Đó là những tri thức địa phương chứa đựng trong phong tục, tập quán, cách sinh hoạt, giao tiếp, lễ hội, tín ngưỡng, tâm linh v.v… Nếu biết cách khai thác những tri thức địa phương để vận
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN ––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ NGỌC
SỬ DỤNG TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG GIÁO DỤC QUYỀN VÀ BỔN PHẬN TRẺ EM CHO
HỌC SINH TIỂU HỌC TÀY - NÙNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN ––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ NGỌC
SỬ DỤNG TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG GIÁO DỤC QUYỀN VÀ BỔN PHẬN TRẺ EM CHO
HỌC SINH TIỂU HỌC TÀY - NÙNG
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử giáo dục
Mã số: 62 14 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HỒNG QUANG
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Mục lục ii
Danh mục các chữ viết tắt iii
Danh mục các bảng iv
Danh mục các biểu đồ, đồ thị vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
6 Phạm vi nghiên cứu 3
8 Các luận điểm khoa học của luận án 5
9 Những đóng góp mới của luận án 6
10 Cấu trúc của luận án 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG GIÁO DỤC QUYỀN VÀ BỔN PHẬN TRẺ EM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TÀY - NÙNG 7
1.1 Tổng quan 7
1.1.1 Những nghiên cứu chủ yếu về hoạt động giáo dục quyền và bổn phận trẻ em 7
1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục học sinh 12
1.1.3 Những nghiên cứu về văn hóa Tày - Nùng và ý nghĩa giáo dục quyền và bổn phận trẻ em 13
1.2 Khái niệm cơ bản của luận án 17
1.2.1 Giáo dục quyền và bổn phận trẻ em 17
1.2.2 Tri thức - Tri thức địa phương 21
1.3 Tri thức địa phương của cộng đồng dân tộc Tày - Nùng trong giáo dục học sinh tiểu học 23
1.3.1 Đặc điểm của tri thức địa phương 23
Trang 51.3.2 Các tiêu chí xác định đặc trưng văn hóa là tri thức địa phương được sử dụng trong giáo dục học sinh tiểu học 24 1.4 Quá trình giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh học sinh tiểu học Tày - Nùng 26 1.4.1 Một vài đặc điểm cơ bản của học sinh tiểu học người Tày - Nùng 26 1.4.2 Đặc điểm của quá trình giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng 27 1.4.3 Nội dung và phương pháp giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng 30 1.4.4 Các con đường giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng 37 1.5 Sử dụng tri thức địa phương trong quá trình giáo dục quyền và bổn phận trẻ
em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng 40 1.5.1 Mục đích sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng 40 1.5.2 Nội dung tri thức địa phương sử dụng trong giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng 42 1.5.3 Nguyên tắc và cách thức sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng 50 1.5.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng 53 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 55
PHƯƠNG TRONG GIÁO DỤC QUYỀN VÀ BỔN PHẬN TRẺ EM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TÀY - NÙNG KHU VỰC VIỆT BẮC 57
2.1 Những kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục quyền và bổn phận trẻ em trên thế giới và ở Việt Nam 57 2.1.1 Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới 57 2.1.2 Kinh nghiệm giáo dục quyền và bổn phận trẻ em tại Việt Nam 58 2.2 Khảo sát thực trạng sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh Tày - Nùng tại các trường tiểu học khu vực Việt Bắc 59
Trang 62.2.1 Những vấn đề chung về khảo sát thực trạng 59 2.2.2 Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận cho học sinh tiểu học Tày - Nùng khu vực Việt Bắc 62 2.2.3 Đánh giá chung về thực trạng sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận cho học sinh tiểu học Tày - Nùng khu vực Việt Bắc 88 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 92
Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC QUYỀN VÀ BỔN PHẬN TRẺ EM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TÀY - NÙNG QUA SỬ DỤNG TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG CỦA KHU VỰC VIỆT BẮC 93
3.1 Một số nguyên tắc định hướng xây dựng biện pháp 93 3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích của hoạt động giáo dục 93 3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo gắn với cuộc sống của học sinh, với thực tiễn đời sống vùng miền 93 3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với đối tượng giáo dục 94 3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa giáo dục trong nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục tại cộng đồng địa phương 94 3.2 Biện pháp sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng khu vực Việt Bắc 95 3.2.1 Biện pháp 1: Lựa chọn tri thức địa phương phù hợp với nội dung Q&BP trẻ em cần giáo dục để thiết kế giáo án và lập kế hoạch tổ chức hoạt động GD 95 3.2.2 Biện pháp 2: Vận dụng quy trình sử dụng TTĐP để giáo dục Q&BP trẻ
em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng 97 3.2.3 Biện pháp 3: Tổ chức các hoạt động giáo dục Q&BP trẻ em trong nhà trường với nội dung hưởng ứng các sự kiện văn hóa diễn ra tại địa phương 99 3.2.4 Biện pháp 4: Tổ chức đa dạng các hình thức hoạt động giáo dục sử dụng tri thức địa phương để giáo dục Q&BP trẻ em cho học sinh Tày - Nùng trong trường tiểu học 102 3.2.5 Biện pháp 5: Kết hợp đánh giá trong và ngoài nhà trường về kết quả giáo dục quyền và bổn phận qua sử dụng tri thức địa phương 103 3.2.6 Mối quan hệ giữa các biện pháp 105 3.3 Thực nghiệm sư phạm 107
Trang 73.3.1 Khảo nghiệm đánh giá các biện pháp sử dụng tri thức địa phương trong
giáo dục Q&BP trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng 107
3.3.2 Thực nghiệm sư phạm 111
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 147
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 148
1 Kết luận 148
2 Khuyến nghị 150
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 160
Trang 8TTĐP : Tri thức địa phương
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Đánh giá của CBQL và giáo viên về ưu thế sử dụng tri thức địa
phương trong giáo dục Q&BP trẻ em cho HSTH Tày - Nùng 63 Bảng 2.2: Nhận thức của CBQL và giáo viên về mục đích sử dụng tri thức địa
phương trong giáo dục Q&BP cho HSTH Tày - Nùng 64 Bảng 2.3: Nhận thức của giáo viên về nội dung quyền và bổn phận được
giáo dục qua sử dụng tri thức địa phương 66 Bảng 2.4: Nhận thức của giáo viên về hình thức và phương pháp sử dụngtri
thức địa phương trong giáo dục Q&BP cho học sinh tiểu học Tày - Nùng 67 Bảng 2.5: Tỉ lệ giáo viên sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục Q&BP
trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng 69 Bảng 2.6: Các loại hình văn hóa địa phương được sử dụng trong giáo dục
Q&BP cho HSTH Tày - Nùng 70 Bảng 2.7: Nội dung tri thức địa phương được giáo viên sử dụng trong giáo
dục quyền và bổn phận cho học sinh tiểu học Tày - Nùng 72 Bảng 2.8: Hình thức sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục Q&BP cho
học sinh tiểu học Tày - Nùng 75 Bảng 2.9: Phương pháp sử dụng TTĐP để giáo dục Q&BP cho học sinh tiểu
học Tày - Nùng trong hoạt động giáo dục NGLL 78 Bảng 2.10: Phương pháp sử dụng TTĐP nhằm giáo dục Q&BP cho học sinh
trong dạy học môn Đạo đức 79 Bảng 2.11: Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sử dụng tri thức địa phương trong
giáo dục Q&BP cho học sinh tiểu học người Tày - Nùng 81 Bảng 2.12: Khó khăn của giáo viên khi sử dụng TTĐP trong giáo dục Q&BP
trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng 85 Bảng 3.1: Đánh giá về tính cần thiết của các biện pháp 108 Bảng 3.2: Đánh giá tính khả thi của các biện pháp 109
Trang 10Bảng 3.3: Nhận thức của học sinh về quyền và bổn phận trẻ em trước
thực nghiệm 120
Bảng 3.4: Thái độ và hành vi của học sinh về các quyền và bổn phận trước thực nghiệm 120
Bảng 3.5: Điểm TB nhận thức của học sinh về Q&BP sau TN lần 1 123
Bảng 3.6: Nhận thức của HS trước và sau TN lần 1 124
Bảng 3.7: Thái độ của học sinh trước và sau thực nghiệm lần 1 125
Bảng 3.8: Điểm TB hành vi của học sinh trước và sau thực nghiệm lần 1 126
Bảng 3.9: Hành vi của học sinh trước và sau thực nghiệm lần 1 126
Bảng 3.10: Điểm TB nhận thức của học sinh sau TN lần 2 131
Bảng 3.11: Nhận thức của học sinh sau thực nghiệm lần 2 131
Bảng 3.12: Điểm TB thái độ của học sinh sau TN lần 2 133
Bảng 3.13: Điểm TBC hành vi của học sinh sau TN lần 2 135
Bảng 3.14: Tương quan hành vi của học sinh hai tỉnh giữa TN lần 1 và TN lần 2 136
Bảng 3.15: Giá trị TBC ở lớp TN sau hai lần thực nghiệm 136
Bảng 3.16: Kết quả khảo sát kỹ năng thiết kế giáo án (lập kế hoạch tổ chức hoạt động GD) tích hợp TTĐP của giáo viên trước thực nghiệm 140
Bảng 3.17: Kết quả khảo sát năng lực dạy học (tổ chức hoạt động GD) tích hợp TTĐP của giáo viên trước thực nghiệm 141
Bảng 3.18: Kết quả khảo sát kỹ năng thiết kế giáo án (lập kế hoạch tổ chức hoạt động GD) tích hợp TTĐP của giáo viên sau thực nghiệm 142
Bảng 3.19: Kết quả khảo sát kỹ năng thiết kế giáo án (lập kế hoạch HĐ) với các tiêu chí cụ thể của giáo viên sau thực nghiệm 142
Bảng 3.20: Kết quả khảo sát năng lực dạy học (tổ chức hoạt động GD) tích hợp TTĐP của giáo viên sau thực nghiệm 143
Bảng 3.21: Kết quả khảo sát năng lực dạy học (tổ chức hoạt động GD) tích hợp TTĐP của giáo viên sau thực nghiệm với các tiêu chí cụ thể 144
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Biểu đồ:
Biểu đồ 2.1: Đánh giá của CBQL và giáo viên về ưu thế sử dụng tri thức địa
phương trong giáo dục Q&BP cho HSTH Tày - Nùng 63 Biểu đồ 2.2: Các loại hình văn hóa địa phương sử dụng trong giáo dục Q&BP
cho HSTH Tày - Nùng 71 Biểu đồ 2.3: Hình thức sử dụng tri thức VHĐP trong giáo dục Q&BP cho học
sinh tiểu học Tày - Nùng 76 Biểu đồ 2.4: Phương pháp giáo dục Q&BP trong dạy học môn Đạo đức theo
tiến trình bài học 80 Biểu đồ 3.1: Tương quan nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh trước và
sau TN lần 1 tỉnh Thái Nguyên 127 Biểu đồ 3.2: Tương quan nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh trước và
sau TN lần 1 tỉnh Bắc Kạn 128 Biểu đồ 3.3: Tương quan hành vi của học sinh trước TN, sau TN lần 1, sau TN
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Giáo dục tiểu học là bậc học đầu tiên ở phổ thông thực hiện mục đích giáo dục hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu song rất quan trọng cho sự phát triển nhân cách Trong quá trình đó, nhà giáo dục ngoài việc cung cấp cho học sinh nội dung tri thức khoa học của các môn học theo quy định còn cần trang bị cho học sinh những kỹ năng để vững vàng trong cuộc sống và học tập tốt hơn Do đặc điểm lứa tuổi, nhận thức của học sinh tiểu học về mọi mặt của đời sống đều khá non nớt, sức đề kháng trước các tác động xã hội của các em còn nhiều hạn chế Bản thân học sinh chưa hiểu rõ mình có những quyền gì và có bổn phận gì để định hướng hành động cho đúng Đặc biệt trong bối cảnh đời sống xã hội hiện nay, vấn đề vi phạm quyền trẻ em diễn ra theo chiều hướng phức tạp nên nhiệm vụ giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh ở bậc tiểu học càng trở nên cấp thiết
Học sinh tiểu học ở mỗi cộng đồng dân tộc sinh sống tại các địa phương khác nhau có sự thụ hưởng các quyền trẻ em và thực hiện các bổn phận với những đặc thù riêng Các quyền và bổn phận ấy phải phù hợp với văn hóa, phong tục, tập quán và lối sống của cộng đồng dân tộc tại địa phương đó Quá trình giáo dục quyền
và bổn phận trẻ em ở các khu vực khác nhau cần chú trọng khai thác những yêu cầu của đời sống thực tiễn mang tính đặc thù của địa phương để nội dung quyền và bổn phận trẻ em được giáo dục sát với thực tiễn cuộc sống và phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh
Học sinh tiểu học người Tày - Nùng khu vực Việt Bắc được thụ hưởng đời sống tinh thần phong phú với những giá trị văn hóa mang đậm đặc trưng dân tộc
Đó là những tri thức địa phương chứa đựng trong phong tục, tập quán, cách sinh hoạt, giao tiếp, lễ hội, tín ngưỡng, tâm linh v.v… Nếu biết cách khai thác những tri thức địa phương để vận dụng vào quá trình giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học người Tày - Nùng sẽ góp phần làm phong phú thêm nội dung giáo dục, gắn kết nội dung giáo dục với thực tiễn cuộc sống của học sinh, với đặc trưng văn hóa vùng miền
Trang 13Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Sử dụng tri thức địa
phương trong giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng” tại khu vực Việt Bắc làm đề tài luận án
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những nghiên cứu lí luận về giáo dục quyền và bổn phận trẻ em
và hệ thống hoá tri thức địa phương của cộng đồng dân tộc Tày - Nùng tại khu vực Việt Bắc đồng thời khảo sát thực trạng giáo dục nhà trường đã sử dụng tri thức địa phương để giáo dục quyền và bổn phận trẻ em, luận án hướng đến mục đích xây dựng các biện pháp sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận trẻ em đạt hiệu quả cao nhất
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng ở cuối cấp tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa tri thức địa phương với giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học và mối quan hệ giữa biện pháp sử dụng tri thức địa phương trong hoạt động giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học người Tày
- Nùng với hiệu quả giáo dục
4 Giả thuyết khoa học
Giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau trong đó có yếu tố tri thức địa phương Nếu xây dựng được hệ thống các biện pháp sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận trẻ em phù hợp thì sẽ giúp giáo viên biết cách khai thác có hiệu quả những giá trị tích cực của những tri thức đó để giáo dục các quyền và bổn phận cho học sinh, gắn các quyền và bổn phận trẻ em với đời sống thực tiễn nhờ vậy hiệu quả của quá trình giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng sẽ được nâng cao
Trang 145 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng
5.2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền
và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng khu vực Việt Bắc
5.3 Xây dựng hệ thống các biện pháp sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng khu vực Việt Bắc
5.4 Thực nghiệm kiểm chứng tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp
sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng khu vực Việt Bắc
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Nội dung
Do nội dung các tri thức địa phương khá phong phú và tồn tại rải rác trong đời sống thực tiễn nên trong giới hạn luận án, chúng tôi chỉ đi sâu khai thác, sử dụng các tri thức mang tính phổ biến toàn khu vực và có ưu thế lớn trong giáo dục quyền - bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng Chúng tôi tập trung vào một số dạng thức tồn tại phổ biến như phong tục, tập quán; ca dao, tục ngữ, thành ngữ; truyện kể; kinh nghiệm; lễ hội, trò chơi; hương ước, quy ước; nghệ thuật và các yếu tố tín ngưỡng, tâm linh tích cực của hai nhóm dân tộc Tày - Nùng tại các tỉnh khu vực Việt Bắc
Vận dụng khai thác tri thức địa phương vào giáo dục một số nội dung quyền
- bổn phận trẻ em thuộc 4 nhóm quyền cơ bản được quy định trong Công ước quốc
tế về quyền trẻ em gồm nhóm quyền được sống còn, nhóm quyền được phát triển; nhóm quyền được bảo vệ, nhóm quyền được tham gia Nội dung bổn phận trẻ em được quy định trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em gồm bổn phận trẻ em
ở gia đình, ở nhà trường và tại cộng đồng địa phương
Đề tài nghiên cứu của luận án chủ yếu hướng vào việc xác định hiệu quả tích hợp sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận thông qua hai hình thức chủ yếu là dạy học môn Đạo Đức và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ
Trang 15lên lớp Do vậy việc định hướng biện pháp và tổ chức thực nghiệm tuân thủ theo các hình thức giáo dục đã xác định ở trên
Đề tài nghiên cứu tổ chức thực nghiệm trên 79 học sinh lớp 5 tại hai địa phương
là Huyện Bạch Thông - Tỉnh Bắc Cạn và Huyện Võ Nhai - Tỉnh Thái Nguyên
6.2 Khách thể điều tra
Quá trình nghiên cứu thực tiễn chúng tôi tiến hành tại các trường tiểu học thuộc các tỉnh khu vực Việt Bắc mà chủ yếu học sinh là người Tày - Nùng Đề tài nghiên cứu trên 245 cán bộ quản lí và giáo viên, 618 học sinh tiểu học Tày - Nùng thuộc hai khối 4 và 5
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đề tài luận án nêu lên sự kết hợp của TTĐP với nội dung Q&BP trẻ em do
đó cần tiến hành đồng bộ các phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: chúng tôi tiến hành sàng lọc các tài liệu có liên quan từ nhiều nguồn khác nhau, đọc, phân tích và ghi chép lại nội dung có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp, hệ thống hoá: Phương pháp này là căn cứ để tác giả tổng thuật và đưa ra định hướng nghiên cứu cho đề tài luận án Trên thực tế, chúng tôi tổng hợp các quan điểm, ý kiến của các tác giả trong các bài báo khoa học, sách tham khảo, giáo trình, sách giáo khoa có đề cập đến nội dung quyền và bổn phận trẻ
em để xây dựng khung lý luận về giáo dục quyền và bổn phận trẻ em Mặt khác, chúng tôi đã nghiên cứu các ấn phẩm bàn về văn hóa của dân tộc Tày - Nùng tại các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc để khai thác các tri thức địa phương có ý nghĩa giáo dục các quyền và bổn phận trẻ em
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng Ankét là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong quá trình thu thập thông tin về thực trạng sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận cho học sinh tiểu học Tày - Nùng khu vực Việt Bắc
Phương pháp phỏng vấn: sử dụng trong quá trình trao đổi với giáo viên và học sinh nhằm thu thập thông tin hỗ trợ cho phương pháp điều tra bằng Ankét
Trang 16Phương pháp chuyên gia: sử dụng để xin ý kiến các chuyên gia về hệ thống các biện pháp, cách thức tổ chức thực nghiệm
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của hoạt động dạy học và giáo dục ở trường tiểu học: Đây là phương pháp sử dụng để thu thập các thông tin hỗ trợ cho phương pháp điều tra bằng Ankét ở phần thực trạng Phương pháp này cũng được
sử dụng như là phương pháp bổ trợ để đo kết quả sau thực nghiệm
Phương pháp điền dã, thực địa: được sử dụng để thu thập thông tin về đời sống thực tiễn của cộng đồng người Tày - Nùng trong khu vực, khám phá các nét văn hóa trong đời sống, sinh hoạt, các phong tục tập quán…
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: được sử dụng trong thực nghiệm các biện pháp sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng
7.3 Các phương pháp khác
Phương pháp thống kê toán học, sử dụng phần mềm SPSS để xử lí số liệu thu được ở phần thực trạng và xử lí kết quả thực nghiệm
8 Các luận điểm khoa học của luận án
8.1 Giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học người Tày - Nùng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau trong đó có một yếu tố giữ vai trò
vô cùng quan trọng đó là tri thức địa phương Những tri thức của đời sống thực tiễn được thể hiện đậm nét trong các loại hình văn hóa của địa phương như phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tâm linh, lối sống, sinh hoạt, nghệ thuật dân gian…
8.2 Giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng cần gắn với khai thác các tri thức địa phương Những tri thức đó được xem như một phương tiện giáo dục có ưu thế đặc biệt khi sử dụng trong tổ chức các hoạt động giáo dục Quá trình tích hợp giáo dục có ý nghĩa trên cả hai phương diện, thứ nhất giúp chuyển tải các nội dung điều luật khô cứng trở nên mềm mại, dễ hiểu, thân thiện đối với học sinh, điều này phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học Tày - Nùng Mặt khác, quá trình tích hợp này còn phát huy ý nghĩa tích cực, nhân văn, cao đẹp của những tri thức cộng đồng được khai thác và sử dụng Đó chính là sự hiện thực hóa cách thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của cộng đồng trong xu thế hội nhập hiện nay
Trang 178.3 Biện pháp sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng được xây dựng trên cơ sở hướng vào phát huy ưu thế của dạy học môn Đạo Đức và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường tiểu học Các biện pháp đưa ra đảm bảo sự phù hợp với mục tiêu giáo dục tiểu học, đáp ứng yêu cầu của nội dung, chương trình giáo dục quyền
và bổn phận trong nhà trường, có tính đến đặc điểm học sinh và điều kiện tại các trường tiểu học miền núi
9 Những đóng góp mới của luận án
9.1 Về lí luận
Hệ thống hóa được các vấn đề lí luận về giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học, khái quát được hệ thống các tri thức địa phương có tác dụng giáo dục đối với học sinh dân tộc Tày - Nùng Khẳng định vấn đề sử dụng tri thức địa phương để giáo dục quyền và bổn phận trẻ em là một nhiệm vụ cần thực hiện và
có thể thực hiện hiệu quả trong trường tiểu học hiện nay
Xây dựng được hệ thống các biện pháp giáo dục Q&BP trẻ em thông qua khai thác tri thức của cộng đồng dân tộc Tày - Nùng ở địa phương
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể coi là tài liệu tham khảo cho giáo viên
và cán bộ quản lí ở các trường tiểu học miền núi trong quá trình giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh Quy trình tích hợp tri thức địa phương của dân tộc Tày - Nùng trong giáo dục quyền và bổn phận trẻ em có thể áp dụng để khai thác tri thức văn hóa của các dân tộc khác trong quá trình giáo dục học sinh của cộng đồng dân tộc đó
10 Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 3 chương, ngoài ra còn có các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục của luận án
Trang 181.1.1 Những nghiên cứu chủ yếu về hoạt động giáo dục quyền và bổn phận trẻ em
i Một số nghiên cứu trên thế giới về vấn đề giáo dục quyền và bổn phận cho trẻ em
Vấn đề quyền trẻ em được nghiên cứu bởi các tổ chức và cá nhân trong mối quan tâm chung về quyền con người bởi trẻ em cũng được xem là một con người độc lập, quyền trẻ em cũng là quyền con người có tính đến đặc điểm lứa tuổi
Những nghiên cứu chính thức về quyền trẻ em được đẩy mạnh sau khi công ước quốc tế về quyền trẻ em ra đời Các vấn đề nghiên cứu tập trung xung quanh trẻ
em cùng bàn luận về các quyền của trẻ em trên nhiều phương diện khác nhau
Tác giả K’O Connor (1989) [101], tại nhà sách Lucent - San Diego, đã có công trình nghiên cứu về tình trạng trẻ em vô gia cư Những khó khăn trong cuộc sống của trẻ không nơi trú ẩn đã cho thấy quyền cơ bản nhất là quyền sống còn của trẻ bị đe dọa nghiêm trọng Tình trạng trẻ em không gia đình, không có nơi sinh sống cố định diễn ra ở hầu khắp các quốc gia cho thấy vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em vẫn còn nhiều hạn chế
Năm 1997, tổ chức lao động thế giới ILO tại New York [102] đã đưa ra chương trình giáo dục lao động với nội dung bảo vệ trẻ em trong hoạt động lao động (Protecting chidren in the work of work) Chương trình khẳng định giáo dục lao động cho trẻ em là cần thiết nhưng cần bảo vệ trẻ em tránh khỏi lạm dụng phải lao động quá sức hoặc trong môi trường độc hại, nguy hiểm
Ở Thụy Điển, Anh và một số nước Châu Âu, quyền trẻ em đã được đưa vào nhà trường để giáo dục học sinh Ở Pêru, Ensanvado vấn đề giáo dục quyền được đưa vào dưới hình thức ngoại khoá Ở Thái Lan và một số nước Đông Nam Á, vấn đề giáo dục quyền được đưa vào nhà trường dưới hình thức “trường học bạn hữu”, trong
Trang 19đó phát huy tính thân thiện và các mối quan hệ trong nhà trường để giáo dục các quyền trẻ em cho học sinh theo tinh thần Công ước quốc tế về quyền trẻ em [31]
Năm 2004, Tổ chức cứu trợ trẻ em của Liên hợp quốc đã xuất bản tài liệu bàn
về giảng dạy quyền con người và tổ chức thực hành tại trường tiểu học có tên Teaching human rights: Practical activities primary an secondary schools [104] Đây
là tài liệu giúp học sinh tiểu học nhận biết những quyền con người cơ bản, đó cũng là những quyền mà trẻ em được hưởng
Save the children với tư cách là một bộ phận của tổ chức cứu trợ trẻ em của Liên hợp quốc đã xuất bản cuốn sách bàn về vấn đề áp dụng quyền trẻ em vào nhà trường [62] Cuốn sách được biên dịch và xuất bản tại Việt Nam vào năm 2004 bởi NXB Chính trị Quốc gia Tuy chỉ trình bày ngắn gọn trong 30 trang song những chỉ dẫn trong tài liệu
đó đã giúp cho lãnh đạo ngành giáo dục, nhà trường, thầy cô giáo, gia đình và toàn xã hội tham gia thực hiện có hiệu quả vấn đề giáo dục các Q&BP trẻ em
Giáo dục Q&BP trẻ em trên thế giới chủ yếu diễn ra trong các hoạt động song hành cùng với quá trình học tập tri thức trong nhà trường Tại các quốc gia phát triển có nhiều chính sách phục vụ trực tiếp cho các đối tượng trẻ em như trẻ em nghèo trong các khu “ổ chuột”, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo… Mặc dù công ước quốc tế có đề cập đến nội dung quyền của trẻ em dân tộc thiểu số song do đặc điểm dân cư khác nhau nên vấn đề giáo dục và thực hiện các quyền và bổn phận của trẻ
em dân tộc thiểu số chưa được nhắc đến trong các công trình nghiên cứu trên phạm
Vũ Ngọc Bình là tác giả tiên phong trong những nghiên cứu về quyền trẻ em
và giáo dục các Q&BP trẻ em Với rất nhiều cuốn sách viết về nội dung này như:
Trang 20“Những điều cần biết về quyền trẻ em” của NXB Chính trị Quốc gia năm 1997, [12]; “Giới thiệu Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em” của NXB Chính trị Quốc gia năm 2002, [13] Ngoài các vấn đề bàn luận về nội dung Công ước, tình hình thực hiện quyền trẻ em trên thế giới, tác giả Vũ Ngọc Bình còn đề cập đến vấn
đề giáo dục quyền trẻ em Theo tác giả để có hiệu quả thiết thực, giáo dục Q&BP trẻ em phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Thứ nhất, giáo dục phải toàn diện tất cả các quyền trong Công ước
Thứ hai, giáo dục phải liên tục và hướng vào tất cả các nhóm dân cư trong xã hội Thứ ba, không chỉ phổ biến kiến thức về quyền trẻ em mà còn giúp tạo ra trong tất cả mọi người nhận thức là trẻ em có quyền và tất cả các quyền đó không tách rời nhau
Tác giả Trịnh Hòa Bình [11] có bài viết “Sự hiểu biết giữa gia đình và trẻ em
về vấn đề quyền trẻ em hiện nay” trong mục xã hội học thực nghiệm của tạp chí Xã hội học số 4 năm 2005 đã đưa ra kết quả của cuộc điều tra về kiến thức, thái độ và hành vi của cộng đồng về quyền trẻ em rất đáng phải lưu tâm Để đảm bảo các quyền của trẻ em và yêu cầu hợp lí về trách nhiệm của trẻ cần bắt đầu từ sự hiểu biết của cha mẹ đối với con cái trong gia đình Tuy nhiên dấu gạch nối này cần phải được định hướng lại cho phù hợp hơn, phần lớn kết quả điều tra thể hiện cha mẹ coi trọng việc cung cấp cho con cái một đời sống vật chất đảm bảo nhiều hơn việc chăm sóc cho đời sống tinh thần của đứa trẻ Như vậy liệu có đủ để đánh giá việc đảm bảo các quyền của trẻ em, hay biết cách đòi hỏi trách nhiệm phù với với con mình?
Có rất nhiều tác giả với những bài viết trên các báo, các tạp chí với mục đích tăng cường nhận thức và hiểu biết của các lực lượng trong xã hội về nội dung bảo vệ các quyền trẻ em, phát huy vai trò của giáo dục cộng đồng để giáo dục Q&BP của trẻ em Mỗi tác giả có cách tiếp cận và nghiên cứu khác nhau về vấn đề giáo dục Q&BP trẻ
em phù hợp với lĩnh vực công tác, song nhìn chung các tác giả đều đề cập đến yêu cầu cần nâng cao hiểu biết của cộng động về vấn đề bảo vệ các quyền của trẻ em và đặt ra yêu cầu về nghĩa vụ, bổn phận của trẻ em Tiêu biểu cho nhóm tác giả này gồm có tác giả Hà Lan [44] - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam; Hà Ngọc Lân [45] -
Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, Trần Quang Tiệp [74] -Tổng cục An ninh, Bộ Công an, tác giả Nguyễn Đức Trung [77]- tạp chí sân khấu tháng 6/ 2004…
Trang 21Một xu hướng cơ bản trong vấn đề giáo dục và thực hiện quyền trẻ em còn
có những bàn luận về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của nhiều tác giả như Nguyễn Văn Cừ - Nguyễn Thị Lan [19] Hai tác giả trên đã xuất bản cuốn sách “Chăm sóc, giáo dục trẻ em” tại NXB Văn hóa dân tộc Nội dung cuốn sách phổ biến đến độc giả những điều cần biết về quyền, bổn phận và nghĩa vụ của trẻ
em, trách nhiệm của gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ Trong cuốn sách này, các tác giả cũng đã dành sự quan tâm bàn về vấn đề hiểu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và vần đề chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Nằm trong xu hướng này có tác giả Nguyễn Trọng An [1] của trường cán bộ phụ nữ TW, đã xuất bản tập bài giảng về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong thời kì mới - NXB Chính trị Quốc gia năm
2012, đã khái quát nên những vấn đề bảo vệ quyền trẻ em trong xã hội hiện đại như: bạo lực, lạm dụng trẻ em, phòng tránh tai nạn thương tích ở trẻ em, vấn đề dinh dưỡng trẻ em, sức khỏe tâm trí cho trẻ em, trẻ em bị HIV… đặc biệt tác giả có đề cập đến nội dung tham vấn trẻ em Những vấn đề được trình bày mang tính thời sự, đảm bảo quyền trẻ em trong xã hội hiện đại cần thiết phải quan tâm đến các nội dung được đề cập trong bài giảng trên
Vấn đề giáo dục Q&BP trẻ em còn nhận được sự quan tâm của các tổ chức như: quỹ nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF) và một số tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam như: PLAN, Radda Barner…đã tiến hành các chương trình giáo dục Q&BP trẻ
em cho các đối tượng, đặc biệt là trẻ em thông qua các hoạt động xã hội và công tác tuyên truyền Một trong những hoạt động nổi bật để tăng cường giáo dục Q&BP trẻ
em phải kể đến đó là việc mở các lớp tập huấn về quyền trẻ em cho giáo viên và cán
bộ quản lí giáo dục được khởi thảo bởi tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển Radda Bernen từ năm 2000 đến 2007 Thông qua các đợt tập huấn, giáo viên và những người làm công tác quản lí trong các cơ sở giáo dục được trang bị đầy đủ nhận thức
về các quyền trẻ em đồng thời còn được rèn luyện các kỹ năng để tổ chức thành công các hoạt động giáo dục cho học sinh tại trường [21, 94]
Bộ GD&ĐT, trực tiếp là vụ giáo dục trung học cũng đã ban hành tài liệu bồi dưỡng thường xuyên dành cho giáo viên THCS giai đoạn 2004-2007 về giáo dục
Trang 22phòng chống ma túy và quyền trẻ em nhằm tăng cường nhận thức của các lực lượng giáo dục về Q&BP trẻ em [93]
Đối với hoạt động giáo dục Q&BP trẻ em hiện nay, tại hầu hết các trường tiểu học đều có chương trình tích hợp trong các môn học hoặc hoạt động giáo dục như dạy học Đạo đức, hoạt động ngoại khóa, hoạt động NGLL…
Tác giả Lưu Thu Thủy [71,72] cùng nhóm biên soạn sách giáo khoa Đạo đức cho cấp tiểu học cũng là một chuyên gia nghiên cứu về nội dung giáo dục Q&BP của trẻ em Trong các tài liệu giáo khoa được biên soạn có chỉ rõ các nội dung quyền trẻ em được chuyển tải thông qua mỗi bài học Nội dung Q&BP trẻ em trong các tài liệu học tập này khá phong phú, nếu thực hiện có hiệu quả các hoạt động dạy học của môn học, học sinh sẽ được trang bị đầy đủ hiểu biết về các Q&BP trẻ em khi kết thúc bậc tiểu học
Cũng nằm trong nhóm các tác giả nghiên cứu về quyền trẻ em ở trường tiểu học còn có tác giả Nguyễn Thị Việt Hà [31] Công trình nghiên cứu về hoạt động giáo dục các Q&BP tương ứng cho học sinh tiểu học trong môn hoạt động GDNGLL ở nhà trường Đây là công trình nghiên cứu có ý nghĩa tạo ra luận cứ khoa học đi đến khẳng định vai trò của hoạt động giáo dục NGLL với nội dung giáo Q&BP trẻ em trong nhà trường tiểu học
Giáo dục Q&BP trẻ em ở không chỉ diễn ra trong các nhà trường tiểu học mà được thực hiện trong giáo dục xã hội thông qua các tổ chức, các chương trình giáo dục phổ biến kiến thức trên các phương tiện thông tin đại chúng Sự quan tâm của cộng đồng được dành cho mọi đối tượng trẻ em được đảm bảo bởi hệ thống các văn bản pháp lí chặt chẽ Có nhiều chương trình hành động quốc gia diễn ra với sự hợp tác của nhiều tổ chức trong nước và quốc tế nhằm thực hiện các quyền của trẻ em cùng như tăng cường giáo dục nhận thức của cộng đồng về vấn đề đảm bảo quyền trẻ em như hỗ trợ dinh dưỡng trẻ em, chăm sóc sức khỏe, các chương trình vui chơi, giải trí, các chương trình gameshow thiếu nhi
Mặc dù đã có những nghiên cứu về vấn đề quyền trẻ em và hoạt động giáo dục Q&BP cho trẻ em song có thể thấy hiện chưa có công trình nào đề cập đến nội
Trang 23dung giáo dục các Q&BP trẻ em dành cho nhóm học sinh người DTTS cư trú tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa Trong khi nhóm học sinh này cũng được coi là nhóm có nguy cơ cao bị vi phạm hoặc lạm dụng các quyền trẻ em cũng như thiếu hiểu biết về trách nhiệm và nghĩa vụ của bản thân Yêu cầu đặt ra khi giáo dục nội dung Q&BP cho nhóm học sinh tiểu học người Tày - Nùng là cần nghiên cứu kĩ về đặc điểm tâm lí, đặc điểm nhận thức của các em để tiến hành theo những cách thức thuận lợi nhất cho các em đồng thời góp phần tăng cường hiểu biết cho cộng đồng dân cư mà các em đang sống
1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục học sinh
Mỗi dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc anh em của đất nước Việt Nam đều mang những đặc trưng văn hóa riêng biệt tạo nên nền văn hóa Việt Nam đa sắc màu Vấn đề giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc đã được thể hiện trong quan điểm giáo dục của Đảng và Nhà nước khi chúng ta bước vào xu thế hội nhập Trong sự trộn lẫn của nhiều nền văn hóa, bản sắc dân tộc chính là sự neo chốt để khẳng định tinh thần và cái riêng có không thể hòa lẫn của một dân tộc
Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc từ lâu được tiếp cận là nội dung của quá trình giáo dục, là những gì người học cần lĩnh hội sau một quá trình học tập Tuy nhiên khai thác các loại hình văn hóa của các dân tộc với tư cách là phương tiện giáo dục chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu
Tác giả Hoàng Kim Dung (1992), [27] đã khai thác nghệ thuật múa rối với vấn đề giáo dục thẩm mĩ cho học sinh Trong 65 trang của tài liệu tác giả đã đề cập đến nghệ thuật rối nước, một nét văn hóa đặc sắc của người Việt Bàn về cái hay, cái đẹp của nghệ thuật rối nước chính là phương tiện để giáo dục năng lực thẩm mĩ cho người học Bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục thẩm mĩ, công trình trên giúp cho bộ môn nghệ thuật này đến gần hơn với thế hệ trẻ, tiếp tục lưu giữ và bảo tồn bộ môn nghệ thuật dân gian đặc sắc
Tác giả Trần Ngọc Chi, H’Nâu (2009), [18] đã khai thác vấn đề dạy học truyền thống của người Jrai để giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em gái của dân tộc
Trang 24Mặc dù nghiên cứu chỉ đề cập đến giáo dục nhóm trẻ em gái thuộc một trường tiểu học ở tỉnh Gia Lai song điều đó cho thấy, tác giả đã đề cập đến việc khai thác những tri thức văn hóa địa phương để giáo dục cho học sinh
Bàn về vấn đề khai thác các loại hình văn hóa trong giáo dục học sinh tiểu học, tác giả Hà Thị Kim Linh (2012), [47] đã khai thác ưu thế của các trò chơi dân gian trong giáo dục đạo đức học sinh Công trình nghiên cứu chỉ ra rằng trò chơi dân gian đặc biệt có ưu thế trong giáo dục đạo đức cho học sinh Thực tiễn nghiên cứu trên học sinh tiểu học một số tỉnh miền núi phía Bắc, tác giả đã chứng minh được khi tham gia các hoạt động chơi trong trò chơi dân gian, học sinh có cơ hội trải nghiệm và thể nghiệm nhiều phẩm chất đạo đức tốt đẹp như tinh thần đoàn kết,
ý thức tập thể, biết nhường nhịn, tôn trong bạn chơi và các quy định chơi…
Mặc dù chưa có công trình nào nghiên cứu về sử dụng tri thức của các dân tộc vào giáo dục nội dung Q&BP trẻ em cùng như việc sử dụng tri thức địa phương của người Tày - Nùng để giáo dục các Q&BP cho học sinh Song vấn đề lí luận được khái quát từ những nghiên cứu trên cho phép chúng tôi khẳng định rằng, văn hóa đặc trưng của mỗi dân tộc đều có thể chọn lọc, khai thác và sử dụng có hiệu quả trong giáo dục toàn diện cho học sinh Đây là một trong những cơ sở khoa học giúp chúng tôi định hướng nghiên cứu những đặc trưng văn hóa của dân tộc Tày - Nùng, khai thác và chọn lọc từ những tri thức đó để sử dụng trong giáo duc các quyền và bổn phận trẻ em cho con em của chính cư dân bản địa
1.1.3 Những nghiên cứu về văn hóa Tày - Nùng và ý nghĩa giáo dục quyền và bổn phận trẻ em
Thực tiễn được công tác, học tập và sinh sống tại khu vực, chúng tôi nhận thấy cộng đồng dân tộc Tày - Nùng khu vực Việt Bắc sở hữu kho tàng tri thức văn hóa được xây dựng từ chính cuộc sống và đã được kiểm nghiệm qua nhiều thế hệ có ý nghĩa to lớn trong giáo dục học sinh đặc biệt là những tri thức có ưu thế để giáo dục Q&BP cho con
em của cộng đồng đó Các tri thức này được ghi chép lại trong các tài liệu nghiên cứu văn hóa và tồn tại với các dạng thức phong phú như phong tục, tập quán, nghi lễ; quy ước, luật lệ; những lễ hội truyền thống; văn học nghệ thuật, ca dao tục ngữ hay đơn thuần
đó là những nét văn hóa trong sinh hoạt; kinh nghiệm sống …
Trang 25Đã có rất nhiều nhà khoa học thực hiện các công trình nghiên cứu văn hóa Tày - Nùng, họ có thể thực hiện nghiên cứu với mục đích khác nhau song đều có điểm chung là sự say mê với tri thức trong văn hóa dân gian Tày - Nùng Các nghiên cứu tập trung vào một số hướng sau:
Xu hướng thứ nhất, các tác giả phác họa văn hóa Tày - Nùng dưới góc nhìn khái quát như Hà Đình Thành với “Văn hoá dân gian Tày - Nùng ở Việt Nam” [68];
Lã Văn Lô - Hà Văn Thư với “Văn hoá Tày Nùng” [49]; Tập thể tác giả Viện Dân tộc học với “Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam” [89]; Hoàng Nam, “Các dân tộc Nùng ở Việt Nam” [52]… Các tác giả trên đã dành rất nhiều tâm sức để khái quát nên toàn bộ những nét cơ bản của văn hóa người Tày, người Nùng Hầu hết những nghiên cứu này tập trung vào các nội dung lớn như: khái quát về đặc điểm và nguồn gốc tộc người; văn học dân gian; các loại hình nghệ thuật; tri thức dân gian; tín ngưỡng tôn giáo và các lễ hội; phong tục, tập quán… Các dạng thức tồn tại của văn hóa địa phương vô cùng phong phú đó ẩn chứa những nội dung và ý nghĩa nhân văn
có thể khai thác trong giáo dục học sinh tiểu học người Tày - Nùng
Xu hướng nghiên cứu thứ hai mà phần lớn những công trình nghiên cứu về văn hóa Tày, Nùng mà các tác giả thường làm là tập trung về một mảng văn hóa khác biệt và khắc họa đậm nét những giá trị văn hóa đó Chẳng hạn các tác giả Hoàng Quyết [60], Tuấn Dũng [61], Vàng Thung Chúng [22] nghiên cứu về phong tục tập quán của người dân tộc Tày ở Việt Bắc Các tác giả đã khái quát và chỉ rõ sự ràng buộc trong cộng đồng người này là bởi các phong tục, tuy không mang tính bắt buộc như pháp luật của nhà nước nhưng họ tự giác tuân theo Các nghiên cứu của các tác giả cũng trình bày về một
số hủ tục, tuy nhiên theo cơ chế đào thải tự nhiện, khi không phù hợp, các tục đó sẽ dần tiêu biến Những phong tục đẹp, giàu tính nhân văn vẫn tiếp tục được truyền lại cho các thế hệ con cháu, ngày càng phát triển tốt đẹp và phù hợp hơn Một số nội dung quyền trẻ
em trong nhóm quyền được sống còn, quyền được phát triển đặc biệt có ưu thế khi khai thác các phong tục, tập quán nhân văn của cư dân bản địa
Để giáo dục nội dung quyền được sống cùng ông bà, cha mẹ và bổn phận yêu quý kính trọng ông bà, cha mẹ cho học sinh tiểu học Tày - Nùng, có thể khai
Trang 26thác những công trình nghiên cứu của một số tác giả như Đỗ Thúy Bình [7], Đàm Thị Uyên [84], tập thể tác giả Viện dân tộc học [88] đây là nhóm tác giả có những nghiên cứu về vấn đề về gia đình và quan hệ gia đình của đồng bào Tày - Nùng, phong tục sinh hoạt trong gia đình Gia đình người Tày, Nùng có sự cố kết bền chặt, các thành viên trong gia đình sống giản dị, đúng mực, lễ nghĩa, giàu tình cảm, có trật tự, “trọng già, yêu trẻ” Nhìn chung, đời sống tình cảm trong gia đình người Tày, Nùng gắn bó, gần gũi hơn so với người Kinh, lối sống nhân văn, giản dị
Văn hóa trong sinh hoạt ăn uống của người Tày - Nùng có khá nhiều điểm thú vị Tác giả Ma Ngọc Dung [28] khi nghiên cứu về văn hóa ẩm thực và ứng xử
xã hội đã chỉ ra rằng người Tày, Nùng rất sáng tạo trong chế biến món ăn, họ sở hữu kho tàng văn hóa ẩm thực độc đáo Ứng xử trong ăn uống luôn được chú trọng,
có được thực phẩm để nuôi sống mình trước hết cần biết ơn tổ tiên, ông bà, đặc biệt vào dịp lễ tết, mâm cúng rất được quan tâm, chăm chút tỉ mỉ, trong khi ăn uống, phải kính già, nhường trẻ Đây là một nét văn hóa có giá trị giáo dục rất lớn đối với bổn phận trẻ em trong gia đình
Đặc trưng của văn hóa Tày - Nùng phải nhắc đến tín ngưỡng và các yếu tố tâm linh Tác giả Nguyễn Thị Yên [96, 98] là tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian Một trong những nét đặc sắc nhất là những câu chuyện truyền thuyết hay những quan niệm về trời đất và muôn loài Khai thác các đặc trưng mang tính tích cực có thể giáo dục cho học sinh bổn phận yêu quê hương đất nước, tự hào dân tộc, giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên… Người Tày - Nùng rất coi trọng việc cúng lễ tổ tiên, đây là một nét văn hóa trong đời sống tâm linh có ưu thế để giáo dục nhóm quyền được sống còn của trẻ và bổn phận của trẻ trong gia đình
Người Tày - Nùng còn sở hữu kho tàng độc đáo có giá trị của những tri thức văn hóa dân gian Nghiên cứu về văn học có một số tác giả như Trần Thị Việt Trung [78], Triều Ân [5], Hoàng Quyết [60]… Nghiên cứu về các lễ hội truyền thống của người Tày, Nùng có tác giả Nguyễn Duy Bắc [6], Nguyễn Ngọc Thanh [67], tập thể tác giả Viện dân tộc học trong hợp tuyển văn học dân gian tập 1 [85] Một số tác giả khác nghiên cứu về các câu truyện cổ, truyện thơ, huyền thoại của
Trang 27dân tộc Tày - Nùng như Hoàng Quyết, Triều Ân… Một số tác giả khác như Nông Thị Nhình [54] lại có những nghiên cứu chuyên sâu về âm nhạc dân gian Những giá trị văn hóa này có ưu thế rất lớn để khai thác và giáo dục trẻ em của cộng đồng dân tộc đó
Ngoài những xu hướng nghiên cứu trên đây, một số tác giả còn nghiên cứu
về văn hóa của người Tày - Nùng gắn với một địa phương nhất định như tác giả Nịnh Văn Độ [24] với những nghiên cứu về văn hóa Tày, Nùng ở Tuyên Quang Một số nghiên cứu ở Cao Bằng như tác giả Nguyễn Thị Yên [96] với văn hóa của người Nùng An; Tác giả Triệu Thị Mai [51] nghiên cứu văn hóa dân gian ở Cao Bằng…Với những đặc trưng được khai thác, giáo viên có thể sử dụng trong quá trình giáo dục Q&BP cho học sinh tiểu học ở địa phương đảm bảo khai thác những tri thức gần gũi và thiết thực nhất đối với học sinh ở những địa bàn khác nhau
Khi tìm hiểu về văn hóa dân gian của cộng đồng người Tày - Nùng ở Việt Bắc, chúng tôi thấy rằng những nghiên cứu về văn hóa của cư dân bản địa trải dài trong giai đoạn từ những năm 90 đến thời điểm hiện tại Rất nhiều tri thức đã khẳng định được giá trị bền lâu theo thời gian mà không bị tác động bởi sự đào thải tự nhiên là do nó có ý nghĩa thiết thực đối với đời sống của cộng đồng Những tri thức
ấy sẽ càng trở nên bền vững, được lưu truyền lâu hơn khi được sử dụng trong quá trình giáo dục những thế hệ đang lớn lên Đặc biệt những tri thức này có thể phát huy được giá trị cao hơn khi được sử dụng làm phương tiện để giáo dục Q&BP trẻ
em cho học sinh tiểu học người Tày, Nùng trong khu vực Bản thân các điều luật vốn mang tính chất của các văn bản quy phạm pháp luật khô khan và cứng nhắc sẽ trở thành khó khăn lớn cho học sinh tiểu học người Tày, Nùng Ngay cả khi học thuộc được nội dung của điều luật song các em không thể biểu đạt bằng hành động thực tiễn và càng không biết cách áp dụng vào giải quyết các tình huống tương tự khi gặp phải Bằng con đường nhận thức thực tiễn để đi đến khái quát thành các điều luật cần thực hiện có lẽ sẽ là con đường nhận thức đem lại hiệu quả cao đối với học sinh tiểu học Tày - Nùng đặc biệt là các em cư trú ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn
Trang 28Điều 30 trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em có ghi “Trẻ em thuộc những cộng đồng thiểu số hoặc những nhóm dân cư bản địa có quyền được hưởng đời sống văn hóa của riêng mình, theo tôn giáo của mình và sử dụng ngôn ngữ riêng của mình” Đây là cơ sở pháp lí cho việc sử dụng tri thức cộng đồng địa phương trong giáo dục trẻ em bản địa Việc khai thác và sử dụng tri thức địa phương trong giáo dục Q&BP trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng còn là hiện thực hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc Cũng giống như cộng đồng người Kinh, trẻ em dân tộc Tày - Nùng có quyền được hưởng nền văn hóa của dân tộc mình, được xã hội thừa nhận và tôn trọng
1.2 Khái niệm cơ bản của luận án
1.2.1 Giáo dục quyền và bổn phận trẻ em
* Trẻ em
Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em thì trẻ em là những người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi, từ 16 - dưới 18 tuổi là tuổi vị thành niên [20]
Học sinh Tiểu học là trẻ em từ 6 - 11,12 tuổi, như vậy trẻ em trong độ tuổi tiểu học hoàn toàn chịu sự quy định về Q&BP trẻ em trong luật pháp quốc tế và Việt Nam
Để xác định một cá nhân nào đó là trẻ em hay không phải dựa vào tuổi, không phải là dựa vào nhìn nhận và quan sát cảm tính Pháp luật của Nhà nước ta cũng dựa trên cơ sở này để xác định các vấn đề có liên quan của một đứa trẻ Nếu
cá nhân đó trong độ tuổi quy định theo luật sẽ được đảm bảo các quy định của pháp luật về Q&BP trẻ em
* Quyền trẻ em
Theo Từ điển Tiếng Việt - quyền được hiểu là những cái mà xã hội, phong tục, pháp luật hay bản chất của con người cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành và khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại [86, Tr.675]
Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên và khách quan của con người được ghi nhận đảm bảo trong luật pháp quốc gia và thoả thuận pháp lý quốc tế
Trang 29Quyền trẻ em ở đây được tiếp cận dưới góc độ quyền con người, là một bộ
phận hợp thành quyền con người Do xuất phát từ quan điểm trẻ em cũng là con người, là thành viên của xã hội và là công dân của nhà nước Các em là đối tượng đặc biệt và có những quyền nhất định, có quyền yêu cầu đảm bảo các quyền con người mà đối với trẻ em được gọi là quyền trẻ em
Quyền trẻ em theo quan điểm của tác giả Nguyễn Thị Việt Hà là: “quyền trẻ
em là những điều trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm đảm bảo sự phát triển về thể chất và trí tuệ của trẻ em” là một khái niệm đã bao quát được những nội dung cơ bản nhất về quyền của trẻ em dưới góc độ của nhà giáo dục (là cha me, là thầy cô) [31] Tuy nhiên dưới góc độ nhìn nhận của tác giả thì khái niệm này đã bỏ qua yếu tố bản thân đứa trẻ Bên cạnh việc nhìn nhận quan niệm của các đối tượng bên ngoài trẻ em, định nghĩa về quyền trẻ em cần tính đến nhu cầu của trẻ, sự tự ý thức của trẻ đồng thời phải đảm bảo về mặt pháp lý
Dựa trên các khái niệm Quyền, Quyền con người, chúng tôi xây dựng khái niệm công cụ sau: “Quyền trẻ em là những điều mà trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm đảm bảo sự phát triển mọi mặt phù hợp với đặc điểm thể chất và trí tuệ của trẻ em, đáp ứng nhu cầu của trẻ em được luật pháp bảo
Nhóm quyền được phát triển gồm: quyền được học tập; quyền được chăm sóc sức khỏe, được hưởng các dịch vụ khám chữa bệnh; quyền được hưởng nền văn hóa của dân tộc; quyền được tự do kết giao bạn bè; quyền được sống trong hòa bình, tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí, văn hóa…
Nhóm quyền được bảo vệ gồm: quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; quyền được bảo vệ khỏi sự bóc lột lao động;
Trang 30quyền được bảo vệ tránh khỏi các chất ma túy; quyền được bảo vệ tránh khỏi sự buôn bán, bắt cóc; quyền được bảo vệ bí mật riêng tư…
Nhóm quyền được tham gia gồm: quyền được tự do biểu đạt ý kiến; quyền được tự do giao kết và hội họp hòa bình…
* Bổn phận trẻ em
Theo từ điển Tiếng Việt: bổn phận được hiểu là những điều phải làm theo mệnh lệnh của một nền đạo đức được xã hội công nhận, ví dụ như bổn phận của dân với nước là phải trung thành, bổn phận của con đối với cha mẹ là phải hiếu đễ v.v [86, tr 675]
Bổn phận của trẻ em ở đây được tiếp cận dựa trên hai khía cạnh: Thứ nhất là bổn phận của trẻ em được luật pháp quy định là những điều mà người lớn mong muốn trẻ em thực hiện được trong ứng xử, trong nhân cách, trong mọi hoạt động, ví dụ: bổn phận yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đoàn kết quốc tế (trích bổn phận thứ 5 - Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em) Khía cạnh thứ hai là bổn phận trong sự nhận thức của bản thân trẻ em được hiểu là những điều mà trẻ em nhận thấy mình phải làm để những người thân xung quanh trẻ thấy hài lòng và yêu mến trẻ và được coi
là con ngoan, là trò giỏi và là công dân tốt [20]
Trong đề tài nghiên cứu này chúng tôi chú trọng cả hai khía cạnh vừa phân tích ở trên Thứ nhất, chúng tôi cho rằng cần nâng cao nhận thức cho phụ huynh học sinh và thầy cô giáo về các quyền và bổn phận trẻ em Thứ hai, về phía bản thân học sinh phải biết mình có quyền gì để tự bảo vệ mình khi cần thiết và thực sự hình thành được nhu cầu thể hiện bổn phận của các em trong đời sống, đó mới chính là kết quả cuối cùng mà hoạt động giáo dục Q&BP trẻ em mà đề tài hướng tới
Với cách tiếp cận nghiên cứu của đề tài luận án, chúng tôi xây dựng khái niệm sau đây làm khái niệm công cụ: “Bổn phận của trẻ em là những việc làm, hành
vi và lời nói được trẻ em tự nguyện thực hiện theo mong muốn của người lớn và phù hợp với các giá trị chuẩn mực đạo đức truyền thống được xã hội thừa nhận”
Bổn phận trẻ em được tiếp cận dựa theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được quy định tại điều 21 gồm:
Trang 31“Yêu quý, kính trọng, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; kính trọng thầy giáo, cô giáo;
lễ phép với người lớn, thương yêu em nhỏ, đoàn kết với bạn bè; giúp đỡ người già yếu, người khuyết tật, tàn tật, người gặp hoàn cảnh khó khăn theo khả năng của mình
Chăm chỉ học tập, giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể, thực hiện trật tự công cộng và an toàn giao thông, giữ gìn của công, tôn trọng tài sản của người khác, bảo
vệ môi trường
Yêu lao động, giúp đỡ gia đình làm những việc vừa sức mình
Sống khiêm tốn, trung thực và có đạo đức; tôn trọng pháp luật; tuân thủ theo nội quy của nhà trường; thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, tôn trọng, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đoàn kết quốc tế” [20]
* Giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học
Giáo dục Q&BP trẻ em cho học sinh là đề cập đến quá trình nhà giáo dục tổ chức các hoạt động có mục đích hình thành cho học sinh nhận biết và có nhu cầu cũng như khả năng thể hiện các Q&BP trong đời sống
Quá trình giáo dục tiểu học được định nghĩa: “là quá trình dưới vai trò tổ chức, điều khiển và hướng dẫn của giáo viên, hình thành ở học sinh ý thức, thái độ, tình cảm và kỹ năng, hành vi, thói quen phù hợp với những chuẩn mực hành vi đạo đức, lao động, thể chất, thẩm mĩ đã được quy định đáp ứng mục đích và nhiệm vụ giáo dục của nhà trường tiểu học” Dưới góc độ tiếp cận của đề tài này chúng tôi xác định quá trình giáo dục Q&BP trẻ em là một lĩnh vực giáo dục đặc thù trong đó
có sự thống nhất và gắn bó chặt chẽ với các mặt hoạt động giáo dục trong nhà trường Chúng tôi tiếp cận quá trình giáo dục Q&BP trẻ em cho học sinh tiểu học theo khái niệm sau: “Giáo dục Q&BP cho học sinh tiểu học là quá trình dưới vai trò chủ đạo của giáo viên giúp học sinh chuyển hóa một cách tự giác yêu cầu về việc thực hiện quyền, bổn phận của trẻ em thành nhu cầu thể hiện hành vi và thói quen phù hợp với Q&BP của học sinh trong các mối quan hệ ở nhà trường, gia đình và xã hội” [37, Tr.5]
Trang 321.2.2 Tri thức - Tri thức địa phương
* Tri thức là chìa khóa dẫn đến mọi thành công trong quá trình con người sống
và hoạt động Tri thức do đâu mà có? Kho tàng tri thức đồ sộ mà con người có được
là do quá trình con người nhận thức thế giới và sáng tạo nên những giá trị mới Sự sáng tạo của con người thể hiện trên mọi phương diện của đời sống và những giá trị mới đó lại là cơ sở để con người tiếp tục sáng tạo Ngày nay với đời sống xã hội hiện đại, con người trở nên chuyên nghiệp hơn trong việc làm giàu vốn tri thức cho mình
và cho xã hôi Vậy tri thức là gì?
Theo từ điển Tiếng Việt, tri thức được hiểu là kiến thức, là nội dung được phản ánh trong một sự vật hiện tượng nhất định mà con người nhận thức về nó [86, Tr 825]
Theo quan điểm của C.Mác “Tri thức là phương thức mà theo đó ý thức tồn tại
và theo đó một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức Cho nên một cái gì đó nảy sinh
ra đối với ý thức chừng nào mà ý thức biết cái đó” Tuy nhiên sự tác động của thế giới bên ngoài đến con người không chỉ đem lại kiến thức về thế giới mà còn đem lại tình cảm của con người đối với thế giới Tri thức có thể chuyển hóa tình cảm mới thực sự sâu sắc và phải thông qua tình cảm thì tri thức mới biến thành hành động thực
tế, mới phát huy được sức mạnh của nó trong thực tế Trong đề tài nghiên cứu, chúng tôi tiếp cận theo khái niệm của T.S Hà Đình Thành: Tri thức được hiểu là những hiểu biết có hệ thống về thế giới khách quan, về xã hội và về bản thân con người Đó có thể là tri thức dân gian hoặc tri thức khoa học hiện đại (tri thức hàn lâm) [68]
* Tri thức văn hoá - Tri thức địa phương
Tri thức của xã hội loài người có rất nhiều loại với nhiều cách phân chia khác nhau, đó có thể là những tri thức mang tính chất kinh nghiệm, có thể là những tri thức lí luận khoa học sâu sắc đã được chứng minh Có thể đó là những tri thức trong hoạt động sống rất đỗi gần gũi, nhưng cũng có thể lại là tri thức về thế giới, về vũ trụ bao la
Tri thức văn hóa ở đây có thể hiểu là một khái niệm hàm chứa cả tri thức lí luận khoa học và tri thức kinh nghiệm tuy nhiên đó phải là những tri thức phản ánh cái đúng, cái chuẩn mực đã được chứng minh hoặc thừa nhận trong cộng đồng xã hội
Trang 33Tri thức địa phương là một khái niệm quan trọng trong đề tài nghiên cứu vì
nó có tác dụng định hướng cho việc lựa chọn và phân định nội dung giáo dục quyền
và bổn phận cho học sinh dựa trên cơ sở khai thác tri thức địa phương
Trong các tài liệu Tiếng Anh, Tiếng Pháp có đề cập đến một số khái niệm và được hiểu là tương nhau như: Tri thức dân gian (folk knowledge - connaissances populaires), tri thức địa phương (local knowledge - connaissances locales), tri thức truyền thống (traditional knowledge - connaissances traditionelles) và tri thức bản địa (indigennous knowledge - conaissances indigennes) [68]
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi quan niệm tri thức địa phương đó là những tri thức dân gian đã qua lựa chọn và sàng lọc tự nhiên, đảm bảo tính đúng đắn và được thừa nhận trong văn hoá của cộng đồng dân tộc Tày - Nùng
Trong cuốn Dân tộc Nùng ở Việt Nam, PGS.TS Hoàng Nam chưa đưa ra khái niệm cụ thể mà chỉ dẫn ra những ví dụ để minh họa: tri thức đoán định thời tiết, tri thức chữa một số bệnh nan y bằng các bài thuốc dân gian độc đáo, tri thức
về bồi dưỡng sức khỏe cho bà đẻ và tri thức nuôi dạy con trẻ [52, tr 177- 182]
Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh: tri thức dân gian hay tri thức địa phương là tri thức phi học đường, là vốn kinh nghiệm mà con người tích lũy được qua quá trình hoạt động lâu dài nhằm thích ứng với biến đổi môi trường tự nhiên và xã hội, phục
vụ lợi ích vật chất và tinh thần cho bản thân Vốn tri thức ấy tồn tại và phát triển chủ yếu không thông qua con đường học vấn và sách vở mà thường truyền tụng và làm phong phú hơn thông qua trí nhớ và truyền miệng, qua các câu châm ngôn, thành ngữ, tục ngữ, qua thực hành lao động nghề nghiệp hàng ngày [68] Với đề tài nghiên cứu này chúng tôi dựa theo định nghĩa đã được bổ sung của GS.TS Ngô Đức Thịnh làm định nghĩa chính “Tri thức địa phương (tri thức dân gian) là toàn bộ những hiểu biết của cộng đồng về tự nhiên, xã hội và bản thân con người, được tích lũy trong trường kì lịch sử qua kinh nghiệm (trải nghiệm) của bản thân cộng đồng đó Các tri thức ấy được trao truyền cho các thế hệ kế tiếp thông qua trí nhớ, truyền miệng và thực hành xã hội Nó giúp cho con người có được những ứng xử thích hợp với môi trường tự nhiên, điều hòa các quan hệ xã hội, những hiểu biết cần thiết trong sản xuất, trong dưỡng sinh và trị bệnh Tri thức địa phương (tri thức dân gian)
Trang 34của mỗi cộng đồng tương thích với môi trường tự nhiên, hoàn cảnh xã hội và trình
độ phát triển văn hóa nhất định” [52], [68]
Thông thường tri thức địa phương (tri thức dân gian) được chia thành bốn lĩnh vực chủ yếu:
Tri thức về môi trường tự nhiên; tri thức về con người; tri thức về kĩ thuật và nghệ thuật; tri thức về quản lí và ứng xử xã hội
1.3 Tri thức địa phương của cộng đồng dân tộc Tày - Nùng trong giáo dục học sinh tiểu học
1.3.1 Đặc điểm của tri thức địa phương
Đề tài luận án tiếp cận khái niệm tri thức địa phương được hiểu đồng nghĩa với khái niệm tri thức dân gian như đã phân tích ở trên Do đó tri thức địa phương tồn tại với các đặc điểm sau:
Tri thức địa phương được hình thành, phát triển qua thử thách thực tiễn trong lịch sử tộc người (hay lịch sử của cộng đồng cư dân) tại các địa phương cụ thể Sự hiểu biết về tri thức địa phương (dân gian) rất khác nhau giữa nam giới và nữ giới, giữa người nhiều tuổi và ít tuổi Do đó yếu tố tuổi và cơ cấu giới được thể hiện rất
rõ trong tri thức dân gian
Tri thức địa phương thường được phổ biến từ thế hệ này sang thế hệ khác qua trí nhớ, truyền miệng, qua phong tục tập quán, truyện kể, thơ ca dân gian, qua thực hành lao động nghề nghiệp của cư dân địa phương (cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng)
Tri thức địa phương rất đa dạng, ngay trong một vùng, một địa phương nhỏ
và có khả năng thích nghi cao với môi trường tự nhiên và xã hội của từng địa phương - nơi đã sản sinh và phát triển tri thức dân gian đó
Tri thức địa phương luôn gắn liền hoà hợp với nền văn hoá truyền thống, tập tục địa phương vì thế khả năng tiếp thu và ứng dụng nó trong cộng đồng là rất dễ dàng và có hiệu quả
Tri thức địa phương là những kinh nghiệm, tiên nghiệm và cảm nhận được rút ra từ hoạt động thực tiễn của con người nên nó có giá trị thiết thực trong xã hội hiện đại [52]
Trang 351.3.2 Các tiêu chí xác định đặc trưng văn hóa là tri thức địa phương được sử dụng trong giáo dục học sinh tiểu học
Cộng đồng người Tày và người Nùng là hai nhóm dân tộc khác nhau, tuy nhiên họ nói chung một ngôn ngữ và có cùng nguồn gốc lịch sử được phân chia từ nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, có mối quan hệ với người Choang ở Trung Quốc và người Thái ở Tây Bắc Địa bàn sinh sống của hai dân tộc này có sự đan xen vì vậy
họ có đời sống văn hóa có nhiều đặc điểm tương đồng Trong giới hạn nghiên cứu của luận án, chúng tôi không phân chia thành hai nhóm riêng biệt mà chủ yếu hướng vào khai thác các giá trị văn hóa tiêu biểu của cả hai dân tộc làm phương tiện giáo dục trẻ em của cộng đồng đó
Bản sắc dân tộc của người Tày - Nùng, đặc biệt cư là cư dân bản địa khu vực Việt Bắc rất đa dạng, phong phú Tuy nhiên, không phải tất cả các đặc trưng văn hóa đều là những tri thức có thể sử dụng trong giáo dục học sinh Việc lựa chọn được các tri thức địa phương để sử dụng trong giáo dục là công việc đòi hỏi nhà giáo dục phải dày công nghiên cứu, sưu tầm và biên soạn
Khi nghiên cứu văn hóa bản địa của người Tày - Nùng khu vực Việt Bắc để
sử dụng trong quá trình giáo dục học sinh tiểu học, luận án khái lược các tiêu chí xác định một đặc trưng văn hóa được xác định là tri thức địa phương như sau:
Tiêu chí 1: Đặc trưng văn hóa cần có độ tin cậy cao, không gây mê tín dị đoan, cuồng tín, phi khoa học
Căn cứ vào cách đánh giá dựa trên những quan điểm khoa học về các sự vật hiện tượng để đánh giá độ tin cậy của phong tục, tập quán, nghi lễ hay kinh nghiệm dân gian của cộng đồng người Tày - Nùng phục vụ cho mục đích giáo dục, kiên quyết loại trừ các biểu hiện gây mê tín dị đoan, phi khoa học trong cộng đồng Thực tiễn cho thấy, hầu hết đặc trưng văn hóa của cư dân bản địa được tích lũy, mò mẫm trong quá trình trực tiếp hoạt động để biến đổi, thích ứng với môi trường tự nhiên và
xã hội của con người, được kiểm nghiệm qua chọn lọc tự nhiên nên có độ tin cậy cao Tuy nhiên trong đó cũng tồn tại không ít những hủ tục lạc hậu, mê tín, lạc hậu cần phê phán và loại bỏ
Trang 36Tiêu chí 2: Đặc trưng văn hóa có nội dung mang tính nhân văn, có ý nghĩa giáo dục học sinh
Mục đích khai thác tri thức địa phương để sử dụng làm phương tiện chuyển tải các nội dung giáo dục do vậy các tri thức được lựa chọn cần mang ý nghĩa giáo dục và phát huy đặc trưng của tri thức địa phương là đề cao tính nhân văn sâu sắc
Tiêu chí 3: Đặc trưng văn hóa mang tính phổ thông và được phổ biến rộng rãi tại cộng đồng địa phương
Tri thức địa phương được xác định là những tri thức quen thuộc trong đời sống, sinh hoạt của đa số người dân trong cộng đồng Đó là những tri thức dễ hiểu,
dễ nhớ, phù hợp với số đông người dân, kể cả người dân có trình độ học vấn chưa cao Do đặc trưng vùng miền, có những nét văn hóa diễn ra tại địa phương này song lại không tiêu biểu ở địa phương khác, giáo viên cần căn cứ vào từng địa bàn cụ thể
để lựa chọn sử dụng tri thức địa phương với các dạng thức tồn tại khác nhau để tổ chức dạy học và giáo dục học sinh
Tiêu chí 4: Đặc trưng văn hóa được cư dân bản địa thừa nhận, tự giác thực hiện, đảm bảo tính bền lâu
Giá trị nền tảng của tri thức địa phương là sự thừa nhận trong đời sống cộng đồng với sức sống bền lâu qua nhiều thế hệ, nhiều giai đoạn Rất nhiều phong tục, tập quán tuy không mang tính cưỡng chế như pháp luật nhà nước song được người dân tự giác tuân theo Nhà giáo dục khi sử dụng các đặc trưng văn hóa của cộng đồng để giáo dục học sinh cần được sự đồng tình và thừa nhận từ cư dân bản địa mới có thể tiến hành thành công quá trình giáo dục đó
Tiêu chí 5: Tri thức phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh tiểu học người Tày - Nùng
Tri thức địa phương của cộng đồng người Tày - Nùng được sử dụng trong quá trình giáo dục quyền và bổn phận cho trẻ em do vậy cần đảm bảo sự phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh tiểu học Tày - Nùng Giáo viên cần tính đến đặc điểm tâm lý, quan niệm, thói quen của học sinh để thiết kế nội dung dạy học và tổ chức hoạt động giáo dục sử dụng tri thức địa phương phù hợp
Trang 371.4 Quá trình giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh học sinh tiểu học Tày - Nùng
1.4.1 Một vài đặc điểm cơ bản của học sinh tiểu học người Tày - Nùng
Trẻ em trong độ tuổi tiểu học là từ 6 đến 11,12 tuổi, ở giai đoạn này thể lực của các em phát triển tương đối êm ả, đồng đều, nhìn chung về chiều cao, cân nặng đều có sự phát triển
Học sinh tiểu học người dân tộc Tày - Nùng được đề cập trong đề tài là những trẻ em cư trú chủ yếu tại các tỉnh miền núi thuộc khu vực Việt Bắc, nơi đây còn nhiều địa phương gặp khó khăn trong việc phát triển kinh tế gia đình Mặt khác
do có nhiều thói quen sinh hoạt hoặc những tập tục lâu đời (ăn uống không hợp vệ sinh, ăn thực phẩm bị mốc, ôi thiu…), chưa mang tính khoa học nên nhìn chung thể trạng của trẻ em phát triển chưa đồng đều, có nhiều nơi tỉ lệ trẻ em thấp còi, trẻ em suy dinh dưỡng vẫn còn cao như Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên… Đặc điểm thể trạng trên cũng là nguyên nhân cơ bản làm cho hoạt động thần kinh của trẻ em Tày - Nùng đôi khi có biểu hiện chậm hơn so với học sinh tiểu học nhóm người Kinh tại khu vực So với chuẩn chung về mặt thể trạng, nhìn chung trẻ em người dân tộc Tày - Nùng trong độ tuổi tiểu học còn thấp hơn chuẩn [41]
Học sinh tiểu học người Tày - Nùng cũng mang những đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học nói chung như: niềm tin còn mang tính chất cảm tính, trẻ hay bắt chước, có nhu cầu nhận thức, thích khám phá sự lạ lẫm, dễ xúc cảm, xúc động, khó kìm hãm cảm xúc của bản thân Tuy nhiên các em lại có được những nét nhân cách khác biệt mang dấu ấn đặc trưng của dân tộc mình, thể hiện hơi thở của cuộc sống gắn với núi rừng, với những mối quan hệ thân thiện, gần gũi… Điều đó được xây dựng nên bởi những đặc trưng khác biệt trong cuộc sống của cộng đồng dân tộc
Người dân tộc Tày - Nùng có những nét nhân cách vô cùng tốt đẹp như: lòng yêu thương người, lòng vị tha, kính già yêu trẻ, coi trọng tình cảm, tình người, tình anh em Chính từ lối sống theo truyền thống đó học sinh tiểu học của các dân tộc này cũng có nhiều nét tính cách tốt đẹp, các em rất coi trọng tình cảm, đặc biệt là tình bạn Do đặc trưng tâm lý lứa tuổi các em rất dễ tìm bạn và kết bạn “tồng” - kết bạn thân Tuy nhiên ở mỗi em nhu cầu kết bạn và khả năng kết bạn là khác nhau
Trang 38Trong quan hệ tình cảm với bạn hay với mọi người các em rất coi trọng lời hứa, yêu ghét rõ ràng, có trách nhiệm với bạn Tính cách giản dị và khá khép mình trong mọi mối quan hệ đặc biệt là các em rất ít được tiếp xúc với những môi trường xã hội ngoài bản, làng Chính vì vậy các em gặp rất nhiều khó khăn trong những hoàn cảnh
lạ lẫm và chưa biết cách tự bảo vệ kể cả khi bị xâm phạm quyền của bản thân tại cộng đồng địa phương
Môi trường sống chủ yếu của học sinh tiểu học người Tày - Nùng từ khi sinh
ra là tại địa phương, với không gian núi rừng rộng rãi, tiếp xúc nhiều với thiên nhiên, cây cỏ muông thú nên nhận thức cảm tính của học sinh Tày - Nùng phát triển khá tốt, cảm giác, tri giác của các em có những nét độc đáo Quá trình tri giác thường gắn liền với những hành động cụ thể trực tiếp, những ấn tượng trực quan như màu sắc, cường độ, âm thanh Điều này có ảnh hưởng nhất định đến các hoạt động học tập và giáo dục của các em Đặc điểm nổi bật trong tư duy của học sinh tiểu học Tày - Nùng là thói quen lao động trí óc chưa bền, ngại suy nghĩ, động não, ngại đi sâu tìm hiểu nguyên nhân và ý nghĩa của sự vật hiện tượng Ở nhiều em tưởng tượng còn nghèo nàn, khả năng tư duy trừu tượng - lôgic còn rất hạn chế, suy nghĩ đơn giản, một chiều, thiếu sâu sắc khi nhìn nhận vấn đề Mặt khác do điều kiện kinh tế tự cung tự cấp, ít va chạm, ít tính phức tạp nên vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh tiểu học Tày - Nùng còn hạn hẹp Do vậy đối với học sinh tiểu học Tày - Nùng vốn kinh nghiệm có sẵn cùng với xúc cảm gắn liền với các ấn tượng trực quan,
“mắt thấy, tai nghe” có ảnh hưởng đến hiệu quả tư duy của các em Đây cũng là một trong những điểm lưu ý và là cơ sở để nhà giáo dục tổ chức các hoạt động giáo dục trong đó có giáo dục Q&BP trẻ em sao cho phù hợp với cách suy nghĩ rất đặc trưng của nhóm học sinh tiểu học Tày - Nùng
1.4.2 Đặc điểm của quá trình giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng
Quá trình giáo dục Q&BP trẻ em là quá trình tổ chức đa dạng các loại hình hoạt động và giao lưu cho học sinh, tạo môi trường để học sinh có cơ hội trải nghiệm thực tế thông qua đó chuyển hóa một cách tự giác yêu cầu về việc thực hiện quyền, bổn phận của trẻ em thành nhu cầu thể hiện hành vi, thói quen phù hợp với Q&BP của mình
Trang 39Quyền và bổn phận là nội dung cần giáo dục cho học sinh thông qua các hoạt động giáo dục trong nhà trường tuy nhiên phải gắn với thực tiễn cuộc sống bởi mục đích cuối cùng chính là sự thể hiện các quyền và bổn phận trong hoạt động đa dạng của môi trường sống Đối với học sinh tiểu học của cộng đồng người Tày - Nùng, việc phát huy vai trò của hệ thống tri thức địa phương sẽ thực sự đem lại hiệu quả tích cực trong giáo dục quyền và bổn phận Thực chất đó là quá trình sử dụng những giá trị văn hoá của cộng đồng mang tính gần gũi với cuộc sống để chuyển hoá những quyền và bổn phận được quy định mang tính “cứng nhắc” trong văn bản luật trở nên dễ hiểu, dễ áp dụng trong cuộc sống
Quá trình giáo dục quyền và bổn phận cho học sinh tiểu học người Tày - Nùng ngoài các đặc điểm của quá trình giáo dục học sinh tiểu học nói chung còn diễn ra với những đặc điểm đặc trưng sau:
Quá trình giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng là quá trình giáo dục đạo đức và pháp luật
Thực hiện quá trình giáo dục quyền và bổn phận cho học sinh tiểu học Tày - Nùng hướng đến mục đích trang bị cho học sinh những hiểu biết các quyền và bổn phận trẻ em được quy định trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em và Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đồng thời làm cho các em có nhu cầu thể hiện các hành
vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức được cộng đồng thừa nhận Việc tuân thủ, thực hiện các điều khoản trong công ước và trong luật được yêu cầu bằng pháp luật của Nhà nước Giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng một mặt là quá trình thực hiện chức năng giáo dục pháp luật thông qua việc nâng cao hiểu biết pháp luật và tăng cường ý thức công dân cho người học Mặt khác đây còn là quá trình hình thành ở học sinh những phẩm chất đạo đức phù hợp với truyền thống, văn hóa và chuẩn mực xã hội Đây cũng là một trong những nội dung góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh tiểu học Tày - Nùng theo tinh thần đã được ghi nhận tại Điều 30 của Công ước về việc quan tâm đến nhóm học sinh dân tộc thiểu số, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt
Trang 40Quá trình giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng hướng tới mục tiêu giáo dục cấp học
Mục đích của giáo dục ở bậc tiểu học là nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở Cụ thể hóa mục đích trên, giáo dục tiểu học xác định mục tiêu chính là giúp tất cả học sinh biết đọc, biết viết và biết tính toán với những con số ở mức độ căn bản, cũng như thiết lập những hiểu biết căn bản về khoa học, toán, địa lý, lịch sử, và các môn khoa học xã hội khác Giáo dục quyền và bổn phận cho học sinh người Tày - Nùng chính là quá trình thực hiện hướng tới mục tiêu thiết lập cho học sinh những hiểu biết căn bản về xã hội Tạo ra nền tảng cho sự hình thành phẩm chất đạo đức và kỹ năng để các em vững vàng hơn trong cuộc sống ở giai đoạn tiếp theo Những gì trẻ nhận thức được ở độ tuổi tiểu học tuy chưa bền vững song đó được coi là nền tảng quan trọng cho quá trình hình thành các phẩm chất và năng lực hoạt động của trẻ sau này
Quá trình giáo dục quyền và bổn phận trẻ em cho học sinh tiểu học Tày - Nùng chịu sự chi phối của các yếu tố văn hóa - xã hội, vùng miền
Quyền và bổn phận của trẻ em là những tri thức được ghi lại trong sách vở
để giúp học sinh hiểu, nhận biết được nó Song để kiểm chứng những tri thức đó cần gắn với cuộc sống thực tiễn, đặt trong các mối quan hệ hằng ngày của học sinh
ở gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội tại địa phương Chuẩn mực để xác định được giới hạn các quyền và bổn phận của trẻ em trong mỗi gia đình, tại những vùng miền, khu vực là khác nhau tùy thuộc vào quan niệm sống, phương thức sinh hoạt, phong tục tập quán Học sinh tiểu học người Tày - Nùng chủ yếu cư trú tại các tỉnh miền núi, đời sống tinh thần còn tồn tại rõ nét các yếu tố văn hóa đặc trưng của tộc người Yêu cầu đặt ra đối với quá trình giáo dục quyền và bổn phận cho học sinh tiểu học Tày - Nùng là cần tính đến các đặc trưng trong lối sống, sinh hoạt, quan niệm của người dân trong khu vực Đảm bảo các quyền của trẻ em và sự thể hiện các yêu cầu về bổn phận trẻ em phải đặt trong sự thống nhất với văn hóa của cộng đồng cũng như điều kiện sống của cư dân bản địa