MỞ ĐẦU Xây dựng chiến lược là một việc làm thường xuyên của các doanh nghiệp. Việc xác định chiến lược đúng sẽ quyết định sự thành công của mục tiêu và sứ mệnh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải mọi doanh nghiệp Việt Nam đều có chiến lược phát triển tốt. Thất bại của doanh nghiệp là minh chứng cho sự yếu kém về chiến lược. Nhất là trong giai đoạn Thế giới đang phát triển rất nhanh chóng do sự dẫn dắt của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và cùng với các yếu tố khác, điều này đang có tác động rất lớn đến nền kinh tế thế giới nói chung và hoạt động của doanh nghiệp nói riêng. Điều đó đặt ra nhu cầu xây dựng chiến lược phát triển theo hướng đổi mới và sáng tạo trong kinh doanh tại doanh nghiệp. Đổi mới sáng tạo luôn là một yếu tố quyết định thành công của các doanh nghiệp trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 2, tr14. Việc thay đổi chiến lược trong quản lý, kinh doanh của của các doanh nghiệp trong đổi mới sáng tạo là nhiệm vụ cấp thiết đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Việt Nam nói riêng. Chính vì thế việc xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp luôn được quan tâm và không mất đi tính thời sự ngay cả với những doanh nghiệp vốn có chiến lược phát triển tốt. Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hội nhập vào kinh tế thế giới, việc xây dựng chiến lược càng quan trọng hơn. Những cơ hội lớn mở ra cùng những thách thức tăng lên. Sự so sánh về nguồn lực, không phải chủ yếu với doanh nghiệp trong nước, mà chủ yếu là với doanh nghiệp nước ngoài. Để cạnh tranh thành công các doanh nghiệp phải xác định được hướng đi đúng, chiến lược tốt, trên cơ sở nhận biết rõ về thế mạnh, cũng như điểm yếu, cơ hội cùng với nguy cơ của mình. Theo Mintzberg, chiến lược phát triển doanh nghiệp cần đảm bảo những yêu cầu cụ thể: 1) xác lập định hướng dài hạn cho doanh nghiệp; 2) tập trung các nỗ lực của doanh nghiệp vào việc thực hiện các nhiệm vụ để đạt được mục tiêu mong muốn; 3) xác định phương thức tổ chức và hành động định hướng các mục tiêu đặt ra; và 4) xây dựng tính vững chắc và hài hòa của tổ chức. Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, rất ít quan tâm đến vấn đề chiến lược, thậm chí không xác định được cho mình một chiến lược. Nguyên nhân cơ bản là do các doanh nghiệp này chưa nhận thức được vai trò của chiến lược, nhất là trong bối cảnh phát triển theo hướng đổi mới, sáng tạo như hiện nay. Chính vì vậy tôi đã chọn vấn đề “Phân tích tác động của chiến lược phát triển đến đổi mới và sáng tạo trong kinh doanh tại doanh nghiệp” làm đề tài nghiên cứu.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NỘI DUNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI VÀ SÁNG TẠO 3
1.1 Khái quát về chiến lược phát triển doanh nghiệp 3
1.1.1 Khái niệm chiến lược của doanh nghiệp 3
1.1.2 Vai trò của xây dựng chiến lược đối với doanh nghiệp 3
1.1.3 Các loại chiến lược phát triển doanh nghiệp 4
1.2 Hoạch định chiến lược phát triển doanh nghiệp 5
1.2.1 Giai đoạn hình thành chiến lược 5
1.2.2 Giai đoạn thực thi chiến lược 6
1.2.3 Đánh giá chiến lược 6
1.3 Đổi mới sáng tạo 6
1.3.1 Khái niệm 6
1.3.2 Vai trò của đổi mới sáng tạo 8
Chương 2 NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐẾN ĐỔI MỚI VÀ SÁNG TẠO TRONG KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP 10
2.1 Những tác động tích cực của chiến lược phát triển đến đổi mới và sáng tạo trong kinh doanh tại doanh nghiệp 10
2.2 Những hạn chế, tiêu cực của chiến lược phát triển đến đổi mới và sáng tạo trong kinh doanh tại doanh nghiệp 13
2.3 Một số giải pháp nâng cao đổi mới sáng tạo trong kinh doanh tại doanh nghiệp 16
KẾT LUẬN 19
Trang 2DANH MỤC TAI LIỆU THAM KHAO 20
MỞ ĐẦU
Xây dựng chiến lược là một việc làm thường xuyên của các doanhnghiệp Việc xác định chiến lược đúng sẽ quyết định sự thành công của mụctiêu và sứ mệnh của doanh nghiệp Tuy nhiên, không phải mọi doanhnghiệp Việt Nam đều có chiến lược phát triển tốt Thất bại của doanhnghiệp là minh chứng cho sự yếu kém về chiến lược Nhất là trong giai đoạnThế giới đang phát triển rất nhanh chóng do sự dẫn dắt của cuộc cách mạngcông nghiệp 4.0 và cùng với các yếu tố khác, điều này đang có tác động rấtlớn đến nền kinh tế thế giới nói chung và hoạt động của doanh nghiệp nóiriêng Điều đó đặt ra nhu cầu xây dựng chiến lược phát triển theo hướng đổimới và sáng tạo trong kinh doanh tại doanh nghiệp
Đổi mới sáng tạo luôn là một yếu tố quyết định thành công của cácdoanh nghiệp trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 [2, tr14] Việc thay đổichiến lược trong quản lý, kinh doanh của của các doanh nghiệp trong đổimới sáng tạo là nhiệm vụ cấp thiết đối với các doanh nghiệp nói chung vàdoanh nghiệp Việt Nam nói riêng
Chính vì thế việc xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp luônđược quan tâm và không mất đi tính thời sự ngay cả với những doanhnghiệp vốn có chiến lược phát triển tốt Trong điều kiện nền kinh tế ViệtNam hội nhập vào kinh tế thế giới, việc xây dựng chiến lược càng quantrọng hơn Những cơ hội lớn mở ra cùng những thách thức tăng lên Sự sosánh về nguồn lực, không phải chủ yếu với doanh nghiệp trong nước, màchủ yếu là với doanh nghiệp nước ngoài Để cạnh tranh thành công cácdoanh nghiệp phải xác định được hướng đi đúng, chiến lược tốt, trên cơ sởnhận biết rõ về thế mạnh, cũng như điểm yếu, cơ hội cùng với nguy cơ củamình
Trang 3Theo Mintzberg, chiến lược phát triển doanh nghiệp cần đảm bảonhững yêu cầu cụ thể: 1) xác lập định hướng dài hạn cho doanh nghiệp; 2)tập trung các nỗ lực của doanh nghiệp vào việc thực hiện các nhiệm vụ đểđạt được mục tiêu mong muốn; 3) xác định phương thức tổ chức và hànhđộng định hướng các mục tiêu đặt ra; và 4) xây dựng tính vững chắc và hàihòa của tổ chức
Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa vànhỏ, rất ít quan tâm đến vấn đề chiến lược, thậm chí không xác định đượccho mình một chiến lược Nguyên nhân cơ bản là do các doanh nghiệp nàychưa nhận thức được vai trò của chiến lược, nhất là trong bối cảnh phát triểntheo hướng đổi mới, sáng tạo như hiện nay Chính vì vậy tôi đã chọn vấn đề
“Phân tích tác động của chiến lược phát triển đến đổi mới và sáng tạo trong kinh doanh tại doanh nghiệp” làm đề tài nghiên cứu.
Trang 4NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DOANH
NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI VÀ SÁNG TẠO
1.1 Khái quát về chiến lược phát triển doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm chiến lược của doanh nghiệp
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm chiến lược “Chiếnlược kinh doanh của một doanh nghiệp là một chương trình hành động tổngquát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp Chiến lượckhông nhằm vạch ra một cách cụ thể làm cách nào để có thể đạt được nhữngmục tiêu vì đó là nhiệm vụ của vô số các chương trình hỗ trợ, các chiến lượcchức năng khác Chiến lược chỉ tạo ra các khung để hướng dẫn tư duy đểhành động” [2, tr.14] Mục đích của hoạch định chiến lược là tìm kiếmnhững cơ hội và vươn lên tìm vị thế cạnh tranh
Trong “Khái luận về quản trị chiến lược”, Fred R.David xác định:
“Chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn Các chiếnlược kinh doanh có thể gồm: mở rộng địa bàn hoạt động, đa dạng hóa hoạtđộng, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chitiêu, thanh lý và liên doanh” [1, tr.20] Gần đây đã xuất hiện quan niệm mớicho rằng, “chiến lược vừa là quá trình kế hoạch hóa vừa là quá trình bổ sungcác vấn đề mới nổi lên” [18]
1.1.2 Vai trò của xây dựng chiến lược đối với doanh nghiệp
- Thứ nhất, việc xây dựng chiến lược giúp các doanh nghiệp thấy rõ mục đích và hướng đi của mình
- Thứ hai là, quá trình quản trị chiến lược yêu cầu dự báo cụ thểnhững biến đổi môi trường, nhờ đó các nhà quản trị có khả năng nắm bắt tốthơn các cơ hội, và giảm thiểu nguy cơ
- Thứ ba là, nhờ quá trình quản trị chiến lược, các quyết định củadoanh nghiệp sẽ gắn với sự biến đổi môi trường, giúp doanh nghiệp chiếm
Trang 5được vị thế chủ động trong việc làm thay đổi các điều kiện tương lai để đạtmục tiêu đề ra.
- Thứ tư là, quản trị chiến lược tốt là tiền đề để đạt kết quả kinh doanhtốt Tuy nhiên, quản trị chiến lược tốt không phải là điều kiện đủ để thànhcông, mà nó chỉ cho phép giảm bớt rủi ro và tăng khả năng tận dụng cơ hội
1.1.3 Các loại chiến lược phát triển doanh nghiệp
Căn cứ vào phạm vi, chiến lược kinh doanh có thể chia thành hai loại:
- Một là, các chiến lược chung hay còn gọi là chiến lược tổng quát.Các chiến lược này nhằm vào những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất
và có ý nghĩa dài hạn, quyết định những vấn đề sống còn của doanh nghiệp
- Hai là, chiến lược bộ phận Đây là chiến lược cấp hai, gồm chiếnlược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối, chiến lược yểm trợkhách hàng Chiến lược chung và chiến lược bộ phận liên kết với nhau thành
hệ thống chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Phân loại căn cứ vào hướng tiếp cận chiến lược :
- Chiến lược tập trung vào những nhân tố then chốt Tư tưởng chỉđạo là tập trung cho những hoạt động có ý nghĩa quyết định đối với sản xuấtkinh doanh
- Chiến lược dựa trên ưu thế tương đối Tư tưởng chỉ đạo hoạch địnhchiến lược ở đây bắt đầu từ sự phân tích, so sánh sản phẩm hay dịch vụ củadoanh nghiệp mình so với các đối thủ cạnh tranh
- Chiến lược sáng tạo tấn công Việc xây dựng chiến lược được tiếpcận theo cách cơ bản là luôn nhìn vào những vấn đề vẫn được coi là phổbiến để đặt câu hỏi Từ đó có thể có được những khám phá mới làm cơ sởcho chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình
- Loại thứ tư, chiến lược khai thác các mức độ tự do Cách xây dựngchiến lược ở đây không nhằm vào nhân tố then chốt mà nhằm vào khai tháckhả năng có thể có của các nhân tố bao quanh nhân tố then chốt
Trang 61.2 Hoạch định chiến lược phát triển doanh nghiệp
Theo Fred R.David, qui trình hoạch định chiến lược được phân
thành 3 giai đoạn, với nhiều hoạt động, như sơ đồ sau đây:
Sơn đồ: Quy trình hoạch định chiến lược phát triển doanh nghiệp 1.2.1 Giai đoạn hình thành chiến lược
Hình thành chiến lược là quá trình thiết lập nhiệm vụ kinh doanh, thựchiện điều tra nghiên cứu để xác định các yếu tố khuyết điểm bên trong vàbên ngoài, đề ra các mục tiêu dài hạn và lựa chọn giữa những chiến lượcthay thế Đôi khi giai đoạn hình thành chiến lược còn được gọi là “lập kếhoạch chiến lược” Có nhiều kỹ thuật quản trị chiến lược cho phép đưa ra vàlựa chọn các chiến lược Một số những công cụ này là ma trận đánh giá cácyếu tố bên ngoài, ma trận đánh giá các yếu tố bên trong, ma trận đánh giáhoạt động và vị trí chiến lược, ma trận nhóm tư vấn Boston, và ma trận kếhoạch chiến lược định lượng Từ những kết quả nghiên cứu thông qua cáccông cụ này cho phép đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra những chiếnlược dài hạn cho doanh nghiệp của mình
Trang 71.2.2 Giai đoạn thực thi chiến lược
Thực thi chiến lược thường được gọi là giai đoạn hành động của quảntrị chiến lược Ba hoạt động cơ bản của thực thi chiến lược là thiết lập cácmục tiêu hàng năm, đưa ra các chính sách, và phân phối các nguồn tàinguyên Thực thi chiến lược đòi hỏi tính kỷ luật, sự tận tụy của mỗi cá nhân.Việc thực thi chiến lược thành công xoay quanh ở khả năng thúc đẩy nhânviên của các nhà quản trị
1.2.3 Đánh giá chiến lược
Giai đoạn cuối của quản trị chiến lược là đánh giá chiến lược Tất cảcác chiến lược đều chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên trong và bên ngoàivốn thường xuyên thay đổi Ba hoạt động chính yếu của giai đoạn này là: (1)xem xét lại các yếu tố là cơ sở cho các chiến lược hiện tại, (2) đo lườngthành tích, (3) thực hiện các hoạt động điều chỉnh1 Giai đoạn đánh giá chiếnlược là cần thiết vì thành công hiện tại không đảm bảo cho thành công tươnglai Sự thành công luôn tạo ra các vần đề mới khác, các tổ chức có tư tưởngthỏa mãn phải trả giá bằng sự tàn lụi
Quá trình quản trị chiến lược có thể được nghiên cứu và ứng dụng vàoviệc sử dụng một mô hình Dưới đây là mô hình quản trị chiến lược toàndiện dược chấp nhận rộng rãi, tuy không phải là một thứ bảo bối của thànhcông nhưng nó thể hiện một phương pháp rõ ràng các bước hình thành, thựcthi và đánh giá các chiến lược
1.3 Đổi mới sáng tạo
1.3.1 Khái niệm
- Đổi mới (Innovation) là một từ bắt nguồn từ từ “nova” gốc Latinnghĩa là “mới” Đổi mới thường được hiểu là sự mở đầu cho một giải phápnào đó khác với các giải pháp đã triển khai - Sáng tạo (Creativity) là việctạo ra những ý tưởng mới lạ hoặc cách tiếp cận độc đáo trong giải quyết các
1Chiến lược và chính sách kinh doanh, NXB Lao động – Xã hội,
TP.HCM
Trang 8vấn đề hoặc tận dụng những cơ hội Tính sáng tạo là điều kiện đầu tiên để cóđược những phát minh và từ đó là sự đổi mới Tính sáng tạo của cá nhân làkhả năng phát triển và diễn đạt ý tưởng mới lạ của cá nhân để giải quyết vấn
đề Có ba yếu tố được xác định là nền tảng để tính sáng tạo cá nhân trỗi dậy,
đó là: (1) Sự thông thạo: Là am hiểu về kiến thức, quy trình, kỹ năng và kỹthuật nghiệp vụ thành thạo của một cá nhân (2) Kỹ năng tư duy sáng tạo: Làcách thức tiếp cận vấn đề một cách linh hoạt và sức tưởng tượng của cánhân (3) Động lực cá nhân: Là yếu tố thúc đẩy tính sáng tạo Động lực bêntrong hay nội lực là sự yêu thích hay niềm đam mê nội tại
Mặc dù tính sáng tạo thường là một hoạt động cá nhân nhưng rấtnhiều ý tưởng hay sáng kiến lại là sản phẩm của một nhóm sáng tạo Làmviệc nhóm có thể đạt được kết quả sáng tạo cao hơn so với làm việc độc lập.Một nhóm sáng tạo thường sở hữu những đặc điểm: (1) sự đa dạng hóa về
kỹ năng và tư duy; (2) sự tự do; (3) sự linh hoạt, và (4) suy nghĩ bất đồng vàsuy nghĩ hòa hợp
- Tư duy sáng tạo
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về Tư duy sáng tạo: - Tư duysáng tạo là một quá trình tạo ra ý tưởng hoặc giả thuyết, thử nghiệm ý tưởngnày đi đến kết quả … Kết quả này có ít nhiều mới mẻ, có chút ít gì đó trướcđây con người chưa bao giờ nhìn thấy, chưa có ý thức về nó (Torrance) - Tưduy sáng tạo là năng lực tìm thấy những ý nghĩa mới, tìm thấy những mốiliên hệ mới, là một chức năng của kiến thức, trí tưởng tượng và sự đánhgiá… (J.Danton) - Tư duy sáng tạo là kỹ năng nhìn nhận vấn đề tưởngtượng và từ những quan điểm mới, để đến với các giải pháp và ý tưởng mà
có thể không được xem xét trước đó - Tư duy sáng tạo là kiểu giải quyếtvấn đề dựa trên quá trình động não để tìm ra những phương án khả thi, rồirút ra được phương án tối ưu dựa trên các phương án đã nêu ra - Tư duysáng tạo là một năng lực suy nghĩ mới, có tính hiệu quả nhằm giải quyết cácvấn đề một cách nhanh chóng, gọn gàng, độc đáo Đó còn là các ý tưởng tiên
Trang 9tiến, mới mẻ, sự đào sâu tri thức để tạo ra một hướng đi mới, những biệnpháp mới… Như vậy có thể nói ngắn gọn tư duy sáng tạo là quá trình hoạtđộng của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất Tiêuchí sáng tạo ở đây là “tính mới lạ” và “tính có giá trị” (có ích lợi hơn, tiến bộhơn so với cái cũ).
1.3.2 Vai trò của đổi mới sáng tạo
Đối với doanh nghiệp, thực hiện đổi mới sáng tạo (ĐMST) là tất yếu,đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng trở nên sâu rộng Côngnghệ thông tin phát triển ngày càng nhanh, áp lực cạnh tranh ngày càng giatăng, nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng và thường xuyên thay đổi.Điều này đặt ra thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp trong nước Bêncạnh đó, những đổi mới mang tính đột phá từ những đối thủ cạnh tranh trongngành có thể tạo ra áp lực lớn hơn nhằm tìm ra con đường mới để phát triểncủa các doanh nghiệp Do vậy, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp cầnphải liên tục đổi mới ngay cả khi quá trình này diễn ra chậm
Trên thực tế, sự tiến bộ kỹ thuật là chưa đủ để đảm bảo thành công.Đổi mới còn có nghĩa là dự đoán nhu cầu của thị trường, cung cấp chấtlượng hoặc dịch vụ cao cấp hơn, tổ chức hiệu quả, nắm vững chi tiết và kiểmsoát chi phí chặt chẽ Do vậy, các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo mới chính
là các doanh nghiệp phát triển bền vững trong tương lai, được đặc trưng bởimức độ nhận thức cao, tính linh hoạt và khả năng thích ứng với những biếnđộng, khả năng tích hợp thành công các công nghệ mới trong hệ thống hiện
có, với thời gian và chi phí tối thiểu
Thêm vào đó, việc ĐMST là yếu tố chính quyết định năng lực cạnhtranh, tăng trưởng, lợi nhuận và tạo ra các giá trị bền vững cho các doanhnghiệp, cho phép doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh dài hạn thông quaviệc tập hợp tri thức, kỹ năng về công nghệ, kinh nghiệm trong sáng tạo và
phát triển và giới thiệu ý tưởng mới trong hình thức của đổi mới sản phẩm,
đổi mới quy trình sản xuất hoặc việc đổi mới mô hình kinh doanh Nói
Trang 10chung, việc ĐMST đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu suất vànăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Một cách cụ thể, việc ĐMST dưới hình thức là sản phẩm mới gópphần gia tăng doanh số vì các sản phẩm mới này đóng góp đáng kể vào sựhài lòng của khách hàng hiện tại cũng như tìm kiếm được các khách hàngmới, đổi mới sản phẩm mang lại lợi ích cho năng suất của doanh nghiệpbằng cách tạo ra một nguồn nhu cầu tiềm năng có khả năng làm tăng hiệuứng quy mô hoặc yêu cầu ít đầu vào hơn so với các sản phẩm cũ
Mức độ ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm tới năng suất của doanhnghiệp là khác nhau tùy thuộc vào tính mới, một sản phẩm là mới với thịtrường sẽ có tiềm năng lớn hơn trong việc gia tăng năng suất Ngoài ra, việcĐMST cho phép các doanh nghiệp trình bày sản phẩm mới hoặc sản phẩmđược cải thiện tới thị trường trước các đối thủ cạnh tranh và do đó có thể giatăng thị phần của doanh nghiệp Việc đổi mới quy trình sản xuất sẽ làm giảmchi phí sản xuất hoặc chi phí vận chuyển, gia tăng chất lượng sản phẩm
Đổi mới phương pháp tổ chức có thể là tiền đề và tạo điều kiện chođổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình, vì thành công của đổi mới sản phẩm
và quy trình phụ thuộc vào sự thích hợp của những thay đổi đó đối với cơcấu tổ chức của doanh nghiệp Đổi mới phương pháp tổ chức làm giảm chiphí hành chính hoặc chi phí giao dịch, cải thiện tính linh hoạt và sự hài lòngnơi làm việc và do đó gia tăng năng suất lao động
Thêm nữa, việc đổi mới về quy trình sản xuất và phương pháp tổ chứcđóng góp lớn cho việc giảm chi phí và gia tăng tính linh hoạt của các doanhnghiệp Ngoài ra, đổi mới marketing làm gia tăng sự hài lòng của kháchhàng cũng như trực tiếp hướng sự quan tâm của khách hàng tới doanhnghiệp, đồng thời giúp doanh nghiệp thích ứng hơn với sự thay đổi của cácđiều kiện của thị trường Thông qua đổi mới marketing, việc thực hiện cácphương pháp bán hàng và phân phối mới có thể nâng cao hiệu quả và hiệusuất của các doanh nghiệp
Trang 11Chương 2 NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐẾN ĐỔI MỚI VÀ SÁNG TẠO TRONG KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP
Chiến lược của một doanh nghiệp được xây dựng và đề xuất dựa trênnhiếu khía cạnh khác nhau và các khía cạnh này ảnh hưởng đến kết quả hoạtđộng của doanh nghiệp trong đó có lĩnh vực ĐMST Hơn nữa, chiến lượccủa một doanh nghiệp thường bao gồm 4 khía cạnh: chiến lược tổ chức,chiến lược đổi mới, tầm nhìn và mục tiêu của tổ chức, và chiến lược ra quyếtđịnh Đối với các doanh nghiệp mối liên hệ giữa tầm nhìn, chiến lược vàĐMST là quan trọng để quản lý ĐMST hiệu quả Chiến lược xác định phân
bổ nguồn lực, sản phẩm, quá trình và hệ thống giúp doanh nghiệp thích nghivới sự bất định của môi trường kinh doanh Sự thành công của ĐMST đòihỏi tầm nhìn rõ ràng và sự nhấn mạnh vào định hướng chiến lược thúc đẩyĐMST Như vậy, chiến lược tác động tích cực tới ĐMST Chiến lược pháttriển của doanh nghiệp có tác động rất lớn đến quá trình đổi mới và sáng tạocủa doanh nghiệp, nhưng tác động đó được biểu hiện ở trong các giai đoạnthực thi chiến lược của doanh nghiệp Cụ thể như:
2.1 Những tác động tích cực của chiến lược phát triển đến đổi mới và sáng tạo trong kinh doanh tại doanh nghiệp
Một là, tầm nhìn của đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp: Nhận thức của
cấp ủy, lãnh đạo; của các tổ chức, doanh nghiệp và người lao động với vaitrò của khoa học công nghệ và ĐMST trong phát triển kinh tế - xã hội ngàycàng được nâng cao
Hầu hết các cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền từ Trung ương đếnđịa phương đã thể hiện trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thựchiện Chiến lược và các văn bản của Đảng và Nhà nước về phát triểnKH&CN Tư duy quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ được đổi mới,pháp luật về khoa học và công nghệ được hoàn thiện, công tác quản lý