1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực cạnh tranh dịch vụ logictics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO

122 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO
Tác giả Lê Thị Minh Thảo
Người hướng dẫn TS. Trần Sỹ Lâm
Trường học Trường đại học ngoại thương
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 660,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

66 Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO……….. Xuất phát từ thực tiễn trên,

Trang 1

Lª thÞ minh th¶o

N©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh dÞch vô logistics cña c¸c doanh nghiÖp giao nhËn vËn t¶I viÖt nam

trong thêi kú héi nhËp wto

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hµ néi - 2008

Trang 2

Lª thÞ minh th¶o

N©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh dÞch vô logistics cña c¸c doanh nghiÖp giao nhËn vËn t¶I viÖt nam

trong thêi kú héi nhËp wto

Chuyªn ngµnh: qu¶n trÞ kinh doanh

Trang 3

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Sỹ Lâm, mặc dù rất bận với công tác chuyên môn của mình, nhưng đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin được gửi lời cám ơn chân thành tới Trường Đại học Ngoại thương, Khoa Sau Đại học cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Trường Đại học Ngoại thương đã trang bị những kiến thức, giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học này

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn tới Công ty VINATRANS HANOI, NYK Logistics, APL Logistics, Thamico, Vinafco… đã cung cấp cho tôi những tài liệu và thông tin hữu ích liên quan đến đề tài

Tôi xin chân thành cám ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ

và tạo điều kiện về thời gian cũng như vật chất để tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành khóa luận của mình

Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu ngắn, khả năng cá nhân còn nhiều hạn chế, trong khi đó phạm vi đề tài rộng, lĩnh vực nghiên cứu còn khá mới mẻ, vì vậy, khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự đồng cảm và góp ý của các nhà khoa học, các thầy cô giáo, đồng nghiệp cũng như đông đảo bạn đọc, giúp cho khóa luận được hoàn thiện hơn

Trang 4

Mục lục

Trang Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng biểu

Lời mở đầu……… 1

Chương 1: Tổng quan về năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics……… 3

1.1 Tổng quan về dịch vụ logistics……… 3

1.1.1 Khái quát về dịch vụ logistics……… 3

1.1.1.1 Khái niệm dịch vụ logistics……… 3

1.1.1.2 Các loại hình logistics chủ yếu……… 4

1.1.1.3 Vai trò của dịch vụ logistics……… 6

1.1.2 Nhà cung cấp dịch vụ logistics……… 11

1.1.2.1 Khái niệm nhà cung cấp dịch vụ logistics……… 11

1.1.2.2 Một số loại hình nhà cung cấp dịch vụ logistics……… 12

1.1.2.3 Dịch vụ logistics do các LSP cung cấp……… 13

1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dịch vụ trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay……… 16

1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp……… 16

1.2.2 Các yếu tố cấu thành và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dịch vụ……… 17

1.2.2.1 Khả năng duy trì và mở rộng thị phần của doanh nghiệp dịch vụ……… 17

1.2.2.2 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm……… 18

1.2.2.3 Năng lực duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dịch vụ……… 18

1.2.2.4 Khả năng thích ứng và đổi mới của doanh nghiệp………… 19

1.2.2.5 Khả năng thu hút nguồn nhân lực……… 19 1.2.2.6 Khả năng liên kết và hợp tác của các doanh nghiệp dịch vụ… 19

Trang 5

1.2.2.7 Chỉ tiêu tổng hợp về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

dịch vụ……… 20

1.2.3 Các yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp…… 20

1.2.3.1 Các nhân tố bên trong của doanh nghiệp……… 21

1.2.3.2 Các nhân tố bên ngoài của doanh nghiệp……… 23

1.3 Tình hình phát triển logistics tại một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam……… 27

1.3.1 Tình hình phát triển logistics tại một số nước……… 27

1.3.1.1 Tình hình phát triển logistics của Trung Quốc……… 27

1.3.1.2 Tình hình phát triển logistics của Singapore……… 30

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam……… 33

Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam……… 35

2.1 Tổng quan về thị trường dịch vụ logistics Việt Nam……… 35

2.1.1 Cầu dịch vụ logistics trên thị trường Việt Nam……… 35

2.1.2 Cung dịch vụ logistics tại Việt Nam……… 37

2.1.2.1 Thành phần doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics tại Việt Nam……… 37

2.1.2.2 Giới thiệu chung về hệ thống dịch vụ logistics tại Việt Nam 39

2.1.2.3 Tình hình cung cấp dịch vụ logistics của các công ty logistics nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam……… 42

2.1.2.4 Tình hình cung cấp dịch vụ logistics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam……… 45

2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các công ty giao nhận vận tải Việt Nam……… 49

2.2.1 Tình hình thực hiện các chỉ tiêu năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam……… 49

2.2.1.1 Thị phần và năng lực chiếm lĩnh thị trường……… 49

Trang 6

2.2.1.2 Năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics……… 51

2.2.1.3 Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp GNVT Việt Nam… 54

2.2.1.4 Khả năng thu hút nguồn lực……… 54

2.2.1.5 Khả năng liên kết và hợp tác……… 57

2.3 Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam……… 58

2.3.1 Quy mô và tổ chức doanh nghiệp……… 58

2.3.2 ứng dụng công nghệ thông tin……… 59

2.3.3 Nguồn nhân lực……… 60

2.4 Thực trạng về môi trường kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam…… 60

2.4.1 Hệ thống khuôn khổ pháp lý cho dịch vụ logistics ở Việt Nam…… 60

2.4.2 Cơ chế tổ chức quản lý……… 62

2.4.3 Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị cho dịch vụ logistics……… 63

2.4.4 Cở sở hạ tầng công nghệ thông tin và thương mại điện tử………… 65

2.4.5 Đánh giá chung môi trường kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam……… 66

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO……… 67

3.1 Xu hướng phát triển logistics trên thế giới và xu hướng phát triển của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam……… 67

3.1.1 Xu hướng phát triển logistics trên thế giới……… 67

3.1.2 Xu hướng phát triển của các công ty giao nhận vận tải Việt Nam… 72

3.2 Cơ hội và thách thức đối với phát triển dịch vụ logistics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO……… 73

3.2.1 Cơ hội……… 73

3.2.2 Thách thức……… ……… 75

Trang 7

3.3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các doanh

3.3.1.2 Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ để hướng tới phát triển

3.3.2 Xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị hiện đại……… 793.3.3 ứng dụng thương mại điện tử và các phương pháp quản trị

3.4 Một số kiến nghị đối với Nhà nước để hỗ trợ phát triển ngành dịch vụ

3.4.1 Xây dựng chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ logistics…… 833.4.2 Hệ thống hóa pháp luật và chính sách điều tiết hoạt động logistics… 843.4.3 Đầu tư kết cấu hạ tầng và phương tiện kỹ thuật hỗ trợ cho sự phát

3.4.3.3 Đầu tư và khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin…… 88

3.4.5 Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hoạt động logistics………… 903.4.6 Thúc đẩy sự liên kết giữa các doanh nghiệp giao nhận vận tải

Trang 8

3.4.6.1 KhuyÕn khÝch liªn kÕt gi÷a c¸c doanh nghiÖp giao nhËn

Tµi liÖu tham kh¶o

Phô lôc

Trang 9

B¶ng Néi dung Trang

B¶ng 2.1 So s¸nh dÞch vô logistics ®−îc cung cÊp logistics n−íc ngoµi 43

Trang 10

Ký hiệu viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt

EDI Electronic Data Interchange Trao đổi dữ liệu điện tử

Trang 11

lời mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhờ sự hỗ trợ mạnh mẽ của CNTT, trên thế giới, logistics đã phát triển rất nhanh chóng và ngành dịch vụ này đã trở thành ngành kinh doanh hấp dẫn với sự lớn mạnh không ngừng của các công ty logistics bên thứ ba

ở Việt Nam, trong mấy năm gần đây, logistics đang là ngành dịch vụ mang lại nguồn lợi hàng tỷ USD Tuy nhiên, nguồn lợi này không nằm trong tay các doanh nghiệp Việt Nam mà lại đang chảy về túi của các công ty nước ngoài Vì vậy cần phải làm sao để phát triển dịch vụ logistics trong các doanh nghiệp GNVT Việt Nam, tận dụng lợi thế cạnh tranh để khai thác mảng thị trường hấp dẫn này

Là thành viên của WTO, theo cam kết từ năm 2009, Việt Nam sẽ mở cửa cho các công ty 100% vốn nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh logistics Vì vậy, các doanh nghiệp GNVT Việt Nam cần có một sự chuẩn bị vững chắc, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trước sự xâm nhập ồ ạt của các doanh nghiệp nước ngoài ngay khi chúng ta ra nhập sân chơi chung

Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh

tranh dịch vụ logistics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam trong

2 Tình hình nghiên cứu

Tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết và hội thảo liên quan đến logistics Tuy nhiên các nghiên cứu này còn chung chung, chưa đi sâu vào phân tích thực tế cũng như những yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics trong các doanh nghiệp GNVT Việt Nam và chưa có tác giả nào chọn đề tài này để nghiên cứu Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng cũng như đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các doanh nghiệp GNVT Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên của WTO và đang phải thực hiện cam kết của mình

3 Mục đích nghiên cứu

- Hệ thống hóa lý thuyết về dịch vụ logistics và năng lực cạnh tranh

Trang 12

- Phân tích năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các doanh nghiệp GNVT Việt Nam

- Nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các doanh nghiệp GNVT Việt Nam

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Về lý luận: Phân tích rõ vai trò của dịch vụ logistics và nâng cao năng lực

cạnh tranh dịch vụ logistics của các doanh nghiệp GNVT

- Về thực tế: Đưa ra thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các

doanh nghiệp GNVT Việt Nam và từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các doanh nghiệp GNVT Việt Nam

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các doanh

nghiệp GNVT Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu việc triển khai và ứng dụng dịch vụ logistics

của các doanh nghiệp GNVT Việt Nam trong những năm gần đây

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích,

so sánh,…

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần lời mục lục, lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, và phụ lục luận văn được kết cấu thành gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics

Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các doanh

nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của

các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO

Sau đây là nội dung của Luận văn

Trang 13

Chương 1 tổng quan về năng lực cạnh tranh

dịch vụ Logistics

1.1 Tổng quan về dịch vụ logistics

1.1.1 Khái quát về dịch vụ logistics

1.1.1.1 Khái niệm dịch vụ logistics

Thuật ngữ logistics trên thế giới đã khá phát triển nhưng tại Việt Nam thuật ngữ này còn tương đối mới mẻ Nhiều người chỉ hiểu logistics là một hoạt động tương đối đặc thù có liên quan chặt chẽ với việc vận tải và giao nhận hàng hóa XNK Nhưng trên thực tế, khái niệm này còn rộng hơn rất nhiều, logistics được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, xã hội, quân sự…

Thuật ngữ “logistics” lần đầu tiên được sử dụng trong quân đội, mang nghĩa là

“hậu cần” hoặc “tiếp vận” Cùng với quá trình phát triển, logistics đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng trong giao thương quốc tế

Theo Hội đồng Quản lý Logistics của Mỹ (The Council of Logistics Management - CLM): “Logistics là một phần của quá trình cung ứng dây chuyền bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lưu thông hiệu quả và lưu giữ các loại hàng hóa và dịch vụ và có liên quan đến thông tin từ điểm cung cấp cơ bản đến các địa điểm tiêu thụ một cách hiệu năng, hiệu quả để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng”

Khác với thuật ngữ “logistics”, thuật ngữ “dịch vụ logistics” chưa được đề cập nhiều đến trong các tài liệu trên thế giới Ngược lại, ở Việt Nam, khái niệm logistics lại không được bàn tới, Luật Thương mại 2005 (Điều 233) chỉ đưa ra định nghĩa về

dịch vụ logistics: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân

tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng,

đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”

Trang 14

Luật Thương mại 2005 coi dịch vụ logistics gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa, những người kinh doanh cung cấp một trong các dịch vụ như nhận hàng, vận chuyển, làm thủ tục hải quan… thì đều được coi là nhà cung cấp dịch vụ logistics Dịch vụ logistics theo cách định nghĩa này có bản chất là một hoạt

động tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ Theo đó, dịch vụ logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo khái niệm này không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO)

Nếu cho rằng một doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh bất kỳ một trong nhiều công việc trên thì đều được xem là đã kinh doanh dịch vụ logistics thì sẽ dẫn

đến hệ quả là doanh nghiệp chỉ cần kinh doanh bất kỳ dịch vụ vận chuyển, lưu kho, làm thủ tục hải quan… trên nguyên tắc cũng bị xem là họ kinh doanh dịch vụ logistics và phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh mà pháp luật đặt ra đối với việc kinh doanh dịch vụ logistics (mức vốn điều lệ 10 tỷ đồng đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics)

Dịch vụ logistics ở đây phải được hiểu là một dịch vụ liên hoàn của nhiều dịch

vụ, các dịch vụ này thuộc các giai đoạn từ tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng Theo đó, dịch vụ logistics gắn liền với cả giai đoạn nhập nguyên, nhiên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông và phân phối

1.1.1.2 Các loại hình dịch vụ logistics chủ yếu

Theo Hiệp định Thương mại chung về lĩnh vực dịch vụ (GATS-The General Agreement on Trade in Services) của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO thì dịch

vụ logistics được chia thành 3 nhóm như sau:

• Các dịch vụ logistics lõi (Core freight logistics services)

Dịch vụ logistics lõi chiếm phần lớn trong tổng chi phí logistics, mang tính quyết định đối với các dịch vụ khác và cần phải tiến hành tự do hóa để thúc đẩy sự lưu chuyển dịch vụ bao gồm: dịch vụ làm hàng, dịch vụ lưu kho, dịch vụ đại lý vận tải và các dịch vụ hỗ trợ khác Dịch vụ logistics chủ yếu bao gồm:

- Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;

Trang 15

- Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;

- Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa;

- Dịch vụ hỗ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container

• Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải (Related freight logistics services)

Dịch vụ logistics có liên quan tới vận tải: Các dịch vụ có liên quan tới cung cấp

có hiệu quả dịch vụ logistics tích hợp cũng như cung cấp môi trường thuận lợi cho hoạt động của dịch vụ logistics bên thứ 3 phát triển gồm có:

- Dịch vụ vận tải hàng hải;

- Dịch vụ vận tải thủy nội địa;

- Dịch vụ vận tải hàng không;

- Dịch vụ vận tải đường sắt;

- Dịch vụ vận tải đường bộ;

- Dịch vụ vận tải đường ống

• Các dịch vụ logistics thứ yếu hoặc mang tính bổ trợ (Non - core freight

logistics services)

- Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật;

- Dịch vụ bưu chính;

- Dịch vụ thương mại bán buôn;

- Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối và giao hàng;

- Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác

Các nhà làm luật Việt Nam cũng tham khảo Hiệp định này để xây dựng điều khoản về phân loại dịch vụ logistics trong Nghị định 140/2007/NĐ - CP

Trang 16

1.1.1.3 Vai trò của dịch vụ logistics

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới theo hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, dịch vụ logistics ngày càng đóng vai trò hết sức quan trọng thể hiện những điểm sau:

- Dịch vụ logistics là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC-Global Value Chain) như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế

Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc

mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản

lý coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của doanh nghiệp Thế giới ngày nay được nhìn nhận như các nền kinh tế liên kết, trong đó các doanh nghiệp mở rộng biên giới quốc gia và khái niệm quốc gia về thương mại chỉ đứng hàng thứ 2 so với hoạt động của các doanh nghiệp

- Dịch vụ logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện,… tới sản phẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng

Từ thập niên 70 của thế kỷ XX, liên tiếp các cuộc khủng hoảng năng lượng buộc các doanh nghiệp phải quan tâm tới chi phí, đặc biệt là chi phí vận chuyển Trong nhiều giai đoạn, lãi suất ngân hàng cũng cao khiến các doanh nghiệp có nhận thức sâu sắc hơn về vốn, vì vốn bị đọng lại do việc duy trì quá nhiều hàng tồn kho Chính trong giai đoạn này, cách thức tối ưu hóa quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển hàng hóa được đặt lên hàng đầu Và với sự trợ giúp của CNTT, logistics chính là một công cụ đắc lực để thực hiện điều này

- Dịch vụ logistics hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà quản lý phải giải quyết nhiều bài toán hóc búa về nguồn nguyên liệu cung ứng, số lượng và thời điểm hiệu quả để bổ sung nguồn nguyên liệu, phương tiện, và hành trình vận tải, địa điểm, kho bãi chứa thành phẩm, bán thành phẩm… Để giải quyết những vấn đề này một cách có hiệu

Trang 17

quả không thể thiếu vai trò của dịch vụ logistics cho phép nhà quản lý kiểm soát và quyết định chính xác về các vấn đề nêu trên để giảm tối đa chi phí phát sinh, đảm bảo hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh

- Dịch vụ logistics đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo yếu tố đúng thời gian, và địa điểm (Just – in - Time)

Quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế đã làm cho hàng hóa và sự vận động của chúng phong phú và phức tạp hơn, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt ra yêu cầu mới

đối với dịch vụ vận tải giao nhận Đồng thời, để hạn chế hàng tồn kho, doanh nghiệp phải làm sao để lượng hàng tồn kho luôn là nhỏ nhất Kết quả là hoạt động lưu thông nói chung và hoạt động logistics nói riêng phải đảm bảo yêu cầu giao hàng

đúng lúc, kịp thời, mặt khác phải đảm bảo mục tiêu khống chế lượng hàng tồn kho ở mức tối thiểu Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT cho phép kết hợp chặt chẽ quá trình cung ứng, sản xuất, lưu kho hàng hóa, tiêu thụ với vận tải giao nhận, làm cho cả quá trình này trở nên hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn

- Dịch vụ logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp

Theo thống kê của một số tổ chức nghiên cứu về logistics cũng như Viện nghiên cứu logistics của Mỹ cho biết, chi phí cho hoạt động logistics chiếm tới khoảng 10 - 13% GDP ở các nước phát triển, con số này ở các nước đang phát triển thì cao hơn khoảng 15 - 20% Theo thống kê của một nghiên cứu, hoạt động logistics trên thị trường Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ bình quân là 33%/năm

và ở Brazil là 20%/năm [9] Điều này cho thấy chi phí cho logistics là rất lớn Vì vậy, với việc hình thành và phát triển dịch vụ logistics sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được chi phí trong chuỗi logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn Giảm chi phí trong sản xuất, quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Thực tế những năm qua tại các nước Châu Âu, chi phí logistics đã giảm xuống rất nhiều và còn xu hướng giảm nữa trong các năm tới

Trang 18

- Dịch vụ logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân phối

Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chi phí lưu thông Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải, chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo số liệu thống kê của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc (UNCTAD) thì chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10 - 15% giá FOB, hay 8 - 9% giá CIF Mà vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics cho nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm

và giảm chi phí lưu thông Nếu tính cả chi phí vận tải, tổng chi phí logistics (bao gồm đóng gói, lưu kho, vận tải, quản lý…) ước tính chiếm tới 20% tổng chi phí sản xuất ở các nước phát triển, trong khi đó, nếu chỉ tính riêng chi phí vận tải có thể chiếm tới 40% giá trị xuất khẩu của một số nước không có đường biển [9]

Qua Bảng 1.1 ta thấy, việc thuê ngoài dịch vụ logistics đã đem lại những lợi ích không nhỏ cho tất cả các công ty, dù công ty đó ở nước phát triển hay kém phát triển Chẳng hạn, ở khu vực Châu Mỹ La Tinh, doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ logistics trung bình đã giảm được 16% chi phí logistics so với việc doanh nghiệp không thuê ngoài dịch vụ logistics Nếu thuê ngoài logistics, doanh nghiệp cũng giảm được 25% chi phí cố định đầu tư cho hoạt động logistics so với việc không thuê ngoài dịch vụ Vì doanh nghiệp không phải đầu tư vào mua sắm tài sản cố định phục vụ hoạt động logistics như: kho bãi, phương tiện vận chuyển, phương tiện xếp

dỡ trong kho… Doanh nghiệp có thể tiết kiệm được các chi phí này để hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường Về thời gian, chu kỳ trung bình của một đơn hàng là 10,2 ngày Nhưng nếu doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ logistic, chu kỳ giảm xuống còn 6,8 ngày, rút ngắn được 3 - 4 ngày Tương tự như vậy với khu vực khác

Như vậy, logistics đã góp phần làm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả quản lý, từ

đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 19

- Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận

Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy Trước kia, người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản, thuần túy và đơn lẻ Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại một loại sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau, vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từ người kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và phong phú Người vận tải giao nhận ngày nay đã triển khai cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế của khách hàng Họ trở thành người cung cấp dịch vụ logistics (Logistics Service Provider) Rõ ràng, dịch vụ logistics đã góp phần làm gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận

Theo kinh nghiệm ở những nước phát triển cho thấy, thông qua việc sử dụng dịch vụ logistics trọn gói, các doanh nghiệp sản xuất có thể rút ngắn thời gian từ lúc nhận đơn hàng cho đến lúc giao sản phẩm cho khách hàng từ 5 - 6 tháng xuống còn

2 tháng Kinh doanh dịch vụ này có tỷ suất lợi nhuận cao gấp 3 - 4 lần sản xuất và gấp từ 1 - 2 lần các dịch vụ ngoại thương khác

Bảng 1.1: Lợi ích từ hoạt động thuê ngoài

Lợi ích

Tất cả

các khu vực

Bắc Mỹ

Châu

Âu

Châu á Thái Bình Dương

Châu

Mỹ La Tinh

The State of Logistics Outsourcing-2007 third-party logistics, 2007

Trang 20

- Dịch vụ logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế

Sản xuất là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinh doanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất và kinh doanh quan tâm Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ logistics Dịch vụ logistics có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra Dịch vụ logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp

- Dịch vụ logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế

Thực tiễn, một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại giấy tờ, chứng từ Theo ước tính của Liên Hiệp Quốc, chi phí về giấy tờ để phục vụ mọi mặt giao dịch thương mại trên thế giới hàng năm đã vượt quá 420 tỷ USD [9] Theo tính toán của các chuyên gia, riêng các loại giấy tờ, chứng từ rườm rà hàng năm khoản chi phí tiêu tốn cho nó cũng chiếm tới hơn 10% kim ngạch mậu dịch quốc tế, ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động buôn bán quốc tế Logistics đã cung cấp các dịch vụ đa dạng trọn gói đã có tác dụng giảm rất nhiều các chi phí cho giấy

tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế Dịch vụ logistics do người kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã loại bỏ đi rất nhiều chi phí cho giấy tờ thủ tục, nâng cấp và chuẩn hóa chứng từ cũng như giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, từ đó nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế

Ngoài ra, cùng với việc phát triển logistics điện tử (Electronic Logistics) sẽ tạo

ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặt không gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và lưu thông

Trang 21

1.1.2 Nhà cung cấp dịch vụ logistics

1.1.2.1 Khái niệm nhà cung cấp dịch vụ logistics

Hiện nay trên thế giới có nhiều khái niệm về nhà cung cấp dịch vụ logistics nhưng tựu chung đều coi nhà cung cấp dịch vụ logistics (Logistics Service Provider-LSP) là các công ty độc lập tự thiết kế, thực hiện và quản lý những nhu cầu logistics trong chuỗi cung cấp của khách hàng

Luật Thương mại 2005 (Điều 234) đưa ra khái niệm về nhà cung cấp dịch vụ

logistics như sau: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ

điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật”

Các điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics được nêu lên trong Nghị định 140/2007/NĐ-CP, đây là quy định chi tiết Luật Thương mại 2005 về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch

vụ logistics Với vai trò là tài liệu bổ sung hướng dẫn thi hành Luật Thương mại

2005, Nghị định 140/2007/NĐ-CP đã chia người kinh doanh dịch vụ logistics thành hai đối tượng đó là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nói chung và thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics:

“Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là thương nhân tổ chức thực hiện dịch vụ logistics cho khách hàng bằng cách tự mình thực hiện hoặc thuê lại thương nhân khác thực hiện một hoặc nhiều công đoạn của dịch vụ đó”

“Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics là thương nhân thuộc các nước, vùng lãnh thổ mà Việt Nam có cam kết trong các điều ước quốc tế về mở cửa thị trường kinh doanh dịch vụ logistics”

Theo cách phân biệt này thì các điều kiện đối với những đối tượng kinh doanh dịch vụ logistics khác nhau là khác nhau Các thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics ngoài việc phải đáp ứng các điều kiện của một thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nói chung còn phải đáp ứng các điều kiện về tỷ lệ vốn góp tối đa của nhà đầu tư nước ngoài và không được thực hiện dịch vụ vận tải đường ống

Trang 22

1.1.2.2 Một số loại hình nhà cung cấp dịch vụ logistics

Căn cứ vào phân công lao động và tính chuyên nghiệp của các doanh nghiệp có các mô hình nhà cung cấp dịch vụ logistics (LSP – Logistics Service Provider) như sau:

- Logistics bên thứ nhất (1PL - First Party Logistics):

Người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân Chủ hàng phải đầu tư vào mua sắm phương tiện vận tải, tự xây dựng hoặc thuê kho chứa hàng, đầu tư hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động logistics Thông thường áp dụng hoạt động logistics theo cách này thường làm giảm hiệu quả kinh doanh vì doanh nghiệp không có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm cũng như trình độ chuyên môn, thêm nữa việc đầu tư quá lớn cho quản lý và vận hành hoạt động logistics sẽ làm cho doanh nghiệp phải phân tán nguồn lực

- Logistics bên thứ hai (2PL - Second Party Logistics):

Nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng Điều đáng lưu ý là 2PL không cung cấp dịch vụ logistics trọn gói mà chỉ là những hoạt động đơn lẻ, chưa có

sự tích hợp hoạt động logistics Loại hình này bao gồm các hãng vận tải đường biển,

đường bộ, đường hàng không, các công ty trung gian thanh toán, khai thuê hải quan, kinh doanh kho bãi…

- Logistics bên thứ ba (3PL - Third Part Logistics):

Dịch vụ logistics bên thứ ba là việc thuê ngoài các hoạt động logistics của một công ty Theo như Website Supply Chain Vision, nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba là một công ty cung cấp các dịch vụ logistics mang tính chiến thuật đa chiều cho khách hàng Những công ty này sẽ hỗ trợ thúc đẩy dòng chảy thiết bị và nguyên liệu từ nhà cung ứng đến nhà sản xuất, và sản phẩm cuối cùng từ nhà sản xuất đến nhà phân phối và bán lẻ Các dịch vụ mang tính chiến thuật này thường cơ bản gồm vận tải, dịch vụ kho bãi, gom hàng nhanh (Cross - Docking), quản lý tồn kho, đóng gói hay GNVT So với 2PL chỉ cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong

Trang 23

chuỗi logistics thì dịch vụ logistics do 3PL cung cấp gồm nhiều hoạt động và có sự tích hợp vào chuỗi cung ứng của khách hàng

- Logistics bên thứ tư (4PL - Forth Party Logistics):

Người tích hợp (Integrator) - người hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng

và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics 4PL chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải.… 4PL hướng đến quản trị cả quá trình logistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất, nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng

Gần đây, cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, người ta đã nói đến khái niệm dịch vụ logistics bên thứ năm (5PL - Fifth Party Logistics) 5PL phát triển nhằm phục vụ cho thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ 5PL là các nhà cung cấp dịch vụ 3PL và 4PL, đứng ra quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng trên nền tảng thương mại điện tử

1.1.2.3 Dịch vụ logistics do các LSP cung cấp

Các dịch vụ do các LSP cung cấp ngày càng đa dạng và phát triển theo hướng thỏa mãn tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng Ngoài các dịch vụ cơ bản của logistics, các LSP còn cạnh tranh gay gắt đưa ra ngày càng nhiều loại hình dịch vụ

độc đáo, mang tính chuyên nghiệp cao, được thiết kế dành riêng cho từng loại khách hàng (specialized hay tailor - made) Có thể liệt kê dịch vụ logistics do các LSP cung cấp thành các nhóm dịch vụ chủ yếu sau:

• Nhóm dịch vụ thiết kế và hoạch định chiến lược logistics cho các doanh

Trang 24

• Nhóm dịch vụ logistics đầu vào (Inbound logistics):

+ Kitting: Quản lý công đoạn lựa chọn, đóng gói và chuyên chở các bộ phận, linh kiện chưa lắp ráp tới dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp

+ Quality control / Quality assuarance: Tiến hành kiểm tra chất lượng tại kho

và loại bỏ các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn, chuyên chở ngược lại cho nhà sản xuất để thay thế các linh kiện không đảm bảo chất lượng

+ Sequencing: Sắp xếp các bộ phận, vật tư cho một dây chuyền sản xuất theo thứ tự cụ thể để tiện sản xuất và đóng gói

+ Milk runs: Tối ưu hóa dòng vận chuyển hàng hóa bằng cách gom hàng và giao hàng cho nhiều khách hàng trong cùng một ngành Thay vì vận chuyển hàng hóa từ A tới B và ngược lại, các LSP sẽ thiết kế một lộ trình phức hợp với nhiều

điểm bốc xếp hàng, kết hợp nhiều đơn hàng từ nhiều khách hàng tại cùng một thời

điểm Mục đích là sử dụng tối đa năng lực chuyên chở của phương tiện và tiết kiệm chi phí vận tải

+ VIM (Vendor Inventory Management): Tiến hành gom hàng từ nhiều nhà cung cấp nhỏ lẻ những mặt hàng hay vật tư cần thiết cho quá trình sản xuất và kinh doanh của khách hàng, lưu kho, và phân phối tới khách hàng

• Nhóm dịch vụ hỗ trợ sản xuất (Manufacturing Support):

+ Sub-assembly: áp dụng đối với các ngành điện tử, ô tô, hàng tiêu dùng nhanh Công ty logistics sẽ đảm nhận luôn công việc lắp ráp các bộ phận cơ bản của sản phẩm từ các linh kiện đơn lẻ

+ Inventory planning: Lên kế hoạch và kiểm soát quá trình lưu kho với các hệ thống quản lý kho hiện đại nhất đảm bảo tối ưu lượng dự trữ và giảm thiểu chi phí + JIT, kitting, sequencing…

+ Packing/Labelling: Đóng gói và dán nhãn hàng hóa

• Nhóm dịch vụ logistics đầu ra (Outbound Logistics / Warehousing and

Distribution):

Với hệ thống kho hiện đại và quy mô lớn, các công ty logistics có thể đảm nhiệm lưu kho thành phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng với chi phí thấp

Trang 25

Ngoài ra, theo yêu cầu của khách hàng các công ty này còn cung cấp một số dịch vụ kho đặc biệt như:

+ Contract warehousing (kho thuê hợp đồng);

+ Dedicated warehousing (kho thuê chuyên dụng);

+ Multi - user warehousing (kho công cộng);

+ Bonded warehousing (kho ngoại quan);

+ Automated warehousing (kho tự động);

+ Cross - docking (kho đa năng)…

• Nhóm dịch vụ giao nhận vận tải và gom hàng liên quan đến toàn bộ dòng lưu

chuyển của vật tư và hàng hóa:

+ Ocean/Air freight (vận tải đường biển, đường hàng không), FCL/ LCL;

+ Dedicated contract carriage (chuyên chở theo hợp đồng chuyên dụng);

+ Intermodal services (vận chuyển đường bộ bằng xe tải và đường sắt);

+ Merge – in - Transit: áp dụng cho các công ty nhập bộ phận hoàn chỉnh từ nhiều nhà cung cấp, công ty logistics sẽ kết hợp đầu vào và đầu ra của dây chuyền cung ứng một cách ăn khớp và hiệu quả, tiến hành lắp ráp thành sản phẩm cuối cùng

và giao trực tiếp cho khách hàng;

+ Customer services (dịch vụ khai hải quan)

• Nhóm dịch vụ sau bán hàng (Aftermarket Logistics):

Các LSP có thể giúp khách hàng quản lý các yếu tố phát sinh sau giao dịch, bao gồm một số dịch vụ:

+ Returns logistics: Quản lý quá trình thu hồi các hàng phế phẩm, tái chế hoặc hủy bỏ giúp khách hàng;

+ Repair: Tiếp nhận và sửa chữa thành phẩm hoặc bộ phận;

+ Reverse logistics: Thiết kế và quản lý dòng vật liệu hoặc thiết bị không sử dụng ngược trở lại dây chuyền cung ứng;

+ Call centres: Tiếp nhận đơn hàng và đăng ký giao hàng giúp khách hàng

Trang 26

• Dịch vụ logistics hàng đầu (Lead logistics provider):

Thay mặt khách hàng quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng hoặc khi cần thiết thuê lại dịch vụ của một số công ty logistics, khách hàng chỉ phải giao dịch với một nhà cung cấp dịch vụ duy nhất

1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dịch vụ trong điều kiện kinh tế thị trường

1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm

1980 Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được những lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp” Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong Sách trắng về năng lực cạnh tranh của Vương quốc Anh (1994) Năm 1998,

Bộ Thương mại và Công nghiệp (Anh) đưa ra định nghĩa: “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất

và hiểu quả hơn các doanh nghiệp khác” [26]

Cho đến nay, khái niệm năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất Đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay, với trình độ phát triển kinh tế còn thấp, nhưng lại đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - cạnh tranh gay gắt, thì việc đưa khái niệm năng lực cạnh tranh cho phù hợp với bối cảnh hiện nay là không đơn giản Tuy nhiên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau:

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững

Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp

Trang 27

1.2.2 Các yếu tố cấu thành và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dịch vụ

Các yếu tố cấu thành và các tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dịch vụ phải thể hiện được bản chất của năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, thể hiện được mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong việc chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra, thu hút yếu tố đầu vào trong ngắn hạn và trong dài hạn Theo đó, các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dịch vụ bao gồm:

1.2.2.1 Khả năng duy trì và mở rộng thị phần của doanh nghiệp dịch vụ

Đây là chỉ tiêu tổng hợp, quan trọng, phản ánh năng lực cạnh tranh theo kết quả đầu ra của doanh nghiệp, cho dù đó là cạnh tranh trong nước hay cạnh tranh quốc tế

Thị phần là tiêu chí thể hiện vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có thị phần lớn hơn các doanh nghiệp khác thì có nghĩa là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó lớn hơn Tiêu chí này thường được đo bằng tỷ lệ doanh thu hay số lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp trong một giai đoạn nhất định

so với tổng số doanh thu hay sản lượng tiêu thụ trên thị trường như Công thức (1.1):

% 100 D

Di

x

Trong đó: tpi: Thị phần của doanh nghiệp i;

Di: Doanh thu hoặc doanh số tiêu thụ của doanh nghiệp i;

D: Tổng doanh thu hoặc doanh số tiêu thụ trên thị trường Công thức này phản ánh rõ vị thế cạnh tranh tiêu thụ dịch vụ của doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó Tuy nhiên, chỉ tiêu này không phải lúc nào cũng tính

được, đặc biệt là trong trường hợp doanh nghiệp có thị phần quá bé hoặc các doanh nghiệp xuất khẩu dịch vụ rất khó tính toán thị phần của mình trên thị trường nước ngoài Hơn nữa, chi tiêu này mang tính chất “tĩnh”, phản ánh năng lực cạnh tranh tại một thời điểm trong quá khứ Do vậy để thấy được sự biến chuyển của năng lực cạnh tranh theo thời gian, người ta thường xem xét sự biến đổi chỉ số thị phần của doanh nghiệp qua một số năm, thường là 3 - 5 năm

Trang 28

1.2.2.2 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Là tiêu chí phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp dựa trên các yếu tố cơ bản như: Chất lượng dịch vụ, giá cả dịch vụ, và khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng

- Chất lượng dịch vụ là một chỉ tiêu định tính, có tính khái quát cao, và khó

đánh giá hơn so với chất lượng hàng hóa do tính chất vô hình của nó Mỗi loại dịch

vụ lại sử dụng những chỉ tiêu khác nhau để đánh giá chất lượng, do vậy có một phương pháp để tiếp cận hơn đó là xem xét phản ứng của người tiêu dùng dịch vụ Tuy nhiên một ngành dịch vụ có thể có rất nhiều loại sản phẩm, do vậy việc đánh giá chỉ có thể dành cho một số những dịch vụ chủ yếu hoặc đặc thù của ngành

- Giá cả cũng là một trong các chỉ tiêu định lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh Trong cơ chế cạnh tranh trên thị trường thế giới hiện nay, giá cao không đồng nghĩa với năng lực cạnh tranh thấp Giá cao thể hiện sản phẩm được người tiêu dùng

ưa thích và họ sẵn sàng trả giá cao cho sản phẩm đó

- Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng: là chỉ tiêu thể hiện việc cung cấp cho khách hàng đúng hàng hóa, đúng thời điểm với giả cả hợp lý Đây là một chỉ tiêu định tính, phản ánh khả năng kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp Chỉ tiêu này

được xác định thông qua điều tra khách hàng

1.2.2.3 Năng lực duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dịch vụ

Tiêu chí này thể hiện qua chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp dịch vụ là một chỉ tiêu tổng hợp, được tính bằng trị số tuyệt đối (chẳng hạn, bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đơn vị đầu vào) hoặc số tương đối (tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp so với tỷ suất lợi nhuận trung bình của ngành hoặc thị trường)

Đối với doanh nghiệp, lợi nhuận không chỉ là mục tiêu chủ yếu, mà còn là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển Do vậy, đây là tiêu chí thể hiện mức độ đạt được mục tiêu hoạt động, phản ánh mặt chất lượng của năng lực cạnh tranh Tiêu chí này

được đo bằng công thức (1.2) Tiêu chí này lớn hơn đơn vị (1) bao nhiêu thì hiệu quả của doanh nghiệp càng cao bấy nhiêu và do đó năng lực càng cao

Trang 29

Trong đó: pi: Tỷ số suất lợi nhuận của doanh nghiệp dịch vụ i;

Pi: Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp i - được đo bằng lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh;

PN: Suất lợi nhuận trung bình của ngành hoặc thị trường

1.2.2.4 Khả năng thích ứng và đổi mới của doanh nghiệp dịch vụ

Kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường theo xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều biến động đòi hỏi doanh nghiệp có khả năng thích ứng cao và đổi mới nhanh chóng Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất tạo ra lợi thế cạnh tranh và là chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh “động” của doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay Doanh nghiệp phải thích ứng với sự thay đổi của thị trường trong nước và quốc tế (sở thích, nhu cầu, giá cả, chất lượng…) và sự thay đổi trong môi trường kinh doanh như chính sách của nhà nước, sự thay đổi của các đối tác kinh doanh, đối thủ cạnh tranh… Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải phản ứng linh hoạt, điều chỉnh linh hoạt và hiệu quả

1.2.2.5 Khả năng thu hút nguồn nhân lực

Khả năng thu hút nguồn nhân lực không chỉ nhằm đảm bảo điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp dịch vụ được tiến hành bình thường mà còn thể hiện năng lực cạnh tranh thu hút đầu vào của doanh nghiệp Nhờ việc thu hút các đầu vào có trình độ và có kinh nghiệm, công nghệ cao, nguồn vốn… mà doanh nghiệp có thể nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả kinh doanh

1.2.2.6 Khả năng liên kết và hợp tác của các doanh nghiệp dịch vụ

Cạnh tranh trong điều kiện hiện nay không hoàn toàn đồng nghĩa với việc tiêu diệt lẫn nhau mà đặt trong sự liên kết và hợp tác để cạnh tranh cao hơn Do vậy, khả năng liên kết, hợp tác được coi là tiền đề cho hoạt động kinh doanh hiệu quả, đồng thời đây cũng là một tiêu chí định tính của năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dịch vụ Trong điều kiện của Việt Nam, các doanh nghiệp dịch vụ chủ yếu có quy mô nhỏ và vừa thì việc liên kết, hợp tác có ý nghĩa lớn để tồn tại và phát triển kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Tiêu chí này thể hiện qua

Trang 30

số lượng, chất lượng các mối quan hệ với các đối tác, các liên doanh, hệ thống mạng lưới kinh doanh theo lãnh thổ

1.2.2.7 Chỉ tiêu tổng hợp về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dịch vụ

Để so sánh năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, người ta thường tính chỉ tiêu tổng hợp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Có nhiều cách tiếp cận trong việc tính toán chỉ tiêu tổng hợp này Theo đó, chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp được tính theo công thức (1.3):

) (

Trong đó: CA: Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp của doanh nghiệp A;

Mi: Điểm đánh giá cho chỉ tiêu thành phần thứ i;

Ngoài ra, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) và một số tổ chức quốc tế đưa chỉ tiêu tổng hợp dưới dạng “năng lực cạnh tranh” - là một nhóm chỉ tiêu thành phần trong chỉ số năng lực cạnh tranh của quốc gia

1.2.3 Các yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả các yếu tố bên trong doanh nghiệp và các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp Các yếu tố này có thể tạo ra và làm tăng thêm lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhưng cũng có thể làm giảm hoặc triệt tiêu lợi thế cạnh tranh hiện có của doanh nghiệp

Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh do Michael Porter đưa vào những năm 1990 (đây là công trình nghiên cứu của một tập thể các nhà khoa học ở 12 nước bắt đầu từ năm 1986) được xây dựng dựa trên cơ sở lập luận rằng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện tập trung ở khả năng sáng tạo và đổi mới của doanh nghiệp đó Theo lý thuyết này, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện ở

sự liên kết của 4 nhóm yếu tố Mối liên kết của 4 nhóm yếu tố này hình thành nên 4

đỉnh của mô hình kim cương (Hình 1.1) là: (1) Các điều kiện yếu tố (con người, các yếu tố vật chất và tri thức); (2) Các điều kiện về cầu (quy mô, cơ cấu và sự tinh tế của thị trường nội địa); (3) Các ngành cung cấp và ngành có liên quan (sự hiện diện

Trang 31

hội

Ngữ cảnh của doanh nghiệp

Các điều kiện

yếu tố

Các điều kiện nhu cầu

Các ngành cung ứng

và liên quan

Chính Phủ

có hay không có sự cạnh tranh quốc tế đối với ngành kinh doanh hoặc các ngành

liên quan); (4) Ngữ cảnh doanh nghiệp (chiến lược, cơ cấu và khả năng cạnh tranh

trong nước) Các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau và hình thành nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ngoài ra, còn có 2 yếu tố khác là Chính phủ và Cơ hội Đây là 2 yếu tố có thể tác động đến 4 yếu tố cơ bản kể trên

của các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay” 1.2.3.1 Các nhân tố bên trong của doanh nghiệp

Có nhiều nhân tố bên trong tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đang sử dụng các chỉ tiêu thuộc 5 nhóm

yếu tố bên trong doanh nghiệp trong việc xác định năng lực cạnh tranh gồm: Năng

lực quản lý (triết lý kinh doanh, sự tin tưởng vào quản lý nghiệp vụ, sự hiện diện

chuỗi giá trị), chất lượng nhân lực (mở rộng đào tạo nhân viên), năng lực marketing

(định hướng khách hàng, đổi mới mẫu mã, tăng cường tiếp thị, mở rộng thị trường quốc tế, kiểm soát hoạt động phân phối ở nước ngoài, mở rộng mạng lưới bán lẻ),

Trang 32

khả năng đổi mới, và năng lực nghiên cứu và phát triển (chỉ tiêu cho nghiên cứu và

phát triển) Dưới đây là một số yếu tố chủ yếu tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:

• Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp

Năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp được coi là yếu tố có tính quyết định

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp được thể hiện trên các mặt:

- Trình độ của đội ngũ của cán bộ quản lý: được thể hiện bằng những kiến thức cần thiết để quản lý và điều hành, thực hiện công việc đối nội và đối ngoại của doanh nghiệp

- Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp: thể hiện ở việc sắp xếp, bố trí cơ cấu

tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng, và nhiệm vụ của các bộ phận

- Trình độ, năng lực quản lý của doanh nghiệp còn thể hiện trong việc hoạch

định chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch, điều hành tác nghiệp… Điều này có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong ngắn hạn

và dài hạn, và do đó tác động mạnh tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

• Trình độ thiết bị, công nghệ

Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Công nghệ phù hợp cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra lợi thế quan trọng đối với sản phẩm của doanh nghiệp Đồng thời, doanh nghiệp cần đào tạo nâng cao trình độ tay nghề để

sử dụng có hiệu quả công nghệ hiện đại

• Trình độ lao động trong doanh nghiệp

Trong doanh nghiệp, lao động vừa là yếu tố đầu vào, vừa là lực lượng trực tiếp

sử dụng phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Trình độ của lao động tác động rất lớn đến chất lượng dịch vụ và chi phí của doanh nghiệp

Đây là yếu tố tác động trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để nâng

Trang 33

cao sức cạnh tranh, doanh nghiệp cần đảm bảo chất lượng và số lượng Doanh nghiệp cần chú trọng công tác đào tạo, đầu tư kinh phí thỏa đáng, khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình quản lý…

• Năng lực tài chính của doanh nghiệp

Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khả năng huy động và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính… trong doanh nghiệp Năng lực tài chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yêu cầu đầu tiên, bắt buộc phải có nếu muốn doanh nghiệp thành công trong kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh

• Năng lực marketing của doanh nghiệp

Là khả năng nắm bắt nhu cầu của thị trường, khả năng thực hiện chiến lược 4P (Product, Place, Price, and Promotion) trong hoạt động marketing, và trình độ nguồn nhân lực marketing Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm, và nâng cao vị thế của doanh nghiệp Đây là nhóm nhân tố rất quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

• Năng lực nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp

Là yếu tố tổng hợp gồm nhiều yếu tố cấu thành như nhân lực nghiên cứu, thiết bị, tài chính cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), và khả năng đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp Năng lực nghiên cứu và phát triển có vai trò quan trọng trong cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã, nâng cao năng suất, và hợp lý hóa sản xuất Do vậy, năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực này càng quan trọng hơn trong điều kiện cách mạng khoa học công nghệ diễn ra mạnh mẽ trên thế giới hiện nay

Ngoài ra, các yếu tố khác như vị trí địa lý, quy mô của doanh nghiệp… có

ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.3.2 Các nhân tố bên ngoài của doanh nghiệp

Có nhiều nhân tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh

nghiệp Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) dựa trên Mô hình kim cương của M.Porter

Trang 34

(xem hình 1.1) để đưa ra các yếu tố bên ngoài tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gồm có:

- Các điều kiện yếu tố đầu vào, gồm 5 phân nhóm: kết cấu hạ tầng vật chất - kỹ

thuật, hạ tầng hành chính, nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, thị trường tài chính

- Các điều kiện về cầu: sở thích người mua, tình hình pháp luật về tiêu dùng, về

CNTT…

- Các ngành cung ứng và ngành liên quan: chất lượng và số lượng các nhà

cung cấp địa phương, khả năng tại chỗ về nghiên cứu chuyên biệt và dịch vụ đào tạo, mức độ hợp tác giữa các khu vực kinh tế, khả năng cung cấp tại chỗ các chi tiết

và phụ kiện máy móc

- Bối cảnh đối với chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp, gồm hai phân

nhóm là động lực và cạnh tranh (các rào cản vô hình, sự cạnh tranh của các nhà sản xuất địa phương, hiệu quả của việc chống độc quyền)

Sau đây là một số yếu tố chủ yếu bên ngoài doanh nghiệp tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:

• Thị trường

Thị trường là nơi tiêu thụ hàng hóa, tìm kiếm các đầu vào thông qua hoạt

động mua bán hàng hóa dịch vụ đầu ra và các yếu tố đầu vào Thị trường còn là công cụ định hướng, hướng dẫn hoạt động của doanh nghiệp, thông qua mức cầu, giá cả, lợi nhuận… để định hướng chiến lược, kế hoạch kinh doanh Như vậy, sự ổn

định của thị trường có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp nói chung và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng Trong điều kiện thị trường lành mạnh và ổn định thì doanh nghiệp mới có điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

• Thể chế, chính sách

Thể chế, chính sách là tiền đề quan trọng cho hoạt động của doanh nghiệp Nội dung của thể chế, chính sách bao gồm các quy định pháp luật, các biện pháp hạn chế hay khuyến khích đầu tư hay kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ, ngành nghề,

địa bàn… Thể chế, chính sách bao gồm pháp luật, chính sách về đầu tư, tài chính, tiền tệ, đất đai, công nghệ, thị trường… nghĩa là các biện pháp điều tiết cả đầu vào

Trang 35

và đầu ra cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp Do vậy, đây là nhóm yếu tố rất quan trọng và bao quát rất nhiều vấn đề liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp nói chung và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng

• Kết cấu hạ tầng

Kết cấu hạ tầng bao gồm hạ tầng vật chất - kỹ thuật và hạ tầng xã hội, bao gồm

hệ thống giao thông, hệ thống thông tin, hệ thống giáo dục - đào tạo… Đây là tiền

đề quan trọng, tác động mạnh đến hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến chất lượng và giá cả của sản phẩm

Để đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động bình thường và nâng cao năng lực cạnh tranh, cần có hệ thống kết cấu hạ tầng đa dạng có chất lượng tốt Điều đó đòi hỏi có sự đầu tư đúng mức để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

• Các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ

Trong nền sản xuất hiện đại, cùng với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì sự liên kết, hợp tác cũng phát triển mạnh mẽ Thực tế chỉ ra rằng, khi trình độ sản xuất càng hiện đại thì sự phụ thuộc lẫn nhau càng lớn Các ngành công nghiệp hỗ trợ không những tác động đến thời gian sản xuất, năng suất, chất lượng mà còn ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm của nhiều doanh nghiệp

• Trình độ nguồn nhân lực

Trình độ nguồn nhân lực của quốc gia nói chung có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp Trong nền sản xuất hiện đại, đặc biệt trong xu hướng chuyển sang kinh tế tri thức thì chất lượng nguồn lực của quốc gia hay vùng lãnh thổ là yếu tố được quan tâm nhất khi các doanh nghiệp lựa chọn đầu tư Trình

độ và các điều kiện về nguồn nhân lực thể hiện ở kỹ năng của nguồn nhân lực, mức lương, hệ thống lương, điều kiện làm việc, sức khỏe và an toàn, đầu tư cho đào tạo,

và vai trò của Công đoàn Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì cần phải chú trọng đến giáo dục và đào tạo, tạo mọi điều kiện để các cơ sở đào tạo, các hoạt động

đào tạo phát triển thông qua cơ chế, chính sách và các biện pháp khác của nhà nước

• Vai trò của Chính phủ

Chính phủ có thể tác động tới lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trong một ngành thông qua việc tác động đến cả 4 nhóm nhân tố xác định lợi thế cạnh

Trang 36

tranh là các điều kiện yếu tố, các điều kiện nhu cầu, các ngành cung ứng và các ngành liên quan, chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh ngành

Vai trò điều hành của Chính phủ được xác định trên các mặt sau đây:

Thứ nhất là định hướng phát triển thông qua xây dựng chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế Định hướng phát triển phải đóng vai trò như

là một kim chỉ nam hướng dẫn các quyết định, hành động và quan niệm của tất cả các đối tượng trong nền kinh tế

Thứ hai là tạo môi trường pháp lý và kinh tế cho các chủ thể kinh tế hoạt động

và cạnh tranh lành mạnh

Thứ ba là điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích một cách công bằng thông

qua việc sử dụng các công cụ ngân sách, thuế, tín dụng.… Tăng trưởng kinh tế không phải là mục đích tự thân, mà là phương tiện mang lại một cuộc sống tốt đẹp hơn Do vậy sự điều hành của Chính phủ còn phải chú trọng vào các giá trị như công bằng xã hội, bình đẳng và cơ hội ngang bằng cho mọi người

Thứ tư là kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế theo đúng pháp luật và

chính sách đề ra

• Vai trò của cơ hội

Các thành phần của lợi thế quốc gia định hình môi trường cạnh tranh trong những ngành cụ thể Tuy nhiên, cơ hội là những sự kiện xảy ra ít liên quan đến tình trạng hiện tại của quốc gia và thường nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của các công ty (và thường cả của Chính phủ) Những cơ hội đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh như sự thay đổi bất ngờ về công nghệ (như công nghệ sinh học, công nghệ vi điện tử); thay đổi về chi phí đầu vào như tăng giá đột ngột dầu mỏ; thay đổi

đáng kể trên thị trường chứng khoán thế giới, tỷ giá hối đoái; tăng mạnh của cầu của thế giới hay khu vực; quyết định chính trị của các Chính phủ nước ngoài…

Các cơ hội rất quan trọng vì chúng tạo ra sự thay đổi bất ngờ cho phép dịch chuyển vị thế cạnh tranh Chúng có thể xóa đi lợi thế của những công ty thành lập trước đó và tạo ra tiềm năng mà các công ty mới có thể khai thác để có được lợi thế

đáp ứng những điều kiện mới và khác biệt

Trang 37

1.3 Tình hình phát triển logistics ở một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

1.3.1 Tình hình phát triển logistics ở một số nước

1.3.1.1 Tình hình phát triển logistics của Trung Quốc

Là nước đông dân nhất thế giới, có hoạt động sản xuất phát triển, kim ngạch XNK cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm lớn, Trung Quốc hứa hẹn tiềm năng phát triển dịch vụ logistics

Trung Quốc là quốc gia được đánh giá có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh (trung bình khoảng 10,75%/năm) Năm 2007, GDP của Trung Quốc đạt 24,6619 nghìn tỉ NDT (tương đương với 3,43 nghìn tỉ đô la), đứng vị trí thứ 4 trên thế giới Thặng dư thương mại của Trung Quốc năm 2007 đạt 262 tỷ USD [39] Đến nay, Trung Quốc đã xây dựng hoàn chỉnh hệ thống công nghiệp hiện đại cũng như phát triển nhanh chóng, bền vững ngành nông nghiệp và dịch vụ thương mại Đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc có sự phát triển của logistics

Tuy nhiên, dịch vụ logistics cũng mới thực sự phát triển trong những năm trở lại đây Do có sự học hỏi kinh nghiệm từ nhiều quốc gia đi trước, cùng với nhận thức đúng hướng của các nhà hoạch định đã khiến ngành dịch vụ logistics của Trung Quốc gặt hái được nhiều thành tựu to lớn Tổng giá trị của ngành kinh doanh dịch vụ logistics tại Trung Quốc đã đưa về cho ngân sách quốc gia lợi nhuận 4,64 nghìn tỷ USD trong năm 2004, cao hơn 10% so với mức trung bình của các quốc gia phát triển Lợi nhuận của ngành dịch vụ này đang có chiều hướng tăng nhanh tại thị trường Trung Quốc khi đạt tới 7,38 nghìn tỷ USD trong năm 2006 và dự báo đến năm 2013 sẽ đạt 28,8 nghìn tỷ USD [38] Năm 2001, khi Trung Quốc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hội đồng Kinh tế Thương mại quốc gia Trung Quốc cùng 5 bộ ngành đã thống nhất cho ra đời tài liệu hướng dẫn phát triển logistics hiện đại Kể từ đó đến nay đã có rất nhiều cuộc hội thảo, nhiều tổ chức tham gia soạn thảo, nhiều văn bản quan trọng ra đời nhằm phát triển ngành dịch vụ logistics ở Trung Quốc, đặc biệt vấn đề phát triển logistics nằm trong kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ 11 và là chương trình nghị sự của Quốc hội Trung Quốc diễn ra vào tháng 3 năm 2006 Theo Hội đồng cải cách và phát triển

Trang 38

quốc gia Trung Quốc, trong kế hoạch năm năm lần thứ 10, logistics đã đóng góp cho xã hội 158,7 nghìn tỷ NDT, tăng 1,4 lần so với 5 năm lần thứ 9 Giảm chi phí cho nền kinh tế quốc dân từ 19,4% năm 2000 xuống còn 18,6% năm 2005 Tổng giá trị gia tăng đạt 1,2 nghìn tỉ NDT, tăng 12,7% so với năm 2004 Năm 2007, tổng giá trị dịch vụ logistics là 11 nghìn tỉ đô la, trong đó tổng giá trị gia tăng của ngành dịch

vụ logistics của Trung Quốc đạt 1,7 nghìn tỉ NDT, chiếm 17,6% tổng giá trị gia tăng tất cả các ngành dịch vụ của Trung Quốc, đóng góp 6,9% trong tổng GDP Tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển trong năm 2007 là 22,53 nghìn tỉ tấn Theo dự

đoán của Hiệp hội Logistics Trung Quốc, ngành dịch vụ logistics của Trung Quốc sẽ phát triển với tốc độ trung bình 16% trong vòng 3 năm tới [39]

Với sự phát triển nhanh chóng của logistics, nhiều tập đoàn quốc gia đã ra đời, trong đó phải kể đến China Ocean Shipping Company, China Shipping Company, China Post, China Railway, China Storage & Transport, Bao Steel and Cosco, Sinochem and Sinotrans… cùng nhiều công ty tư nhân và các tập đoàn nước ngoài cũng tham gia vào thị trường tiềm năng này

Để hỗ trợ tối ưu cho việc phát triển ngành dịch vụ logistics, cũng như các ngành kinh tế khác, Chính phủ Trung Quốc đã tập trung xây dựng và phát triển đồng

bộ mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển và đường hàng không; xây dựng và hiện đại hóa hệ thống sân bay từ cấp I (cảng hàng không quốc tế của quốc gia) đến sân bay thuộc thành phố cấp II và cấp III Mục đích là biến ngành vận tải Trung Quốc trở thành mắt xích quan trọng không thể thiếu trong kinh doanh dịch vụ logistics Đồng thời, Trung Quốc cũng rất chú trọng xây dựng hệ thống kho bãi và phát triển hệ thống thông tin liên lạc, áp dụng các chương trình EDI, ERP, MRP & GPS cho quản lý dữ liệu mạng

Bên cạnh sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật thì Trung Quốc cũng rất chú trọng đến đào tạo nhân lực cho ngành logistics, trước đây chỉ có 1 trường đại học đào tạo về chương trình logistics, đến nay con số này đã tăng lên gần 200 trường

đại học, cao đẳng, ngoài ra còn nhiều trung tâm đào tạo khác

Có được những thành tựu đó là nhờ chiến lược, chính sách phát triển logistics

đúng đắn từ cấp Trung ương đến địa phương và sự quan tâm đầu tư hợp lý của các

Trang 39

doanh nghiệp đối với loại hình dịch vụ đặc trưng của xu hướng toàn cầu hóa này Chính phủ Trung Quốc coi phát triển logistics là một trong những ưu tiên hàng đầu Năm 2004, chỉ có 9 bộ ngành tham gia soạn thảo, đóng góp ý kiến về logistics thì

đến nay, số bộ ngành tham gia đã lên tới 13 bộ dưới sự quản lý của Hội đồng quốc gia [45] Tuy nhiên, tùy từng lĩnh vực cụ thể mà mỗi bộ ngành chịu trách nhiệm khác nhau Song song với chính quyền trung ương, các tỉnh, thành phố như Thượng Hải, Thiên Tân, Quảng Châu, Bắc Kinh, Quảng Đông…, cũng có những chính sách riêng nhằm phát triển logistics cho phù hợp với điều kiện từng địa phương Chính phủ thống nhất đưa ra nhiều chính sách ưu đãi nhằm tạo điều kiện tối ưu cho doanh nghiệp logistics phát triển Ví dụ như điều chỉnh chính sách thuế, thông thoáng trong chính sách hải quan, khuyến khích đầu tư trong nước, khuyến khích đầu tư cơ

sở hạ tầng, mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường logistics để tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và trình độ kỹ thuật cao… Ngoài ra, việc quản lý hoạt động logistics còn có sự phối hợp giữa các bộ ngành liên quan, trong đó Bộ Thương mại Trung Quốc nắm vai trò chủ đạo Các Hiệp hội, đặc biệt là Hiệp Hội Logistics Trung Quốc cũng phát huy được vai trò của mình bằng việc tổ chức, tư vấn

về dịch vụ logistics, giới thiệu các công ty logistics xuất sắc với các khách hàng trong và ngoài nước, và là nơi trao đổi kinh nghiệm của các thành viên Hiệp hội còn

là cầu nối giữa doanh nghiệp và Chính phủ và các cơ quan quản lý, giúp chuyển tải những kiến nghị, đề xuất của doanh nghiệp đến Chính phủ để có những điều chỉnh kịp thời trong chính sách và pháp luật

Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc cam kết sẽ là trung tâm phân phối sản phẩm công nghiệp logistics và dịch vụ kho vận cho các công ty nước ngoài Các doanh nghiệp nước ngoài cũng cam kết sẽ sử dụng các sản phẩm dịch vụ logistics và kho vận được nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc Những dịch vụ logistics chủ yếu

đang được cung cấp tại thị trường Trung Quốc hiện nay là các dịch vụ cơ bản về vận chuyển (đường hàng không và đường biển) và quản lý hàng vận chuyển, dịch vụ kho vận, dịch vụ đóng gói, dịch vụ chuyển phát nhanh, dịch vụ tư vấn quản lý vận tải và chuỗi cung ứng… đặc biệt là dịch vụ quản lý nhà cung cấp Đây là một loại dịch vụ mới và hứa hẹn tiềm năng phát triển rất lớn

Trang 40

Để thực hiện mục tiêu chiến lược của mình, Trung Quốc đã và đang đầu tư rất nhiều cho việc xây dựng các trung tâm logistics quốc tế và cảng biển tại các vị trí chiến lược trên lãnh thổ Trung Quốc: Trung tâm logistics Xiangyang Guobang (tỉnh Hubei) trải rộng trên khu vực 333.335m2, trung tâm logistics Santina (Thành phố Dongguan), cảng biển và cảng hàng không Thượng Hải, cảng hàng không Quảng Châu, Bắc Kinh, Shengzhen, Chendu… [45]

Nhờ những nỗ lực trên, Trung Quốc đã đạt được những thành công nhất định Trong Bảng xếp hạng hiệu quả hoạt động logistics (Logistics Performance Index-LPI) của Ngân hàng thế giới năm 2007, Trung Quốc đứng vị trí thứ 30, Hồng Kông

đứng vị trí thứ 8 trong tổng số 150 quốc gia được nghiên cứu [37]

1.3.1.2 Tình hình phát triển logistics của Singapore

Singapore là một trong những nước đi đầu về phát triển logistics trong khu vực

Đông Nam á và trên thế giới Với lợi thế nằm ở vị trí chiến lược trên tuyến đường hàng hải quốc tế nối ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, Singapore đã phát triển thành cảng trung chuyển vào bậc nhất khu vực Nhờ đó, Singapore đã trở thành đầu mối quan trọng trong hoạt động logistics trên phạm vi thế giới Ngành logistics của Singapore hàng năm đóng góp 7% vào GDP; tạo ra hơn 92.000 công việc và giá trị gia tăng của mỗi nhân viên đóng góp trong ngành này là 116.000 SGD [13] Tất cả các văn phòng, trụ sở của các công ty logistics hàng đầu trên thế giới như Schenker, Keppel Logistics, APL Logistics, Maersk Logistics, Excel Logistics, UPS Logistics… đều có mặt ở đây Đặc trưng trong phát triển logistics của Singapore chính là chính sách cảng mở và đầu tư xây dựng các trung tâm logistics (Logistics Centre)

Để thực hiện mục tiêu đưa Singapore trở thành trung tâm logistics mang tầm cỡ thế giới, Chính phủ Singapore đã nỗ lực rất nhiều trong việc hoàn thiện hệ thống quản lý và chính sách thúc đẩy phát triển logistics Trước hết, việc Chính phủ Singapore cho phép Hiệp hội các nhà giao nhận Singapore đổi tên thành Hiệp hội Logistics Singapore (SLA - Singapore Logistics Association) đã phản ánh sự quyết tâm của Chính phủ để thực hiện mục tiêu trên So với Hiệp hội tiền thân, cơ cấu tổ chức và hoạt động của SLA phức tạp và mở rộng hơn, các thành viên cũng được mở

Ngày đăng: 23/06/2014, 16:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Nội  dung  Trang - Năng lực cạnh tranh dịch vụ logictics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO
ng Nội dung Trang (Trang 9)
Bảng 1.1: Lợi ích từ hoạt động thuê ngoài - Năng lực cạnh tranh dịch vụ logictics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO
Bảng 1.1 Lợi ích từ hoạt động thuê ngoài (Trang 19)
Hình 1.1:  Mô hình kim c−ơng của M.Porter, 1990  Nguồn: Nguyễn Hữu Thắng (2008), “Nâng cao năng lực cạnh tranh   của các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay” - Năng lực cạnh tranh dịch vụ logictics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO
Hình 1.1 Mô hình kim c−ơng của M.Porter, 1990 Nguồn: Nguyễn Hữu Thắng (2008), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay” (Trang 31)
Bảng 2.1: So sánh dịch vụ logistics đ−ợc cung cấp logistics n−ớc ngoài - Năng lực cạnh tranh dịch vụ logictics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO
Bảng 2.1 So sánh dịch vụ logistics đ−ợc cung cấp logistics n−ớc ngoài (Trang 53)
Bảng 2.2: Nguồn tín dụng của các loại doanh nghiệp, 2002-2004 - Năng lực cạnh tranh dịch vụ logictics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO
Bảng 2.2 Nguồn tín dụng của các loại doanh nghiệp, 2002-2004 (Trang 65)
Hình thức pháp lý các công ty   cung cấp dịch vụ logistics tại Việt Nam - Năng lực cạnh tranh dịch vụ logictics của các doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO
Hình th ức pháp lý các công ty cung cấp dịch vụ logistics tại Việt Nam (Trang 121)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w