theo các Hiệp định dệt may với EU, Hoa Kỳ) cũng dẫn đến giảm thuế đáng kể đối với các mặt hàng này: vải từ 40% xuống 12%, quần áo từ 50% xuống 20%, sợi từ 20% xuống 5%
Bảng 3 dưới đây sẽ đề cập cụ thể về tình hình cam kết theo các Hiệp định tự do hoá theo ngành của Việt Nam trong WTO
Bảng 1.3 - Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hoá theo ngành Hiệp định tự do hoá theo
ngành
Số dòng thuế
T/s MFN (%)
T/s cam kết cuối cùng (%)
1 HĐ công nghệ thông tin
2 HĐ hài hoà hoá chất CH-
3 HĐ thiết bị máy bay dân
4 HĐ dệt may TXT- tham gia
Trang 20c Cam kết về thuế nội địa
Đối với thuế nội địa, nguyên tắc xuyên suốt nhất của WTO là không được quy định mức thuế suất phân biệt đối xử giữa hàng hoá sản xuất trong nước và hàng hoá nhập khẩu và các cam kết của Việt Nam cũng phải tuân thủ theo nguyên tắc này Các nội dung về thuế nội địa được nêu từ điểm 185 đến
199 trong Báo cáo gia nhập WTO của Việt Nam Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam cũng đã tiến hành sửa đổi hai sắc thuế quan trọng là thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt cho phù hợp với các nguyên tắc của WTO, trong đó có vấn đề liên quan đến sự phân biệt đối xử giữa hàng hoá sản xuất trong nước và hàng hoá được nhập khẩu từ nước ngoài
Ngoài ra, theo nguyên tắc của WTO, các quy định liên quan dựa trên thành tích xuất khẩu, tỷ lệ xuất khẩu hay hàm lượng nội địa hoá phải được bãi
bỏ Việt Nam cũng đã cam kết là ngay khi gia nhập, Việt Nam sẽ áp dụng miễn và giảm thuế nhập khẩu đảm bảo đối xử MFN đối với hàng nhập khẩu Việt Nam sẽ không miễn và giảm thuế nhập khẩu dựa trên thành tích xuất khẩu, tỷ lệ xuất khẩu, hay các yêu cầu hàm lượng nội địa hoá
Thuế Giá trị gia tăng (GTGT):
Các quy định về thuế GTGT của Việt Nam hiện hành đều đã phù hợp với nguyên tắc nêu trên của WTO, thể hiện ở Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế GTGT số 57/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc Hội, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2006 Trong
đó, các quy định có tính chất phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất trong nước
và hàng nhập khẩu trước đây đã được bãi bỏ từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, cụ thể:
- Bông nhập khẩu và bông sản xuất trong nước đã được quy định mức thuế suất thuế GTGT thống nhất là 5%
Trang 21- Hàng nông sản và thuỷ sản sơ chế và chưa qua chế biến thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng (không phân biệt hàng sản xuất trong nước hay hàng hoá nhập khẩu)
Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB):
Thuế TTĐB của Việt Nam hiện đang được áp dụng cho 8 loại hàng hoá (Thuốc lá điếu và xì gà; Rượu; Bia; ô tô; Xăng và các chế phẩm pha xăng; Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000BTU trở xuống; Bài lá; Vàng mã, hàng mã) và 5 loại dịch vụ như kinh doanh sân gôn, karaoke Cam kết chung của Việt Nam về thuế tiêu thụ đặc biệt là không phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu Trong đó một số mặt hàng sẽ có lộ trình
để đạt đến cam kết này
Đến nay có chỉ còn 4 điểm trong Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (các đoạn 192, 197, 198 và 199) mà các đối tác nước ngoài còn cho rằng các quy định về thuế tiêu thụ đặc biệt của Việt Nam còn có sự phân biệt đối xử giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu đối với
đồ uống có cồn, và phía Việt Nam đã cam kết sẽ thực hiện khi trở thành thành viên của WTO, cụ thể như sau:
- Tại điểm 192: "Lưu ý rằng Việt Nam sản xuất vodkas và whiskey 39
độ cồn, một số thành viên cho rằng thuế TTĐB của Việt Nam đối với rượu trên thực tế phân biệt đối xử với hàng nhập khẩu Các thành viên đề nghị Việt Nam áp dụng thuế TTĐB bình đẳng với tất cả các loại bia"
- Tại điểm 197: "Một số thành viên lưu ý rằng thuế tuyệt đối tính trên một lít nồng độ cồn nguyên chất là cách để đảm bảo không phân biệt đối xử
và yêu cầu được coi là một bộ phận của cam kết của Việt Nam về thuế tiêu thụ đặc biệt… Một số thành viên lưu ý Việt Nam cần thay đổi luật pháp của mình để làm cho chế độ thuế TTĐB phù hợp với nghĩa vụ của Việt Nam với WTO… Đại diện Việt Nam lưu ý rằng trở thành thành viên WTO, Việt Nam
Trang 22duy trì chủ quyền để thực hiện chính sách thuế minh bạch, không phân biệt đối xử nhằm hỗ trợ các mục tiêu chính sách trong nước và phù hợp với nghĩa
vụ theo hiệp định WTO"
- Tại điểm 198: "Đại diện của VN khẳng định rằng trong vòng 3 năm
kể từ ngày gia nhập WTO, tất cả các loại rượu được chưng cất có nồng độ từ
20 độ cồn trở lên sẽ chịu một mức thuế tuyệt đối tính theo lít của rượu cồn nguyên chất hoặc một mức thuế phần trăm Ban công tác ghi nhận những cam kết này"
- Tại điểm 199: "Đại diện của Việt Nam khẳng định rằng, trong vòng 3 năm sau khi gia nhập, Việt Nam sẽ áp dụng một mức thuế phần trăm với tất
cả các sản phẩm bia, không phân biệt bao bì đóng gói sản phẩm, nghĩa là bia tươi, bia hơi, bia chai hoặc bia lon Ban công tác ghi nhận cam kết này"
d Về ưu đãi, miễn giảm thuế
Liên quan đến vấn đề ưu đãi thuế, hiện nay hệ thống pháp luật của Việt nam có rất nhiều quy định về miễn, giảm thuế Tuy nhiên, phần lớn các quy định này không dựa trên thành tích xuất khẩu, tỷ lệ xuất khẩu hay yêu cầu về nội địa hoá mà chủ yếu là để thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành nghề, lĩnh vực và địa bàn cần khuyến khích đầu tư như các lĩnh vực công nghệ cao, lĩnh vực sử dụng nhiều lao động, vào vùng núi, vùng sâu, vùng xa Các ưu đãi này chủ yếu được thực hiện thông qua: áp dụng thuế suất ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (với mức thuế ưu đãi là 25%, 20%, 15% và 10%
so với mức thuế suất phổ thông là 28%), miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong một thời gian, miễn thuế nhập khẩu đối với một số chủng loại hàng hoá nhất định Các quy định này được thể hiện cụ thể trong các văn bản pháp luật về thuế của Việt Nam như Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Từ 1/1/2006 chính sách ưu đãi miễn thuế nhập khẩu đã áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh tế mà không phân
Trang 23biệt là đối tượng hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài hay Luật khuyến khích đầu tư trong nước
Trong Báo cáo về gia nhập WTO của Việt Nam, Việt Nam cũng đã cam kết loại bỏ tất cả các quy định liên quan đến miễn, giảm thuế không phù hợp với các nguyên tắc của WTO Cụ thể, tại đoạn 177, Việt Nam đã cam kết:
“Ngay khi gia nhập, Việt Nam sẽ áp dụng miễn và giảm thuế nhập khẩu đảm bảo đối xử MFN đối với hàng nhập khẩu Việt Nam sẽ không miễn và giảm thuế nhập khẩu dựa trên thành tích xuất khẩu, tỷ lệ xuất khẩu, hay các yêu cầu hàm lượng nội địa hoá” [8]
Các cam kết mà Việt Nam sẽ phải thực hiện cụ thể liên quan đến chính sách miễn thuế nhập khẩu trong WTO cụ thể là:
- Bỏ miễn, giảm thuế dành riêng cho các dự án đầu tư khuyến khích xuất khẩu, trong đó thực hiện từ khi gia nhập với các dự án mới và tất cả các
DN dệt may; và thực hiện 5 năm với các dự án đã cấp phép
- Bỏ quy định bắt buộc xuất khẩu đối với các doanh nghiệp khu Chế xuất;
- Bỏ chính sách ưu đãi thuế nhập khẩu theo chương trình nội địa hoá
e Cam kết về phí và lệ phí hải quan
Quy định của WTO liên quan đến phí, lệ phí:
i) Mức thu phí, lệ phí không được phân biệt đối xử giữa đối tượng nộp
là người trong nước với người nước ngoài;
ii) Mức thu phí, lệ phí chỉ bằng chi phí dịch vụ bỏ ra, không nhằm mục đích thu ngân sách nhà nước Các loại phí, lệ phí liên quan đến xuất nhập khẩu cần được hạn chế ở mức tối đa và không được quy định mức thu theo tỷ
lệ phần trăm (%) trên trị giá hàng nhập khẩu, không được phân biệt mức thu theo khối lượng hàng hoá, theo loại hàng hoá khác nhau, theo loại phương tiện hay theo quãng đường vận chuyển, để đảm bảo thực hiện đúng quy định tại Điều VIII của GATT năm 1994
Trang 24Nội dung cam kết của Việt Nam:
Việt Nam tiến hành rà soát hệ thống phí, lệ phí để sửa đổi những văn bản có quy định mức thu còn phân biệt đối xử giữa đối tượng nộp là người trong nước với người nước ngoài; sửa đổi chính sách phí, lệ phí liên quan đến xuất nhập khẩu (phí, lệ phí trong lĩnh vực hải quan; phí giám định văn hoá phẩm xuất nhập khẩu) đảm bảo phù hợp với Điều VIII của GATT năm 1994
1.3 Lộ trình thực hiện các cam kết cắt giảm thuế quan về hàng hóa theo WTO
1.3.1 Năm 2007
Từ 11/1/2007 thực hiện cắt giảm thuế đối với trên 1.800 dòng thuế Trong đó bao gồm các nhóm hàng chính: hàng dệt may, đồ sứ, thuỷ tinh kính, đồng hồ các loại, hoa, cây cảnh, một số loại rau, chè, một số loại dầu thực vật, thịt chế biến, bánh kẹo các loại, bia, mỹ phẩm các loại, xà phòng, sản phẩm nhựa gia dụng, giấy in báo, quạt điện, thiết bị lọc nước
Mức cắt giảm của các loại hàng hoá trên từ 1% đến 30% tuỳ theo từng loại hàng, chủ yếu là 2 - 3% Mặt hàng dệt may là mặt hàng có mức cắt giảm lớn nhất, cụ thể: sợi giảm từ 20% xuống 5%; vải giảm từ 40% xuống 12% và quần áo giảm từ 50% xuống 20%
1.3.2 Năm 2008
Theo cam kết WTO, năm 2008 phải thực hiện cắt giảm thuế khoảng trên 1700 dòng thuế theo Danh mục mới, đó là những mặt hàng thuộc 26 ngành hàng, cụ thể: nông thổ sản, rau quả tươi, cà phê, chè, dầu thực vật, thịt chế biến; bia; rượu; thuốc lá, xi măng với mức giảm thêm từ 1% đến 6% tuỳ theo mặt hàng, trong đó đa số các mặt hàng bị cắt giảm thêm 2 - 3%
Trong năm 2008, mức cắt giảm đối với tất cả các mặt hàng thực hiện theo lộ trình giảm dần, không có mặt hàng nào bị cắt giảm đột biến như mặt hàng dệt may trong năm 2007
Trang 25CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CAM KẾT THUẾ QUAN VỀ HÀNG HOÁ TRONG WTO VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG
ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
2.1 Tình hình thực hiện các cam kết thuế quan về hàng hóa của Việt Nam
2.1.1 Về thuế xuất khẩu
Để thực hiện các cam kết này, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 67/2006/QĐ-BTC ngày 05/12/2006 về việc điều chỉnh mức thuế suất thuế xuất khẩu đối với một số nhóm hàng Đồng thời Chính phủ cũng đã trình Quốc hội ban hành Nghị Quyết số 295/2007/NQ-UBTVQH12
về việc ban hành Biểu khung thuế xuất khẩu, Biểu khung thuế nhập khẩu ưu đãi Theo đó, điều chỉnh giảm mức thuế trần và sàn đối với nhóm mặt hàng phế liệu sắt thép: từ 30- 40% xuống 10-30%; phế liệu kim loại màu từ 40-50% xuống còn 10-40% phù hợp với cam kết gia nhập WTO.[5]
Trang 26- Quyết định số 78/2006/QĐ-BTC ngày 29/12/2006 về việc sửa đổi thuế suất nhập khẩu ưu đãi của một số nhóm mặt hàng để thực hiện Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam
Ngoài ra, do phải thực hiện cắt giảm thuế nên một số mức thuế suất trần và mức thuế suất sàn của khung thuế suất hiện hành cao hơn mức thuế suất cam kết trong WTO Vì vậy, Chính Phủ cũng đã trình Uỷ ban Thường
vụ Quốc Hội ban hành Nghị Quyết số 295/2007/NQ-UBTVQH12 ngày 28/9/2007 về việc ban hành Nghị Quyết về Biểu khung thuế xuất khẩu, Biểu khung thuế nhập khẩu ưu đãi để nội luật hoá các cam kết trong WTO, tránh trường hợp các quốc gia khác cho rằng ta đã vi phạm cam kết Việc ban hành Biểu khung thuế xuất khẩu, Biểu khung thuế nhập khẩu ưu đãi mới cũng là để thực hiện Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Theo đó:
- Giảm mức thuế suất trần khung của hơn 1.100 nhóm hàng, chiếm 94% trong Biểu khung thuế nhập khẩu ưu đãi phù hợp với cam kết gia nhập WTO và những nhóm hàng mà mức khung thuế suất hiện hành cao hơn nhiều so với thực tế áp dụng
- Giảm mức thuế suất sàn khung của khoảng 200 nhóm hàng, chiếm khoảng 16,5% trong Biểu khung thuế nhập khẩu ưu đãi để phù hợp với cam kết gia nhập WTO và lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu trong điều kiện thực hiện các cam kết quốc tế, đồng thời góp giảm thuế đầu vào đối với những nhóm nguyên vật liệu phục vụ sản xuất
Để thực hiện các cam kết về cắt giảm WTO cho từng năm, Bộ Tài chính phối hợp cùng các Bộ, ngành liên quan xây dựng ban hành Biểu thuế
Trang 27xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi hàng năm hoặc theo lộ trình cho một
số năm để đảm bảo thực hiện đúng các cam kết trong WTO về cắt giảm thuế nhập khẩu, cụ thể từ năm 2007 đến nay như sau:
- Quyết định số 39/2006/QĐ-BTC ngày 28/7/2006 về việc ban hành Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi
- Quyết định số 106/2007/QĐ-BTC ngày 28/12/2007 về việc ban hành Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi
2.1.3 Về thuế nội địa
Để phù hợp với các nguyên tắc của WTO, Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật thuế TTĐB và Luật thuế GTGT số 57/2005/QH11 đã được Quốc Hội khoá 11 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2006 Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 156/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 sửa đổi, bổ sung các Nghị định chi tiết thi hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng Theo đó:
- Từ năm 2006, quy định mức thuế suất thuế TTĐB thống nhất cho ô
tô (không phân biệt ô tô nhập khẩu và ô tô sản xuất trong nước); cụ thể: (i) ô
tô từ 5 chỗ ngồi trở xuống 50%; (ii) ô tô từ 6 đến 15 chỗ ngồi 30%; (iii) ô tô
từ 16 đến dưới 24 chỗ ngồi 15%
- Thuốc lá điếu: từ 2006 đến 2007 55%; từ 2008 65% (không phân biệt thuốc lá được sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu hay nguyên liệu sản xuất trong nước).[8]
Với các nội dung sửa đổi nói trên, đối với mặt hàng rượu và bia, hiện tại Việt Nam vẫn đang quy định mức thuế suất khác nhau cho từng chủng loại bia, rượu Cụ thể như sau:
- Rượu từ 40 độ trở lên, quy định mức thuế 65%; rượu từ 20 độ đến dưới 40 độ quy định mức thuế 30%; rượu dưới 20 độ, rượu hoa quả, rượu thuốc 20 độ quy định mức thuế 20%
Trang 28- Bia chai, bia hộp quy định mức thuế 75%; Bia hơi, bia tươi, năm 2005-2006 quy định mức thuế suất 30%, năm 2008 quy định mức thuế suất 40%
Đối với hai mặt hàng này, để thực hiện yêu cầu của WTO nêu ở đoạn
198 và đoạn 199 của Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt nam gia nhập WTO đề cập ở trên, Việt Nam đã cam kết trong vòng 3 năm kể từ ngày gia nhập, tất cả các loại rượu chưng cất có nồng độ cồn từ 20 độ trở lên sẽ chịu một mức thuế tuyệt đối hoặc một mức thuế phần trăm duy nhất Tương tự mặt hàng bia cũng đã cam kết trong vòng 3 năm kể từ ngày gia nhập, Việt Nam sẽ áp dụng một mức thuế suất phần trăm thống nhất cho tất cả các sản phẩm bia không phân biệt bao bì đóng gói sản phẩm, nghĩa là bia tươi, bia hơi, bia chai hoặc bia lon
Để thực hiện các cam kết này, trong năm 2008, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (sửa đổi) sẽ được Quốc hội thông qua vào kỳ họp cuối năm Nội dung sửa đổi Luật này đã được đưa vào Nghị Quyết xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2008 và nhiệm kỳ 2008-2011 của Quốc Hội khoá 12
2.1.4 Về ưu đãi, miễn giảm thuế
Để thực hiện các cam kết nói trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/02/2007 thay thế Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003, Nghị định số 152/2004/NĐ-CP ngày 6/8/2004 của Chính phủ Theo đó, các quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trước đây không phù hợp với các nguyên tắc của WTO nói trên đã được bãi bỏ
Riêng về các quy định liên quan đến các quy định về thuế ưu đãi thuế xuất khẩu tại Nghị định số 149/2005/NĐ-CP ngày 08/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vẫn còn quy định miễn thuế nhập khẩu đối với các dự án có liên quan đến tỷ lệ xuất khẩu, các quy định này đã được bãi bỏ trên cơ sở áp dụng các danh mục khuyến khích
Trang 29đầu tư theo Nghị định 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật đầu tư mới, trong đó các liên quan đến tỷ lệ xuất khẩu sẽ không còn trong Danh mục dự
án yêu cầu tỷ lệ xuất khẩu
Liên quan đến việc chính sách ưu đãi thuế nhập khẩu theo chương trình nội địa hoá, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 02/2007/QĐ-BTC
2.1.5 Về phí và lệ phí hải quan
a) Thời gian qua, Việt Nam đã tiến hành rà soát và sửa đổi các khoản thu phí, lệ phí có mức thu phân biệt đối xử giữa đối tượng nộp là người trong nước với người nước ngoài, theo nguyên tắc áp dụng chung mức thu, không phân biệt đối xử giữa đối tượng nộp là người trong nước với người nước ngoài Cụ thể là đã sửa đổi quy định về phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không theo Quyết định số 69/2006/QĐ-BTC ngày 07/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí,
lệ phí trong lĩnh vực hàng không
b) Để đảm bảo chính sách thu phí, lệ phí liên quan đến xuất nhập khẩu phù hợp với Điều VIII của GATT năm 1994, Việt Nam đã sửa đổi chính sách thu phí, lệ phí trong lĩnh vực hải quan và phí giám định văn hoá phẩm xuất nhập khẩu:
(1) Về phí giám định văn hoá phẩm xuất nhập khẩu: Không phân biệt mức thu giữa hàng mậu dịch và hàng phi mậu dịch; mức thu không tính theo
tỷ lệ % giá trị lô hàng; chỉ tính theo từng lần giám định của từng sản phẩm theo quy định của pháp luật về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu văn hoá phẩm (không tính theo tổng số lượng sản phẩm của lô hàng), tiền phí thu được để lại toàn bộ cho cơ quan thu phí trang trải chi phí phục vụ công việc, dịch vụ thu phí, đảm bảo phù hợp với Điều VIII của GATT năm 1994 mà phía đối tác trong đàm phán yêu cầu Dự kiến tác động: người có văn hoá phẩm xuất
Trang 30nhập khẩu sẽ nộp phí ít hơn trước Đã được sửa đổi tại Quyết định số 68/2006/QĐ-BTC ngày 06/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định nội dung và
lệ phí cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu văn hoá phẩm
(2) Về phí, lệ phí trong lĩnh vực hải quan:
Phí, lệ phí hải quan trước đây được thực hiện theo Quyết định số 64/2005/QĐ-BTC ngày 15/9/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, bao gồm 5 khoản phí, lệ phí:
1 Lệ phí làm thủ tục hải quan
2 Lệ phí áp tải hải quan
3 Lệ phí hàng hoá, hành lý, phương tiện vận tải quá cảnh Việt Nam
4 Phí lưu kho hải quan
5 Phí niêm phong, kẹp chì hải quan
Các khoản phí, lệ phí hải quan theo Quyết định số 64/2005/QĐ-BTC
có mức thu phân biệt theo loại hàng hoá (hàng hoá thông thường, hàng đựng trong container, hàng là ô tô xe máy), đồng thời lại phân biệt theo phương tiện vận chuyển (chở bằng tầu thuỷ, ô tô, tàu hoả) và phân biệt theo quãng đường vận chuyển (càng dài thì phải nộp lệ phí nhiều hơn) Không thu lệ phí làm thủ tục đối với hàng xuất khẩu Cơ quan hải quan được sử dụng 90%, nộp ngân sách 10%
Các bên đối tác trong đàm phán cho rằng quy định như vậy chưa phù hợp với Điều VIII của GATT là: không vì mục đích thu ngân sách nhà nước, mức thu chỉ vừa đủ bù đắp chi phí và được không phân biệt theo loại hàng hoá, theo khối lượng hàng hoá, theo loại phương tiện hay theo quãng đường vận chuyển Đề nghị Việt Nam sửa đổi phí, lệ phí hải quan cho phù hợp
Thực hiện cam kết gia nhập WTO theo đề nghị sửa đổi của các đối tác trong đàm phán nêu trên, Bộ Tài chính đã có Quyết định số 73/2006/QĐ-
Trang 31BTC ngày 18/12/2006 về việc quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực hải quan (thay thế cho Quyết định số 64/2005/QĐ-BTC) với nội dung đảm bảo phù hợp với cam kết Theo đó, giảm số mức thu phí, lệ phí, không quy định mức thu theo tỷ lệ phần trăm (%) trên trị giá hàng nhập khẩu, không phân biệt mức thu theo khối lượng hàng hoá, theo loại hàng hoá khác nhau, theo loại phương tiện hay theo quãng đường vận chuyển, tiền phí lệ phí thu được để lại toàn bộ cho cơ quan thu phí, lệ phí trang trải chi phí phục vụ công việc, dịch vụ thu phí, lệ phí, đảm bảo phù hợp với Điều VIII của GATT năm 1994 mà phía đối tác trong đàm phán yêu cầu Đã được sửa đổi tại Quyết định số 73/2006/QĐ-BTC ngày 18/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực hải quan
2.2 Tác động việc thực hiện các cam kết thuế quan về hàng hóa đối với nền kinh tế Việt Nam
2.2.1 Tác động vĩ mô
2.2.1.1 Tác động tới số thu Ngân sách nhà nước (NSNN)
* Đối với thu Ngân sách:
Việt Nam không gặp phải vấn đề nghiêm trọng đối với nguồn thu ngân sách như nhiều quốc gia khác Thâm hụt ngân sách vẫn nằm trong tầm kiểm soát của Chính phủ cho dù tỷ trọng nguồn thu từ thuế nhập khẩu giảm
Việc giảm thuế nhập khẩu sẽ dẫn đến giảm thu ngân sách từ thuế nhập khẩu nhưng sẽ không có đột biến lớn vì: (i) Tổng thu từ thuế xuất nhập khẩu hiện chỉ chiếm khoảng dưới 10% tổng thu ngân sách (dự kiến năm 2008, số thu từ thuế xuất nhập khẩu là 21.500 nghìn tỷ trong tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 323.000 tỷ đồng); (ii) số lượng các mặt hàng giảm thuế chỉ chiếm trên dưới 10% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng năm, trong những năm cuối của lộ trình cắt giảm thì kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng này cũng
Trang 32chỉ chiếm khoảng 20% Việc giảm thuế được thực hiện theo lộ trình bình quân 5 năm nên số thu từ thuế nhập khẩu giảm khoảng 1.500– 1.800 tỷ/năm; (iii) việc gia nhập WTO với những cơ hội về thu hút đầu tư, thị trường mở rộng, sản xuất – kinh doanh sẽ phát triển, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nên, nguồn thu mới được tạo ra cùng với sự tăng trưởng kinh tế có thể bù lại mức giảm thu về thuế xuất nhập khẩu Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, những thay đổi của thị trường và việc cải cách hệ thống chính sách thuế trong điều kiện hội nhập cũng sẽ làm thay đổi cơ cấu nguồn thu (giữa các địa phương, các khu vực kinh tế, giữa các lĩnh vực hoạt động khác nhau và giữa các sắc thuế khác nhau ) Tuy nhiên con số trên chỉ là số ước tính trong điều kiện tĩnh với cơ cấu kim ngạch, giá cả hàng hoá không có biến động lớn Thực tế năm 2007 cho thấy mặc dù cắt giảm thuế nhưng số thu tăng mạnh do kim ngạch tăng, giá tăng và các khoản thu khác (thuế TTĐB, thuế GTGT) đều tăng.[11]
Thực tế năm 2007, trong điều kiện phát sinh nhiều khó khăn (thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, kéo dài, giá cả tăng) và là năm đầu gia nhập WTO, song nhiệm vụ thu NSNN đã được hoàn thành toàn diện, tổng thu NSNN đạt 315,9 nghìn tỷ đồng, vượt 12,1% so với dự toán, tăng 16,9%
so với năm 2006 Những tác động tới thu NSNN sau một năm gia nhập WTO về cơ bản nằm trong phạm vi đã dự kiến, và trong một số lĩnh vực thì ảnh hưởng tích cực của quá trình hội nhập lớn hơn những ảnh hưởng tiêu cực Các doanh nghiệp trong nước đã tích cực hơn trong đối mới quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm; kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nhanh, thị trường xuất khẩu tiếp tục được mở rộng; nguồn vốn đầu tư phát triển ưu đãi (ODA) và FDI đạt mức cao nhất từ trước tới nay , qua đó tạo thêm cơ sở tăng nguồn lực cho phát triển và nguồn thu cho NSNN, mà kết quả là cả thu nội địa và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu năm 2007 đều hoàn thành vượt
Trang 33mức dự toán NSNN đã được Quốc hội quyết định (tương ứng vượt 14,8% và 21,6% so với dự toán)
Sáu tháng đầu năm 2008, mặc dù phát sinh nhiều nhiều yếu tố bất lợi
từ cả trong nước và ngòai nước, kinh tế thế giới biến động, giá cả nhiều mặt hàng là nguyên liệu đầu vào quan trọng của nền kinh tế (xăng, dầu, sắt thép ) tăng cao, nhưng tổng thu cân đối NSNN vẫn đạt khá so với dự toán (đạt 60,6%) và tăng lớn so với cùng kỳ năm 2007 ( tăng 40,8%), trong đó: thu nội địa đạt 56,7% dự toán, tăng 37,3%; thu từ dầu thô đạt 64,3% dự toán, tăng 40,8%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 67,8%
dự toán, tăng 53,7% so với cùng kỳ 2007
* Đối với chi Ngân sách:
Đối với năm 2007, quá trình hội nhập gần như không có tác động đến chi NSNN; việc điều hành chi đã bám sát dự toán được Quốc hội quyết định Đồng thời, nhờ thu ngân sách vượt so với dự toán, kết hợp với nguồn dự phòng đã bố trí, NSNN có điều kiện để tăng nguồn lực đầu tư phát triển (tăng 12,8% so với dự toán), tăng kinh phí thực hiện nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, xã hội (tăng 8% so với
dự toán) Cơ cấu chi ngân sách tiếp tục có bước tiến bộ, dành khoảng 31% tổng chi cân đối NSNN cho đầu tư phát triển; tăng chi phát triển giáo dục, y
tế, văn hóa xã hội
Từ tháng 1/2008 đến nay, ảnh hưởng của hội nhập đến chi NSNN đã có biểu hiện rõ hơn Do biến động của thị trường thế giới và tình hình lạm phát của nhiều quốc gia trên thế giới, lạm phát trong nước đã gia tăng với tốc độ lớn, tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân Để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, chính sách chi ngân sách đã có những điều chỉnh theo hướng: Thắt chặt đầu tư từ nguồn NSNN, cắt giảm đầu tư từ nguồn trái
Trang 34phiếu Chính phủ (giảm 25% so với kế hoạch), tập trung nâng cao hiệu quả vốn đầu tư của nhà nước, thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên
2.2.1.2 Tác động tới cán cân thương mại
1 Tổng quan về tình hình xuất nhập khẩu năm 2007 và 9 tháng đầu năm 2008
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hoá trong năm 2007 đạt 111,2
tỷ USD, tăng 31,3% so với năm 2006, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 48,5 tỷ USD, tăng 21,9%; nhập khẩu đạt 62,7 tỷ USD, tăng xấp xỉ 40%, cao gấp gần 2 lần tốc độ tăng xuất khẩu Tốc độ tăng nhanh của nhập khẩu so với xuất khẩu đã làm cho nhập siêu năm 2007 tăng lên mức cao nhất so với các năm trước đó (hơn 14 tỷ USD), gấp 2,8 lần của nhập siêu năm 2006 và hơn 12 lần năm 2001.[10]
Trong tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước là 62,7 tỷ USD có 15 nhóm mặt hàng có kim ngạch trên 1 tỷ USD, riêng nhóm máy móc, thiết bị nhập khẩu trên 10 tỷ USD Các nhóm hàng có tỷ trọng nhập khẩu lớn chủ yếu là
tư liệu sản xuất Nhu cầu nhập khẩu những mặt hàng này tăng mạnh xuất phát từ sự tăng trưởng của nền kinh tế Ví dụ, nguyên phụ liệu phục vụ ngành dệt may và da giày, tăng 24,9% so với năm 2006
Tình hình nhập khẩu 9 tháng đầu năm 2008 tiếp tục có chiều hướng tương tự như các tháng cuối năm 2007
Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng ước đạt 64,4 tỷ USD, tăng 48,3% so với cùng kỳ năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 48,6 tỷ USD, tăng 39,4% so với cùng kỳ năm 2007 Nhập siêu 9 tháng là 15,8 tỷ USD, bằng 32,6% so với kim ngạch xuất khẩu Về cơ cấu hàng nhập khẩu 9 tháng đầu năm 2008, những mặt hàng nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn chủ yếu vẫn là tư liệu sản xuất cần thiết nhập khẩu cho nhu cầu sản xuất trong nước, cụ thể như sau:
Trang 35- Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu 10,502 tỷ USD, tăng 35,4% so với cùng kỳ năm 2007
- Xăng dầu nhập khẩu 9,754 tỷ USD, tăng 82,9% so với cùng kỳ năm 2007(về lượng chỉ tăng khoảng 10,2%)
- Sắt, thép đạt 4,205 tỷ USD, tăng 96,2% so với cùng kỳ năm 2007(về lượng chỉ tăng khoảng 31%);
- Máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 2,647 tỷ USD, tăng 31
Với thực tế nói trên, có thể thấy nhập siêu trong năm 2007 và ước 9 tháng đầu năm 2008 tăng mạnh so với trước chủ yếu xuất phát từ các nguyên nhân sau:
Một là, nhu cầu sử dụng nguyên nhiên, vật liệu, vật tư linh kiện phục
vụ cho sản xuất tăng mạnh Những nhóm hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng nhanh trong năm 2007 chủ yếu là nhóm hàng thiết bị máy móc, tư liệu sản xuất Nhu cầu nhập khẩu những mặt hàng này tăng mạnh chủ yếu xuất phát
từ sự tăng trưởng của nền kinh tế, nhất là nhu cầu sử dụng các loại hàng hoá,
tư liệu sản xuất mà trong nước không sản suất được
Hai là, trong thời gian qua giá cả của nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới liên tục tăng cao kéo theo sự gia tăng về kim ngạch nhập khẩu Ví
Trang 36dụ, lượng phôi thép nhập khẩu trong năm 2007 chỉ tăng 10,8% so với năm
2006, song kim ngạch lại tăng 47% (Giá phôi thép bình quân năm 2007 tăng 32,7% so với năm 2006), Xăng dầu nhập vào Việt Nam năm 2007 tăng 14,6% về lượng nhưng kim ngạch nhập khẩu tăng 26,7% ; Urê nhập khẩu năm 2007 chỉ tăng 1,7% về lượng nhưng kim ngạch nhập khẩu tăng 13,8%
so với năm 2006
Ba là, trước sức ép của lạm phát, trong năm 2007 nhiều nhóm hàng tiếp tục được điều chỉnh giảm thuế để thực hiện bình ổn giá như một số sản phẩm điện lạnh, thực phẩm, sữa và sản phẩm từ sữa, thức ăn chăn nuôi Những điều chỉnh cắt giảm thuế này đã kéo theo sự gia tăng đáng kể về kim ngạch nhập khẩu, nhất là đối với mặt hàng ô tô (hiện nay thuế suất thuế ô tô
đã được điều chỉnh tăng trở lại với mức 83%)
Ngoài ra như đã trình bày ở trên, năm 2007 và những tháng đầu năm
2008 Việt Nam bắt đầu thực hiện các cam kết về cắt giảm thuế theo lộ trình cam kết với WTO Việc cắt giảm thuế tuy có dẫn đến sự gia tăng về kim ngạch nhập khẩu, song không lớn vì những mặt hàng thuộc diện cắt giảm thời gian qua chủ yếu là những mặt hàng trong nước sản xuất được và mức thuế suất trước và sau khi cắt giảm vẫn tương đối cao
2 Tác động của cắt giảm thuế theo cam kết WTO đến kim ngạch nhập khẩu
Qua số liệu thông kê về nhập khẩu năm 2007 và 9 tháng đầu năm
2008 cho thấy việc giảm thuế nhập khẩu theo cam kết trong WTO tuy có dẫn đến tăng kim ngạch nhập khẩu của các mặt hàng thuộc diện giảm thuế, song mức tăng không nhiều và không phải là nguyên nhân chủ yếu làm tăng nhập siêu của năm 2007 và trong những tháng đầu năm 2008 Cụ thể là :
- Về tỷ trọng, tổng kim ngạch nhập khẩu của hơn 1800 dòng thuế đã được cắt giảm thuế để thực hiện cam kết trong WTO cho năm 2007 chỉ vào
Trang 37khoảng 6,469 tỷ USD, chiếm khoảng 10,3% tổng kim ngạch nhập khẩu của
cả nước Đối với 3 tháng đầu năm 2008, thì kim ngạch của những mặt hàng
có mức thuế suất cắt giảm so với mức thuế suất năm 2007 để thực hiện các cam kết trong WTO chỉ chiếm khoảng 9,07% tổng kim ngạch nhập khẩu của quý 1 năm 2008
- Về tốc độ tăng, so với năm 2006, tổng kim ngạch của những mặt hàng đã được cắt giảm thuế từ 1/1/2007 (sau khi đã loại trừ 20% kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN đủ điều kiện được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt vì
có C/O form D) chỉ tăng thêm khoảng 1,12 tỷ USD, tăng khoảng 21,7% So với tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước năm 2007 là 39,6% thì mức tăng này còn thấp hơn mức tăng chung
- Về cơ cấu, trong các nhóm hàng thuộc diện cắt giảm thuế trong năm
2007 thì nhóm hàng nguyên phụ liệu cho ngành dệt may có mức tăng cao nhất với kim ngạch năm 2007 tăng khoảng 791 triệu so với năm 2006 Thực
tế đây là nhóm hàng có mức cam kết cắt giảm nhiều nhất Đối với sản phẩm dệt may, Việt Nam đã cam kết ràng buộc ngay tại thời điểm gia nhập với tất
cả các dòng thuế thuộc nhóm này Sự gia tăng kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu dệt may không phải hoàn toàn là do yếu tố giảm thuế Một yếu tố khác làm tăng kim ngạch của nhóm hàng này là do sự tăng trưởng nhanh về kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm dệt may trong năm 2007 (tăng gần 25%, trong khi đó năm 2006 xuất khẩu sản phẩm dệt may chỉ tăng khoảng 19%)
Do nguyên liệu nghành dệt may nhập khẩu chủ yếu được dùng để sản xuất hàng xuất khẩu, nên thuế cao hay thấp không tác động nhiều đến gia tăng nhập siêu
Xe cộ và phương tiện vận tải là nhóm hàng hoá thuộc diện cắt giảm thuế có mức tăng về kim ngạch đứng thứ hai, tăng khoảng 103 triệu so với năm 2006 Tuy nhiên, phần lớn sự gia tăng này là do việc Nhà nước tiếp tục
Trang 38thực hiện điều chỉnh giảm thuế vào tháng 8 và tháng 10 năm 2007 đối với xe chở người nguyên chiếc nguyên chiếc (thấp hơn so với mức cho phép trong WTO) để thực hiện các giải pháp bình ổn thị trường, chứ không phải là do tác động của việc giảm thuế theo lộ trình cam kết (thuế ô tô đã tăng trở lại)
Từ phân tích trên có thể kết luận là việc giảm thuế theo lộ trình cam kết trong WTO tuy có làm gia tăng kim ngạch, song mức tăng không lớn Nguyên nhân chủ yếu là do:
Thứ nhất, những mặt hàng thuộc diện cắt giảm trong thời gian qua chủ yếu là những mặt hàng có mức thuế suất áp dụng tại thời điểm trước khi cắt giảm tương đối cao (trên 20%) Ngoài ra những mặt hàng thuộc diện cắt giảm thuế trong thời gian vừa qua là sản phẩm thực phẩm, nông sản, rau quả, các sản phẩm thực phẩm chế biến, đồ uống Đây là những mặt hàng trong nước sản xuất được, thị trường nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc và ASEAN, mức thuế suất đã được giảm xuống 5% từ các năm trước Ví dụ, trong khoảng 1700 dòng thuế có mức thuế suất giảm năm 2008 thì có 510 dòng thuế là các sản phẩm thuộc nhóm này Mức cắt giảm cũng phần lớn là
là từ 1% đến 3% (khoảng 1120 dòng có mức giảm từ 1% cho đến 3%, trong
đó 847 dòng thuế có mức giảm từ 1% đến 2%) Trong 580 dòng thuế có mức cắt giảm từ 4% thì có khoảng 40% số dòng thuế có mức thuế suất áp dụng trước thời điểm cắt giảm là từ 30% trở lên.[11]
Thứ hai, về cơ cấu thị trường nhập khẩu thì những mặt hàng cắt giảm thuế để thực hiện cam kết trong WTO như sản phẩm điện tử, điện lạnh, chủ yếu được nhập từ một số nước trong ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc Đây
là những quốc gia mà Việt nam đã ký kết các hiệp định cắt giảm thuế trong khuôn khổ các khu mậu dịch tự do (FTA) Mức thuế suất thuế nhập khẩu áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu từ các quốc gia này hiện đang ở mức thấp hơn hoặc bằng mức thuế suất MFN và trong tương lai sẽ tiếp tục được giảm
Trang 39xuống (hiện nay nhập khẩu từ ASEAN chỉ chịu mức thuế suất 5%) Theo đó, việc giảm thuế nhập khẩu ưu đãi đối với những mặt hàng này trong WTO sẽ không tác động nhiều đến việc tăng kim ngạch nhập khẩu
Thực tế này cũng đã cho thấy, nếu ta không chủ động có các giải pháp điều chỉnh kịp thời thì theo dự đoán trong tương lai khi thực hiện lộ trình cắt giảm thuế trong khuôn khổ các FTA nói trên, kim ngạch nhập khẩu từ quốc gia có ký kết FTA với Việt Nam sẽ tiếp tục tăng mạnh Việc thực hiện các cam kết đã ký kết, đang đàm phán và sẽ đàm phán mới chính là vấn đề đáng
lo đối với nhập siêu của Việt Nam trong tương lai chứ không phải là cắt giảm trong WTO Năm 2007, 2008 mức cắt giảm trong FTA với Trung Quốc, Hàn Quốc mới chỉ bắt đầu, với Ấn Độ mới đang đàm phán nhưng nhập siêu từ các nước này đã tăng mạnh (năm 2007: nhập siêu từ Trung Quốc là 9,1 tỷ USD; từ Hàn Quốc là 4 tỷ USD ; Ấn Độ 1,2 tỷ USD; Quý I năm 2008 : nhập siêu từ Trung Quốc là 3,3 tỷ USD, Hàn Quốc là 1,44 tỷ USD, Ấn Độ là 673 triệu USD) Trong những năm tới khi phải thực hiện một cách sâu rộng các FTA đã và đang đàm phán thì tốc độ nhập siêu có thể tăng nhanh chóng nếu không có các biện pháp khác ngoài thuế Đây là vấn
đề mà Việt nam cần phải đặc biệt chú ý khi lựa chọn đối tác đàm phán FTA mới
Thứ ba, những mặt hàng nguyên liệu, máy móc, linh kiện phụ tùng có kim ngạch nhập khẩu lớn trong các năm như đã phân tích ở trên vẫn là những mặt hàng không phải thực hiện cắt giảm thuế vì mức thuế thực tế áp dụng đã ở mức thấp trong một thời gian dài và thấp hơn cả mức cam kết trần trong WTO
2.2.1.3 Tác động tới hoạt động đầu tư nước ngoài
Trong năm 2007 và 11 tháng đầu năm 2008, cả nước thu hút được 2.753 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng 81,3 tỷ USD (bao
Trang 40gồm cả vốn đăng ký và tăng vốn), trong đó năm 2007 đạt 21,3 tỷ USD, tăng 73% so với năm 2006 ; 11 tháng đầu năm 2008 đạt trên 60 tỷ USD, gấp hơn
3 lần cùng kỳ năm 2007 Cụ thể tình hình thực hiện vốn FDI tại Việt Nam như sau :
Theo lĩnh vực: Trong năm 2007, vốn đầu tư đăng ký (cấp mới và tăng
vốn) tiếp tục tập trung trong lĩnh vực công nghiệp, chiếm 54,9% tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ, chiếm 44,5% Số còn lại thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
Theo đối tác đầu tư: Trong năm 2007 có 55 quốc gia và vùng lãnh thổ
đầu tư tại Việt Nam, trong đó Hàn Quốc tiếp tục giữ vị trí đứng đầu với số vốn đăng ký (cấp mới và tăng vốn) 5,3 tỷ USD, chiếm 25,2% về tổng vốn đăng ký British Virgin Islands đứng thứ 2, chiếm 20,6%; Singapore đứng thứ 3, chiếm 12,04%; Đài Loan đứng thứ 4, chiếm 11,6%; Nhật Bản đứng thứ 5, chiếm 6,4%; Malaysia đứng thứ 6, chiếm 5,5% ; Trung Quốc đứng thứ 7, chiếm 2,6% (cộng cả Hồng Kông sẽ chiếm 5,5%) và Hoa Kỳ (không tính các dự án đầu tư qua nước thứ 3) đứng thứ 8, chiếm 1,8%; Thái Lan đứng thứ 10 chiếm 1,3% tổng vốn đăng ký
Theo cơ cấu vùng: Trừ dầu khí, trong năm 2007 cả nước có 56 địa
phương thu hút được dự án ĐTNN, trong đó 10 địa phương dẫn đầu Đó là:
Hà Nội đứng đầu với số vốn đăng ký 2,5 tỷ USD, chiếm 11,8% tổng vốn đầu
tư đăng ký; Đồng Nai đứng thứ 2, chiếm 11,3%; TP Hồ Chí Minh đứng thứ
3, chiếm 10,6% ; Bình Dương đứng thứ 4, chiếm 10,5% về tổng vốn đầu tư