MỞ ĐẦU Theo đánh giá của V.I Lênin, lí luận giá trị thặng dư là “hòn đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác” và học thuyết kinh tế của C. Mác là “nội dung căn bản của chủ nghĩa Mác”. Để đạt mục đích làm giàu tối đa của mình nhà tư bản đã mua sức lao động của công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm, thu về giá trị thặng dư. Nhưng nhà tư bản bao giờ cũng chỉ trả một phần giátrị sức lao động cho người công nhân thông qua hình thức tiền lương và bóc lột giá trị thặng dư do người công nhân sáng tạo ra trong quá trình sản xuất. Trong xã hội tư bản, mối quan hệ giữa tư bản và lao động là mối quan hệ cơ bản, sâu sắc nhất, xuyên qua tất cả các quan hệ sản xuất của xã hội đó. Giá trị thặng dư, phần giá trị do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra ngoài sức lao động và bị nhà tư bản chiếm không, phản ánh mối quan hệ cơ bản nhất đó. Giá trị thặng dư do lao động không công của công nhân làm thuê sáng tạo ra là nguồn gốc làm giàu của giai cấp các nhà tư bản, sản xuất ra giá trị thặng dư là cơ sở tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Toàn bộ hoạt động của nhà tư bản hướng đến tăng cường việc tạo ra giá trị thặng dư thông qua hai phương pháp cơ bản là tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối và tạo ra giá trị thặng dư tương đối. Do vậy, sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa cho nhà tư bản là nội dung chính của quy luật giá trị thặng dư. Nó tác động đến mọi mặt của xã hội tư bản. Nó quyết định sự phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự thay thế nó bằng một xã hội khác cao hơn, là quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường gồm lợi nhuận, lợi tức, địa tô tư bản chủ nghĩa, thực chất là phân tích về các quan hệ lợi ích giữa những nhà tư bản với nhau, giữa nhà tư bản với địa chủ trong việc phân chia giá trị thặng dư thu dược trên cơ sở hao phí sức lao động của người lao động làm thuê. Nên việc nghiên cứu phạm trù giá trị thặng dư, nhất là hình thức biểu hiện của nó là vấn đề lợi nhuận, có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy mà tôi đã chọn đề tài “Phân tích lí luận về các hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư, vai trò của lí luận lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường hiện nay” cho bài tiểu luận của mình.
Trang 1TIỂU LUẬNMÔN: MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG: LÍ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ 3
I-PHẠM TRÙ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ: 3
1- Sự chuyển hoá tiền tệ thành tư bản: 3
2- Hàng hoá - sức lao động: 4
3- Bản chất giá trị thặng dư: 6
II- CÁC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ: 8
1- Phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối: 8
2- Phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối: 9
III CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ 10
1 Lợi nhuận 10
1.1 Tỷ xuất lợi nhuận 11
1.2 Lợi nhuận thương nghiệp 12
2 Lợi tức 13
3 Địa tô 14
3.1 Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa 14
3.2 Các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa và sự hoạt động 15
IV Vai trò của lý luận lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường hiện nay 17
1 Cơ chế thị trường: 17
2 Vai trò của lợi nhuận trong kinh tế thị trường 18
2.1 Lợi nhuận là động lực trong nền kinh tế thị trường .18
2.2 Mặt trái của lợi nhuận trong kinh tế thị trường .19
2.3 Vai trò của nhà nước .20
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 3MỞ ĐẦU
Theo đánh giá của V.I Lênin, lí luận giá trị thặng dư là “hòn đá tảng củahọc thuyết kinh tế của Mác” và học thuyết kinh tế của C Mác là “nội dung cănbản của chủ nghĩa Mác” Để đạt mục đích làm giàu tối đa của mình nhà tư bản
đã mua sức lao động của công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất để sản xuất rasản phẩm, thu về giá trị thặng dư Nhưng nhà tư bản bao giờ cũng chỉ trả mộtphần giátrị sức lao động cho người công nhân thông qua hình thức tiền lương
và bóc lột giá trị thặng dư do người công nhân sáng tạo ra trong quá trình sảnxuất
Trong xã hội tư bản, mối quan hệ giữa tư bản và lao động là mối quan hệ
cơ bản, sâu sắc nhất, xuyên qua tất cả các quan hệ sản xuất của xã hội đó Giátrị thặng dư, phần giá trị do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra ngoàisức lao động và bị nhà tư bản chiếm không, phản ánh mối quan hệ cơ bản nhất
đó Giá trị thặng dư do lao động không công của công nhân làm thuê sáng tạo
ra là nguồn gốc làm giàu của giai cấp các nhà tư bản, sản xuất ra giá trị thặng
dư là cơ sở tồn tại của chủ nghĩa tư bản Toàn bộ hoạt động của nhà tư bảnhướng đến tăng cường việc tạo ra giá trị thặng dư thông qua hai phương pháp
cơ bản là tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối và tạo ra giá trị thặng dư tương đối
Do vậy, sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa cho nhà tư bản là nội dungchính của quy luật giá trị thặng dư Nó tác động đến mọi mặt của xã hội tưbản Nó quyết định sự phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự thaythế nó bằng một xã hội khác cao hơn, là quy luật vận động của phương thứcsản xuất tư bản chủ nghĩa
Chính vì vậy, việc nghiên cứu các hình thức biểu hiện của giá trị thặng
dư trong nền kinh tế thị trường gồm lợi nhuận, lợi tức, địa tô tư bản chủnghĩa, thực chất là phân tích về các quan hệ lợi ích giữa những nhà tư bản vớinhau, giữa nhà tư bản với địa chủ trong việc phân chia giá trị thặng dư thu
Trang 4dược trên cơ sở hao phí sức lao động của người lao động làm thuê Nên việcnghiên cứu phạm trù giá trị thặng dư, nhất là hình thức biểu hiện của nó làvấn đề lợi nhuận, có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay Vì vậy mà tôi đã chọn đề tài “Phân tích lí luận
về các hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư, vai trò của lí luận lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường hiện nay” cho bài tiểu luận của mình.
2
Trang 5NỘI DUNG
LÍ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
I- PHẠM TRÙ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ:
1- Sự chuyển hoá tiền tệ thành tư bản:
Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định.Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản, mà tiền chỉ biến thành tư bản khiđược sử dụng để bóc lột lao động của người khác
Nếu tiền được dùng để mua bán hàng hoá thì chúng là phương tiện giảnđơn của lưu thông hàng hoá và vận động theo công thức: Hàng- Tiền-Hàng(H-T-H), nghĩa là sự chuyển hoá của hàng hoá thành tiền tệ, rồi tiền tệlại chuyển hoá thành hàng Còn tiền với tư cách là tư bản thì vận động theocông thức: Tiền - Hàng - Tiền (T-H-T), tức là sự chuyển hoá tiền thành hàng
và sự chuyển hoá ngược lại của hàng thành tiền Bất cứ tiền nào vận độngtheo công thức T-H-T đều được chuyển hoá thành tư bản
Mác lại giả định rằng trong xã hội tư bản có một loại nhà tư bản rất lưumanh và xảo quyệt, khi mua các yếu tố sản xuất thì rẻ, còn khi bán thì đắt.Điều này chỉ giải thích được sự làm giàu của những thương nhân cá biệt chứkhông thể giải thích được sự làm giàu của tất cả giai cấp tư sản, vì tổng số giátrị trước lúc trao đổi cũng như trong và sau khi trao đổi đều không thay đổi
mà chỉ có sự thay đổi trong việc phân phối giá trị giữa những người trao đổi
mà thôi Và Mác kết luận rằng đây chẳng qua là hành vi móc túi lẫn nhau giữacác nhà tư bản trong cùng giai cấp
Vậy từ ba trường hợp cụ thể trong lưu thông Mác cho rằng: Trong lưuthông không thể tạo ra giá trị và giá trị thặng dư vì vậy không thể là nguồngốc sinh ra ∆T
Ở ngoài lưu thông Mác xem xét cả hai yếu tố là hàng hoá và tiền tệ:
Trang 6Đối với hàng hoá ngoài lưu thông: Tức là đem sản phẩm tiêu dùng hay
sử dụng và sau một thời gian tiêu dùng nhất định thì thấy cả giá trị sử dụng vàgiá trị của sản phẩm đều biến mất theo thời gian
Đối với yếu tố tiền tệ: Tiền tệ ở ngoài lưu thông là tiền tệ nằm im một
chỗ Vì vậy không có khả năng lớn lên để sinh ra ∆T
Vậy ngoài lưu thông khi xem xét cả hai yếu tố hàng hoá và tiền tệ đềukhông tìm thấy nguồn gốc sinh ra ∆T
“ Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thểxuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồngthời không phải trong lưu thông” (C.Mác: Tư bản NXB Sự thật, HN, 1987,Q1, tập 1,tr 216) Đó là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản
Khi Mác trở lại lưu thông lần thứ hai và lần này Mác đã phát hiện rarằng: Ở trong lưu thông người có tiền là nhà tư bản phải gặp được một người
có một thứ hàng hoá đặc biệt đem bán, mà thứ hàng hoá đó khi đem tiêu dùnghay sử dụng nó có bản tính sinh ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị củabản thân nó, hàng hoá đặc biệt đó chính là sức lao động
2- Hàng hoá - sức lao động:
Số tiền chuyển hoá thành tư bản không thể tự làm tăng giá trị mà phảithông qua hàng hoá được mua vào (T-H) Hàng hoá đó phải là một thứ hànghoá đặc biệt mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị.Thứ hàng hoá đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường
Như vậy, sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thểcon người, thể lực và trí lực mà người đó đem ra vận dụng trong quá trình sảnxuất ra một giá trị sử dụng
Không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá, mà sức lao độngchỉ biến thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định
C.Mác đã nhấn mạnh sức lao động chỉ trở thành hàng hoá khi có đủ haiđiều kiện tiền đề:
4
Trang 7Một là, người lao động phải tự do về thân thể, phải làm chủ được sức
lao động của mình và có quyền đem bán cho người khác Vậy người có sứclao động phải có quyền sở hữu sức lao động của mình
Hai là, người lao động phải tước hết tư liệu sản xuất để trở thành
người vô sản và bắt buộc phải bán sức lao động, vì không còn cách nào khác
để sinh sống
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu dẫn đến chỗ sức laođộng biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định của sự chuyển hoátiền thành tư bản
Cũng như những hàng hoá khác, hàng hoá - sức lao động cũng có haithuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng
Giá trị của hàng hoá sức lao động là giá trị của những tư liệu sinh hoạtcần thiết để nuôi sống người công nhân, vợ con anh ta; những yếu tố tinhthần, dân tộc, tôn giáo của người công nhân, những chi phí đào tạo ngườicông nhân
Giá trị hàng hoá sức lao động giống giá trị hàng hoá thông thường ởchỗ: Nó phản ánh một lượng lao động hao phí nhất định để tạo ra nó Nhưnggiữa chúng có sự khác nhau căn bản: Giá trị của hàng hoá thông thường biểuthị hao phí lao động trực tiếp để sản xuất hàng hoá nhưng hàng hoá - sức laođộng lại là sự hao phí lao động gián tiếp thông qua việc sản xuất ra những vậtphẩm tiêu dùng để nuôi sống người công nhân Còn hàng hoá sức lao độngngoài yếu tố vật chất, nó còn có yếu tố tinh thần lịch sử, dân tộc, yếu tố giađình và truyền thống, nghề nghiệp mà hàng hoá thông thường không có
Cũng giống như các hàng hoá thông thường, hàng hoá sức lao động cókhả năng thoả mãn những nhu cầu nhất định nào đó của người mua Nhưnggiá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động có thuộc tính đặc biệt, nó khác hoàntoàn với hàng hoá thông thường ở chỗ: Khi đem tiêu dùng hay sử dụng nó thìkhông những không bị tiêu biến theo thời gian về giá trị và giá trị sử dụng màngược lại nó lại tạo ra một lượng giá trị mới c + m ( c + m > v, với v là giá trị
Trang 8sử dụng của bản thân nó) Khoản lớn lên được sinh ra trong quá trình sử dụngsức lao động chính là ∆T hay giá trị thặng dư.
Từ đó Mác kết luận: Hàng hoá - sức lao động là nguồn gốc tạo ra giá trịhơn thế nữa là tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản Bởi vì, sức lao độngcàng đem tiêu dùng hay sử dụng thì người công nhân hay người lao độngcàng tích luỹ được kinh nghiệm nghề nghiệp, càng nâng cao năng suất laođộng Vì vậy sẽ làm giảm giá trị hay mức tiền lương mà nhà tư bản đã trả cho
họ Vì vậy, dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư bản rất ưa thích loại hàng hoáđặc biệt này
Vậy quá trình người công nhân tiến hành lao động là quá trình sản xuất
ra hàng hoá và đồng thời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bảnthân giá trị sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tưbản đã chiếm đoạt Như vậy, hàng hoá - sức lao động có thuộc tính là nguồngốc sinh ra giá trị Đó là đặc điểm cơ bản nhất của hàng hoá - sức lao động sovới các hàng hoá khác Nó là chìa khoá để giải thích tính mâu thuẫn của côngthức chung của tư bản
3- Bản chất giá trị thặng dư:
Nói chung, trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tưliệu sản xuất, giá trị sử dụng không phải là mục đích Giá trị sử dụng được sảnxuất chỉ vì nó là vật mang giá trị trao đổi
Nhà tư bản muốn sản xuất ra một giá trị sử dụng có một giá trị trao đổi,nghĩa là một hàng hoá Hơn nữa, nhà tư bản muốn sản xuất ra một hàng hoá
có giá trị lớn hơn tổng giá trị những tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động mànhà tư bản đã bỏ ra để mua, nghĩa là muốn sản xuất ra một giá trị thặng dư
Vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trìnhsản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư C.Mácviết: “ Với tư cách là sự thống nhất giữa hai quá trình lao động và quá trìnhtạo ra giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá; với tưcách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì
6
Trang 9quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tưbản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá”.
Quá trình lao động với tư cách là quá trình nhà tư bản tiêu dùng sức laođộng có hai đặc trưng:
Một là, người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của nhà tư bản
giống như những yếu tố khác của sản xuất được nhà tư bản sử dụng sao cho
có hiêụ quả nhất
Hai là, sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản, chứ không phải
của người công nhân
C.Mác đã lấy ví dụ về việc sản xuất sợi ở nước Anh làm đối tượngnghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư Để nghiên cứu, Mác đã sửdụng phương pháp giả định khoa học thông qua giả thiết chặt chẽ để tiến hànhnghiên cứu: Không xét đến ngoại thương, giá cả thống nhất với giá trị, toàn
bộ giá trị tư liệu sản xuất đem tiêu dùng chuyển hết một lần vào giá trị sảnphẩm và chỉ nghiên cứu trong nền kinh tế tái sản xuất giản đơn
Từ các giả định đó, Mác đưa ra một loạt các giả thiết để nghiên cứu:Nhà tư bản dự kiến kéo 10 kg sợi; giá 1 kg bông là 1 đôla; hao mònthiết bị máy móc để kéo 5 kg bông thành 5 kg sợi là 1 đôla; tiền thuê sức laođộng 1 ngày là 4 đôla; giá trị mới 1 giờ lao động của công nhân là 1 đôla vàchỉ cần 4 giờ người công nhân kéo được 5 kg bông thành 5 kg sợi
Từ đó, Mác đi đến khái niệm về giá trị thặng dư:
Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra bên ngoài giá trị sức lao động
do công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt.
Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư là quá trình sản xuất ra giá trịvượt khỏi điểm mà ở đó sức lao động của người công nhân đã tạo ra mộtlượng giá trị mới ngang bằng với giá trị sức lao động hay mức tiền công mànhà tư bản đã trả cho họ Thực chất của sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất ragiá trị vượt khỏi giới hạn tại điểm đó giá trị sức lao động được trả ngang giá
Trang 11II- CÁC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ:
Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra nhiều giá trị thặng dư, do đógiai cấp tư sản đã không từ bất cứ một thủ đoạn nào để bóc lột giá trị thặng
dư Những phương pháp cơ bản để đạt được mục đích đó là tạo ra giá trịthặng dư tuyệt đối và tạo ra giá trị thặng dư tương đối
1- Phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối:
Bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối được tiến hành bằng cách kéo dàituyệt đối thời gian lao động trong ngày của người công nhân trong điều kiệnthời gian lao động cần thiết (hay mức tiền công mà nhà tư bản trả cho côngnhân là không đổi)
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động cầnthiết và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi đó trình độ bóc lột của nhà tưbản là 100% Giả định ngày lao động được kéo dài thêm 2 giờ trong khi thờigian lao động cần thiết không đổi thì thời gian lao động thặng dư tăng lênmột cách tuyệt đối, vì thế giá trị thặng dư cũng tăng lên, trình độ bóc lột tănglên đạt 200% (m’ = 200%)
Với sự thèm khát giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tìm mọi cách để kéodài ngày lao động và phương pháp bóc lột này đã đem lại hiệu quả rất cao chocác nhà tư bản Nhưng dưới chủ nghĩa tư bản mặc dù sức lao động của côngnhân là hàng hoá, nhưng nó lại tồn tại trong cơ thể sống của con người Vìvậy, ngoài thời gian người công nhân làm việc cho nhà tư bản trong xínghiệp, người công nhân đòi hỏi còn phải có thời gian để ăn uống nghỉ ngơinhằm tái sản xuất ra sức lao động Mặt khác, sức lao động là thứ hàng hoá đặcbiệt vì vậy ngoài yếu tố vật chất người công nhân đòi hỏi còn phải có thờigian cho những nhu cầu sinh hoạt về tinh thần, vật chất, tôn giáo của mình
Từ đó tất yếu dẫn đến phong trào của giai cấp vô sản đấu tranh đòi giai cấp tưsản phải rút ngắn thời gian lao động trong ngày
Vì vậy, giai cấp tư sản phải chuyển sang một phương pháp bóc lột mớitinh vi hơn, đó là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối
Trang 122- Phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối:
Bóc lột giá trị thặng dư tương đối được tiến hành bằng cách rút ngắnthời gian lao động cần thiết để trên cơ sở đó mà kéo dài tương ứng thời gianlao động thặng dư, trong điều kiện độ dài của ngày lao động là không đổi
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động cầnthiết và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, trình độ bóc lột là 100% Bâygiờ chúng ta lại giả thiết rằng, công nhân chỉ cần 2 giờ lao động đã tạo rađược một giá trị bằng với giá trị sức lao động của mình Do đó, tỷ lệ phânchia ngày lao động thành thời gian lao động cần thiết và thời gian lao độngthặng dư trong trường hợp đó cũng thay đổi Khi đó thời gian lao động cầnthiết là 2 giờ, thời gian lao động thặng dư là 6 giờ, trình độ bóc lột của nhà tưbản lúc này là 300% (m’ = 300%)
Để có thể rút ngắn thời gian lao động cần thiết thì các nhà tư bản phảitìm mọi biện pháp, đặc biệt là phải áp dụng tiến bộ và công nghệ vào trongquá trình sản xuất để nâng cao năng suất lao động xã hội, giảm giá thành vàtiến tới giảm giá cả thị trường của sản phẩm Đặc biệt nâng cao năng suất laođộng xã hội trong những ngành, những lĩnh vực sản xuất ra vật phẩm tiêudùng để nuôi sống người công nhân Từ đó tiến tới hạ thấp giá trị sức laođộng
Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dưtuyệt đối chiếm ưu thế, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi mà kỹ thuật phát triển,sản xuất giá trị thặng dư tương đối chiếm vị trí chủ yếu Hai phương pháp trênđược các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lộtcông nhân làm thuê trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản
Trong nền kinh tế tư bản người công nhân sau quá trình làm việc chonhà tư bản sẽ nhận được một khoản thu nhập dưới hình thức tiền công haytiền lương Với cách trả lương như vậy các nhà lí luận tư sản khẳng định rằngtiền lương hay tiền công là giá cả của lao động Và trong quá trình sản xuấtnhà tư bản trả đúng giá cả của lao động Vì vậy dưới chủ nghĩa tư bản không
10
Trang 13có bóc lột Nhưng C.Mác đã khẳng định tiền lương không phải là giá cả củangười lao động Bởi vì, lao động là một phạm trù trừu tượng nên người takhông thể bán cái trừu tượng Hơn nữa, lao động chỉ thể hiện khi vận dụngsức lao động để tiến hành quá trình sản xuất.
III CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
1 Lợi nhuận
Quá trình sản ra giá trị thặng dư chỉ là sự tiêu biểu qua sản phẩm cònthực tế để thu được tiền thì sự chuyển hoá giá trị thặng dư như thế nào Vìcông thức chung của tư bản là T-H-T' nên mục đích cuối cùng của nhà tư bản
là thu được T' còn m là nền tảng để thu được T' (T' > T) Mác đã giúp chúng
ta giải quyết vấn đề này vì ông đã tìm ra một đại lượng biểu hiện giá trị thặng
dư đó là lợi nhuận (P) Vậy:
"Giá trị thặng dư khi được đem so sánh với tổng tư bản ứng trước thìmang giá trị hình thức biến tướng thành lợi nhuận" từ đó ta có thể thấy Pchính là con đẻ của tổng tư bản ứng trước c + v
Để hiểu rõ hơn về P chúng ta có thể đi sâu và phân tích chi phí thực tế
xã hội và chi phí sản xuất TBCN xuất phát từ giá trị hàng hoá c + v + m
Muốn sản xuất hàng hoá phải chi phí lao động nhất định bao gồm chiphí cho mua tư liệu sản xuất c gọi là lao động quá khứ và lao động tạo ra giátrị mới (c + m) Đứng trên quan điểm xã hội, quan điểm của người lao độngthì chi phí đó là chi phí thực tế để tạo ra giá trị hàng hoá (c + v + m) Nhưngđối với các nhà tư bản thì họ không hao phí thực tế để sản xuất ra hàng hoánên nhà tư bản chỉ xem hết bao nhiêu tư bản chứ không tính xem chi phí hếtbao nhiêu lao động cần thiết Thực tế, họ chỉ ứng ra số tư bản để mua tư liệusản xuất (c) và mua sức lao động (v) Chi phí đó được C.Mác gọi là chi phí tưbản chủ nghĩa có sự chênh lệch nhau một lượng đúng bằng m Do đó nhà tưbản hàng hoá sẽ thu về một phần lời đúng bằng giá trị thặng dư m, số tiền nàygọi là lợi nhuận
Trang 14Giá trị hàng hoá lúc này bằng chi phí sản xuất TBCN cộng với lợinhuận:
Giá trị = k + P
Về mặt lượng, P có nguồn gốc là kết quả của lao động không công củacông nhân làm thuê Về mặt chất, P có nguồn gốc như toàn bộ tư bản ứngtrước đẻ ra Do đó P che giấu quan hệ bóc lột TBCN che giấu quan hệ nguồngốc thực sự của nó
Do chi phí sản xuất TBCN luôn luôn nhỏ hơn chi phí sản xuất thực tếcho nên nhà tư bản có thể bán hàng hoá cao hơn chi phí sản xuất TBCN và cóthể thấp hơn giá trị hàng hoá Nếu như nhà tư bản bán hàng hoá với giá trị của
nó thì P=m Nếu bán với giá trị cao hơn giá trị của nó thì P > m, nếu bán vớigiá trị nhỏ hơn giá trị của nó thì P< m Chính điều này đã làm cho họ cho rằnglợi nhuận là do việc mua bán, do lưu thông tạo ra, do tài kinh doanh của nhà
tư bản mà có Điều này dẫn đến sự che dấu bản chất bóc lột của chủ nghĩa tưbản
1.1 Tỷ xuất lợi nhuận
Về tỉ xuất lợi nhuận (P) là tỉ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng
dư và toàn bộ tư bản ứng trước