Hà Nội, ngày tháng năm 2019 Nghiên cứu sinh Trang 4 LỜI CẢM ƠN Luận án với đề tài “Chính sách phát triển nhóm nghiên cứu mạnh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ tro
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Đào Minh Quân
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÓM NGHIÊN CỨU MẠNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
(Nghiên cứu trường hợp Đại học Quốc gia Hà Nội)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Đào Minh Quân
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÓM NGHIÊN CỨU MẠNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
(Nghiên cứu trường hợp Đại học Quốc gia Hà Nội)
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 GS.TS Nguyễn Văn Kim
2 PGS.TS Đào Thanh Trường XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN
Chủ tịch hội đồng đánh giá
Luận án Tiến sĩ
Người hướng dẫn khoa học
Hà Nội, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Đào Minh Quân, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, khóa QH-2014-X, Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Văn Kim và PGS.TS Đào Thanh Trường
Các thông tin thu được từ các kết quả nghiên cứu tài liệu, điều tra, phỏng vấn
do tôi trực tiếp thực hiện
Nghiên cứu trong Luận án không trùng lặp với các đề tài nghiên cứu trước đây của các tác giả trong và ngoài nước
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Nghiên cứu sinh
Đào Minh Quân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận án với đề tài “Chính sách phát triển nhóm nghiên cứu mạnh nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học”
(Nghiên cứu trường hợp ĐHQGHN) là kết quả học tập và nghiên cứu của tác giả trong
giai đoạn 2014 - 2019, chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, tại Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án, tác giả được GS.TS Nguyễn Văn Kim, PGS.TS Đào Thanh Trường trực tiếp hướng dẫn Sự tận tình chỉ bảo của hai thầy hướng dẫn cùng với sự định hướng chuyên môn, gợi mở những hướng nghiên cứu của các nhà khoa học trong ngành đã giúp cho tác giả có điều kiện hoàn thành luận án của mình Tác giả xin được bày tỏ sự biết ơn chân thành đến GS.TS Nguyễn Văn Kim và PGS.TS Đào Thanh Trường và đội ngũ các nhà khoa học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban KHCN, Ban Tổ chức-Cán bộ, Ban Đào tạo, Trung tâm TT-TV của ĐHQGHN; phòng Quản lý Nghiên cứu khoa học, phòng Đào tạo, phòng Tổ chức - Cán bộ, phòng Kế hoạch - Tài vụ của các trường thành viên của ĐHQGHN và đặc biệt là các nhà khoa học, các nhà quản lý của ĐHQGHN đã tạo điều kiện giúp đỡ để tác giả tiếp cận được với thực tế nghiên cứu của mình qua nhiều nội dung từ điều tra số liệu, thu thập dữ liệu, trao đổi ý kiến, phỏng vấn sâu …
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã hết lòng giúp đỡ, động viên tạo mọi điều kiện trong quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành luận án
Xin trân trọng cảm ơn
NCS Đào Minh Quân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH 5
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do nghiên cứu 8
2 Ý nghĩa của nghiên cứu 10
3 Đối tượng nghiên cứu 11
4 Phạm vi nghiên cứu 11
5 Mục tiêu nghiên cứu 12
6 Câu hỏi nghiên cứu 12
7 Giả thuyết nghiên cứu 12
8 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 13
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NHÓM NGHIÊN CỨU MẠNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 19
1.1 Dẫn nhập 19
1.2 Các công trình nghiên cứu về sự hình thành, đặc điểm, vai trò của NNCM
trong trường đại học 20
1.3 Các công trình nghiên cứu về chính sách phát triển NNCM trong trường đại học 33
1.4 Những nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu 39
1.5 Tiểu kết chương 1 40
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU NHÓM NGHIÊN CỨU MẠNH
VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÓM NGHIÊN CỨU MẠNH TRONG
HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC 41
2.1 Dẫn nhập 41
2.2 Cơ sở lý luận về NNCM trong trường đại học 41
2.2.1 Khái niệm NNC 41
2.2.2 Khái niệm và tiêu chí NNCM 42
2.2.3 Khái niệm và vai trò của hoạt động KH&CN trong trường đại học 45
Trang 62.2.4 Phân loại NNCM trong trường đại học 48
2.2.5 Vai trò và các mối quan hệ của NNCM trong việc nâng cao hiệu quả
hoạt động KH&CN của trường đại học 49
2.2.6 Phát triển NNCM và hiệu quả hoạt động của NNCM trong trường đại học 54
2.3 Cơ sở lý luận về chính sách phát triển NNCM trong trường đại học 54
2.3.1 Khái niệm và vai trò của chính sách 54
2.3.2 Khái niệm chính sách phát triển NNCM trong trường đại học 56
2.3.3 Cấu trúc chính sách phát triển NNCM trong trường đại học 56
2.3.4 Chu trình chính sách phát triển NNCM trong trường đại học 58
2.3.5 Tiêu chí đánh giá chính sách phát triển NNCM trong trường đại học 60
2.4 Tiểu kết chương 2 62
Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÓM NGHIÊN CỨU MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 63
3.1 Dẫn nhập 63
3.2 Cơ sở hình thành và phát triển NNCM ở ĐHQGHN 64
3.2.1 Tầm nhìn và chiến lược của ĐHQGHN 64
3.2.2 Cơ sở hình thành và cách tiếp cận xây dựng NNCM ở ĐHQGHN 66
3.2.3 Bàn về tiêu chí NNCM của ĐHQGHN 67
3.2.4 Những đặc điểm của NNCM ở ĐHQGHN 71
3.2.5 Những đóng góp của NNCM trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN ở ĐHQGHN 79
3.2.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển NNCM 85
3.3 Tiểu kết chương 3 93
Chương 4 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÓM NGHIÊN CỨU MẠNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ CỦA ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 95
4.1 Dẫn nhập 95
4.2 Tổng quan về chính sách của Nhà nước có tác động đến sự hình thành
và phát triển NNCM trong các trường đại học 95
4.3 Những ưu điểm trong chính sách phát triển NNCM của ĐHQGHN 106
4.3.1 Nhóm chính sách đầu tư, phát triển nguồn nhân lực 107
4.3.2 Nhóm chính sách cải thiện môi trường và điều kiện nghiên cứu 111
4.3.3 Nhóm chính sách hợp tác và phát triển 116
Trang 74.4 Những hạn chế của chính sách phát triển NNCM ở ĐHQGHN 120
4.5 Đánh giá tác động của chính sách phát triển NNCM đến hoạt động KH&CN
ở ĐHQGHN 129
4.5.1 Chính sách đầu tư, phát triển nguồn nhân lực 129
4.5.2 Chính sách cải thiện môi trường và điều kiện nghiên cứu 133
4.5.3 Chính sách hợp tác và phát triển 135
4.6 Tiểu kết chương 4 136
Chương 5 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÓM NGHIÊN CỨU MẠNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 138
5.1 Dẫn nhập 138
5.2 Bối cảnh, quan điểm định hướng, mục tiêu, nguyên tắc đề xuất giải pháp
hoàn thiện chính sách phát triển NNCM 138
5.2.1 Bối cảnh bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển NNCM 138
5.2.2 Quan điểm định hướng đề xuất giải pháp bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển NNCM 142
5.2.3 Mục tiêu đề xuất giải pháp bổ sung, hoàn hiện chính sách phát triển
NNCM 145
5.2.4 Nguyên tắc đề xuất giải pháp bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển
NNCM 145
5.3 Kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng và phát triển NNCM 146
5.4 Giải pháp bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển NNCM ở ĐHQGHN 156
5.4.1 Biện pháp bổ sung, hoàn thiện về chiến lược 158
5.4.2 Các biện pháp bổ sung, hoàn thiện chính sách 159
5.4.3 Các biện pháp bổ sung, hoàn thiện quy định về quản lý 165
5.5 Điều kiện cần và đủ để các giải pháp bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển NNCM có tính khả thi 167
5.6 Tiểu kết chương 5 169
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 171
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN 177
TÀI LIỆU THAM KHẢO 178
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHKHXH&NV: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
XH&NV: Xã hội và Nhân văn
KT&CN: Kỹ thuật và Công nghệ
NC&TK: Nghiên cứu và triển khai
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
1 Danh mục biểu đồ, hình, hộp
Biểu đồ 3.1: Sự phát triển của NNCM ở ĐHQGHN 65
Biểu đồ 3.2: Cấu trúc nhân lực NNCM theo lĩnh vực nghiên cứu 72
Biểu đồ 3.3: Cấu trúc NNCM theo lĩnh vực nghiên cứu 72
Biểu đồ 3.4: Cấu trúc NNCM theo quy mô thành viên 73
Biểu đồ 3.5: Cấu trúc trình độ của các Trưởng NNCM 73
Biểu đồ 3.6: Cấu trúc trình độ của các thành viên NNCM 74
Biểu đồ 3.7: Cấu trúc độ tuổi của Trưởng NNCM 75
Biểu đồ 3.8: So sánh năng suất khoa học trung bình trong vòng 5 năm của NNCM theo các lĩnh vực nghiên cứu 81
Biểu đồ 3.9: Những yếu tố thuộc về năng lực ảnh hưởng đến sự phát triển của
NNCM 86
Biểu đồ 3.10: Những yếu tố thuộc về mối quan hệ và lợi ích ảnh hưởng đến
sự phát triển của NNCM 87
Biểu đồ 3.11: Những yếu tố thuộc về môi trường, chính sách có ảnh hưởng đến
sự phát triển của NNCM 89
Biểu đồ 3.12: Đánh giá mức độ đảm bảo yêu cầu trong tuyển chọn nội dung,
cá nhân/đơn vị thực hiện đề tài 90
Biểu đồ 3.13: Đánh giá mức độ nghiêm túc, chính xác trong kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu đề tài nghiên cứu 92
Hình 2.1: Khung phân tích chính sách phát triển NNCM 61
Hình 3.1: Cấu trúc của NNCM 72
Hình 5.1: Sơ đồ khung chính sách cấu trúc nghiên cứu của RMIT 151
Hình 5.2: Khung định hướng chiến lược cho ĐHQGHN 157
Hộp 2.1: Tiêu chí đánh giá NNCM 43
Hộp 3.1: Tiêu chí đánh giá NNCM của Trường Đại học KHTN, ĐHQGHN 70
Hộp 3.2: Việc xem xét nhân lực khi xét duyệt đề tài còn mang tính hình thức 91
Hộp 3.3: Tiêu cực phí trong tuyển chọn, nghiệm thu và thanh quyết toán đề tài 92
Trang 10Hộp 4.1: Ý kiến của lãnh đạo Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN về chính sách
đào tạo đối với NNCM 99
Hộp 4.2: Chính sách ban hành không đi kèm với nguồn lực thực hiện 120
Hộp 4.3: Ý kiến của lãnh đạo ĐHQGHN về thành lập NNCM 121
Hộp 4.4: Hiện tượng mượn tên nhà khoa học khi thành lập NNCM 122
Hộp 4.5: Ý kiến của lãnh đạo ĐHQGHN về hoạt động đánh giá 124
Hộp 4.6: Thực tế triển khai chính sách ưu đãi giờ giảng đối với thành viên NNCM 125
Hộp 4.7: Ý kiến của nhà khoa học về chính sách thành lập NNCM 126
Hộp 4.8: Nghịch lý trong triển khai dự án tăng cường NLNC, người cần thì không được giao, người được giao thì không cần 127
Hộp 5.1: Tiêu chí thành viên và thành viên nòng cốt của NNC, TTNC, Viện NC 153
2 Danh mục các bảng Bảng 3.1: Đánh giá mức độ đạt được các tiêu chí quốc tế của NNCM thuộc
ĐHQGHN 68
Bảng 3.2: Tương quan giữa độ tuổi với số lượng bài báo ISI/Scopus 76
Bảng 3.3: Tương quan giữa độ tuổi với số lượng đề tài chủ trì 76
Bảng 3.4: So sánh giữa chức danh, học vị với số lượng bài báo ISI/Scopus 77
Bảng 3.5: Tương quan giữa nhóm chức danh, học vị với số lượngđề tài chủ trì 78
Bảng 3.6: Số lượng công trình khoa học được công bố bởi thành viên NNCM 79
Bảng 3.7: So sánh năng suất nghiên cứu trung bình 5 năm của thành viên NNCM
theo lĩnh vực nghiên cứu 80
Bảng 3.8: So sánh kết quả nghiên cứu của thành viên NNCM so với mặt bằng chung của ĐHQGHN 81
Bảng 3.9: Số lượng đề tài do thành viên NNCM chủ trì và tham gia 83
Bảng 3.10: Đánh giá mức độ đóng góp của NNCM đối với việc nâng cao
hiệu quả hoạt động KH&CN 84
Bảng 3.11: Những yếu tố thuộc về năng lực ảnh hưởng đến sự phát triển của
NNCM 85
Bảng 3.12: Những yếu tố thuộc về mối quan hệ và lợi ích ảnh hưởng đến sự
phát triển của NNCM 87
Bảng 3.13: Những yếu tố thuộc về môi trường, chính sách có ảnh hưởng đến sự
phát triển của NNCM 88
Trang 11Bảng 3.14: Đánh giá mức độ đảm bảo yêu cầu trong tuyển chọn nội dung,
cá nhân/đơn vị thực hiện đề tài 89
Bảng 3.15: Đánh giá mức độ nghiêm túc, chính xác trong kiểm tra, đánh giá,
nghiệm thu đề tài nghiên cứu 91
Bảng 4.1: Số liệu thống kế nhân lực theo chức danh và trình độ đào tạo 110
Bảng 4.2: Hiện trạng các PTN tính đến năm 1/3/2016 112
Bảng 4.3: Đối chiếu hiệu quả sau đầu tư khai thác hệ thống trang thiết bị ở một số đơn vị giai đoạn 2005-2015 115
Bảng 4.4: Những nguyên nhân cản trở việc giải thể NNCM 123
Bảng 4.5: Nguyên nhân chính sách được ban hành chưa phù hợp với thực tế 128
Bảng 4.6: Tỉ lệ cán bộ khoa học năm 2018 so với chỉ tiêu năm 2015 và 2020 130
Bảng 4.7: Đánh giá tác động của nhóm chính sách đầu tư, phát triển nguồn nhân lực đến sự phát triển NNCM 130
Bảng 4.8: Đánh giá tác động của nhóm chính sách cải thiện môi trường và điều kiện nghiên cứu đến sự phát triển NNCM 134
Bảng 4.9: Đánh giá tác động của nhóm chính sách hợp tác và phát triển đến sự
phát triển NNCM 135
Bảng 5.1: Tương quan nhân lực và kinh phí được cấp giữa các viện, trung tâm NC&TK và các trường đại học 140
Bảng 5.2: Đánh giá mức độ cần thiết của các chính sách đối với sự phát triển
của NNCM ở ĐHQGHN 160
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Sự quan tâm, đầu tư xây dựng và phát triển các NNCM ở các trường đại học của Việt Nam trong thời gian gần đây phản ánh nhận thức chung rằng các NNCM trong trường đại học ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội Trong bối cảnh khoa học đang phát triển theo xu hướng liên ngành, các chuyên ngành khoa học liên kết, thâm nhập, hòa quyện vào nhau đòi hỏi các nhà khoa học cần có cái nhìn, góc tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu và do đó nhu cầu về việc xây dựng mô hình tổ chức mang tính hợp tác, liên thông giữa các nhà khoa học ở ngay chính chuyên ngành và ở nhiều chuyên ngành khác nhau nhằm hỗ trợ, bổ sung cho nhau là một vấn đề cấp thiết và thực tiễn
Có một thực tế khá phổ biến diễn ra trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay, xét ở góc độ tổ chức dường như là rào cản bởi xu hướng chia cắt và có phần hành chính hóa trong cả hoạt động nghiên cứu và đào tạo ở các bộ môn chuyên môn Điều này được xem là bình thường của khoa học, nếu như đồng thời với sự chuyên sâu về chuyên môn là cơ chế gắn kết, liên kết, hợp tác hay tổ hợp trở lại giữa các bộ môn nhằm tận dụng thế mạnh của nhau Nhưng, thực tế các bộ môn chuyên môn hiện nay đang cho thấy mỗi bộ môn là một “ốc đảo”, dẫn tới sự chia cắt, phân lập thiếu tinh thần hợp tác Xuất phát từ thực tế này, giải pháp mà các trường đại học lựa chọn là xây dựng các NNC khoa học, trong đó đặc biệt chú trọng xây dựng các NNCM nhằm quy
tụ các nhà khoa có trình độ cao, lấy hợp tác là phương thức hoạt động chủ yếu để nâng cao hiệu quả cả trong đào tạo và NCKH, đồng thời qua đó góp phần nâng cao hiệu quả gắn kết giữa các bộ môn chuyên môn
Với việc xác định NNC, đặc biệt là NNCM như là các tế bào sống của hoạt động khoa học, và thậm chí của cả hoạt động đào tạo trong các trường đại học, nhà khoa học muốn phát triển được ý tưởng khoa học, xây dựng trường phái học thuật của mình hoặc giải quyết một vấn đề khoa học liên ngành phải thiết lập được nhóm cộng sự và học trò, tức là phải xây dựng được NNC Chính NNC là môi trường khoa học thuận lợi nhất để các nhà khoa học trao đổi học thuật, tập hợp lực lượng và cùng nhau tiếp cận, giải quyết các vấn đề mới của khoa học, và thường thông qua các hoạt động của nhóm như xemina khoa học, hướng dẫn NCS NNC có thể thu hút các nhà khoa học có chuyên môn gần để phát triển môi trường học thuật chuyên sâu, hoặc thu hút các nhà khoa học của nhiều
Trang 13ngành khác nhau để tập trung tâm sức giải quyết một vấn đề có tính liên ngành Đồng thời tạo ra các sản phẩm nghiên cứu có thể chuyển giao và ứng dựng vào thực tiễn[13] Điều đó phần nào lý giải tại sao, NNCM được xem là một trong những trụ cột trong việc giúp các trường đại học xây dựng nền tảng khoa học, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Có nhiều vấn đề quan trọng được đặt ra khi các trường đại học Việt Nam xây dựng và phát triển các NNCM cụ thể như sau: Tại sao các trường đại học cần có các NNCM? Những lợi ích mà các trường đại học mong muốn đạt được khi thành lập các NNCM so với các mô hình nghiên cứu hiện tại là gì? Nguồn lực nào để xây dựng và phát triển NNCM? Công tác quản trị phù hợp sẽ được triển khai như thế nào để thúc đẩy các NNCM phát triển? Chuẩn mực đối với NNCM là gì? Mức độ tự chủ và các hình thức chịu trách nhiệm trong quá trình này ra sao? Vai trò của Nhà nước và trường đại học trong xây dựng và phát triển NNCM là gì? Làm thế nào để quy tụ được các nhà khoa học tốt nhất? Những lĩnh vực nào cần được đầu tư để tập trung phát triển? Nhà nước và các trường đại học cần có chính sách nào để thúc đẩy phát triển NNCM nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động KH&CN? Những câu hỏi này sẽ phần nào được phân tích, luận giải qua việc triển khai các nội dung nghiên cứu cụ thể của luận án
Với mục đích góp phần nhìn nhận, lý giải vấn đề phức tạp nêu trên, tác giả luận
án lựa chọn chủ đề “Chính sách phát triển NNCM nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
KH&CN trong các trường đại học ở Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp ĐHQGHN)”
là nội dung nghiên cứu của mình Lý do tác giả luận án chọn chủ để nghiên cứu này
bởi đây là một chủ đề mới, khảo sát thực tế, người viết nhận thấy hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về chính sách phát triển các NNCM và đúc kết thành những đề xuất chính sách một cách cụ thể nhằm thúc đẩy phát triển các NNCM trong các trường đại học Bên cạnh đó, việc lựa chọn ĐHQGHN là khách thể
nghiên cứu bởi, ĐHQGHN có thể xem là trường hợp điểm hình trong việc xây dựng
và phát triển NNCM ở thời điểm hiện tại Với chiến lược phát triển của mình đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030[42], ĐHQGHN đã khẳng định đang từng bước xây dựng, phát triển theo định hướng một ĐHNC, nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước Đối với một ĐHNC thì chức năng nghiên cứu chiếm ưu thế trong sứ mạng của Nhà trường, nghĩa là nghiên cứu quyết định bản chất và nội dung của các hoạt động khác như giảng dạy, học tập, phục vụ xã hội Thực tế cho thấy, những đề tài NCKH có quy mô lớn, có tính liên ngành cao như
Trang 14đề tài cấp nhà nước, đề tài trọng điểm cấp bộ/cấp đại học quốc gia đều được thực hiện bởi các NNC, thay vì cá nhân nghiên cứu độc lập Chính vì vậy, để ĐHQGHN phát triển thành ĐHNC thì việc xây dựng và phát triển NNC có tính cấp bách và có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn cao trong giai đoạn hiện nay Đây cũng chính là một trong những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cả trong đào tạo và nghiên cứu Ngoài ra, ĐHQGHN là một trong những trung tâm đào tạo, nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực lớn nhất của cả nước, với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu trực thuộc KQNC của các nhà khoa học ở ĐHQGHN đã từng bước khẳng định được mức độ ảnh hưởng ở tầm quốc gia và quốc tế Theo bảng xếp hạng mới nhất của QS University Ranking Asia 2019 thì ĐHQGHN đứng thứ 124 trong danh sách 150 đại học hàng đầu châu Á[68] và là 1 trong 2 trường đại học của Việt Nam lọt top 1000 trường đại học xuất sắc nhất thế giới[69] Vì vậy, ĐHQHGH có thể được coi là đơn vị điển hình và có nhiều ý nghĩa cũng như khả năng suy rộng KQNC đến các cơ sở đào tạo, nghiên cứu trong cả nước
Tóm lại, từ những phân tích kể trên, rõ ràng việc nghiên cứu, đánh giá và đề xuất giải pháp bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển NNCM trong các trường đại học là cần thiết nhằm kiến tạo môi trường thuận lợi để các nhà khoa học, các NCS, học viên, sinh viên có thể phát huy khả năng và ý tưởng sáng tạo trong NCKH nhằm hướng đến mục tiêu: a) Thúc đẩy các sáng kiến mới đặc biệt là trong những lĩnh vực nghiên cứu đa ngành đang được quan tâm; b) Huy động và khai thác các nguồn lực bên trong và bên ngoài để phát triển các chương trình nghiên cứu của nhóm; c) Cung cấp các chương trình giáo dục và rèn luyện trong hoạt động nghiên cứu và các kỹ năng liên quan, đặc biệt là đối với sinh viên đại học và sau đại học; d) Phổ biến, truyền bá tri thức khoa học qua các ấn phẩm, hội thảo, bài giảng,…; đ) Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hợp tác đa ngành giữa các học giả và đối tác thông qua mạng Internet và quá trình trao đổi thông tin; e) Cung cấp, chuyển giao các kết quả nghiên cứu, khóa đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn; f) Tăng cường NLNC; g) Liên kết tri thức, tận dụng được các ưu điểm về tính liên ngành
2 Ý nghĩa của nghiên cứu
Trên phương diện lý thuyết, luận án góp thêm một góc nhìn mới về các khái
niệm NNC, NNCM, hoạt động KH&CN, chính sách phát triển NNCM và tiêu chí NNCM Luận án cũng giúp mở rộng sự hiểu biết về vai trò và các mối quan hệ của NNCM trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN trong trường đại học; tiêu chí
Trang 15đánh giá hiệu quả hoạt động KH&CN của NNCM trong trường đại học; cấu trúc chính sách phát triển NNCM trong trường đại học; chu trình chính sách phát triển NNCM trong trường đại học; tiêu chí đánh giá tác động của chính sách phát triển NNCM trong trường đại học
Về mặt thực tiễn, luận án chỉ ra thực trạng và vai trò của NNCM ở ĐHQGHN
trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN qua các chiều cạnh cụ thể, bao gồm quy mô, cơ cấu, tổ chức, hoạt động, đóng góp của NNCM cũng như những nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển NNCM Luận án cũng làm rõ thực trạng chính sách phát triển NNCM nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN của ĐHQGHN trên cơ sở phân tích những ưu điểm, hạn chế và tác động của 3 nhóm chính sách, bao gồm: Nhóm chính sách đầu tư, phát triển nguồn nhân lực; nhóm chính sách cải thiện môi trường và điều kiện nghiên cứu; nhóm chính sách hợp tác và phát triển Ngoài ra, luận án còn góp phần quan trọng trong việc chỉ ra những điểm cần bổ sung, hoàn thiện đối với chính sách phát triển NNCM ở ĐHQGHN nhằm không chỉ gia tăng số lượng nhóm mà quan trọng hơn là nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN của NNCM Điểm cần nói thêm là kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu tham khảo tốt cho các trường đại học, các viện nghiên cứu trong việc đề ra những chính sách nhằm thúc đẩy
sự hình thành và phát triển NNCM trong thời gian tới
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Chính sách phát triển NNCM nhằm nâng cao hiệu quả hoạt KH&CN trong trường đại học
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu
Phạm vi nội dung của luận án được giới hạn cụ thể như sau:
- Nội dung thứ nhất là thực trạng và tác động của các NNCM trong hoạt động KH&CN của trường đại học
- Nội dung thứ hai là thực trạng và tác động của chính sách phát triển NNCM nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN trong trường đại học
- Nội dung thứ ba là đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển NNCM trong trường đại học
4.2 Phạm vi không gian và thời gian
Giới hạn phạm vi không gian: Luận án chỉ nghiên cứu NNCM ở ĐHQGHN Giới hạn phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu các nội dung được đề cập đến
ở trên trong khoảng thời gian chủ yếu từ 2013 đến nay Việc giới hạn phạm vi thời
Trang 16gian này là vì từ 2013, ĐHQGHN chính thức ban hành chính sách phát triển NNCM Ngoài ra, một số văn bản khác liên quan được ban hành trước năm 2013 cũng được xem xét, phân tích
5 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ thực trạng và những tác động của NNCM đối với hoạt động KH&CN của các trường đại học cụ thể là trường hợp ĐHQGHN
- Làm rõ thực trạng và tác động của các chính sách phát triển NNCM đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN của ĐHQGHN
- Đề xuất những điểm cần bổ sung, hoàn thiện đối với chính sách phát triển NNCM ở ĐHQGHN nhằm không chỉ gia tăng số lượng nhóm mà quan trọng hơn là nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN của NNCM
6 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi thứ nhất: Thực trạng các NNCM như thế nào và các NNCM đã có
những tác động ra sao đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN của ĐHQGHN?
Câu hỏi thứ hai: Thực trạng và tác động của chính sách phát triển NNCM đối
với việc nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN của ĐHQGHN như thế nào?
Câu hỏi thứ ba: Chính sách phát triển NNCM ở ĐHQGHN hiện nay cần được
bổ sung, hoàn thiện như thế nào để không chỉ gia tăng về số lượng nhóm mà quan trọng hơn là tạo ra chất lượng từ hiệu quả đạt được của nhóm trong hoạt động KH&CN?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết thứ nhất: NNCM ở ĐHQGHN giúp gia tăng số lượng ấn phẩm khoa
học, số lượng đề tài, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và mở rộng hợp tác trong nghiên cứu
Giả thuyết thứ hai: Bên cạnh những tác động tích cực, chính sách phát triển
NNCM nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN của ĐHQGHN vẫn còn những hạn chế nhất định liên quan đến mục tiêu, nội dung và tổ chức thực hiện chính sách
Giả thuyết thứ ba: Chính sách phát triển NNCM ở ĐHQGHN hiện nay cần
được bổ sung, hoàn thiện trên một số phương diện, cụ thể là xác lập lĩnh vực nghiên cứu thế mạnh, tự chủ tài chính, và đánh giá hiệu quả hoạt động
Trang 178 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
8.1 Các cách tiếp cận
thống thiết chế quản lý bao gồm chiến lược (sự lựa chọn), chính sách (sự đối xử), luật hay các quy định (sự điều chỉnh)[5, tr.55-56] Như vậy, theo cách tiếp cận này, tác giả
luận án tiến hành xem xét chính sách phát triển NNCM trong chiến lược phát triển, các chính sách đãi ngộ và các quy định cụ thể đối với NNCM của ĐHQGHN
- Cách tiếp cận đánh giá hậu nghiệm: Xây dựng NNCM ở ĐHQGHN được
định hướng trong chiến lược phát triển của Nhà trường từ năm 2000, và được đầu tư
kể từ năm 2006 đến nay Tuy nhiên, các chính sách trong nghiên cứu này chủ yếu được ban hành trong giai đoạn 2013 trở lại đây và đã triển khai thực hiện khi nghiên cứu này tiến hành Do chính sách đã triển khai trong thực tế, nên cách tiếp cận đánh giá tiên nghiệm không phù hợp và vì vậy cách tiếp cận đánh giá hậu nghiệm được áp dụng Cách tiếp cận này cho phép sử dụng các phương pháp định tính và định lượng trong đánh giá thông qua lấy ý kiến của đối tượng hưởng lợi và các tác nhân liên quan Cách tiếp cận này cho phép đánh giá kết quả đạt được so với mục tiêu đặt ra của chính sách, cũng như xác định được nguyên nhân của các kết quả đạt được Nói cách khác, đánh giá hậu nghiệm cho phép chỉ ra mối quan hệ nhân quả giữa kết quả và quá trình triển khai thực hiện chính sách
- Tiếp cận đánh giá tác động thông qua so sánh trước và sau khi thực hiện chính sách: Trong nghiên cứu này tác giả luận án kết hợp phương pháp định lượng và
định tính để đánh giá tác động của các chính sách phát triển NNCM Các phương pháp thống kê mô tả, so sánh và ý kiến chuyên gia được sử dụng Việc so sánh trước và sau khi thực hiện chính sách cho biết sự thay đổi của các chỉ số phản ánh tác động Trong trường hợp so sánh này, không thể định lượng được tác động chính xác của chính sách lên đối tượng hưởng lợi hoặc tác nhân liên quan Ở đây, tác giả luận án giả định rằng
sự thay đổi kết quả có sự đóng góp (tích cực hoặc tiêu cực) của chính sách Cách tiếp
cận so sánh này cho phép dựa vào số liệu thực tế có thể kiểm chứng được Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia cũng cho phép phản ánh tác động của chính sách Mặc dù không định lượng được tác động của chính sách, nhưng cho phép xác định được hướng
tác động (dương tính, âm tính, ngoại biên) của chính sách và nguyên nhân
- Tiếp cận theo nội dung chính sách, kênh tác động và tác nhân hưởng lợi trực tiếp từ chính sách: Nghiên cứu này liên quan đến nhiều nhóm chính sách và các chính
Trang 18sách có sự khác nhau về tác nhân tham gia thực hiện, đối tượng hưởng lợi trực tiếp, kênh truyền dẫn tác động, Trong mỗi văn bản chính sách có nhiều nội dung khác nhau, trong khi nghiên cứu chỉ giới hạn ở một số nội dung nhất định đối với mỗi chính sách Mỗi chính sách có kênh tác động và đối tượng hưởng lợi trực tiếp, gián tiếp khác nhau Vì vậy, căn cứ theo kênh thực hiện và tác động mà mỗi chính sách sẽ có đối tượng khảo sát, chỉ tiêu đánh giá riêng biệt
- Tiếp cận theo lĩnh vực nghiên cứu và theo cấp quản lý: Định mức tiêu chí xây
dựng NNCM có sự khác nhau về đơn vị triển khai và lĩnh vực nghiên cứu Các đơn vị khác nhau có những điểm mạnh, điểm yếu của lĩnh vực nghiên cứu khác nhau nên việc
áp dụng các chính sách ở các đơn vị và lĩnh vực nghiên cứu sẽ khác nhau, tác động chính sách khác nhau
Hơn nữa, ngay trong cùng một đơn vị nghiên cứu, các loại hình nghiên cứu cơ bản, ứng dụng, định hướng ứng dụng, triển khai khác nhau, nên tác động của chính sách xây dựng NNC cũng khác nhau Vì vậy, nghiên cứu đã chọn mỗi đơn vị, mỗi lĩnh vực một số NNCM đại diện, trong đó, NNCM sẽ được đặt trong các tổ chức KH&CN nói chung để xem xét Việc khảo sát, đánh giá chỉ tập trung vào các trường đại học/tương đương đã triển khai xây dựng NNCM Vì ở các đơn vị này được ưu tiên đầu
tư phát triển nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và các hoạt động hỗ trợ và
đó là cơ sở để đánh giá tác động Các cơ quan quản lý từ cấp ĐHQGHN đến cấp đơn
vị trực thuộc có vai trò khác nhau trong triển khai chính sách, vì vậy, các cấp này được khảo sát và lấy ý kiến đánh giá
8.2 Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận án tiến hành xem xét các văn bản chính sách của ĐHQGHN và văn bản chính sách của nhà nước có liên quan, đồng thời kế thừa và sử dụng phân tích các nguồn tài liệu khác như: các bài báo, tạp chí chuyên ngành, các bài báo cáo trong kỷ yếu hội thảo, các công trình nghiên cứu trước, các tài liệu của những ngành khoa học khác, các báo cáo hoạt động KH&CN của ĐHQGHN, các báo cáo tổng kết hoạt động của các NNCM ở ĐHQGHN Các văn bản, tài liệu, các thông tin lý thuyết được tác giả luận án nghiên cứu, sắp xếp để tạo ra một hệ thống
lý thuyết đầy đủ, sâu sắc về chủ đề nghiên cứu; các tài liệu cũng chia thành từng bộ phận, từng mặt để có thể hiểu một cách toàn diện Điều này giúp tác giả luận án phát hiện ra những xu hướng, những lĩnh vực, hướng nghiên cứu của từng tác giả đã nghiên
Trang 19cứu trước đó để lựa chọn những thông tin quan trọng phục vụ cho đề tài nghiên cứu Những thông tin thu thập được kế thừa và sử dụng một cách có chọn lọc trong luận án
- Phương pháp điều tra với bảng hỏi
Tác giả luận án tiến hành điều tra với bảng hỏi 141 đối tượng Trong đó, có 113 cán bộ khoa học làm việc trong các NNC, NNCM và 28 cán bộ quản lý ở ĐHQGHN bao gồm cả các đối tượng được hưởng lợi từ chính sách và các đối tượng không được hưởng lợi từ chính sách Việc khảo sát bằng bảng hỏi được tiến hành theo hai cách: thứ nhất gửi phiếu hỏi qua email đến đối tượng được hỏi để xin ý kiến và thứ hai là liên hệ trước và trực tiếp phát phiếu xin ý kiến người được hỏi Thông tin khảo sát đảm bảo nguyên tắc khuyết danh của người trả lời theo đúng quy định Mẫu khảo sát cụ thể như sau:
Tác giả luận án tiến hành phỏng vấn sâu 16 đối tượng là các trưởng NNCM, cán
bộ lãnh đạo quản lý ở các bộ phận có liên quan trực tiếp như Tổ chức – Cán bộ, Quản
lý Nghiên cứu Khoa học, Quản lý đào tạo từ cấp ĐHQGHN đến cấp trường thành viên
Trang 20nhằm phát hiện các vấn đề của chính sách cũng như làm rõ những vấn đề chính sách
đã được phát hiện Mẫu đối tượng được lựa chọn phỏng vấn đảm bảo tính đại diện về lĩnh vực, độ tuổi, thâm niên chuyên môn khác nhau Bên cạnh đó tác giả luận án tiến hành phỏng vấn sâu thêm 01 chuyên gia nước ngoài và 02 lãnh đạo thuộc Bộ KH&CN nhằm làm rõ hơn những vấn đề của chính sách phát triển NNCM nói chung Việc phỏng vấn sâu được tiến hành bằng cách gửi trước yêu cầu phỏng vấn bằng văn bản, tác giả luận án trực tiếp nghe và trao đổi với các chuyên gia Thông tin phỏng vấn đảm bảo nguyên tắc khuyết danh của người trả lời theo đúng quy định
- Phương pháp thống kê toán học:
Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để xử lý, phân tích, đánh giá các
kết quả thu thập được bằng phương pháp điều tra với bảng hỏi nêu trên Cụ thể là:
- Tính tần suất, phần trăm kết quả thu được
- Sử dụng một số các đại lượng thống kê: Giá trị trung bình, Độ lệch chuẩn và
Hệ số tương quan Pearson (r) nhằm chỉ rõ mức độ có liên hệ hay không liên hệ của 2 hay nhóm đại lượng nào đó theo kiểu tuyến tính
Việc tính điểm cho mỗi phương án trả lời được quy ước như sau:
Sử dụng thang điểm từ 1 - 5 cho các mức độ lựa chọn Để phân ra 05 mức độ tác giả luận án đã lấy điểm cao nhất (5) trừ đi điểm thấp nhất (1) và chia cho 5 mức Điểm chênh lệch của mỗi mức độ là 0.8 tính theo công thức n=(n-1)/n trong đó n là số thứ bậc của thang đo Mức thang đo trên có giá trị nghiên cứu cho trường hợp ĐHQGHN:
+Mức độ quan trọng:
Không quan trọng 1 điểm Mức độ 5 Không quan trọng 1≤ĐTB≤1.8
+Mức độ cần thiết:
Không cần thiết 1 điểm Mức độ 5 Không cần thiết 1≤ĐTB≤1.8
Trang 21Ảnh hưởng rất nhiều 5 điểm Mức độ 1 Ảnh hưởng rất nhiều 4.2≤ĐTB≤5
Hoàn toàn không
Hoàn toàn không
Trường hợp 2:
Nửa đúng, nửa sai 3 điểm Mức độ 3 Nửa đúng, nửa sai 2.6≤ĐTB≤3.4
+ Mức độ đảm bảo yêu cầu
Trang 22+ Mức độ đạt được các tiêu chí
Hoàn toàn đạt đƣợc 5 điểm Mức độ 1 Hoàn toàn đạt đƣợc 4.2≤ĐTB≤5
Đạt mức trung bình 3 điểm Mức độ 3 Đạt mức trung bình 2.6≤ĐTB≤3.4
Hiếm khi thực hiện 2 điểm Mức độ 4 Hiếm khi thực hiện 1.8≤ĐTB≤2.6
- Kỹ thuật xử lý thông tin:
Các phiếu điều tra đƣợc tiến hành nhập và xử lý, phân tích kết quả trên máy tính, bằng phần mềm chuyên dụng SPSS (20.0)
Trang 23CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÓM NGHIÊN CỨU MẠNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Dẫn nhập
Trên thế giới, NNC được biết đến kể từ năm 1990, khi PTN khoa học pháp y của Mỹ và quốc tế đã hợp tác trong các NNC khoa học (Scientific Working Group) để cải thiện thực hành kỷ luật và xây dựng tiêu chuẩn thống nhất Mỗi NNC bao gồm các nhà khoa học làm việc trong các lĩnh vực nghiên cứu riêng và hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, họ vừa làm việc độc lập, vừa liên kết với nhau trên cơ sở là phần
tử của một hệ thống pháp y phát triển của Hoa Kỳ, bất cứ hoạt động phân tích pháp y liên quan đến các vấn đề quốc tế đều có sự tham gia cộng tác của các NNC Mỗi NNC đều có website riêng với các nguồn tài nguyên phong phú, các chương trình/dự án nghiên cứu được thực hiện, các KQNC được ứng dụng đã chứng tỏ NLNC và các thành tựu mà nhóm đạt được [73]
Ngày nay, trong các trường đại học trên thế giới, các NNC là hình thức tổ chức phổ biến để tiến hành các hoạt động nghiên cứu và đào tạo Có thể kể đến mô hình NNC của Đại học Lomonoxop, Nga; các trường đại học của Hà Lan; Trường đại học Ruhr, Bochum, CHLB Đức[55]; hay các NNCM đã khẳng định được những thành công trong hoạt động của mình như Nano Research Group, School of Materials and Engineering, Georgia Institute of Technology[72]; The Abruña group, Department of Chemistry and Chemical Biology, Cornell University, United State [76]; The Group Semiconductor Components, University of Twente[77]; Max Planck Research group [71]… Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của các NNC đã cho thấy, trong môi trường hợp tác của NNC, các nhà khoa học thường dễ dàng tìm thấy ý tưởng và sự đồng thuận trong mục tiêu và quan điểm khoa học, sự gắn kết này không chỉ đơn thuần
là công việc mà còn là sự đam mê cống hiến khoa học Chính vì vậy, sự gắn kết của các NNC thường bền vững hơn so với bất cứ sự gắn bó hành chính nào
Cũng như trên thế giới, môi trường đại học ở Việt Nam là nơi giao thoa của ba chức năng đào tạo, NCKH và phục vụ xã hội, cũng là nơi hội tụ của đại đa số các nhà
khoa học (Theo số liệu điều tra NC&TK 2014 và điều tra doanh nghiệp 2014, ở khu
vực đại học, tỷ lệ cán bộ nghiên cứu trong tổng số cán bộ nghiên cứu của cả nước là cao nhất, chiếm gần một nửa (48%), tiếp đó là khu vực viện nghiên cứu/trung tâm
Trang 24nghiên cứu (23%), khu vực doanh nghiệp cũng có tỷ lệ tương đối cao (16%))[56] rõ
ràng sẽ là môi trường lý tưởng để các NNC phát triển Nhằm làm rõ tính mới, tính khoa học cho đề tài nghiên cứu, trong chương này tác giả luận án sẽ tìm hiểu những kết quả mà các nghiên cứu trong và ngoài nước đã thực hiện và nhận định những nội dung còn chưa được đặt vấn đề nghiên cứu, để qua đó, xác định những nhiệm vụ đặt ra cho đề tài luận án cần tập trung giải quyết Theo đó, tác giả luận án sẽ tập trung vào 3
nội dung chính gồm (1) Cơ sở hình thành, đặc điểm, vai trò của nhóm nghiên cứu
mạnh trong trường đại học; (2) Chính sách phát triển nhóm nghiên cứu mạnh trong trường đại học; (3) Những nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu
1.2 Các công trình nghiên cứu về sự hình thành, đặc điểm, vai trò của NNCM trong trường đại học
Qua nghiên cứu, tìm hiểu các tài liệu liên quan đến chủ đề nghiên cứu của mình
ở trong và ngoài nước tác giả luận án nhận thấy, các bài viết của các nhà khoa học đã
đề cập đến vấn đề hợp tác trong nghiên cứu, nhận diện NNC và NNCM, sự hình thành, đặc điểm, cấu trúc, vai trò, quy trình hoạt động và những yếu tố cốt lõi đối với NNC
và NNCM Sau đây là những nội dung cụ thể:
Khái niệm NNC đã được Joseph S Fruton đề cập trong cuốn tài liệu “Constracts
in scientific Style: Research Groups in the Chemical and Biochemocal Researchs”
(1990) Trong đó, tác giả đưa ra định nghĩa: NNC là một tập thể nghiên cứu định
hướng trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định tại một đơn vị đào tạo, đơn vị nghiên cứu, được dẫn dắt bởi một nhà khoa học có uy tín khoa học, đủ để có thể tiến hành một chương trình nghiên cứu độc lập Thông qua tương tác với lãnh đạo chuyên môn của nhóm (trưởng nhóm) và với các thành viên khác, các thành viên trong nhóm có cơ hội học hỏi các kỹ thuật thực nghiệm, nắm bắt kiến thức lý thuyết và tham gia tích cực vào chương trình nghiên cứu của nhóm để tạo ra những thành tựu khoa học mới, những ý tưởng mới, những sản phẩm KH&CN mới [31]
Đề cập đến khái niệm NNCM trong “Handbook: Work Group Learning” (2008), Valerie I Sessa cho rằng, NNCM được hiểu theo nghĩa rộng là tập hợp các nhà khoa
học hay các trung tâm, PTN liên kết với nhau trên một hay một số lĩnh vực nhằm nghiên cứu và triển khai những hoạt động KH&CN ở trình độ cao trong những lĩnh vực khoa học khác nhau Các NNC sẽ đóng vai trò trung gian trong hệ thống tổ chức trung tâm, viện, trường Các nhóm sẽ liên kết các cá nhân lại với nhau trong khoảng thời gian cố định và liên kết với nhau dưới dạng hệ thống hoàn chỉnh Nói cách khác,
Trang 25các NNC đóng vai trò là tổ chức nhỏ tập hợp các cá nhân hoạt động NCKH và phát triển công nghệ và các trung tâm, viện, trường là nơi tổ chức tập hợp các NNC lại theo hướng tương hỗ hoặc song song với nhau [40]
Hay quan điểm của David L Morgan - Porland State University, đề cập trong
Focus as Qualitative Research - Second Edition - Sage Publications Inc (1997) khi
cho rằng “NNCM là một NNC được hoạt động trên cơ sở kết hợp tự nguyện những cá
thể có NLNC tốt Thay vì các mối quan hệ trên cơ sở uy tín là những quan hệ tương tác giữa các thành viên trong nhóm với sự điều hành của người chủ trì đề tài Dấu hiệu phân biệt của NNCM là sự trao đổi thảo luận để phát triển công tác nghiên cứu, điều này có thể ít được sử dụng trong các NNC thông thường”[34]
Trong khi đó, công trình nghiên cứu “Studies in Scientific Collaboration Part III
Professionalization and The Natural History of Modern Scientific Co-authorship”
(1979) của D Deb Beaver và R Rosen cho thấy, xu hướng hợp tác giữa các nhà khoa học đã gia tăng một cách nhanh chóng kể từ thế kỷ XX Sự hợp tác được tăng cường gắn liền với những đổi mới trong tổ chức khoa học và tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của khoa học Các tác giả cũng khẳng định, cả sự hợp tác và những thay đổi trong tổ chức khoa học đều bắt nguồn từ sự chuyên nghiệp hóa khoa học, chính sự gia tăng các hoạt động nghiên cứu liên ngành, cũng như yêu cầu cao về chi phí nghiên cứu đã có tác động lớn buộc các nhà nghiên cứu phải hợp tác trong nghiên cứu, hình thành nên các NNC và mạng lưới nghiên cứu giúp mở rộng khả năng truyền bá tri thức, nâng cao chất lượng nghiên cứu và ứng dụng nghiên cứu trong thực tiễn[32]
Nghiên cứu của Sharon Mickan và Sylvia Rodger về những đặc điểm của nhóm
hiệu quả (Characteristics of effective teams: a literature review (2000)) đã chỉ ra 18
đặc điểm quan trọng của một nhóm làm việc hiệu quả, trong đó 12 đặc điểm thuộc về cấu trúc tổ chức và 6 đặc điểm thuộc về quy trình, cụ thể:
Về mặt cấu trúc tổ chức, nhóm tác giả cho rằng các nhóm hiệu quả cần có:
1) Mục đích rõ ràng (Clear purpose) - xác định các mục tiêu phù hợp và liên kết các
mục tiêu chuyên môn của cá nhân song song với mục tiêu của nhóm; 2) Văn hóa phù
hợp (Appropriate culture) - Văn hóa nhóm thể hiện cách chuyển đổi các giá trị được
chia sẻ thành các chuẩn mực hành vi; 3) Xác định rõ nhiệm vụ (Specified task) - các
nhiệm vụ đóng góp hữu hình cho nhóm và phù hợp với mục đích, khả năng và thái độ
của nhóm; 4) Phân định rõ vai trò (Distinct roles) - vai trò cá nhân cần được làm rõ và hiểu rõ; 5) Lãnh đạo phù hợp (Suitable leadership) - Nhiệm vụ của nhóm càng phức tạp
Trang 26và năng động, càng cần một người lãnh đạo giỏi Lãnh đạo nên phản ánh giai đoạn phát triển của nhóm Các nhà lãnh đạo cần duy trì trọng tâm chiến lược để hỗ trợ tầm nhìn
của Nhóm, tạo điều kiện thiết lập mục tiêu, đào tạo và đánh giá thành tích; 6) Thành
viên có liên quan (Relevant members)- Số lượng thành viên phù hợp với sự pha trộn và
đa dạng của nhiệm vụ; 7) Nguồn lực đầy đủ (Adequate resources); 8) Đóng góp cá nhân
(Individual Contribution)- cá nhân tham gia vào các nhóm đòi hỏi phải có kiến thức, sự
tin tưởng, cam kết và linh hoạt; 9) Hiểu bản thân (Self-knowledge) - Hình ảnh bản thân
chuyên nghiệp có ảnh hưởng lớn nhất đến các thành viên trong việc hiểu và tương tác
với nhau; 10) Lòng tin (Trust) - Các cá nhân đáng tin cậy sẵn sàng chia sẻ kiến thức và
kỹ năng của họ mà không sợ bị thu nhỏ hoặc khai thác Họ thường có khả năng học tập
lẫn nhau; 11) Cam kết (Commitment) - Hiểu bản thân và tin tưởng người khác là những
yếu tố quan trọng để xây dựng cam kết Cam kết về một tập hợp thống nhất các mục tiêu
và giá trị của nhóm cung cấp phương hướng và động lực cho từng thành viên; 12) Linh
hoạt (Flexibility) - Linh hoạt là khả năng duy trì một thái độ cởi mở, thích ứng với các
giá trị cá nhân khác nhau và dễ tiếp thu ý tưởng của người khác
Về quy trình của nhóm, các tác giả cũng chỉ ra rằng các nhóm hiệu quả cần
những yếu tố quan trọng sau đây: 1) Phối hợp (Coordination) - Phối hợp được mô tả là
các hành động giữa các cá nhân có trật tự cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ phức tạp Các nhóm cần khai thác sự đa dạng và giảm thiểu sự khác biệt của các thành viên,
để đảm bảo rằng các kỹ năng và kiến thức chuyên môn được sử dụng tốt; 2) Sự gắn kết
(Cohesion) - Sự gắn kết nhóm thừa nhận các thành viên hấp dẫn cá nhân đối với nhóm
và nhiệm vụ Các thành viên hợp tác phụ thuộc lẫn nhau xung quanh nhiệm vụ của
nhóm để đáp ứng các mục tiêu của nhóm; 3) Ra quyết định (Decision making) - Một
loạt các kiến thức và kỹ năng của các thành viên trong nhóm thường đóng góp thông tin mở rộng và tạo ra các quyết định tốt hơn Tuy nhiên, quyền tự chủ cá nhân có thể giảm khi các quyết định được chia sẻ và trách nhiệm được lan tỏa đến tất cả các thành
viên trong nhóm; 4) Quản trị xung đột (Conflict management) - Xung đột nhóm có thể
thúc đẩy sáng tạo nhưng cũng có thể phá hủy nhóm Để đánh giá cao những đóng góp sáng tạo và thúc đẩy giải quyết vấn đề hiệu quả của nhóm, sự đa dạng cần được quản
lý cẩn thận; 5) Các mối quan hệ xã hội (Social relationships) - Mối quan hệ xã hội tốt
sẽ duy trì các nhóm làm việc hiệu quả Cá nhân các thành viên trong nhóm cần đồng
cảm và hỗ trợ nhau, cung cấp, chia sẻ thông tin và hợp tác giải quyết các vấn đề; 6)
Thông tin phản hồi hiệu quả (Performance Feedback) - Các cá nhân, nhóm và tổ chức
Trang 27đều yêu cầu phản hồi chính xác và kịp thời về hiệu suất làm việc để duy trì hiệu quả của nhóm[36]
Bài viết có nhan đề “Exploring the relationship between multiple team
membership and team performance: The role of social networks and collaborative technology (2015)” (Khám phá mối quan hệ giữa nhiều thành viên nhóm và hiệu suất nhóm: Vai trò của mạng xã hội và công nghệ hợp tác) của nhóm tác giả Fabiola
Bertolotti, Elisa Mattarelli, Matteo Vignoli, Diego Maria Macrì khi nghiên cứu các đơn
vị R&D của một công ty Ý về mối quan hệ giữa nhiều thành viên nhóm và hiệu suất nhóm trong việc sử dụng các công nghệ hợp tác và mạng xã hội tại nơi làm việc đã cho thấy, khi thành tích của các tổ chức phụ thuộc ngày càng nhiều vào công việc của các nhóm nghiên cứu, sự hiểu biết về cách họ hoạt động và cách cải thiện hiệu suất của họ ngày càng trở nên quan trọng Đặc biệt, trong bối cảnh các nhà nghiên cứu ngày càng bị phân mảnh giữa các dự án và địa điểm khác nhau, do đó việc thúc đẩy tương tác trực tiếp giữa các cá nhân hiếm khi được thực hiện do đó các cá nhân và nhóm sử dụng các nguồn lực xã hội và công nghệ của họ để tương tác nhằm hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của họ Điều đó lý giải vì sao công nghệ hợp tác hiện đã lan rộng tại nơi làm việc, nó hỗ trợ và cải thiện sự hợp tác giữa các thành viên và các nhóm nghiên cứu[33]
Cũng nghiên cứu về năng suất và sự hợp tác trong nghiên cứu, bài nghiên cứu có
nhan đề “How are Collaboration and Productivity Correlated at Various Career
Stages of Scientists? (2012)” (Năng suất và sự hợp tác có tương quan như thế nào với các giai đoạn nghề nghiệp khác nhau của các nhà khoa học?) của các tác giả Zhigang
Hu, Chaomei Chen, và Zeyuan Liu thì chỉ ra rằng, sự hợp tác được cho là có ảnh hưởng đến năng suất của các nhà nghiên cứu Tuy nhiên, tác động của sự hợp tác phụ thuộc vào các yếu tố tiềm ẩn như kỷ luật, mô hình cộng tác và các cộng tác viên Hơn nữa, ở các giai đoạn nghề nghiệp khác nhau, như giai đoạn mới làm quen, giai đoạn có kinh nghiệm, v.v., sự hợp tác là khác nhau về quy mô và chiều rộng, và ảnh hưởng của
nó đến năng suất khác nhau Nghiên cứu của nhóm tác giả cũng cho thấy rằng, năng suất có tương quan với sự hợp tác nói chung, nhưng mối tương quan có thể là tích cực hoặc tiêu cực trên cơ sở các khía cạnh của sự hợp tác để đo lường, quy mô hoặc phạm
vi cộng tác Mối tương quan trở nên mạnh mẽ hơn khi các nhà khoa học tiến bộ qua các giai đoạn khác nhau của sự nghiệp Hơn nữa, các ngành thực nghiệm, như Hóa học hữu cơ và virus học, đã cho thấy các hệ số tương quan mạnh hơn so với các ngành lý thuyết như Toán học và Khoa học máy tính[70]
Trang 28Hay nghiên cứu của Sooho Lee và Barry Bozeman về Tác động của hợp tác
nghiên cứu đến năng suất khoa học (The Impact of Research Collaboration on
Scientific Productivity (2005)) trên cơ sở khảo sát 443 nhà khoa học hàn lâm, nhằm
xem xét tác động của sự hợp tác đối với năng suất của các nhà khoa học, thông qua số
lượng ấn phẩm tạp chí (in trên giấy) cũng cho thấy, sự hợp tác của các nhà khoa học
trong hoạt động nghiên cứu đã trở thành chuẩn mực Các đặc tính ngày càng liên ngành, phức tạp và tốn kém của khoa học hiện đại đã tạo động lực, khuyến khích các nhà khoa học tham gia vào các nghiên cứu hợp tác Các cơ quan tài trợ, đặc biệt là các
cơ quan chính phủ, tạo điều kiện cho sự hợp tác nghiên cứu tích cực như là một phần của điều kiện tài trợ của họ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, khi năng suất xuất bản được
đo bằng 'số lượng bình thường' (Normal count- A scientist’s total number of publications), sự hợp tác là một yếu tố dự báo mạnh mẽ về năng suất xuất bản Khi
năng suất xuất bản được đo bằng 'số phân số' (Fractional Count - dividing credit by
the number of coauthors), cộng tác và năng suất xuất bản không liên quan đáng kể, ít
nhất là không phải trong một mô hình kiểm soát các biến kiểm duyệt Những phát hiện này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu sâu rộng hơn về tác động của sự hợp tác, dưới mọi hình thức, đến năng suất nghiên cứu, trong tất cả các ý nghĩa của nó Hơn nữa, nghiên cứu cũng cho thấy các giảng viên cao cấp có nhiều khả năng tham gia vào
sự hợp tác theo định hướng cố vấn Các nhà nghiên cứu mới vào nghề có thể được hưởng lợi đáng kể từ những hợp tác với các nhà nghiên cứu cao cấp Đặc biệt, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, từ quan điểm chiến lược, các nghiên cứu hợp tác cần chú trọng nhiều hơn vào năng lực, đặc biệt là sự phát triển của nguồn nhân lực KH&CN Ngay
cả khi người ta hiểu được mối quan hệ giữa sự hợp tác và các nhà nghiên cứu riêng lẻ, năng suất xuất bản của nó hoàn toàn phong phú và phức tạp, sự phát triển của các lĩnh vực khoa học sẽ tiếp tục phụ thuộc vào khả năng tái tạo và mở rộng các kỹ năng nghiên cứu qua các thế hệ Hợp tác có thể là yếu tố chính trong phát triển nguồn nhân lực KH&CN và ý nghĩa của sự hợp tác để phát triển nghề nghiệp có thể sẽ khác hoàn toàn so với các biện pháp riêng biệt về năng suất xuất bản riêng lẻ[35]
Bàn về vai trò và kinh nghiệm xây dựng, phát triển nhóm nghiên cứu trong
trường đại học, thông qua các bài viết “Nhóm nghiên cứu - yếu tố quyết định tới chất
lượng của hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học” (2008) và “Kinh nghiệm xây dựng và phát triển nhóm nghiên cứu khoa học (2008), Trương Quang Học,
một trong những tác giả có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu và phát
Trang 29triển NNC đã đề cập đến vai trò đặc biệt quan trọng của NNC trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và NCKH, đồng thời tác giả đã nhấn mạnh đến 6 yếu tố quan trọng của một NNC đó là a) Có người đứng đầu, có trình độ khoa học, năng lực tổ chức và nhiệt huyết trong khoa học Tác giả cho rằng đây là yếu tố quan trọng nhất; b) Có định hướng khoa học đúng, phù hợp với xu hướng quốc tế và phục vụ thiết thực cho sự phát
triển của Việt Nam; c) Có điều kiện nghiên cứu phù hợp gồm trang thiết bị (và điều
kiện để vận hành) và nguồn thông tin, tư liệu đầy đủ, cập nhật; d) Tập hợp được đội
ngũ cán bộ có nhiệt huyết và hoài bão khoa học, nhất là các cán bộ khoa học trẻ, các thực tập sinh sau tiến sĩ và nhất là NCS, HVCH, sinh viên làm khóa luận; Xây dựng và phát huy năng lực của tập thể, tạo sự đoàn kết, nhất trí cao trong mọi hoạt động; e) Kiên trì theo đuổi hướng chuyên môn đã lựa chọn, quyết tâm vượt qua các khó khăn
về điều kiện làm việc, thậm chí sức ép về mặt xã hội để đạt được mục tiêu khoa học của mình Các kết quả khoa học được tích lũy, phát triển và được công bố rộng rãi trên
các tạp chí trong nước và quốc tế; f) Có quan hệ hợp tác tốt (hợp tác trong nội bộ, với
các cơ quan ngoài và đặc biệt là hợp tác quốc tế) [53,54]
Đây cũng là quan điểm của Nguyễn Đình Đức, được nêu trong bài bài viết có
tiêu đề “Phát triển nhóm nghiên cứu trong trường đại học - Xu thế tất yếu” (2014), theo đó tác giả cho rằng, chỉ có xây dựng được các NNCM mới triển khai được các
hoạt động nghiên cứu mạnh, đủ sức giải quyết những vấn đề khoa học đỉnh cao của ngành và những nhiệm vụ KH&CN quan trọng của đất nước.Việc đào tạo và phát triển đội ngũ cũng chính từ hoạt động của các NNC, nhất là đào tạo tiến sỹ Khi NNC
đã đủ mạnh về nhân lực, cơ sở vật chất và các nguồn lực khác, có thể xây dựng các chương trình đào tạo mới Thông qua sự phát triển của các NNC cũng sẽ tăng cường
các công bố quốc tế, từ đó nâng được thứ bậc và xếp hạng của trường đại học Hơn nữa, một trong những vai trò quan trọng của trường đại học là chuyển giao tri thức, đưa những KQNC mới về KH&CN của Nhà trường phục vụ thiết thực sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc NNC có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc triển khai từ nghiên cứu đến chế thử, thúc đẩy sự ra đời của các sáng chế và sản phẩm mới trong trường đại học Vì vậy, một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả của các hoạt động nghiên cứu, cũng như nâng cao xếp hạng của trường đại học là phải xây dựng và phát triển được các NNCM, đào tạo được đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ và năng lực NCKH tốt, có tâm huyết và kinh nghiệm trong nghiên cứu và đào tạo Chính việc xây dựng các NNCM trong các trường đại
Trang 30học là một trong những giải pháp quan trọng góp phần thiết thực triển khai đổi mới giáo dục đại học một cách căn bản và toàn diện theo hướng chất lượng, hiệu quả và hội nhập với các chuẩn mực quốc tế Việc hình thành, xây dựng và phát triển các NNCM
và hướng tới các chuẩn mực quốc tế là nhu cầu tự thân, là xu thế vận động và phát triển tất yếu của các trường ĐHNC tiên tiến trên thế giới, và cũng không là ngoại lệ cho các trường ĐHNC tiên tiến ở Việt Nam Tác giả nhấn mạnh vào 6 yếu tố chính để hình thành và phát triển NNCM, cụ thể:
Một là, muốn xây dựng được những NNCM trong trường đại học, trước hết
phải bắt đầu từ tâm huyết của những nhà khoa học có năng lực và trình độ, có uy tín, giữ vai trò trưởng nhóm Trưởng nhóm phải tập hợp được đội ngũ, xác định được hướng đi và hướng phát triển cho nhóm Trưởng nhóm chính là linh hồn, nhân vật trung tâm kết tụ, dẫn dắt sự phát triển của nhóm Như vậy, hoạt động của nhóm thành
công hay không thành công phụ thuộc rất nhiều vào người trưởng nhóm Trưởng NNC thường là nhà khoa học tài năng, có năng lực nghiên cứu, có tư duy sáng tạo, nhạy bén trong khoa học và lại càng thuận lợi khi có uy tín cao cả ở trong và ngoài nước Bên cạnh đó, trưởng nhóm phải là người tâm huyết và có năng lực tổ chức, biết hy sinh, có khả năng ngoại ngữ và tổ chức làm việc của nhóm một cách phù hợp và khoa học
Hai là, lãnh đạo trường đại học phải có tầm nhìn và chính sách thỏa đáng đầu
tư cho NNC Nếu có nhà khoa học đầu ngành mà không có đầu tư sẽ không thể có
NNCM Mặt khác, không phải bỗng chốc có nhà khoa học đầu ngành, mà các nhà khoa học phải được quy hoạch, được đào tạo và bồi dưỡng, phải có thời gian để trưởng thành, phải kịp thời phát hiện những nhân tố mới, những nhà khoa học trẻ và NNC tiềm năng để quan tâm bồi dưỡng và đầu tư
Ba là, phải tập hợp được những cán bộ có năng lực nghiên cứu tốt trong NNC,
thu hút được NCS Ở đây, xin đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của các NCS
trong việc phát triển các NNC Nếu có sự hỗ trợ kinh phí, nhiều NNC của ĐHQGHN hoàn toàn có thể tiếp nhận các nhà khoa học, các NCS và thực tập sinh người nước ngoài đến làm việc, khi đó hiệu quả hoạt động của NNC còn tốt hơn nữa
Bốn là, đầu tư cho các NNCM là sự đầu tư trúng, đúng và hiệu quả trong các
trường đại học Trong bối cảnh cần đẩy nhanh các công bố quốc tế cũng như tăng
nhanh các sáng chế, sản phẩm KH&CN trong trường đại học, thì việc quan tâm đầu tư
bổ sung nhân lực, cơ sở vật chất, các trang thiết bị hiện đại và điều kiện làm việc cho các NNCM là nhân tố có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để thúc đẩy sự thành công của hoạt động KH&CN cũng như nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường
Trang 31Năm là, phải thiết lập và xây dựng được những mối quan hệ hợp tác mạnh (trong
và ngoài nước) Vì chỉ có phát huy tốt các quan hệ hợp tác với các nhà khoa học có uy
tín trong và ngoài nước, các NNC mới có thể phát huy được thế mạnh của các nghiên cứu liên ngành, mau chóng hội nhập và tiếp cận trình độ, chuẩn mực quốc tế
Sáu là, phải xác định và hình thành được hướng nghiên cứu hiện đại, có tầm
ảnh hưởng trong khoa học sẽ là tiềm năng phát triển tốt cho NNC Kinh nghiệm cho
thấy, chọn hướng đi đúng để tập hợp và xây dựng NNC có vai trò quan trọng để phát triển một NNCM Bên cạnh đó, NNCM phải có định hướng nghiên cứu riêng độc đáo, xuất phát từ những tư tưởng và hệ tiên đề mới, cách tiếp cận mới, đặc sắc của riêng mình Có như vậy, NNC mới khẳng định được trong cộng động khoa học và phát triển bền vững [48]
Đồng quan điểm với Trương Quang Học và Nguyễn Đình Đức, trong bài viết
“Xây dựng và phát triển nhóm nghiên cứu mạnh trong trường đại học”(2015) [67],
Phạm Hùng Việt cũng có tiếp cận khác khi đề cập đến 4 yếu tố quan trọng để xây dựng và phát triển NNC
Thứ nhất, cần định hướng và đề ra nguyên tắc xây dựng NNC Theo tác giả,
việc xây dựng NNCM cần dựa vào năng lực hiện có và nhu cầu phát triển của các
trường đại học trong mối quan hệ với định hướng phát triển của đất nước; kết hợp phát triển các NNCM nhất trong đơn vị với việc hình thành và phát triển những NNC mới Tác giả cho rằng, không thể chỉ mong muốn có NNCM bằng cách kêu gọi các nhà khoa học trong nước và quốc tế về xây dựng trong khi các nguyên tắc, cơ chế quản lý vẫn chưa thể đổi mới ngay lập tức
Thứ hai, việc đầu tư xây dựng, phát triển NNCM cần bắt đầu từ các nhóm vốn
đã mạnh Theo tác giả, NNCM (nói khiêm tốn là nhóm mạnh hơn so với các nhóm
chưa mạnh) là nhóm các nhà khoa học đã đạt và có tiềm năng tiếp tục đạt được các KQNC tốt nhất trong cộng đồng các NNC hiện có trong mỗi trường, căn cứ trên phải đáp ứng một số tiêu chí nhất định (đặc biệt là số lượng các công bố ISI) Cũng teo tác
giả, để duy trì hoạt động của NNC, cần phải có sự đầu tư kinh phí hợp lý theo nhiều
nguồn như NSNN, hợp tác quốc tế (qua nguồn ODA, các tổ chức phi chính phủ, các công ty chế tạo thiết bị khoa học…) Khi rót kinh phí xuống các NNC từ nguồn NSNN, đơn vị chủ quản cần lưu ý đến tính hiệu quả đầu tư, tránh đầu tư dàn trải và chỉ tập trung một số hướng chính của nhóm
Thứ ba, nhân lực là vấn đề sống còn đối với NNCM nên đơn vị chủ quản cần có chính sách tuyển dụng, đào tạo và đãi ngộ thỏa đáng đối với thành viên của nhóm
Trang 32Theo tác giả, kinh nghiệm nước ngoài, NCS, đặc biệt postdoc, là lực lượng trẻ, có
nhiệt tình, nhiều ý tưởng và động lực thực hiện những nghiên cứu mới, dù chỉ là nguồn nhân lực trong một thời gian xác định nhưng cũng cần được sử dụng một cách hiệu quả Trong thời gian qua, do có nhiều công trình công bố quốc tế, hướng nghiên cứu
về “Chất lượng nước ăn từ nước ngầm và các vấn đề liên quan đến sức khỏe con
người và cộng đồng”, nhóm của tác giả đã nhận được thư xin làm postdoc của bốn tiến
sĩ nước ngoài Để có thể thu hút nguồn nhân lực này, ngoài kinh phí thuê khoán chuyên môn trích từ các đề tài, cần có những suất học bổng cho các thực tập sinh sau tiến sĩ nước ngoài tham gia vào NNCM
Thứ tư, hoạt động của NNCM cần được đánh giá định kỳ với những kết quả cụ thể: tạo ra những nghiên cứu có chất lượng được khẳng định bằng số lượng công trình khoa học, đặc biệt là số bài báo quốc tế ISI, các sáng chế, thể hiện khả năng ứng dụng thực tiễn, chuyển giao công nghệ cho xã hội, mang lại uy tín, thương hiệu cho trường đại học, thu hút được các học viên giỏi của các CTĐT sau đại học, các thực tập sinh sau tiến sỹ đến làm việc
Tiếp tục nghiên cứu về trung tâm nghiên cứu xuất sắc, trong bài viết có tựa đề
“Xây dựng trung tâm nghiên cứu xuất sắc: Kinh nghiệm quốc tế và thực tế ở Việt Nam” (2014), Trương Quang Học tiếp tục khẳng định, NNC là một hình thức tổ chức nghiên
cứu phổ biến và đem lại nhiều thành tựu khoa học đỉnh cao cho các Trường Đại học danh tiếng như Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva mang tên M.V Lomonosov, Đại học Hà Lan, Đại học tổng hợp Ruhr, Bochum, CHLB Đức, Đại học Texas, Đại học
Tokyo , cũng trong bài viết này tác giả đã đề cập đến khái niệm NNCM/xuất sắc, đó là
nhóm có các thành viên xuất sắc, điều kiện làm việc đầy đủ và những KQNC có ý nghĩa
khoa học/phục vụ thực tiễn lớn, được quốc tế thừa nhận hay NNC đặc biệt là những
nhóm được thành lập tạm thời, gồm các chuyên gia khác nhau để giải quyết một vấn đề, một nhiệm vụ đặc biệt/đột xuất cấp thiết trong một thời gian ngắn, đồng thời tác giả
cũng giới thiệu cơ chế phát triển và tổ hợp của các NNC theo cấu trúc “Cây tre trăm
đốt”, một trong những cơ chế mà theo tác giả sẽ đem lại hiệu quả bền vững cho NNC ở
các trường đại học Cuối cùng, tác giả kết luận “NNC khoa học là tế bào của cơ thể, là
đơn vị cấu trúc và chức năng, quyết định cho sự thành công của các hoạt động KH&CN cũng như đào tạo của bất kỳ cơ quan tổ chức giáo dục nào Nó giống như các tế bào tạo nên mô, mô tạo nên cơ quan, hệ cơ quan, cơ thể, quần thể, quần xã các hệ sinh thái và
cả thế giới sinh vật phong phú, đa dạng và hữu ích”[11]
Trang 33Cùng chia sẻ về kinh nghiệm khi xây dựng nhóm nghiên cứu khoa học, trong
bài viết có tiêu đề “Vài chia sẻ về xây dựng nhóm nghiên cứu khoa học” (2009), Phan
Kim Ngọc[18] đã đề cập đến khái niệm nhóm NCKH, những yếu tố quyết định sự thành công của nhóm NCKH, phương pháp lập nhóm NCKH và cách thức vận hành của nhóm NCKH, cụ thể:
Về khái niệm nhóm NCKH, tác giả khái quát như sau: Nhóm NCKH không giống
với một cơ quan hành chính (nhà nước), cũng không giống với cấu trúc nghiệp đoàn Nhóm làm việc trên tinh thần không có lương cơ bản Các khoản thu, chi của nhóm phụ thuộc vào KQNC, chuyển giao công nghệ, phụ thuộc vào các đề tài/dự án khoa học Do vậy, cấu trúc của nhóm cần gọn nhẹ, linh hoạt tối đa Nhóm NCKH có vai trò như một yếu tố có tính chất quyết định tới hình thức, quy mô và chất lượng của một hoạt động khoa học, công nghệ nào đó Đồng thời là nền tảng quan trọng bậc nhất trong đào tạo, nhất là đào tạo sau đại học (đối với các trường đại học) Trong đào tạo, nhóm NCKH chính là môi trường ươm tạo người tài, mảnh đất sinh sôi nảy nở các thủ lĩnh khoa học trong tương lai Bên cạnh đó, nhóm NCKH còn là đơn vị cơ sở cho các hoạt động chuyển giao công nghệ, đặc biệt thuận lợi đối với công nghệ cao
Cuối cùng tác giả kết luận: có thể hiểu nhóm NCKH là một tập thể các nhà khoa
học và học thuật có năng lực chuyên môn tốt, có tâm huyết, đạo đức nghề nghiệp, sự chân thật trong công việc (honesty), có khát vọng định hướng cùng một mục đích, một lĩnh vực chuyên môn nhất định; thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và đào tạo tại một đơn vị hạt nhân (hay xoay quanh đơn vị hạt nhân đó); được dẫn dắt bởi một (hay một vài) nhà nghiên cứu có uy tín khoa học, đạo đức và đồng thời phải có khả năng tổ chức, giao tiếp, tập hợp…; có văn hóa nhóm riêng biệt Nói một cách khái quát, mọi thành quả của nhóm phải xuất phát từ năng lực nội sinh Trong quá trình hoạt động, nhóm NCKH phải tương tác với lãnh đạo chuyên môn, cũng như các thành viên của tổ chức khác, qua đó mọi thành viên trong nhóm có cơ hội học tập, tiếp thu, nắm bắt các kiến thức, kỹ năng,
kỹ thuật mới cần thiết Nhờ vậy, nhóm sẽ có đủ yếu tố tối thiểu, đưa vào chương trình nghiên cứu của mhóm, tạo ra các ý tưởng mới, các thành tựu khoa học mới cũng như các sản phẩm đào tạo và công nghệ mới Đặc biệt, với tiêu chí này, nhóm NCKH sẽ tránh được yếu tố lạc hậu, lặp lại hay “chậm chân” so với khu vực
Về các yếu tố quyết định sự thành công của nhóm NCKH, tác giả đã nêu ra 3
yếu tố: (1) Tập hợp đúng người, đúng việc; (2) Có phong cách riêng; (3) Người thủ
lĩnh cần có 10 vai trò gồm: (1) Vai trò “nam châm”-Thu hút sự chú ý ngay từ khi thực
Trang 34hiện các công đoạn đầu tiên đi “lượm lặt”, tìm kiếm và tập hợp nhân sự, cũng như tìm kiếm các điều kiện cần thiết khác, để có thể kiến tạo được một nhóm NCKH đủ tầm; (2) Vai trò “điểm tựa” - Tạo cho mỗi thành viên thấy rằng, họ có thể hợp tác trong nhóm một cách bền vững, lâu dài và đôi bên cùng có lợi; (3) Vai trò “đèn pha”- Khả năng hướng dẫn, dẫn dắt như một kim chỉ nam về chuyên môn, các mối quan hệ, giao tiếp nghề nghiệp; (4) Vai trò “nội trợ”- Khi cần, người thủ lĩnh sẵn sàng chăm lo tới những chi tiết dù nhỏ nhất trong công việc hàng ngày; (5) Vai trò “cận vệ”-Bảo vệ, che chở cho các thành viên của nhóm; (6) Vai trò “nổi lửa” - Người thủ lĩnh luôn hun đúc cho mỗi thành viên những mong muốn phấn đấu và cống hiến;(7) Vai trò “chất keo”-Xây dựng, bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất; (8) Vai trò “hoạt náo viên”-Tạo ra không khí tươi vui lành mạnh; (9) Vai trò “ngòi nổ”-Tạo ra chất sống và sức sống, phát triển sức sống ấy cho nhóm NCKH; (10) Vai trò “bà đỡ”-Đón nhận, triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu, đưa vào ứng dụng hoặc chuyển giao kết quả, liên kết
Về phương pháp lập NNC, tác giả đã đưa ra 3 nhóm tiêu chí gồm (1) Tiêu chí 5
không (Không giới hạn không gian, thời gian, số lượng, trình độ, chuyên môn); (2) Tiêu chí 5 có (Có chung ý tưởng, khát vọng, quyền lợi, niềm tin, nghĩa vụ); (3) Tiêu chí 10 hợp tác (Hợp tác và chia sẻ trí tuệ, thông tin, quy trình kỹ thuật, các mối quan
hệ, cơ sở vật chất, nhân sự, thời gian, sản phẩm, sự cảm thông, trách nhiệm)[18]
Bàn về vai trò của NNCM, bài viết có tiêu đề “Nhóm nghiên cứu mạnh vừa là
phương thức vừa là mục tiêu để phát triển đại học nghiên cứu” (2014), Nguyễn Hữu
Đức đã đề cập đến tầm quan trọng của NNC đối với việc nâng cao chất lượng các hoạt động đào tạo và NCKH và là giải pháp đem lại các kết quả khoa hoa học đỉnh cao và sản phẩm công nghệ đột phá với bằng sở hữu trí tuệ, các giải thưởng KH&CN cấp quốc gia, các bài báo quốc tế đăng trên các tạp chí khoa học danh tiếng, các công trình chuyên khảo có uy tín và các giải pháp đầu tư chính sách cho các cơ quan hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước [49]
Khi xem xét về mô hình NNCM, bài viết có tên “Mô hình các nhóm nghiên cứu
mạnh trên thế giới, định nghĩa và phân tích”(2009) [13], Phạm Thành Huy đã tổng
hợp các mô hình đơn vị nghiên cứu phổ biến trên thế giới và đề xuất mô hình NNCM cho các trường đại học ở Việt Nam, cụ thể:
Về mô hình đơn vị nghiên cứu trên thế giới, tác giả nêu 5 mô hình phổ biến:
Thứ nhất, mô hình nghiên cứu nhỏ (dưới 10 người), thường được xây dựng theo
tiếp cận từ dưới lên, tức là xuất phát từ ý tưởng của các cá nhân hoặc nhu cầu hợp tác
Trang 35của một số cá nhân hoặc NNC nhỏ từ các chuyên ngành khác nhau Chức năng chính
là nghiên cứu, có thể tham gia đào tạo, cấu trúc nghiên cứu không chặt chẽ, bản thân các thành viên nghiên cứu trong nhóm cũng có các nhiệm vụ nghiên cứu đơn ngành riêng biệt
Thứ hai, mô hình các trung tâm nghiên cứu lớn, có thể hình thành theo cách tiếp
cận khác nhau như: từ dưới lên theo nhu cầu của cơ sở; từ trên xuống theo đề xuất hoặc ý tưởng của các cơ quan quản lý cấp trên; hoặc theo mô hình các vườn ươm công nghệ Chức năng bao gồm cả nghiên cứu và đào tạo, được tổ chức và quản lý bởi một ban lãnh đạo cứng, mà giám đốc là người trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm báo cáo tình hình hoạt động trực tiếp lên ban lãnh đạo, quản lý cấp trên Các đơn vị này thường được xây dựng mới, bao gồm cơ sở hạ tầng, thiết bị mới Nhân sự có thể cùng được sử dụng với các đơn vị khác Cơ sở vật chất, địa điểm có thể cố định hoặc chia sẻ với các đơn vị khác
Thứ ba, mô hình công nghiệp, hình thành theo cách tiếp cận top-down, định
hướng nghiên cứu theo sản phẩm, tập trung vào nghiên cứu không tham gia đào tạo, được tổ chức có cấu trúc một cách chặt chẽ, tính kế hoạch cao, các mốc thời gian chính xác và có thời điểm kết thúc, có sự chuyển đổi linh động, nhuần nhuyễn của các cán bộ nghiên cứu giữa các NNC
Thứ tư, mô hình PTN quốc gia Đây là mô hình lai của các cách tiếp cận
top-down, nghiên cứu theo nhiệm vụ bottom-up Được đầu tư cơ sở vật chất đầy đủ, bao gồm cả chức năng nghiên cứu và đào tạo chất lượng cao, cấu trúc tổ chức chặt chẽ Tính kế hoạch cao, các mốc thời gian chính xác và có thời điểm kết thúc, có sự chuyển đổi linh động, nhuần nhuyễn của các cán bộ nghiên cứu giữa các NNC
Thứ năm, mô hình liên công nghiệp, liên đại học và liên kết đại học - công
nghiệp Đây là mô hình top-down, nghiên cứu được định hướng theo nhu cầu xã hội
(có thể là nghiên cứu cơ bản và ứng dụng) Bao gồm cả hoạt động nghiên cứu và đào
tạo Lãnh đạo có thể là người kiêm nhiệm (part time) và thường có hội đồng tư vấn Thường được khởi tạo với một dự án đầu tư nghiên cứu lớn
Từ 5 mô hình đơn vị nghiên cứu phổ biến trên thế giới, tác giả đề xuất mô hình NNCM cho các trường đại học ở Việt Nam, cụ thể:
Về cách tiếp cận xây dựng NNCM, theo tác giả, NNCM có thể được xây dựng thông qua 2 cách tiếp cận khác nhau:
Trang 36Tiếp cận từ dưới lên, tức là do nỗ lực bản thân của chính các nhà khoa học, tự xây dựng nhóm, tìm kiếm đề tài nghiên cứu, tuyển NCS… trong trường hợp này cơ quan quản lý , nhà trường cần theo dõi, hỗ trợ, đầu tư thích hợp
Tiếp cận từ trên xuống: Nhà trường, xác định hướng nghiên cứu, tuyển chọn trưởng nhóm, đầu tư trang thiết bị, kinh phí hoạt động và kinh phí nghiên cứu (bao gồm cả kinh phí cho NCS, postdoc…)
Về mô hình NNCM, theo tác giả, cơ cấu tổ chức của nhóm gọn nhẹ, đảm bảo tính linh động mềm dẻo, định hướng theo các đề tài, dự án nghiên cứu và khai thác hiệu quả nguồn nhân lực, thành phần của nhóm bao gồm:
1- Trưởng NNC (01 người), là giáo sư (hoặc phó giáo sư) có khả năng, uy tín khoa học, hiện đang hoạt động nghiên cứu, có hướng dẫn nhiều NCS (VD: >3), là tác giả chính của các công trình khoa học công bố trên các tạp chí trong 3 năm gần đây (hàng năm) Hiện đang thực hiện các đề tài, dự án nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ
2- Nghiên cứu chính (2-3 người), có thể là PGS và TS có cùng chuyên ngành và định hướng với trưởng nhóm Hoạt động gắn chặt với các định hướng, đề tài, dự án nghiên cứu của nhóm Tham gia đồng hướng dẫn NCS với trưởng nhóm
3- NCS (3-10 người), có thể phân bổ đều theo các năm, mỗi năm từ 1-3 NCS 4- Kỹ thuật viên, mỗi NNC cần có một số kỹ thuật viên nhất định tùy vào cơ sở máy móc, trang thiết bị nghiên cứu hiện có của nhóm Số kỹ thuật viên tốt nhất từ 1-2 người đối với NNC dưới 10 người và 2-3 người đối với NNC có trên 10 người
5- Học viên cao học Để đảm bảo tính tiếp nối của hướng nghiên cứu, NNC cần thu hút được các HVCH tham gia học tập và làm việc nghiên cứu tại nhóm Số lượng học viên tốt nhất là bằng số nghiên cứu sinh trong nhóm
6- Thư ký Mỗi NNC có 01 thư ký trợ lý cho trưởng NNC trong công tác hành chính và các hoạt động tuyển dụng, hoạt động xã hội của nhóm
Đồng thời cũng theo tác giả, định hướng nghiên cứu của nhóm phải được tập trung vào một số lĩnh vực nghiên cứu đã được lựa chọn nhằm đảm bảo các thế mạnh của nhóm; NNC, đặc biệt là trưởng nhóm và các cán bộ nghiên cứu chính của nhóm phải tích cực tham gia hoạt động đào tạo, nhất là đào tạo sau đại học và thúc đẩy hoạt động hợp tác quốc tế; NNC cần được đầu tư và xây dựng được cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc công nghệ và phân tích riêng biệt để có thể chủ động trong công tác nghiên cứu
Trang 371.3 Các công trình nghiên cứu về chính sách phát triển NNCM trong trường đại học
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu về chính sách phát triển NNCM trong trường đại học ở Việt Nam và nước ngoài, tác giả luận án nhận thấy chủ đề này còn rất mới mẻ vì thế các nghiên cứu bàn về chủ đề này quả thực không nhiều Sau đây là một
số bài viết đã được tác giả luận án tổng hợp:
Bài viết có nhan đề “Đầu tư cho nhóm nghiên cứu khởi phát: Chìa khóa để
thu hút tài năng và cải thiện hiệu suất nghiên cứu khoa học” (2013) [62], Ngô Đức
Thế đã gợi ý một số giải pháp phát triển các NNC khoa học từ việc đổi mới cơ chế cấp đề tài xây dựng NNC thông qua tham khảo mô hình các nước có nền khoa học tiên tiến, cụ thể:
Thứ nhất, tác giả bài viết đã chỉ ra được một số mô hình chính sách mà các nước tiên tiến đã thực hiện để tài trợ cho các nhà nghiên cứu khi bắt đầu xây dựng
NNC Theo tác giả, các nước tiên tiến, luôn có các Quỹ để cấp tiền cho các nhà khoa
học thiết lập những bước ban đầu cho sự nghiệp nghiên cứu của mình Quỹ này có thể
từ chính các cơ sở nghiên cứu, khi đăng tuyển dụng nhà nghiên cứu sẽ cam kết cấp kinh phí ban đầu cho các ứng viên trúng tuyển hoặc từ các quỹ chính phủ cấp cho ứng viên dưới dạng các “học bổng” hay “đề tài” (fellowship, fund) Lúc này, cơ sở nghiên cứu (trường đại học, viện nghiên cứu) sẽ đóng vai trò các nơi bảo trợ cho fellowship của ứng viên
Thứ 2, bài viết cũng chỉ ra một số khó khăn đối với các nhà khoa học ở Việt
Nam khi bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu Việc xin các đầu tư lớn đối với các nhà khoa
học trẻ mới bắt đầu sự nghiệp để xây dựng một NNC ở Việt Nam là rất khó và NAFOSTED hiện nay có thể coi như một nơi “cứu trợ” nhằm trang trải một phần nhỏ kinh phí nghiên cứu với các đề tài khoảng 2-3 năm Các nhà khoa học buộc phải sử dụng các trang thiết bị sẵn có (thường không đồng bộ) tại cơ sở làm việc, tức là phải
“nắn bóp” nghiên cứu sao cho phù hợp với trang thiết bị hiện có, thay vì xây dựng cơ
sở vật chất đồng bộ để theo đuổi các hướng nghiên cứu mà họ đang làm chủ trước đó
Cứ như thế, các nhà khoa học làm nghiên cứu một cách “tạm bợ”, “cho xong ngày tháng” mà không thể xây dựng một NNCM mà họ có quyền tự chủ Và cứ thế, cách làm việc này tạo ra một vòng luẩn quẩn và khiến cả nền khoa học mãi không thể thoát
ra khỏi tư duy cũ kiểu “hợp tác xã”
Trang 38Thứ ba, giải pháp mà bài viết đề xuất đó là Bộ KH&CN có thể mạnh dạn đổi
mới Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia (NAFOSTED), song song với việc cấp các đề tài thường niên như đã có tiền lệ, nên xây dựng một quỹ học bổng (Ví dụ như đặt tên
là NAFOSTED Research Fellowship) cấp một lượng kinh phí lớn cho các ứng viên bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu độc lập (early stage career) Fellowship có thể kéo dài 5-6 năm, bao gồm kinh phi mua sắm các trang thiết bị để thiết lập một NNC ban đầu, một phần lương cơ bản cho ứng viên (fellow), trợ cấp (nếu có), tiền lương chi trả cho nhân công tham gia đề tài (bao gồm 1-2 NCS hậu tiến sĩ, 1-2 NCS tiến sĩ…), tiền chi phí cho nghiên cứu (running cost), chi phí xuất bản, công bố khoa học, tham gia hội thảo khoa học, chi phí mời chuyên gia… Bộ KH&CN nên mạnh dạn cấp kinh phí từ 1-2 triệu
USD cho mỗi fellowship trong vòng 5-6 năm đối với các ứng viên có đủ năng lực Nếu như mỗi năm cấp cho 25 ứng viên thì sẽ tiêu tốn 25-50 triệu USD mỗi năm, và số tiền
này hoàn toàn trong khả năng của ngân sách (có tổng đầu tư lên tới 750 triệu USD đầu
tư mỗi năm)
Bài viết có tựa đề “Năng lực nghiên cứu là yếu tố quan trọng” (2015) [68], Phạm Hùng Việt đã đúc rút một số kinh nghiệm, xuất phát từ thực tiễn xây dựng và
phát triển NNC của mình, tác giả cho rằng việc tiếp cận các quỹ đầu tư của nước ngoài
là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển NNC, đồng thời tác giả cũng khuyến nghị Quỹ KH&CN quốc gia cần có một số chính sách đổi mới, cụ thể:
Về việc tiếp cận nguồn tài trợ từ nước ngoài, ông gợi ý “để tiếp cận các quỹ tài
trợ quốc tế, NNC của ông đã thông qua các mối quan hệ liên kết, hợp tác với các tổ chức, viện nghiên cứu, NNC quốc tế” Chính việc thông qua những đối tác nghiên cứu
có uy tín, NNC của tác giả đã nhanh chóng tiếp cận được với các quỹ tài trợ nước ngoài, đặc biệt là quỹ thuộc các quốc gia sở tại của các đối tác đó Nhờ vậy, NNC của tác giả đã có được những nguồn kinh phí lớn, có khả năng đảm bảo việc thực hiện các
dự án nghiên cứu mang tính chất thực nghiệm dài hơi
Đồng thời, theo tác giả, để duy trì được mối quan hệ hợp tác lâu dài với các đối
tác quốc tế cũng như các quỹ tài trợ quốc tế, nhóm của ông phải chứng tỏ được năng lực nghiên cứu của mình cũng như minh bạch hóa quá trình sử dụng kinh phí đầu tư cho dự án
Về đề xuất chính sách, theo tác giả, Quỹ Nafosted cần có một quy chế thưởng
phạt cụ thể dựa trên cơ sở đánh giá các sản phẩm khoa học, ví dụ đối với những nhóm thực hiện đề tài có công bố trên những tạp chí có hệ số ảnh hưởng IF cao nên được
Trang 39tính thưởng bên cạnh việc đề xuất xét thưởng như Giải thưởng Tạ Quang Bửu hàng năm; ngoài ra, nên ưu tiên cho họ nhận những đề tài tiếp theo có kinh phí cao hơn để khuyến khích họ có thêm những KQNC giá trị Ngược lại, với những NNC từng thực hiện những đề tài có công bố trên các tạp chí có hệ số ảnh hưởng quá thấp thì Quỹ nên xem xét tạm dừng cấp kinh phí ở những đề tài kế tiếp trong một thời gian thích hợp cho đến khi họ chứng minh được năng lực mới cấp kinh phí trở lại
Trong bài viết “Tài trợ nghiên cứu cơ bản theo mô hình 3 mức” [59], Trần Đình Phong đã mạnh dạn cho rằng việc “Tài trợ cho nghiên cứu theo cách thức hiện nay của
Quỹ Nafosted có thể đem lại hiệu quả tức thời cho khoa học Việt Nam, nhưng về lâu dài, việc duy trì tài trợ mang tín dàn trải, ngắn hạn và chạy theo số lượng công bố sẽ không thể tạo ra sự phát triển đột phá cho nền khoa học” Vì vậy, tác giả đề xuất “Quỹ Nafosted cần có chính sách đầu tư mới, quyết liệt hơn để khoa học Việt Nam có được những cá nhân và NNCM” Theo tác giả, để có những giải pháp mang tính dài hạn, cần
đổi mới cách thức đầu tư cho khoa học trên cơ sở tham khảo cách làm mà các quỹ tài trợ quốc tế đã áp dụng thành công, một trong số đó có Quỹ của Hội đồng khoa học châu Âu (European Research Council ERC), vốn thực hiện tài trợ cho các NNC theo những mức khác nhau: mức thứ nhất dành cho các tiến sĩ trẻ tài năng đã hoàn thành CTĐT NCS từ 7 năm trở lại với khoản đầu tư tối đa 1.5 triệu Euro cho 5 năm (ERC starting grant); Mức thứ 2 - các tiến sĩ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm làm việc (từ 7 đến 12 năm sau tiến sĩ), với khoản đầu tư lên đến 2 triệu Euro cho 5 năm (ERC consolidator grant); Mức thứ ba-các nhà nghiên cứu đã khẳng định được tài năng và dẫn đầu các PTN lớn với kinh phí khoảng 2.5 triệu Euro cho 5 năm (ERC advanced grant) Nếu quỹ Nafosted mạnh dạn áp dụng cách tài trợ theo mô hình nhiều mức này thì sau 10 đến 15 năm, khoa học Việt Nam sẽ có được những cá nhân xuất sắc, NNCM
Cũng theo tác giả, cách đầu tư hiện nay của Quỹ nên được coi là mức đầu tiên nhằm hình thành một cộng đồng khoa học đủ về số lượng và đặc biệt giúp đỡ cho các nhà nghiên cứu trẻ gây dựng NNC của mình Còn việc đầu tư tài trợ từ mức đầu lên mức 2 và 3 cần đảm bảo tính khoa học, chính xác Tác giả cho rằng, các nhà khoa học sau 5, 6 năm nhận được tài trợ theo mức thứ nhất sẽ được đánh giá bởi hội đồng khoa học ngành Trên cơ sở đánh giá đó, hội đồng khoa học chọn và giới thiệu lên Quỹ một
số nhà nghiên cứu có thành tích vượt trội so với các đồng nghiệp về chất lượng, số lượng công bố và bắt đầu có hướng đi rõ ràng trong nghiên cứu Theo đó Quỹ có thể
Trang 40mời các nhà nghiên cứu giới thiệu viết đề cương cho một chương trình nghiên cứu mà nhóm muốn thực hiện trong vòng từ 5 đến 10 năm tới Các chương trình nghiên cứu này nên có tính hệ thống, trình bày hướng tiếp cận mà nếu thành công có thể đem lại những đóng góp quan trọng cho cộng đồng và cho xã hội Để đánh giá khách quan và toàn diện, hội đồng khoa học ngành nên mời thêm những chuyên gia quốc tế có uy tín học thuật trong chuyên ngành hẹp mà chương trình nghiên cứu đề xuất Ý kiến phản biện nên gồm cả nhận xét về nội dung khoa học của chương trình nghiên cứu và năng lực khoa học của người trưởng nhóm Với khoảng 3 ý kiến phản biện quốc tế độc lập, hội đồng ngành hoàn toàn có thể có một cái nhìn xác đáng về khả năng thành công khi chương trình và NNC được đầu tư Bước cuối cùng của quá trình tuyển chọn, hội đồng khoa học cùng quỹ phỏng vấn trực tiếp các nhà khoa học Thông qua các bước kiểm định chặt chẽ như vậy, tác giả tin rằng Quỹ có thể tìm được đúng địa chỉ đầu tư Bên cạnh đó tác giả cũng cho rằng Quỹ có thể tham khảo cách lựa chọn chương trình nghiên cứu và nhà khoa học của Quỹ NCKH Singapore (National Research Foundation), nơi những năm qua đã thu hút được nhiều các tài năng khoa học trẻ quốc
tế Nếu tiếp tục thực hiện theo cách này, tác giả cho rằng sau khoảng 10 năm nữa, Quỹ
có thể tiếp tục chọn ra được những nhà nghiên cứu, NNCM để đầu tư trọng điểm ở mức thứ 3.Cũng theo tác giả, muốn đạt mục tiêu cao trong khoa học thì số tiền đầu tư cũng phải tương ứng, thay vì đầu tư dàn trải, Quỹ nên đầu tư vào những mũi nhọn một cách chọn lọc thì kinh phí sẽ không quá tốn kém
Bàn về quy trình, phương pháp, tiêu chí lựa chọn và đầu tư cho NNCM, Nguyễn Thị Thu Oanh đề xuất 3 bước đánh giá lựa chọn và 4 giai đoạn đầu tư cho
NNCM trong bài viết có nhan đề “Xây dựng quy trình, phương pháp và tiêu chí lựa
chọn nhóm nghiên cứu mạnh” (2009) [19], cụ thể:
Bước 1: Đánh giá đề xuất ý tưởng, với các tiêu chính đánh giá và phân bổ trọng
số cho từng tiêu chí như sau: (1) Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu (25%); (2) Chất lượng khoa học của đề xuất nghiên cứu (30%); (3) Tiềm năng của các KQNC (15%); (4) Sự xuất sắc của trưởng NNC (30%) Phương pháp đánh giá ý tưởng: Mỗi
đề xuất chọn 2 chuyên gia cùng ngành Sau đó tập hợp tác cả các ý kiến đánh giá và phân loại các đề xuất ý thưởng theo lĩnh vực và tổ chức Hội đồng theo lĩnh vực để đánh giá tổng thể Những ý tưởng được đánh giá từ 70/100 điểm trở lên sẽ tiếp tục được lựa chọn để xây đựng Đề cương nghiên cứu chi tiết