Tuy nhiên, cùng với việc đem lại thu nhập đáng kểcho ngân hàng thì lĩnh vực tín dụng cũng là lĩnh vực có rủi ro lớn nhất, bên cạnh đócòn các rủi ro trọng yếu như: rủi ro lãi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 2Hà Nội, năm 2014
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Người hướng dẫn khoa học: TS HỒ HỒNG HẢI
Hà Nội, năm 2014
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Rủi ro tài chính trong Ngân hàng Thương Mại 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Phân loại 4
1.1.2.1 Rủi ro tín dụng 4
1.1.2.2 Rủi ro lãi suất 11
1.1.2.3 Rủi ro thanh khoản 14
1.1.2.4 Rủi ro tỷ giá 17
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính trong Ngân hàng thương mại20 1.2.1 Cơ chế điều hành của Ngân hàng Nhà nước và chính sách của Chính phủ20 1.2.2 Mức độ phát triển và sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô 21
1.2.3 Quy trình quản trị rủi ro và việc kiểm tra, giám sát thực hiện quy trình của các ngân hàng 22
1.2.4 Trình độ và năng lực của cán bộ ngân hàng 23
1.2.5 Đặc thù hoạt động kinh doanh và quy mô hoạt động của mỗi ngân hàng .23 1.3 Sự cần thiết của việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính trong Ngân hàng Thương mại 28
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á 30
2.1 Thực trạng rủi ro tài chính tại Ngân hàng TMCP Bắc Á 30
2.1.1 Đặc trưng của Ngân hàng TMCP Bắc Á 30
2.1.2 Các rủi ro tài chính của Ngân hàng TMCP Bắc Á giai đoạn 2011 - 2013 34
2.1.2.1 Rủi ro tín dụng 34
2.1.2.2 Rủi ro thanh khoản 43
2.1.2.3 Rủi ro lãi suất 46
2.1.2.4 Rủi ro tỷ giá 47
Trang 5Bắc Á 49
2.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng 49
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản 55
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro lãi suất 57
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tỷ giá 58
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẮC Á 60
3.1 Định hướng hoạt động quản trị rủi ro tài chính của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á giai đoạn 2013 – 2018 60
3.2 Giải pháp kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính tại Ngân hàng TMCP Bắc Á 61
3.2.1 Giải pháp kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng 61
3.2.2 Giải pháp kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro lãi suất 72
3.2.3 Giải pháp kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản 74
3.2.4 Giải pháp kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tỷ giá 79
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 6Bảng 1.1: Nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012 24
Bảng 2.1 : Bảng tăng vốn điều lệ qua các năm 30
Bảng 2.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức: 32
Bảng 2.3: Hoạt động kinh doanh năm 2011, 2012, 2013 33
Bảng 2.4: Dư nợ tín dụng 34
Bảng 2.5 : Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn 35
Bảng 2.6: Cơ cấu tín dụng theo loại tiền 36
Bảng 2.7: Cơ cấu tín dụng theo thành phần kinh tế 37
Bảng 2.8: Nợ quá hạn 38
Bảng 2.9: Nợ xấu 41
Bảng 2.10: Dự phòng tài chính 42
Bảng 2.11: Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro thanh khoản của NHNN 44
Bảng 2.12: Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro thanh khoản của BACABANK 45
Bảng 2.13: Bảng lãi suất huy động bình quân bằng VND qua các năm 46
Bảng 2.14: Doanh số mua bán ngoại tệ của BACABANK qua các năm 48
Trang 7RRTD : Rủi ro tín dụng
TGHD : Tỷ giá hối đoái
KDNT : Kinh doanh ngoại tệ
NH : Ngân hàng
RRLS : Rủi ro lãi suất
NHTW : Ngân hàng trung ương
NIR : tỷ lệ thu nhập lãi thuần
CtI : tỉ lệ chi phí lương và trợ cấp
LDR : tỷ lệ cho vay
LAD : tỷ lệ tài sản thanh khoản
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hoạt động tài chính bao gồm: hoạt động tín dụng, thanh toán quốc tế… đã vàđang là một trong những hoạt động kinh doanh chính đem lại nguồn thu chủ yếucho các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, cùng với việc đem lại thu nhập đáng kểcho ngân hàng thì lĩnh vực tín dụng cũng là lĩnh vực có rủi ro lớn nhất, bên cạnh đócòn các rủi ro trọng yếu như: rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá … Hậuquả của rủi ro tài chính đối với ngân hàng thường rất nặng nề, làm tăng thêm chi phícủa ngân hàng, thu nhập và lợi nhuận giảm, làm xấu đi tình hình tài chính và ảnhhưởng đến uy tín và vị thế của ngân hàng
Rủi ro tài chính luôn song hành với hoạt động tài chính, không thể loại bỏ hoàntoàn các rủi ro tài chính mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặcgiảm thiểu thiệt hại khi rủi ro xảy ra Đứng trên quan điểm quản lý toàn bộ hoạtđộng ngân hàng nói chung và hoạt động tài chính nói riêng, một tỷ lệ tổn thất dựkiến đối với hoạt động tài chính phải luôn được xác định trong chiến lược hoạt độngchung Khi ngân hàng kinh doanh với một mức tổn thất thấp hơn hoặc bằng mức tỷlệ tổn thất dự kiến thì đó là thành công trong lĩnh vực quản trị rủi ro Ngân hàngphải bằng nhiều biện pháp tác động đến hoạt động tài chính để hạn chế tối đa rủi rotài chính nhằm góp phần đạt tới mục tiêu hoạt động tài chính an toàn, hiệu quả trongtăng trưởng
Một ngân hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có năng lực tài chính mạnh vàquản lý rủi ro trong giới hạn cho phép sẽ tạo được niềm tin của khách hàng và nângcao được vị thế, uy tín đối với các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng trong và ngoàinước Đây là điều vô cùng quan trọng giúp ngân hàng đạt được mục tiêu tăngtrưởng và phát triển bền vững cũng như thực hiện thành công các hoạt động hợp tác,liên doanh liên kết trong xu thế hội nhập
Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á (BACABANK) là ngân hàng đang dầndần xây dựng được hình ảnh và thương hiệu có uy tín trong toàn ngành ngân hàng.Trong gần 20 năm qua BACABANK đã không ngừng phấn đấu vượt lên mọi khókhăn, thách thức, hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu đề ra Mặc dù là một trong nhữngngân hàng có truyền thống trong hoạt động đầu tư, nhưng khi các dự án đầu tư đi
Trang 9vào quỹ đạo, ngân hàng đã chú trọng vào hoạt động tín dụng và thanh toán quốctế… nói chung là các hoạt động về tài chính, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thunhập của BACABANK Do đó, việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tàichính để có biện pháp, chính sách phòng ngừa và hạn chế rủi ro tài chính luôn làvấn đề hết sức thiết yếu, nâng cao hiệu quả hoạt động của BACABANK Xuất phát
từ lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả mong muốn thông qua hoạt động học tập,nghiên cứu của mình sẽ góp phần nhỏ bé vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởngđến rủi ro tài chính, từ đó đề xuất những giải pháp tăng cường hiệu quả quản trị rủi
ro tài chính tại BACABANK nói riêng và hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)
nói chung, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á” để nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Nhằm hoàn thiện và góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và hạnchế rủi ro tài chính, kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của NHTMnói chung và NHTM Cổ phần Bắc Á nói riêng trong quá trình hoạt động
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính,nguyên nhân và các biện pháp nhằm kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tàichính
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu giữa lý luận và thực tế ảnh hưởng của các yếutố dẫn đến rủi ro tài chính, thực trạng rủi ro tài chính trong thời gian qua tạiBACABANK, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm, kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng,phòng ngừa và hạn chế rủi ro tài chính
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, phương pháp nghiên cứu được sử dụng làphương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trên cơ sở sử dụng các phươngpháp nghiên cứu cụ thể như tiếp cận hệ thống tiếp cận quá trình, so sánh, diễn giải,tổng hợp và phân tích kinh tế, đồ thị, bảng biểu…
5 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, tình hình kinh tế trong nước cũng như thế giới còn nhiềukhó khăn và biến động Ở trong nước, sau những nỗ lực thực hiện các chính sách
Trang 10kinh tế vĩ mô, nền kinh tế đã đạt được những kết quả nhất định: tăng cường ổn địnhkinh tế vĩ mô, lạm phát thấp hơn, và vẫn đảm bảo an sinh xã hội, phúc lợi xã hội.Tuy nhiên, kinh tế vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: tổng cầu nềnkinh tế còn thấp, nợ xấu của toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại vẫn cao, hàngtồn kho lớn, thị trường chứng khoán chưa thực sự khởi sắc … Kéo theo đó là hoạtđộng khó khăn của ngành ngân hàng Năm 2013 được đánh giá là năm có nhữngbước tiến khá vững chắc Bằng những chính sách đúng đắn, NHNN đã thành côngtrong kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá và thị trường vàng, từng bước giảm và ổnđịnh lãi suất, đặc biệt là thanh khoản cơ bản đã được điều tiết thành công Bên cạnhnhững kết quả đạt được, xét trên toàn hệ thống ngân hàng vẫn phải đối mặt vớinhiều khó khăn, thách thức do đặc thù của nền kinh tế Việt Nam Vì vậy, công táctái cơ cấu ngân hàng, nâng cao năng lực tài chính toàn hệ thống, xử lý nợ xấu… đã,đang và sẽ tiếp tục được NHNN đẩy mạnh thực hiện
Bắt kịp với thực tế nêu trên, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về rủi ro và côngtác quản trị rủi ro trong các ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi rothanh khoản … và đưa ra đươc các giải pháp nhằm quản lý rủi ro hiệu quả Qua quátrình nghiên cứu, tác giả nhận thấy chưa có đề tài nào tổng hợp tất cả các rủi ro ảnhhưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, từ đó đề xuất ra các phương phápkhái quát nhất, tổng hợp nhất cách quản trị rủi ro hiệu quả Do đó, tác giả đã chọn
đề tài nghiên cứu: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính tại Ngânhàng Thương mại Cổ phần Bắc Á”
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, kết cấu luận vănbao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính trong
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại
Chương 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Bắc Á
Chương 3: Giải pháp kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á
Trang 11CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI
RO TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
Rủi ro thường đi đôi với lợi ích, rủi ro càng cao thì lợi nhuận kì vọng càng lớn.Ngân hàng cần phải đánh giá đúng các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi
ro – lợi ích để tìm ra cơ hội tối ưu Do đó chấp nhận rủi ro là yêu cầu tất yếu Rủi rocủa ngân hàng gắn với việc giảm sút thu nhập ngoài dự kiến và những biện phápquản lý rủi ro của ngân hàng là kiểm soát rủi ro trong mức chấp nhận được
Rủi ro tài chính là rủi ro liên quan đến những thay đổi của những nhân tố như:tín dụng, lãi suất, tỷ giá, thanh khoản …
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các tổ chức kinh tế
và cá nhân, thể hiện dưới hình thức nhận tiền gửi của khách hàng, cho khách hàngvay, tài trợ thuê mua, bảo lãnh hay chiết khấu…
Trang 12Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh khi một hoặc các bên tham gia hợp đồng tíndụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại Đối với NHTM rủi ro tíndụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi củacác khoản cho vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng hạn Rủi
ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạtđộng mang tính chất tín dụng khác của NHTM như: hoạt động bảo lãnh, tài trợngoại thương, cho thuê tài chính…
b Các chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng
- Tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quáhạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100%
- Tỷ lệ nợ xấu
Theo QĐ 493/2005 và QĐ 18/2007 của NHNN thì Nợ xấu (NPL) là các khoản
nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5, cụ thể như sau:
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến
180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điềuchỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định.Các khoản nợ đượcmiễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồngtín dụng;Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 khác
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360
ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theothời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lầnthứ hai; Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 khác
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360
ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lêntheo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợlần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ
cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
Nợ quá hạnTổng dư nợ cho vay
Trang 13Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5khác.
- Tỷ lệ nợ mất vốn
Đây là tỷ lệ của những khoản nợ có khả năng mất vốn vì vậy để đảm bảo an toàncho hoạt động ngân hàng thì cần phải trích lập qũy dự phòng rủi ro cho nhữngkhoản vay thuộc nhóm này và phải luôn chú ý để tỷ lệ này ở mức thấp nhất có thể
để tránh RRTD
Tỷ lệ nợ mất vốn = Dư nợ mất vốn/ Tổng dư nợ * 100%
- Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Dự phòng rủi ro tín dụng là khoản tiền đã trích lập để dự phòng cho những tổnthất có thể xảy ra do khách hàng hoặc đối tác của ngân hàng thương mại không thựchiện nghĩa vụ theo cam kết Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng củangân hàng không tốt và rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải càng cao
Tỷ lệ DPRR đã trích lập = x 100%
c Phân loại rủi ro tín dụng
Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khácnhau theo các tiêu chí phân loại khác nhau Đối với ngân hàng, việc phân loại có ýnghĩa rất quan trọng trong việc thiết kế chính sách, quy trình, thủ tục và mô hình tổchức nhằm bảo đảm nhận biết đầy đủ các yếu tố làm phát sinh rủi ro và phân biệttrách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, giữa các khâu Thực tế cho thấy sự phân táchtrách nhiệm càng rõ ràng, càng cụ thể thì sẽ làm cho việc quản lý rủi ro hiệu quả.Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, rủi ro tín dụng có thể phân chia thành nhiềuloại khác nhau như sau:
* Theo tiêu chí thời hạn khoản vay
- Rủi ro theo các khoản vay ngắn hạn
- Rủi ro theo các khoản vay trung dài hạn
* Theo tiêu chí giai đoạn phát sinh rủi ro
DPRR đã trích lậpTổng dư nợ
Trang 14- Rủi ro trước khi cho vay: Là loại rủi ro xảy ra trong quá trình thẩm định, đánhgiá khách hàng.
- Rủi ro trong khi cho vay: Là loại rủi ro xảy ra trong quá trình giải ngân, tácnghiệp như giải ngân sai mục đích làm cho khoản vay không phát huy hiệu quả…
- Rủi ro sau khi cho vay: Là loại rủi ro xảy ra trong quá trình theo dõi khoảnvay, thu nợ
* Theo tiêu chí khách hàng
- Rủi ro khách hàng cá thể
- Rủi ro tổ chức kinh tế
- Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý
* Theo tiêu chí phạm vi xảy ra rủi ro
- Rủi ro cá lẻ/giao dịch: Được hiểu là rủi ro gắn với một giao dịch cụ thể nào đó,như đối với một khoản vay của khách hàng Loại rủi ro xuất phát chủ yếu từ đặcđiểm cá biệt của một khoản vay, một khách hàng
- Rủi ro hệ thống: Là loại rủi ro gắn với một nhóm khách hàng, chẳng hạn đốivới một ngành, thậm chí cả một nền kinh tế Loại rủi ro này mang tính chất vĩ mô
và liên quan đến việc quản lý danh mục tín dụng
* Theo tiêu chí tính chất của rủi ro
- Rủi ro do nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa…
- Rủi ro do nguyên nhân chủ quan như người vay hoặc người cho vay vô tìnhhoặc cố ý làm cho thất thoát vốn vay…
d Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
* Nguyên nhân từ phía ngân hàng
- Ngân hàng đưa ra chính sách tín dụng không phù hợp với nền kinh tế và thể lệcho vay còn sơ hở để khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của ngân hàng
- Do thông tin tín dụng không đầy đủ Ngân hàng có một cái nhìn không toàndiện về khách hàng cũng như tình hình tài chính của họ Điều đó dẫn đến sự sai lệch
Trang 15trong việc đánh giá hiệu quả của các khoản vay, cho vay quá khả năng chi trả củakhách hàng.
- Trình độ chuyên môn của cán bộ ngân hàng nói chung và của cán bộ tín dụngnói riêng còn hạn chế Cán bộ tín dụng ngân hàng thiếu năng lực xử lý các thông tintín dụng để bảo vệ và giám sát khoản vay Nên việc đánh giá các dự án, hồ sơ xinvay còn chưa tốt, còn xảy ra tình trạng dự án thiếu tính khả thi mà vẫn cho vay
- Ngân hàng đôi khi quá chú trọng về lợi nhuận, đặt những khoản vay có lợinhuận cao hơn những khoản vay lành mạnh
- Sự cạnh tranh không lành mạnh với các ngân hàng khác để đạt được tỷ trọngcho vay nhiều hơn Cạnh tranh không lành mạnh ở đây có thể hiểu rằng ngân hàng
đó bỏ qua một số bước kiểm định các khoản cho vay, hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng,đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nhằm lôi kéo khách hàng
- Hoạt động kiểm tra, kiểm soát chưa được tiến hành thường xuyên Nhân viêntín dụng không nắm bắt được tình hình tín dụng của khách hàng cũng như môitrường tín dụng của nền kinh tế Do vậy, hoạt động sai sót, không nắm bắt kịp thờicác khoản cho vay có vấn đề
- Do tình trạng tham nhũng, tiêu cực diễn ra trong nội bộ ngân hàng Cán bộngân hàng còn thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp như: thôngđồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn, cho vay khống, cho vay thiếu tài sảnđảm bảo, đôi khi còn nể nang trong quan hệ khách hàng
* Nguyên nhân từ phía khách hàng
- Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thiếu sự linh hoạt, trình độ kinh doanh kém,năng lực quản lý yếu không cải tiến quy trình công nghệ, không trang bị máy móchiện đại, không thay đổi mẫu mã hoặc nghiên cứu nâng cao chất lượng sảnphẩm dẫn tới sản phẩm sản xuất ra thiếu sự cạnh tranh, bị ứ đọng trên thị trườngkhiến cho doanh nghiệp không có khả năng thu hồi vốn trả nợ cho ngân hàng
- Khách hàng gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu tài sản Doanh nghiệp cóthể nộp báo cáo tài chính không chính xác, cố ý đưa ra số liệu sai sự thật, phản ánhkhông đúng thực trạng sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của đơn vị Lợi
Trang 16dụng khe hở về giấy tờ sở hữu tài sản, doanh nghiệp có thể đem thế chấp một tài sảnở nhiều ngân hàng khác nhau.
- Sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh,không đúng phương án đã nêu nên không trả được nợ đúng hạn hoặc không trảđược nợ Doanh nghiệp có thể vay vốn ngắn hạn nhưng lại dùng để mua sắm tài sảncố định và bất động sản
- Khách hàng có chủ ý lừa gạt, chiếm dụng vốn cố tình không trả nợ ngân hànghoặc lừa đảo ngân hàng rồi bỏ trốn
- Doanh nghiệp bị lừa đảo trong kinh doanh hoặc bạn hàng của doanh nghiệpgặp rủi ro thì ngân hàng cũng gặp khó khăn trong việc thu nợ đúng hạn
- Nhiều nguyên nhân rủi ro khách quan như thiên tai, trộm cắp có thể gây thiệthại cho doanh nghiệp và có nguy cơ dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng
* Nguyên nhân khác
- Do sự thay đổi bất thường của các chính sách, do thiên tai bão lũ, do nền kinh
tế không ổn định, khiến cho cả ngân hàng và khách hàng không thể ứng phó kịp
- Do môi trường pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở dẫn tới khôngkiểm soát được các hiện tượng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của khách hàng
- Do sự biến động về chính trị xã hội trong và ngoài nước gây khó khăn chodoanh nghiệp dẫn tới rủi ro cho ngân hàng
- Ngân hàng không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập trongtrình độ chuyên môn cũng như công nghệ ngân hàng
- Do sự biến động của kinh tế như suy thoái kinh tế, biến động tỷ giá, lạm phátgia tăng ảnh hưởng tới doanh nghiệp cũng như ngân hàng
- Sự bất bình đẳng trong đối xử của Nhà nước dành cho các NHTM khác nhau
- Chính sách Nhà nước chậm thay đổi hoặc chưa phù hợp với tình hình pháttriển đất nước
Trang 17e Nhận biết rủi ro tín dụng
Dấu hiệu của các khoản tín dụng có vấn đề có thể xếp thành các nhóm sau:
* Dấu hiệu tài chính: Các chỉ số thanh khoản cho thấy dấu hiệu suy yếu, các chỉsố khả năng sinh lời cho thấy dấu hiệu suy yếu, cơ cấu vốn không hợp lý, các vòngquay hoạt động thể hiện sự suy yếu…
* Dấu hiệu phi tài chính
- Dấu hiệu liên quan đến ngân hàng: Giảm sút mạnh số dư tiền gửi, công nợ giatăng, mức độ vay thường xuyên, yêu cầu khoản cho vay vượt quá nhu cầu dự kiến,chấp nhận sử dụng nguồn tài trợ lãi suất cao, chậm thanh toán nợ gốc và lãi chongân hàng…
- Dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách hàng: Có sự thay đổi
về cơ cấu nhân sự trong hệ thống quản trị, xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống điềuhành, thuyên chuyển nhân viên quá thường xuyên, tranh chấp trong quá trình quản
lý chi phí quản lý bất hợp lý, quản lý có tính gia đình…
- Dấu hiệu thuộc về kỹ thuật và thương mại: Khó khăn trong phát triển sản phẩmmới, hoặc không có sản phẩm thay thế, thay đổi thị trường: tỷ giá, lãi suất, thay đổithị hiếu, cập nhật kỹ thuật mới, mất nhà cung ứng hoặc khách hàng lớn, thêm đốithủ cạnh tranh, những thay đổi chính sách của Nhà nước, đặc biệt chú ý đến sự tácđộng của các chính sách thuế, điều kiện thành lập và hoạt động, môi trường, sảnphẩm có tính thời vụ cao, có biểu hiện cắt giảm chi phí…
- Dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính: Chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chínhhoặc chậm trễ, trì hoãn nộp báo cáo tài chính; những kết luận về phân tích tài chínhcho thấy: Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên, khả năng tiền mặtgiảm, tăng doanh số bán nhưng lãi giảm hoặc không có, các tài khoản hạch toán vốnđiều lệ không khớp, những thay đổi về tỷ lệ lãi gộp và lãi ròng trên doanh số bán,lượng hàng hóa tăng nhanh hơn doanh số bán, số khách hàng nợ tăng nhanh và thờigian thanh toán của các con nợ được kéo dài, kết quả kinh doanh lỗ, cố tình làm đẹpBảng cân đối tài sản bằng Tài sản vô hình, tăng giá trị quá cao thông qua việc tínhlại tài sản, lệ thuộc vào những sản phẩm bất thường để tạo lợi nhuận…
Trang 18- Các dấu hiệu phi tài chính khác: Có sự xuống cấp của cơ sở kinh doanh, hàngtồn kho tăng do không bán được, hư hỏng, lạc hậu, có sự kỷ luật với cán bộ chủchốt…
1.1.2.2 Rủi ro lãi suất
a Khái niệm
Lãi suất là giá cả của một khoản vay, phần giá trị dôi ra ngoài số vốn gốc banđầu mà người đi vay trả cho người cho vay về việc sử dụng vốn của người đó trongmột khoản thời gian nhất định
Rủi ro lãi suất là những rủi ro mà các chủ thể kinh tế gặp phải khi có biến độnglãi suất Nếu như toàn bộ các chủ thể kinh tế đều có nguy cơ gặp rủi ro thì tất nhiênngân hàng và các tổ chức tín dụng cũng là những đơn vị dễ gặp rủi ro nhất do đặcthù hoạt động của tổ chức này Rủi ro lãi suất phát sinh khi lãi suất ngân hàng thayđổi làm Ngân hàng bị thiệt hại do giảm lợi nhuận và giảm giá trị ròng của ngânhàng
b Vai trò của lãi suất đối với ngân hàng thương mại
- Lãi suất đóng vai trò như một đòn bẩy kinh tế cực kỳ lợi hại trong một ngânhàng
- Trong hoạt động huy động vốn: lãi suất cho phép ngân hàng xác định quy mônguồn vốn phù hợp với các mức lãi suất và chi phí chấp nhận được
- Trong hoạt động cho vay: lãi suất cho phép ngân hàng chọn lựa được kháchhàng mình mong muốn
Tóm lại, lãi suất tác động đến cả đầu vào và đầu ra của ngân hàng, nên khi lãisuất thay đổi ngân hàng sẽ đối mặt với một loại rủi ro tiềm tàng, đó là rủi ro lãi suất
c Nguyên nhân của rủi ro lãi suất
> Sự không phù hợp về nguồn vốn và tài sản
- Căn cứ vào kỳ hạn đặt lại lãi suất mà ngân hàng chia tài sản và nguồn vốnthành hai loại: nhạy cảm với lãi suất và không nhạy cảm với lãi suất:
Trang 19* Tài sản nhạy cảm LS là những tài sản sẽ đáo hạn trong thời gian ngắn nhưtiền gửi tại NHNN, tiền gửi tại các TCTD khác, các chứng khoán ngắn hạn/thanhkhoản, cho vay ngắn hạn, cho vay trung dài hạn sắp đến hạn trả, cho vay trung dàihạn có lãi suất thả nổi,… và khi tái đầu tư thì sẽ được trả theo lãi suất thị trường
* Tài sản không nhạy cảm LS là những tài sản sẽ đáo hạn trong thời gian dàinhư các khoản cho vay trung-dài hạn, đầu tư trung-dài hạn,… có lãi suất cố địnhhoặc không có lãi suất xác định trước hoặc không sinh lãi
* Nguồn vốn nhạy cảm LS là những khoản huy động sẽ phải hoàn trả trongthời gian ngắn như tiền gửi ngắn hạn, tiền vay ngắn hạn, tiền huy động trung dàihạn sắp đến hạn trả,… và khi huy động nguồn vốn bổ sung thì sẽ phải trả theo lãisuất thị trường
* Nguồn vốn không nhạy cảm LS là những khoản mục nguồn vốn có thời gian
sử dụng dài như tiền gửi trung dài hạn, giấy tờ có giá trung dài hạn, vốn chủ sở hữu,
… có lãi suất cố định hoặc không phải trả lãi
> Sự không phù hợp về kỳ hạn đặt giá của nguồn vốn và tài sản được đo bằngkhe hở lãi suất:
Khe hở lãi suất = tài sản nhạy cảm lãi suất – nguồn nhạy cảm lãi suất
- Nếu NV và TS có sự không phù hợp về kì hạn đặt giá dẫn đến Khe hở LS #
0, gây ra rủi ro về LS
>Sự thay đổi của lãi suất thị trường ngược chiều với dự kiến
Ngân hàng luôn nghiên cứu và dự báo lãi suất Tuy nhiên trong nhiều trườnghợp ngân hàng không thể dự báo chính xác những thay đổi của lãi suất Và chínhnhững thay đổi ngoài dự kiến của lãi suất đó gây nên rủi ro lãi suất cho ngân hàng
* Nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất dương:
- Khi lãi suất trên thị trường tăng, chênh lệch lãi suất tăng
- Khi lãi suất trên thị trường giảm, chênh lệch lãi suất giảm
* Nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất âm:
- Khi lãi suất thị trường tăng ,chênh lệch lãi suất giảm
Trang 20- Khi lãi suất thị trường giảm,chênh lệch lãi suất tăng
> Ngân hàng sử dụng lãi suất cố định trong các hợp đồng
Khi lãi suất cố định thì thời hạn nguồn và tài sản là yếu tố tạo ra rủi ro lãi suấttiềm năng
Khoản đi vay/cho vay thường có kì hạn đặt lại lãi suất là thời hạn vay cho nêntrong kì hạn đặt lãi suất khi lãi suất có tăng hay giảm thì mức lãi suất áp dụng vẫnkhông thay đổi
d Phân biệt rủi ro lãi suất
- Rủi ro về thu nhập: là khả năng suy giảm thu nhập lãi ròng của ngân hàng khilãi suất thị trường biến động Đây là sự rủi ro mà sự thay đổi lãi suất sẽ khiến các chiphí về huy động vốn và các khoản lãi thu được từ các khoản cho vay thay đổi nhữnglượng khác nhau Điều này khiến cho thu nhập của ngân hàng bị thay đổi theo
- Rủi ro giảm giá trị tài sản
Loại rủi ro lãi suất này sẽ khiến cho giá trị của tài sản có và tài sản nợ của ngânhàng thay đổi những lượng khác nhau làm cho giá trị thị trường của vốn chủ sở hữuthay đổi theo Giá trị thị trường của tài sản có hay nợ dựa trên khái niệm giá trị hiệntại của tiền tệ Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên mức chiết khấu giá trị tài sảncũng tăng lên và do đó, giá trị tài sản có và tài sản nợ giảm xuống Ngược lại, nếulãi suất thị trường giảm thì giá trị tài sản có và tài sản nợ tăng lên Như vậy có thểthấy giá trị ròng của ngân hàng luôn thay đổi không ngừng và phụ thuộc vào tìnhhình lãi suất trên thị trường
Mục tiêu quan trọng trong hoạt động quản trị rủi ro lãi suất là bảo vệ thu nhập
dự kiến ở mức tương đối ổn định bất chấp sự thay đổi của lãi suất Để đạt được mụctiêu này, ngân hàng phải duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) cố định
Hệ số chênh lệch lãi thuần (NIM) = (Thu nhập lãi – Chi phí lãi)*100/ Tài sản cósinh lời
Trong đó:
- Thu nhập lãi: lãi cho vay, đầu tư, lãi tiền gửi tại ngân hàng khác, lãi đầu tưchứng khoán…
Trang 21- Chi phí lãi: chi phí huy động vốn, đi vay
- Tổng tài sản có sinh lời = Tổng tài sản có – Tiền mặt & Tài sản cố định
1.1.2.3 Rủi ro thanh khoản
a.Khái niệm
Thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụtài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch như chi trả tiền gửi, cho vay,thanh toán và các hoạt động giao dịch tài chính khác
Rủi ro thanh khoản phát sinh trong quá trình Ngân hàng huy động vốn nóichung và trong quá trình quản lý các trạng thái tiền tệ của Ngân hàng Rủi ro thanhkhoản bao gồm rủi ro do việc không có khả năng huy động được tài sản theo cácthời điểm đáo hạn và lãi suất phù hợp cũng như rủi ro do việc không có khả năng thanh
lý được một tài sản với một giá cả hợp lý và trong một khoản thời gian phù hợp
b Nguyên nhân
* Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, chính sách kinh tế vĩ mô Để kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ
mô, NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt bằng công cụ lãi suất: Lãi suấthuy động vốn bằng đồng Việt Nam của các tổ chức (trừ TCTD) và cá nhân gồm cảkhoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức không vượt quá 14%/năm Khi lãi suấthuy động được ấn định ở mức như vậy thì khả năng thu hút vốn từ dân cư đối vớicác NHTM đặc biệt là các NHTM quy mô nhỏ là vô cùng khó khăn Chưa kể, khảnăng tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với NHTM cũng là một trong những nhân tố gâynên rủi ro thanh khoản cho NHTM Việt Nam
Thứ hai, việc huy động vốn gặp nhiều khó khăn, bởi lãi suất huy động thấphơn tỷ suất lợi nhuận của một số kênh đầu tư khác Một ví dụ điển hình là: trong khilãi suất tiết kiệm tiền đồng trong năm 2009 chỉ khoảng 8%/năm, thì giá nhà ở và vậtliệu xây dựng tăng 10,2%, giá vàng tăng 35,1%, VN-Index tăng 86,02% Mặc dùmức lãi suất tiết kiệm như trên không thấp, nhưng các ngân hàng vẫn khó thu hútlượng tiền tiết kiệm mới Trong khi đó, một phần tiền gửi tiết kiệm với lãi suất cao
Trang 22trong năm trước nay đáo hạn đã không được gửi lại tiết kiệm, mặc dù các NHTM đãtăng lãi suất huy động.
* Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, Cơ cấu khách hàng và chất lượng tín dụng kém: Về phía các NHTM,điều kiện kinh doanh thuận lợi trong những năm gần đây đã làm nảy sinh tư tưởngchủ quan, tăng trưởng tín dụng quá nóng trong khi lại buông lỏng chính sách quảntrị rủi ro làm mất cân đối tương quan cơ bản trong cơ cấu tài sản, không đảm bảođúng các tỷ lệ an toàn theo tiêu chuẩn của NHNN Việt Nam Ngân hàng chủ yếu tậptrung tín dụng vào một số khách hàng lớn hoặc tỷ trọng tín dụng cho một ngành.Trong bối cảnh đó, khi thị trường có biến động bất ngờ, khách hàng đến rút tiền thìngân hàng khó có thể xoay chuyển kịp thời, dẫn đến bị mất thanh khoản do cơ cấuđầu tư
Thứ hai, không cân xứng về kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ Trong điềukiện thị trường biến động nhanh, người gửi tiền thường chọn kỳ hạn ngắn Do vậy,
tỷ trọng huy động vốn kỳ hạn ngắn trong tổng số vốn huy động cao, trong khi nhucầu vay vốn thường dài hơn, nên nhiều NHTM đã dùng vốn huy động ngắn hạn đểcho vay trung, dài hạn vượt quá tỷ lệ quy định (Theo Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD, tỷ lệ vốnngắn hạn tài trợ cho vay trung dài hạn là 40% đối với NHTM và 30% đối với cácTCTD khác) Do vậy, mất cân đối cơ cấu kỳ hạn cũng tiềm ẩn rủi ro thanh khoản.Thực tế, tình hình huy động vốn trung và dài hạn của các TCTD còn gặp nhiều khókhăn, dẫn đến các rủi ro tiềm ẩn do chênh lệch về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sửdụng vốn Vì thế, Ngày 10/8/2009, NHNN đã ban hành Thông tư số 15/2009/TT-NHNN quy định tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vaytrung hạn và dài hạn đối với các TCTD hoạt động tại Việt Nam là 30%
Thứ ba, quy mô vốn điều lệ của NHTM Việt Nam còn ít, tiềm lực tài chínhcòn chưa đủ mạnh, điều này khiến cho hoạt động của các NHTM trở nên khó khăn,khả năng đảm bảo tỷ lệ CAR cũng gặp nhiều trở ngại
Vốn điều lệ thấp, năng lực tài chính còn hạn chế, khiến các NHTM Việt Namkhó khăn trong việc đáp ứng hệ số CAR như quy định Điều này cũng là một trong
Trang 23những nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam trongmấy năm trở lại đây.
c Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và các loại rủi ro khác: Rủi ro thanh
khoản và các loại rủi ro khác có mối quan hệ mật thiết với nhau Rủi ro thanh khoảnthường là hệ quả với nhiều rủi ro khác Rủi ro thanh khoản cũng là rủi ro tài chính
do tính lỏng của tài sản không ổn định Một tổ chức tài chính có thể mất khả năngthanh khoản nếu chỉ số tín nhiệm tín dụng của tổ chức này giảm sút, tổ chức này đốimặt với tình trạng lượng tiền ra ồ ạt không dự kiến được trước hay một sự kiện nào
đó khiến cho các đối tác không muốn giao dịch hoặc cho vay đối với tổ chức đó.Nếu một đối tác vay tiền của ngân hàng có nguy cơ vỡ nợ thì ngân hàng sẽ phải huyđộng tiền từ những nguồn khác để thanh toán khoản đi vay của ngân hàng, bù đắpvào chi trả này Nếu ngân hàng không có khả năng huy động tiền từ các nguồn khác
để thanh toán khoản nợ thì chính ngân hàng này cũng phải đối mặt với rủi ro vỡ nợ.Như vậy, rủi ro thanh khoản gắn liền với rủi ro tín dụng Hay trong trường hợp lãisuất và tỷ giá biến động bất lợi, NHTM khó khăn trong việc huy động vốn, lúc đó,rủi ro thanh khoản hoàn toàn có thể xảy ra vì khả năng thanh toán của NHTM bịhạn chế
d Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là rủi ro nguy hiểm nhất của ngân hàng, có liên quan đến sựsống còn của ngân hàng Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo đượckhả năng thanh toán, tức là phải đáp ứng được các nhu cầu thanh toán trong hiện tại,tương lai và các nhu cầu thanh toán đột xuất Một khi rủi ro thanh khoản xuất hiệnthì nó không chỉ ảnh hưởng đến bản thân NHTM mà còn ảnh hưởng đến cả một nềnkinh tế xã hội
-Đối với NHTM
Thứ nhất, nếu rủi ro thanh khoản xảy ra,, tùy mức độ nghiêm trọng, NHTM cóthể phải chịu:.chuyển hóa các tài sản có thanh khoản thành tiền với chi phí cao
Trang 24Tiếp cận với thị trường tiền tệ để tăng vốn với những điều kiện khắt khe hơn, vídụ, phải có tài sản thế chấp, chịu mức lãi suất cao, không được tuần hoàn nợ cũ, hạnmức tín dụng bị xem xét lại thường xuyên hoặc bị từ chối cho vay
Đình trệ hoạt động dẫn đến giảm thu nhập
Mất uy tín dẫn đến mất khách hàng, đặc biệt là khách hàng truyền thống và cơquan quản lý
1.1.2.4 Rủi ro tỷ giá
a Khái niệm
Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) được hiểu là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theođồng nội tệ Đây chính là giá cả của ngoại tệ trên thị trường và được xác định dựatrên quan hệ cung cầu về ngoại tệ Được coi là mấu chốt trong quản lý kinh tế vĩ
mô, TGHĐ có tác động ngược trở lại đến các mối quan hệ kinh tế, lên cán cân thanhtoán quốc tế, lên giá cả hàng hoá trong nước và lưu thông tiền tệ Nhìn chung,TGHĐ được chia thành nhiều loại khác nhau tuỳ vào mục đích xem xét TGHĐ danh nghĩa là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo nội tệ và chưa tính đếnsức mua của đồng tiền TGHĐ thực là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo giátương đối giữa các nước Tỷ giá này tăng lên đồng tiền trong nước được coi là bịgiảm giá thực so với đồng tiền nước ngoài và khi tỷ giá này giảm thì đồng tiền trongnước được coi là bị tăng giá thực so với đồng tiền nước ngoài TGHĐ hiệu quả thực
là tỷ giá được điều chỉnh theo một số các tỷ giá thực của các nước đối tác thươngmại Tỷ giá này được xem là thước đo hữu hiệu khả năng cạnh tranh của một nướctrong quan hệ thương mại với các nước khác bởi nó xét đến tỷ giá thực giữa đồngtiền của một nước với nhiều nước tham gia trao đổi thương mại với nước đó TGHĐthực cân bằng là mức tỷ giá mà tại đó nền kinh tế đồng thời đạt cân bằng bên trong(cân bằng trên thị trường hàng hoá phi mậu dịch) và cân bằng bên ngoài (cân bằngtài khoản vãng lai) Tỷ giá thực cân bằng có mối quan hệ mật thiết với các biến sốkinh tế khác, nó thể hiện độ nhạy của các biến kinh tế đối với chính sách kinh tế vĩ
mô đặc biệt là trong ngắn và trung hạn
Rủi ro tỷ giá là khả năng xảy ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn phát sinh do có
sự biến động của tỷ giá hối đoái
Trang 25b Nguyên nhân
Thứ nhất, các ngân hàng giao dịch các hợp đồng tiền nước ngoài nhằm phụcvụ cho khách hàng và cho chính bản thân mình
Thứ hai, các ngân hàng đầu tư vào tài sản có và huy động vốn bằng ngoại tệ
Cả hai nguyên nhân này tạo ra một xu hướng trạng thái ngoại hối ròng (trườnghay đoản) trong mua bán ngoại hối và trong cơ cấu tài sản bằng ngoại tệ Chúng ta
sẽ thấy rằng, nếu tỷ giá biến động càng mạnh thì rủi ro ngoại hối càng lớn Mộttrạng thái ngoại hối dương là trạng thái ngoại hối trường ròng với một loại ngoại tệ(tức là tài sản nợ bằng ngoại hối nhiều hơn tài sản có bằng ngoại hối đối với mộtloại ngoại tệ) và khi trạng thái ngoại hối là trường ròng thì ngân hàng phải đối mặtvới rủi ro ngoại hối khi đồng tiền đó giảm giá so với đồng nội tệ Và tương tự chúng
ta sẽ có một trạng thái ngoại hối âm là trạng thái ngoại hối đoản ròng đối với mộtloại ngoại tệ, và khi mà trạng thái ngoại hối của một đồng tiền đoản ròng thì ngânhàng phải đối mặt với với rủi ro ngoại hối khi đồng tiền đó lên giá so với đồng bảntệ Như vậy, khi trạng thái ngoại hối của một ngoại tệ là khác 0 thì ngân hàng luônluôn phải đối phó với rủi ro ngoại hối, khi tỷ giá của ngoại tệ biến động so với đồngbản tệ
Trong môi trường toàn cầu hóa tài chính – ngân hàng, các nhà quản trị ngânhàng càng phải đối mặt với vấn đề rủi ro ngoại hối nhiều hơn Những rủi ro này cóthể phát sinh thông qua các hoạt động giao dịch ngoại hối, cho vay bằng ngoại tệ,mua các chứng khoán được phát hành bằng ngoại tệ, hoặc là phát hành các chứngkhoán nợ bằng ngoại tệ để duy trì vốn
c Bộ phận cấu thành của rủi ro tỷ giá
Như phần trên đã nói: rủi ro tỷ giá được cấu thành do hai hoạt động: mua bánngoại hối và hoạt động trên tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ Chính vì thế màchúng ta sẽ xem xét hai yếu tố cấu thành rủi ro tỷ giá đối với một NHTM
> Hoạt động mua bán ngoại tệ
Thị trường ngoại hối của thế giới đã trở thành thị trường lớn nhất trong thịtrường tài chính, với doanh số mua bán chục nghìn tỷ USD mỗi ngày Hơn nữa, thị
Trang 26trường này thực chất hoạt động 24/24 giờ mỗi ngày Bắt đầu từ Sydney, Tokyo,London đến Newyork Do đó, rủi ro ngoại hối có thể phát sinh vào bất cứ khi nào,ngay cả khi ngân hàng đã đóng cửa ngừng giao dịch Trạng thái ngoại hối của ngânhàng phản ánh 4 hoạt động của ngân hàng trên thị trường ngọai hối có thể liệt kênhư sau:
- Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng nhằm mục đích thanh toán các hợpđồng ngoại thương
- Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho mình) nhằm mục đích thựchiện đầu tư trực tiếp hay gián tiếp
- Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho mình) nhằm điều chỉnh trạngthái ngoại hối của đồng tiền đó để giảm rủi ro ngoại hối
- Mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích đầu cơ trong việc dự tính sự biến độngcủa tỷ giá
Hai hoạt động đầu, ngân hàng thường thực hiện cho khách hàng để thu phí, và
do đó, rủi ro ngoại hối ngân hàng không phải gánh chịu Hoạt động thứ ba, ngânhàng tiến hành nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối, tức là nhằm giảm gủi rongoại hối Như vậy, rủi ro ngoại hối thực chất chỉ liên quan đến trạng thái ngoại hốimở đối với hoạt động mua bán mang tính chất đầu cơ, tức là hoạt động thứ 4 Trạngthái ngoại hối mở thường được thực hiện trong các giao dịch giữa các ngân hàngvới nhau trên thị trường ngoại hối và đặc biệt với các NHTM và các ngân hàng đầu
tư, những ngân hàng tạo thị trường bằng cách yết tỷ giá mua bán hai chiều (Bid-ask)đối với các ngoại tệ giao dịch
> Trạng thái tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ
Khía cạnh thứ hai của rủi ro ngoại hối mà các ngân hàng phải chịu là sự khôngcân xứng giữa tài sản có và tài sản nợ đối với từng loại ngoại tệ Tài sản có bằngngoại tệ là các khoản mục, các bảng tổng kết tài sản như: các khoản cho vay bằngngoại tệ, các chứng khoán bằng ngoại tệ, tiền gửi bằng ngoại tệ ở ngân hàng khác,tiền mặt bằng ngoại tệ… Tài sản nợ bằng ngoại tệ là các khoản mục trên bảng tổngkết tài sản như: phát hành các chứng chỉ tiền gửi bằng ngoại tệ, phát hành trái phiếu
Trang 27châu Âu, và các hình thức huy động vốn bằng ngoại tệ Do tính chất toàn cầu hóathị trường tài chính đã tạo ra những khả năng to lớn để tăng nguồn vốn của các ngânhàng bằng các loại ngoại tệ khác nhau Đây là lợi thế to lớn không những đa dạnghóa nguồn vốn và sử dụng bằng ngoại tệ, và còn tạo ra những cơ hội để tăng đượclợi tức đầu tư và giảm được chi phí vốn huy động.
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính trong Ngân hàng thương mại
1.2.1 Cơ chế điều hành của Ngân hàng Nhà nước và chính sách của Chính phủ
- Ảnh hưởng đến rủi ro lãi suất:
Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN không được xây dựng một cách phù hợp,lãi suất của các NHTM được ấn định không dựa vào những yếu tố của thị trường
Vì vậy, việc quản trị tài sản có – tài sản nợ trở nên khó khăn, không hiệu quả, cáccông cụ để phòng ngừa rủi ro lãi suất cũng trở nên kém hiệu quả
- Ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng:
Trước hết đó là các vấn đề về chính sách vĩ mô của chính phủ đóng vai tròquyết định đối với hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung và lĩnh vực kinhdoanh tiền tệ, tín dụng của ngân hàng thương mại nói riêng
Trong một nền kinh tế, chính phủ ra đưa ra các chính sách tiền tệ và ngân hàng
là đơn vị thực hiện các chính sách đó Tuy nhiên, những chính sách đó có thể có lợicho ngân hàng, nhưng cũng có thể có hại Khi mà ngân hàng nhà nước thay đổi lãisuất huy động, hoặc tỷ lệ dự trữ bắt buộc… nó làm thay đổi mọi kế hoạch của ngânhàng Khi mà lãi suất huy động tăng lên làm cho ngân hàng gặp khó khăn trongviệc cho vay Với mức lãi suất huy động cao thì lãi suất đối với hoạt động tín dụngcũng phải được đẩy lên để đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng Nhưng điều đó cũngđồng nghĩa với việc khách hàng trả lãi và gốc cho ngân hàng là rất khó, và rủi ro tíndụng cao lên
- Ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản
Quy chế điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước ảnh hưởng đếnnguồn cung thanh khoản của các Ngân hàng Thương mại Chính sách tiền tệ linhhoạt sẽ giúp đảm bảo được nguồn thanh khoản của các Ngân hàng Ví dụ năm 2013,
Trang 28vụ án của Nguyễn Đức Kiên đã làm cho khách hàng rút tiền ồ ạt ở ngân hàngThương mại Cổ phần Á Châu, và ngân hàng này đã không đủ chi trả cho kháchhàng, ngân hàng nhà nước đã phải vào cuộc nhằm giúp ACB vượt qua rủi ro thanhkhoản Do đó, nếu Ngân hàng nhà nước có chính sách tiền tệ linh hoạt và hợp lý thì
sẽ giúp hệ thống ngân hàng hoạt động được ổn định hơn
1.2.2 Mức độ phát triển và sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô
- Nền kinh tế phát triển sẽ làm cho các luồng vốn luân chuyển, phân bổ một cách
có hiệu quả, theo đó công tác quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng sẽ được kiểm soátchặt chẽ và hợp lý hơn
- Các điều kiện kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát sẽ ảnh hưởngđến tâm lý của khách hàng, từ đó sẽ ảnh hưởng đến cầu thanh khoản Khi kinh tế khókhăn, các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, để có đủ vốn kinh doanh, kháchhàng sẽ phải rút tiền từ các ngân hàng do đó cầu thanh khoản sẽ tăng cao Bên cạnh đó,khi kinh tế khó khăn, các ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng và kéo theo đó là nguồn cungthanh khoản cũng sẽ bị giảm sút
- Rủi ro tỷ giá cũng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khách quan như: lạmphát, lãi suất, giá dầu, giá vàng, sự ổn định chính trị… do đó biến động của tỷ giárất khó dự báo Thị trường ngoại tệ ngoài hệ thống ngân hàng nhằm phục vụ chohoạt động buôn bán phi chính thức đang phát triển mạnh Từ đó mà tạo lên nhu cầu
về ngoại tệ bên ngoài xã hội ngày càng trở nên sôi động Ngoài ra, chênh lệch giữa
tỷ giá mua và tỷ giá bán ngoại tệ luôn ở mức cao vì chi phí xuất khẩu ngoại tệ quácao Thị trường ngoại tệ qua hệ thống ngân hàng không có tính cạnh tranh, bị chiphối nhiều bởi hoạt động thị trường ngầm Vì vậy, để duy trị mối quan hệ lâu dài vàđáp ứng nhu cầu của khách hàng thì ngân hàng phải bán ngoại tệ bằng hoặc thấphơn tỷ giá bên ngoài thị trường Điều này ảnh hưởng không ít đến hoạt động kinhdoanh ngoại tệ của ngân hàng Những tin đồn, những giao dịch lớn, can thiệp củaNHNN, cắt giảm lãi suất của NHNN các nước, những thông tin không được dựđoán trước, các chỉ số thống kê kinh tế có thể ảnh hưởng đến tâm lý đầu cơ ngoại tệ,các nhà KDNT trên thị trường ngoại hối Điều này càng làm cho cung cầu ngoại tệthay đổi khó có thể nhận biết nhanh chóng
Trang 29- Yếu tố kinh tế chính trị và xã hội cũng tác động tới hoạt động tín dụng củangân hàng Chúng ta đã từng chứng kiến cuộc khủng hoảng kinh tế của Thái Lankhi có đảo chính trong nội bộ chính phủ Khi mà tình hình chính trị bất ổn làm sáotrộn mọi vấn đề trong xã hội và cả các hoạt động tín dụng tại ngân hàng Tình trạngnày làm cho các doanh nghiệp sản xuất bị gặp khó khăn trong hoạt động kinhdoanh, như vậy khả năng thanh toán cho ngân hàng là không thể Vì vậy rủi ro tíndụng khi mà tình hình chính trị bất ổn là rất cao.
Ngoài các yếu tố trên, còn có các yếu tố tự nhiên như thiên tai, dịch bệnh, bãolũ… Đây là những yếu tố bất khả kháng, yếu tố này không thể lường trước được.Bản thân các doanh nghiệp vay vốn cũng không thể dự tính được Trong các nămgần đây chúng ta đều được chứng kiến tai họa xảy đến đối với các doanh nghiệpchăn nuôi, khi mà vốn liếng của họ bị thiêu huỷ hết do dịch cúm gia cầm Rất nhiềugia đình vay vốn ngân hàng để chăn nuôi nhưng nay bị mất trắng Họ gần nhưkhông có khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng Đồng nghĩa với điều đó là việcngân hàng mất vốn hay rủi ro tín dụng xảy ra
1.2.3 Quy trình quản trị rủi ro và việc kiểm tra, giám sát thực hiện quy trình của các ngân hàng
- Quản trị rủi ro tài chính thực hiện một cách có hiệu quả khi được xây dựngthành một quy trình phù hợp với đặc thù hoạt động kinh doanh của từng ngân hàng:
cơ chế điều hành kinh doanh của ngân hàng, quy mô hoạt động, đối tượng kháchhàng, mạng lưới hoạt động của ngân hàng
Đồng thời, phải xây dựng được một cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiệnquy trình một cách thường xuyên và toàn diện
- Hệ thống công nghệ thông tin của Ngân hàng: Một hệ thống công nghệ thôngtin được xây dựng một cách đồng bộ, hiện đại sẽ giúp ích cho các NHTM trong việcnhận biết, đo lường, giám sát, kiểm soát rủi ro một cách nhanh chóng, chính xác,thường xuyên, toàn diện và hiệu quả
- Khi mà các quy định về quy trình trong hoạt động tín dụng không được quyđịnh chặt chẽ và hợp lý Nó sẽ không chỉ gây khó khăn cho hoạt động tíndụng, mà còn tạo khả năng rủi ro xảy ra Khi mà quy định hợp lý và chặtchẽ nó sẽ hạn chế được những trường hợp xấu trong hợp đồng tín dụng
Trang 30- Quy trình tín dụng đối với các ngân hàng là một bí mật riêng Quy trình tíndụng chưa chặt chẽ hoặc quá cụ thể, quá linh hoạt điều có thể là yếu tố gây
ra rủi ro tín dụng Những vấn đề nổi cộm hiện nay trong các quy trình tíndụng là đánh giá lại giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố
- Yếu tố do sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng gây ra trongquá trình thu hút khách hàng Đó là việc thẩm định khách hàng trở nên sơsài, chủ quan Thậm chí có nhiều ngân hàng liều lĩnh chấp nhận rủi ro cao,nhằm đạt được mức lợi nhuận cao mà bất chấp những hợp đồng tín dụngkhông lành mạnh, thiếu an toàn
1.2.4 Trình độ và năng lực của cán bộ ngân hàng
Lợi nhuận của ngân hàng chủ yếu thu được từ hoạt động tín dụng Đó là nguồnthu chính của các ngân hàng do đó, việc tăng lợi nhuận tức là phải tăng quy mô củahoạt động tín dụng lên Như vậy đồng nghĩa với rủi ro tín dụng tăng lên Việc mởrộng tín dụng lên thì việc giám sát và kiểm tra các hợp đồng tín dụng trở lên yếukém đi Việc giám sát của các cán bộ tín dụng đối với các hợp đồng tín dụng lơilỏng, và việc tuân thủ các quy trình tín dụng cũng bị lơ là
Trình độ và năng lực của cán bộ tín dụng yếu kém, đây cũng là một yếu tố gây
ra rủi ro trong tín dụng Một người cán bộ yếu kém về năng lực, khi tiếp nhận hồ sơcủa khách hàng thì khả năng phân tích và thẩm định dự án không đúng về dự án.Trong trường hợp này nhân viên tín dụng có thể bị khách hàng lừa gạt, hoặc lựachọn dự án tài trợ không chính xác Như vậy khả năng mất vốn rất cao Điều đó đòihỏi đội ngũ cán bộ phải có năng lực cao
Ngoài ra còn có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng thuộc vềngân hàng như: chất lượng thông tin và xử lý thông tin trong ngân hàng, cơ cấu tổchức và quản lý đội ngũ cán bộ, năng lực công nghệ…
1.2.5 Đặc thù hoạt động kinh doanh và quy mô hoạt động của mỗi ngân hàng
- Đặc thù trong hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng sẽ ảnh hưởng tớitính chất của tài sản nợ - tài sản có của ngân hàng, do đó, rủi ro lãi suất sẽ tác độngtới hai vế trong bảng cân đối tài sản của ngân hàng theo những cách thức khác nhau
Trang 31- Quy mô hoạt động của các NHTM khác nhau, có những NHTM có quy môhoạt động chiều rộng lớn: số lượng chi nhánh nhiều, cơ cấu tổ chức phức tạp, nên
cơ chế điều hành cũng trở nên phức tạp hơn, kém linh hoạt hơn so với nhữngNHTM có quy mô hoạt động theo chiều rộng nhỏ bé hơn Do vậy, quản trị rủi ro tàichính tại mỗi NHTM cũng sẽ thực hiện theo những cách thức khác nhau
Rủi ro tín dụng
Hiện nay, hầu hết các NHTM ở Việt Nam việc nghiên cứu các yếu tố ảnhhưởng đến rủi ro tài chính vẫn đang rất lơ là, thể hiện ở hầu hết các ngân hàngthương mại ở Việt Nam đều có nợ quá hạn, tỷ lệ nợ quá hạn bình quân ở trên mức5% (cá biệt có ngân hàng ở mức trên 10% ) trong đó theo thông lệ quốc tế chỉ chophép ở mức 1- 2% Như vậy, vấn đề nợ quá hạn ở các ngân hàng thương mại hiệnnay là 1 vấn đề rất đáng lo ngại
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, từ năm 2008 đến nay, nợ xấu của các
tổ chức tín dụng tại Việt Nam có xu hướng tăng nhanh Trung bình giai đoạn 2008
-2011, dư nợ bình quân nợ xấu khá cao, khoảng 51% Theo báo cáo của các ngânhàng thương mại, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tại thời điểm 30-11-2012 là 3,43%, songtheo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước trước Quốc hội, nợ xấu tại thời điểm thanhtra của Ngân hàng Nhà nước là 8,82% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế, khoảng250.000 tỷ đồng (khoảng 12 tỷ USD), tương đương 10% GDP
Bảng 1.1: Nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012
Đơn vị: Tỷ đồng
Tổng nợ xấu 26.970 35.875 49.064 85.967 185.205Tổng dư nợ 1.242.857 1.750.000 2.271.500 2.504.911 3.086.750
Tỷ lệ nợ xấu/ tổng dư nợ
(%) 2,17 2,05 2,16 3,43 6
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai
đoạn 2008 – 2012)
Trang 32Bên cạnh nợ quá hạn còn có rủi ro tiềm ẩn trong các số dư nợ không có vấn đề.Nếu tách hết số dư nợ quá hạn ra khỏi tổng dư nợ, còn lại dư nợ bình thường hay dư
nợ không có vấn đề Nhưng ở một số ngân hàng , số dư nợ này vẫn được quan tâmmột cách chặt chẽ Trong số dư nợ bình thường vẫn còn ẩn chứa nhiều vấn đềkhông bình thường dễ gây rủi ro tín dụng ví dụ như số dư nợ đã được gia hạn nhiềulần hay đảo nợ Ngân hàng đang mua chéo, đảo nợ lẫn nhau
Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại cho thấy, theokết quả hoạt động kinh doanh năm 2012, trong nhóm 10 NHTM lớn nhất, khá nhiều
có tỷ lệ nợ xấu vượt mức 3% Như Agribank với nợ xấu chiếm 5,8% trên tổng dư
nợ (27.803 tỷ đồng); SHB nợ xấu tới 8,53%, tương đương 4.844 tỷ đồng do gánhthêm nợ xấu sau khi hợp nhất với Habubank Trong nhóm các ngân hàng nhỏ, mức
nợ xấu cao phải kể đến là WesternBank (với 6,89%), Navibank (5,6%), Đại Á Bank
tỷ lệ nợ xấu cũng lên tới 4,4%; BaoVietBank có 400 tỷ đồng nợ xấu, tương đương5,94% tổng dư nợ
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nợ quá hạn trên là do các ngân hàng khôngđánh giá được đầy đủ các yếu tố có thể dẫn đến rủi ro tín dụng như thông tin kháchàng không đầy đủ và chính xác, công tác thẩm định tài sản đảm bảo còn sơ sài…
Rủi ro lãi suất
Năm 2010, những biến động nửa đầu năm đẩy lãi suất huy động VND lênquanh 11%/năm Đồng thuận lãi suất là yêu cầu quen thuộc đặt ra giữa các ngânhàng trong năm này Trước xu hướng biến động mạnh vào cuối năm, Hiệp hội vàNgân hàng Nhà nước đã họp với các thành viên, đồng thuận không quá 12%/nămđược đưa ra vào ngày 5/11 Tuy nhiên, sau đó nhiều thành viên “phá rào”, lãi suấtlần lượt tăng lên 13%, 14%, 15%/năm…Đỉnh điểm, sự kiện 3 ngày vàng củaTechcombank diễn ra ngày 8/12/2010, mức lãi suất được nâng lên mức 17%/năm,cùng chính sách tặng ngay 500.000 đồng khi giới thiệu khách hàng gửi tiết kiệmmới từ 1 tỷ trở lên đã gây chấn động thị trường Phản ứng cạnh tranh ghi nhận ở sựkiện này là SeABank cũng lập tức nâng lên 18%/năm Những lãi suất gây sốcnày nhanh chóng bị chấm dứt, lãnh đạo Techcombank bị Ngân hàng Nhà nướckhiển trách
Trang 33Nếu năm 2010, các đồng thuận lãi suất 11%, 12% rồi 14%/năm được đặt ra,thì đến đầu 2011 nó tiếp tục bị phá vỡ Và ngày 3/3/2010, Ngân hàng Nhà nước banhành Thông tư số 02/2011/TT-NHNN, chính thức áp trần 14%/năm, và sau đó lànhững xáo trộn từ các thỏa thuận ngầm, sự nở rộ của các giao dịch ủy thác…Nửa cuối năm 2011, Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiêm quy định trần, mộtsố ngân hàng bị xử lý mà lần đầu tiên trong hệ thống có cụm từ “ngân hàng càibẫy lẫn nhau”.
Năm 2012, chỉ trong vòng chưa đầy ba tháng, Ngân hàng Nhà nước liên tiếphạ trần lãi suất huy động VND, từ 14%/năm xuống còn 9%/năm có hiệu lực từ11/6/2012 Cơ chế áp trần cũng thay đổi, mở tự do hóa lãi suất từ kỳ hạn 12 thángtrở lên
Rủi ro thanh khoản
Theo báo cáo của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, tỷ lệ cho vay/huy độngcủa các tổ chức tín dụng tại Việt Nam nói chung luôn ở mức trên 90% Đặc biệt tỷlệ cho vay/huy động ngoại tệ luôn ở mức trên 100%, có khi đạt xấp xỉ 130%
Thanh khoản hệ thống luôn căng thẳng, thị trường liên ngân hàng ách tắc, mộtsố TCTD rơi vào tình trạng mất thanh khoản liên tục (luôn rơi vào tình trạng mấtcân đối kỳ hạn, về huy động và cho vay…)
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) của các TCTD đang có chiều hướng sụtgiảm nhanh chóng, nghiêm trọng
Với các NHTM của chúng ta hiện nay, phần lớn các chỉ số thanh khoản đều rấtyếu Trước hết là vốn điều lệ, so sánh với các ngân hàng ở các nước trong khu vựcthì mức vốn điều lệ của các NHTM là khá nhỏ bé (ngân hàng cỡ trung bình trongkhu vực có vốn điều lệ là một tỷ USD, tương đương 20.000 tỷ đồng)
Thống kê cho thấy quy mô vốn của các NHTM của chúng ta còn quá nhỏ,không thể so sánh với các ngân hàng trong khu vực NHTM cổ phần có vốn điều lệcao nhất là Eximbank (10.560 tỷ), thấp nhất là 1.000 tỷ đồng Trong khi đó, lộ trìnhtăng vốn của các NHTM cổ phần đến cuối năm 2010 phải đạt ít nhất 3.000 tỷ đồng
Trang 34(Ðã được gia hạn đến cuối năm 2011 vì còn nhiều NHTM không đạt được vào cuốinăm 2010).
Còn chỉ số về trạng thái tiền mặt cao, theo số liệu đã tính toán năm 2008, có
20 ngân hàng chỉ số trạng thái tiền mặt dưới 10%, trong đó một số ngân hàng có chỉsố rất thấp dưới 5% như: Agribank, BIDV, MHB, Vietinbank, An Bình, Habubank,
MB, MSB, Ocean, Saigonbank, SHB, VIBank, Vietcombank
Những ngân hàng này khi có nhu cầu thanh khoản lớn, đột xuất, buộc phải vaytrên thị trường tiền tệ với lãi suất cao Thực tế đã chứng minh cho nhận định này,những tháng cuối năm 2008 đến cuối năm 2010, các ngân hàng đua nhau tăng lãisuất tiền gửi và đẩy lãi suất vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng lênmức kỷ lục: gần 40%/năm ở thời điểm cuối năm 2009
Ngoài ra, chỉ số chứng khoán thanh khoản của các NHTM cũng không khảquan Phần lớn các ngân hàng đều nắm giữ chứng khoán thanh khoản với tỷ lệ thấp,chỉ số này đều giảm vào năm 2010, vì năm 2009 đã chứng kiến sự sụt giảm đáng kểtrên thị trường chứng khoán Việt Nam
Cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết tạo quyền chủ động của NHTM trong việc quyđịnh tỷ giá với các ngoại tệ khác, nhưng do biên độ còn hẹp, nên nếu có đột biến cungcầu thì sẽ dẫn đến sai lệch tỷ giá quá lớn, gây ra rủi ro tỷ giá
Trang 351.3 Sự cần thiết của việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính trong Ngân hàng Thương mại
Trong phạm vi cho phép, rủi ro gia tăng giúp ngân hàng có cơ hội tăng thu nhập.Dưới tác động của hiệu ứng biên giảm dần khi rủi ro tiếp tục tăng lợi nhuận sẽ tăngchậm và chuyển sang giảm dần với tốc độ nhanh Khi giảm lợi nhuận khả năngchống chọi sẽ yếu do năng lực tài chính bị suy giảm, từ đó ảnh hưởng xấu đến vốnchủ sở hữu, có thể làm cạn vốn Do đó, việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi
ro tài chính là vấn đề vô cùng quan trọng, giúp cho các ngân hàng có thể tiếp nhậnrủi ro trong điều kiện cho phép mà có biện pháp giải quyết hiệu quả nếu có tổn thấtxảy ra Việc nghiên cứu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính còngiúp ngân hàng đề phòng được những tác động xấu sau đây:
- Rủi ro làm giảm uy tín của ngân hàng
Một khi một ngân hàng có mức độ rủi ro của các tài sản Có là cao thì ngân hàng
đó thường đứng trước nguy cơ mất uy tín của mình trên thị trường Không một aimuốn gửi tiền vào một ngân hàng mà ngân hàng đó có tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấuvượt quá mức cho phép, có chất lượng tín dụng không tốt, khả năng thanh khoảnkém, chính sách lãi suất và tỷ giá không ổn định và gây ra nhiều vụ thất thoát lớn.Nếu ngân hàng có thông tin là có mức độ rủi ro cao thường được báo chí nêu lên vàlan truyền trong dân chúng, điều này sẽ khiến cho việc huy động vốn của ngân hànggặp rất nhiều khó khăn Bên cạnh đó, việc giảm uy tín còn ảnh hưởng đến khả năngcạnh tranh của các NHTM, càng làm cho hoạt động của ngân hàng gặp nhiều khókhăn hơn
- Rủi ro làm ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng
Hoạt động chủ yếu của các ngân hàng là nhận tiền gửi và đầu tư hoặc cho vay,nếu các khoản tín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp nhiều khó khăntrong khi đó các khoản tiền gửi vẫn phải thanh toán đúng hạn Trong lúc không huyđộng được vốn do mất uy tín, người rút tiền ngày càng tăng lên, kết quả là ngânhàng gặp khó khăn trong khâu thanh toán
Trang 36- Rủi ro làm tăng chi phí có tính hiệu ứng
Hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu hoạt động kinh doanh ngânhàng, đi kèm đó là thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng cao (khoảng 50 –60%), do vậy hiệu quả hoạt động tín dụng quyết định hiệu quả hoạt động kinhdoanh của ngân hàng Khi rủi ro tín dụng xảy ra thì ngân hàng sẽ khó hoặc khôngthu được nợ trong khi vẫn phải thanh toán lãi huy động vốn Đồng thời các chi phíkhác có liên quan dẫn đến kết quả kinh doanh thua lỗ Bên cạnh đó các yếu tố nhưlãi suất, tỷ giá, khả năng thanh khoản cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý củakhách hàng
- Rủi ro làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
Rủi ro tài chính xảy ra làm cho ngân hàng hoạt động không hiệu quả, thậm chícòn làm mất vốn của ngân hàng Đặc biệt, rủi ro tín dụng sẽ làm giảm tốc độ quayvòng vốn của ngân hàng dẫn tới làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm khả năngthanh toán của ngân hàng Hoạt động tín dụng có liên quan mật thiết với nhiều hoạtđộng khác như các dịch vụ của ngân hàng, do đó rủi ro tín dụng xảy ra không chỉlàm giảm thu nhập của ngân hàng từ hoạt động tín dụng, mà còn làm giảm thu nhập
từ các hoạt động khác Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng cao dẫn đến ngân hàng phảităng trích lập dự phòng rủi ro và điều này khiến cho lợi nhuận còn lại càng thấp
- Rủi ro có thể làm phá sản ngân hàng
Rủi ro tài chính xảy ra thường tạo cho ngân hàng những tổn thất về tài chính,nhưng những thiệt hại về uy tín, về mất lòng tin của xã hội là những tổn thất còn lớnhơn nhiều Vấn đề giữ uy tín là điều tối quan trọng, chỉ cần mất niềm tin vào ngânhàng thì người gửi tiền sẽ có thể kéo đến ngân hàng rút tiền Nếu rủi ro xảy ra ởmức độ ngân hàng không có khả năng ứng phó thì sẽ gây phản ứng dây chuyềntrong dân chúng, dân chúng sẽ đổ xô đến ngân hàng rút tiền gửi Đối với nhữngkhoản vay dài hạn, ngân hàng không thể thu hồi vốn ngay, đồng thời rủi ro tài chínhđã làm mất một phần vốn của ngân hàng, như vậy ngân hàng không còn khả năngthanh toán và sẽ đi đến phá sản
Chính vì những ảnh hưởng nghiêm trọng như trên mà ngân hàng thương mạiphải phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính nhằm đưa ra những giảipháp kiểm soát rủi ro hiệu quả, hạn chế rủi ro có thể xảy ra
Trang 37CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO
TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á
2.1 Thực trạng rủi ro tài chính tại Ngân hàng TMCP Bắc Á
2.1.1 Đặc trưng của Ngân hàng TMCP Bắc Á
Ngân hàng TMCP Bắc Á được thành lập ngày 17/09/1994 với trụ sở chính tạithành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Sau gần 20 năm phát triển, hiện nay Bắc Á đã có 20chi nhánh tại 13 tỉnh thành trọng điểm (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… ) vàhơn 80 phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, với 10 đợt tăng vốn điều lệ:
Bảng 2.1 : Bảng tăng vốn điều lệ qua các năm
(Nguồn: Phòng tài chính – Ngân hàng TMCP Bắc Á)
Bên cạnh việc cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng như: Mở tài khoản nộitệ và ngoại tệ, nhận tiền gửi, đầu tư cho vay và bảo lãnh, thanh toán trong và ngoàinước, tài trợ thương mại, chuyển tiền nhanh, kinh doanh ngoại hối, phát hành vàthanh toán thẻ, séc du lịch, homebanking, ngân hàng trực tuyến… Bắc Á còn đặcbiệt chú trọng hoạt động tư vấn đầu tư với các dự án mang tính an sinh xã hội, các
Trang 38dự án do Bắc Á tư vấn đầu tư đểu hướng tới cải thiện chất lượng sống như chế biếnthực phẩm sạch hay các bệnh viện và trường học đạt tiêu chuẩn quốc tế:
Dự án sữa sạch TH Milk : Sữa TH Milk được sản xuất theo quy trình khépkín, đồng bộ theo tiêu chuẩn quốc tế từ khâu trồng cỏ, xây dựng chuồng trại, chếbiến thức ăn cho bò đến quản lý thú y, chế biến, đóng gói và phân phối sản phẩm
Dự án này với mục đích không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sữa trong nước, từngbước thay thế sữa nhập khẩu, mà còn tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, gópphần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Dự án khu đô thị sinh thái y học:
Dự án khu đô thị sinh thái y học bao gồm Bệnh viện điện tử; Bệnh viện đakhoa 5 sao và Trung tâm điều dưỡng; Khu Spa nghỉ dưỡng, sinh thái cao cấp;Trường đại học tổng hợp Phủ Quỳ (gồm Khoa Y Dược, Kho Công Nghệ cao vàKhoa Nông Nghiệp) và Viện nghiên cứu bệnh ung thư
Dự án dược liệu và xây dựng nhà máy chiết xuất tại chỗ tại Nghệ An, cung cấpcác sản phẩm:
Thực phẩm chức năng, thuốc tân dược, spa và chăm sóc sức khỏe Dự án nàykhông chỉ giúp cải thiện đời sống nhân dân địa phương, bảo tồn được các cây thuốcquý hiếm, bảo vệ rừng và môi trường sống mà còn mang lại hiệu quả kinh tế bềnvững cho nhà tư vấn đầu tư
Dự án đầu tư nhà máy sản xuất ván sợi tại huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An: Đây là dự án với tổng mức đầu tư lên tới 120 triệu EUR và là nhà máy sản xuấtván sợi với quy mô lớn,công nghệ hiện đại cung ứng ván nhân tạo chất lượng caocho thị trường trong và ngoài nước Dự án này góp phần gia tăng giá trị sản xuất cácngành liên quan: lâm nghiệp, hóa chất, điện…
Để có thể hoạt động kinh doanh tiền tệ tốt, cộng với việc tư vấn đầu tư có hiệuquả, phải kể đến mô hình tổ chức quản lý của Ngân hàng TMCP Bắc Á
Trang 39Bảng 2.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức:
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
Ban kiểm soát
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
Ban quản lý dự án
Trang 40Ban công nghệ
Khối tác nghiệp Trung tâm chăm
sóc khách hàng
Các chi nhánh trên toàn quốc
Các phòng giao dịch/Quỹ tiết
kiệm
(Nguồn: Báo cáo thường niên Ngân hàng TMCP Bắc Á năm 2012)
Với bộ máy tổ chức hoạt động hiệu quả, công với sự nỗ lực của cán bộ côngnhân viên, trong những năm vừa qua mặc dù nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhưngNgân hàng Bắc Á đã đạt được những thành tựu đáng kể… cụ thể như sau:
Bảng 2.3: Hoạt động kinh doanh năm 2011, 2012, 2013
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2011 trưởng Tăng Năm 2012 trưởng Tăng Năm 2013 trưởng Tăng
Tổng tài sản 25.738 -2,3% 33.738 31,08% 50.308 49,11%Tổng tiền gửi dân cư