Trong thời kỳ đổi mới, cùng với những tín hiệu khởi sắc của nền kinh tế Việt Nam, hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng nước ta đã có những bước phát triển khả quan, trong đó phải kể
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRÊN THỊ TRƯỜNG CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG
KHU VỰC HAI BA TRƯNG – HÀ NỘI
Sinh viên thực hiện : Đặng Thị Thu Thủy
Giáo viên hướng dẫn: THS Lê Thị Thu Thủy
Hà Nội, 11/2006
Trang 2MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU……… 1
Ch-ơng I – Một số vấn đề lý luận về khả năng cạnh tranh của ngân hàng I – Tổng quan về ngõn hàng và hoạt động ngõn hàng……… 3
1 Khỏi niệm, mục đớch, vai trũ của ngõn hàng……… 3
2 Đặc điểm về hoạt động……… 4
3 Đặc trưng về sản phẩm……… 5
II – Khả năng cạnh tranh của ngõn hàng……… 6
1 Khỏi niệm……… 7
1.1 Cạnh tranh……… 7
1.2 Khả năng cạnh tranh……… 8
2 Cỏc cụng cụ cạnh tranh……… 8
2.1 Cạnh tranh bằng chiến lược Marketing hỗn hợp………
9 2.2 Cạnh tranh bằng cỏc cụng cụ khỏc……… 13
3 Cỏc chỉ tiờu đỏnh giỏ khả năng cạnh tranh……… 15
3.1 Thị phần của doanh nghiệp……… 15
3.2 Doanh thu của doanh nghiệp……… 16
3.3 Tỷ suất lợi nhuận……… 17
4 Cỏc nhõn tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngõn hàng 18
4.1 Nhõn tố khỏch quan……… 18
4.2 Nhõn tố chủ quan……… 20
III – Sự cần thiết phải nõng cao khả năng cạnh tranh của ngõn hàng trong quỏ trỡnh hội nhập kinh tế……… 23
1 Hội nhập kinh tế quốc tế của hệ thống ngõn hàng Việt Nam…… 23
Trang 32 Những cơ hội và thách thức đối với ngân hàng Việt Nam………… 24
2.1 Những cơ hội cho các ngân hàng thương mại Việt Nam……… 24
2.2 Những thách thức đối với ngân hàng Việt Nam……… 26
3 Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng… 28 3.1 Xu thế toàn cầu hoá thương mại……… 28
3.2 áp lực từ phía khách hàng……… 28
3.3 Đe doạ của các sản phẩm thay thế……… 29
3.4 Đe doạ của những người mới nhập cuộc……… 30
CHƯƠNG II – Thùc tr¹ng kh¶ n¨ng c¹nh tranh cña chi nh¸nh ng©n hµng c«ng th-¬ng khu vùc Hai bµ tr-ng - Hµ néi I – Giới thiệu khái quát về chi nhánh Ngân hàng Công thương, khu vực Hai Bà Trưng – Hà Nội……… 31
1 Lịch sử hình thành và phát triển……… 31
2 Chức năng, nhiệm vụ……… 33
3 Cơ cấu tổ chức bộ máy……… 34
4 Đặc điểm hoạt động chi nhánh……… 37
5 Môi trường kinh doanh……… 39
5.1 Môi trường bên ngoài chi nhánh……… 39
5.2 Môi trường bên trong chi nhánh……… 41
6 Kết quả hoạt động kinh doanh……… 46
II – Phân tích và đánh giá khả năng cạnh tranh của chi nhánh…… 48
1 Phân tích khả năng cạnh tranh của chi nhánh thông qua các chỉ tiêu phản ánh……….………… 48
1.1 Phân tích khả năng cạnh tranh thông qua doanh thu……… 48
Trang 41.2 Phân tích khả năng cạnh tranh thông qua thị phần……… 50
1.3 Phân tích khả năng cạnh tranh thông qua tỉ suất lợi nhuận………… 52
2 Phân tích và đánh giá việc sử dụng các công cụ cạnh tranh để nâng cao khả năng cạnh tranh của chi nhánh trong thời gian qua… 52 2.1 Lãi suất……… 53
2.2 Các chương trình thu hút khách hàng……… 56
2.3 Chiến lược phát triển sản phẩm mới trên nền tảng công nghệ hiện đại……… 57
III - Đánh giá chung về khả năng cạnh tranh và các biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của chi nhánh………
58
1 Điểm mạnh……… ……… 58
2 Những tồn tại……… ……… 64
3 Nguyên nhân của những tồn tại……… 66
3.1 Nguyên nhân bên trong doanh nghiệp……… 66
3.2 Nguyên nhân thuộc môi trường kinh doanh……… 67
CHƯƠNG III – C¸c gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao kh¶ n¨ng c¹nh tranh ë chi nh¸nh Ng©n hµng c«ng th-¬ng, khu vùc Hai bµ tr-ng – hµ néi I – Mục tiêu, phương hướng phát triển của chi nhánh trong thời gian tới………
63 1 Mục tiêu……… 63
2 Phương hướng phát triển……… 64
2.1 Công tác huy động vốn……… 65
2.2 Về tín dụng……… 65
2.3 Phát triển dịch vụ……… ……… 66
2.4 Các phương hướng khác……… ……… 66
Trang 5II – Các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của chi nhánh
trong thời gian tới……… 66
1 Nhóm giải pháp về yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh của chi nhánh……… 67
1.1 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng……… 68
1.2 Nâng cao trình độ quản lý……… 69
1.3 Nâng cao trình độ đội ngũ nhân sự……… ………… 70
1.4 Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng……… 71
1.5 Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý……… 73
1.6 Tăng cường công tác giám sát tiền sau cho vay……… 76
2 Nhóm giải pháp về công cụ cạnh tranh……… 77
2.1 Nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện chiến lược……… 77
2.2 Tăng cường công tác Marketing, xúc tiến thương mại, kinh doanh quốc tế……… 78
2.3 Nâng cao trình độ công nghệ ngân hàng……… 79
3 Giải pháp về quan hệ hợp tác kinh doanh……… 80
4 Một số kiến nghị……… ……… 81
4.1 Một số kiến nghị với chính phủ……… 82
4.2 Kiến nghị với ngân hàng nhà nước……… 83
LỜI KẾT……….… ……… 85
Danh môc tµi liÖu tham kh¶o……… ……… 86
Phô lôc……… 91
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VCB Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
KỸ THƯƠNG VPB Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay,với cơ chế vận động của nền kinh tế thị trường, xu thế toàn cầu hoá - hội nhập kinh tế quốc tế làm cho cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt hơn Việc Đảng và Nhà nước ta thực hiện các chính sách ngày càng mở rộng hơn quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế với các nước trong khu vực và trên thế giới đã mang lại nhiều thuận lợi, song cũng không ít những khó khăn Trong đó, khó khăn lớn nhất vẫn là khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn trên phạm vi toàn cầu
Với vai trò là “thủ quỹ” của nền kinh tế, ngân hàng là một công cụ quan trọng để thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước Trong thời kỳ đổi mới, cùng với những tín hiệu khởi sắc của nền kinh tế Việt Nam, hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng nước ta đã có những bước phát triển khả quan, trong đó phải kể đến những thành tựu to lớn trên mọi mặt hoạt động kinh doanh đối nội và đối ngoại của ngân hàng Công Thương Việt Nam Chi nhánh ngân hàng Công Thương, khu vực Hai Bà Trưng, Hà Nội là một trong những chi nhánh đi tiên phong trong cơ chế thị trường, đã thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu kế hoạch về tín dụng, huy động vốn, lợi nhuận, trích lập dự phòng rủi ro Trong xu thế hội nhập hiện nay, trước áp lực phải mở cửa mạnh
mẽ ngành ngân hàng Việt Nam khi gia nhập vào các tổ chức quốc tế, để duy trì và củng cố vị thế hàng đầu trong những ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Ngân hàng Công thương nói chung và chi nhánh Ngân hàng Công thương, khu vực Hai Bà Trưng- Hà Nội nói riêng phải đối mặt với vấn đề làm thế nào để nâng cao khả năng cạnh tranh trước các ngân hàng trong nước và quốc tế
Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề này, em đã lựa chọn đề tài:
Trang 8“Nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường của chi nhánh ngân
hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng – Hà Nội”
Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Hệ thống hoá một số lý luận cơ bản về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của ngân hàng
- Nghiên cứu và phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh của ngân hàng, các yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng nhằm phát huy điểm mạnh
và khắc phục điểm yếu của ngân hàng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường, tạo động lực thúc đẩy cho sự phát triển của ngân hàng trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
Do thời gian và trình độ hạn chế nên trong đề tài chỉ đi vào nghiên cứu
và phân tích thực trạng cũng như đề xuất một số giải pháp đối với chi nhánh Ngân hàng Công thương, khu vực Hai Bà Trưng
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, khoá luận được trình bày bao gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về khả năng cạnh tranh của ngân hàng Chương II: Thực trạng khả năng cạnh tranh của Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng – Hà Nội
Chương III: Các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng - Hà Nội
Đây là đề tài tương đối phức tạp, mặt khác do kiến thức, kinh nghiệm và thời gian nghiên cứu có hạn, khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được nhứng ý kiến đóng góp của thầy cô và bạn bè Em xin chân thành cám ơn Th.s Lê Thị Thu Thuỷ đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thiện đề tài này
Trang 9Sinh viên thực hiện
Trang 10CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
Xét trên các hoạt động chủ yếu, Luật các tổ chức tín dụng 02/1997/QHX, sửa đổi 2001 ghi: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
Các doanh nghiệp khi tham gia vào nền kinh tế đều có nhiều mục đích đặt ra trong quá trình hoạt động kinh doanh như: doanh thu, thị phần, vị thế…Ngân hàng hoạt động cũng không ngoài những mục đích đó Song mục tiêu xuyên suốt là đạt được lợi nhuận ngày càng tăng để đạt được mục tiêu trở thành những tập đoàn kinh tế lớn trong kinh doanh tiền tệ
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, hệ thống Ngân hàng là
hệ thống Ngân hàng hai cấp bao gồm:
Hệ thống Ngân hàng Trung ương làm nhiệm vụ quản lý vĩ mô hoạt động của toàn hệ thống Ngân hàng và đưa ra những quyết định, chính sách và thực hiện nghiệp vụ phát hành tiền
Trang 11 Hệ thống Ngân hàng Thương mại với chức năng chủ yếu là kinh doanh tiền tệ để thu lợi nhuận Ngân hàng Thương mại cùng với sự phát triển của công nghệ Ngân hàng đã trở thành Ngân hàng đa năng, thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ về Ngân hàng Và cùng với sự phát triển của xã hội thì Ngân hàng Thương mại trở thành một thực thể không thể thiếu được trong nền kinh tế, nó có vai trò ngày càng quan trọng mà không ai có thể phủ nhận
Ngân hàng là một tổ chức tài chính kinh doanh tiền tệ và đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế đất nước như:
Ngân hàng có vai trò là thủ quỹ cho nền kinh tế, có trách nhiệm trả kịp thời mọi nhu cầu của người gửi tiền
Ngân hàng là trung gian tài chính, đảm nhiệm việc huy động và phân bổ nguồn vốn Do đó đóng vai trò là kênh tập trung huy động vốn cho nền kinh tế
Ngân hàng tham gia vào việc điều hoà các nguồn vốn trong nền kinh tế (do quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn)
Ngân hàng còn là một trong những công cụ giúp Nhà nước thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
2 Đặc điểm hoạt động
Hoạt động chính của ngân hàng thương mại là huy động vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau của ngân hàng
Quản lý tài sản cũng là hoạt động của ngân hàng thương mại với nội dung chuyển hoá nguồn vốn - tiền gửi, tiền vay vốn của chủ - thành các loại tài sản như: ngân quĩ, tín dụng, chứng khoán…nhằm thoả mãn các mục tiêu
mà ngân hàng đặt ra
Trang 12Ngoài ra ngân hàng còn bao gồm nhiều loại hình hoạt động khác, song đều là các hình thức huy động và sử dụng vốn sao cho hiệu quả sinh lời cao nhất, đảm bảo thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững của ngân hàng
Do đối tượng kinh doanh chủ yếu là các dịch vụ tài chính, liên quan đến tiền tệ nên hoạt động ngân hàng có một số đặc điểm khác biệt so với các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân, cụ thể là:
Hoạt động ngân hàng diễn ra trong điều kiện chịu sự chi phối mạnh
mẽ của các chính sách tài chính, tiền tệ của Nhà nước, chịu sự tác động không nhỏ của các biến động kinh tế vĩ mô nhất là lạm phát, lãi suất, tăng trưởng kinh tế
Sự phá sản của một ngân hàng dẫn đến phản ứng lan truyền và tai họa cho nền kinh tế thậm chí cả một khu vực (Khủng hoảng tiền tệ
ở các nước Đông Nam Á 1997 đã cho thấy điều đó) Vì thế, hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng không phải là cuộc chiến một mất một còn giữa các ngân hàng Hơn thế nữa, quá trình cung cấp sản phẩm (biểu hiện rõ nhất trong thanh toán) không chỉ do một ngân hàng thực hiện mà phải thông qua ngân hàng khác, do vậy các ngân hàng luôn phải có sự liên kết, hợp tác chặt chẽ với nhau để hoạt động trong quá trình cung ứng sản phẩm
Sự lớn mạnh của đối thủ cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng có thể là điều kiện để ngân hàng phát triển Ví dụ như sự phát triển của các tổ chức bảo hiểm sẽ tạo ra nguồn tiền gửi quan trọng cho các ngân hàng
3 Đặc trưng về sản phẩm
Trang 13Sản phẩm mà ngân hàng cung ứng ra thị trường chính là các dịch vụ liên quan đến tiền tệ Đó là một loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt nên nó cũng mang những đặc điểm của một loại hàng hoá dịch vụ, đó là :
Tính vô hình của sản phẩm ngân hàng: Các sản phẩm ngân hàng không thể nhìn thấy được, cảm nhận được, nghe được, ngửi được trước khi mua chúng như bất kỳ các dịch vụ vẫn được cung cấp Khách hàng khi đến với ngân hàng không thể biết chắc số tiền của mình có được an toàn hay không, số tiền thanh toán cho đối tác có đến tay người nhận đúng hẹn hay không Do vậy để khắc phục đặc điểm này trong kinh doanh, ngân hàng phải dựa trên cơ sở lòng tin Hoạt động ngân hàng phải hướng vào việc tạo và củng cố niềm tin đối với khách hàng bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm dịch
vụ cung ứng, tăng tính hữu hình của sản phẩm, khuếch trương hình ảnh, uy tín, tạo điều kiện để khách hàng tham gia vào hoạt động cuả ngân hàng, đẩy mạnh công tác xúc tiến hỗn hợp
Tính không thể lưu giữ của sản phấm ngân hàng: Nếu như các sản
phẩm hàng hoá, qua sự phân tích thị trường, các doanh nghiệp có thể sản xuất, lưu kho để đem vào thời vụ kinh doanh thì các sản phẩm ngân hàng không thể lưu kho hay nói cách khác trong hoạt động ngân hàng, quá trình cung ứng và tiêu thụ diễn ra đồng thời
Ví dụ như, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền tại thời điểm cuối năm
là rất lớn nên các ngân hàng phải tăng cường phương tiện cũng như nguồn lực để đảm bảo phục vụ khách hàng Song ở thời điểm đầu năm thì hoạt động này ít hơn nhiều nhưng ngân hàng cũng không thể san bớt công việc để làm cho cuối năm được Vì thế, chi phí
dịch vụ trong hoạt động ngân hàng thường tương đối cao
Trang 14 Tính không ổn định của sản phẩm ngân hàng: Chất lượng của các
dịch vụ ngân hàng thường dao động trong một khoảng rất rộng tuỳ thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ, phụ thuộc nhiều vào người thực hiện dịch vụ, thời gian, địa điểm thực hiện Đồng thời, giữa các ngân hàng khác nhau thì tuỳ trình độ chuyên môn, nhận thức mà cung ứng dịch vụ với mức độ khác nhau, cùng một nhân viên thì chất lượng dịch vụ cung cấp cũng tuỳ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, tinh thần ở thời điểm giao dịch với khách hàng
II KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
1 Khái niệm
1.1 Cạnh tranh
Để tồn tại và phát triển thì cạnh tranh được coi như tất yếu khách quan đối với mỗi ngân hàng tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm hàng hoá, dịch vụ nào đó trên thị trường Vậy thực chất cạnh tranh
là gì? Có rất nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh
Theo K.Mark: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa
các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để giành lợi nhuận siêu ngạch” Nghiên cứu sâu về quá
trình sản xuất hàng hoá và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Mark đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, thông qua đó đã hình thành nên giá cả thị trường Và lợi nhuận là động lực thúc đẩy hoạt động của cơ chế thị trường
Theo từ điển kinh doanh của tác giả Peter S.Rose (xuất bản năm 1992)
thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là: “Sự ganh đua, kình
địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”
Trang 15Theo quan điểm kinh tế hiện đại: “Cạnh tranh là sự tranh đua giữa các
đối thủ tham gia ngành để giành được phần thưởng có hạn; Bất kể đó là khách hàng, doanh thu, giấy phép, hay các giải thưởng khác” (Cuốn
Competition, Competitiveness, and Enterprise Poticies, tác giả Michael
Dunford, Helen Louri and Manfred Rosenstock)
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất thì cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế nhằm giành phần sản xuất và tiêu thụ hàng hoá có lợi cho mình để thu lợi nhuận cao Cạnh tranh là một tất yếu của kinh tế thị trường
Nó tồn tại trên cơ sở những đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập khác nhau về lợi ích kinh tế Theo yêu cầu của quy luật giá trị, tất cả các đơn vị sản xuất hàng hoá đều phải sản xuất và kinh doanh trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết Trong điều kiện đó, muốn có nhiều lợi nhuận các đơn vị sản xuất và kinh doanh phải đua nhau cải tiến và áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động cá biệt, giảm hao phí lao động cá biệt nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch Cạnh tranh hữu hiệu tồn tại khi các đối thủ cạnh tranh
đủ khả năng đảm bảo rằng họ có thể tạo áp lực lớn lên nhau
1.2 Khả năng cạnh tranh
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp Khả năng cạnh tranh được các nhà kinh tế học diễn giải theo nhiều quan điểm khác nhau:
Theo nhà kinh tế học Randall- khoa kinh tế trường Đại học Harvard, khả
năng cạnh tranh là “khả năng giành được và duy trì được thị phần trên thị
trường với lợi nhuận nhất định”
Theo giáo sư Fafchamps- khoa kinh tế học trường đại học Oxford, khả
năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là “khả năng doanh nghiệp đó có thể
Trang 16sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường”
Theo Dunning- trung tâm phát triển kinh tế quốc gia Hoa Kỳ, khả năng
cạnh tranh là “khả năng cung cấp sản phẩm của chính doanh nghiệp trên các
thị trường khác mà không cần phân biệt nơi bố trí sản xuất của doanh nghiệp đó”
Tuy được diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung cạnh tranh có hai khía cạnh là khả năng chiếm lĩnh thị trường và lợi nhuận
Khái niệm về khả năng cạnh tranh của ngân hàng cũng được hiểu tương
tự như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung Theo đó, việc chiếm lĩnh được thị trường, gia tăng được lợi nhuận, tạo dựng được thương hiệu tốt,
có vị thế ngày càng lớn hơn trên thương trường,… chính là những biểu hiện khả năng cạnh tranh
2 Các công cụ cạnh tranh của ngân hàng
2 1 Cạnh tranh bằng chiến lược Marketing hỗn hợp
Mọi ngân hàng đều có thể sử dụng chiến lược Marketing hỗn hợp (Marketing – mix) gồm 7P: Product, Price, Place, Promotion, People, Process, Public relation
* Chiến lược sản phẩm (Product)
Đây là chiến lược quan trọng nhất trong chiến lược marketing hỗn hợp của ngân hàng bởi nó không những quyết định ngân hàng sẽ cung cấp dịch vụ
gì mà còn xác định việc cung cấp như thế nào và cho ai Để cạnh tranh được trên thị trường, ngân hàng không thể bán cái mình có mà phải bán cái khách hàng cần do đó nội dung cơ bản của chiến lược này là phải phát triển và quản
lý có hiệu quả danh mục sản phẩm của ngân hàng Để luôn tạo ra được cái mới và đặc trưng riêng có của sản phẩm, đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao hơn của khách hàng thì ngân hàng phải đầu tư khá nhiều cho việc nghiên cứu
Trang 17cải tiến sản phẩm, cải tiến công nghệ Đặc biệt việc tạo thêm những tính năng mới và nâng cao tiện ích cho người sử dụng sẽ góp phần thu hút khách hàng tốt hơn
Việc ngân hàng nâng cao được chất lượng dịch vụ như: việc sử dụng dịch vụ sẽ giúp cho khách hàng thuận tiện hơn trong mua sắm, sử dụng đồng tiền nhàn rỗi một cách có hiệu quả hơn, tiết kiệm được thời gian và chi phí cho khách hàng trong giao dịch đặc biệt là các giao dịch quốc tế…Đồng thời việc phát triển thêm nhiều dịch vụ mới, tăng được tính năng và tiện ích cho khách hàng khi tiêu dùng sản phẩm sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng hơn Ví dụ như việc phát triển hệ thống máy rút tiền ở nhiều nơi, thẻ tiết kiệm ATM với tính năng vượt trội của một ngân hàng di động, ngoài rút tiền từ tài khoản, từ thẻ quốc tế có thể giúp thanh toán hóa đơn (bưu điện, chuyển khoản, thanh toán phí bảo hiểm, điện nước ) đang gây sự chú ý lớn đối với khách hàng
* Chiến lược về giá (Price)
Trong các thị trường hàng hóa, dịch vụ và lao động, giá cả được thể hiện dưới hình thái tiền tệ nào đó, hay gọi là đồng tiền Nhưng chính tiền tệ cũng được mua bán trong các nền kinh tế thị trường, bởi vì một số người muốn dành tiền để sử dụng trong tương lai, trong khi một số người khác - bao gồm
cả các ngân hàng - muốn vay tiền để sử dụng ngay Cái giá để được quyền sử dụng số tiền đó - gọi là lãi suất - được xác định trong thị trường trao đổi tài chính
Nhìn rộng ra, các ngân hàng và các công ty khác trong lĩnh vực tài chính của nền kinh tế thị trường là những nhân tố quan trọng nhất nối kết những người có các nguồn lực cần tiết kiệm với những người có cách sử dụng có lợi nhất các nguồn quỹ đó, và do đó sẵn sàng trả lãi để được sử dụng khoản tiền
đó Trong các thị trường này, các quyết định về cách thức và địa điểm đầu tư
Trang 18tài chính là không tập trung, cũng giống như các quyết định về sản xuất và tiêu dùng là phân tán trong thị trường hàng hóa và dịch vụ
Và cũng như các ngành khác trong một nền kinh tế thị trường, cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng giúp đảm bảo rằng lãi suất sẽ thấp hết mức có thể mà vẫn mang lại cho ngân hàng một mức thu nhập thỏa đáng để họ có thể hoạt động tốt và hiệu quả Hơn nữa, do dự trữ tiền cho các khoản vay là có hạn nên những người đi vay - các cá nhân hoặc công ty - sẽ cạnh tranh với nhau để được ngân hàng chấp thuận Sự cạnh tranh này sẽ giúp đảm bảo các khoản vay ngân hàng sẽ được phân bổ cho các khoản đầu tư có doanh thu tiềm năng cao nhất theo một phương thức hiệu quả hơn nhiều so với trường hợp chính phủ tự mình quyết định cho vay
Rõ ràng là lãi suất đa dạng phong phú đã có tác động tích cực làm cho
hệ thống tín dụng ngân hàng sôi động hẳn lên Khi hoạt động trong một môi trường có giá cả hoàn toàn dựa vào cân đối cung và cầu, các ngân hàng đã phải chủ động tích cực thẩm định để quyết định lãi suất cho vay, phải cạnh tranh để thu hút vốn vay, và phải tìm mọi biện pháp nâng cao hiệu quả khi chênh lệch lãi suất giữa đầu vào và đầu ra giảm xuống Đây là những bước đi rất tích cực của toàn bộ hệ thống trong quá trình hội nhập quốc tế
* Chiến lược phân phối (Place)
Kênh phân phối là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động làm cho sản phẩm hoặc dịch vụ sẵn sàng để người tiêu dùng hoặc người
sử dụng công nghiệp có thể mua và sử dụng
Xây dựng chiến lược sản phẩm dịch vụ tốt, chiến lược giá hợp lý vẫn chưa đủ đảm bảo cho sự thành công của chiến lược cạnh tranh mà đòi hỏi các nhà lãnh đạo ngân hàng phải hoạch định được chiến lược phân phối phù hợp
để đưa sản phẩm dịch vụ ngân hàng đến với khách hàng một cách tốt nhất Thực tế cho thấy, chính cách phân phối sản phẩm dịch vụ mới là yếu tố quyết
Trang 19định với năng lực cạnh tranh của ngân hàng chứ không phải sản phẩm bởi đó
là cách mà khách hàng có thể biết đến và tiếp cận được với ngân hàng
* Chiến lược giao tiếp khuyến trương (Promotion)
Bản chất của hoạt động xúc tiến hỗn hợp là truyền tin về sản phẩm và doanh nghiệp tới khách hàng để họ sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp nhiều hơn
Đây là một trong những chiến lược quan trọng, có vị trí độc lập tương đối trong mối quan hệ mật thiết với các chiến lược sản phẩm, giá, phân phối Các hoạt động truyền thông này là công cụ truyền tin về ngân hàng , về sản phẩm dịch vụ, giá cả và kênh phân phối của ngân hàng với các khách hàng hiện tại và tiềm năng, giúp họ có căn cứ quyết định lựa chọn, sản phẩm dịch
vụ và ngân hàng
* Cạnh tranh bằng chất lượng nhân viên (People)
Từ tính không tách biệt giữa sản xuất và tiêu thụ của sản phẩm dịch vụ ngân hàng nên có thể nói, yếu tố con người có tính chất quyết định trong cạnh tranh ngân hàng Theo đó, một nhân viên giỏi phải hội đủ mọi yếu tố về : trình độ nghiệp vụ, nghệ thuật và phương pháp làm việc, nghệ thuật và thái độ giao dịch, tiếp xúc với khách hàng
* Cạnh tranh bằng quy trình (Process)
Thời gian làm việc cần được tận dụng tối đa, điều này không chỉ đem lại sự hài lòng của khách hàng mà còn giúp ngân hàng giảm thiếu chi phí, tránh nhầm lẫn sai sót Muốn được như vậy, ngân hàng cần có một quy trình tốt Đặc biệt đối với sản phẩm tín dụng, do đặc thù của sản phẩm nên yêu cầu rất nhiều giấy tờ từ phía khách hàng Nếu không có được một quy trình hợp lý
sẽ dễ gây khó chịu, nản lòng cho khách hàng và là nguy cơ gây nhiều sai sót
từ phía nhân viên tín dụng
Trang 20* Cạnh tranh bằng uy tín, hình ảnh của ngân hàng với công chúng (Public relation)
Quan hệ công chúng là việc ngân hàng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do chính ngân hàng thiết kế để truyền đạt những thông tin về ngân hàng và hoạt động của ngân hàng nhằm tạo dựng trong lòng khách hàng và công chúng một hình ảnh tốt, một thái độ tích cực về ngân hàng cũng như các sản phẩm của ngân hàng; qua đó, ngân hàng có thể giành được ưu thế trong cạnh tranh
2.2 Cạnh tranh bằng các công cụ khác
Dịch vụ sau bán hàng
Hoạt động dịch vụ cũng là vũ khí cạnh tranh mang lại hiệu quả cao cho ngân hàng Cuộc sống con người ngày càng được cải thiện và nâng cao, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm cũng đòi hỏi ngân hàng không chỉ đáp ứng tốt về sản phẩm, mà cần đáp ứng tốt cả dịch vụ đi kèm
Các ngân hàng Việt Nam hiện nay, đặc biệt là các ngân hàng đã nhận thức được sự cần thiết phải nâng cao dịch vụ khách hàng, nhiều ngân hàng đã nổi trội hơn hẳn không phải do chất lượng sản phẩm của họ tốt hơn mà là họ
đã cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đi kèm tốt hơn Cho nên mỗi ngân hàng có thể thể hiện ưu thế của mình thông qua hoạt động dịch vụ, dịch vụ sẽ tạo sức hút mạnh mẽ hơn cho ngân hàng Ngân hàng sẽ bán được nhiều sản phẩm nếu khách hàng cảm thấy yên tâm rằng sản phẩm đó đảm bảo chất lượng ngay cả khi quan hệ mua bán chấm dứt
Với các dịch vụ sau bán được thực hiện như: tạo thuận tiện cho khách hàng trong rút tiền gửi (uỷ quyền cho người khác lĩnh hộ), khách hàng được hưởng ưu đãi giảm giá khi mua hàng ở 1 số cửa hàng, khách sạn, cung cấp các thông tin tài chính ngân hàng (tín dụng, chứng khoán, bảo hiểm, tỷ giá, lãi suất…) kịp thời cho khách hàng… sẽ khiến khách hàng ngày một gắn kết với
Trang 21ngân hàng hơn, nhờ vậy có thể giữ chân được khách hàng cũ và thu hút thêm nhiều khách hàng mới, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng
Phương thức thanh toán
Phương thức thanh toán cũng là một công cụ cạnh tranh được nhiều ngân hàng sử dụng Phương thức thanh toán gọn nhẹ, rườm rà hay linh hoạt
sẽ ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ và do đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường
Việc đa dạng hoá các phương thức thanh toán trong ngân hàng sẽ cho khách hàng nhiều sự lựa chọn hơn, tăng thêm nhiều tiện ích cho khách hàng
và tăng sức hấp dẫn khách hàng Các phương tiện thanh toán được sử dụng linh hoạt, thuận tiện sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của khách hàng Khi khách hàng được cung cấp các phương tiện thanh toán phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng sẽ mang lại thành công cho không chỉ khách hàng mà còn cho cả ngân hàng Do vậy, để nâng cao khả năng cạnh tranh ngân hàng cần nghiên cứu, cải tiến để ngày càng có nhiều phương tiện thanh toán mang tính cạnh tranh cao, tiện ích cho khách hàng hơn
Yếu tố thời gian
Đối với ngân hàng yếu tố thời gian quyết định chiến lược kinh doanh hiện đại là tốc độ chứ hoàn toàn không phải yếu tố cổ truyền như: nguyên vật liệu, lao động…Để có được chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này, các ngân hàng phải biết tổ chức nắm bắt thông tin nhanh chóng chớp lấy cơ hội kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh và thu hồi vốn nhanh
Tăng được số vòng quay vốn và rút ngắn thời gian chu chuyển của vốn trong 1 vòng quay sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn cho ngân hàng Đặc biệt trong cơ chế thị trường, “Tiền tệ” - loại hàng hoá đặc biệt, rất “nhạy cảm” trước mọi biến động của thị trường Vì vậy yếu tố thời gian có ý nghĩa lớn trong việc thực hiện chiến lược phát triển của ngân hàng Ngân hàng không
Trang 22thể chiến thắng trong cạnh tranh với công nghệ lạc hậu từ nhiều năm trước, lại càng không thể cạnh tranh được nếu nắm bắt thông tin thị trường chậm hơn đối thủ Do vậy, việc nắm bắt yếu tố thời gian ảnh hưởng lớn tới khả năng cạnh tranh của ngân hàng, để có được thành công ngân hàng không thể không quan tâm tới yếu tố này
Thời cơ thị trường
Ngân hàng nào có được dự báo xác thực nhất với diễn biến thị trường và thời cơ thị trường, đồng thời nắm bắt được nó sẽ chiến thắng trong cạnh tranh Đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế , việc nắm bắt chớp thời cơ kinh doanh đóng vai trò rất lớn trong việc quyết định thành- bại của ngân hàng Với ngân hàng, trong quá trình hội nhập còn tồn tại rất nhiều yếu kém so với khu vực và thế giới Ngoài việc nghiên cứu khắc phục yếu kém về loại hình sản phẩm, chất lượng dịch vụ, ngân hàng cần nắm bắt được các cơ hội
và có giải pháp chủ động khắc phục khó khăn Để có được điều này, ngân hàng cần hết sức nhạy bén chớp được thời cơ, đặc biệt thời cơ do hội nhập mang lại như: mở rộng thị trường, học hỏi kinh nghiệm tiên tiến (đặc biệt là kinh nghiệm về quản trị ngân hàng), ứng dụng được các công nghệ ngân hàng hiện đại…Việc nắm bắt thời cơ thị trường sẽ rất có lợi cho ngân hàng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
3 Các chỉ tiêu thể hiện khả năng cạnh tranh
Ngân hàng cũng giống như mọi doanh nghiệp khác, hoạt động nhằm đạt tới thị phần, doanh thu, lợi nhuận cao nhất Vì thế, các chỉ tiêu phản ánh thị phần, doanh thu, lợi nhuận phản ánh khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp nói chung cũng thể hiện sức mạnh của ngân hàng trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh
3.1 Thị phần
Trang 23Chỉ tiêu thị phần cho biết khả năng chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh khác Chỉ tiêu này thể hiện rõ phần thị trường mà doanh nghiệp chi phối được Do vậy, chỉ tiêu này thường được sử dụng đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Chỉ tiêu thị phần như:
* Thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường: Là tỷ lệ % giữa
doanh số của công ty so với của toàn ngành
Doanh số DN
Thị phần DN so với toàn bộ thị trường = x 100 Doanh số toàn ngành
Chỉ tiêu này thể hiện trong 100 đồng doanh số của toàn ngành được tạo
ra trong kỳ thì doanh số của ngân hàng đóng góp là bao nhiêu đồng
* Thị phần của doanh nghiệp trong phân đoạn mà mình phục vụ: Là tỷ
lệ % doanh số của công ty so với doanh số của toàn phân đoạn
Doanh số DN
Thị phần DN trong phân đoạn thị trường = x 100 Doanh số toàn phân đoạn Chỉ tiêu này thể hiện trong 100 đồng doanh số của toàn phân đoạn được tạo ra trong kỳ thì doanh số của ngân hàng đóng góp là bao nhiêu đồng
* Thị phần tương đối: Là tỷ lệ so sánh về doanh số của doanh nghiệp so
Trang 24Đối với ngân hàng, chỉ tiêu về thị phần cũng thể hiện khả năng chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp so với phân đoạn, với toàn ngành, với đối thủ cạnh tranh Thị phần sẽ thể hiện lượng khách hàng, quy mô thị trường, lượng vốn tiền tệ luân chuyển trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp là nhiều hay ít Đây là một chỉ tiêu thường được các ngân hàng sử dụng, mọi ngân
hàng đều phấn đấu để có được thị phần ngày một lớn hơn
3.2 Doanh thu
Doanh thu là chỉ tiêu phản ánh lượng giá trị bằng tiền tệ (doanh số) thu
về được của một ngân hàng trong một chu kỳ thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình Nếu với cùng một lượng vốn đầu tư ban đầu như nhau, nhưng ngân hàng nào tạo được nhiều doanh thu hơn thì hiệu quả hoạt động kinh doanh là tốt hơn Bởi vậy qua chỉ tiêu này có thể biết được khả năng cạnh tranh của ngân hàng
Công thức xác định doanh thu được thể hiện như sau:
Số liệu về chiết khấu bán hàng và giảm giá hàng bán trong công thức trên khi áp dụng với ngân hàng chính là các ưu đãi về lãi suất nhằm thu hút tiền gửi của khách hàng Doanh thu thuần phản ánh sự gia tăng khối lượng tiền tệ luân chuyển trong kỳ, là bằng chứng về sự tăng trưởng và khả năng thu nhập của ngân hàng Khi doanh thu giảm là dấu hiệu đầu tiên về giảm thu nhập, giảm uy tín và vị thế của ngân hàng trên thương trường và kéo theo những khó khăn về tài chính khác Bởi vậy, tăng doanh thu là mục tiêu của mọi ngân hàng
3.3 Tỷ suất lợi nhuận
Doanh
thu
thuần
Tổng doanh thu theo hoá đơn
Chiết khấu bán hàng
Giảm giá hàng
đã bán
Hàng bán
bị trả lại
Thuế (tiêu thụ đặc biệt, XK)
Trang 25Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận (TSLN) là chỉ số về khả năng sinh lời của ngân hàng Theo đó doanh nghiệp nào có TSLN cao hơn chứng tỏ hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn, lợi nhuận thu về lớn hơn Bởi vậy đây được coi
là chỉ tiêu phản ảnh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
* Tỷ suất lợi nhuận doanh thu: là hệ số phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận
sau thuế và doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu = x 100
Doanh thu thuần
Hệ số này thể hiện trong 100 đồng doanh thu thuần mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ có bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
* Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh: là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh
lời của đồng vốn kinh doanh, không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập ngân hàng và nguồn gốc của vốn kinh doanh
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh = x 100 Tổng vốn kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh trong 100 đồng vốn kinh doanh bình quân được
sử dụng trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
* Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu: là chỉ tiêu đo lường mức độ lợi
nhuận sau thuế thu được trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu (CSH) trong kỳ
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận vốn CSH = x 100
Tổng vốn CSH bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh trong 100 đồng vốn CSH bình quân được sử dụng trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Trang 26Đối với ngân hàng, các chỉ tiêu về TSLN phản ảnh rất rõ hiệu quả sử dụng đồng vốn tiền tệ của ngân hàng Với cùng một lượng tiền tệ như nhau, nhưng lợi nhuận thu về của mỗi ngân hàng là khác nhau, ngân hàng nào tạo được nhiều lợi nhuận hơn chứng tỏ khả năng sinh lời của đồng vốn cao hơn, tốc độ quay vòng vốn nhanh hơn, hay đồng vốn được nhiều khách hàng sử dụng hơn trong kỳ
Như vậy chỉ tiêu này phản ánh rất rõ khả năng cạnh tranh, thu hút khách hàng của ngân hàng
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng
Một ngân hàng kinh doanh trong kinh tế thị trường sẽ chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi những yếu tố thuộc môi trường kinh doanh Những ngân hàng chiến thắng trong các cuộc cạnh tranh trên thương trường là những ngân hàng biết tận dụng và khai thác tối đa những yếu tố môi trường Nhìn chung, những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng bao gồm:
4.1 Nhân tố khách quan
Nền kinh tế toàn cầu
Sự phát triển ổn định hay không ổn định của kinh tế toàn cầu ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế của hầu hết các quốc gia, cũng như các ngân hàng trên toàn thế giới Trong xu thế hội nhập, việc nền kinh tế toàn cầu phát triển hay gặp những cơn khủng hoảng sẽ ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới các quốc gia khác Đơn cử như kinh tế Thái Lan: mặc dù có bề dầy hoạt động hàng trăm năm nhưng vào năm 1997 - 1998, hệ thống ngân hàng Thái Lan vẫn bị chao đảo trước cơn khủng hoảng tài chính - tiền tệ
Nền kinh tế quốc gia
Nền kinh tế quốc gia ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngân hàng đặc biệt là trong quan hệ đối tác với bạn hàng nước ngoài Bởi vậy kinh tế đất nước phát triển sẽ tạo ra được thuận lợi cho sự phát
Trang 27triển của ngân hàng, thu hút được nhiều đối tác nước ngoài và việc mở rộng thị trường nâng cao sức cạnh tranh cho ngân hàng cũng dễ dàng hơn Tuy nhiên nếu kinh tế kém phát triển thì ngân hàng với xuất phát điểm thấp hơn, sức bật kém hơn sẽ rất khó có thể cạnh tranh với ngân hàng nước ngoài
Chính sách của chính phủ
Đây là một trong những yếu tố thuộc môi trường vĩ mô của ngân hàng Một ngân hàng biết tận dụng ưu thế cạnh tranh của mình hay không phụ thuộc vào khả năng khai thác những yếu tố của luật pháp và các chính sách của chính phủ Đây vừa là yếu tố thúc đẩy đồng thời cũng là yếu tố hạn chế khả năng kinh doanh của ngân hàng Nhà nước muốn hướng ngành nào phát triển thì sẽ có những ưu đãi về thuế, lãi suất, vốn đầu tư,v.v…và đây cũng là những yếu tố để ngân hàng tìm cách tận dụng và khai thác những ưu đãi của chính phủ mang lợi về cho ngân hàng Qua đó thể hiện sự nhạy bén trong nắm bắt cơ hội kinh doanh, thể hiện khả năng cạnh tranh của ngân hàng
Cung cầu trên thị trường
Khả năng cung ứng các sản phẩm ra thị trường và nhu cầu thị trường thường có khoảng cách, không đồng nhất Tuy nhiên sản phẩm dịch vụ đa dạng có thể sẽ gợi mở nhu cầu cho khách hàng, đồng thời những ngân hàng
có nhiều loại hình sản phẩm hàng hoá dịch vụ hơn sẽ có khả năng nhiều hơn trong việc gợi mở và đáp ứng nhu cầu khách hàng Khi hoạt động trong một môi trường có giá cả hoàn toàn dựa vào cân đối cung và cầu, các ngân hàng
đã phải chủ động tích cực thẩm định để quyết định lãi suất cho vay, phải cạnh tranh để thu hút vốn vay, và phải tìm mọi biện pháp nâng cao hiệu quả khi chênh lệch lãi suất giữa đầu vào và đầu ra giảm xuống
Cung cầu sản phẩm trên thị trường càng đa dạng và phong phú càng cho thấy nền kinh tế đó phát triển, có khả năng cạnh tranh với các nền kinh tế khác
Trang 28 Ưu thế của các đối thủ cạnh tranh
Ngân hàng phải biết tận dụng những kẽ hở của đối phương, đánh vào những điểm yếu đó để có thể làm nổi bật những ưu thế của mình về sản phẩm hàng hoá và dịch vụ Bên cạnh đó ngân hàng cũng cần tìm hiểu chiến lược phát triển trong tương lai của các đối thủ cạnh tranh là gì? Và đối thủ cạnh tranh đánh giá như thế nào về mục tiêu và khả năng cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh của họ Ngân hàng phải phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (phân tích SWOT) của đối thủ cạnh tranh để có những biện pháp hợp lý trong từng điều kiện và hoàn cảnh Tất cả đều nhằm thực hiện mục tiêu ngân hàng là: lợi nhuận, cung ứng sản phẩm, đạo đức kinh doanh, thị phần và trách nhiệm xã hội
4.2 Nhân tố chủ quan
Năng lực quản trị rủi ro
“Xu hướng tự do, toàn cầu hóa kinh tế và quốc tế hóa các luồng tài chính đã làm thay đổi căn bản hệ thống ngân hàng Hoạt động kinh doanh trở nên phức tạp hơn và áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng lớn hơn và cùng với nó, mức độ rủi ro cũng tăng lên”
“Lợi nhuận và rủi ro là 2 mặt của một vấn đề: muốn có lợi nhuận, phải chấp nhận rủi ro” Nếu không chấp nhận rủi ro, sẽ không bao giờ thu được lợi nhuận Sự đối mặt và chịu tác động của rủi ro có thể ảnh hưởng xấu tới ngân hàng, thậm chí bị phá sản và thải loại ra khỏi thị trường
Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ - loại hàng hóa đặc biệt nhạy cảm với rủi ro; tính dễ lây lan rủi ro giữa các ngân hàng thương mại với nhau; khách hàng của ngân hàng rất đông và chỉ cần một khách hàng gặp rủi
ro sẽ gây tác động xấu tới hình ảnh của ngân hàng Nói như vậy để thấy, muốn tồn tại và phát triển, các ngân hàng thương mại phải có đủ năng lực
Trang 29quản trị rủi ro Nếu không, sẽ không có khả năng tồn tại kinh doanh trên thị trường
Khả năng tài chính
Ngân hàng mà có vốn thấp thì tất nhiên sẽ ảnh hưởng tới nhiều mặt hoạt động kinh doanh từ mở rộng mạng lưới, đầu tư cho công nghệ đến nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng Do vậy huy động vốn đảm bảo cho nhu cầu kinh doanh cho chính mình, đồng thời đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược kinh doanh của các ngân hàng
Hiện nay quy mô tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam chưa tương xứng với nền kinh tế đất nước Quy mô tín dụng của Trung Quốc lớn bằng 210% so với GDP nước này, trong khi tín dụng Việt Nam mới bằng 45%/GDP cả nước Điều đó có nghĩa là nếu tính theo tỉ lệ tín dụng/GDP thì Việt Nam chưa bằng 1/4 Trung Quốc
Trình độ công nghệ ngân hàng
Theo thống kê Tạp chí Ngân hàng cuối năm 2005 tổng số các ngân hàng trong nước hiện nay lên tới con số gần 40, chưa kể khoảng 30 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh Số lượng lớn, nhưng hầu hết các ngân hàng trong nước đều đi theo một hướng là trở thành ngân hàng bán lẻ, với mục tiêu cung cấp dịch vụ cho hơn 82 triệu người dân Việt Nam Nhưng hiện nay số người sẵn sàng tiếp cận dịch vụ ngân hàng hoặc được ngân hàng phục vụ còn rất hạn chế Như vậy có thể thấy rằng, tầm hoạt động của các ngân hàng chưa tới hoặc sản phẩm dịch vụ chưa đa dạng và chưa được đưa đến người dân một cách tốt nhất, nó cũng cho thấy chất lượng hoạt động của các ngân hàng hiện như thế nào Mặc dù có nhiều ngân hàng cùng hoạt động với chi nhánh, phòng giao dịch mở khắp nơi nhưng người dân Việt Nam chưa được hưởng các dịch vụ ngân hàng như người dân ở các nước khác Do vậy
Trang 30việc nâng cao dịch vụ ngân hàng để tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong nước là yêu cầu của thực tế phát triển đất nước
Các dịch vụ ngân hàng
Về kinh nghiệm quản lý, nó đi theo với bề dày hoạt động, tất nhiên không phải so sánh Và một yếu tố rất quan trọng đối với khách hàng để chiếm lĩnh thị trường, đó là sản phẩm dịch vụ
Cách đây 3 năm, ông Huỳnh Quang Tuấn, Giám đốc chi nhánh Hà Nội của Ngân hàng Á Châu (ACB) cho biết, ông đọc một tài liệu của Nhật Bản thấy họ giới thiệu khoảng 6.000 dịch vụ ngân hàng, còn ACB thời điểm đó cho dù được coi là một trong những ngân hàng có nhiều sản phẩm dịch vụ nhất thì cũng mới chỉ có khoảng… 200 Và tại cuộc Toạ đàm về dịch vụ ngân hàng trong bối cảnh hội nhập 2005, đã có đánh giá: “Các ngân hàng Việt Nam hiện chủ yếu tập trung vào các sản phẩm truyền thống là huy động tiền gửi, cho vay, thanh toán”
Qua đó cho thấy, để có thể cạnh tranh thì các ngân hàng cần quan tâm nhiều hơn nữa cho việc phát triển, cho ra đời nhiều sản phẩm dịch vụ đa dạng, phong phú hơn
Niềm tin của khách hàng
Trang 31Nguyên nhân cuối cùng thuộc về niềm tin Việc tín nhiệm vào ngân hàng nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các quyết định lựa chọn đến với ngân hàng nào Và như vậy, dù sản phẩm chưa hẳn đã tốt hơn song dường như đã
có sự “thiên vị” trong quyết định mua của khách hàng Bởi vậy việc tạo dựng được lòng tin cho khách hàng vào ngân hàng sẽ tăng được khả năng cạnh tranh của ngân hàng Giả như việc các nhà đầu tư hiện nay đều tin tưởng rằng các Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần rất khó phá sản, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước sẽ không để cho điều đó xảy ra vì sự liên quan mật thiết của các Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần trong hệ thống ngân hàng Việt Nam
Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay, ngân hàng nào biết phát huy năng lực của mình thì sẽ có được thành công trong cuộc chạy đua trên thương trường
III SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ
1 Hội nhập kinh tế quốc tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Với việc đổi mới đường lối đối ngoại của Đảng theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng của Việt Nam bắt đầu gia tăng, kể từ những năm đầu thập niên 90, Việt Nam lần lượt nối lại quan hệ với ADB, IMF, WB Tính đến cuối năm 2005, tổng số dự án Việt Nam đã ký với WB là 41 chương trình trị giá 5,8 tỷ đô la Mỹ, với ADB là 45 chương trình trị giá 3,7 tỷ đô la Mỹ Ngoài ra, Việt Nam còn được các tổ chức trên trợ giúp về các chương trình đào tạo, khảo sát , cải cách, từ đó tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng Việt Nam nhanh chóng thích ứng với kinh tế thị trường và hội nhập
Bên cạnh việc tham gia vào các khu vực Thương mại tự do (như ASEAN, ASEM, APEC, nộp đơn xin gia nhập WTO…), nước ta còn ký các hiệp định thương mại song phương với 86 nước, trong đó hơn 70 nước đã
Trang 32dành cho nhau qui chế tối huệ quốc Ký hiệp định khuyến khích bảo hộ đầu tư
với 46 nước, ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần với 40 nước (Thương mại
Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế- Kỷ yếu hội thảo Khoa học Quốc gia 2005) Trong số các quan hệ thương mại đầu tư phải kể đến Hiệp
định Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ (Chính phủ hai nước ký ngày 13/7/2000
và có hiệu lực thi hành 10/12/2001) và sự kiện Việt Nam gần như chắc chắn gia nhập WTO vào 11/2006
Theo lộ trình Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ trong vòng 3-10 năm kể
từ khi Hiệp định có hiệu lực sẽ có một số bước nới lỏng hạn chế chỉ tiêu trong kinh doanh các hoạt động ngân hàng tại Việt Nam đối với các NHTM, định
chế tài chính của Mỹ (Lộ trình cụ thể theo phụ lục 1)
Với lộ trình theo Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ, cơ bản đến 12/2011, các NHTM, tổ chức tài chính Hoa Kỳ khi kinh doanh các hoạt động ngân hàng tại Việt Nam sẽ được đối xử bình đẳng như các NHTM, các định chế tài chính Việt Nam Điều đó đặt ra cho các NHTM Việt Nam phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đối phó với sự cạnh tranh của các NHTM, định chế tài chính Hoa Kỳ khi tham gia thị trường Việt Nam
Theo lộ trình hội nhập, Việt Nam cũng từng bước nới lỏng các điều kiện, giới hạn hoạt động của các NHTM nước ngoài tại Việt Nam như:
* Tăng mức huy động vốn tiền gửi không kỳ hạn của các chi nhánh NHTM nước ngoài với khách hàng không có quan hệ tín dụng từ 10% vốn điều lệ (1992) lên 20% (1994); 25% (1996); 50% vào 1/10/2004
* Từ 8/2003, các NHTM nước ngoài được phát hành trái phiếu huy động vốn, điển hình là Standard Bank (Hà Nội) được phép phát hành chứng chỉ tiền gửi bằng VNĐ để huy động vốn tối đa 24 tháng với tổng giá trị: 100
tỷ VNĐ
Trang 33* Từ 4/2005, giới hạn tiền gửi tối đa ra nước ngoài của chi nhánh NHTM nước ngoài là 30% tổng vốn, ngân hàng liên doanh 100% được tháo
dỡ hoàn toàn đồng thời bỏ quy định buộc các chi nhánh NHTM nước ngoài
và ngân hàng liên doanh phải gửi 15% vốn vào NHNN VN khi bắt đầu hoạt động
2 Những cơ hội và thách thức đối với ngân hàng Việt Nam
Hội nhập kinh tế là một hướng đi đúng đắn và quan trọng làm tiền đề cho việc tạo dựng vị thế của nước ta trên thương trường quốc tế, đồng thời mang lại nhiều cơ hội để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt Việt Nam trước những thách thức lớn, nhất là trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
2.1 Những cơ hội cho các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế thành công sẽ đem lại cho Việt Nam khá nhiều
cơ hội như: mở rộng thị trường, tận dụng được những kinh nghiệm về quản
lý, tiết kiệm thời gian và nhân lực trên cơ sở kế thừa thành tựu khoa học của những nước đi trước, tăng khả năng thu hút đầu tư và sự chuyển giao kỹ thuật công nghệ, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Đối với ngành ngân hàng tài chính, hội nhập kinh tế quốc tế tạo động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, tăng cường khả năng và tư duy xây dựng văn bản pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng, đáp ứng yêu cần hội nhập và thực hiện cam kết với các tổ chức quốc tế
Hội nhập quốc tế mở ra cơ hội trao đổi, hợp tác quốc tế giữa các ngân hàng thương mại trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, đề ra biện pháp tăng cường giám sát và phòng ngừa rủi ro, từ đó nâng cao uy tín và vị thế hệ thống ngân hàng Việt Nam trong các giao dịch tài chính quốc tế Đồng thời các ngân hàng Việt Nam có đủ điều kiện tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm
Trang 34quản lý và đào tạo đội ngũ cán bộ, phát huy lợi thế so sánh của mình để theo kịp yêu cầu cạnh tranh quốc tế và mở rộng thị trường ra nước ngoài
Hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể là sự tham gia tích cực hơn của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam buộc các NHTM Việt Nam phải chuyên môn hoá sâu hơn các nghiệp vụ ngân hàng, quản trị ngân hàng, quản trị tài sản nợ, tài sản có, quản trị rủi ro, cải thiện chất lượng tín dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn, dịch vụ ngân hàng và phát triển các dịch vụ ngân hàng mới mà các ngân hàng nước ngoài dự kiến sẽ áp dụng tại Việt Nam Hơn nữa, việc mở cửa thị trường cho hàng hoá xuất khẩu Việt Nam cũng sẽ
là một cơ hội tốt để các ngân hàng mở rộng kinh doanh Các ngân hàng Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội kinh doanh hơn, có nhiều khách hàng hơn trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra khá nhiều thuận lợi và cơ hội cho các ngân hàng Việt Nam phát triển thành một hệ thống ngân hàng hoạt động năng động, an toàn, hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế
2.2 Những thách thức đối với ngân hàng Việt Nam
Thứ nhất, việc phải loại bỏ dần các hạn chế đối với các ngân hàng nước
ngoài có nghĩa là các ngân hàng nước ngoài sẽ từng bước tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động ngân hàng tại Việt Nam Công nghệ hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến cũng như nguồn tài chính dồi dào của các ngân hàng nước ngoài sẽ là những ưu thế cơ bản tạo ra những sức ép cạnh tranh trong ngành ngân hàng buộc các ngân hàng Việt Nam phải tăng thêm vốn và đầu tư kỹ thuật, cải tiến phương thức quản trị và hiện đại hoá hệ thống thanh toán để nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh
Thứ hai, khả năng tài chính, trình độ quản lý và trình độ công nghệ của
các ngân hàng Việt Nam còn thấp, các dịch vụ ngân hàng chưa phong phú, tiện lợi, hấp dẫn, nên trong giai đoạn đầu, thách thức về cạnh tranh đối với
Trang 35các ngân hàng Việt Nam là đáng kể, đặc biệt với các ngân hàng có phạm vi hoạt động kinh doanh trùng với lĩnh vực hoạt động kinh doanh có ưu thế của các ngân hàng nước ngoài như: thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại, đầu tư
dự án, và các khách hàng trọng tâm như các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài, các ngân hàng xuất khẩu lớn
Thứ ba, một loạt các nghiệp vụ mới chưa được thực hiện tại Việt Nam
hoặc chưa có quy định điều chỉnh nhưng đã được cam kết tại các hiệp định (Ví dụ: nghiệp vụ Factoring, thanh toán bằng tài sản, bằng thẻ tín dụng và séc
du lịch, quản lý vốn đầu tư, lưu trữ và uỷ thác, môi giới tiền tệ… và nhiều các sản phẩm phái sinh khác đã cam kết tại phụ lục G của hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ) sẽ buộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải khẩn trương nghiên cứu và sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các nghiệp vụ mới Đây là những lĩnh vực mà ngân hàng nước ngoài sẽ
có ưu thế hơn hẳn các ngân hàng Việt Nam
Thứ tư, vai trò của nhóm ngân hàng nước ngoài ngày càng tăng nhờ sức
mạnh về vốn, công nghệ, quy mô hoạt động toàn cầu và dịch vụ đa dạng Trong quá trình hội nhập, lợi thế tiềm tàng sẽ thuộc vào nhóm ngân hàng nước ngoài và sức ép cạnh tranh sẽ ngày càng lớn với các ngân hàng thương mại trong nước, không ngoại trừ các ngân hàng thương mại nhà nước
Thứ năm, trong quá trình hội nhập, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng
chịu tác động mạnh của thị trường tài chính thế giới, nhất là về tỷ giá, lãi suất,
dự trữ ngoại tệ, trong khi phải thực hiện đồng thời nhiều nghĩa vụ và cam kết quốc tế Cạnh tranh sẽ quyết liệt hơn khi các ngân hàng nước ngoài ngày càng
mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động trên thị trường Việt Nam, mặc dù về lâu dài các ngân hàng thương mại Nhà nước ở Việt Nam vẫn chiếm lĩnh thị trường tài chính trong nước Các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ gặp khó khăn rất lớn do đồng thời phải hướng các hoạt động ra thị trường bên ngoài
Trang 36và cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam Trong khi đó Việt Nam mới chỉ đề cập đến một vài nội dung của chính sách cạnh tranh, chưa có chính sách thống nhất để quản lý có hiệu quả hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và hầu như chưa chú ý đến việc nghiên cứu xây dựng chính sách Nhà nước đối với cạnh tranh ngân hàng
Thứ sáu, các ngân hàng Việt Nam đầu tư tập trung quá lớn vào ngân
hàng nhà nước mà phần lớn các ngân hàng này đều có thứ bậc xếp hạng tài chính thuộc các ngành có khả năng cạnh tranh yếu Đây là nguy cơ tiềm tàng rất lớn đối với các ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng thương mại quốc doanh nói riêng
Thứ bảy, hội nhập quốc tế làm tăng các giao dịch vốn và rủi ro của hệ
thống ngân hàng, trong khi đó cơ chế quản lý và hệ thống thông tin giám sát ngân hàng còn sơ khai, không phù hợp với thông lệ quốc tế, chưa có hiệu quả
và hiệu lực để đảm bảo việc tuân thủ nghiêm pháp luật về ngân hàng và sự an toàn của hệ thống ngân hàng, nhất là trong việc ngăn chặn và cảnh báo sớm các rủi ro của hoạt động ngân hàng
Ngoài ra, các ngân hàng Việt Nam còn gặp một số khó khăn về pháp lý,
hệ thống pháp luật trong nước, thể chế thị trường còn chưa đầy đủ, chưa đồng
bộ và nhất quán, còn nhiều bất cập so với yêu cầu hội nhập quốc tế về ngân hàng Vì vậy có hạn chế nhất định đối với sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và phát triển thị trường tiền tệ
3 Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng
3.1 Xu thế toàn cầu hoá thương mại
Thị trường dịch vụ tài chính ở Việt Nam có thể coi là chưa phát triển và đang trong quá trình cải tổ, cơ cấu lại để nâng cao sức cạnh tranh và thích ứng với môi trường kinh tế, xã hội đang ngày càng thay đổi theo xu thế quốc tế hoá Theo xu thế này, Việt Nam đã dần dần mở cửa nền kinh tế nói chung và
Trang 37thị trường dịch vụ tài chính nói riêng để từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới
Trong một chừng mực nhất định, có thể nói rằng chính sách đó đã tương đối thành công và trở thành một nhân tố mang lại sự cải thiện về tính hiệu quả, tính ổn định và tính cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính - một lĩnh vực vốn được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ và mang nặng tính hành chính bao cấp trong thời gian trước đây Từ khi thực hiện chính sách mở cửa, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc ổn định và phát triển trên cơ sở từng bước thâm nhập vào nền kinh tế thế giới Có thể nói hiện nay quả thật các ngân hàng thương mại Việt Nam chưa tương xứng với các ngân hàng thương mại trong khu vực, do vậy cần phải có sự đổi mới và phát triển nhiều hơn nữa mới theo kịp các ngân hàng nước ngoài Tuy nhiên, với những nỗ lực đổi mới của toàn ngành ngân hàng, chắc chắn hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ có đủ điều kiện cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài
3.2 Áp lực từ phía khách hàng
Trong nền kinh tế thị trường với sự phát triển phong phú và đa dạng của các mặt hàng, của nhiều hãng thì khách hàng sẽ có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn Không có gì buộc họ phải trung thành với sản phẩm của ngân hàng, việc
họ tiêu dùng sản phẩm nào là ngoài sự kiểm soát của mỗi ngân hàng Đây chính là mấu chốt của vấn đề buộc các ngân hàng phải đẩy mạnh đầu tư, tăng khả năng cạnh tranh, kéo được khách hàng về phía mình Do nhu cầu của con người ngày càng được nâng cao hơn, nên để đáp ứng được những đòi hỏi của khách hàng thì ngân hàng phải đổi mới mình, có chiến lược cạnh tranh phù hợp, phát triển công nghệ sản xuất, phát triển sản phẩm
3.3 Đe doạ của các sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là các sản phẩm có tính năng công dụng tương tự với sản phẩm của ngân hàng Với sự phát triển nhanh chóng như vũ bão của khoa
Trang 38học công nghệ như ngày nay, các sản phẩm sản xuất ra luôn được cải tiến Chính vì thế mức độ tham gia vào thị trường của các sản phẩm thay thế ngày càng lớn Nếu như các ngân hàng không thể tạo ra các sản phẩm có tính chuyên biệt, có sự khác biệt với các sản phẩm khác thì sự ra đời của các sản phẩm thay thế sẽ dần dần thay chỗ cho sản phẩm của ngân hàng Sự xuất hiện của xu thế này buộc các ngân hàng phải nâng cao khả năng cạnh tranh
Đối với ngân hàng, trong tiến trình hội nhập, đe doạ của các sản phẩm thay thế là rất lớn, do yếu kém hơn về loại hình dịch vụ, chất lượng dịch vụ nên việc cạnh tranh với ngân hàng nước ngoài về sản phẩm thay thế sẽ là khó khăn rất lớn Điều này đòi hỏi các ngân hàng trong nước phải đầu tư nghiên cứu sách lược cho từng thời kỳ để tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế
3.4 Đe doạ của những người mới nhập cuộc
Việc nền kinh tế ngày càng phát triển gắn liền với tự do hoá thương mại diễn ra ở cấp độ ngày càng cao Mặt khác tự do hoá không chỉ diễn ra ở trong nước mà còn mở rộng ra toàn thế giới Sức ép của các đối thủ mới gia nhập (cả trong và ngoài nước) với những lợi thế về công nghệ thiết bị, phương pháp quản lý tiên tiến hiện đại sẽ gây những bất lợi không nhỏ đối với ngân hàng nói riêng và toàn ngành nói chung
Trong một cuộc khảo sát được tiến hành vào tháng 9.2005 của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) phối hợp với Bộ Kế hoạch Đầu tư đưa
ra con số bất ngờ: 42% ngân hàng và 50% dân chúng được hỏi đều trả lời rằng họ sẽ lựa chọn vay ở các ngân hàng nước ngoài hơn là các ngân hàng nội địa khi mà chúng ta mở cửa tài chính Lý do là các ngân hàng này có tính chuyên nghiệp cao hơn, thủ tục đơn giản hơn, dịch vụ tốt hơn và mức độ tin cậy cao hơn Tuy nhiên, điều đó chưa đáng ngại lắm bằng thông tin sau đây: 50% ngân hàng và 62% dân chúng được hỏi cho rằng họ sẽ lựa chọn ngân
Trang 39hàng nước ngoài để gửi tiền Và trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, ngân hàng nào nắm được tiền gửi trong tay thì sẽ chiếm được ưu thế
Để đạt được lợi thế cạnh tranh là cả một quá trình phấn đấu liên tục của ngân hàng Việc có được lợi thế cạnh tranh nhưng làm như thế nào để khai thác được nó, duy trì được nó và giữ vững được nó là những vấn đề thực sự khó khăn
Như vậy, qua chương I chúng ta đã cùng nhau tìm một số vấn đề lý luận
về cạnh tranh Cạnh tranh luôn đi liền với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Để cạnh tranh được thì cần có đầy đủ nhận thức không chỉ về mặt lí luận mà còn cần có cả trải nghiệm trên thực tiễn, có sự tìm hiểu trên thực tế phát triển của nền kinh tế Và để có được cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn, chúng ta sẽ cùng nghiên cứu chương II của khoá luận “Thực trạng về khả năng cạnh tranh của chi nhánh NHCT khu vực Hai Bà Trưng – Hà Nội”
Trang 40CHƯƠNG II THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC HAI BÀ
130 chi nhánh và trên 700 điểm giao dịch Có 03 Công ty hạch toán độc lập là Công ty Cho thuê Tài chính, Công ty TNHH Chứng khoán, Công ty Quản lý
Nợ và Khai thác Tài sản và 02 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ
Thông tin và Trung tâm Đào tạo
Ngân hàng Công thương khu vực II Hai Bà Trưng - Hà Nội là một chi nhánh của NHCTVN Sau khi thực hiện nghị định số 53/HĐBT ngày 26/03/1998 của Hội đồng bộ trưởng về tổ chức bộ máy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chuyển sang cơ chế ngân hàng hai cấp, từ một chi nhánh ngân hàng cấp quận và một chi nhánh ngân hàng kinh tế cấp quận thuộc địa bàn quận Hai Bà Trưng, trực thuộc NHNN thành phố Hà Nội chuyển thành các chi nhánh NHCT khu vực I và II quận Hai Bà Trưng trực thuộc chi nhánh NHCT