1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp

118 433 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp
Tác giả Vũ Lê Kiểm Tú
Người hướng dẫn Th.S. Thái Vũ Bình
Trường học Trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Môi Trường
Thể loại Đồ án tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINHKHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC  ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CÁC KHÍA CẠNH KINH TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC MÔ HÌNH SẢN XUẤT TRONG ĐÊ BAO HUYỆN HỒNG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC



ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CÁC KHÍA CẠNH KINH TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC MÔ HÌNH SẢN XUẤT TRONG ĐÊ BAO HUYỆN

HỒNG NGỰ – TỈNH ĐỒNG THÁP

NGÀNH HỌC : MÔI TRƯỜNG MÃ NGÀNH : 108

GVHD : TH.S THÁI VŨ BÌNH SVTH : VŨ LÊ KIỂM TÚ

Trang 2

TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2007

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hồng Ngự là một huyện thuộc tỉnh Đồng Tháp Cuộc sống ở nơi đây làvùng sâu, vùng xa nên vẫn còn rất nhiều khó khăn Hồng Ngự, ngày nay đangcố gắng hòa nhập vào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước đểthực hiện công cuộc đổi mới của đất nước nhằm nâng cao cuộc sống của chínhnhững người dân nơi đây

Nằm bên bờ sông Tiền Giang nên nền kinh tế nông nghiệp cũng là mộtnét đặc trưng của Hồng Ngự, tàu bè qua lại ngày đêm và tấp nập cặp bến vớihàng hóa đặc biệt là nông sản đến từ các làng bên kia bờ, và tôm cá từ nguồnsông, cũng như nguồn nuôi thật đa dạng

Cùng với tốc độ phát triển kinh tế thì môi trường của Hồng Ngự ngày naycũng đang biến đổi bởi những tác động vào tự nhiên do con người gây ra Hoạtđộng xây đắp đê chính là một trong những hoạt động làm thay đổi môi trườngcủa con người nơi đây Bên cạnh các mặt tích cực mà đê bao mang lại thì hệthống này cũng dẫn đến hàng loạt tác động tiêu cực như làm ảnh hưởng đến hệsinh thái đất làm đất bị bạc màu, ô nhiễm nguồn nước, cạn kiệt nguồn cá tựnhiên, tác động đến độ phì của đất, làm đất bị sút giảm và mất hẳn lượng phù

sa Đó là nguyên nhân chính dẫn đến đất trong các vùng bao đê ngày càng bịbạc màu, mất độ phì nhiêu làm cho sản lượng lúa thu hoạch ngày càng sụtgiảm

Trang 3

Từ đó nhiều hộ chuyển từ canh tác lúa sang trồng hoa màu, cây ăn trái, sựchuyển đổi tự phát này làm cho cánh đồng nhiều loại cây, thời vụ lẫn lộn, tạođiều kiện cho sâu bọ có kí chủ để phát triển tràn lan, dịch bệnh hoành hành.Ngoài ra, nguồn nước còn bị hiện tượng phú dưỡng, bùng nổ sự phát triển củatảo, làm nước bị thối, giảm chất lượng nước sinh hoạt và tác động tiêu cực đếnđời sống thủy sinh

Với tiêu chí nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường củacác mô hình sản xuất trong đê bao huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp Trên cơsở đó để đề ra những giải pháp xây dựng các mô hình sản xuất trong đê baonhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ môi trường và tài nguyên, phục vụphát triển bền vững các vùng trong đê bao Em mong rằng đề tài này sẽ đượcquý thầy cô xem xét, bạn đọc quan tâm với mục đích góp phần phục vụ sảnxuất nhưng vẫn bảo vệ môi trường theo hướng bền vững

Ngày 9/2/1996 thủ tướng chính phủ ban hành quyết định 99/Ttg và kếhoạch năm năm 1996-2000 về phát triển thủy lợi, giao thông và xây dựng nôngthôn vùng đồng bằng Sông Cửu Long Quán triệt chỉ đạo của đảng, chính phủ,và các ban nghành tiến hành xây dựng hệ thống đê bao rộng khắp Trongnhững năm qua, số lượng đê bao, bờ bao tăng lên nhanh chóng và việc sảnxuất trong đê bao ngày càng được quan tâm để góp phần phát triển kinh tếnhưng bảo vệ môi trường phát triển bền vững

Vấn đề sản xuất đi đôi với môi trường hết sức quan trọng đối với huyệnHồng Ngự và tìm ra giải pháp hợp lý cho các mô hình sản xuất trong đê baocho người nông dân, giảm chi phí sản xuất nhưng môi trường vẫn đảm bảo

Ngày nay, môi trường đang là vấn đề mang tính toàn cầu, vì con ngườikhai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bất hợp lý và không có khoa học

Trang 4

Nhưng chúng ta không chỉ nói bằng miệng mà phải có những công trình nghiêncứu cụ thể Để bảo vệ và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên.Hệ thống đê bao ngăn lũ phát triển một cách nhanh mạnh và phát huy tốtchức năng giúp cho người dân ổn định cuộc sống và duy trì tốt sản xuất, tuynhiên sự phát triến nhanh chóng và ồ ạt của đê bao ngăn lũ như hiện nay thìhậu quả sẽ như thế nào có ảnh hưởng gì trong hiện tại và tương lai hay không?

Vì bất cứ sự tác động của con người vào thiên nhiên và làm thay đổi những quyluật của thiên nhiên thì điều đó sẽ cho chúng ta những lợi ích trước và hậu quảlâu dài Chúng ta phải nghiên cứu làm sao để cho lợi ích là nhiều nhất và hậuquả là ít nhất

Với mục tiêu trên đưa đến vấn đềâ khảo sát đánh giá thực trạng đê bao củahuyện Hồng ngự tỉnh Đồng Tháp và các mô hình sản xuất trong đê bao này Đểxem xét các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình trong đê bao đềxuất các giải pháp xây dựng các mô hình sản xuất trong đê bao phục vụ pháttriển bền vững

1.4.1 Phương pháp luận

Do nhu cầu của con người ngày càng tăng, để đáp ứng được nhu cầu đócon người đang ra sức tác động vào tài nguyên thiên nhiên

Do mối quan hệ mật thiết giữa các thành phần trong tự nhiên, hệ sinh tháimôi trường trong đó con người đóng vai trò làm chủ đạo, sự tồn tại và phát triểncủa con người đều ảnh hưởng đến tự nhiên như đất, nước, không khí…Chúng taphải nghiên cứu đánh giá mức độ tác động của con người vào tự nhiên, cónhững giải pháp cụ thể thiết thực để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Đó chính làbảo vệ chính mình

Lựa chọn huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp nghiên cứu vì:

Trang 5

Đây là huyện biên giới, vùng sâu có nền kinh tế còn thấp so với mặt bằngchung của tỉnh vì vậy cần phải có sự nghiên cứu đầu tư để phát triển, đảm bảoổn định đời sống nhân dân

Lựa chọn mô hình sản xuất trong đê bao để nghiên cứu đánh giá các tácđộng khía cạnh kinh tế, môi trường vì:

- Hệ thống đê bao đóng vai trò quan trọng trong sản xuất

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng, để đáp ứngđược yêu cầu đó, các hộ nông dân cần tìm ra một mô hình sản xuấtthích hợp cho mình

Trong điều kiện hiện nay, có rất nhiều mô hình sản xuất trong đê bao vàchúng chiếm vai trò quyết định việc phát triển kinh tế nhưng phải đi đôi vớibảo vệ môi trường Từ đó tìm ra mô hình sản xuất tối ưu, có thể áp dụng trongthực tế

1.4.2 Phương pháp biên hội và tổng hợp tài liệu

Thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội – môitrường, tài nguyên, đa dạng sinh học, các dạng địa hình, thủy văn, tính chất vàdiễn biến lũ tại khu vực nghiên cứu huyện Hồng Ngự trong hiện tại và trướcđây, sàng lọc những thông tin thiết thực phục vụ cho quá trình nghiên cứu viếtluận văn

Khảo sát thực địa, xem xét tình hình đê bao và sản xuất trong vùng đê

bao của huyện

1.4.3 Phương pháp đánh giá các khía cạnh Kinh Tế -Sinh Thái

• Hệ thống đánh giá thông qua 02 nhóm tiêu chí:

 Tiêu chí về kinh tế (gồm 04 chỉ tiêu)

• Chỉ tiêu 1: Năng suất tính bằng gía trị sản phẩm thu được trên đơn vịdiện tích

• Chỉ tiêu 2: Hiệu quả tính bằng thu nhập trên đơn vị ngày công

Trang 6

• Chỉ tiêu 3: Yêu cầu kỹ thuật và vốn đầu tư

• Chỉ tiêu 4: Tính khả thi

 Tiêu chí về sinh thái (gồm 04 chỉ tiêu)

Chỉ tiêu 1: Khả năng cải tạo đất

Chỉ tiêu 2: Tác dụng giữa đất và nước

Chỉ tiêu 3: Tính chống chịu, thể hiện sự phù hợp và cho năng suất cao Chỉ tiêu 4: Tính ổn định (bền vững) thể hiện khả năng lợi dụng lâu dài,

liên tục và cân bằng sinh thái

• Sử dụng phương pháp đánh giá bằng ma trận điểm Mỗi chỉ tiêu đượcđánh giá thành 03 cấp: thấp, trung bình, cao (ứng với điểm 1, 2 và 3)

• Mô hình có tổng điểm đánh giá cao nhất sẽ ưu tiên lựa chọn, mô hìnhsản xuất có điểm đánh giá thấp sẽ đề xuất giải pháp cải tiến

1.5 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1.5.1 Vùng nghiên cứu: Vùng nằm trong đê bao thuộc Huyện Hồng Ngự,

tỉnh Đồng Tháp

1.5.2 Đối tượng nghiên cứu

 Môi trường (tập trung môi trường nước) tại các khu vực nằm trong đêbao

 Các dạng đê bao đang được xây dựng tại Hồng Ngự : đê bao lửng, đêbao triệt để

 Các dạng canh tác, sử dụng đất (hiện trạng, cách thức, hiệu quả,….)của các khu vực trong đê bao, năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi

 Mô hình hệ kinh tế - sinh thái cho vùng trong đê bao

1.6 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

1.6.1 Giới hạn khách quan

Do nhiều yếu tố khách quan về thời gian mà nội dung của đề tài chỉ nghiêncứu đánh giá môi trường nước và các khía cạnh kinh tế của các mô hình sản

Trang 7

xuất trong đê bao huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

Do việc nghiên cứu về đê bao còn đang rất mới mẻ và gây tranh cãi giữa nhiềunhà khoa học hiện nay nên việc nghiên cứu và đánh giá vẫn còn nhiều vấn đềđể cần tham khảo thêm

1.6.2 Giới hạn không gian và thời gian

1.6.2.1 Giới hạn không gian

Đề tài chỉ nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường trong đêbao huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

1.6.2.2 Giới hạn thời gian

Đề tài thực hiện trong vòng 13 tuần, từ ngày 1/10/2007 đến ngày 22/12/2007

1.7 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

1.7.1 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế môi trường trong đê baohuyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp giúp cho huyện tìm ra những mô hình sảnxuất thích hợp trong đê bao để nâng cao năng xuất, góp phần thúc đẩy kinh tếnhưng cũng phải bảo vệ môi trường

Các hợp tác xã, hộ nông dân có thể dựa trên đề tài này để tìm ra mô hìnhsản xuất thích hợp cho mình

1.7.2 Ý nghĩa khoa học

Việc sản xuất trong đê bao không còn xa lạ với người dân trong nhữngthập niên gần đây nhưng vấn đề sản xuất mà vẫn bảo vệ môi trường đang làmột vấn đề mới Do đó việc nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế môitrường trong đê bao huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp là một nghiên cứu rấtmới tạo tiền đề cho việc nghiên cứu các khu vực khác cũng có đê bao nhiềunhư đồng bằng Sông Hồng

Trang 8

1.8 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI

Nếu có thời gian và điều kiện sẽ tiến hành phân tích tiến hành đánh giákhía cạnh xã hội Và mở rộng đề tài ra các huyện khác của tỉnh Đồng Tháp

Trang 9

CHƯƠNG 2:

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN HỒNG NGỰ

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN:

2.1.1 Vị trí địa lý

Hồng Ngự là một huyện của tỉnh Đồng Tháp, nằm bên bờ sông Tiền, giápvới biên giới Campuchia và cửa ngõ biên giới quan trọng của tỉnh

Ranh giới hành chánh của của huyện Hồng Ngự như sau:

- Phía Tây Bắc giáp: Campuchia

- Phía Tây giáp: sông Tiền

- Phía Đông giáp: huyện Tân Hồng

- Phía Nam giáp: huyện Tam Nông

2.1.2 Đặc điểm và địa hình địa mạo

Huyện Hồng Ngự có hướng dốc địa hình từ Tây Bắc xuống Đông Nam Vùng phía Nam kênh Hồng Ngự có cao độ từ +1,00 đến +2,00m, vùngphía bắc kênh Hồng Ngự từ +2,00m đến +3,00m Có rất ít diện tích có độ cao

>+4,00m Cao độ thấp nhất có cao độ +0,70m

2.1.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng

2.1.3.1 Đặc điểm địa chất

Tỉnh Đồng Tháp nói chung, huyện Hồng Ngự nói riêng có đặc điểm địachất chung là vùng trầm tích trẻ sông, biển thuộc hệ Pleitôxen (Q1); N2,Hôluxen (Qiv) tầng đá gốc rất sâu từ 100 đến 200m Tầng đất trên mặt độ sâu từ

0 đến 50m là lớp trầm tích gồm có các lớp đại diện sau:

Lớp 1: Lớp đất sét màu xám nâu nhạt, kết cấu chặt, trạng thái dẻocứng độ sâu tầng đất này là từ 2 đến 6 m

Lớp 2: Lớp sét pha bụi (lớp bùn sét) màu xám đen kết cấu kém chặt,

Trang 10

Lớp 3: Lớp cát hạt vừa, hạt mịn, màu xám đen kết cấu kém chặt,trạng thái rời rạc Độ sâu tầng này cũng biến thiên khá lớn.

Hàng năm được bồi đắp một lượng lớn phù sa nhờ sông Tiền thông quahệ thống kênh rạch Tầng đất này tương đối mềm và ổn định độ cứng khôngthay đổi theo độ sâu

2.1.3.2 Địa chất thủy văn

Theo kết quả nghiên cứu của các nghành địa chất và các nghành thủy lợicho kết quả:

Huyện Hồng Ngự nước ngầm tầng nông hầu hết bị nhiễm phèn Nướcngầm tầng sâu chất lượng tương đối tốt tuy nhiên trữ lượng không lớn lắm nếukhai thác phục vụ sinh hoạt thì có thể đáp ứng được

2.1.3.3 Thổ nhưỡng

Có 4 loại nhóm đất chính là: đất phù sa, đất xám, đất phèn, đất sông rạchHai loại đất phù sa, đất xám đã được khai thác sử dụng trồng lúa, raumàu , cây công nghiệp từ 2 đến 3/vụ năm Có năng suất cao và ổn định

Đất phèn hiện nay đã được cải tạo một cách cơ bản để sử dụng trồng lúa,màu, cơ bản đã đi vào ổn định Hiện nay diện tích đất hoang hóa còn rất ít.Diện tích trồng tràm cũng được quy hoạch, trồng và khai thác có kế hoạch nêncũng là cây có giá trị kinh tế

2.2 ĐẶC ĐIỂM THỦY VĂN

2.2.1 Đặc điểm khí tượng

2.2.1.1 Mưa

Lượng mưa trung bình biến đổi qua nhiều năm

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 12, lượng mưa chiếm tới 90%lượng mưa của cả năm trong đó tập trung vào tháng 9, 10 chiếm tới 40% lượngmưa cả mùa mưa

Trang 11

Mùa khô bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 4 năm sau lượng mưa chỉ chiếm10% lượng mưa cả năm.

Trên địa bàn thì các xã phía Bắc mưa sớm hơn và kết thúc sớm hơn các xã phía

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Tháp, 2005

Bảng 2 2: Lượng mưa các tháng trong năm 2005

Trang 12

Bảng 2 3: Bảng số giờ nắng các năm (giờ)

Số giờ

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Tháp, 2005

Bảng 2 4: Số giờ nắng các tháng trong năm 2005

Lượng bốc hơi trung bình năm 1168 mm

Lượng bốc hơi trung bình ngày từ 3 ÷ 5 mm/ngày

Lượng bốc hơi cao nhất ngày từ 6 ÷ 8 mm/ngày

2.2.1.5 Độ ẩm

Độ ẩm trung bình nhiều năm là 82,5%

Độ ẩm thấp nhất ngày là 50,3%.

Bảng 2 5: Độ ẩm trung bình các năm

Trang 13

Bảng 2.6: Độ ẩm các tháng trong năm 2006

Nhiệt độ cao và ổn định, nhiệt độ trung bình năm là 270C

Cao nhất là 340C

Thấp nhất là 210C

Bảng 2 7: Nhiệt độ trung bình các năm ( 0 C)

Nhiệt độ trung bình

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Tháp, 2005

Bảng 2 8: Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 2005

Nhiệt

độ (t0C) 24,9 26,6 27,5 29 28,9 28,1 26,8 27,6 27,4 27,6 27,1 25,6

Nguồn: Niêm giám thống kê tỉnh Đồng Tháp, 2005

2.2.2 Đặc điểm thủy văn

Chế độ thủy văn sông ngòi phụ thuộc vào 3 yếu tố:

- Nước từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về

- Nước mưa nội đồng

- Diễn biến mực nước triều biển đông ảnh hưởng đến mực nước sông

Trang 14

2.2.2.1 Nước từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về

Sông Mê Kông là một sông lớn chảy qua các nước như Mianma, Lào, TháiLan, Campuchia và Việt Nam Đoạn chảy qua nước ta là đoạn hạ lưu trước khiđổ ra biển Đông với 9 nhánh Nhánh sông Tiền và sông Hậu là hai nhánh lớncó ảnh hưởng trực tiếp đến tỉnh Đồng Tháp Lưu lượng sông Mê Kông rõ rànglà chịu ảnh hưởng trực tiếp lượng mưa của lưu vực trên địa bàn các nướcMianma, Lào, Thái Lan, Campuchia Diễn biến mực nước ở hạ lưu sông MêKông cũng theo mùa mưa, mùa khô của lưu vực và nó cũng phù hợp với mùamưa, mùa khô ở đồng bằng sông Cửu Long

2.2.2.2 Nước mưa nội đồng

Lượng mưa hằng năm ở biến thiên từ 1,184 ÷1,518 mm

Lượng mưa tháng lớn nhất là tháng 9, 10

2.2.2.3 Nước thủy triều ảnh hưởng đến mực nước sông

Đồng Tháp chịu ảnh hưởng của thủy triều biển đông theo chế độ bán nhậttriều Thời gian triều cường trong tháng theo hai kỳ tháng âm lịch (theo quỹ đạomặt trăng) Từ ngày 15 đến ngày 18 và từ ngày 29 đến ngày 2 tháng sau

Từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau, mực nước triều ảnh hưởng đến toàn hệthống sông rạch tỉnh của Đồng Tháp Biên độ thủy triều tương đối lớn

- Vùng phía Bắc có biên độ từ 0.4 ÷ 1.0m

- Vùng phía Nam có biên độ từ 0.7 ÷ 1.8m

Từ tháng 7 đến tháng 11 do ảnh hưởng của dòng chảy từ thượng nguồnchảy về đủ lớn làm cho thủy triều không tác động đến mực nước sông từ ĐồngTiến trở lên Mực nước sông hoàn toàn do mực nước thượng nguồn quyết định.Từ Đồng Tiến trở xuống phía nam, dòng chảy và mực nước sông vẫn ảnhhưởng của mực nước triều, có nghĩa là một ngày có hai mực nước triều lên,xuống

Trang 15

2.2.2.4 Mối quan hệ giữa đặc điểm thủy văn và đặc điểm địa hình huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

+ Dòng chảy mùa kiệt

Mùa kiệt bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau:

+ Mực nước đỉnh triều thấp hơn hầu hết cao độ diện tích tự nhiên trongvùng Do vậy có ít diện tích có khả năng tưới tự chảy và chỉ được một thời gianlúc triều cường

Chế độ dòng chảy mùa kiệt đã sinh ra nhiều vùng giáp nước tích tụ chuaphèn do không tiêu thoát được Đến đầu mùa mưa, khi lượng mưa đủ lớn nướcsông đã dâng lên mới rửa phèn được Điều này đã ảnh hưởng đến chất lượngnước

Chế độ dòng chảy mùa kiệt phụ thuộc vào chu kỳ triều, mực nước triều chỉđến khi mực nước nguồn đổ về và lượng mưa nội đồng đủ lớn mới tham gia vàoviệc phân bố dòng chảy

+ Dòng chảy mùa lũ

Đống Tháp là tỉnh đầu nguồn của đồng bằng Sông Cửu Long nên chịu tácđộng của lũ sớm hơn và ác liệt hơn các tỉnh khác, trong đó chịu ảnh hưởng đầutiên là huyện Hồng Ngự

Thời gian lũ từ tháng 7 đến tháng 11, tháng 7-8 nước lũ vào đồng ruộng từcác cửa kênh rạch Khi vượt bờ đê, bờ bao tương ứng với mực nước tại HồngNgự (+3,5), bắt đầu tràn qua biên giới và ngập lũ toàn khu vực Đầu tháng 7nước lũ vào đồng từ 2 hướng , từ sông Cửu Long theo các trục chính với tổnglượng khoảng 7 tỷ m3, tràn qua biên giới Campuchia với tổng lượng lũ trànkhoảng 26 tỷ m3 Đỉnh lũ cao nhất từ tháng 9 -10, với độ ngập sâu trung bìnhlớn hơn 1m so với phía bắc kênh Nguyễn Văn Tiếp A và nhỏ hơn 1m so với

Trang 16

phía nam kênh Nguyễn Văn Tiếp A Lũ thoát ra theo 2 hướng, qua phía Long

An ra sông Vàm Cỏ và chảy ngược ra sông Cửu Long

Cứ từ 3 đến 5 năm lại có một trận lũ lớn

Từ tháng 7 đến tháng 11 huyện Hồng Ngự có mực nước sông cao hơn caođộ phần lớn diện tích tự nhiên của vùng (không kể thời gian đỉnh lũ)

Dòng chảy có hướng chảy từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam (vùngphía Bắc) từ sông Tiền sang sông Hậu (vùng kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu)

Trang 17

Trước đây, khi con người chưa khai thác tàn phá thiên nhiên một cáchnghiêm trọng thì lũ thường tuân theo những quy luật Hiện nay, với tình trạng ônhiễm môi trường và nạn phá rừng bừa bãi vì vậy lũ không còn tuân theo mộtquy luật nào cả mà nó càng ngày càng diễn biến hết sức phức tạp Trận lũ năm

2000 là một trận lũ lịch sử lớn nhất trong vòng 40 năm qua là một ví dụ, đã gâythiệt hại rất lớn về người và của

2.3 NƯỚC MẶT, NƯỚC NGẦM

Lượng phù sa được bồi lắng hàng năm rất lớn, tập trung vào tháng 7, tháng

8 Đây cũng là mùa lũ hàng năm

Phù sa có ưu điểm cải tạo đất, tăng độ phì nhiêu nhưng có nhược điểm làbồi lấp lòng kênh, hàng năm phải tốn kém rất nhiều công của để nạo vét

Tổng lượng nước dùng cho mọi nhu cầu sản xuất sinh hoạt và công nghiệpchỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ lượng nước trong sông Tiền, sông Hậu Nguồn nướccung cấp dồi dào thuận lợi cho nhu cầu của nhân dân

Mực nước sông rạch phía Bắc có khó khăn cho việc lấy nước tưới về mùakiệt, hầu như phải bơm nước tưới

Mực nước sông rạch phía Nam mùa kiệt khá thuận tiện cho việc lấy nướctưới, chỉ còn một phần diện tích là phải bơm tưới

2.3.2 Nước ngầm

Hầu hết nước ngầm tầng nông (từ 50 ÷ 100m) đều bị nhiễm phèn

Nước ngầm tầng sâu (từ 200 ÷ 300m) trữ lượng không lớn lắm, chất lượngnước tương đối tốt có thể khai thác phục vụ sinh hoạt

Trang 18

2.4 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI

2.4.1 Đặc điểm dân sinh

Huyện Hồng Ngự tính đến hết năm 2006 có số dân 220.952 người trong đósố nam chiếm 107.972 người và nữ chiếm 113.025 người Mật độ dân số là 680ng/km2 Dân cư có xu hướng di chuyển về các khu đô thị cho nên tỷ lệ tăng dânsố cơ học ở các khu vực này tương đối cao Tuy nhiên, đây cũng là thế mạnh vềnguồn nhân lực để đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, nâng cao mức sống củangười dân

Tỷ lệ tăng dân số của huyện năm 1999 là 1,49% Hiện nay, tỷ lệ này đãgiảm do thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình

Khu dân cư tập trung ở ven các con sông lớn, các tuyến kênh trục, các thịtrấn, thị tứ do tập quán sinh hoạt của người dân Gần đây các cụm dân cư tậptrung tránh lũ đang được hình thành do tình hình lũ lụt diễn biến phức tạp tuynhiên cũng phù hợp với xu thế phát triển của các đô thị nhỏ hiện nay

Đặc điểm dân cư là:

- Vùng phía bắc đa số dân làm nhà sàn

- Vùng phía Nam đa số dân tôn nền làm nhà

Đời sống dân cư đang được cải thiện từng bước nhờ có sự quan tâm củaĐảng và nhà nước Công tác xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ vay vốn, dự án kiên cốhóa kênh mương, phát triển nghành nghề truyền thống được các ban nghànhquan tâm, giải quyết

2.4.2 Đặc điểm kinh tế

Năm 2006 là một năm với nhiều biến động về kinh tế cũng như xã hội.Tình hình thế giới thay đổi liên tục Việt Nam gia nhập WTO đánh dấu thắnglợi to lớn giúp nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển

Đồng Tháp là tỉnh có nhiều lợi thế về địa hình tự nhiên, hệ thống cơ sở hạtầng tốt, tốc độ đô thị hóa cao, đầu tư của nhà nước để phát triển thành vùng

Trang 19

kinh tế trọng điểm khu vực đồng bằng Sông Cửu Long Sự tăng trưởng kinh tếcủa tỉnh đạt loại khá nhưng cơ cấu nông nghiệp vẫn còn cao.

- Tỷ trọng nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp chiếm phần lớn 57,02

% sản phẩm trong tỉnh (GDP)

- Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm 15,94 % sản phẩm trongtỉnh (GDP)

- Tỷ trọng dịch vụ chiếm 27,4% sản phẩm trong tỉnh (GDP)

2.4.2.1 Kinh tế nông nghiệp

Diện tích gieo trồng của huyện năm 2006 là 47.172 ha, sản lượng lúabình quân năm 2007 đạt 6,1 tấn/ha Cây bắp là 1.251 ha, sản lượng đạt 9 tấn/ha.Các loại rau đậu giảm nhưng không nhiều do một số đã chuyển sang nuôi tôm.Diện tích trồng cây ăn quả lâu năm năm 2006 :

- Cây dừa , là 73 ha Sản lượng đạt 372 tấn

- Cây nhãn là 14 ha, sản lượng đạt 47 tấn

- Cây xoài là 18 ha, sản lượng đạt 107 tấn

Diện tích trồng cây công nghiệp năm 2006

- Cây mía là 91 ha, sản lượng 3640 tấn

- Cây lạc 110 ha, sản lượng 309 tấn

- Cây đậu tương là 280 ha, sản lượng 750 tấn

- Cây thuốc lá 60 ha, sản lượng 201 tấn

Hàng năm cung cấp lượng lớn lương thực cho toàn huyện và trao đổi vớicác huyện, tỉnh khác, xuất khẩu

Thuỷ sản được xác định là thế mạnh thứ hai, sau cây lúa của huyện Từđầu năm đến nay nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định do sức thu mua của thị

trường tăng, giá cả cao Lượng cá thương phẩm bán ra thị trường khoảng 21.500

tấn, cá giống khoảng 700 triệu con và cung cấp cho thị trường khoảng 10 tỷ concá tra bột

Trang 20

Chăn nuôi cũng góp phần lớn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế củahuyện, tuy nhiên với tình trạng gia cầm bị dịch và bệnh long mồm lở móng trênheo như hiện nay cho nên đàn gia súc của huyện giảm hơn so với mọi năm Chođến ngày 30/7/2007 tổng đàn heo của huyện là 27.290 con, tổng đàn trâu bò cókhoảng 5.313 con, trong đó số trâu là 885 con, đàn bò 4.428 con.

Tuy nhiên được sự quan tâm của chỉ đạo sát sao của Huyện Uỷ, HộiĐồng Nhân Dân huyện chỉ đạo công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồngvà vật nuôi giúp cho sản xuất năm 2007 sẽ đạt được nhiều thắng lợi

Nguồn nguyên liệu nông - thuỷ sản dồi dào của tỉnh chính là lợi thế đểphát triển ngành công nghiệp chế biến

2.4.2.2 Kinh tế công nghiệp và xây dựng

Kinh tế công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong nền kinhtế huyện Số cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh là 1260 Chỉ số pháttriển phát triển giá trị sản xuất công nghiệp so với năm trước là 110,1%

Ngành công nghiệp phát triển chậm, cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếukém, lạc hậu, thiết bị công nghệ lạc hậu, sản phẩm còn ở dạng thô sơ, chấtlượng kém, thiếu sức cạnh tranh Với các ngành nghề chủ yếu là chế biến thựcphẩm, chế biến lương thực, sửa chữa cơ khí Ngoài ra, huyện còn có một sốnghành nghề truyền thống đóng ghe, xuồng , đan lát…

Nguồn lao động của huyện hiện nay đang ở mức báo động Các khu côngnghiệp ở những thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ đã thuhút một lượng lớn nhân lực di cư khỏi địa phương

2.4.2.3 Kinh tế dịch vụ

Kinh tế dịch vụ chiếm lượng nhỏ trong tổng giá trị sản phẩm (GDP) toànhuyện

Các điểm thăm quan, du lịch của huyện mới được đầu tư, tôn tạo mộtphần, hệ thống cơ sở hạ tầng còn yếu kém, chưa đồng bộ nhất là giao thông,

Trang 21

nên còn nhiều hạn chế, chưa tạo được sức hấp dẫn mạnh đối với du khách, chưakhai thác tốt tiềm năng, thế mạnh của vùng sông nước Tuy nhiên trong tươnglai, huyện sẽ cố gắng phát huy hết tiềm năng của mình để góp phần thúc đẩykinh tế dịch vụ, tăng thu nhập cho người dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phùhợp để phát triển nền kinh tế của huyện theo hướng phát triển công nghiệp hóahiện đại hóa.

2.4.2.4 Điện năng

Hầu hết các khu dân cư đều có điện Mạng điện lưới quốc gia đã đếntừng ấp, xã của huyện Nhờ có điện mà kinh tế nông nghiệp, công nghiệp đềutăng trưởng đáng kể Gía điện được tính theo đơn giá của nhà nước, ở những nơivùng sâu, vùng xa của huyện đã kết hợp với người dân địa phương kéo điện vàhỗ trợ một phần kinh phí Những vùng sản xuất gặp nhiều khó khăn thì huyệnđã linh động giảm một phần chi phí điện để thúc đảy sản xuất phát triển Trongnhững năm trở lại gần đây, công suất tiêu thụ của huyện tăng một cách đáng kểvà hệ thống đường dây điện liên tục xây dựng và phát triển Hệ thống đê baocủa huyện nhờ có điện đã được gia cố xây dựng mới một cách nhanh chónghiện đại

Đây cũng là chủ trương của huyện để đưa ánh sáng đến từng thôn xómcủa huyện, xóa tình trạng không có điện ở những nơi vùng sâu, vùng xa

2.4.2.5 Giao thông vận tải

Hiện nay giao thông vận tải là một trong những vấn đề hàng đầu để pháttriển Hầu hết các xã ở vùng sâu huyện đều có đường xe đi lại được trong mùakhô Giao thông đường bộ được kết hợp với hệ thống đê bao, vừa xây dựng hệthống đê bao vừa kết hợp xây dựng hệ thống giao thông tạo điều kiện tốt đểphát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ

Hiện nay huyện đang chủ trương kiên cố hóa đường giao thông bằng cácdự án nhà nước và nhân dân cùng làm, mở rộng và nâng cấp các tuyến đường

Trang 22

giao thông, để việc đi lại thuận lợi góp phần phát triển kinh tế Tuy nhiên, hiệnnay vấn đề an toàn giao thông cũng là một trong những vấn đề cần quan tâmcủa huyện, sự phát triển giao thông phải kéo theo đó là sự an toàn trong giaothông để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.

Giao thông đường thủy thuận lợi do hệ thống sông rạch tự nhiên và hệthống kênh mương của huyện dày đặc Việc giao thông bằng đường thủy cũnggóp phần rất lớn trong việc phát triển kinh tế của huyện nhưng vấn đề bức xúchiện nay là việc giao thông bằng đường thủy không có sự quản lý một cáchnghiêm ngặt, về vấn đề người sử dụng phương tiện giao thông và trình độ hiểubiết về pháp luật khi tham gia giao thông

2.4.2.6 Bưu chính viễn thông

Trong những năm gần đây hệ thống thông tin liên lạc nhanh chóng pháttriển với sự tham gia với nhiều công ty trong và ngoài nước, phát triển đa dạngcác loại dịch vụ, đổi mới phong cách, giảm giá thành, xây dựng cơ sở hạ tầngthích nghi với điều kiện hiện nay Góp phần quan trọng trong sự phát triển củaxã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng

Tính đến nay số máy điện thoại của huyện là 9737 cái Số máy điệnthoại bình quân 4,4 cái/100 dân Hiện nay, huyện đang phấn đấu nâng cao sốlượng lắp đặt, số máy điện thoại trong những năm tới Về mạng di động tổngđài Vina Phone, Mobi Phone đã lắp đặc tại trung tâm thị trấn phủ sóng toàn bộhuyện và những vùng lân cận Các hãng điện thoại khác như Viettell, Sfonecũng đang khảo sát có kế hoạch lắp đặt trạm thu phát sóng để góp phần đadạng hệ thống thông tin liên lạc

Tổ chức tốt việc phát nhận thư báo, cùng với các hệ thống đại lý để phụcvụ ngày càng tốt hơn cho nhân dân

Trang 23

2.5 ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI

2.5.1 Giáo dục

Mặc dù, huyện còn gặp nhiều khó khăn nhưng vấn đề giáo dục vẫn được

ưu tiên đầu tư hàng đầu và được đặc biệt quan tâm để từng bước nâng cao mặtbằng dân trí

Sở Giáo Dục đang nỗ lực xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lýđáp ứng yêu cầu tình hình mới Với số lượng giáo viên tăng theo hàng năm, sốlượng giáo viên mầm non là 4.946 người, số lượng giáo viên các cấp là 1.638người Vì vấn đề giáo dục đang là vấn đề cấp bách nhất hiện nay Số trường,lớp, học sinh tăng dần theo các năm Hiện nay, tại huyện không còn trường học

3 ca đã hoàn thành phổ cập tiểu học, phấn đấu hoàn thành phổ cập trung học cơsở trong những năm tới Tỷ lệ học sinh bỏ học giảm Trường, lớp các nghànhhọc ngày càng được mở rộng đào tạo đa dạng, phổ cập cho mọi người

Tính đến hết ngày 31/12/2006 toàn huyện có 64 trường học trong đó 44trường tiểu học, 16 trường trung học cơ sở, 4 trường phổ thông trung học

Với số lớp học là 1.199 Số phòng học 925

Huyện Hồng Ngự đã có trường trung cấp nghề

Trong tương lai huyện đang phấn đấu xây dựng thành công những trườngphổ thông trung học đạt chuẩn quốc gia Cố gắng đầu tư các thiết bị kỹ thuậthiện đại cho tất cả các trường học

Phát triển giáo dục là quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền tỉnh trongviệc thực hiện chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế

2.5.2 Y tế

Huyện đã cố gắng tổ chức tốt việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân

dân và tích cực phòng chống dịch bệnh Mạng lưới y tế tương đối hoàn chỉnh,

Trang 24

tất cả các xã đều có trạm y tế, được trang bị mới và nâng cấp cơ sở vật chất.Chuyên môn của đội ngũ cán bộ ngày càng hoàn thiện Các chương trình y tếquốc gia được thực hiện tốt Với số lượng cán bộ nghành y là 242 người Trongđó, bác sĩ và trình độ cao hơn 58 người, y sĩ 99 người, y tá, nữ hộ sinh 19 người.Cán bộ nghành dược 19 người gồm dược sĩ cao cấp 1 người, dược sĩ trung cấp

12 người và dược tá 6 người

Trong tương lai tiếp tục duy trì thực hiện tốt các mục tiêu đề ra là nângcao sức khỏe của người dân, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng vàcác chương trình y tế cộng đồng

Trong tương lai huyện sẽ có những dự án phát triển mạng lưới cửa hàngbán thuốc, phòng khám đa khoa tư nhân để phục vụ tốt hơn và góp phần đadạng hóa các nghành nghề kinh doanh Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyềngiáo dục kế hoạch hóa gia đình nhằm giảm tỷ lệ tăng dân số hàng năm

Tuy nhiên, là một huyện vùng sâu nên tiếp cận khoa học, kỹ thuật hạnchế nên còn chưa đáp ứng kịp nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân

2.5.3 Văn hóa xã hội

Trong lĩnh vực văn hóa, thể dục thể thao : Được duy trì và phát triển kháphong phú, đa dạng Huyện đã tổ chức nhiều cuộc thi văn nghệ quần chúng, tổchức các lễ hội truyền thống, phát triển phong trào thể dục thể thao và duy trìthể dục thể thao có thành tích cao Huyện đã đầu tư xây dựng Trung tâm thôngtin triển lãm, các khu di tích lịch sử

Đài Phát thanh-truyền hình được phủ sóng toàn tỉnh, Đài Phát thanhhuyện, thị xã được củng cố xây dựng đạt 50%, mỗi xã có một đội thông tin lưuđộng Các xã phường đều có trạm truyền thanh Về cơ bản đã xóa đói thông tin

Huyện đã cố gắng xây dựng và phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng cuộc sống mới văn minh và hạnh phúc Xây dựng con người

Trang 25

mới trong cộng đồng dân cư biết yêu thương, đùm bọc, hỗ trợ nhau trong sảnxuất và cuộc sống.

2.5.4 An ninh quốc phòng

Hồng ngự là một huyện biên giới nên công tác bảo vệ tình hình trị an,trật tự đặt lên hàng đầu Quốc phòng, an ninh nhân dân được các cấp chínhquyền quan tâm đẩy mạnh, nâng cao nhận thức về nhiệm vụ quốc phòng trongcác các, các nghành và nhân dân Số lượng tuyển quân hàng năm đều đủ Xâydựng lực lượng dân quân tự vệ tại địa phương tốt kết hợp với công an truy quéttội phạm Đến nay, về an ninh chính trị ổn định, tất cả các hoạt động chống pháđều bị triệt phá và xử lý nghiêm Về trật tự an toàn xã hội: phạm pháp hình sự,kinh tế, ma túy và tệ nạn xã hội xảy ra từng nơi, từng lúc nhưng đã kịp thời pháthiện và xử lý

Hiện nay, tình hình buôn lậu vẫn diễn biến một cách phức tạp Đòi hỏiphải có sự quan tâm phối hợp đồng bộ của các cấp chính quyền và địa phươngnhằm xoá bỏ triệt để

Tai nạn có chiều hướng giảm, nhất là tai nạn giao thông do ý thức củangười dân được nâng cao trong việc sử dụng phương tiện và đội nón bảo hiểmkhi lưu thông trên đường

Trang 26

CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐÊ BAO

3.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐÊ BAO

Khái niệm cơ bản nhất của đê bao đó chính là bờ bao vượt lũ chính dọctheo các tuyến sông, kinh rạch chính hay những tuyến giao thông kết hợp cócao trình vượt lũ

Đê bao chỉ sử dụng cho tần suất tiêu úng 2-3 % tương đương với lũ năm

2000 kết hợp với các tuyến đường quốc lộ để chống lũ chính vụ tháng 9-10,nhằm bảo vệ các cụm tuyến dân cư và khu vực kiểm soát lũ cả năm

Bờ bao để chống lũ đầu vụ tháng 8 bảo vệ lúa hè thu với tần suất tiêuúng 10%, triều tương đương 25% (tháng 7-8 và tháng 11) Bờ bao không đảmbảo ngăn lũ lúc cao nhất

Đê bao, bờ bao hình thành từ cuộc sống thực tiễn sản xuất của người dânNam Bộ Chính yêu cầu cấp thiết bảo vệ cuộc sống, tài sản, nâng cao năng suấtnên bờ bao, đê bao kiểm soát lũ vùng đồng bằng Sông Cửu Long bắt đầu xâydựng nhiều vào năm 1960-1970 Trước đó, cũng có nhiều công trình về đê điềunhưng nhỏ lẻ không có quy mô lớn, đa số tự phát là chủ yếu

Sau 10 năm ứng dụng thành công mô hình đê bao đến năm 1980 Việcxây dựng đê bao lửng phát triển mạnh mẽ khắp vùng, đặc biệt ở Cái Bè, CaiLậy (Tiền Giang), Chợ Mới (An Giang) Cuộc sống của người dân đã thay đổinhờ đê bao bảo vệ vụ lúa Hè Thu và Đông Xuân thay thế lúa nổi năng suấtthấp bằng lúa cao sản

Năm 1980, đê bao chống lũ triệt để được hình thành và phát triển mạnh

ở những vùng ngập nông nhằm bảo vệ vườn cây ăn trái, cây công nghiệp vàsản xuất cả 3 vụ lúa trong năm

Trong những năm trở lại đây, quyết định 99 Tgg ngày 9/2/1996 của thủtướng chính phủ định hướng dài hạn và kế hoạch năm năm 1996-2000 về phát

Trang 27

triển thủy lợi, thúc đẩy hệ thống đê bao ngày càng xây dựng và phát triểnmạnh Nhà nước hỗ trợ về vốn và kĩ thuật, trang thiết bị để xây dựng các côngtrình kinh đào, đê bao, cống ngăn lũ nhiều vùng như Đồng Tháp Mười, TứGiác Long Xuyên.

3.2 TÌNH HÌNH ĐÊ BAO HIỆN NAY

Theo thống kê sơ bộ vào cuối năm 2005, toàn vùng đồng bằng Sông CửuLong có 11.500 km đê bao, bờ bao ven sông kênh rạch Tuy nhiên phân bốkhông đều ở các tỉnh với mật độ trung bình 2,4m/ha Có khoảng 700km đườnggiao thông liên xã, huyện, tỉnh với cao trình 2,5-3,5 m và có hàng ngàn ô baovới quy mô 50-200 ha/ô bao Hệ thống này được hình thành từ năm 1996 đếnnay và cùng với các công trình khác góp phần đưa toàn vùng có 37.591 ha diệntích thích nghi với điều kiện ngăn lũ (chiếm 4,44% toàn vùng) có 97.017 diệntích sản xuất còn bấp bênh (chiếm 11,46% toàn vùng), 489.514 ha diện tích bảovệ lũ tháng 8 (57,83%), 122.552 ha diện tích bảo vệ lũ cả năm (ngăn lũ triệt để,chiếm 14,48%) Ở Vĩnh Long, số lượng đê bao cũng không ngừng tăng từ 2.200

km vào năm 1998 lên trên 3.000km vào giữa năm 2006 với tốc độ tăng 100km/năm; Tốc độ diện tích thủy lợi được khép kín cũng không ngừng tăng lên từ53.000 ha năm 2000 lên 91.678 ha vào giữa những năm 2006 và còn tăng nữa.Cùng với trên 1.900 km đường giao thông hình thành 469 tiểu vùng thủy lợi;Trong đó có 78.000 ha an toàn khi lũ đạt mức báo động III (chiếm 85% diệntích khép kín) và 41.241 ha đảm bảo an toàn trên đỉnh lũ lớn (chiếm 45,15%diện tích được khép kín) Nhìn chung hầu hết diện tích nông nghiệp ở nội vùng,dọc theo các kinh, rạch lớn, kinh phân vùng đều có đê bao, bờ bao, trừ một sốdãy đất hẹp ven sông, đất trong vùng sạt lở mạnh thì chưa được bao

Hiện nay số lượng đê bao tăng lên nhanh chóng góp phần thay đổi diệnmạo của khu vực

Trang 28

3.3 ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG ĐÊ BAO, BỜ BAO 3.3.1 Ưu điểm

Hệ thống bờ bao kiểm soát lũ ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long đượcđánh giá là góp phần tích cực trong việc chuyển một vùng rộng lớn trên 1 triệuhecta canh tác từ một vụ lúa nổi, lúa mùa địa phương năng suất thấp sang canhtác 2-3 vụ lúa năng suất cao, đưa sản lượng toàn vùng từ 2,4 triệu tấn năm 1976lên 12,6 triệu tấn năm 2003, tạo điều kiện phát triển vườn cây ăn trái, hoa màu,chủ động nước xuống giống vụ Đông Xuân, Hè Thu Góp phần thúc đẩy pháttriển kinh tế nhiều thành phần, sản xuất lúa xen kẽ hoa màu do đất đai khô ráoquanh năm, tạo thu nhập ổn định cho người dân không phụ thuộc vào lũ và pháttriển hệ thống hạ tầng kỹ thuật nông thôn (đường, điện, trường trạm và cụm,tuyến dân cư vùng lũ) Đê bao đã mang lại lợi ích rất lớn, là một giải phápmang nhiều ưu điểm

3.3.2 Nhược điểm

Tuy mang lại lợi ích rất lớn nhưng hệ thống đê bao đã góp phần khôngnhỏ làm suy thoái hệ sinh thái và gây ảnh hưởng môi trường Gây ra nhiều bấtổn về sản xuất bền vững trên diện rộng trong suốt thời gian qua

Việc xây dựng phát triển đê bao, bờ bao một cách nhanh chóng khôngphù hợp với quy tự nhiên Các hệ thống kênh mương đã dẫn lũ về sớm hơn, hệthống đường giao thông, bờ kênh lại làm lũ rút chậm hơn bình thường đẫn đếnmất cân bằng sinh thái

Đê bao lửng ở thượng nguồn làm tăng tốc độ dòng chảy về phía hạnguồn, làm cho lũ thường xảy ra với lớn, tàn phá nghiệm trọng, sói lở sôngngòi

Đê bao chống lũ triệt để ngăn sự trao đổi với môi trường bên ngoài,việc khai thác liên tục làm cho đất nghèo dinh dưỡng bạc màu, ô nhiễm dothuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thực vật

Trang 29

Đất trong vùng đê bao này dễ bị suy thoái do không nhận được lượngphù sa bồi đắp hàng năm Đất bị khai thác quá mức do vậy suất đầu tư tăng caonhưng năng suất thấp không hiệu quả Độc chất không được giải phóng, đặcbiệt là những nơi có phèn, dễ phát sinh dịch bệnh Nguồn nước trong vùng bị ônhiễm do không trao đổi với bên ngoài Đê bao này sẽ làm cho mực nước vùnglân cận dâng lên gây ngập lụt vì lũ không tràn vào đê Lũ xảy ra phức tạp vàđỉnh lũ vùng ngoài đê sẽ cao hơn vùng trong đê, gây ảnh hưởng đến môi trườngtheo chiều hướng xấu.

Đê bao, bờ bao còn gây giảm số lượng 1 số loài cá, tôm nguy cơ biếnmất do bị ngăn cản quá trình sinh sản tự nhiên

3.4 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÁC MÔ HÌNH ĐÊ BAO

Hiện nay ở Huyện Hồng Ngự có các mô hình đê bao sau :

 Mô hình kiểm soát lũ theo thời gian (đê bao lửng)

 Mô hình kiểm soát lũ cả năm (đê bao chống lũ triệt để)

3.4.1 Đê bao kiểm soát lũ cả năm (Đê bao chống lũ triệt để)

Là các đường đê phối hợp giao thông có cao trình khá cao và đỉnh lũnăm 2000 thường được chọn làm mốc cho các công trình đê Khu vực này cóthể tăng vụ lúa hoặc chuyển dịch cơ cấu kinh tế cây trồng, tăng hiệu quả sảnxuất nông nghiệp và có thể không xả lũ

Mô hình kiểm soát lũ cả năm được thực hiện chủ yếu trên các vùng ngậpnông Trên các vùng ngập sâu cũng có nhưng không nhiều Mục đích của kiểmsoát lũ là: Bảo vệ sản xuất và bảo vệ dân cư

Trong vùng ngập lũ, chủ yếu là vùng ngập nông, để đảm bảo sản xuấtmía, lúa, màu, nhân dân đã tiến hành bao đê, xây dựng cống bọng để tạo thànhcác ô khép kín Quy mô phổ biến hiện nay là 20 – 200 ha, một số nơi có quymô 300 – 1000 ha Mô hình này phổ biến ở các vùng ngập nông Hệ thống nàybảo đảm kiểm soát lũ để chủ động sản xuất

Trang 30

Ưu điểm của việc bao đê theo ô nhỏ là việc lấy phù sa, khai thác thủy sảntự nhiên và giao thông vận chuyển sản phẩm, quản lý công trình thuận lợi hơn.Tuy nhiên do nguồn lực có hạn nên hệ thống đê bao thường nhỏ, không đảmbảo chất lượng nên dễ bị vỡ, gây ngập lụt, thiệt hại rất lớn.

3.4.2 Đê bao kiểm soát lũ theo thời gian (đê bao lửng)

Đê bao chống lũ đến tháng 8 hay còn gọi là đê bao lửng có mục đích lànâng dần cao trình các đường giao thông nông thôn, để bảo vệ lúa vụ 2

 Đê bao kiểm soát lũ tháng 8 theo quy mô nhỏ:

Từ đầu thập niên 80 của thế kỉ 20, ở vùng ngập sâu để sản xuất được 2vụ lúa theo công thức Hè Thu + Đông Xuân, nhiều nơi nhân dân đã tiến hànhđắp bờ bao kiểm soát lũ đầu vụ (tháng 8) để bảo vệ lúa Hè Thu và tạo điềukiện thuận lợi cho việc bơm tưới đầu vụ Đông Xuân nhằm xuống giống kịp thờivụ Lúc bắt đầu có mô hình này, quy mô còn nhỏ, ở phạm vi hộ hoặc liên hộ,có nghĩa là từ 5 – 10 ha đến 100 ha Cho đến nay, đê bao lửng đã trở thành chủtrương của ngành Thủy lợi và các tỉnh nên quy mô bao cũng như diện tích đượcmở rộng và có sự đầu tư kinh phí của nhà nước Quy mô các ô bao phổ biếnhiện nay khoảng 500 – 1000 ha

Theo tài liệu thống kê của các địa phương ở vùng ngập sâu, phần lớndiện tích sản xuất 2 vụ Đông Xuân – Hè Thu đều có đê bao kiểm soát lũ tháng

8, tuy chất lượng còn thấp, mặt đê nhỏ, thiếu cống bọng Do chỉ kiểm soát lũđầu vụ, khi có lũ chính vụ, dòng chảy vẫn tràn qua nên thường xuyên bị lũ tànphá, hàng năm phải tu bổ gây tốn kém đáng kể Tuy nhiên, hệ thống đê baokiểm soát lũ tháng 8 để bảo vệ lúa Hè Thu là một sáng tạo lớn của ngành thủylợi và nhân dân vùng ngập lũ Vấn đề xây dựng đê bao kiểm soát lũ đầu vụ tuycó cản trở dòng chảy lũ nhưng mang lại hiệu quả lớn cho sản xuất

Trang 31

 Đê bao kiểm soát đầu vụ và cuối vụ trên quy mô lớn:

Đây là tuyến kiểm soát lũ bằng hệ thống đê cống, đập cao su với mụcđích hạ thấp mức nước lũ cho giai đoạn đầu vụ (tháng 8) và giai đoạn cuối vụ(từ tháng 11 – 12), chủ yếu dùng cho vùng ngập sâu Ở thời kỳ lũ chính vụ vẫnđể lũ chính vụ tràn vào đồng để tránh dâng nước ở thượng lưu

3.5 TỔNG QUAN VỀ ĐÊ BAO HUYỆN HỒNG NGỰ

Huyện Hồng Ngự nằm trong vùng tiêu chuẩn chống lũ là chống lũ 2 vụ (lũsớm, bảo vệ lúa Hè Thu) Được chia làm 4 tiểu vùng:

a) Tiểu vùng 1:

- Từ phía Bắc kênh Tứ Thường – kênh Tân Thành – Lò Gạch đến biêngiới Campuchia

- Từ sông Tiền (phía Tây) đến ranh giới huyện Tân Hồng (phía Đông)

- Cao trình bờ bao: +4,5m

b) Tiểu vùng 2:

- Từ Nam kênh Tứ Thường đến bờ sông Tiền và Bắc kênh Hồng Ngự

- Từ bờ sông Tiền (phía Tây) đến ranh giới huyện Tân Hồng (phía Đông)

- Cao trình bờ bao: +4,0m

c) Tiểu vùng 3:

- Vùng cù lao Long Khánh, Cái Vừng

- Cao trình bờ bao: +4,0m

d) Tiểu vùng 4:

- Từ Nam kênh Hồng Ngự đến kênh ranh Hồng Ngự - Tam Nông

- Từ bờ sông Tiền (phía Tây) đến ranh giới huyện Tân Hồng (phía Đông)bờ Tây kênh Phú Thành

- Cao trình bờ bao: +3,8m

Trang 32

e) Vùng dân cư, các trục giao thông chính:

Bảo vệ lũ cả năm (lũ chính vụ) cao trình đê bao phải vượt cao trình lũ năm

2000 của từng khu vực (thường cao hơn 1m so với bảo vệ hai vụ)

Tóm lại: Các đê bao, bờ bao có cao trình là 3- 5,2 m

- Cao trình đê bao chống lũ triệt để căn cứ theo mốc lũ 2000 trên địa bànTỉnh Đồng Tháp

- Cao trình đê bao lửng thì căn cứ vào dự án kiên cố hóa kênh mương củahuyện

- Huyện Hồng Ngự có 2 ô bao triệt để thuộc các xã Phú Thuận A, PhúThuận B, Long Khánh A và Long Khánh B với diện tích 3845 ha Các

ô bao triệt để này có chiều dài 58000 m

- Thị trấn Hồng Ngự và các xã còn lại nằm trong vùng đê bao lửng vớisố ô bao là 24 ngoài ra còn có 13 ô bao chưa hoàn chỉnh với diện tích

ô bao lửng là 9950 ha và diện tích ô bao chưa hoàn chỉnh là 8940 ha

- Các ô bao lửng có chiều dài 258150 m và ô bao chưa hoàn chỉnh cóchiều dài 83850 m

(Xem bản đồ hiện trạng đê bao huyện Hồng Ngự trong phần Phụ lục)

3.6 CÁC TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT CƠ BẢN ĐỐI VỚI ĐÊ BAO HUYỆN HỒNG NGỰ

3.6.1 Mặt bờ bao

Đối với các bờ bao lâu đời, chỉ đơn thuần làm nhiệm vụ chống lũ vàđường đi lại trong khu sản xuất không kết hợp với chức năng khác thì bờ mặt bềbao rộng 3m

Đối với các bờ bao kết hợp nhiều chức năng vừa chống lũ vừa là đườnggiao thông đi lại cho những xe thô sơ, xe cơ giới nhỏ, máy cày, máy kéo…mậtđộ di chuyển ít chỉ đi lại giữa các khu vự với nhau không gây ảnh hưởng nhiềuđến bờ bao như về độ rung, nén, chịu lực thì mặt bờ bao rộng 4m

Trang 33

Đối với các bờ bao liên kết chống lũ với đường giao thông liên huyện,đường trục chính, giao thông huyết mạch, mật độ xe cộ đông đúc thì tùy theotình hình mà có bề mặt theo yêu cầu

Bề mặt bờ bao của huyện Hồng Ngự từ 2- 6 m

3.6.2 Hệ thống số mái bờ bao

Hệ thống bờ bao hiện nay được xây dựng và nghiên cứu hoàn chỉnh dựatrên hệ thống bờ bao cơ bản hình thành ổn định qua nhiều thập niên

Chiều cao của đê 1÷3 m

Đất đắp bờ bao thường được đào ở lòng kênh và là đất sét nên có hệ sốnhư sau:

Chiều cao đắp H≤ 2,5 m chọn m = 1

Chiều cao đắp H>2,5 chọn m= 1,5

3.6.3 Tiêu chuẩn đắp đất

Do được phù sa bối đắp nên lòng kênh ngày càng nông để làm thôngthoáng dòng chảy, giảm chi phí nên toàn bộ bờ bao được đắp bằng đất lấy ởlòng sông Đây là loại đất ướt nên dàn trải đều cho đủ độ rộng, độ cao Tuynhiên bên cạnh sự tiện lợi vẫn còn một số khó khăn là đất dễ trôi xuống lòngsông và ruộng đất canh tác của người dân

3.7 THỰC TRẠNG CÁC DẠNG ĐÊ BAO HUYỆN HỒNG NGỰ

3.7.1 Hiện trạng thủy lợi

3.7.1.1 Kênh trục

Các kênh tạo nguồn đã đầy đủ đảm bảo yêu cầu tưới, tiêu cho toànhuyện Tuy nhiên, do yêu cầu thoát lũ và lấy đất đắp bờ bao, xây dựng các khudân cư nên một số kênh sẽ được nạo vét với quy mô lớn (dự án Bắc Tân Hồng).Các kênh qua thời gian sử dụng bị sạt lở, bồi lắng cần phải nạo vét theo chu kỳ

Trang 34

Bảng 3.1: Thống kê hiện trạng kênh mương

Thứ

Chiềudài(m)

Chiềurộng(m)

Cao trìnhđáy(m)

3 Kênh Tân Công Chí 13.370 30 ÷35 (-1,0) ÷ (-1.5)

7 Kênh Tân Thành 17.750 35 ÷ 40 (-1,0) ÷ (-1.5)

8 Kênh Tân Công Sính 1 2.000 25÷ 30 (-1,0) ÷ (-1.5)

9 Kênh Tân Công Sính 2 1.750 25÷ 30 (-1,0) ÷ (-1.5)

11 Kênh Phước Xuyên 6.370 45 ÷ 50 (-1,5) ÷ (-2,0)

13 Kênh Tân Thành-Lò Gạch 18.500 45 ÷ 50 (-1,5) ÷ (-2,0)

14 Kênh Hồng Ngự-Vĩnh Hưng 17.600 75÷ 80 (-3,0) ÷ (3.5)

15 Kênh rãnh An Phước-Tam Nông 8.550 25÷ 30 (-0,5) ÷ (-1,0)

17 Kênh Thành Lập 2 4.000 25÷ 30 (-1,0) ÷ (-1.5)

18 Kênh tiêu Bắc Trang 4.000 25÷ 30 (-1,0) ÷ (-1.5)

22 Kênh Biên Giới- Thông Bình 3.250 25÷ 30 (+0,5) ÷ (-1,0)

27 Kênh Cả Trấp 1 3.450 15 ÷ 20 (-0,5) ÷ (-1,0)

28 Kênh Cả Trấp 2 1.870 15 ÷ 20 (-0,5) ÷ (-1,0)

29 Kênh Giồng Nhỏ 2.800 15 ÷ 20 (-0,5) ÷ (-1,0)

Nguồn: Dự án kiên cố hóa kênh mương tỉnh Đồng Tháp

Theo bảng thống kê, tổng chiều dài kênh mương của huyện Hồng Ngự có212.040 m Với bề rộng trung bình 15- 50m, cao trình đáy -2 đến +0,5m

Kênh Hồng Ngự- Vĩnh Hưng là kênh lớn, dẫn nước và tưới tiêu cho toàn vùng,những kênh khác đổ vào

Trang 35

3.7.1.2 Bờ bao

Các bờ bao đã cơ bản hình thành từ các bờ kênh trục song chưa hoànchỉnh, một số đoạn còn yếu cần tu bổ để bảo đảm phòng tránh lũ thăng để bảovệ lúa Hè Thu Một số tuyến không đảm bảo ngăn lũ nên hàng ngàn hecta phảimất trắng và gặt chạy lũ giảm năng suất

Bảng 3.2: Thống kê hiện trạng các bờ bao còn yếu

(bình quân) Chiều dài (m)

1

Bờ Bắc kênh Tân Thành- Lò

Gạch (Đoạn từ kênh Sa Rài đến

2

Bờ Tây kênh Sa Rài

(Đoạn từ kênh Tân Thành –Lò

Gạch đến sông Sở Hạ) b = 2,5m; +3,2 7.800

3 Bờ Đông kênh Tân Công Chí (Đoạn từ kênh Tân Thành đến

kênh Hồng Ngự-Vĩnh Hưng) b = 2,5m;+3,1

7.500

4 Bờ Bắc kênh Thành lập 2 b = 2,5m; +3,2 4.000

5

Bờ Bắc kênh Hồng Ngự-Vĩnh

Hưng (Đoạn từ kênh Thống

Nhất đến kênh TânCông Chí) b = 3,0 m; + 3,0 3.900

6

Bờ Bắc kênh Hồng Ngự-Vĩnh

Hưng (Đoạn từ kênh Sa Rài đến

kênh Phước Xuyên) b = 3,0 m; +2,8 9.000

7

Bờ Đông kênh Tân Thành

(Đoạn từ kênh Tân Thành đến

kênh Hồng Ngự-Vĩnh Hưng đến

kênh Bắc Viện)

b = 4,0 m;  +3,0 2.200

8 Bờ Bắc kênh Lê Hùng b = 4,0 m;  +3,0 4.400

9 Bờ Nam kênh Lê Hùng b = 4,0 m;  +3,0 4.400

10 Bờ Đông kênh Tân Công Sính 1 b = 2,5 m;  +3,1 2.000

11 Bờ Tây kênh Phú Đức b = 3,5 m;  +3,2 2.500

12 Bờ Đông kênh Phú Đức b = 4,0 m;  +3,0 2.500

13 Bờ Bắc kênh Giồng Nhỏ b = 3,0 m;  +3,0 2.800

14 Bờ Nam kênh Giồng Nhỏ b = 3,0 m;  +3,0 2.800

15 Hai bờ kênh Bắc Viện b = 3,0 m;  +2,9 5.600

16 Hai bờ kênh Cả Mũi b = 3,0 m;  +3,0 4.800

Trang 36

17 Hai bờ kênh Sa Trung b = 3,0 m;  +2,8 3.000

18 Bờ Nam kênh Cù Lai b = 8,0 m; +3,0 1.500

19 Bờ Tây kênh (Đoạn từ kênh Tứ Tân đến Kênh Co) b = 3,0 m;  +3,0 3.300

20 Bờ Bắc kênh Tân Thành-Lò Gạch (Đoạn từ kênh Tân Thành

đến rạch Long An)

b = 3,0 m;  +2,8 5.500

21

Bờ Đông kênh Tân Thành

(Đoạn từ kênh Tân Thành-Lò

22 Bờ Nam sông Sở Hạ (Đoạn từ kênh Tân Thành đến đồn 405) b = 3,0 m;  +2,8 6.000

23

Bờ Đông kênh Sa Rài (Đoạn từ

kênh Đuôi Tôm đến kênh Tân

24

Bờ Bắc kênh Tân Thành-Lò

Gạch (Đoạn từ kênh Ra Sài đến

25 Bờ Nam Sông Sở Hạ (Đoạn từ khu Dinh Bà đến kênh Tân

Thành)

b = 3,0 m;  +3,0 4.000

Nguồn: Dự án kiên cố hóa kênh mương tỉnh Đồng tháp

Như vậy, huyện Hồng Ngự có 107.500 m bờ bao yếu, cần phải gia cố tubổ

Các tuyến bờ bao ở dạng mới hình thành vẫn còn thấp sau mỗi mùa lũcòn phải chấp vá, mặt bờ không đều cao thấp, lồi lõm, không được bằng phẳng.Bề ngang chỗ rộng, chổ hẹp, mái bờ chỗ thoải chỗ đứng Trên bờ bao chưa cócống vững chắc để chủ động lấy nước, hàng năm nhiều chỗ vẫn phải đào ra đắplại nhiều lần gây tốn kém, những đoạn bờ bao đào ra, lắp lại nhiều lần thườngyếu rất dễ gây bể vỡ khi chống lũ

Bờ bao chống lũ tháng 8, tuy nhiên chỉ ở mới ở mức nhất định (năm lũnhỏ) nên gặp lũ lớn như năm 2000 thì không đảm bảo

Trang 38

CT CHỐNG

LŨ TRIỆT ĐỂ

DIỆN TÍCH (ha) CHIỀU DÀI (m) QUI MÔ SỐ Ô BAO

Chống

lũ triệt để

Chống lũ tháng 8

Chưa hoàn chỉnh

Chống

lũ triệt để

Chống

lũ tháng 8

Chưa hoàn chỉnh

Tổng chiều dài (m)

Bmặt (m)

Cao trình bờ

Chống lũ triệt để

Chống lũ tháng 8

Chưa hoàn chỉnh

Trang 40

X· Thêng phíc 2 6.2 6.5

X· Thêng Thíi HËu A 5.8 6.1

Ngày đăng: 23/06/2014, 14:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. 1: Lượng mưa trung bình qua các năm - Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp
Bảng 2. 1: Lượng mưa trung bình qua các năm (Trang 10)
Bảng 2. 4: Số giờ nắng các tháng trong năm 2005 - Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp
Bảng 2. 4: Số giờ nắng các tháng trong năm 2005 (Trang 11)
Bảng 2. 5: Độ ẩm trung bình các năm - Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp
Bảng 2. 5: Độ ẩm trung bình các năm (Trang 11)
Bảng 2. 3: Bảng số giờ nắng các năm (giờ) - Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp
Bảng 2. 3: Bảng số giờ nắng các năm (giờ) (Trang 11)
Bảng 2.6: Độ ẩm các tháng trong năm 2006 - Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp
Bảng 2.6 Độ ẩm các tháng trong năm 2006 (Trang 12)
Bảng 2. 7: Nhiệt độ trung bình các năm ( 0 C) - Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp
Bảng 2. 7: Nhiệt độ trung bình các năm ( 0 C) (Trang 12)
Bảng 2. 8: Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 2005 - Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp
Bảng 2. 8: Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 2005 (Trang 12)
Bảng 2. 9: Mực nước 2004 (cm) - Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp
Bảng 2. 9: Mực nước 2004 (cm) (Trang 15)
Bảng  3.1: Thống kê hiện trạng kênh mương - Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp
ng 3.1: Thống kê hiện trạng kênh mương (Trang 33)
Bảng  3.2: Thống kê hiện trạng các bờ bao còn yếu - Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp
ng 3.2: Thống kê hiện trạng các bờ bao còn yếu (Trang 34)
Bảng 4.4:  Kết quả quan trắc nước mặt vùng nuôi thuỷ sản (cách bè 50m) - Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp
Bảng 4.4 Kết quả quan trắc nước mặt vùng nuôi thuỷ sản (cách bè 50m) (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w