Du lịch sinh thái không những là công cụ bảo vệ tài nguyên môi trường tốtmà còn mang lại nhiều công ăn việc làm cho nhiều người lao động trong vùng.Tuy nhiên, tài nguyên và môi trường du
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
-ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ XÂY DỰNG GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN CHO
TỔ HỢP DU LỊCH SINH THÁI Ở GIA LAI
GVHD :PGS.TS Hoàng Hưng SVTH :Nguyễn Thị Kiều Thu MSSV :103108191
TP.HỒ CHÍ MINH-08/2007
Trang 2CHƯƠNG MỞ ĐẦU GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Như chúng ta biết xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu đời sống của conngười ngày càng được nâng cao và du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếuđược trong cuộc sống của con người Hoạt động du lịch đang trở thành một ngànhkinh tế quan trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới Du lịch là lợi thế để phát triểnkinh tế của nhiều quốc gia, nhưng sự can thiệp của con người vào tài nguyên môitrường này đang làm cho sự suy thoái tài nguyên môi trường một cách trầm trọngnhư: giới hạn sinh thái bị phá vỡ, các thành phần môi trường bị suy thoái, ô nhiễmvà gây nhiều thảm họa cũng như thế mà hoạt động du lịch cũng tiềm ẩn các tácđộng tiêu cực tới sự phát triển bền vững của môi trường
Bảo vệ tài nguyên và quản lý môi trường là cơ sở để duy trì và phát triểnbền vững du lịch Từ đó, du lịch sinh thái ra đời, từng bước thay thế các loại hình
du lịch đơn thuần và đáp ứng được nhu cầu của con người hiện đại Du lịch sinhthái đưa chúng ta về lại với môi trường thiên nhiên trong lành, tìm hiểu về nhữngnét văn hoá dân tộc mà chúng ta vô tình lãng quên hay không được biết đến, đemlại nguồn lợi kinh tế quốc gia mà vẫn đóng góp cho việc bảo vệ môi trường
Du lịch sinh thái không những là công cụ bảo vệ tài nguyên môi trường tốtmà còn mang lại nhiều công ăn việc làm cho nhiều người lao động trong vùng.Tuy nhiên, tài nguyên và môi trường du lịch ở tất cả các vùng trong cả nước trongđó có Gia Lai đang bị những tác động tiêu cực của hoạt động phát triển kinh tế xãhội, có nguy cơ giảm sút và suy thoái, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của
Trang 3du lịch Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do những hiểu biếtvề tài nguyên và môi trường du lịch còn chưa được đầy đủ.
Với xu thế phát triển du lịch sinh thái và sự ổn định của môi trường sinh tháitrong giai đoạn hiện nay, thì công tác nghiên cứu hiện trạng môi trường và xâydựng các giải pháp để bảo vệ tài nguyên và quản lý môi trường du lịch của TỉnhGia Lai là một việc rất cần thiết Xuất phát từ yêu cầu này tôi tiến hành đề tài
“nghiên cứu hiện trạng và xây dựng giải pháp bảo vệ môi trường và quản lý
tài nguyên cho tổ hợp du lịch sinh thái ở Gia Lai”.
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng tiềm năng du lịch sinh thái ở Gia Lai
- Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái đến môi trường
- Xây dựng giải pháp bảo vệ tài nguyên và quản lý môi trường cho tổ hợp
du lịch sinh thái dựa trên các tiêu chí kinh tế, văn hoá, môi trường phù hợp vớiđịa hình, tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hoá dân tộc đặc trưng của tổ hợp
du lịch sinh thái ở Gia Lai nhằm hạn chế, khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm môitrường góp phần giải quyết một cách hợp lý sự mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triểnkinh tế xã hội và yêu cầu bảo vệ tài nguyên để tiến đến sự phát triển bền vững
Trang 4CHƯƠNG 1
DU LỊCH SINH THÁI VÀ Ô NHIỄM DO HOẠT ĐỘNG
DU LỊCH SINH THÁI
1.1 DU LỊCH SINH THÁI
1.1.1 Khái niệm chung
DLST là một khái niệm tương đối mới và đã nhanh chóng thu hút được sựquan tâm của nhiều người, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau Đây là mộtkhái niệm rộng, được hiểu theo những cách khác nhau từ những góc độ khácnhau Trước đây, DLST chỉ đơn giản là sự ghép nối ý nghĩa của hai khái niệm
“du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc từ lâu Tuy nhiên, đứng ở góc nhìnrộng hơn, tổng quát hơn thì quan niệm DLST là một loại hình du lịch thiên nhiên.Như vậy, mọi hoạt động của du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển,nghỉ núi…đều được hiểu là DLST
Và ở Việt Nam trong lần hội thảo về “Xây dựng chiến lược phát triển Dulịch sinh thái ở Việt Nam” từ 7/9/1999 đến 9/9/1999 đã đưa ra định nghĩa về
DLST là: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá
bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
Vậy DLST là:
Loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên phát huy giá trị tài nguyên
Loại hình du lịch hướng tới giáo dục môi trường
Du lịch trực tiếp mang lại nhiều nguồn lợi ích về kinh tế và cải thiện phúclợi cho các cộng đồng
Loại hình du lịch phải coi trọng việc bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trang 5Trong nền công nghiệp du lịch đương đại, cả bốn yếu tố trên gắn bó chặtchẽ với nhau, để khẳng định DLST là loại hình DLBV cùng với vai trò phát triểncộng đồng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
1.1.2 Đặc trưng của du lịch
Đa ngành: sự đa ngành thể hiện trong đối tượng khai thác du lịch là sự
hấp dẫn về tự nhiên, lịch sử, văn hoá, các dịch vụ phục vụ kèm theo…
Đa thành phần: biểu hiện ở tính đa dạng trong những người tham gia du
lịch, những người phục vụ du lịch, các cộng đồng nhân dân trong vùng du lịch,các tổ chức chính phủ và phi chính phủ
Đa mục tiêu: biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên,
quan cảnh lịch sử văn hoá, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách du lịch vàngười tham gia hoạt động du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hoá, kinh tế và nângcao ý thức tốt đẹp của con người
1.1.3 Các yếu tố cấu thành hệ thống du lịch sinh thái
Yếu tố tài nguyên thiên nhiên: tài nguyên du lịch sinh thái được hình
thành trên nền tản các tài nguyên trong tự nhiên mà bản thân tự nhiên thì rất đadạng và phong phú vì thế tài nguyên DLST cũng có chung đặc điểm này Nó baogồm: các khu vực tự nhiên có địa hình, địa mạo phong phú như sông suối, đồi núi,rừng, biển, đảo, cù lao… với các hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái tự nhiênđặc thù, đặc biệt là nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loại sinh vật quý
hiếm… Như vậy, tài nguyên DLST cũng có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách.
Môi trường tự nhiên còn có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển nghỉ ngơi và dulịch, các thành phần của tự nhiên có tác động mạnh đến du lịch là địa hình, khíhậu, nguồn nước và tài nguyên động thực vật
Trang 6Yếu tố kinh tế: nhu cầu nghỉ ngơi du lịch có tính chất kinh tế– xã hội, là
sản phẩm của sự phát triển xã hội Ơû các nước có nền kinh tế chậm phát triển,nhìn chung nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch còn hạn chế Ngược lại nhu cầu nghỉ ngơi
du lịch ở các nước phát triển kinh tế thì phát triển rất đa dạng Trong nền sản xuấtxã hội nói chung hoạt động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp vàcả giao thông có ý nghĩa quan trọng để phát triển du lịch có tác dụng trước hếttạo ra hoạt động du lịch rồi sau đó đẩy phát triển du lịch với tốc độ nhanh
Yếu tố cơ sở hạ tầng: cơ sở hạ tầng có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy
mạnh du lịch Cơ sở hạ tầng bao gồm các cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành dulịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế tham gia phục vụ du lịchnhư: thương nghiệp, dịch vụ, mạng lưới giao thông, thông tin liên lạc, hệ thốngcác công trình cấp điện, nước…
Yếu tố văn hội- xã hội: là các giá trị văn hoá bản địa có sự hình thành
và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái tự nhiên nhưcác phương thức canh tác, các lễ hội sinh hoạt truyền thống dân tộc DLST phảidựa vào một hệ thống các quan điểm về tính chất bền vững và sự tham gia củacác cộng đồng địa phương, của dân cư nông thôn và ở những nơi có tiềm năng lớnvề DLST DLST gắn kết giữa nhân dân địa phương với du khách để duy trì nhữngkhu hoang dã và những thế mạnh về sinh thái, văn hóa vốn có
1.1.4 Những nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái
- Sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững: bao gồm cả tài nguyênthiên nhiên, xã hội và văn hoá Việc sử dụng bền vững tài nguyên là nền tảng cơbản nhất của việc phát triển du lịch lâu dài
- Chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản lý di sản và cáctài nguyên thiên nhiên nên được thành lập Giảm tiêu thụ, giảm chất thải mộtcách triệt để nhằm nâng cao chất lượng môi trường
Trang 7- Duy trì tính đa dạng về tự nhiên, văn hoá…
- Lồng ghép các chiến lược phát triển du lịch của địa phương với quốc gia
- Phải hỗ trợ kinh tế địa phương, tránh gây thiệt hại cho hệ sinh thái ở đây
- Phải thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương Điều này không chỉđem lại lợi ích cho cộng đồng, cho môi trường sinh thái mà còn nhằm tăng cườngkhả năng đáp ứng các thị hiếu của du khách
- Phải biết tư vấn các nhóm quyền lợi và công chúng Tư vấn giữa côngnghiệp du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan nhằm đảm bảocho sự hợp tác lâu dài cũng như giải quyết các xung đột có thể nảy sinh
- Đào tạo các cán bộ, nhân viên phục vụ trong hoạt động kinh doanh du lịchnhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch
1.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.2.1 Tình hình phát triển DLST trên thế giới
Từ nửa cuối thế kỷ XIX, cùng với sự ra đời của các vườn quốc gia (VQG),
du lịch thiên nhiên đã thu hút du khách một cách đặc biệt VQG Yellowstone(Mỹ) là một VQG đầu tiên của thế giới được thành lập vào năm 1893 Ngay từkhi mới ra đời VQG này đã được coi như là một biểu tượng tuyệt đối của tínhhoang dã và hàng năm có đến 3 triệu người đến đây để chiêm ngưỡng vẻ đẹp tựnhiên Như vậy từ rất sớm, hàng thế kỷ trước những nhà du lịch sinh thái đầu tiênđã bắt đầu hình thành
Tuy nhiên thuật ngữ “Du lịch sinh thái” mới chỉ được sử dụng và đề cập
đến trong thế kỷ XX khoảng những năm đầu của thập kỷ 90 Về nguồn gốc,DLST bắt nguồn từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời Ban đầu các hìnhthức du lịch này không gắn liền với mục tiêu bảo tồn
Trang 8Cho đến thập niên 70 thì ngày càng nhiều các du khách tham quan nhậnthức được hậu quả sinh thái mà họ có thể gây ra và làm tổn thương sâu sắc đếnthiên nhiên cũng như quyền lợi lâu dài của người dân địa phương Do đó, đã hìnhthành nên các tour du lịch chuyên môn hóa mà nội dung chỉ đơn giản là ngắmchim, cưỡi lạc đà trên sa mạc, đi bộ ngoài thiên nhiên cùng với người hướng dẫnđịa phương Đến lúc này có thể nói là ngành DLST đã hình thành và phát triển
Ngay từ khi mới ra đời, DLST đã và đang làm cho cả ngành công nghiệplữ hành trở nên nhạy cảm hơn đối với môi trường Vì DLST không chỉ là mộtkhuynh hướng bao gồm những người yêu và gắn bó với thiên nhiên, mà còn làmột tổ hợp các mối quan tâm, những trăn trở về môi trường, kinh tế, và các vấnđề xã hội Nhiều hội thảo và hội nghị chuyên đề về DLST đã được tổ chức từnăm 1990 Chính phủ giờ đây rất quan tâm đến DLST Tại nhiều nơi trên thế giớicác nhà đầu tư tư nhân cũng đang chuyển mối quan tâm của mình tới lĩnh vựcnày
DLST phát triển dựa trên nền tảng của sự giàu có về các khu bảo tồn thiênnhiên Ví dụ như Kenya mỗi năm làm ra khoảng 500 triệu USD lợi nhuận du lịchtrong đó các nguồn thu trực tiếp và gián tiếp từ DLST chiếm khoảng 10% tổngthu nhập quốc gia của Kenya Còn tại Đông phi, DLST là nhân tố ảnh hưởngmạnh nhất đến phát triển kinh tế, vì nơi đây có một mạng lưới rộng lớn của cáckhu bảo tồn thiên nhiên hỗ trợ cho DLST Costa Rica trong năm 1991 đã thu được
336 triệu USD lợi nhuận từ DLST và làm tăng trưởng khoảng 25% thu nhập trongvòng 3 năm trở lại Vào năm 1993, riêng ngành DLST đã tạo công ăn việc làmcho khoảng 127 triệu người (chiếm 1/15 số người làm việc trên toàn cầu) Theodự báo thì ngành DLST sẽ có thể tăng gấp đôi vào cuối năm 2007
Ngày nay, sự hoàn thiện của phương tiện hàng không, sự bùng nổ của cácthông tin và tài liệu du lịch mô tả, quảng cáo cho những vẻ đẹp của tự nhiên,cùng với ý thức trách nhiệm trước những nguy cơ suy giảm nguồn tài nguyên
Trang 9thiên nhiên, cùng với sự quan tâm sâu sắc của cộng đồng về vấn đề bảo tồn cácloài và bảo vệ môi trường, mà DLST đã trở thành một hiện tượng thật sự có ýnghĩa ở cuối thế kỷ XX và ở cả thế kỷ XXI
Ngày 04 tháng 11 năm 2001, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 7,Brunei Darussalam, đã ký kết Hiệp định Du lịch ASEAN Việt Nam và các nướctrong khu vực đã nhận thức được tầm quan trọng chiến lược của ngành DLST đốivới tăng trưởng kinh tế bền vững của các nước thành viên ASEAN, cũng như sự
đa dạng về văn hoá, kinh tế và các lợi thế sẵn có của khu vực, có lợi cho sự pháttriển du lịch của ASEAN nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống, hòa bình và thịnhvượng của khu vực; Thủ tướng Phan Văn Khải thay mặt cho chính phủ Việt Namđã ký hiệp định này
1.2.2 Tình hình phát triển DLST trong nước
Với tiềm năng và tài nguyên du lịch lớn, đa dạng và phong phú, ngành Dulịch Việt Nam đã có những bước đi tương đối vững chắc, tạo ra bước phát triểnmới Từ một ngành kinh tế tổng hợp, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế -xã hội, đến nay DLST đã được xác định là một trong những ngành kinh tế mũinhọn trong thời kỳ CNH- HĐH đất nước Những thành quả trong ngành Du lịchViệt Nam đạt được những năm qua do nhiều nguyên nhân mang lại, nhưng trongđó nguyên nhân có ý nghĩa quan trọng, không thể không nói đến: đó là sự ổnđịnh về chính trị của đất nước, sự nghiệp quốc phòng - an ninh được giữ vững.Chính điều đó đã tạo ra một điểm đến an toàn, thân thiện, thu hút du khách đếnvới Việt nam Đồng thời, khẳng định trên thực tế giữa quốc phòng - an ninh và dulịch đã từng bước có sự gắn bó cần thiết
Trong quá trình triển khai, thực hiện các kế hoạch về phát triển du lịch,Việt Nam đã khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường sinh tháimột cách có hiệu quả Việt Nam đặc biệt chú trọng đến việc phát triển các loại
Trang 10hình DLST ở các khu vực trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùngkháng chiến cũ hoặc một số hải đảo xa bờ… nhằm đem lại lợi ích cho nhân dân,tăng thu nhập cho xã hội, tạo công ăn việc làm, nâng cao ý thức bảo vệ, gìn giữvà khai thác hợp lý tài nguyên du lịch của đất nước Với những nỗ lực bảo vệ môitrường và gìn giữ giá trị của nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, Việt Nam đãhình thành mạng lưới các chương trình DLST trong tất cả các VQG, khu dự trữsinh quyển và các khu vực bảo tồn thiên nhiên(BTTN).
Trong những năm qua, hoạt động Du lịch Việt Nam đã có nhiều khởi sắcvà đạt được những tiến bộ vững chắc: từ năm 1991 đến 2001, lượng khách du lịchquốc tế tăng từ 300 ngàn lượt người lên 2,33 triệu lượt người, tăng 7,8 lần Khách
du lịch nội địa tăng từ hơn 1,5 triệu lên 11,7 triệu lượt người, tăng gần 8 lần Thunhập xã hội từ du lịch tăng nhanh, năm 2001 đạt 20.500 tỷ đồng, so với năm
1991, gấp gần 9,4 lần Hoạt động du lịch đã tạo việc làm cho khoảng 22 vạn laođộng trực tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp Trong 8 tháng đầu năm 2003, ViệtNam đón hơn 1,42 triệu khách du lịch quốc tế, và hơn 9 triệu khách du lịch nộiđịa Lượng khách du lịch quốc tế đang tăng lên, riêng trong tháng 8/2003 đã có193.390 khách quốc tế, tăng 26% so với tháng 7 là 26%, chủ yếu đến từ TrungQuốc, Đài Loan, Hàn Quốc và Mỹ Công suất sử dụng phòng tại các khách sạnlớn tăng đáng kể, đạt mức trên 80% Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Namtrong 4 tháng cuối năm 2003 đạt khoảng 800.000 người Và cuối năm 2005 lượng
du khách đạt được 3 triệu lượt khách, trong đó tỷ lệ khách đến Việt Nam lần đầutiên là 65,3%, 20,9% khách đến lần thứ hai, 13,8% khách đến lần thứ ba Riêngtrong tháng 01/2006 có 350.000 khách quốc tế tăng 15,9% so với cùng kỳ nămtrước Theo dự kiến năm 2006 ngành du lịch phấn đấu đón 3,6 - 3,8 triệu lượtkhách quốc tế, tăng 10,5 - 11,0% so với 2005
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn có những khó khăn và thách thức Tìnhhình chính trị thế giới trở nên phức tạp sau vụ khủng bố tại Mỹ ngày 11/9/2001
Trang 11đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động du lịch trên thế giới Cạnh tranh về dulịch giữa các nước trong khu vực ngày càng trở nên gay gắt Du lịch Việt Namcòn chưa có những sản phẩm du lịch chất lượng cao, hấp dẫn, chất lượng dịch vụchưa cao Hệ thống quản lý Nhà nước về Du lịch chưa tương xứng với nhiệm vụđặt ra cho Ngành Trước bối cảnh đó và trước nhu cầu phát triển nhanh trở thànhmột ngành kinh tế mũi nhọn, Du lịch Việt Nam phải có một chiến lược phát triểnphù hợp, đặc biệt phải đánh giá và khai thác tiềm năng DLST một cách đúng đắnvà toàn diện.
DLST với hơn 100 khu DLST đã được phê duyệt theo hệ thống của cácVườn quốc gia và Khu bảo tồn loài và sinh cảnh có thể phân thành những loạihình du lịch ở Việt Nam như : Du lịch biển (Vịnh Hạ Long, Ven biển Khánh HòaNha Trang, Biển Phan Rang, Ninh Thuận); Du lịch đảo với gần 3000 hòn Đảo(Đảo Cát Bà, Đảo Phú Quốc, Cù Lao Chàm); Du lịch dài ngày trên sông (Đồngbằng Sông Cửu Long); Du lịch hồ nước nội địa (Hồ Ba Bể, Hồ Núi Cốc ); Du lịchnúi đá vôi và hang động (Chùa Hương, Chùa Thầy, Phong Nha); Du lịch theotuyến đường bộ (Đường mòn Hồ Chí Minh); Du lịch núi (Sa Pa Bạch Mã, Ba Vì);
Du lịch văn hóa lịch sử của 40.000 di tích lịch sử (Cố Đô Huế, Phố cổ Hội An,Thánh địa Mỹ Sơn); Du lịch giải trí tiêu khiển trong các trung tâm của thành phố(vườn thú Tp HCM, vùng bưởi Biên hòa,) và Du lịch thể thao (lướt ván thuyềntrên biển Mũi Né Phan Thiết, Nha Trang )
1.3 LỢI ÍCH TỪ DU LỊCH SINH THÁI
Du lịch có 4 chức năng chính là: xã hội, kinh tế, sinh thái và chính trị Từ 4chức năng này ta có thể phân tích ra các lợi ích do các hoạt động du lịch mang lạinhư sau:
Trang 121.3.1 Lợi ích về mặt xã hội:
Du lịch thể hiện vai trò của nó trong việc gìn giữ, hồi phục sức khỏe, tăngcường sức sống cho người dân Du lịch có tác dụng hạn chế các bệnh tật, kéo dàituổi thọ và khả năng lao động của con người Theo các công trình nghiên cứu sinhhọc của Cricosep, Dorin, 1981, nhờ có chế độ nghỉ ngơi và du lịch tối ưu, bệnh tậtcủa dân cư trung bình giảm 30%, bệnh đường hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinhgiảm 30%, bệnh đường tiêu hóa giảm 20%
Thông qua du lịch mà du khách có điều kiện tiếp xúc với những thành tựuvăn hóa phong phú và lâu dài của các dân tộc, từ đó tăng thêm lòng yêu nước,tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, hình thành những phẩm chất đạođức tốt đẹp như lòng yêu lao động, tình bạn, Điều đó quyết định sự phát triểncân đối về nhân cách của mỗi cá nhân trong toàn xã hội
1.3.2 Lợi ích về mặt kinh tế
Thông qua các hoạt động du lịch được tổ chức hợp lý và tích cực nhữngngười trong độ tuổi lao động nhanh chóng phục hồi sức khỏe cũng như khả nănglao động để từ đó có thể nâng cao sản xuất, đảm bảo tái sản xuất, mở rộng lựclượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt Thông qua các hoạt động nghỉ ngơi, dulịch tỉ lệ ốm đau trong khi làm việc giảm đi, giảm số lần khám bệnh tại các bệnhviện
Do du lịch là một ngành kinh tế độc đáo ảnh hưởng đến cơ cấu ngành và
cơ cấu lao động của nhiều ngành kinh tế Trong đó nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của
du khách được thỏa mãn thông qua thị trường hàng hóa và du lịch trong đó ưu thếlà dịch vụ giao thông và ăn ở Từ đó dẫn đến kích thích sự phát triển kinh tế lànguồn thu nhập ngoại tệ lớn Ngoài ra, người dân trong khu vực có các hoạt động
Trang 13du lịch còn được hưởng các lợi ích như: mức thu nhập tăng, lãi do giá trị đất đaităng,
1.3.3 Lợi ích về mặt sinh thái
Tạo được môi trường sống ổn định về mặt sinh thái Nghỉ ngơi du lịch lànhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục và tối ưu hoá môi trườngthiên nhiên bao quanh Do nhu cầu du lịch nên khu du lịch cần có riêng nhữnglãnh thổ nhất định có môi trường tự nhiên ít thay đổi, xây dựng các công viên,rừng quanh thành phố, thi hành các biện pháp bảo vệ nguồn nước và bầu khíquyển nhằm tạo nên môi trường sống thích hợp
Việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độ tập trung du khách vàonhững vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình sử dụng tự nhiên với mụcđích du lịch Từ đó kích thích việc tìm kiếm các hình thức bảo vệ tự nhiên, đảmbảo việc sử dụng tự nhiên một cách hợp lý
Phát triển được các hoạt động thiết lập và phát triển các khu bảo tồn, vườnquốc gia, khu dự trữ sinh quyển,
Qua việc tiếp cận với thiên nhiên, du khách có điều kiện hiểu biết mộtcách sâu sắc về tri thức về tự nhiên từ đó hình thành quan niệm và thói quen bảovệ tự nhiên góp phần giáo dục khách du lịch về mặt sinh thái học
1.3.4 Lợi ích về mặt chính trị
Góp phần như nhân tố củng cố hoà bình, đẩy mạnh mối giao lưu quốc tế,mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người sống ởcác khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau Du lịch với nhiều chủ đềnhư: “Du lịch là giấy thông hành của hoà bình” (1967); “Du lịch không chỉ làquyền lợi, mà còn là trách nhiệm của mỗi người” (1983), kêu gọi hàng triệungười quý trọng lịch sử, văn hoá truyền thống của các quốc gia, giáo dục lòng
Trang 14mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sự hiểubiết và tình hữu nghị giữa các dân tộc.
1.4 TÁC ĐỘNG CỦA DLST LÊN MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI
DLST phát triển mạnh mẽ đã đem lại lợi ích kinh tế rất nhiều nhưnng nếukhông được quản lý chặt chẽ và tổ chức tốt thì sẽ có tác động không tốt đến tàinguyên thiên nhiên, môi trường và văn hoá xã hội
Nguồn tài nguyên- môi trường
Phát triển DLST và các hoạt động có liên quan đã góp phần không nhỏlàm cho tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị xuống cấp trầm trọng Đó chínhlà hậu quả của việc sử dụng đất đai, xây dựng các cơ sở du lịch không đúng nơihoặc không đảm bảo chất lượng làm ảnh hưởng đến tài nguyên nước, tài nguyênkhông khí, tài nguyên đất, tài nguyên sinh học và đa dạng sinh vật
+ Rác thải của những du khách sau một đợt nghỉ chân sẽ làm ô nhiễm chokhu vực đó vì thường rác thải của họ để lại là những túi nilong, những hộp thiếc…các loại rác thải này rất khó phân huỷ
+ Một hành động thái quá của du khách như chặt cây, bẻ cành, săn bắt tự
do các loài thú làm giảm sút số lượng và chất lượng của sinh vật trong phạm viKDL
+ Các yếu tố ô nhiễm như rác và nước thải không được xử lý đúng mứcquy định sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái dưới nước, việc tăng độ phúdưỡng ở các hồ chứa nước đã tạo điều kiện tích tụ nhiều bùn lầy, làm suy thoáichất lượng nước và ảnh hưởng đến động vật hoang dã
+ Ô nhiễm không khí do vận chuyển khách du lịch sẽ tác động đến sự tăngtrưởng của nhiều loại sinh vật thậm chí còn là nguyên nhân di chuyển nơi cư trúcủa nhiều loại động vật nhạy cảm với môi trường không khí
Trang 15+ Việc phát triển thiếu quy hoạch các khu vực thuộc phạm vi các khu bảotồn thiên nhiên hoặc vùng đệm có thể phá huỷ môi trường cư trú, gây ô nhiễm vàồn ào ảnh hưởng đến các loài sinh vật.
+ Ô nhiễm môi trường sống làm mất đi cảnh quan tự nhiên, làm cho một sốloài động vật và thực vật dần dần mất đi nơi cư trú
+ Các hoạt động thể thao, cắm trại của du khách cũng có một phần tácđộng xấu đến việc bảo tồn và phát triển các loài sinh vật
Phát triển kinh tế
Hoạt động kinh tế có ba tác động quan trọng đến kinh tế
+ Tăng nguồn thu ngoại tệ mạnh, tỉ lệ thuận với việc tăng hoặc giảm lượng
du khách
+ Tạo ra nhiều việc làm để vận hành bảo dưỡng các KDL như đội ngũhướng dẫn viên du lịch, những người làm công tác phục vụ du lịch
+ Phát triển khu vực thông qua việc khai thác các khu riêng biệt
Tuy nhiên bên cạnh những mặt lợi thì du lịch cũng mang lại những mặt tiêu cựccho nền kinh tế:
+ Lượng ngoại tệ nhập vào không được tính cụ thể bởi bản thân ngành dulịch cũng cần có những khoảng chi thu ngoại tệ
+ Sự phát triển của một số hoạt động kinh tế phụ thuộc vào ngành du lịchkhông ổn định
Văn hoá đời sống
Hoạt động du lịch còn tác động không lành mạnh đến cả môi trường đốivới các di sản văn hoá phi vật thể như các lễ hội bị xâm phạm bởi tệ nạn mê tính
dị đoan, ảnh hưởng trật tự an toàn xã hội, sự phân hoá xã hội…
+ DLST tạo ra lượng khách trong và ngoài nước ngày càng đông gồmnhiều thành phần, nhiều giai cấp và thường rất khác với nếp sống, lối suy nghĩcủa dân địa phương Hoạt động du lịch phát triển, người dân địa phương quan hệ
Trang 16nhiều với du khách lâu ngày sẽ làm thay đổi các hệ thống giá trị, tư tưởng cánhân, quan hệ gia đình, lối sống tập thể, những lễ nghi truyền thống và tổ chứccộng đồng.
+ Sự phát triển DLST đem lại công ăn việc làm, tăng thu nhập cho ngườidân nhưng cũng có tác động đến việc di cư một lực lượng lao động Nhập laođộng là một hiện tượng khá phổ biến ở các KDL Lực lượng này nếu không quảnlý tốt sẽ là mầm móng của tệ nạn và ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội
+ Việc phát triển DLST còn nhằm giới thiệu với khách nước ngoài về vănhoá lịch sử dân tộc và sự giàu đẹp, đa dạng phong phú của rừng vàng biển bạcmà ai trong chúng ta cũng không khỏi tự hào
Như vậy du lịch là một ngành kinh tế có nhiều tác động đến môi trường hơn bấtcứ một ngành kinh tế nào khác, bởi vì tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho du lịchchủ yếu được khai thác từ môi trường nên hậu quả của nó (suy thoái và ô nhiễmmôi trường đất, nước, không khí…) không thể lường hết được Vấn đề đặt ra chocác nhà quản lý và kinh doanh du lịch là làm thế nào để khai thác tốt các hoạtđộng du lịch mà vẫn không quên chức năng bảo tồn được các tài nguyên thiênnhiên nhằm mục đích phát triển du lịch bền vững
Trang 17CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên –kinh tế –xã hội tại khu vực nghiên cứunhư: khí hậu, thủy văn, dân số, cơ cấu các ngành kinh tế, cơ sở hạ tầng…
- Đánh giá hiện trạng du lịch của Tỉnh: khách du lịch, doanh thu, sảnphẩm du lịch, lao động trong ngành, những thuận lợi và khó khăn, tiềm năng vàđịnh hướng phát triển ngành du lịch trong tương lai
- Xây dựng tổ hợp du lịch sinh thái ở Gia Lai: thành phần tổ hợp, cácđiểm và tuyến du lịch
- Đề xuất một số giải pháp thích hợp để bảo vệ tài nguyên và quản lý môitrường nhằm hạn chế ô nhiễm, bảo vệ tài nguyên cho mục tiêu phát triển bềnvững du lịch sinh thái ở Gia Lai
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thu thập tổng hợp tài liệu: thông tin được lấy ở nhiềunguồn khác nhau trong nhiều lĩnh vực để có một khối lượng đầy đủ và hợp lý.Tổng hợp tư liệu có liên quan đến đề tài để vận dụng vào từng trường hợp cụ thểtrong đề tài
- Phương pháp khảo sát thực địa: đi thực tế tại các điểm du lịch để khảosát từng thành phần môi trường và những vấn đề liên quan đến hoạt đông du lịchđể trực tiếp thấy hiện trạng môi trường Xây dựng bản đồ và chụp hình minh họa
Trang 18- Phương pháp đánh giá: dựa trên kết quả quá trình khảo sát thực tế đểđưa ra cách đánh giá gần đúng về khả năng và mức độ gây ô nhiễm môi trường.
- Phương pháp tham khảo ý kiến của chuyên gia: tham khảo ý kiến củacác chuyên gia về lĩnh vực du lịch và môi trường làm cơ sở cho những lý luận củađề tài
Trang 19CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 TỔNG QUAN VỀ GIA LAI
3.1.1 Các đặc điểm tự nhiên tỉnh Gia Lai
3.1.1.1 Vị trí địa lí
Với diện tích 15.494,9 km², tỉnh Gia Lai trải dài từ 15°58'20" đến14°36'36" vĩ Bắc, từ 107°27'23" đến 108°94'40" kinh Đông Phía Bắc giáp tỉnhKon Tum, phía Nam giáp tỉnh Đắk Lắk, phía Tây giáp Campuchia với 90 kmđường biên giới quốc gia, phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và PhúYên
Trang 20Hình1: bản đồ hành chính tỉnh Gia Lai 3.1.1.2 Địa hình
Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng từ Đông sang Tây, chiathành 3 dạng chính:
+ Địa hình đồi núi, chiếm 2/5 diện tích tự nhiên toàn Tỉnh, đặc biệt là dãynúi Mang Yang kéo dài từ đỉnh KonKơkinh đến huyện Kông Pa, chia thành 2vùng khí hậu rõ rệt là Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn
+ Địa hình cao nguyên là cao nguyên đất đỏ bazan – Pleiku và caonguyên Kon Hà Nùng, chiếm 1/3 diện tích tự nhiên
+ Địa hình thung lũng, được phân bố dọc theo các sông, suối, khá bằngphẳng, ít bị chia cắt
3.1.1.3 Khí hậu và môi trường không khí
Trang 21Gia Lai thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, dồi dào về độẩm, có lượng mưa lớn, không có bão và sương muối.
Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúcvào tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Vùng Tây Trường Sơncó lượng mưa trung bình năm từ 2.200 – 2.500 mm, vùng Đông Trường Sơn từ1.200 – 1.750 mm Nhiệt độ trung bình năm là 22 – 250C Khí hậu và thổ nhưỡngGia Lai rất thích hợp cho việc phát triển nhiều loại cây công nghiệp ngắn và dàingày, chăn nuôi và kinh doanh tổng hợp nông lâm nghiệp đem lại hiệu quả kinhtế cao
3.1.1.4 Thuỷ văn và tài nguyên nước mặt
Gia Lai là nơi đầu nguồn của nhiều con sông đổ về vùng duyên hải miềnTrung Việt Nam và về phía Campuchia như sông Ba, sông Sê San và nhiều consuối lớn nhỏ
Sông Ba còn gọi là sông Đà Rằng, theo tiếng Chăm cổ có nghĩa là consông lau sậy Sông bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Linh, Tây Bắc tỉnh Kon Tum, từ độcao 2.000 m, chảy qua Gia Lai và Phú Yên rồi đổ ra biển Đông ở cửa biển ĐàDiễn, tổng chiều dài 300 km Sông Ba nằm ở ranh giới giữa hai cao nguyên làcao nguyên Pleiku và cao nguyên Đắk Lắc, có lưu vực rộng 13.000 km² và là mộttrong hai sông lớn nhất Tây Nguyên Sông Ba cung cấp nước quanh năm chođồng bằng Tuy Hòa, với diện tích hơn 20.000 ha, vựa lúa lớn nhất miền TrungViệt Nam
3.1.1.5 Tài nguyên môi trường nước dưới đất
Chất lượng nước ngầm
Qua kết quan trắc môi trường 4/2005 và phân tích một số chỉ tiêu của nướcngầm, đối chiếu với TCVN 5945-1995 thì nhìn chung các chỉ tiêu về lý hoá đều
Trang 22nằm trong tiêu chuẩn cho phép Đối với vùng đá vôi Chư Sê và trầm tích juravùng Chuprong, nước dưới đất có độ cứng cao, trước khi sử dụng cho ăn uốngphải được xử lý giảm độ cứng Riêng đối với một số huyện Krongpa, Kongchro,nước tại các giếng khoan tầng nông và giếng đào thường có hàm lượng Ca2+,
Mg2+ cao hơn tiêu chuẩn cho phép
Trữ lượng
Trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Gia Lai là6.209.192 m3 theo các lưu vực sông:
- Lưu vực sông Sê San : 687.621 m3 / ngày
- Lưu vực sông ĐăkBla :989.206 m3 / ngày
- Lưu vực sông Ba : 3.218.142 m3 / ngày
- Lưu vực sông Ia mơ –Ia Lốp : 1.314.023 m3 / ngày
Trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Gia Lai tính theocác vùng cân bằng, quy hoạch khai thác tài nguyên nước như sau:
- Vùng Nam Bắc An Khê: 1.451.506 m3 / ngày
-Vùng thượng Ayun: 1.012.424 m3/ ngày
-Vùng Ayunpa: 528.633 m3 / ngày
-Vùng thượng Ayun: 1.012.424 m3/ ngày
-Vùng Krongpa: 532.348 m3 / ngày
-Vùng Ia mơ –Ia lốp: 1.191.675 m3 / ngày
(Nguồn số liệu: Liên đoàn ĐCTV -ĐCCT-2003 )
Tình hình khai thác sử dụng nước ngầm
Do công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất và ý thức chấp hành củacộng đồng, việc khai thác sử dụng nước dưới đất ở tỉnh Gia Lai chưa nhiều so vớitrữ lượng tự nhiên có được trong vùng thì mức độ nước khai thác, sử dụng nướcdưới đất phục vụ cho mọi mục đích chỉ mới chiếm khoảng 1/10 Hiện tại việckhai thác sử dụng nước dưới đất xảy ra hầu hêùt tại những vùng kinh tế trọng
Trang 23điểm, nơi có điều kiện kinh tế xã hội tương đối phát triển Mà chủ yếu là trênthành tạo Bazan, nơi có trữ lượng nước dưới đất nhiều nhất, chất lượng đất tốtnhất.
3.1.1.6 Tài nguyên đất
Toàn tỉnh có 27 loại đất, được hình thành trên nhiều loại đá mẹ thuộc 7nhóm chính: đất feralit (đất đỏ vàng) chiếm 53% diện tích đất tự nhiên của tỉnh;đất đỏ vàng trên đá granit và riolit phân bố tập trung ở gần rìa của khối đất đỏbazan; đất xám trên đá granit và phù sa cổ chiếm 25,2%, phân bố tập trung theo 2hệ thống sông lớn, còn lại các nhóm khác phân bố rải rác ở nhiều nơi
Thực chất, tài nguyên đất ở Gia Lai đã được khai thác và sử dụng từ lâu, trước kialà khai thác tự nhiên phục vụ cho nhu cầu sinh sống của đồng bào dân tộc, ngàynay nguồn tài nguyên này đặc biệt được chú trọng khai thác và đưa vào sản xuấtnông – lâm nghiệp với quy mô lớn, hình thành những vùng chuyên canh
Trên cơ sở các điều kiện sinh thái tự nhiên của tỉnh, có thể chia thành 3vùng: đất đỏ bazan cao nguyên Pleiku, diện tích tập trung lớn, địa hình bằngphẳng, giao thông thuận lợi; dân cư và cơ sở hạ tầng tập trung; vùng thung lũngsông suối ở phía Nam, Đông, Đông Nam và Tây Nam là vùng đất phù sa, đấtxám Các vùng đồi núi phía Bắc, Đông và Đông Nam có địa hình chia cắt
Đất đai phù hợp với sản xuất nông nghiệp ở Gia Lai có gần 500.000 hatrong đó có hơn 291.000 ha đất cho trồng cây hàng năm và hơn 208.000 ha câylâu năm Nhưng hiện nay mới sử dụng 390.000 ha, trong đó cây hàng năm197.000 ha và cây lâu năm 162.000 ha, do đó tiềm năng phát triển sản xuất nông
nghiệp còn rất lớn
3.1.1.7 Tài nguyên rừng, hiện trạng lớp phủ thực vật và tài nguyên sinh vật
Trang 24Rừng ở Gia Lai rất phong phú về các loài, kiểu, dạng khác nhau về tínhchất, hình thái và ý nghĩa kinh tế Gia Lai có gần 1 triệu ha đất lâm nghiệp, diệntích có rừng là 749.769 ha, trữ lượng gỗ 75,6 triệu m3 So với cả vùng TâyNguyên, Gia Lai chiếm 28% diện tích lâm nghiệp, 30% diện tích có rừng và 38%trữ lượng gỗ Ngoài ra, rừng Gia Lai còn có khoảng gần 100 triệu cây tre nứa vàcác loại lâm sản có giá trị khác như song mây, bời lời, sa nhân…và các loại chimthú quý hiếm Sản lượng gỗ khai thác hàng năm từ 65.000 – 85.000 m3 sẽ đápứng nhu cầu về nguyên liệu cho chế biến gỗ, bột giấy với quy mô lớn và chấtlượng cao
Trong gần 25.000 ha rừng trồng có hơn 5.000 ha bạch đàn đã đến chu kỳkhai thác, đồng thời đã quy hoạch trên 20.000 ha đất dùng để trồng nguyên liệugiấy phục vụ cho sản xuất giấy và bột giấy Ngoài ra, tỉnh còn có hơn 280.000 hađất trống, đồi núi trọc có khả năng trồng rừng lấy gỗ, rừng phòng hộ bảo vệ môitrường, tôn tạo cảnh quan du lịch, trồng các loại cây công nghiệp dài và ngắnngày với quy mô lớn
Trong địa bàn tỉnh Gia Lai có một số loài thú sinh sống như voi, nai, bò,hoẵng, thỏ rừng, lợn rừng, trăn, rắn, cọp, các loài chim như gà rừng, chim cu đất,gà gô, khướu, công, trĩ sao, gà lôi hồng tía, gà lôi vằn, các loài cá như lúi, phá,sóc, trạch, lăng, chép Các loại gia cầm, gia súc như trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngựa,thỏ v.v
3.1.1.8 Tài nguyên khoáng sản
Các loại khoáng sản có trên địa bàn tỉnh này là crom, niken, coban, thiếc,asen, boxit-laterit, vàng, vonframit, molipdenit, caxiterrit v.v
Tài nguyên khoáng sản là một tiềm năng kinh tế quan trọng của tỉnh GiaLai Theo điều tra của Liên đoàn địa chất 6, tỉnh Gia Lai có nhiều khoáng sản,nổi bật nhất là vàng, nguồn vật liệu xây dựng, bôxit và đá quý
Trang 25Bôxít đã phát hiện được một mỏ và 4 điểm nằm ở vùng Kon Hà Nùng, cácmỏ này đều nằm trong vỏ phong hoá bazan, trữ lượng bôxit trên địa bàn rất lớn,khoảng 650 triệu tấn Ngoài ra, còn có sắt, thiếc, chì…nhưng quy mô nhỏ Trênđịa bàn tỉnh đã phát hiện 73 điểm có vàng, trong đó có 66 điểm quặng hóa gốc và
6 điểm sa khoáng, các vùng có triển vọng là Kông Chro, Kbang, Ayun Pa, Krông
Pa La, La Grai Hàm lượng vàng trung bình 18,11 gam/tấn đá, ngoài ra còn cóhàm lượng bạc trung bình khoảng 10,67 gam/tấn (theo tài liệu sơ bộ của tỉnh là1,25 gam/m2)
Bên cạnh đó, tỉnh còn có khoáng sản phục vụ công nghiệp sản xuất vậtliệu xây dựng như đá vôi (đã phát hiện được 6 điểm nhưng có triển vọng nhất làmỏ đá vôi Chư Sê) Khoáng sản làm vật liệu xây dựng khác như đá bazan xâydựng ở đèo Chư Sê, Pleiku, Chư Păh Đá granit có trữ lượng 90,1 triệu m3, chủyếu ở Chư Sê (53,4 triệu m3 ở bắc Biển Hồ, An Khê, La Khươi, ) Sét gạch ngóiphân bố rộng khắp toàn tỉnh nhưng tập trung lớn ở Ayun Pa, An Khê…Cát xâydựng phân bố dọc sông suối, đặc biệt dọc sông Ba và có 40 loại nhỏ, chất lượngkhá, đáp ứng nhu cầu xây dựng Ngoài ra còn có các mỏ than bùn ở Biển Hồ, ChưPăh đủ đáp ứng yêu cầu sản xuất phân vi sinh
3.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội
3.1.2.1 Đặc điểm kinh tế
Công nghiệp
Ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản: với thế mạnh về cây công
nghiệp, hiện nay trên địa bàn có 8 nhà máy chế biến mủ cao su crếp, công suất50.000 tấn; trên 60 cơ sở chế biến cà phê; 2 nhà máy chế biến hạt điều xuất khẩu,công suất 2.500 tấn/năm; 3 nhà máy chế biến chè, công suất 80 tấn/năm; 1 nhà máychế biến gỗ MDF công suất 54.000m3/năm; hàng chục nhà máy chế biến gỗ tinh chếxuất khẩu, công suất hơn 25.000 m3/năm; 2 nhà máy chế biến đường, công suất
Trang 264.000 tấn mía cây/ngày; 4 máy chế biến tinh bột sắn, công suất 70.000tấn/năm, 01nhà máy chế biến tiêu sạch 5.000tấn/năm, 1 nhà máy cán bông, công suất 15.000tấn/năm
Ngành công nghiệp điện năng: Trên địa bàn tỉnh có các nhà máy thủy
điện lớn Trung ương đầu tư như: thuỷ điện Ia Ly công suất 720 MW, đã phát điệnnăm 2002 và đang xây dựng 3 công trình Sê San 3, Sê San 3A, Sê San 4, trong đótổ máy số 1 của Nhà máy thủy điện Sê San 3 đã phát điện trong tháng 4/2006.Ngoài ra, còn có 85 công trình thuỷ điện nhỏ với tổng công suất lắp máy gần200MW đang triển khai xây dựng; trong đó có 17 nhà máy thủy điện đã đưa vàohoạt động; nhà máy thủy điện Ia Grai 3, H'Chan đang trong giai đoạn hoàn thiện đểđưa vào phát điện năm 2006; trên 10 công trình thuỷ điện khác đang hoàn thiện thủtục để khởi công
Ngành công nghiệp sản xuất VLXD: Hiện có 2 nhà máy xi măng với công
suất 14,2 vạn tấn/năm đến nay đã phát huy vượt công suất; 5 nhà máy đá granitđã đưa vào hoạt động với tổng công suất khoảng 450.000 m2/năm; Các doanhnghiệp khai thác đá xây dựng đủ sản lượng để cung cấp cho nhu cầu xây dựngcác công trình trong tỉnh
Khu công nghiệp Trà Đa với diện tích 124,5 ha, có 24 doanh nghiệp đã đivào hoạt động, lấp đầy trên 80% diện tích; tỉnh đang quy hoạch khu công nghiệpTây Pleiku với diện tích 600 ha Ngoài ra tỉnh Gia Lai còn có các cụm côngnghiệp ở các địa bàn Thị xã An Khê, huyện Chư Sê, huyện Ayun Pa là nhữngđịa điểm thuận lợi nhiều mặt cho các nhà đầu tư triển khai thực hiện các dự ánđầu tư
Trang 27Khu kinh tế cửa khẩu 19 với diện tích 110 ha, đã đầu tư 28 tỷ đồng để pháttriển cơ sở hạ tầng, kế hoạch năm 2007 sẽ tiếp tục đầu tư 17 tỷ đồng để hoànthiện các hạng mục thiết yếu
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ năm 2005 gấp 2,2 lần so với năm
2000, tăng bình quân 17,3%/năm; năm 2006 đạt 4.488 tỷ đồng Các hoạt độngdịch vụ: tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông, giao thông đường bộ, đườngkhông thuận lợi, đủ điều kiện hoạt động trong cơ chế hội nhập kinh tế quốc tế Tổng vốn đầu tư phát triển 5 năm 2001-2005 là 13.265 tỷ đồng, năm 2006đạt 4.600 tỷ đồng Nguồn vốn đầu tư ngày càng đa dạng, trong đó nguồn vốn củakhu vực kinh tế tư nhân ngày càng tăng
Nông-lâm nghiệp
Do đặc trưng là đất đỏ bazal (vì Biển Hồ là miệng của một núi lửa tạmngừng hoạt động), ở thành phố Pleiku và các huyện vùng cao của Gia Lai có thểcanh tác các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê, điều Riêng huyện Đăk Pơvà thị xã An Khê thì thích hợp cho việc trồng cây ngắn ngày, do chịu ảnh hưởngkhí hậu của vùng giáp ranh (Bình Định) Huyện Đăk Pơ là vựa rau của cả vùngTây Nguyên, hàng ngày cung cấp trên 100 tấn rau cho các khu vực ở miền Trungvà Tây Nguyên
Đất đai phù hợp với sản xuất nông nghiệp ở Gia Lai có gần 500.000 hatrong đó có hơn 291.000 ha đất cho trồng cây hàng năm và hơn 208.000 ha câylâu năm Nhưng hiện nay mới sử dụng 390.000 ha, trong đó cây hàng năm197.000 ha và cây lâu năm 162.000 ha, do đó tiềm năng phát triển sản xuất nôngnghiệp còn rất lớn
Trang 28Trong 7 khung nhóm đất chính của tỉnh, nhóm đất Bazan có 386.000ha, tậptrung chủ yếu vùng tây Trường Sơn, rất thích hợp với các cây công nghiệp dàingày
Thêm vào đó, do tính chất đặc biệt của khí hậu cho phép bố trí một tậpđoàn cây trồng, vật nuôi phong phú, đa dạng, có giá trị kinh tế cao; xây dựng cácvùng sản xuất nông nghiệp tập trung có quy mô lớn với những sản phẩm hànghóa có lợi thế cạnh tranh như cà phê, cao su, hạt điều, mía đường, bông, thuốc lá,chăn nuôi bò
Đến nay, toàn tỉnh đã có 75.900 ha cà phê, 58.300 ha cao su, 19.700 hađiều, 3.575 ha tiêu, gần 14.000 ha mía, 5.670 ha bông, hơn 56.000 ha ngô, 31.730
ha sắn, 2.500 ha thuốc lá quỹ đất thích hợp để phát triển các loại cây côngnghiệp, cây ăn quả còn khá lớn
Gia Lai có gần 800.000 ha đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng sản xuất537.064 ha, đất rừng phòng hộ 206.622 ha, đất rừng đặc dụng 56.106 ha So vớivùng Tây Nguyên, Gia Lai chiếm 28% diện tích lâm nghiệp, 30% diện tích đất córừng và 38% trữ lượng gỗ Sản lượng gỗ khai thác hàng năm cả rừng tự nhiên vàrừng trồng từ 65.000 - 85.000 m3 sẽ đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu cho chế biếngỗ, bột giấy với quy mô lớn và chất lượng cao Gia Lai còn có quỹ đất lớn đểphục vụ trồng rừng, trồng cây nguyên liệu giấy
3.1.2.2 Đặc điểm văn hoá- xã hội
Dân số- dân tộc
Gia Lai hiện có 1.146.970 người (2005) gồm 34 dân tộc, trong đó dân tộckinh chiếm 55%, dân tộc thiểu số chủ yếu là dân tộc Jơrai và Bahnar chiếm 43%,còn lại các dân tộc khác
Trang 29Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm nhanh, đến năm 2004 đạt 1,14% Kết quảtrên đã góp phần tích cực cho công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm,nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân.
Lịch sử văn hoá
Nằm trên địa bàn chiến lược ở khu vực Bắc Tây nguyên, Gia Lai là vùngđất có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, đa dạng về thành phần cư dân vànền văn hoá cổ xưa mang bản sắc dân tộc độc đáo của đồng bào các dân tộcthiểu số Dù trải qua biết bao nhiêu biến đổi lịch sử, trên mảnh đất Gia Lai vẫnduy trì được một nền văn hoá đa dạng mang đậm bản sắc văn hoá Tây Nguyênbản địa
Chiếm đại đa số dân cư lâu đời ở Gia lai phải kể đến hai dân tộc Jrai vàBahnar Theo tài liệu dân tộc và khảo cổ thì có thể giả định địa bàn cư trú gốccủa người Jrai là cao nguyên Pleiku và lưu vực hai con sông Ayun và sông Ba.Còn người Jrai và Bahnar không chỉ là hai dân tộc đông nhất, có ý thức rõ về địavực cư trú mà còn có những tác động nhất định đối vơi đới sống văn hoá của cácdân tộc khác trong khu vực
Nhắc đến Gia Lai là nhắc đến văn hoá cồng chiêng, đến nghệ thuật vănhoá nhà rông, đến điêu khắc tượng gỗ, đến nhà mồ và các lễ hội đâm trâu, lễ hộibỏ mã và các điệu múa xoang của người Jrai, Banar trong tiếng nhạc cồng chiêngtrầm hùng, sôi động
Về giáo dục đào tạo
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 70% trẻ em trong độ tuổi được hưởngchương trình giáo dục mầm non; hoàn thành chương trình phổ cập trung học cơsở; coi trọng chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục chuyên sâu ở cả vùng thuậnlợi và vùng khó khăn Tiếp tục thực hiện xã hội hóa giáo dục; mở rộng quy mô
Trang 30các trường nội trú và trường bán trú Phát triển Phân hiệu đại học Nông - Lâmthành phố Hồ Chí Minh tại Gia Lai, tiến tới thành lập Trường đại học Gia Lai.
Về văn hóa thông tin, thể dục thể thao
Hiện nay đã phủ sóng phát thanh truyền hình đạt 100%; Tất cả các huyện,thị xã đều có trung tâm văn hóa - thể thao; Đầu tư thỏa đáng cho các hoạt độngduy trì, bảo tồn, phát huy truyền thống văn hoá của các dân tộc Xây dựng môitrường văn hóa lành mạnh trong nhân dân
Về y tế
Thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, đảm bảo trên 95% trẻ emđược tiêm chủng mở rộng; giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng xuống dưới 25%, giảmtỷ lệ mắc bệnh và chết do các bệnh sốt rét, lao, viêm phối, viêm não, sốt xuấthuyết, thương hàn…; loại trừ uốn ván trẻ sơ sinh, khống chế bệnh sởi, giảm tỷ lệlưu hành bệnh phong xuống dưới 0,2/10.000 dân vào năm 2010 Thực hiện tốtchính sách bảo hiểm y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, đối tượngchính sách, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2010
3.1.2.3 Cơ cấu hạ tầng
Quốc lộ 14 nối Gia Lai với Kon Tum, Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng vềphía Bắc và Đắk Lắk, Đắk Nông, các tỉnh vùng Đông Nam Bộ về phía Nam.Quốc lộ 19 nối với cảng Quy Nhơn, Bình Định dài 180Km về phía Đông và cáctỉnh Đông Bắc Campuchia về hướng Tây Quốc lộ 25 nối với Phú Yên Ngoài ra,đường Hồ Chí Minh cũng đi qua địa bàn tỉnh Gia Lai Các quốc lộ 14, 25 nối GiaLai với các tỉnh Tây Nguyên và duyên hải miền Trung rất thuận tiện cho vậnchuyển hàng hóa đến cảng để xuất khẩu và các trung tâm kinh tế lớn của cảnước
Trang 31Hiện nay, tất cả các tuyến đường xuống các trung tâm huyện đã được trảinhựa hầu hết các trung tâm xã đã có đường ôtô đến.
Sân bay Pleiku (còn gọi là sân bay Cù Hanh) là một sân bay tương đối nhỏ,có từ thời Pháp Sân bay Pleiku đang hoạt động, mỗi tuần có 6 chuyến từ thànhphố Hồ Chí Minh đi Pleiku - Đà Nẵng - Hà Nội và ngược lại
Toàn bộ hệ thống điện thoại trên địa bàn đã được số hóa và hòa mạngquốc gia với tổng dung lượng trên 109.700 số (thuê bao cố định và di động trảsau), hầu hết các xã, phường, thị trấn đều có số điện thoại
Nhà hàng khách sạn
Có 1 khách sạn 4 sao, 3 khách sạn 2 sao, 2 khách sạn 1 sao và hàng loạtnhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ khác cơ bản đáp ứng được nhu cầu ăn uống, nghỉngơi, đi lại của du khách
3.2 Hiện trạng du lịch sinh thái ở Gia Lai
3.2.1 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái
Xuất phát từ điều kiện địa lý, là vùng núi cao có nhiều cảnh quan tự nhiêncũng như nhân tạo, Gia Lai có tiềm năng du lịch rất phong phú Gia Lai có nguồntài nguyên thiên nhiên khá phong phú và hấp dẫn Với địa hình thác ghềnh đã tạonên những thắng cảnh thiên nhiên hùng vĩ như: thác Phú Cường, thác Yama-Yang Rung, thác Ia Nhí, thác Lệ Kim, thác Lồ Ô, thác Bảy Tầng… Và phongcảnh lãng mạng với sông nước bao la như Biển Hồ, hồ Ayun Hạ, hồ Ia Ly lànhững điểm dã ngoại lý tưởng đối với du khách Đặc biệt với công trình thuỷ điện
Ia Ly tầm cỡ quốc gia đứng thứ hai sau thủy điện Hoà Bình đã thu hút không ít
du khách đến tham quan Thiên nhiên còn ban tặng cho Gia Lai rừng nguyênsinh: Kon Ka Kinh và Kon Ja Răng nơi có hệ sinh thái động thực vật đa dạng quý
Trang 32hiếm là một địa điểm bổ ít cho những ai muốn tìm hiểu và nghiên cứu về thế giớitự nhiên của miền nhiệt đới.
Nhiều núi đồi như Cổng Trời MangYang, đỉnh Hàm Rồng Cảnh quangnhân tạo có các rừng cao su, đồi chè, cà phê bạt ngàn Kết hợp với các tuyếnđường rừng, có các tuyến dã ngoại bằng thuyền trên sông, cưỡi voi xuyên rừng,trekking
Bên cạnh sự hấp dẫn của thiên nhiên hùng vĩ, ở Gia Lai còn có nền vănhóa lâu đời đậm đà bản sắc núi rừng của đồng bào các dân tộc, chủ yếu là Jrai vàBanah thể hiện qua kiến trúc nhà Rông, nhà sàn, nhà mồ, qua lễ hội truyềnthống, qua y phục và nhạc cụ
Khi đến với Gia Lai, cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ sẽ thôi thúc bạn vớinhững dòng thác đổ ầm ầm như thác Phú Cường, Chín Tầng, Ia Nhí… đâu đó lại làtiếng róc rách từ khe suối hoà lẫn tiếng đàn Tơ’ Nưng thánh thót ngân lên giữarừng núi Cao Nguyên hay sự kỳ vĩ và đa dạng của vườn Quốc gia Kon Ka Kinh,khu bảo tồn thiên nhiên Kon Cha Răng…và bạn sẽ bị cuốn hút hơn khi tham giavào những đêm hội cồng chiêng của buôn làng, tại đây bạn mới thật sự bị chinhphục bởi không gian lễ hội với tiếng nhạc chiêng lúc trầm hùng, lúc nhẹ nhàng,lúc như ai oán… mà UNESCO đã công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại
Thêm vào đó, Gia Lai có bề dày lịch sử và truyền thống cách mạng hàohùng được thể hiện đậm nét qua các di tích lịch sử văn hóa như khu Tây Sơnthượng đạo, di tích căn cứ địa của anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ; Đó làquê hương của anh hùng Núp, các địa danh Pleime, Che reo, Là răng đã đi vàolịch sử Sau một cuộc hành trình sẽ không quên được hương vị của cơm lam, rượucần, vị ngọt của mật ong hay vị đắng của ly caphê Cao Nguyên
Trang 333.2.2 Thực trạng phát triển du lịch ở Gia Lai
Giai đoạn 2001-2006 hoạt động du lịch Gia Lai gặp nhiều khó khăn tháchthức nhưng hoạt động du lịch đã có nhiều chuyển biến tiến bộ UBND Tỉnh đãphê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch giai đoạn 1998-2010 và chínhsách khuyến khích hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch, tổ chức hội thảo kêu gọi hợptác đầu tư tại Hà Nội- TP HCM, hơp tác liên kết phát triển du lịch với các tỉnhmiền trung, Tây Nguyên, đây là những yếu tố quang trọng để thu hút các thànhphần kinh tế trong và ngoài tỉnh tham gia đầu tư phát triển du lịch Cơ sở vật chấtkỹ thuật phục vụ du lịch được đầu tư nâng cấp, xây mới Mạng lưới kinh doanh dulịch được mở rộng, cơ sở lưu trú tăng cao, gấp 2 lần so với giai đoạn 1991-2000.Năm 2001 toàn tỉnh có 14 khách sạn với tổng số phòng là 409 thì đến 31/12/2006số khách sạn, nhà hàng toàn tỉnh là 33 với tổng số phòng là 923 phòng/1696giường, trong đó cóù 7 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1-4 sao và 26 khách sạn, nhànghỉ đạt tiêu chuẩn kinh doanh khách sạn Một số khách sạn chất lượng cao như:Khách sạn Hoàng Anh Gia Lai, khách sạn Tre Xanh, khách sạn Đức Long, Làng
du lịch Diên Hồng… đầu tư mới, mở rộng các điểm vui chơi giải trí: khu du lịchĐồng Xanh, Khu du lịch sinh thái Đại Vinh gia trang, khu du lịch sinh thái VềNguồn… đa dạng các sản phẩm, loại hình kinh doanh du lịch, xây dựng các tourtham quan du lịch trong tỉnh, cả nước Chất lượng phục vụ ngày càng được nângcao, công tác quản lý, quảng bá xúc tiến du lịch được củng cố và tăng cường, quađó đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách du lịch
Trong năm 2006 du lịch đã đón 101.794 lượt khách, tăng 70.5% so với năm
2001, tốc độ tăng trưởng bình quân trong 6 năm:12% trong đó khách du lịch quốctế năm 2007 đạt 4.346 lượt tăng bình quân trong 6 năm là 9%/năm Doanh thu đạt59.17 tỷ đồng tăng 140 % so với năm 2001, tốc độ tăng trưởng bình quân trong 6năm là 18% Nộp ngân sách nhà nước năm 2006 là 4.1 tỷ đồng, tăng 156% so vớinăm 2001, tốc độ tăng bình quân trong 6 năm là 19% Tỷ trọng thu nhập từ du
Trang 34lịch so với tổng thu nhập địa phương là 0.8% góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinhtế, giải quyết việc làm cho 656 lao động và có thu nhập ổn định.
Bảng 1 – Bảng doanh thu và lượt khách
ST
T CHỈ TIÊU ĐƠN VỊTÍNH NĂM2001 NĂM2005 NĂM2006 NĂM2007
-Khách nội địa 50.131 93.407 97.200 114.000
chơi giải trí
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được còn những hạn chế, yếu kémnhư: du lịch phát triển chậm, chưa phát huy và khai thác hết các lợi thế và tiềmnăng của điều kiện tự nhiên, văn hoá của tỉnh Thể hiện lượng khách đến Gia Laitrong năm qua còn thấp so với các địa phương khác Doanh thu từ hoạt động dulịch so với một số lĩnh vực, ngành khách không đáng kể, tỷ lệ đóng góp ngân
Trang 35sách nhà nước hàng năm không nhiều Sản phẩm du lịch đơn điệu, nghèo nàn,trùng lặp, chủ yếu khai thác sản phẩm du lịch tự nhiên; chưa đầu tư mở rộng cácdịch vụ trong các điểm du lịch chất lượng, các dịch vụ còn thiếu, yếu; chưa tạo rasản phẩm du lịch đặc trưng, quy mô các loại hình du lịch chưa tương xứng vớitiềm năng lợi thế đặc thù của tỉnh; chưa gắn du lịch với phát triển bản sắc vănhoá dân gian và lễ hội truyền thống của địa phương; hoạt động quảng bá, xúctiến kêu gọi vốn đầu tư du lịch còn hạn chế; công tác hợp tác liên kết mở rộng thịtrường khai thác các nguồn khách trong nước, quốc tế thiếu chủ động, chất lượnglao động, đào tạo nguồn nhân lực còn yếu.
Những hạn chế yếu kém trên tuy có các nguyên nhân khách quan: cuộckhủng hoảng tài chính trong khu vực, chiến tranh giữa các nước, dịch bệnh, tìnhhình an ninh trong tỉnh còn tiểm ẩn phức tạp, các danh lam thắng cảnh để pháttriển du lịch nằm xa trung tâm các thành phố và các khu dân cư, giao thông cáchtrở; Gia Lai có vị trí địa lý nằm cách xa trung tâm các thành phố lớn, thị trườngcòn hạn hẹp, tiềm lực, thực lực của các doanh nghiệp hoạt động du lịch còn yếu.Song cần phải thấy nguyên nhân chủ quan chính là:
- Nhận thức về vai trò, vị trí chức năng của du lịch gắn với phát triển kinhtế- xã hội của tỉnh còn hạn chế, chưa có kế hoạch giải pháp đồng bộ và có hiệuquả thiết thực cho từng thời gian để tiến hành triển khai thực hiện qui hoạch tổngthể phát triển du lịch giai đoạn 1998-2010
- Chưa tập trung nghiên cứu phát triển và áp dụng các sản phẩm du lịchđặc trưng, mang tính cạnh tranh cao, các doanh nghiệp chưa có chiến lược pháttriển kinh doanh lâu dài, bộ máy và cán bộ làm công tác du lịch còn thiếu, yếu,chậm đổi mới
- Công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành thiếu đồng bộ
Trang 36Những nguyên nhân yếu kém trên đã làm cho hoạt động du lịch Gia Lai chậm đổimới, phát triển và tụt hậu so với các ngành kinh tế khác và ngay cả trong lĩnh vực
du lịch chung của khu vực và cả nước
3.2.3 Mục tiêu phát triển du lịch
3.2.3.1 Mục tiêu phát triển du lịch giai đoạn 2007-2020
Xây dựng và phát triển du lịch đến năm 2015 trở thành một ngành kinh tếquan trọng, trên cơ sở khai thác có hiệu quả các lợi thế và điều kiện tự nhiên,môi trường sinh thái, văn hoá- truyền thống lịch sử; huy động và sử dụng có hiệuquả nguồn vốn nhà nước, các thành phần kinh tế, nhân dân tham gia đầu tư pháttriển du lịch; mở rộng hợp tác liên kết giữa du lịch Gia Lai với hệ thống du lịchkhu vực, vùng, cả nước và quốc tế Phấn đấu đến năm 2020 du lịch Gia Lai trởthành một ngành kinh tế động lực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phù hợp với tiếntrình hội nhập kinh tế quốc tế, giải quyết việc làm cho người lao động, giữ vững
an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội
Nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch, tích cực đóng góp vào sự tăng trưởngGDP của tỉnh, phấn đấu đến năm 2020 mức đóng góp vào GDP của ngành du lịchtăng gấp 4 lần so với 2006
Phấn đấu đến năm 2007-2020 doanh thu du lịch đạt tốc độ tăng trưởng 20%/năm và lượt khách từ 16-18%/năm, đến năm 2020 đạt:
18- Tổng lượt khách đạt 900.000 lượt, trong đó khách quốc tế đạt 90.000lượt
Doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 700 tỷ đồng
Nộp ngân sách từ 65 tỷ đồng
Giải quyết việc làm cho 2000 người lao động
Trang 37Phấn đấu đến 2020 hoàn thành các quy hoạch chi tiết, quy hoạch đầu tưcác dự án trọng điểm của tỉnh, xây dựng và đưa vào hoạt động từ 5-7 dự án KDLcó quy mô cấp tỉnh, cấp quốc gia
3.2.3.2 Mục tiêu thời kỳ 2007-2015.
Năm 2007
Doanh thu dịch vụ du lịch đạt 73.5 tỷ đồng
Lượt khách đạt 120.000 lượt, trong đó khách quốc tế đạt 6.000 lượt
Nộp ngân sách 5.8 tỷ đồng
Giải quyết việc làm cho khoảng 730 lao động
Năm 2010
Doanh thu dịch vụ du lịch đạt 120 tỷ đồng
Lượt khách đạt 190.000 lượt, trong đó khách quốc tế đạt 10.000 lượt
Nộp ngân sách 10 tỷ đồng
Giải quyết việc làm cho khoảng 1.000 lao động
Năm 2015
Doanh thu dịch vụ du lịch đạt 300 tỷ đồng
Lượt khách đạt 400.000 lượt, trong đó khách quốc tế đạt 40.000 lượt
Nộp ngân sách 25 tỷ đồng
Giải quyết việc làm cho khoảng1.500 lao động
Trang 383.2.4 Các loại hình du lịch chính
Tham quan, nghiên cứu rừng và các hệ sinh thái đặc thù
Là loại hình chủ yếu đang được khai thác hiện nay Du khách được hướngdẫn tham quan các khu rừng đặc dụng ở Gia Lai, đáng kể nhất là khu rừng nhiệtđới ẩm thường xanh Kon Hà Nừng bao gồm Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh, khuBTTN Kon Cha Rang và khu rừng văn hóa lịch sử tập trung ở Đông Trường Sơn.Rừng ở đây nhiều tầng, thảm thực vật xanh tốt quanh năm, có nhiều di tích thuộcquần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo được Bộ VH-TT cấp bằng di tích Ngoài rathì hệ sinh thái rừng khộp cũng là một nơi đáng để tham quan nghiên cứu Đây làhệ sinh thái rừng khô hạn, là loại hình đặc trưng ở Đông Nam Á, riêng ở Khu vựcGia Lai, rừng khộp tập trung nhiều ở các vùng phía Tây Trường Sơn Các hệ sinhthái trong rừng được hình thành trong điều kiện mùa mưa tập trung và mùa khôkéo dài đến 6-7 tháng Vì vậy, vào mùa mưa các hệ sinh thái mày đôi khi bị ngậpnước ở các vùng trũng, mùa khô đất nứt nẻ do thiếu nước Thực vật đặc trưng làcác cây họ dầu có nhiều dầu nhựa cùng với các loại gỗ quý khác, hệ động vậtkhá phong phú và đặc sắc với các loài nhiệt đới khô đặc trưng như: Voi, Tê Giác,Bò Rừng… Du khách sẽ được tham quan vẻ đẹp của rừng nguyên sinh và đâycũng là nơi thích hợp để các nhà nghiên cứu khoa học, sinh viên, học sinh đếntham quan nghiên cứu sưu tầm bảo vệ đa dạng của thực động vật
Đi vào trung tâm thành phố và các vùng phụ cận hơn thì du khách sẽ đượcthấy các hệ sinh thái đặc thù ở Gia Lai, tiêu biểu là Hồ TơNuêng được xem là
“đôi mắt pleiku” với những chuyến du thuyền len lỏi qua những buôn làng xinhxắn và những vách núi chơi vơi quí khách không khỏi ngạc nhiên trước sự duyêndáng và huyền bí của cảnh quan nơi đây Cùng với việc đi tham quan một số thácđẹp và nổi tiếng ở xung quanh, ắt hẳn du khách sẽ ngạc nhiên hơn và không khỏitrầm trồ bởi những thác nước hùng vĩ khi thì êm dịu của thác công Chúa, thácYama- Yang Yung, thác Lệ Kim….và khi thì đỗ xuống như xối xả tạo nên những
Trang 39âm thanh vang dội như muốn cuốn trôi tất cả của thác Phú Cường, thác QueenThoa.
Du lịch sinh thái nhân văn
Nói đến Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng, có thể nói đến hệthống nhà Rông, Nhà mồ, các lễ hội truyền thống như: lễ bỏ mả, lễ hội đâmtrâu… các nét văn hoá đặc sắc như: cồng, chiêng, múa xoang, kẻ Khan… các làngnghề truyền thống như: đan lát, đục đẻo tượng, dệt thổ cẩm… tham quan tìm hiểuvăn hoá, lối sống của các dân tộc bản địa, thưởng thức không gian văn hoá cồngchiêng, cùng hòa chung vào các điệu múa “xoang”, hoặc thưởng thức món ăntruyền thống dân dã… cũng là điểm nổi bậc để thu hút khách du lịch
Dân bản địa ở Gia Lai chủ yếu là người Bahnar và người Jarai, họ chủ yếusống bằng nghề nông, săn bắt và hái lượm cho nên gười Bahnar và Jarai “phongthần” cho các hiện tượng tự nhiên, mỗi khi cần phối hợp với các hiện tượng tựnhiên để làm việc gì đó, người làm lễ tế thần bày tỏ ý nguyện của mình để cácthần linh hỗ trợ Không chỉ các lực lượng tự nhiên mà ngay cả linh hồn của nhữngngười chết cũng được người Tây Nguyên coi là Thần- Thần Ma (Yang atau), vìthế họ cương quyết trả cho người chết trở về với núi rừng, với thế giới bên kia….Thế nhưng, những người thân không muốn cắt đứt ngay với người chết họ cố giữlại với mình, dù trong thời gian ngắn, khi đã cảm thấy đủ thương mến rồi và phảigiải phóng cho nhau, cộng đồng làm lễ Bỏ Mã
Một điều đặc biệt ở tất cả mọi lễ thức lớn nhỏ, mọi sinh hoạt cộng đồngTây Nguyên là bao giờ cũng có tiếng cồng chiêng Tiếng cồng chiêng là âmthanh, là tiếng nhạc nền theo người Tây Nguyên trong suốt cả cuộc đời Chính vìvậy mà cồng chiêng đối với người Tây Nguyên không chỉ là âm nhạc mà trởthành văn hoá- văn hoá cồng chiêng Nếu có cơ hội tham gia vào một lễ hội thìchắc chắn du khách sẽ được tham gia cùng nhảy cùng múa với các anh em dântộc trong những vòng “xoang” tuyệt vời với tiếng cồng chiêng lúc sôi động lúc
Trang 40trầm hùng Khi đã mệt thì du khách có thể ngồi nghỉ bên các Già làng sẽ đượcnghe họ kể về những trường ca mà nhân vật chính là những thanh niên trai trángdũng mãnh đứng lên chống lại cái xấu cái ác để bảo vệ dân làng và sẽ đượcthưởng thức vị nồng của rượu cần Tây Nguyên bên những bếp lửa bập bùng cùngvới những món ăn dân dã của người Tây Nguyên ắt hẳn du khách sẽ có một bữatối không bao giờ quên.
Đến làng nghề thổ cẩm, đan lát du khách có thể tìm hiểu về kỷ thuật dệtthổ, đan lát truyền thống hoặc tìm hiều về những loại nhạc cụ được làng bằngnhiều loại vật liệu khác nhau như lá cây, tre, núa, song, mây, đồng sắt… đơn giảnnhư vậy mà lại tạo nên những âm thanh réo rắc, trong trẻo hoặc âm vang, hàohùng Đây là một nét hấp dẫn độc đáo gây sự khâm phục và trầm trồ của dukhách
Tất cả đã tạo nên những ưu thế và thuận lợi cho hoạt động du lịch, thu hútsự hấp dẫn theo hướng du lịch sinh thái và văn hoá- dân gian
Gia Lai có hai hệ thống sông chính: hệ thống sông Ba và hệ thống sông SêSan và Sêrepok Do địa hình cao nguyên Pleiku có dạng vòm nên sông suối códạng tia tỏa về hai phía: phía Đông đổ vào sông Ayun và sông Ba, phía Tây đổvào sông Sêrepok và Sêsan Do địa hình uốn khúc, nên các sông trên địa bànthường ngắn và dốc, tạo thành nhiều ghềnh thác như thác Phú Cường, thác LệKim, thác Ia Nhí, Thác Bầu Cạn, Thác Queen Thoa, thác Công Chúa, thác Yama-yangyung… hoặc biển Hồ với những vách núi chơi vơi rất thích hợp với những dukhách nào thích tham quan, mạo hiểm vượt thác, leo núi, lướt ván, môtô nước,nhảy dù, lặn… đặc biệt du khách có thể xuôi sông Ba bằng thuyền độc mộc