1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Vai trò thành viên hội đồng bộ môn trong việc tư vấn giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 ở các trường Trung học Cơ sở huyện An Phú

76 939 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò thành viên hội đồng bộ môn trong việc tư vấn giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 ở các trường Trung học Cơ sở huyện An Phú
Trường học Trường Trung học Cơ sở Vĩnh Trường
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2006
Thành phố An Phú
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 800,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chia sẻ một số biện pháp tư vấn cho giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử khối 9 nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo hứng thú học tập cho học sinh và góp phần nhỏ bé trong thành tích chung của phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi và đặc biệt với những giáo viên đã và đang bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử có thể xem đây là một tài liệu tham khảo, một kênh thông tin để làm phong phú thêm kinh nghiệm và biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi. Mời quý thầy cô tham khảo sáng kiến trên.

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

VAI TRÒ THÀNH VIÊN HỘI

ĐỒNG BỘ MÔN TRONG VIỆC TƯ VẤN GIÁO VIÊN BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI LỚP 9 Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

HUYỆN AN PHÚ

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

I BỐI CẢNH CỦA ĐỀ TÀI:

Trong những năm qua, chất lượng dạy và học của Tỉnh An Giang nói chung và huyện An Phú nói riêng ngày càng được nâng cao Các phong trào thi đua dạy tốt – học tốt do ngành phát động được đông đảo cán bộ, giáo viên, công nhân viên và học sinh hưởng ứng và từng bước đạt được nhiều thành tích khá nổi bật như: phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm, tự làm đồ dùng dạy học, hội thi giáo viên dạy giỏi, hội thi

ca múa nhạc, hội khỏe Phù Đổng … Qua các phong trào đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, từ đó tạo được niềm tin đối với các bậc phụ huynh học sinh, các cấp chính quyền và đó cũng là động lực để những người làm công tác giáo dục có những định hướng mới cho sự nghiệp đào tạo thế hệ tương lai của đất nước

Trong các phong trào thi đua đó, có thể khẳng định rằng công tác quản lý chuyên môn nhất là Hội đồng bộ môn đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn thúc đẩy giáo viên trong công tác giảng dạy của huyện An Phú đạt được kết quả khá toàn diện và mang tính bền vững; trong đó có phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi các môn nói chung và học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng cũng đạt được nhiều thành quả đáng kể

II LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Từ năm đầu tiên Sở giáo dục và Đào tạo An Giang tổ chức thi học sinh giỏi văn hoá lớp 9 đến năm 2005 tôi giảng dạy tại trường THCS Vĩnh Trường, bản thân luôn quan tâm đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử và luôn đạt nhiều giải cấp huyện và cấp tỉnh Đến hè năm 2005 tôi được điều về Phòng Giáo dục và Đào tạo An Phú phụ trách công tác chuyên môn các môn xã hội và kiêm thành viên Hội đồng bộ môn Lịch sử cấp tỉnh Với vai trò phụ trách chuyên môn tôi không ngừng tham mưu với Lãnh đạo Phòng Giáo dục chỉ đạo các trường quan tâm công tác nâng cao chất lượng dạy và học, trong đó luôn chú trọng đến công tác giáo dục học sinh mũi nhọn từ

đó chất lượng các môn học ngày càng tăng trong đó có môn Lịch sử Điển hình, năm học 2011- 2012 vừa qua học sinh trong huyện đạt là 15 em trong kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh

Với những kết quả trên, bản thân xin chia sẻ một số biện pháp tư vấn cho giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử khối 9 nhằm góp phần nâng cao chất lượng

Trang 3

giảng dạy bộ môn, tạo hứng thú học tập cho học sinh và góp phần nhỏ bé trong thành tích chung của phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi và đặc biệt với những giáo viên đã

và đang bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử có thể xem đây là một tài liệu tham khảo, một kênh thông tin để làm phong phú thêm kinh nghiệm và biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi trên địa bàn An Giang nói chung và huyện An Phú nói riêng

III PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

- Đề tài tập trung phân tích các biện pháp đã thực hiện trong quá trình tư vấn cho

giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử khối 9 ở các trường THCS trong huyện

An Phú

- Thông qua trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với các giáo viên của huyện có nhiều

kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt nhiều thành tích qua các năm

và qua chia sẽ kinh nghiệm với đồng nghiệp là thành viên Hội đồng bộ môn ở các huyện

- Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ năm 2006 đến nay

IV ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

- Từ thực tế của quá trình tư vấn trong giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi đạt

hiệu quả của huyện Tôi đã không ngừng rút kinh nghiệm, phân tích, so sánh các biện pháp đã tiến hành ở năm sau so với những năm trước để có hướng điều chỉnh ở hiện tại sao cho phù hợp với thực tế với đặc thù tình hình dạy học của huyện Trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm của công tác tư vấn giáo viên bồi dưỡng ở các trường, bản

thân đã từng bước hình thành ý tưởng viết đề tài về vai trò của thành viên hội đồng bộ

môn trong việc tư vấn giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 Kết quả qua nhiều năm

nghiên cứu đề tài được ra đời Có thể nói công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được ngành thực hiện khá lâu nhưng việc tổ chức trao đổi học tập hay chia sẻ kinh nghiệm của các thành viên hội đồng bộ môn trong việc tư vấn bồi dưỡng thì chưa thực hiện bao giờ Do đó, đề tài ra đời là kết quả của quá trình gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, đồng thời phần nào đã giải quyết được những đòi hỏi do thực tiễn đặt ra

- Qua việc nghiên cứu đề tài này, giúp giáo viên có được các giải pháp phù hợp,

khoa học và mang tính khả thi trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9

Trang 4

B PHẦN NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:

Qua thực tế bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử khối 9 trong những năm còn giảng dạy tôi nhận thấy rằng vấn đề quan trọng là người giáo viên bồi dưỡng cần có một quan niệm đúng về học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng Bên cạnh đó, người giáo viên bồi dưỡng cần trả lời câu hỏi: “việc bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm mục đích gì? ” để từ đó người giáo viên bồi dưỡng lựa chọn nội dung, chương trình và phương pháp bồi dưỡng sao cho thích hợp và đạt hiệu quả cao nhất

Bộ môn Lịch sử là một trong các bộ môn góp phần phát triển toàn diện con người

như nhà văn Nga thể kỷ XIX, Tsecnuwsepxk khẳng định: “Có thể không biết, không

cảm thấy say mê học tập môn toán, tiếng latinh, hoá học; có thể không biết hàng nghìn môn khoa học khác, nhưng dù sao đã là con người có giáo dục mà không yêu thích môn lịch sử thì chỉ có thể là một con người phát triển không đầy đủ về trí tuệ”

Theo Phó giáo sư Tiến sĩ Đặng Văn Hồ trường Đại học Huế cho rằng: “ Cùng với

các bộ môn khác ở trường phổ thông, bộ môn Lịch sử cũng góp phần quan trọng vào việc đào tạo con người mới phát triển toàn diện Bộ môn Lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ sở của khoa học Lịch sử, nên đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ

mà phải hiểu, biết vận dụng nó vào cuộc sống Cho nên, cũng như các môn khác, việc học tập Lịch sử cũng đòi hỏi học sinh phải tư duy, thông minh, sáng tạo Bởi vì, mọi khoa học đều tổng kết những hiểu biết, kinh nghiệm trong cuộc đấu tranh với tự nhiên

và xã hội, đạt trình độ khái quát hoá, trừu tượng hoá, đi sâu vào bản chất sự kiện, hiện tượng, rút ra quy luật vận động của sự vật và tác động của nó; từ đó để đạt đến chân lý khách quan Bản chất của việc học tập, nghiên cứu lịch sử cũng là một hình thức nhận thức khoa học, đòi hỏi tính tích cực trong tư duy của học sinh Chính vì vậy, người dạy và người học Lịch sử cần có phương pháp tư duy, phân tích, xét đoán các sự kiện theo quan điểm hệ thống”

Với quan niệm trên, chúng ta hiểu rằng học sinh giỏi môn Lịch sử là những học sinh phải nắm được những kiến thức cơ bản của bộ môn và phải vận dụng được những hiểu biết; những kỹ năng Lịch sử để giải quyết những nội dung cơ bản theo yêu cầu của đề bài, của thực tiễn cuộc sống và học sinh giỏi môn Lịch sử là những học sinh có năng lực độc lập suy nghĩ, vận dụng tốt nhất những kiến thức, kỹ năng chắc chắn về Lịch sử, phải tự học, tự rèn luyện và sáng tạo

Trang 5

Về mục tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi, có nhiều mục tiêu khác nhau tùy theo quan niệm của mỗi giáo viên và tùy theo môn học nhưng dù quan niệm như thế nào chung quy lại có những điểm tương đồng:

- Bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng nhằm phát triển tư duy ở trình độ cao phù hợp với khả năng trí tuệ của học sinh

- Bồi dưỡng sự lao động và làm việc một cách say mê, sáng tạo

- Phát triển các phương pháp, kỹ năng và thái độ tự học suốt đời

- Nâng cao ý thức và khát vọng của học sinh

- Có ý thức trách nhiệm trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước

- Phát triển phẩm chất của người công dân như có thái độ tích cực vì xã hội, vì cộng đồng, yêu lao động, sống nhân ái, có niềm tin, ý thức tổ chức kỷ luật và sống tuân thủ theo pháp luật Để trở thành con người mới theo yêu cầu của thời đại

Với những mục tiêu đó, chúng ta thấy rằng việc bồi dưỡng học sinh giỏi hiện nay của phần lớn giáo viên ít nhiều đã đáp ứng tương đối đầy đủ những mục tiêu trên Điều này được minh chứng qua kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên vì những em đạt giải học sinh giỏi là những em hội đủ các mục tiêu trên

II THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP:

Trong thực tế, An Phú là huyện đầu nguồn hàng năm có biến động về nhân sự giảng dạy nên ít nhiều ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy học của các môn, trong đó có môn Lịch sử Từ thực tế đó bản thân làm công tác quản lý nên không ít nhiều trăn trở, tìm tòi suy nghĩ để tư vấn giúp đỡ các giáo viên bộ môn nâng cao chất lượng bộ môn và nhất là việc bồi dưỡng học sinh giỏi văn hoá lớp 9 Qua một số năm tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đạt nhiều kết quả khả quan Do đó, trong công tác quản lý hội đồng bộ môn cấp huyện bản thân luôn tư vấn giúp đỡ các giáo viên bộ môn áp dụng các biện pháp cụ thể sau:

1 Xây dựng kế hoạch cụ thể trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi:

Vào đầu năm học, tham mưu với lãnh đạo Phòng chỉ đạo ban giám hiệu các trường chỉ đạo mỗi giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi các môn phải xây dựng kế hoạch chi tiết Vì vậy, các giáo viên dạy bồi dưỡng phải lên kế hoạch cụ thể về: thời gian bồi dưỡng; nội dung; thời lượng; số lượng học sinh bồi dưỡng; chỉ tiêu phấn đấu đạt giải … và các giáo viên thực hiện nghiêm túc theo kế hoạch

Ban giám hiệu các trường phải thường xuyên kiểm tra và thành viên hội đồng bộ môn cũng luôn tư vấn, giúp đỡ, nhắc nhở, tháo gỡ những khó khăn gặp phải trong việc

Trang 6

bồi dưỡng của giáo viên qua các phiên họp chuyên môn định kỳ nhằm thúc đẩy để nâng cao chất lượng về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên các trường THCS trên địa bàn huyện An Phú

2 Chọn đối tượng bồi dưỡng và thường xuyên thực hiện công tác tư tưởng với học sinh tham gia bồi dưỡng:

Chọn đối tượng bồi dưỡng học sinh giỏi là khâu quan trọng nhất trong các khâu bồi dưỡng Vì nếu các em không đam mê thì khi vào học sẽ bỏ nữa chừng không đến

ôn thi hoặc diện nhiều lý do khác để nghỉ thi

Như chúng ta đã biết theo quy chế thi học sinh giỏi thì đối tượng được thi học sinh giỏi là những học sinh đang học lớp 9 tại các trường, có học lực ở học kỳ I của năm đang học đạt từ loại khá trở lên, hạnh kiểm đạt loại tốt và kết quả trung bình môn Lịch sử cuối học kỳ I phải đạt từ 8,0 trở lên

a) Những năm qua việc chọn đối tượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở các trường về cơ bản được nhiều thuận lợi do:

- Đa số học sinh khối 9 đều có hứng thú và đam mê môn Lịch sử Vì vậy, học sinh đăng ký dự thi hàng năm khá đông năm ít nhất có 45 học sinh dự thi cấp huyện

và tỉnh

- Môn Lịch sử của huyện là môn có truyền thống đạt giải nhiều trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh nên cũng thu hút học sinh đăng ký tham gia bồi dưỡng

b) Những khó khăn gặp phải trong quá trình tuyển chọn:

- Đa số học sinh đăng k í bồi dưỡng bộ môn lịch sử đều có học lực loại khá vì không ít thì nhiều vẫn còn quan niệm xem nhẹ bộ môn lịch sử và các môn khoa học xã hội khác Mặt khác, do tính thực tế của các kì thi tuyển sinh 10 chủ yếu tập trung vào các môn: Toán, Văn, Anh nên các em có học lực giỏi thường tham gia thi những môn này

- Do nhiều nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan nên một số học sinh có sự mâu thuẫn, chưa thông suốt giữa học sinh giỏi ở lớp với học sinh giỏi văn hoá cấp huyện, tỉnh do đó: học sinh nghĩ rằng tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi sẽ ảnh hưởng đến thành tích học ở lớp và ngược lại Vì vậy một số em vẫn tham gia bồi dưỡng nhưng mang tính hình thức, thiếu tập trung

- Do nhận thức của phụ huynh còn hạn chế: bồi dưỡng học sinh giỏi không còn thời gian phụ tiếp chuyện gia đình và không còn thời gian học các môn sẽ chi phối kết quả học tập của con em học vào cuối năm

Trang 7

- Bản thân học sinh phải đi học bù, học thể dục, học thêm, tham gia các phong trào khác của lớp, trường nên ít quan tâm nội dung mà giáo viên cho về nhà luyện và học

Xuất phát từ những khó khăn trên, đòi hỏi mỗi giáo viên phải thường xuyên động viên, khuyến khích và kiên trì phân tích cho học sinh thấy được phải làm như thế nào

để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc mà vẫn sử dụng hợp lý quỹ thời gian Vì nếu suy cho cùng việc bồi dưỡng học sinh giỏi muốn thành công hay thất bại nhờ vào vai trò của người giáo viên – người giáo viên mới gặp những “lực cản” mà buông xuôi thì khó có thể thành công Do đó, có ý kiến cho rằng người giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi được ví như đạo diễn của bộ phim, còn học sinh là những diễn viên thực hiện theo ý định của đạo diễn, nhưng đạo diễn cũng cần biết quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của diễn viên

3 Giáo viên bồi dưỡng nên biên soạn tài liệu theo từng chuyên đề của nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử:

Có thể cho rằng đây là biện pháp mang tính bền vững đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử Từ thực tế kinh nghiệm bồi dưỡng những năm qua cho thấy nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử rất phong phú được trải đều ở 2 khối lớp 8, 9 và ở mỗi khối lớp lượng kiến thức cần truyền đạt cho học sinh là vô hạn, giáo viên bồi dưỡng rất khó xác định được nội dung kiến thức nào cần bồi dưỡng trước cho học sinh, nội dung nào không quan trọng để giới hạn, đặc biệt là phần Lịch

sử Việt Nam (khối 8) từ 1858 đến đầu thế kỷ XX và chương trình Lịch sử (khối 9) gồm Lịch sử thế giới hiện đại và Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cuối năm 1954, bên cạnh đó trong một vài trường hợp người giáo viên không thể bồi

dưỡng kiến thức trong sách giáo khoa theo một trình tự cố định hết các bài do không

đủ thời gian hoặc do kiến thức được sắp xếp theo từng phần, từng chương theo phương pháp dàn trải Chính vì thế, đòi hỏi mỗi giáo viên phải nghiên cứu tiến hành soạn tài liệu riêng theo từng chuyên đề của nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi

Từ nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi các năm qua theo tôi có các chuyên đề cơ bản sau:

- Chuyên đề Lịch sử Việt Nam (khối 8)

- Chuyên đề Lịch sử Thế giới và Việt Nam (khối 9)

- Chuyên đề về Kỹ năng lập biểu bảng, phân tích và nhận xét các sự kiện lịch sử

cả khoá trình giới hạn thi học sinh giỏi Lịch sử

- Chuyên đề Lịch sử địa phương theo quy định

Trang 8

Như vậy, từ các chuyên đề trên giáo viên cần tìm những tài liệu liên quan để biên soạn, thông thường các chuyên đề này được giảng dạy chuyên sâu hơn ở chương trình Lịch sử lớp 12 để nâng cao (đối với khối 9) và chương trình Lịch sử lớp 11 để nâng cao (đối với khối 8), hay được tập trung trong các bộ đề thi Lịch sử các năm học trước đây của Sở và các Sở Giáo dục khác

Hàng năm với tư cách hội đồng bộ môn tôi đã tư vấn chuyên môn và hỗ trợ giáo viên dạy bồi dưỡng các tài liệu tham khảo để học sinh tự nghiên cứu, tự học ở nhà

( Đính kèm phần tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh bồi dưỡng học sinh giỏi ở phần phụ lục kèm ở phía sau)

Khi đã có tài liệu hỗ trợ của hội đồng bộ môn, cộng với kiến thức của giáo viên, cùng với sự ham học tìm tòi sáng tạo của học sinh Giáo viên rất thuận lợi trong việc bồi dưỡng cho học sinh vì lượng kiến thức đã được định trước, đồng thời hạn chế việc mất thời gian, có thể bồi dưỡng theo định hướng và kế hoạch đã xây dựng của mình

4 Về nội dung và phương pháp bồi dưỡng:

Giáo viên nên bồi dưỡng những chuyên đề cơ bản, trọng tâm trước và ưu tiên thời lượng cho những chuyên đề này đồng thời phải bồi dưỡng theo phương pháp từ thấp lên cao theo hướng: khối 8 → khối 9 → lập bảng biểu để tóm lược các nội dung khoá trình đã được ôn tập Từ đó khắc sâu kiến thức cho các em Theo kinh nghiệm của bản thân, giáo viên cần áp dụng theo quy trình sau:

Trước tiên, giáo viên phát tài liệu biên soạn của thành viên hội đồng bộ môn phần Lịch sử Việt nam (khối 8) để học sinh tự nghiên cứu vì phần này học sinh đã được học

ở lớp dưới nên giáo viên chỉ cần ôn tập lại cho học sinh Tiếp theo, giáo viên sử dụng tài liệu bồi dưỡng phần Lịch sử Thế giới và Việt Nam (khối 9) vì phần này các em đã được học trên lớp do đó giáo viên có điều kiện mở rộng kiến thức cho học sinh, đồng thời đối với học sinh các em cũng có điều kiện khắc sâu kiến thức, nâng cao khả năng

tư duy, các kỹ năng Lịch sử bước đầu cũng được phát triển Sau cùng, giáo viên tập trung vào kỹ năng lập bảng biểu và nhận xét các sự kiện, lập bảng so sánh

Cũng cần nói thêm rằng, mỗi giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đều

có những điểm giống nhau như: khung chương trình bồi dưỡng, sự nhiệt tình, trình độ học sinh, phương tiện phục vụ bồi dưỡng nhưng kết quả đạt được có sự khác biệt vì mỗi giáo viên có hình thức tổ chức và phương pháp bồi dưỡng khác nhau Sau đây xin trình bày một số phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử mà bản thân và các giáo viên đã thực hiện trong các năm qua:

Trang 9

a) Sử dụng phương pháp bảng niên biểu, sơ đồ hóa trong bồi dưỡng học sinh

giỏi môn Lịch sử:

- Lập niên biểu: niên biểu là bảng thống kê hệ thống hoá các sự kiện quan trọng theo thứ tự thời gian, đồng thời nêu mối liên hệ giữa các sự kiện cơ bản của một nước hay nhiều nước trong một thời kỳ lịch sử

Ví dụ: Lập bảng so sánh về phong trào cách mạng từ năm 1930 đến năm 1945 theo các nội dung sau:

Ví dụ: Đề bài cho lập bảng so sánh ba tổ chức cách mạng trước khi Đảng ra đời

Trang 10

Phương pháp tóm lược nội dung bài học bằng sơ đồ: Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh thiết lập sơ đồ, giáo viên có thể cần thực hiện thêm những giải pháp:

- Giáo viên vừa giảng bài, tổ chức cho học sinh tìm ra kiến thức và các mối liên

hệ chủ yếu vừa xây dựng sơ đồ cũng hoàn thành và nội dung bồi dưỡng (nội dung bài học) được thể hiện một cách trực quan bằng sơ đồ

- Giáo viên có thể xây dựng sẵn sơ đồ câm và đặt câu hỏi hướng học sinh phân tích các mối quan hệ trên sơ đồ để giải thích nội dung học tập đồng thời có các ví dụ

cụ thể để chứng minh

- Giáo viên cũng có thể xây dựng sơ đồ câm kết hợp với các phiếu học tập đã chuẩn bị trước rồi yêu cầu học sinh thảo luận nhóm tìm ra kiến thức Cuối cùng, giáo viên khẳng định lại vấn đề đúng sai và học sinh tự hoàn thiện sơ đồ trên cơ sở kiến thức tìm được

Như vậy, sau khi có được nội dung của đề bài, vấn đề đặt ra là học sinh phải tạo được biểu đồ, sơ đồ cho từng câu hỏi và dựa vào biểu đồ, sơ đồ đó học sinh thuyết trình sơ đồ bằng ngôn ngữ viết vào bài làm kết hợp với quá trình khai thác kiến thức

từ Lịch sử Việt Nam và Lịch sử thế giới đã học và nhớ kĩ nội dung bài đã được ôn

b) Sử dụng tài liệu trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử:

- Giáo viên cần nắm kỹ nội dung chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi do Sở Giáo dục và Đào tạo đề ra

- Về chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 8 cần nắm vững các điểm nổi bật của các thời kỳ, các giai đoạn lịch sử quan trọng Từ đó nhấn mạnh những kiến thức cơ bản để giúp các em hình thành khả năng tư duy, nhậy bén và có khả năng vận dụng

Trang 11

- Về kiến thức chương trình lớp 9 nắm được những nét chính về quá trình phát triển của lịch sử thế giới từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay Phải có những hiểu biết về những sự kiện quan trọng trong tiến trình Lịch sử ở các nước xã hội chủ nghĩa, về phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới và quá trình phát triển ở một số nước tư bản chủ nghĩa chủ yếu Nắm được quá trình phát triển của lịch sử dân tộc từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến nay: Về sự phát triển của phong trào cách mạng, dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam; về các phong trào giải phóng dân tộc

về cuộc đấu tranh đánh đuổi Pháp giành độc lập năm 1954

c) Giáo viên bồi dưỡng phải hình thành các kỹ năng về đọc được bản đồ, lược

đồ trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử:

Đa số giáo viên giảng dạy Lịch sử nói chung và giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng đều cố gắng rèn luyện cho học sinh những kỹ năng cần thiết để khai thác kiến thức từ bản đồ, lược đồ thông thường chúng ta tiến hành theo các bước sau:

- Bước 1: Nắm vững các ký hiệu chung ở phần dưới của bản đồ, biểu đồ

- Bước 2: Đọc được yêu cầu của giáo viên để chỉ lại diễn biến, kết quả của các sự kiện

- Bước 3: Xác định các mối liên hệ giữa các đối tượng trên bản đồ để giải thích, làm sáng tỏ vấn đề mà giáo viên yêu cầu

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của bản thân thì đây là các bước khai thác bản đồ, lược đồ theo phương pháp chung nhất mà người giáo viên dạy Lịch sử nào cũng phải thực hiện, nhưng đối với giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ngoài các bước khai thác chung cần có các bước khai thác riêng Nói cách khác để học sinh khai thác có hiệu quả kiến thức từ bản đồ, lược đồ Lịch sử người giáo viên phải nắm vững các phương pháp biểu hiện các đối tượng trên lược đồ, bản đồ đó

d) Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh biết cách giải các bài tập lịch sử

để khắc sâu kiến thức Vì các dạng đề này người ra đề thi thường cho khi thi học

sinh giỏi huyện, tỉnh Tôi xin minh họa bằng các câu hỏi sau:

Trang 12

Câu 1 Lập bảng thống kê về các cuộc kháng chiến của phong trào Cần Vương theo nội dung sau:

Cuộc khởi nghĩa Thời gian Lãnh đạo Địa bàn, trận đánh tiêu biểu

Câu 2 Lập bảng so sánh về phong trào Cần Vương và phong trào yêu nước đầu THẾ KỈ XX theo nội dung sau:

Nội dung Phong trào Cần Vương

Trang 13

Câu 3 Lập bảng so sánh phong trào Cần Vương với khởi nghĩa Yên Thế ( theo mẫu ):

Nội dung Phong trào Cần Vương Khởi nghĩa Yên Thế

Câu 5 Lập bảng thống kê về các phong trào yêu nước chủ yếu đầu thế kĩ

XX theo nội dung sau:

Phong trào Mục đích Hình thức và nội dung hoạt động

Đông Du

Đông kinh nghĩa thục

Vận động Duy Tân

Chống thuế ở Trung Kì

Trang 14

Câu 6 Lập bảng thống kê các tổ chức mật trận dân tộc thống nhất Việt Nam

từ năm 1930 - 1945 theo nội dung sau:

Tên các tổ chức,

các mật trận Thời gian Chủ trương lớn Kết quả hoạt động

III KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:

Từ khi tư vấn giúp đỡ giáo viên bộ môn dạy sử ở các trường THCS đến nay Phòng Giáo dục và Đào tạo An Phú có số liệu học sinh giỏi văn hoá môn Lịch sử cấp tỉnh ngày càng cao Cụ thể theo bảng số liệu sau:

Năm học Số học sinh đạt giải cấp tỉnh

Trang 15

C PHẦN KẾT LUẬN

I NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

Để đạt được kết quả trên, qua quá trình tư vấn giúp đỡ, hướng dẫn công tác bồi dưỡng môn Lịch sử ở các trường THCS trong huyện An Phú, tôi đã rút ra được các bài học kinh nghiệm sau:

a Về phía học sinh:

- Phải có động cơ học tập đúng đắn, không chạy theo phong trào, xu hướng, nghe theo các bạn… dẫn đến các em chọn không đúng môn yêu thích và sở trường của bản thân của mình Sắp xếp thời gian hợp lý để tự học, tự nghiên cứu thêm tài liệu

- Phải có tư duy, sáng tạo, biết vận dụng các kiến thức được bồi dưỡng vào các bài tập, các đề thi thực tế của nhiều năm và tham khảo các tài liệu có liên quan đến bộ môn Lịch sử Đặc biệt làm đúng theo hướng dẫn của giáo viên bộ môn bồi dưỡng

- Trong quá trình bồi dưỡng thì tính tập thể là rất quan trọng, do đó học sinh phải

tự trao đổi lẫn nhau khi giải quyết một vấn đề nào đó, nhằm khắc sâu thêm các kiến thức nhận được từ phía giáo viên

b Về phía giáo viên:

- Giáo viên cần xây dựng kế hoạch cụ thể trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi vì qua kinh nghiệm bản thân thấy rằng: kế hoạch vừa là kim chỉ nam cho người giáo viên thực hiện, đồng thời vừa là động lực để người giáo viên phấn đấu tốt hơn trong quá trình bồi dưỡng Hơn thế nữa, thông qua kế hoạch còn được lãnh đạo nhà trường kịp thời động viên, khuyến khích, tháo gở những khó khăn vướng mắc khi bồi dưỡng Điều này đồng nghĩa với việc lãnh đạo nhà trường đã thể hiện sự quan tâm đến việc bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử

- Giáo viên bồi dưỡng phải có trình độ chuyên môn vững vàng, có lòng say mê, nhiệt tình trong công việc, không ngừng học hỏi, nghiên cứu Lịch sử để làm phong phú thêm kiến thức truyền đạt cho học sinh bằng cả tấm lòng

- Phân dạng các bài tập cụ thể, chuẩn bị kỹ nội dung cho mỗi dạng cần bồi dưỡng cho học sinh, đảm bảo các kiến thức mà học sinh lĩnh hội được phải có tính kế thừa và phát triển vững chắc qua từng nội dung bồi dưỡng

- Tiến trình bồi dưỡng phải được bắt đầu bằng một dạng bài bài tập mẫu, có hướng dẫn cụ thể, nguyên tắc và cách làm đầy đủ có hiệu quả Sau đó là các bài tập tương tự, nâng cao và vượt qua các bài mẫu để học sinh tự rèn luyện khả năng tư duy, sáng tạo

Trang 16

- Trong quá trình bồi dưỡng cần phải phát hiện các lỗi mà học sinh thường gặp như: điền nội dung sai ô, trả lời sai các nội dung đề bài để nhắc nhở học sinh không mắc phải cho các lần sau

- Phân dạng đề bài cho cụ thể, mỗi đề cần hướng dẫn học sinh phương pháp chung để làm, sau đó cho các dạng bài tương tự để học sinh khắc sâu kiến thức đã nắm bắt được

- Các đề ra cho học sinh làm thử phải có tính logic, đi từ dễ đến khó, từ cơ bản đến nâng cao

Tuy nhiên, trong quá trình bồi dưỡng vẫn còn một số tồn tại khó khắc phục:

+ Từ đầu học sinh chưa định hướng đúng khi chọn môn dự thi, do đó dẫn đến số học sinh dự thi thấp (bỏ bồi dưỡng giữa chừng)

+ Thời gian để học sinh tự nghiên cứu, tìm hiểu không đủ (ngoài giờ học chính khóa các em còn học ngoại khóa thể dục, tham gia bồi dưỡng nhiều lĩnh vực khác nhau, học thêm, ), dẫn đến hiệu quả không cao

+ Thường thì giáo viên ít thường xuyên kiểm tra các vấn đề đã giao về nhà cho học sinh làm Sau khi kiểm tra xong cho cả nhóm bồi dưỡng nêu ý kiến trao đổi rút ra những vấn đề làm được và chưa làm được của các việc giao về nhà cho học sinh Từ

đó rút kinh nghiệm cho cả nhóm để khắc sâu trong những buổi bồi dưỡng tiếp theo

c Về phía nhà trường:

- Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh trong quá trình bồi dưỡng

- Có kế hoạch ngay từ đầu trong khâu tuyển chọn đội học sinh dự thi các môn học cho đều Không để tình trạng học sinh ôn thi môn Lịch sử chỉ ở dạng học lực khá

- Phân công những giáo viên có năng lực, có kinh nghiệm bồi dưỡng nhiều năm

và đạt kết quả tốt để tham gia bồi dưỡng Đồng thời cũng có hướng bồi dưỡng các giáo viên khác để làm lực lượng kế thừa

d Về thành viên Hội đồng bộ môn các môn:

- Tăng cường công tác tư vấn, giúp đỡ các giáo viên bồi dưỡng nhiều hơn để công tác bồi dưỡng đạt nhiều kết quả như mong muốn

- Tìm kiếm tài liệu hoặc soạn thảo tài liệu tham khảo đưa trực tiếp cho giáo viên bồi dưỡng môn mình phụ trách tại các trường THCS

- Tăng cường công tác dự giờ kiểm nghiệm công tác ôn tập bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường thuộc địa bàn quản lý của Hội đồng bộ môn

Trang 17

e Đối với Phòng Giáo dục:

- Quan tâm chỉ đạo sâu sát hơn nữa công tác bồi dưỡng học sinh giỏi hơn nữa, nhất là các môn thuộc lĩnh vực tự nhiên

- Tổ chức hội thảo về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cho các môn có tỉ lệ học sinh giỏi cấp tỉnh hàng năm để rút kinh nghiệm cho các môn

- Hỗ trợ kinh phí bồi dưỡng cho giáo viên theo đúng quy định của ngành, tăng cường hỗ trợ khen thưởng cho thành viên Hội đồng bộ môn phụ trách môn nào có học sinh giỏi đậu cấp tỉnh nhiều

II Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

Việc trang bị đầy đủ kiến thức lý thuyết, nắm vững quy luật Lịch sử cũng như phân dạng các bài một cách cụ thể như đã trình bày trong đề tài, nhằm mục đích bồi dưỡng và phát triển kỹ năng cho học sinh vừa bền vững, vừa sâu sắc, phát huy tối đa

sự tham gia tích cực của học sinh trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi

Giúp Giáo viên bộ môn bồi dưỡng gợi ý cho học sinh có khả năng tự tìm ra kiến thức, tự mình tham gia vào các hoạt động trao đổi trong nhóm để củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng

Đề tài có tác động tích cực đến việc phát triển tiềm lực trí tuệ, nâng cao năng lực

tư duy độc lập và khả năng tìm tòi, sáng tạo cho giáo viên và học sinh tham gia bồi dưỡng và dự thi học sinh giỏi cấp huyện và tỉnh

Tuy nhiên, giáo viên và học sinh cần phải biết vận dụng các kỹ năng một cách hợp lý và biết kết hợp các kiến thức cơ bản về Lịch sử, kiến thức xã hội, thời đại cũng như các nguyên tắc, phương pháp cho từng dạng bài tập cụ thể thì mới đạt được kết quả cao

Sau cùng là bản thân học sinh, có lĩnh hội được kiến thức hay không, vận dụng vào thực tế có hiệu quả hay không, đây mới là khâu quyết định kết quả

III KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG, TRIỂN KHAI:

Áp dụng được cho tất cả giáo viên và học sinh giỏi tham gia bồi dưỡng để dự thi học sinh giỏi cấp huyện và tỉnh, ngoài ra còn dùng để củng cố khắc sâu kiến thức cho học sinh qua các dạng bài nâng cao Vì trong đề tài có đưa ra dạng bài kể cả lý thuyết

ở mức cơ bản nhất, từ đó có khả năng phát triển và nâng cao hơn

Kiến thức trang bị cho học sinh được thể hiện ở các mức độ khác nhau, từ cơ bản đến nâng cao, có hướng dẫn cụ thể cho từng dạng và phần phân tích đề bài trong các ví

Trang 18

dụ, sẽ giúp cho các đối tượng khác nhau của học sinh giỏi đều tiếp thu được để từ đó

Đề tài có khả năng ứng dụng và triển khai trong toàn tỉnh về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi và ôn tập bộ môn Lịch sử

IV NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT:

- Đối với giáo viên: Để kết quả chọn đối tượng học sinh tham gia dự thi cấp huyện, tỉnh cần tuyển chọn từ năm học trước hoặc tham khảo từ các đồng nghiệp dạy các lớp trước để theo dõi các em mình chọn để bồi dưỡng Ngoài ra tìm hiểu cách tự học hoặc hướng dẫn kỹ các em biết cách tự học, chú ý khâu giao việc và kiểm tra khả năng tiếp thu của các em qua mỗi đợt giao việc, giúp đỡ các em gặp những khó khăn trong cách học, cách giải các bài tập… Đặc biệt biết kết hợp nhuần nhiển trong dạy học theo tài liệu mà thành viên Hội đồng bộ môn tư vấn cách làm, cách thực hiện

- Thành viên hội đồng bộ môn các môn khi có hướng dẫn thi học sinh giỏi cấp huyện tỉnh cần quan tâm hơn trong công tác tư vấn, hướng dẫn, tìm tài liệu hỗ trợ cho giáo viêm bộ môn các trường THCS để bồi dưỡng học sinh tốt hơn và có chất lượng hơn

- Đối với Ban giám hiệu các trường THCS cần tăng cường công tác kiểm tra, giúp

đỡ giáo viên và học sinh, đồng thời có sự đầu tư hơn nữa về cơ sở vật chất cho công tác tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi tham gia dự thi ở các đơn vị Đặc biết phải phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh, Ban chấp hành Công đoàn cơ sở treo giải khen thưởng thêm các giáo viên và học sinh đạt giải cấp tỉnh

- Đối với Phòng Giáo dục cần tổ chức hội thảo chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi cho các trường và các môn để rút kinh nghiệm hàng năm Chỉ đạo thành viên Hội đồng

bộ môn các môn tư vấn, giúp đỡ giáo viên gặp khó khăn vướng mắc khi bồi dưỡng

- Đối với Sở Giáo dục cần có chế độ cho học sinh giỏi cấp tỉnh được đi du khảo

về nguồn, vui chơi giải trí như các năm học trước đây để tạo động lực cho học sinh Bộ phận thi đua khen thưởng Sở Giáo dục cần cấp phát các chế độ khen thưởng đối với giáo viên bồi dưỡng và học sinh đạt giải cần kịp thời hơn Qua đó, động viên, khích lệ

Trang 19

kịp thời tinh thần giáo viên và học sinh nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập

Kết luận: Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi muốn đạt hiệu quả cao không phải là

hoạt động đơn giản như một tiết dạy học bình thường trên lớp mà đòi hỏi phải có sự đầu tư, nghiên cứu thật sâu rộng, kỹ lưỡng của giáo viên và sự kiên trì, phấn đấu và nổ lực học tập của học sinh Bên cạnh, phải có sự phối hợp, hỗ trợ tích cực từ nhiều lực lượng khác như: gia đình, nhà trường và xã hội Đặc biệt trong đó không thể thiếu sự chỉ đạo của ngành và vai trò tư vấn, hỗ trợ về chuyên môn một cách khoa học, hợp lí của thành viên Hội đồng bộ môn

An Phú, ngày 02 tháng 11 năm 2012

Người viết

Ngô Chấn Hải

Trang 20

IV ĐIỂM MỚI TRONG NGHIÊN CỨU 2

II Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 14

Trang 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Tài liệu bồi dưỡng giáo viên giảng dạy môn lịch sử 8, 9 của Sở Giáo dục và Đào

tạo An Giang năm 2004-2005

2 Ôn tập và bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 của Nhà xuất bản giáo dục

3 Sách bồi dưỡng Lịch sử của Phó giáo sư Tiến sĩ Đặng Văn Hồ trường Đại học

Phần này các em cần nắm vững các nội dung sau:

- Những thành tựu của Liên Xô từ 1945 đến giữa những năm 70 của thế kỷ

XX

- Quá trình phát triển của phong trào giải phóng dân tộc và sự tan rã của hệ

thống thuộc địa qua các giai đoạn

- Những nét chung về các nước châu Á, Phi và Mỹ - Latinh

- Tình hình Đông Nam Á trước và sau năm 1945, hoàn cảnh ra đời và hoạt

động của ASEAN

- Tình hình kinh tế, chính sách đối nội và đối ngoại của Mỹ, Nhật Bản, Tây

Âu từ năm 1945 đến nay

- Sự hình thành trật tự thế giới mới, sự hình thành và hoạt động của Liên hợp quốc, chiến tranh lạnh và đặc biệt là các xu thế của thế giới sau chiến tranh lạnh

- Những thành tựu chủ yếu, ý nghĩa và tác động của cuộc cách mạng khoa

học – kỹ thuật

BÀI 1

Trang 22

LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU TỪ 1945 ĐẾN GIỮA

NHỮNG NĂM 70 CỦA THẾ KỶ XX

I Liên Xô

1 Giai đoạn từ 1945 – 1950:

- Liên Xô đã chịu tổn thất nặng nề sau chiến tranh thế giới thứ II

- Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ tư (1946-1950)

- Kết quả:

+ Sản xuất công nghiệp tăng 73%

+ Nông nghiệp vượt mức trước chiến tranh

+ Đời sống nhân dân được cải thiện

+ Năm 1949, chế tạo thành công bom nguyên tử, phá vỡ thế độc quyền hạt nhân của Mỹ

2 Giai đoạn xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH từ 1950 đến đầu những năm 70 của thể kĩ XX

- Tiếp tục thực hiện các kế hoạch dài hạn với phương hướng chính là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đẩy mạnh khoa học kỹ thuật, …và đạt được thành tựu: + Sản xuất nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 9,6%

+ Công nghiệp chiếm 20% sản lượng công nghiệp thế giới, đứng thứ hai thế giới sau Mỹ

- Về quân sự: Liên Xô đạt được thế cân bằng chiến lược về sức mạnh quân sự

II/ Đông Âu:

Quá trình thành lập: Từ 1944-1946

Giai đoạn 1945-1949: Hoàn thành cách mạng DCND

Giai đoạn 1950 đến đầu những năm 70 của TK XX:

Trang 23

LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU TỪ GIỮA NHỮNG NĂM 70

ĐẾN ĐẦU NHỮNG NĂM 90 CỦA THẾ KỶ XX

I Sự khủng hoảng và tan rã của Liên bang Xô viết:

a Nguyên nhân khủng hoảng: Năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ mở đầu cho cuộc khủng hoảng về nhiều mặt của thế giới

b Diễn biến cải tổ:

- Tháng 3/1985, Goóc-ba-chốp lên nắm quyền lãnh đạo đảng và đề ra đường lối cải tổ

- Cuộc cải tổ nhanh chóng lâm vào tình trạng bị động, lúng túng, đất nước lún sâu vào khủng hoảng, rối loạn

- Ngày 19/8/1991, một số người lãnh đạo đảng và nhà nước Xô viết đã làm cuộc đảo chính lật đổ Goóc-ba-chốp kết quả, Đảng cộng sản bị đình chỉ hoạt động, các nước cộng hoà đua nhau đòi độc lập …

- Ngày 21/12/1991, Cộng đồng các quốc gia độc lập được thành lập (SNG)

- Ngày 25/12/1991, Goóc-ba-chốp từ chức, lá cờ của Liên bang Xô viết trên nóc điện Crem-li bị hạ xuống

c Nguyên nhân sụp đổ:

- Xây dựng mô hình CNXH chưa phù hợp

- Chậm sửa đổi trước biến động của tình hình thế giới, sửa đổi lại mắc sai lầm

- Sự chống phá của các thế lực thù địch

II Cuộc khủng hoảng và tan rã của chế độ XHCN ở Đông Âu

- Cuối nhữnh năm 70, đầu những năm 80 của TK XX, các nước Đông Âu lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế và chính trị

- Ban lãnh đạo từ bỏ quyền lãnh đạo của Đảng cộng sản

Trang 24

- Kết quả: Các thế lực đối lập lên nắm chính quyền

Câu hỏi: Nguyên nhân sụp đổ của CNXH ở Liên Xô Em có nhận xét gì về sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô?

BÀI 3

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG

DÂN TỘC VÀ SỰ TAN RÃ CỦA HỆ THỐNG THUỘC ĐỊA

I Giai đoạn 1945 đến giữa những năm 60 của thế kỷ XX:

- Ngay sau khi phát xít Nhật đầu hàng, nhân dân nhiều nước Đông Nam Á đã nổi dậy, khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, tiêu biểu là In-đô-nê-xi-a (17/8/1945), Việt Nam (2/9/1945), Lào (12/10/1945)

- Phong trào lan nhanh sang Nam Á và Bắc Phi: Ấn Độ (1946-1950), Ai Cập (1952)

- Năm 1960, 17 nước châu Phi tuyên bố độc lập

- Ngày 1/1/1959, cách mạng Cu Ba giành thắng lợi

- Như vậy, đến giữa những năm 60 của thế kỷ XX hệ thống thuộc địa của CNTD về cơ bản đã bị sụp đổ

II Giai đoạn từ giữa những năm 60 đến giữa những năm 70 của thế kỷ XX

- Nét nổi bật của giai đoạn này là cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ăng-gô-la, Mô-dăm-bích, Ghi-nê Bít-xao chống lại thực dân Bồ Đào Nha

- Chính quyền Bồ Đào Nha tuyên bố trao trả độc lập cho Ghi-nê Bít-xao (9/1974), Mô-dăm-bích (6/1975), Ăng-gô-la (11/1975)

III Giai đoạn giữa những năm 70 đến giữa những năm 90 của thế kỷ XX

- Chủ nghĩa thực dân tồn tại dưới hình thức cuối cùng của nó là chế độ phân biệt chủng tộc (A-pác-thai)

- Sau nhiều năm đấu tranh kiên cường và bền bỉ của người da đen, chế độ phân biệt chủng tộc bị xoá bỏ (1993)

Câu hỏi: Trình bày những nét chính về quá trình đấu tranh giành độc lập của các nước châu Á, Phi và Mỹ La – tinh qua từng giai đoạn

Trang 25

đã giành độc lập (Trung Quốc, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a …)

- Sau đó, gần suốt nửa sau thế XX, tình hình châu Á lại không ổn định nhất là khu vực Đông Nam Á và Trung Đông bởi đã diễn ra nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, tranh chấp biên giới, lãnh thổ, phong trào ly khai

- Tuy nhiên, cũng từ nhiều thập niên qua một số nước châu Á đã đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế, những thành tựu to lớn về xã hội như Hàn Quốc, Trung Quốc, Sin-ga-po, Ấn Độ …Nhiều người dự đoán rằng thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của châu Á

II Trung Quốc

1 Sự ra đời nước CHND Trung Hoa:

- Ngày 1/10/1949, nước CHND Trung Hoa ra đời

- Ý nghĩa: Lật đổ ách đô hộ của chế độ phong kiến và đế quốc, bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do

2 Công cuộc cải cách mở cửa (1978 đến nay):

- Tháng 12/1978, Đảng cộng sản Trung Quốc đề ra đường lối mới, mở đầu cho công cuộc cải cách kinh tế - xã hội của đất nước

- Chủ trương xây dựng CNXH mang màu sắc Trung Quốc, lấy kinh tế làm trọng tâm, thực hiện cải cách và mở cửa

- Thành tựu: Tổng sản phẩm tăng bình quân hàng năm 9,6%, đứng hàng thứ 7 thế giới Thu nhập bình quân đầu người tính đến năm 1997 ở nông thôn là 2090,1 nhân dân tệ, ở thành thị là 5160,3 nhân dân tệ

- Đối ngoại: Trung Quốc thu được nhiều kết quả, góp phần củng cố địa vị đất nước trên trường quốc tế

Trang 26

Câu hỏi:

1 Trình bày tình hình châu Á trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai

2 Nguyên nhân nào làm cho tình hình châu Á trở nên không ổn định?

3 Trình bày các giai đoạn của cách mạng Trung Quốc từ 1949 đến nay (chú ý thành tựu của Trung Quốc từ 1978 đến nay)

BÀI 5

CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

I Tình hình Đông Nam Á trước và sau 1545:

- Trước chiến tranh thế giới II, hầu hết các nước Đông Nam Á đều là thuộc địa của các nước thực dân phương Tây

- Sau chiến tranh thế giới II, các dân tộc Đông Nam Á nổi dậy giành chính quyền (In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Lào …) Ngay sau đó, các dân tộc Đông Nam Á cầm súng chống thực dân trở lại xâm lược

- Tới giữa những năm 50 của thế kỷ XX, các nước Đông Nam Á lần lượt giành được độc lập

- Cũng từ giữa những năm 50 của thế kỷ XX, tình hình Đông Nam Á trở nên căng thẳng do chính sách can thiệp của Mỹ vào khu vực

- Đối ngoại:

+ Thái Lan, Phi-Lip-Pin tham gia khối quân sự Đông Nam Á

+ Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia chống Mỹ xâm lược

+ In-đô-nê-xi-a và Miến Điện thi hành chính sách hoà bình, trung lập

II Sự ra đời tổ chức ASEAN:

- Sau khi giành độc lập và đứng trước những yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, nhiều nước Đông Nam Á chủ trương thành lập một tổ chức liên minh khu vực nhằm cùng nhau hợp tác phát triển, đồng thời hạn chế ảnh hưởng các cường quốc bên ngoài đối với khu vực Ngày 8/8/1967, Hiệp hội các nước Đông Nam Á được thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan) gồm: In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-Lip-Pin, Xin-ga-Po và Thái Lan

- Mục tiêu của ASEAN là phát triển kinh tế và văn hoá thông qua những nỗ lực hợp tác chung giữa các nước thành viên, trên tinh thần duy trì hoà bình và ổn định khu vực

Trang 27

- Nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các nước thành viên như: cùng nhau tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau

- Từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, do vấn đề Cam – Pu – chia quan hệ giữa các nước ASEAN và ba nước Đông Dương trở nên căng thẳng, đối đầu nhau

III Từ “ASEAN 6” phát triển thành “ASEAN 10”:

- Năm 1984, Bru-nây trở thành thành viên thứ sáu

- Tháng 7/1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ bảy

- Tháng 7/1997, Lào và Mi-an-ma gia nhập ASEAN

- Tháng 4/1999, Cam-pu-chia được kết nạp vào ASEAN

Năm 1992, ASAN quyết định biến Đông Nam Á thành một khu vực mậu dịch tự

do

Năm 1994, ASEAN lập Diễn đàn khu vực

Tóm lại: Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, các nước Đông Nam Á đã giành được độc lập với mức độ khác nhau Trong nhiều thập niên qua các nước Đông Nam Á có bước phát triển mạnh mẽ về mọi mặt và là khu vực có tốc độ phát triển kinh

tế cao nhất trên thế giới

Khó khăn, thử thách: Khủng hoảng kinh tế, tiền tệ nhưng các nước Đông Nam

Á đang xích lại gần nhau để xây dựng đất nước

Câu hỏi:

1 Tình hình Đông Nam Á trước và sau 1945 Đến giữa những năm 50 của thế

kỷ XX, Đông Nam Á có sự phân hoá như thế nào về đường lối đối ngoại?

2 Hoàn cảnh ra đời và mục tiêu hoạt động của ASEAN?

3 Từ năm 1945 đến nay, các nước Đông Nam Á có những biến đổi nào?

4 Khó khăn và thuận lợi của Việt Nam sau khi gia nhập ASEAN?

- Năm 1960, 17 nước châu Phi tuyên bố độc lập, gọi là “Năm châu Phi”

Trang 28

- Sau khi giành độc lập, các nước châu Phi bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, xã hội và đã thu được nhiều thành tích

- Khó khăn: xung đột nội chiến, tình trạng đói nghèo, nợ nần chồng chất, dịch bệnh hoành hành

- Mục tiêu hiện nay: Để giải quyết các xung đột, khắc phục khó khăn về tinh tế, các nước châu Phi thành lập Tổ chức thống nhất châu Phi hay còn gọi là “Liên minh châu Phi”

II Cộng hoà Nam Phi:

- Trong hơn 3 thế kỷ, chính quyền da trắng đã thi hành nhiều chính sách phân biệt chủng tộc

- Dưới sự lãnh đạo của tổ chức “Đại hội dân tộc Phi”, người da đen tiến hành đấu tranh thủ tiêu chế độ phân biệt chủng tộc (1993)

- Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, các nước Mỹ La-tinh đã thu được nhiều thành tựu quan trọng: củng cố độc lập chủ quyền, dân chủ hoá sinh hoạt chính trị, cải cách kinh tế …

- Tuy nhiên, từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân khác nhau, tình hình kinh tế, chính trị ở nhiều nước Mỹ La-tinh gặp nhiều khó khăn, thậm chí có lúc căng thẳng

Trang 29

- Mục tiêu hiện nay của các nước Mỹ La-tinh là tiếp tục đấu tranh nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc của Mỹ về kinh tế và chính trị

II Cu ba – Hòn đảo anh hùng:

- Năm 1952, Mỹ thiết lập chế độ độc tài Ba-ti-xta

- Năm 1953, Phi-đen-ca-xtơ-rô phát động cuộc tấn công vào trại lính

Môn-ca-đa

- Ngày 1/1/1959, chế độ độc tài Ba-ti-xta bị lật đổ

- Sau thắng lợi của cách mạng, chính phủ tiến hành công cuộc cải cách đất nước: quốc hữu hoá các xí nghiệp, xây dựng chính quyền

- Mặc dù bị Mỹ cấm vận, Cu Ba đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, văn hoá

và giáo dục

Câu hỏi:

1 Trình bày những nét chung của Mỹ La – tinh trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai Quá trình đấu tranh giành độc lập của Mỹ La – tinh có khác gì so với châu Á và châu Phi ?

2 Theo em, khó khăn và mục tiêu của các nước Mỹ La – tinh hiện nay là gì?

BÀI 8

NƯỚC MỸ

I Tình hình kinh tế nước Mỹ sau chiến tranh thế giới II:

- Sau chiến tranh thế giới II, Mỹ trở thành nước tư bản giàu mạnh nhất thế giới + Chiếm hơn một nửa sản lượng công nghiệp thế giới

+ Sản lượng nông nghiệp gấp 2 lần sản lượng nông nghiệp Anh, Pháp, Tây Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản cộng lại

+ Nắm ¾ dự trữ vàng toàn thế giới

+ Là chủ nợ duy nhất của thế giới

+ Về quân sự: Mỹ có lực lượng quân sự mạnh nhất thế giới

- Nguyên nhân:

+ Mỹ ở xa chiến trường, không bị chiến tranh tàn phá

+ Được yên ổn để sản xuất, bán vũ khí và hàng hoá

+ Lợi dụng thành tựu của cách mạng khoa học – kỹ thuật

+ Giàu tài nguyên …

Trang 30

- Trong những thập niên sau, kinh tế Mỹ không còn giữ ưu thế tuyệt đối nữa

- Nguyên nhân làm cho kinh tế Mỹ suy giảm:

+ Bị Tây Âu và Nhật Bản vươn lên cạnh tranh

+ Kinh tế Mỹ không ổn định do xảy ra nhiều cuộc khủng hoảng và suy thoái + Do tham vọng theo đuổi bá chủ thế giới

+ Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp trong xã hội

II Sự phát triển về khoa học-kỹ thuật của Mỹ sau chiến tranh thế giới II:

- Mỹ là nơi khởi đầu cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật lần thứ II và đạt được những thành tựu: máy tính, máy tự động, hệ thống máy tự động, năng lượng nguyên

tử, năng lượng mặt trời … “Cách mạng xanh trong nông nghiệp”

- Ý nghĩa: kinh tế Mỹ không ngừng tăng trưởng và đời sống vật chất, tinh thần của người dân Mỹ có nhiều thay đổi nhanh chóng

III Chính sách đối nội và đối ngoại:

- Đối nội: Ban hành nhiều chính sách phản động

+ Cấm đảng cộng sản hoạt động

+ Loại bỏ những người tiến bộ ra khỏi bộ máy nhà nước

+ Ngăn cấm phong trào công nhân …

Trang 31

BÀI 9

NHẬT BẢN

I Tình hình Nhật Bản sau chiến tranh thế giới II:

- Chiến tranh thế giới II kết thúc, Nhật Bản là nước bại trận: bị quân đội nước ngoài chiếm đóng, mất hết thuộc địa, kinh tế bị tàn phá, xuất hiện những khó khăn bao trùm đất nước: thất nghiệp, thiếu lương thực, lạm phát …

- Cũng ngay sau chiến tranh, một loạt các cải cách dân chủ được ban hành, như ban hành Hiến pháp mới 1946: thực hiện cải cách ruộng đất, xoá bỏ chủ nghĩa quân phiệt …

- Ý nghĩa: Mang lại luồng không khí mới đối với các tầng lớp nhân dân và là một nhân tố quan trọng giúp Nhật Bản phát triển mạnh mẽ sau này

II Nhật Bản khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh:

- Tháng 6/1950, Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Triều Tiên, được coi là

“ngọn gió thần” đối với nền kinh tế Nhật Bản

- Sang những năm 60 của thế kỷ XX, Mỹ gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nền kinh tế Nhật lại có cơ hội mới để đạt được sự tăng trưởng “thần kỳ”, vượt qua các nước Tây Âu, vươn lên đứng hàng thứ hai trong thế giới tư bản

+ Tổng sản phẩm quốc dân đạt 183 tỉ USD, vươn lên đứng thứ hai thế giới sau

+ Truyền thống văn hoá, giáo dục lâu đời của người Nhật, tiếp thu những giá trị tiến bộ của thế giới nhưng vẫn giữ vững bản sắc dân tộc

+ Hệ thống tổ chức quản lý có hiệu quả công ty, xí nghiệp của Nhật Bản

+ Vai trò quan trọng của nhà nước trong việc đề ra các chiến lược phát triển

Trang 32

+ Nhật Bản rất quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo những con người có ý

chí vươn lên, cần cù lao động, đề cao kỷ luật và coi trọng tiết kiệm

- Hạn chế: Hầu hết năng lượng, nguyên liệu đều phải nhập từ nước ngoài, sự cạnh tranh chèn ép của Mỹ và các nước khác

- Trong thập kỷ 90, Nhật Bản bị suy thoái kéo dài

III Chính sách đối ngoại của Nhật Bản:

+ Hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ về chính trị và an ninh (ký với Mỹ Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật)

+ Giới cầm quyền Nhật thi hành một chính sách đối ngoại mềm mỏng về chính trị và tập trung vào phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại như trao đổi buôn bán, tiến hành đầu tư và viện trợ cho các nước

Câu hỏi:

1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Nhật Bản sau chiến tranh thế giới II

2 Những thành tựu của kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh thế giới II

3 Nguyên nhân dẫn đến sự phát triển và hạn chế của kinh tế Nhật Bản?

4 Nêu chính sách đối nội và đối ngoại của Nhật Bản sau chiến tranh thế giới II

I-ta Về chính trị, Giai cấp tư sản cầm quyền thu hẹp các quyền tự do dân chủ, xoá

Trang 33

II Sự liên kết khu vực:

- Khởi đầu là sự ra đời của “Cộng đồng than, thép châu Âu” vào tháng 4/1951, gồm 6 nước Pháp, Đức, I-ta-li-a, Bỉ …

- Tháng 3/1957, sáu nước trên cùng thành lập “Cộng đồng năng lượng nguyên

tử châu Âu”, rồi “Cộng đồng kinh tế châu Âu”

- Nguyên nhân dẫn đến liên kết:

+ Sáu nước trên có chung một nền văn minh, kinh tế không cách biệt nhau lắm,

mở rộng thị trường …

+ Các nước Tây Âu ngày càng muốn thoát khỏi dần sự lệ thuộc vào Mỹ

- Tháng 7/1967, ba cộng đồng trên sáp nhập thành Cộng đồng châu Âu

- Tháng 12/1991, Hội nghị Ma-a-xtơ-rích quyết định đổi tên Cộng đồng châu

Âu mang tên mới là Liên minh châu Âu(EU)

- Đến năm 1999, thành viên của EU là 15 nước, năm 2004 là 25 nước

Câu hỏi:

1 Nét nổi bật của các nước Tây Âu từ sau 1945 đến nay là gì?

2 Vì sao các nước Tây Âu có xu hướng liên kết với nhau?

3 Nêu những nguyên nhân phát triển kinh tế chung nhất và nguyên nhân đặc thù của Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu?

Trang 34

- Ở châu Âu: Liên Xô chiếm đóng và kiểm soát vùng đông nước Đức và phía đông châu Âu; vùng tây nước Đức và phía tây châu Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của

Mỹ và Anh

- Ở châu Á: Liên Xô duy trì nguyên trạng Mông Cổ; trao trả cho Trung Quốc những vùng đất đai đã bị Nhật chiếm đóng trước đây …

- Triều Tiên tạm thời quân đội Liên Xô và Mỹ chia nhau kiểm soát

- Các vùng còn lại của châu Á vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây

- Những thỏa thuận trên đã trở thành khuôn khổ trật tự thế giới mới, gọi là trật

tự hai cực I-an-ta do Liên Xô và Mỹ đứng đầu mỗi cực

II Sự hình thành Liên hợp quốc:

- Thành lập ngày 24/10/1945 tại Luân Đôn, trụ sở chính tại Mỹ

- Nhiệm vụ chính của Liên hợp quốc là duy trì hoà bình và an ninh thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của các dân tộc, thực hiện sự hợp tác quốc tế về kinh tế, văn hoá, xã hội …

- Trong hơn nửa thế kỷ qua, Liên hợp quốc giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì hoà bình an ninh thế giới, xoá bỏ chủ nghĩa thực dân và chế độ phân biệt chủng tộc, giúp các nước phát triển kinh tế, văn hoá

- Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc 9/1977 và là thành viên thứ 149

III Chiến tranh lạnh:

- Chiến tranh lạnh là chính sách thù địch về mọi mặt của Mỹ và các nước đế quốc trong quan hệ với Liên Xô và các nước XHCN

- Biểu hiện: Mỹ và các nước đế quốc chạy đua vũ trang, tăng cường ngân sách quân sự, thành lập các khối quân sự, tiến hành nhiều cuộc chiến tranh đàn áp …

Trang 35

IV Thế giới sau Chiến tranh lạnh:

- Tháng 12/1989, tổng thống Mỹ Bu-sơ và tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô cùng nhau tuyên bố chấm dứt “chiến tranh lạnh” Tứ đó, thế giới diễn ra theo bốn xu hướng:

- Một là, xu thế hoà hoãn và hoà dịu trong quan hệ quốc tế

- Hai là, thế giới xác lập trật tự thế giới mới đa cực, nhiều trung tâm

- Ba là, hầu hết các nước đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm

- Bốn là, từ đầu những năm 90 của TK XX, ở nhiều khu vực lại xảy ra những vụ xung đột hoặc nội chiến giữa các phe phái

- Tuy nhiên, xu thế chung nhất của thế giới ngày nay là hoà bình ổn định và hợp tác phát triển kinh tế Đây vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với mọi dân tộc bước vào thế kỷ XXI

+ Thời cơ: Mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị, có thể nhanh chóng đưa vận mệnh đất nước mình tiến lên kịp với thời đại

+ Thách thức: Hoặc là nhanh chóng tiến lên kịp với thời đại, hoặc sẽ bị tụt hậu rất xa, hoặc là “hoà đồng”, hoà nhịp với xu thế phát triển của thời đại, hoặc bị “hoà tan” đánh mất mình, đánh mất bản sắc dân tộc mình

Câu hỏi:

1 Trình bày các xu thế phát triển của thế giới ngày nay

2 Tại sao nói, hoà bình ổn định, hợp tác phát triển kinh tế vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với các dân tộc? Nhiệm vụ to lớn nhất của nhân dân ta hiện nay là gì?

BÀI 12

NHỮNG THÀNH TỰU CHỦ YẾU VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA

CÁCH MẠNG KHOA HỌC - KỸ THUẬT

I Những thành tựu chủ yếu của CM KH-KT:

- Trước hết, trong lĩnh vực khoa học cơ bản, con người đã đạt được những phát minh to lớn, đánh dấu bước nhảy vọt trong toán học, vật lý, hoá học và sinh học

- Hai là, những phát minh lớn về công cụ sản xuất mới nhất là sự ra đời của máy tín điện tử, máy tự động và hệ thống máy tự động

Trang 36

- Ba là, con người đã tìm ra những nguồn năng lượng mới như năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời, năng lượng gió và năng lượng thuỷ triều

- Bốn là, sáng chế những vật liệu mới như chất dẽo Pô-li-me

- Năm là, “Cuộc cách mạng xanh” trong nông nghiệp với những biện pháp cơ khí hoá, điện khí hoá, lai tạo giống …

- Sáu là, những tiến bộ thần kỳ trong lĩnh vực giao thông vận tải và thông tin liên lạc với những loại máy bay siêu âm khổng lồ, những tàu hoả tốc độ cao, phát sóng

vô tuyến qua hệ thống vệ tinh nhân tạo

- Trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ phóng thành công vệ tinh nhân tạo, tàu vũ trụ vào khoảng không vũ trụ, thăm dò sao kim, sao hoả …

II Ý nghĩa và tác động của CM KH-KT:

a Ý nghĩa:

- Thực hiện những bước nhảy vọt chưa từng thấy về sản xuất và năng suất lao động

- Nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của con người

- Những thay đổi lớn về cơ cấu dân cư lao động trong nông nghiệp giảm dần, tỉ

lệ dân cư lao động trong các ngành dịch vụ ngày càng tăng lên

b Tác động:

- Việc chế tạo các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh có sức tàn phá và huỷ diệt

- Nạn ô nhiễm môi trường, nhiễm phóng xạ nguyên tử, những tai nạn lao động

và tai nạn giao thông, những dịch bệnh mới …

Câu hỏi:

1 Nguyên nhân của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật từ năm 1945 đến nay?

2 Những thành tựu, ý nghĩa và tác dụng của cuộc CM – KT từ năm 1945 đến nay

Trang 37

PHẦN II LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1858 ĐẾN 1954

A LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1918

Phần này các em cần nắm vững những nội dung sau:

- Quá trình xâm lược của thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta từ năm 1858 đến năm 1884

- Các cuộc khởi nghĩa lớn trong phong trào Cần vương

- Cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế

- Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp và những biến chuyển về kinh tế, xã hội ở Việt Nam

- Phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX

BÀI 1 CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP 1858 ĐẾN 1884

I Nguyên nhân:

- Từ giữa thế kỷ XIX, các nước tư bản phương Tây đẩy mạnh xâm lược phương Đông để mở rộng thị trường, vơ vét nguyên liệu Việt Nam nằm trong hoàn cảnh đó nên không tránh khỏi cuộc xâm lược của Pháp

- Chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng, suy yếu

- Lấy cớ bảo vệ đạo Gia Tô, Pháp đã đem quân xâm lược nước ta

II Quá trình xâm lược của Thực dân Pháp và cuộc kháng chiến của nhân dân ta từ 1858 đến 1873:

1 Kháng chiến ở Đà Nẵng và ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ

- Rạng sáng ngày 1/9/1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lược nước ta Nhiều toán nghĩa binh phối hợp với quân triều đình chống Pháp

- Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu Hy Vọng của Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông

- Khởi nghĩa của Trương Định ở Gò Công làm cho quân Pháp khốn đốn và gây cho chúng nhiều thiệt hại

2 Kháng chiến lan rộng ra ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ:

Trang 38

- Triều đình Huế ngăn cản phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta

- Tháng 6/1867, Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ

- Phong trào chống Pháp diễn ra dưới nhiều hình thức: Một bộ phận kiên trì chống Pháp, một bộ phận dùng thơ văn lên án thực dân Pháp và tay sai, cổ vũ lòng yêu nước …

II Cuộc kháng chiến chống Pháp lan rộng ra toàn quốc từ 1873-1884:

- Sáng ngày 20 /11/1873, quân Pháp nổ súng đánh thành Hà Nội

- Nguyễn Tri Phương chỉ huy 7.000 quân cản giặc nhưng bị thất bại

- Sau đó, Pháp cho quân đi đánh chiếm Hải Dương, Hưng Yên …

- Ngay sau khi quân Pháp kéo đến Hà Nội, nhân dân ta đã anh dũng đứng lên kháng chiến Ngày 21/12/1873, quân Pháp đánh ra Cầu Giấu bị quân của Lưu Vĩnh Phúc phục kích

- Ngày 15/3/1874, triều đình Huế ký với Pháp Hiệp ước Giáp Tuất Hiệp ước Giáp Tuất đã gây làn sóng mạnh mẽ trong nhân dân cả nước

- Ngày 25/4/1882, Ri-vi-e gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Hoàng Diệu phải nộp thành Hạn trả lời chưa hết, Pháp nổ súng đánh thành

- Pháp đánh Bắc Kỳ lần II, nhân dân tích cực phối hợp với quân triều đình kháng chiến với mọi hình thức và vũ khí

- Ngày 18/8/1883, Pháp nổ súng tấn công cửa Thuận An Ngày 20/8, chiếm khu vực này Triều đình Huế hoảng hốt xin đình chiến

- Ngày 25/8/1883, triều đình Huế ký với Pháp Hiệp ước Quý Mùi (Hiệp ước Hác-măng) Nội dung: thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ

- Nhiều sĩ phu, văn thân là quan lại triều đình ở các địa phương đã phản đối lệnh bãi binh

- Ngày 6/6/1884, triều đình Huế ký với Pháp Hiệp ước Pa-tơ-nốt Nhân dân cả nước phản đối triều đình đầu hàng

- Kết quả, nhà nước phong kiến Việt Nam coi như sụp đổ Nước ta trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến

* Nguyên nhân thất bại:

Giai cấp phong kiến yếu hèn, không biết dựa vào dân để tổ chức kháng chiến Nhà nước không chịu canh tân đất nước để tạo thực lực chống ngoại xâm

* Nhận xét:

Ngày đăng: 23/06/2014, 13:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức đấu tranh - Vai trò thành viên hội đồng bộ môn trong việc tư vấn giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 ở các trường Trung học Cơ sở huyện An Phú
Hình th ức đấu tranh (Trang 9)
Hình thức đấu tranh - Vai trò thành viên hội đồng bộ môn trong việc tư vấn giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 ở các trường Trung học Cơ sở huyện An Phú
Hình th ức đấu tranh (Trang 12)
Hình thức  Tính chất  Chủ trương  Mục đích - Vai trò thành viên hội đồng bộ môn trong việc tư vấn giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 ở các trường Trung học Cơ sở huyện An Phú
Hình th ức Tính chất Chủ trương Mục đích (Trang 50)
Hình thức đấu tranh - Vai trò thành viên hội đồng bộ môn trong việc tư vấn giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 ở các trường Trung học Cơ sở huyện An Phú
Hình th ức đấu tranh (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w