Thông qua việc trình bày, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình bảo hiểm hàng hải tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí qua một số năm, người viết muốn phân tích hiệu quả kinh doanh trong hoạt
Trang 1LĨNH VỰC BẢO HIỂM HÀNG HẢI
Họ và tên sinh viên : Vũ Thị Thơ
Giáo viên hướng dẫn:: TS Trịnh Thị Thu Hương
Hà Nội, tháng 11/ 2006
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU Với bờ biển dài trên 3.260 km chạy suốt chiều dài đất nước, có nhiều vịnh, cửa sông nối liền với Thái Bình Dương, Việt Nam có một lợi thế mà nhiều quốc gia khác không có Lợi thế đó là tiềm năng, động lực để phát triển kinh tế hướng ra biển, nhất là phát triển kinh tế hàng hải Lịch sử đã chứng minh bảo hiểm hàng hải ra đời, phát triển song hành cùng với ngành kinh tế biển Bảo hiểm Việt Nam tuy ra đời muộn nhưng ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình đối với sự phát triển của kinh tế nói chung và ngành kinh tế biển nói
riêng
1 Tính cấp thiết của khóa luận tốt nghiệp
Việt Nam - là một nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, với
sự tác động tích cực đó (GDP, kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng; công nghiệp đóng tàu và vận tải biển trở thành một ngành kinh tế mũ nhọn của đất nước…), bảo hiểm hàng hải đã ngày một phát triển Tuy nhiên trên thực tế bảo hiểm hàng hải vẫn chưa tận dụng hết những cơ hội có được, chưa phát triển hết sức mạnh của mình Làm thế nào để ngành kinh doanh bảo hiểm hàng hải ngày càng phát triển? Điều này đã buộc các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hàng hải phải tính toán đến hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh có vai trò hết sức quan trọng - quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp
Công ty Bảo hiểm Dầu khí là một Công ty mới được thành lập nhưng đã nhanh chóng trở thành một trong những công ty đứng đầu thị trường bảo hiểm hàng hải Việt Nam Bên cạnh những mặt đạt được, hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hải của Công ty vẫn còn những tồn tại, vẫn chưa khai thác hết thị trường tiềm năng Hơn nữa, trên đà phát triển chung của nền kinh
tế đất nước, xu thế hội nhập đã và sẽ có những ảnh hưởng lớn đến thị trường bảo hiểm Việt Nam: cơ hội sẽ nhiều hơn, tính cạnh tranh đang ngày một gay
Trang 3gắt và khốc liệt hơn Để có thể đứng vững và duy trì một vị thế đáng kể trên thị trường, Công ty Bảo hiểm Dầu khí, cần có sự nghiên cứu sâu sắc hơn cả
về mặt lý luận và thực tiễn hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hải của Công ty, từ đó tìm ra một hệ thống giải pháp góp phần giải quyết những tồn tại
Với mục đích như trên, người viết đã chọn đề tài: "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hải tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí”
2 Mục tiêu của khóa luận
Thông qua việc trình bày, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình bảo hiểm hàng hải tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí qua một số năm, người viết muốn phân tích hiệu quả kinh doanh trong hoạt động này của Công ty Từ đó, người viết sẽ đưa ra một số định hướng và giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn, thúc đẩy sự phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Lấy hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hải trong phạm vi Công ty Bảo hiểm Dầu khí làm đối tượng nghiên cứu, từ đó tìm ra các giải pháp giúp Công ty phát triển hơn trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hải
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp
hệ thống, so sánh, phân tích, tổng hợp, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn thông qua các tài liệu và việc tìm hiểu, học hỏi trực tiếp từ Công ty Bảo hiểm Dầu khí Vận dụng các quan điểm, đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
Trang 45 Những đóng góp của khóa luận
Khóa luận đã cung cấp hệ thống lý luận về hiệu quả kinh doanh nói chung và
về hiệu quả kinh doanh bảo hiểm hàng hải nói riêng
Đưa ra những đánh giá cụ thể về thực trạng kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí, từ đó chỉ rõ và phân tích ưu, nhược điểm của hoạt động này ở Công ty
Xây dựng được một hệ thống các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hải tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí
6 Kết cấu của khóa luận
Khóa luận ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về hiệu quả kinh doanh
Chương II: Thực trạng hiệu quả kinh doanh bảo hiểm hàng hải của Công ty Bảo hiểm Dầu khí
Chương III: Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công
ty Bảo hiểm Dầu khí
Em xin gửi lời cám ơn chân thành đến cô giáo TS Trịnh Thị Thu Hương đã giúp đỡ em trong quá trình viết khóa luận này Em xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Bảo hiểm Hàng hải thuộc Công ty Bảo hiểm Dầu khí đã giúp đỡ em trong quá trình thu thập tài liệu
Trang 5CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
I KHÁI QUÁT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu
tố của quá trình kinh doanh (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, tiền
vốn…) ở doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong hoạt động kinh
doanh với chi phí thấp nhất Nó không chỉ là thước đo trình độ tổ chức quản lý
kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp
Để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh doanh, cần phân biệt ranh
giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả kinh doanh Có thể hiểu kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một
quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt là mục tiêu cần thiết
của doanh nghiệp Kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp có thể là những
đại lượng cân đo đong đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh
thu, lợi nhuận, thị phần… và cũng có thể chỉ là những đại lượng chỉ phản ánh
mặt chất lượng hoàn toàn có tính định tính như uy tín của doanh nghiệp,…
Trong khi đó, người ta sử dụng hai chỉ tiêu kết quả và chi phí (các nguồn lực
đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh Cả hai chỉ tiêu là kết quả
(đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) đều có thể được xác định bằng
đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác
định hiệu quả kinh doanh sẽ vấp phải khó khăn là giữa “đầu vào” và “đầu ra”
không có cùng một đơn vị đo lường còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn
đưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường - tiền tệ
Trang 6Nâng cao hiệu quả kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ doanh nghiệp nào Hiện nay hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng chung của tất cả các quốc gia trên thế giới, nó tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển kinh
tế, đồng thời cũng làm gia tăng áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp Rõ ràng, để tồn tại và phát triển buộc doanh nghiệp phải tính toán đến hiệu quả kinh doanh, tìm mọi cách để tăng tối đa thu nhập, giảm tối đa chi phí và tính toán đến một loạt các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
2 Phân loại hiệu quả kinh doanh
Phạm trù hiệu quả kinh doanh được biểu hiện ở những dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trưng, ý nghĩa cụ thể của hiệu quả Việc phân loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực cho công tác quản lý thương mại Nó là cơ sở để xác định các chỉ tiêu và mức hiệu quả kinh doanh, đồng thời đề ra những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
2.1 Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân
Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả kinh doanh thu được từ hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp Biểu hiện chung của hiệu quả cá biệt là doanh lợi mà mỗi doanh nghiệp đạt được
Hiệu quả kinh tế xã hội là sự đóng góp của hoạt động sản xuất kinh doanh vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động
xã hội, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân
Giữa hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội có mối quan hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt được trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của doanh nghiệp Tuy vậy, có thể
có những doanh nghiệp kinh doanh không đảm bảo được hiệu quả, bị lỗ
Trang 7nhưng nền kinh tế vẫn thu được hiệu quả Tuy nhiên tình hình thua lỗ của một doanh nghiệp nào đó chỉ có thể chấp nhận được trong ngắn hạn do những nguyên nhân khách quan mang lại Các doanh nghiệp phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân vì đó là tiền tề, là điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả Nhưng để doanh nghiệp quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội nói chung của nền kinh tế quốc dân, nhà nước cần có chính sách đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích xã hội với lợi ích doanh nghiệp và cá nhân người lao động
2.2 Hiệu quả của chi phí tổng hợp và bộ phận
Mỗi doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong điều kiện cụ thể về nguồn tài nguyên, trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ tổ chức và quản lý lao động, quản lý kinh doanh Họ đưa ra thị trường sản phẩm của mình với một chi phí cá biệt nhất định và người nào cũng muốn tiêu thụ được hàng hóa của mình với giá cao nhất Tuy vậy, khi đưa hàng hóa của mình ra bán trên thị trường, họ chỉ có thể bán theo một mức là giá cả thị trường nếu sản phẩm hoàn toàn giống nhau về chất lượng
Sở dĩ như vậy là vì thị trường hoạt động theo quy luật giá trị Quy luật giá trị đã đặt tất cả các doanh nghiệp với mức chi phí cá biệt khác nhau trên cùng một mặt bằng trao đổi thông qua mức giá thị trường
Suy đến cùng, chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội Tại mỗi doanh nghiệp mà chúng ta cần đánh giá hiệu quả thì chi phí lao động xã hội đó lại được thể hiện dưới dạng chi phí cụ thể :
Giá thành sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất …
Bản thân mỗi loại chi phí trên lại có thể phân chia chi tiết cụ thể hơn Đánh giá hiệu quả kinh doanh không thể không đánh giá hiệu quả tổng hợp của
Trang 8các loại chi phí và cũng rất cần thiết phải đánh giá hiệu quả từng loại chi phí cá biệt của doanh nghiệp nhằm tăng hiệu quả kinh doanh
Như vậy, hiệu quả kinh doanh nói chung được tạo thành trên cơ sở hiệu quả của các loại chi phí cấu thành Vì vậy bản thân các doanh nghiệp phải quan tâm xác định những biện pháp đồng bộ để thu được hiệu quả toàn diện trên các yếu tố đó
2.3 Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh, việc xác định hiệu quả nhằm đạt hai mục đích cơ bản :
Một là, thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các dạng chi phí trong hoạt động kinh doanh
Hai là, phân tích luận chứng về kinh tế các phương án khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó, từ đó lựa chọn lấy một phương án có lợi nhất
Hiệu quả quả tuyệt đối là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án
cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra Chẳng hạn, tính toán mức lợi nhuận thu được từ một đồng chi phí sản xuất (giá thành), hoặc từ một đồng vốn bỏ ra…
Người ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện một thương vụ nào đó, để biết được với những chi phí bỏ ra sẽ thu được những lợi ích cụ thể và mục tiêu cụ thể gì, từ đó đi đến quyết định có nên bỏ chi phí
ra hay không cho từng thương vụ đó Vì vậy, trong công tác quản lý kinh doanh, bất kỳ công việc gì đòi hỏi phải bỏ ra chi phí dù với một lượng lớn hay nhỏ cũng đều phải tính toán đến hiệu quả tuyệt đối
Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án với nhau Nói cách khác, hiệu quả so sánh
Trang 9chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phương án Mục đích chủ yếu của việc tính toán này là so sánh mức độ hiệu quả của các phương
án (hoặc cách làm khác nhau cùng thực hiện một nhiệm vụ), từ đó cho phép lựa chọn một cách làm hiệu quả nhất
Trên thực tế, để thực hiện một nhiệm vụ nào đó, người ta không chỉ tìm thấy một cách (một phương án, một con đường, một giải pháp), mà còn có thể đưa
ra nhiều cách làm khác nhau Mỗi cách làm đó đòi hỏi lượng đầu tư vốn, lượng chi phí khác nhau, thời gian thực hiện và thời gian thu hồi vốn đầu tư cũng khác nhau Vì vậy, muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao, người làm công tác quản lý và kinh doanh không nên tự chói mình vào một cách làm mà vận dụng mọi sự hiểu biết để đưa ra nhiều phương án khác nhau, rồi so sánh hiệu quả kinh tế của các phương án đó nhằm chọn ra một phương án tối ưu
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, song chúng có tính độc lập tương đối Hiệu quả tuyệt đối là cơ sở để xác định hiệu quả so sánh Cụ thể là, trên cơ sở những chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của từng phương án người ta so sánh mức hiệu quả ấy của các phương án với nhau Mức chênh lệch của hiệu quả tuyệt đối chính là hiệu quả so sánh
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh có tính độc lập tương đối, thể hiện ở chỗ, có những chỉ tiêu hiệu quả so sánh được xác định không phụ thuộc vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối Lúc này, hiệu quả tuyệt đối không là cơ sở
để xác định hiệu quả so sánh Chẳng hạn, việc so sánh giữa mức chi phí của phương án với nhau để chọn ra phương án có chi phí thấp nhất, thực chất chỉ
là so sánh mức chi phí của các phương án chứ không phải là so sánh mức hiệu quả tuyệt đối của các phương án
Trang 103 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Trong cơ chế thị trường, không phải cứ xây dựng được một phương án kinh doanh tốt là doanh nghiệp có thể đạt được hiệu quả kinh doanh tối đa, mà việc đạt hiệu quả kinh doanh cao hay thấp, tốt hay xấu còn phụ thuộc vào nhiều yếu
tố cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp Doanh nghiệp chỉ đạt được hiệu quả kinh doanh khi đảm bảo chi phí tối thiểu và lợi nhuận tối đa, nghĩa là doanh nghiệp biết quản lý chi phí và sử dụng nguồn lực hiệu quả Xét cho cùng, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng
là các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu và chi phí của doanh nghiệp
3.1 Môi trường pháp lý và các chính sách của nhà nước
Một trong những nhân tố của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh là môi trường pháp lý và chính sách của nhà nước
Luật quốc tế và luật quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Luật pháp sẽ quy định và cho phép những lĩnh vực hoạt động và hình thức kinh doanh nào mà doanh nghiệp có thể thực hiện và những lĩnh vực nào doanh nghiệp không được phép tiến hành hoặc được phép tiến hành nhưng có hạn chế ở quốc gia đó cũng như ở khu vực đó
Luật pháp mỗi quốc gia cũng liên hệ và ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh giữa các nước với nhau Trong điều kiện này buộc các quốc gia phải điều chỉnh hoạt động của mình cho thích ứng, các doanh nghiệp phải phản ứng linh hoạt
để đáp ứng nhanh với những quy định mới về luật quốc gia mà doanh nghiệp đang hoạt động Những tác động, ảnh hưởng chủ yếu của luật đối với hoạt động của doanh nghiệp thể hiện ở những điểm cơ bản sau:
Trang 11 Các quy định về giao dịch: hợp đồng, sự bảo vệ các bằng sáng chế, phát minh, luật bảo hộ nhãn hiệu thương mại, bí quyết công nghệ, quyền tác giả…
Môi trường pháp luật chung: luật môi trường, tiêu chuẩn về an toàn lao động,…
Luật thành lập doanh nghiệp, các ngành, các lĩnh vực kinh doanh
Ngoài luật pháp và các chính sách quốc gia, luật quốc tế có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh đặc biệt đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu Luật quốc
tế theo nghĩa rộng bao gồm những luật ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế Theo nghĩa hẹp bao gồm các hiệp định chi phối mối quan hệ giữa các quốc gia liên quan đến dòng di chuyển hàng hóa, tiền tệ, lao động,… Các hiệp định song phương và đa phương không chỉ tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh quốc tế tiến hành trôi chảy hơn, mà còn góp phần giúp giải quyết các vấn đề mới phát sinh trong kinh doanh, cũng như tranh chấp giữa các quốc gia và giữa các nhà kinh doanh
Trang 123.2 Tổ chức quản lý và kinh doanh
Trong doanh nghiệp, việc tổ chức kinh doanh được coi là nhân tố có ý nghĩa
vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến tổ chức quản lý các hoạt động kinh tế vi
mô của doanh nghiệp bao gồm các khâu cơ bản như: định hướng chiến lược
cơ bản phát triển doanh nghiệp, xây dựng kế hoạch, phương án kinh doanh, đánh giá kiểm tra và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh Các khâu của quá trình quản lý hoạt động kinh tế vi mô làm tốt sẽ làm tăng sản lượng, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí quản lý Đó là điều kiện quan trọng để tăng thêm lợi nhuận
Để tổ chức, quản lý và kinh doanh có hiệu quả thì bộ máy quản lý phải hợp
lý giúp doanh nghiệp quản lý chi phí hiệu quả, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận Muốn vậy, trong quá trình xây dựng, tổ chức phải quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm từng bộ phận Cơ cấu tổ chức phải chỉ ra được các vị trí khác nhau, những người nắm giữ các vị trí đó, và các mối liên quan quyền lực giữa người này với người khác Cụ thể là, mỗi nhân viên của doanh nghiệp phải biết rõ vị trí của họ trong cơ cấu và xác định được mối liên quan về quyền lực giữa họ và người khác của tổ chức Đồng thời doanh nghiệp cần xây dựng bộ máy gọn nhẹ, linh hoạt và mềm dẻo để thích ứng được trước những thay đổi của môi trường kinh doanh Ngày nay, tồn tại rất nhiều cơ cấu bộ máy tổ chức quản trị, tuy nhiên tùy theo từng đặc điểm kinh doanh, từng thời kỳ mà mỗi doanh nghiệp chọn một cơ cấu tổ chức hợp lý
3.3 Nguồn nhân lực
Lao động là một trong ba yếu tố chủ yếu của sản xuất Sự tác động của yếu
tố lao động đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được thể hiện trên hai mặt đó là số lượng lao động và năng suất lao động Trong mỗi thời kỳ
Trang 13nhất định, số lượng lao động nhiều hay ít, năng suất lao động cao hay thấp, trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Trong mỗi doanh nghiệp, số lượng lao động nhiều hay ít tùy thuộc vào nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh, trình độ trang thiết bị kỹ thuật và trình độ tổ chức quản lý Dù là lao động thường xuyên hay là lao động theo hợp đồng, toàn bộ lực lượng lao động của doanh nghiệp bao gồm hai loại sau:
Lao động trực tiếp: là những người trực tiếp sản xuất kinh doanh, trực tiếp quản lý kỹ thuật
Lao động gián tiếp: là những người làm nhiệm vụ tổ chức, quản lý và phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh (bộ máy tổ chức hành chính sự nghiệp…)
Cả hai loại lao động này đều cần thiết cho mọi doanh nghiệp Song xác định cấu thành hợp lý giữa lao động trực tiếp và gián tiếp là một biện pháp
có ý nghĩa quan trọng, quyết định năng suất lao động và hiệu suất công tác của mỗi loại lao động
Cấu thành lực lượng lao động được coi là hợp lý khi số lượng lao động trực tiếp đảm bảo toàn diện và hiệu quả cho mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và số lượng lao động gián tiếp đủ đảm bảo đảm bảo quản lý phục vụ tốt quá trình sản xuất kinh doanh
Khi có đủ lực lượng lao động với trình độ và cơ cấu hợp lý sẽ tạo ra khả năng thuận lợi để nâng cao hiệu quả kinh doanh Muốn vậy đội ngũ cán bộ công nhân viên phải có thể lực tốt, có kiến thức vững về chuyên môn, giỏi ngoại ngữ, có nghệ thuật trong giao tiếp, có khả năng tiếp thu với khoa học tiên tiến hiện đại
Tuy nhiên, trình độ lao động cao và cơ cấu hợp lý mới chỉ là điều kiện cần,
là khả năng thuận lợi nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh Khả năng đó trở
Trang 14thành hiện thực hay không còn tùy thuộc vào tình hình sử dụng lao động được biểu hiện ở chỉ tiêu năng suất lao động
Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh vì năng suất lao động là một chỉ tiêu bộ phận phản ánh hiệu quả kinh doanh.Có thể nêu ra một số nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động là:
Trình độ nghiệp vụ của lao động;
Trình độ cơ khí hóa sản xuất và tình trạng thiết bị kỹ thuật của doanh nghiệp;
Chất lượng của nguyên liệu sản xuất hay sản phẩm kinh doanh;
Trình độ tổ chức quản lý kinh doanh và sử dụng lao động…
Như vậy, lực lượng lao động là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, tạo ra “giá trị thặng dư” cho doanh nghiệp
Mác - Lênin chỉ ra rằng, hiệu quả kinh tế bắt nguồn từ sự tiết kiệm lao động sống (tăng năng suất) và lao động quá khứ (giảm chi phí sản xuất kinh doanh) Vì vậy, việc sắp xếp hợp lý tổ chức kinh doanh là một biện pháp để giảm chi phí lao đống sống và lao động quá khứ, cũng có nghĩa là nâng cao hiệu quả kinh doanh
3.4 Vốn kinh doanh
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải có một khối lượng nhất định về vốn Nói cách khác, vốn là yếu tố có tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Vốn lớn không những giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất, đa dạng hóa mặt hàng, mở rộng thị trường kinh doanh mà còn là nền tảng vững chắc giúp doanh nghiệp phát triển lâu dài, ổn định, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 15Vốn kinh doanh thực chất là nguồn của cải xã hội tích lũy lại, là một điều kiện, một nguồn khả năng để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, vốn kinh doanh chỉ biết phát huy tác dụng khi biết quản lý, sử dụng vốn một cách đúng hướng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả Như vậy, vốn kinh doanh kết hợp với khả năng sử dụng vốn là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả
sử dụng vốn, khái quát hơn là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
3.5 Chất lượng của nguyên vật liệu và hàng hóa, dịch vụ
Với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nguyên vật liệu có ý nghĩa quyết định, là một trong ba yếu tố cơ bản của sản xuất Cơ cấu nguyên vật liệu hợp lý cả về số lượng, chất lượng, giá cả chủng loại sẽ góp phần tạo ra sản phẩm có chất lượng cao giá cả hợp lý
Chất lượng sản phẩm tốt cùng với việc nâng cao chất lượng dịch vụ góp phần tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, giảm hợp lý chi phí sẽ làm tăng lợi nhuận, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
3.6 Thị trường và môi trường cạnh tranh
Kinh tế thị trường là nền kinh tế được điều tiết chủ yếu bởi thị trường và quy luật cạnh tranh là cơ chế vận động của thị trường, nói khác đi thị trường là nơi gặp gỡ của đối thủ cạnh tranh
Trong thương mại quốc tế, các doanh nghiệp cần nâng cao không ngừng năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường nhằm đạt hiệu quả tối ưu Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở chất lượng sản phẩm dịch vụ và giá hàng hóa Xét đến cùng, để nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp cần giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ hay quản lý chi phí và nguồn lực hiệu quả Như vậy, chính sức ép cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường đã làm cho giá cả các “yếu tố đầu vào” và “yếu tố đầu ra” biến động theo những xu hướng khác nhau Điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải linh hoạt điều chỉnh các hoạt động của
Trang 16mình nhằm giảm thách thức, tăng thời cơ giành thắng lợi trong cạnh tranh Muốn vậy doanh nghiệp cần nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, đưa ra thị trường những sản phẩm dịch vụ mới, chất lượng cao và giá thành hợp lý
Tóm lại : Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp cũng chính là những nhân tố tác động đến doanh thu và chi phí Vì vậy, ngoài các biện pháp vĩ mô từ phía nhà nước, các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bao gồm các biện pháp tăng doanh thu và giảm chi phí một cách hợp lý
II HIỆU QUẢ KINH DOANH NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HẢI
1 Bảo hiểm hàng hải
1.1 Khái niệm
Bảo hiểm hàng hải là bảo hiểm những rủi ro trên biển hoặc những rủi ro trên bộ, trên sông liên quan đến hành trình đường biển, gây tổn thất cho các đối tượng bảo hiểm chuyên chở trên biển
Bảo hiểm hàng hải có lịch sử rất lâu đời Một trong những đơn bảo hiểm đầu tiên mà người ta tìm thấy là đơn bảo hiểm cấp vào năm 1347 tại Genoa (Italia) cho tàu Santaclara đi đến quần đảo Magioca thuộc Tây Ban Nha Người ta cho rằng bảo hiểm hàng hải ra đời bắt đầu từ những người cho vay nặng lãi sống ở miền Bắc Italia Những người này thường cho chủ tàu vay
nợ với điều kiện là nếu tàu đi trót lọt thì chủ tàu phải trả một khoản lãi rất nặng Ngược lại, nếu tàu bị đắm thì, mất hết thì được xoá nợ Lối cho vay nặng này được gọi là vay “được ăn cả ngã về không” hay cho vay kiêm bảo hiểm
Bảo hiểm sau đó phát triển sang Anh Nước Anh là nước có nền ngoại thương phát triển nên bảo hiểm cũng phát triển sớm và đầy đủ hơn Ngay từ
Trang 17thế kỷ 17 Anh đã có mẫu đơn bảo hiểm tàu và hàng (Lloy‟s SG form) vẫn được áp dụng cho đến ngày nay
1.2 Phân loại bảo hiểm hàng hải
Bảo hiểm hàng hải gồm ba loại:
Bảo hiểm thân tàu (Hull Insurance): bảo hiểm thân tàu là bảo hiểm những thiệt hại vật chất xảy ra đối với vỏ tàu, máy móc và các thiết bị trên tàu đồng thời bảo hiểm cước phí, các chi phí hoạt động của tàu và một phần trách nhiệm mà chủ tàu phải chịu trong trường hợp tàu đâm
va nhau
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu (P&I Insurance): là bảo hiểm những thiệt hại phát sinh từ trách nhiệm của chủ tàu trong quá trình sở hữu, kinh doanh, khai thác tàu biển
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển: là bảo hiểm những mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa hay trách nhiệm liên quan đến hàng hóa bảo hiểm Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển bao gồm bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, hàng hóa vận chuyển trong nội địa
1.3 Vai trò của bảo hiểm hàng hải
Giao thông đường biển có vai trò rất quan trọng trong quá trình quốc tế hóa
về thương mại Không ai có thể phủ nhận được lợi ích kinh tế của nó Hàng năm, ngành giao thông đường thủy trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra một khoản lợi nhuận khổng lồ, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập quốc dân Kinh doanh tàu biển là một loại hình kinh doanh đòi hỏi vốn đầu tư khổng lồ vì giá trị của mỗi con tàu là rất lớn, vì vậy mà khi gặp rủi ro thì tổn thất là không nhỏ và khó khôi phục được Là một ngành chiếm tỷ trọng
Trang 18lớn trong hoạt động buôn bán ngoại thương nhưng vận tải biển cũng là ngành chịu nhiều rủi ro xuất phát từ ba yếu tố:
Tự nhiên: Do hoạt động dài ngày trên biển lại có khối lượng lớn nên tàu biển dễ bị tác động của các yếu tố tự nhiên bất lợi như sóng thần, bão tố, núi lửa phun, băng trôi, đá ngầm và các vụ tổn thất về tàu do các yếu tố tự nhiên chiếm tỷ lệ lớn
Kỹ thuật: Dù ngày nay khoa học kỹ thuật đã phát triển vượt bậc, các con tàu trọng tải lớn có trang bị thiết bị hiện đại, sử dụng hệ thống định
vị hàng hải vệ tinh toàn cầu thì những tai nạn đáng tiếc không vì thế
mà mất đi và giá trị thiệt hại mỗi vụ rất lớn
Xã hội, con người: Các rủi ro chiến tranh, đình công, cướp biển cũng gây ra những tổn thất không nhỏ đối với các con tàu
Bảo hiểm hàng hải ra đời đã mang lại những lợi ích to lớn cho các chủ tàu
và chủ hàng Bảo hiểm hàng hải là một phương tiện cung cấp cho họ một sự đảm bảo hữu hiệu về khả năng khắc phục những rủi ro có thể xảy ra đối với tài sản của họ, cũng như có thể đảm bảo cho các nhà vận chuyển có thể thực hiện trách nhiệm dân sự của họ đối với người thứ ba và đối với hàng hóa được giao phó Nói cách khác, bảo hiểm hàng hải sẽ giúp các tổ chức mua bảo hiểm bảo toàn được vốn liếng tài sản, duy trì khả năng kinh doanh trong trường hợp không may gặp rủi ro
2 Hiệu quả kinh doanh bảo hiểm hàng hải
2.1 Khái niệm
Hiệu quả kinh doanh của bảo hiểm hàng hải là thước đo sự phát triển của bản thân lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm hàng hải và phản ánh trình độ sử dụng chi phí trong việc tao ra những kết quả kinh doanh nhất định, nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Trang 19Với tư cách là thước đo sự phát triển của bảo hiểm hàng hải, hiệu quả kinh doanh thể hiện ở các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế, xã hội khác nhau Nhưng vấn đề đáng lưu ý ở đây là không phải tất cả các chỉ tiêu kinh tế, xã hội đều
là chỉ tiêu hiệu quả Các chỉ tiêu phản ánh chi phí (chẳng hạn: tiền lương so với tổng chi phí) và cơ cấu kết quả kinh doanh (chẳng hạn: lợi nhuận so với doanh thu) đều không phải là chỉ tiêu hiệu quả Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh chỉ có thể được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa kết quả với chi phí Nếu lấy mỗi chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh so với một chỉ tiêu phản ánh chi phí, ta được một chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh Khi đánh giá tốc độ phát triển kinh doanh của bảo hiểm hàng hải có thể dùng nhiều chỉ tiêu phản ánh như: tốc độ tăng doanh thu, tốc độ tăng lợi nhuận… nhưng đó chỉ
là chỉ tiêu “bề nổi” Các chỉ tiêu “bề sâu” phải là các chỉ tiêu hiệu quả kinh
tế Bởi vì, tốc độ tăng doanh thu hay lợi nhuận chỉ nói lên động thái của kết quả kinh doanh, chứ chưa đề cập đến chi phí trong kinh doanh Nếu chi phí tăng nhanh và sử dụng lãng phí về lâu dài, tốc độ tăng đó sẽ không có ý nghĩa và hoàn toàn không có hiệu quả
Việc phản ánh tình hình sử dụng các loại chi phí trong việc tạo ra kết quả kinh doanh là nội dung cơ bản của hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh doanh bảo hiểm hàng hải nói riêng Nội dung này được phản ánh bởi nhiều chỉ tiêu Mỗi chỉ tiêu hiệu quả biểu thị một mặt, một yếu tố hay một loại chi phí nào đó trong quá trình sử dụng Các chỉ tiêu này lại mang tính tương đối, tức là nó phản ánh mức đạt được của một năm để từ đó so với năm trước đó hoặc những năm trước nữa xem nó tăng giảm và biến động như thế nào Xu hướng biến động nhanh hay chậm cho thấy sự tốt lên hay xấu đi trong quá trình sử dụng chi phí hoặc các nguồn lực
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và lĩnh vực bảo hiểm hàng hải nói riêng luôn gắn liền với mục tiêu kinh tế - xã hội Trước
Trang 20hết là mục tiêu của doanh nghiệp, sau đó là của ngành bảo hiểm và toàn bộ nền kinh tế - xã hội Bởi vì bảo hiểm không chỉ mang tính kinh tế, mà còn mang tính xã hội Cho nên, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của kinh doanh bảo hiểm hàng hải không chỉ xét trên góc độ kinh tế mà còn phải xét trên góc độ phục vụ xã hội Nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” trong kinh doanh bảo hiểm càng làm cho tính chất xã hội của nó rõ nét hơn Từ đó làm cho công tác xã hội hóa của bảo hiểm ngày càng sâu rộng Bởi vậy hiệu quả
xã hội của kinh doanh bảo hiểm hàng hải cũng phải đƣợc phản ánh ở trình
độ sử dụng chi phí trong việc tạo ra những kết quả phục vụ xã hội
2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải
Trang 21
Nhƣ vậy, về nguyên tắc cứ mỗi chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh so với một chỉ tiêu phản ánh chi phí nào đó sẽ tạo thành một chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh tính theo chiều thuận K/C hoặc chiều ngƣợc lại C/K
Nếu đứng trên góc độ kinh tế : Hiệu quả kinh doanh của bảo hiểm
hàng hải đƣợc đo bằng tỷ số giữa doanh thu hoặc lợi nhuận với tổng chi phí chi ra trong kỳ:
HD , HL : Hiệu quả kinh doanh của bảo hiểm hàng hải tính theo
doanh thu và lợi nhuận;
D : Doanh thu trong kỳ;
L : Lợi nhuận thu đƣợc trong kỳ;
C : Tổng chi phí chi ra trong kỳ
Chỉ tiêu (1) nói lên cứ một đồng chi phí chi ra trong kỳ, tạo ra bao nhiều đồng doanh thu, còn chỉ tiêu (2) phản ánh cứ một đồng chi phí chi ra trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hàng hải Các chỉ tiêu trên càng lớn càng tốt, vì với chi phí nhất định, cho doanh nghiệp
sẽ có mức doanh thu và lợi nhuận ngày càng tăng
Nếu xét trên góc độ xã hội : hiệu quả kinh doanh của bảo hiểm hàng hải đƣợc thể hiện ở hai chỉ tiêu sau:
Trang 22CBH : Tổng chi phí cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hải ; KTG : Số khách hàng tham gia bảo hiểm trong kỳ;
KBT : Số khách hàng được bồi thường trong kỳ
Chỉ tiêu (3) phản ánh cứ một đồng chi phí chi ra trong kỳ đã thu hút được bao nhiêu khách hàng tham gia bảo hiểm Còn chỉ tiêu (4) nói lên cùng với đồng chi phí đó đã góp phần giải quyết và khắc phục hậu quả cho bao nhiêu khách hàng gặp rủi ro trong kỳ nghiên cứu Tất cả chỉ tiêu trên phản ánh tổng hợp nhất mọi mặt hoạt động kinh doanh của bảo hiểm hàng hải
2.2.2 Hiệu quả sử dụng vốn
- Số vòng quay của vốn : tốc độ luân chuyển vốn là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh trình độ quản lý kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hàng hải Nó được tính bằng công thức:
2.2.3 Hiệu quả sử dụng lao động
Số lượng lao động và chất lượng lao động là yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh bảo hiểm hàng hải Hiệu quả sử dụng lao động được biểu hiện ở doanh thu bình quân một lao động và mức sinh lời của lao động
Trang 23- Chỉ tiêu doanh thu bình quân một lao động : chỉ tiêu này phản ánh một lao động có thể làm lợi cho doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hàng hải bao nhiêu đồng doanh thu trong một kỳ Nó đƣợc tính bằng công thức :
Hoạt động chủ yếu của Doanh nghiệp bảo hiểm là tổ chức kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đề ra Mỗi nghiệp vụ bảo
Trang 24hiểm thường được doanh nghiệp triển khai theo một quy trình thống nhất gồm ba khâu cơ bản:
- Khai thác bảo hiểm (bán các dịch vụ, các sản phẩm bảo hiểm);
Vì vậy, muốn đánh giá được hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải cần phải phân tích hiệu quả kinh doanh của mỗi khâu thông qua các chỉ tiêu hiệu quả
Trang 25CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH BẢO HIỂM HÀNG
HẢI CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ
(GIAI ĐOẠN 2000 – 2005)
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ
1 Quá trình ra đời và phát triển của Công ty Bảo hiểm Dầu khí
Công ty Bảo hiểm Dầu khí được thành lập ngày 23/01/1996 theo quyết
định số 12/BT của Văn phòng Chính phủ Công ty Bảo hiểm Dầu khí là
doanh nghiệp thành viên của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, là doanh
nghiệp nhà nước hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng,
được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước
Khi mới thành lập, Công ty Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam có trụ sở chính tại
số 10 đường Điện Biên Phủ - Hà Nội Cuối năm 1999, Bảo hiểm Dầu khí
chuyển trụ sở chính tới 154 Nguyễn Thái Học- Quận Ba Đình- Hà Nội và
có thêm chi nhánh tại Đà Nẵng Đến năm 2005, công ty có 11 chi nhánh và
các đại lý chuyên nghiệp
Công ty Bảo hiểm Dầu khí ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của
ngành dầu khí, một ngành kinh tế trọng điểm của đất nước với lượng vốn
đầu tư rất lớn và mang tính quốc tế cao Trong quá trình xây dựng một tập
đoàn Dầu khí quốc gia, ngoài việc quản lý các dự án dầu khí trong nước,
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (Petro Việt Nam) đang từng bước mở rộng
hoạt động, vươn mạnh ra thị trường quốc tế Để đảm bảo định hướng phát
triển của ngành dầu khí, Petro Việt Nam đã quyết định thành lập Công ty
Bảo hiểm Dầu khí (tên giao dịch quốc tế là PV Insurance) với nhiệm vụ xây
dựng chương trình quản lý rủi ro, đảm bảo an toàn tài sản, cũng như các hạt
Trang 26động của ngành, đồng thời trực tiếp kinh doanh sinh lời để tăng tiềm lực tài chính
Chặng đường khởi đầu và phát triển của Công ty trong 10 năm qua đã được đành dấu bằng những bước tiến vững chắc, khẳng định với khách hàng hình ảnh của một thương hiệu mạnh, có năng lực tài chính với tập thể đội ngũ lãnh đạo, cán bộ nhân viên trẻ, đoàn kết, năng động và chuyên nghiệp Với những thành tích xuất sắc trong kinh doanh, nộp ngân sách nhà nước
và nâng cao đời sống của người lao động, Công ty đã được xếp hạng là doanh nghiệp nhà nước hạng một và là một trong những công ty bảo hiểm hàng đầu của Việt Nam Năm 2004, Công ty Bảo hiểm Dầu khí đã vinh dự được Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng Ba, được Hội doanh nghiệp trẻ tặng giải thưởng Sao vàng Đất Việt cho thương hiệu “Bảo hiểm dầu khí Việt Nam”
2 Cơ cấu tổ chức của Công ty Bảo hiểm Dầu khí
Đội ngũ cán bộ: Công ty luôn chú trọng đến nhân tố con người, đào tạo đội ngũ cán bộ năng động và chuyên nghiệp, phát huy tinh thần đoàn kết trong tập thể cán bộ công nhân viên trong Công ty
- Tổng số lao động: 330 người
- Số lao động có trình độ trên đại học: 15 người
- Số lao động có trình độ đại học: 292 người
Cơ cấu tổ chức của công ty: Công ty Bảo hiểm Dầu khí sắp xếp mô hình tổ chức theo chức năng, nghĩa là mỗi phòng ban của công ty được xắp sếp theo công việc mà bộ phận đó có nghĩa vụ hoàn thành Mỗi phòng ban được xắp sếp theo một công việc cụ thể, nhưng thành một hệ thống nhất của công
ty để hoàn thành mục tiêu chiến lược công ty đã đề ra Số phòng ban theo chức năng phụ thuộc vào quy mô công ty
Trang 27Dưới đây là mô hình tổ chức của Công ty Bảo hiểm Dầu khí:
Hình 1: Cơ cấu tổ chức của Công ty Bảo hiểm Dầu khí
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
DOANH
CÁC CHI NHÁNH VÀ ĐẠI LÝ CHUYÊN NGHIỆP
P.BẢO HIỂM HÀNG HẢI
P.BẢO HIỂM KỸ THUẬT
P.PHÁT TRIỂN KINH DOANH
P TÁI BẢO HIỂM
P.ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH
CHI NHÁNH KV DUYÊN HẢI
CHI NHÁNH KV TÂY BẮC
CHI NHÁNH KHU VỰC BẮC TRUNG BỘ
CHI NHÁNH KHU VỰC ĐÔMG
Trang 28Lĩnh vực hoạt động kinh doanh
- Kinh doanh bảo hiểm:
Bảo hiểm dầu khí
Bảo hiểm hàng hóa
Bảo hiểm thân tàu và P&I
Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt
Bảo hiểm xây dựng, lắp đặt
Bảo hiểm trách nhiệm
Bảo hiểm xe cơ giới
Bảo hiểm con người
Các loại bảo hiểm phi nhân thọ khác
- Hợp tác và tái bảo hiểm
Việc bảo hiểm cho các công trình lớn trong các lĩnh vực dầu khí, hàng không, phí bảo hiểm do thị trường quyết định Vì vậy, Công ty Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam luôn quan tâm mở rộng, quan hệ hợp tác tốt với các nhà bảo hiểm và môi giới bảo hiểm quốc tế để có mức phí cạnh tranh nhất phục vụ khách hàng
Hiện nay năng lực của các công ty bảo hiểm trong nước chưa mạnh, thường chỉ giữ được khoảng 5% - 7% của mỗi chương trình bảo hiểm lớn thì việc mở rộng các chương trình tái bảo hiểm cố định sẽ là điều kiện đảm bảo an toàn nhất cho khách hàng
- Hoạt động đầu tư vốn:
(Nguồn: Báo cáo thường niên 2005 – Công ty Bảo hiểm Dầu khí)
Trang 29 Với số vốn điều lệ, các quỹ dự phòng trên 800 tỷ đồng và các khoản tiền nhàn rỗi trong kinh doanh, Công ty Bảo hiểm Dầu khí đã đầu tư hiệu quả vào các dự án lớn như: tàu chứa dầu, dự án phân phối khí thấp áp, các dự án đóng tàu và trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán…
- Dịch vụ khác:
Hoạt động tư vấn bảo hiểm và quản lý rủi ro;
Thực hiện các dịch vụ giám định, điều tra tính toán, phân phối tổn thất, đại lý giám định, giải quyết bồi thường và đòi người thứ ba…
3 Tình hình kinh doanh của Công ty Bảo hiểm Dầu khí
Công ty Bảo hiểm Dầu khí ra đời và hoạt động trong bối cảnh thị trường bảo hiểm Việt Nam đã trở nên sôi động, từ chỗ quy mô chưa phát triển, đến nay đã có hơn 20 công ty bảo hiểm với thành phần đa dạng trong sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt của nền kinh tế thị trường
Giai đoạn 5 năm đầu (1996 - 2000), Công ty Bảo hiểm Dầu khí đã duy trì và củng cố hoạt động của mình với doanh thu bình quân 100 tỷ đồng/năm, nộp ngân sách nhà nước hàng năm trên 48 tỷ đồng và đạt trên 30 tỷ đồng lợi nhuận Đây cũng là giai đoạn gây dựng cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ các bộ nhân viên có trình độ chuyên môn và tác phong làm việc chuyên nghiệp bài bản
Liên tục trong các năm 2001- 2005, Công ty đã phát huy lợi thế về thương hiệu, năng lực tài chính và tính chuyên nghiệp đạt tiêu chuẩn quốc tế để vươn lên dẫn đầu thị trường bảo hiểm Việt Nam ở lĩnh vực bảo hiểm năng lượng, xây dựng lắp đặt, tài sản, tham gia tích cực vào thị trường bảo hiểm hàng hải, tranh thủ sự ủng hộ các nhà thầu Dầu khí, các chủ dự án để triển khai bảo hiểm cho các công trình trọng điểm của đất nước Công ty kinh doanh ổn định và hiệu quả đối với các dịch vụ trong ngành, thu xếp và cấp
Trang 30đơn bảo hiểm cho 100% dự án dầu khí triển khai tại Việt Nam, làm tốt chương trình tái tục bảo hiểm, đảm bảo an toàn tài sản của các đơn vị trong ngành như VSP, PV Gas, bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu cho đội tàu PV Trans, PV Drilling, PTSC,… Công ty Bảo hiểm Dầu khí cũng thực hiện cung cấp dịch vụ cho các nhà thầu phụ dầu khi nước ngoài như Global, Santaffe, Transocean, FPSO MV9…, từng bước tham gia vào thị trường bảo hiểm quốc tế, bảo vệ quyền lợi nước chủ nhà thông qua đàm phán với khách hàng, môi giới, cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các dự án Dầu khí lớn tại nước ngoài, cấp đơn bảo hiểm chuẩn quốc tế Nhờ đó doanh thu trong các năm 2001, 2002, 2003, 2004, 2005 lần lượt đạt 185,3 tỷ đồng, 497,9 tỷ đồng, 595 tỷ đồng, 610 tỷ đồng, 775,8 tỷ đồng, tổng số ngân sách nộp hơn 300 tỷ đồng, đời sống người lao động ngày càng được nâng cao Ước tính tổng số doanh thu giai đoạn 2001 - 2005 tăng 611% so với giai đoạn 1996 - 2000
Trang 31Hình 2: Biểu đồ tăng trưởng doanh thu của
Công ty Bảo hiểm Dầu khí
Trang 32Hình 3: Biểu đồ nộp ngân sách nhà nước của
Công ty Bảo hiểm Dầu khí
Công tác bồi thường cho khách hàng khi gặp rủi ro được Công ty tiến hành kịp thời, nhanh chóng, thỏa đáng, bảo đảm cho quyền lợi người tham gia bảo hiểm theo đúng quy cách của pháp luật Hàng năm Công ty giải quyết hàng nghìn vụ bồi thường tổn thất với số tiền lên tới hàng trăm tỷ đồng Hiện nay Công ty đang xem xét bồi thường các vụ tổn thất phát sinh ước tính hơn 300 tỷ đồng Trong năm 2005, có những vụ thiệt hại gấp nhiều lần phí bảo hiểm
Kinh doanh có lãi, Công ty sử dụng các quỹ dự phòng và tiền kinh doanh nhàn rỗi khoảng 300 tỷ đồng/năm đầu tư trở lại cho những công trình có lợi nhuận cao của ngành dầu khí, đầu tư vào các hoạt động tài chính như đầu
Trang 33tư kỳ phiếu, trái phiếu, kinh doanh chứng khoán, liên doanh liên kết… đem lại kết quả tốt, lợi nhuận từ đầu tư hàng năm đạt trên 20 tỷ đồng
Những năm tới, thị trường bảo hiểm sẽ tiếp tục có tốc độ tăng trưởng mạnh
và sức cạnh tranh ngày càng quyết liệt Trên cơ sở đánh giá về sự phát triển của nền kinh tế nước ta và tiến độ triển khai các dự án của ngành dầu khí, Công ty đã xây dựng kế hoạch kinh doanh với mục tiêu đạt mức doanh thu
từ 800 đến 1200 tỷ đồng, tạo quỹ dự phòng và vốn kinh doanh ở mức 400 -
500 tỷ đồng Riêng năm 2006 phấn đấu đạt mức doanh thu hơn 800 tỷ đồng
và hơn 42 tỷ đồng lợi nhuận, nộp ngân sách nhà nước 72 tỷ đồng Một số biện pháp để hoàn thành các chỉ tiêu đã được triển khai, đó là: phát triển mạnh mạng lưới đại lý trên toàn quốc, kết hợp đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm, nâng cao chất lượng bảo hiểm, tiếp tục hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo hiểm toàn bộ hoạt động, tài sản và con người của toàn bộ ngành dầu khí; tăng cường công tác đầu tư tài chính; kết hợp đầu tư khai thác bảo hiểm, tập trung vào các công trình có tỷ suất lợi nhuận cao; không ngừng củng cố, hoàn thiện bộ máy, hoàn thiện hệ thống tin học để nâng cao hiệu quả quản
lý
Nhằm thực hiện chiến lược xây dựng Công ty Bảo hiểm Dầu khí thành một thương hiệu mạnh trong tập đoàn Dầu khí, có quy mô hoạt động toàn cầu, đảm bảo an toàn cho ngành Dầu khí Việt Nam và tại các nước mà Petro Vietnam sẽ đầu tư, đồng thời tăng cường năng lực cạnh tranh cho Công ty Bảo hiểm Dầu khí trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO, Hội đồng quản trị Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã có quyết định về lộ trình tăng vốn điều lệ của Công ty Bảo hiểm Dầu khí lên 500 tỷ đồng vào năm
2006 và từ 1000 tỷ đồng đến 2000 tỷ đồng năm 2010 Với lộ trình tăng vốn điều lệ như trên sẽ đưa Công ty Bảo hiểm Dầu khí trở thành Công ty bảo hiểm phi nhân thọ có vốn chủ sở hữu lớn hàng đầu Việt Nam Công ty sẽ
Trang 34đa dạng hóa dịch vụ bảo hiểm, đi sâu vào phân tích rủi ro, nâng mức phí giữ lại phù hợp với vốn điều lệ và xây dựng chiến lược đảm bảo doanh thu đạt 1000 tỷ năm 2006 và 2000tỷ năm 2010 Trong các năm 2006, 2007 Công ty sẽ tái đầu tư vào nền kinh tế mỗi năm hàng ngàn tỷ đồng và đảm bảo nâng tỷ suất lợi nhuận của Công ty lên trên 15%/năm Cùng với việc xây dựng Tổng công ty Dầu khí thành một tập đoàn kinh tế lớn mạnh, Công ty Bảo hiểm Dầu khí sẽ tiếp tục khẳng định vị thế của mình trên thị trường bảo hiểm, cam kết xây dựng Công ty theo định hướng nhà bảo hiểm chuyên nghiệp Với phương châm “ Trung thành - tận tụy với khách hàng”, Công ty Bảo hiểm Dầu khí đang ngày càng hoàn thiện hơn để đem lại sự hài lòng cho khách hàng Không ngừng mở rộng mạng lưới hoạt động, tập trung vào các mạng lưới chuyên nghiệp là giải pháp được Công ty lựa chọn
để phát triển kinh doanh trên toàn quốc
Với những thành quả đã đạt được, Công ty Bảo hiểm Dầu khí quyết tâm giữ vững vị trí đứng đầu thị trường bảo hiểm trong các lĩnh vực quan trọng và phấn đấu trở thành một trong những Công ty bảo hiểm hàng đầu Việt Nam, đuy trì tốc độ tăng trưởng cao, nâng cao năng lực tái bảo hiểm, tăng cường các quỹ dự phòng, tập trung vào lĩnh vực đầu tư tài chính để kinh doanh đạt hiệu quả cao, đóng góp một phần vào công cuộc xây dựng nền kinh tế quốc dân
II THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM HÀNG HẢI CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ (GIAI ĐOẠN 2001 – 2005)
1 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hải của Công ty Bảo hiểm Dầu khí
1.1 Quy trình khai thác bảo hiểm hàng hải của Công ty Bảo hiểm Dầu khí theo tiêu chuẩn ISO 9000
Bước 1: Tiếp thị, nhận bảo hiểm từ phía khách hàng
Trang 35 Nhân viên khai thác có trách nhiệm thường xuyên tiếp xúc với khách hàng, gửi hoặc trao đổi các thông tin về sản phẩm của Công ty Bảo hiểm Dầu khí nhằm giới thiệu các nghiệp vụ và đáp ứng nhu cầu của khách hàng Kịp thời nắm bắt những thay đổi trong hoạt động kinh doanh của khách hàng để tư vấn, giới thiệu sản phẩm bảo hiểm phù hợp
Khách hàng có nhu cầu mua bảo hiểm, Công ty sẽ cung cấp giấy yêu cầu bảo hiểm và các tài liệu khác theo yêu cầu của khách hàng
Khuyến cáo với khách hàng: hợp đồng bảo hiểm sẽ không có giá trị nêu khách hàng cung cấp sai, hoặc kê khai thiếu những thông tin quan trọng về đối tượng bảo hiểm
Bước 2: Đánh giá rủi ro
Thông qua số liệu thống kê và thực tiễn hoạt động của khách hàng, cán bộ khai thác tham mưu cho lãnh đạo về khả năng triển khai dịch vụ, chính sách khách hàng, về công tác quản lý rủi ro
Căn cứ vào các thông tin được cung cấp cán bộ khai thác đánh giá rủi ro hoặc tư vấn rủi ro kịp thời cho khách hàng
Bước 3: Tính toán hiệu quả, xác định phí, điều kiện chào phí
Trên cơ sở các thông tin khách hàng cung cấp, báo cáo đánh giá rủi
ro, các số liệu thống kê và các chính sách khách hàng của Công ty, phòng kinh doanh xác định tỷ lệ phí phù hợp với đối tượng và các quy định của Công ty
Bước 4: Chuẩn bị hợp đồng, giấy chứng nhận bảo hiểm
Bước 5: Ký duyệt hợp đồng, giấy chứng nhận bảo hiểm
Trang 36 Bước 6: Đóng dấu, chuyển hợp đồng, giấy chứng nhận bảo hiểm lưu nghiệp vụ
Bước 7: Theo dõi thanh toán phí bảo hiểm, quản lý hợp đồng, giấy chứng nhận bảo hiểm
1.2 Quy trình giải quyết khiếu nại, bồi thường theo tiêu chuẩn ISO 9000
Bước 1: Tiếp nhận thông tin về tổn thất
Tiếp nhận thông tin về tổn thất/sự cố từ khách hàng
Phòng Giám định Bồi thường cập nhật thông tin thống kê vào sổ theo dõi giải quyết khiếu nại
Phòng kinh doanh cấp đơn lập „„Báo cáo số 1‟‟
Bước 2: Kiểm tra tổn thất thông báo lãnh đạo Công ty/Chi nhánh, thông báo tái bảo hiểm/đồng bảo hiểm (nếu có)
Phòng kinh doanh cấp đơn lập „„Báo cáo số 1‟‟ gửi Công ty/Chi nhánh kèm theo hợp đồng, chứng từ có liên quan
Trên cơ sở „„ Báo cáo số 1‟‟ và chứng từ có liên quan Phòng Giám định Bồi thường kiểm tra thời hạn, phạm vi bảo hiểm, mức bồi thường, tính hợp lệ hợp pháp của giấy tờ…
Gửi thông báo cho Phòng Tái bảo hiểm/Đồng bảo hiểm (nếu có)
Bước 3: Giám định
Trong trường hợp có sự kiện bảo hiểm, Công ty/Chi nhánh gửi công văn cho khách hàng, ghi nhận thông báo tổn thất, thông báo khách hàng về việc giám định, yêu cầu thông tin bổ sung (nếu cần)
Trong trường hợp không có sự kiện bảo hiểm, nếu khách hàng không đồng ý thì có thể chỉ định Công ty giám định trách nhiệm như trường hợp có sự kiện bảo hiểm Có thể đàm phán với khách hàng về chi phí giám định trong trường hợp tổn thất ngoài sự kiện bảo hiểm
Trang 37 Có thể giám định theo hai cách : tự giám định và thuê giám định độc lập
Bước 4: Lập hồ sơ giải quyết khiếu nại
Bước 5: Trình lãnh đạo phê duyệt hồ sơ khiếu nại
Bước 6: Thanh toán/từ chối bồi thường, thu đòi tái bảo hiểm/đồng bảo hiểm, thu từ người thứ 3, xử lý tài sản
1.3 Tình hình kinh doanh bảo hiểm hàng hải của Công ty Bảo hiểm Dầu khí
Trong 5 năm gần đây (2001 – 2005), nền kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng mạnh GDP tăng lần lượt qua các năm là 6,89%, 7,08%, 7,34%, 7,69%, 8,4%; xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2005 tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2001 (năm 2001: xuất khẩu đạt 15100 triệu USD, nhập khẩu đạt 16000 triệu USD; năm 2005: xuất khẩu đạt 32320 triệu USD, nhập khẩu đạt 36881 triệu USD) Đây cũng là giai đoạn thực hiện thành công kế hoạch phát triển đội tàu biển Việt Nam trong giai đoạn 2001-2005: đội ngũ tàu biển không ngừng phát triển, ngành công nghiệp đóng tàu vươn lên như một ngành kinh tế mũi nhọn Như vậy, những yếu tố trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển của bảo hiểm hàng hải Thị trường bảo hiểm hàng hải trong 5 năm qua đã phát triển rất sôi động với sự tham gia của hơn 14 công ty kinh doanh bảo hiểm hàng hải doanh thu năm 2004: 871 tỷ, năm 2005: 966,3 tỷ
Trang 38Hình 4: Thị phần bảo hiểm hàng hải của Công ty Bảo hiểm Dầu khí
C«ng ty B¶o hiÓm DÇu khÝ (20,78%) C¸c c«ng ty kh¸c(29,34%)
(Nguồn: Bản tin Hiệp hội Bảo hiểm số 4 - 2005)
Tuy gia nhập thị trường bảo hiểm hàng hải muộn, nhưng với những mục tiêu bước đi đúng đắn và nhờ lợi thế trong ngành dầu khí (nhận bảo hiểm cho những tàu chở dầu, bảo hiểm cho những mặt hàng như dầu thô…), Công ty Bảo hiểm Dầu khí đã nhanh chóng trở thành một trong ba công ty đứng đầu về doanh thu bảo hiểm hàng hải
Bảo hiểm hàng hải là một trong những lĩnh vực kinh doanh mũi nhọn của công ty, hàng năm kinh doanh bảo hiểm hàng hải mang lại cho công ty hơn
150 tỷ đồng doanh thu Từ một công ty được thành lập với mục đích bảo hiểm cho những đội tàu trong ngành dầu khí, đến nay Công ty Bảo hiểm Dầu khí đã vươn lên đứng thứ hai trên thị trường bảo hiểm hàng hải Việt Nam và đã được rất nhiều Công ty vận tải lớn trong nước tham gia bảo hiểm cho đội tàu của mình
C¸c c«ng ty kh¸c PJICO
B¶o viÖt C«ng ty B¶o hiÓm DÇu khÝ
Trang 39Hình 5: Biểu đồ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm hàng hải của
Công ty Bảo hiểm Dầu khí
0 20
Tính đến thời điểm hiện nay Công ty đã thực hiện tốt các chương trình bảo hiểm hàng hải trong và ngoài ngành dầu khí như bảo hiểm hàng hóa cho các sản phẩm dầu thô xuất khẩu, bảo hiểm gạo xuất khẩu, bảo hiểm phôi thép nhập khẩu… bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu các đội tàu của PTSC, PV Trans, PV Drilling, Vosco, Vinaship, Vinalines… và tham gia nhận tái bảo hiểm nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm hàng hóa từ một số công ty bảo hiểm trong nước như Bảo Việt, Bảo Minh, PJICO
Công ty Bảo hiểm Dầu khí đặc biệt chú trọng công tác giải quyết khiếu nại,
vì đối với dịch vụ bảo hiểm việc giải quyết khiếu nại là khâu quan trọng và
có tính chất quyết định đến uy tín của Công ty trên thị trường bảo hiểm Công ty Bảo hiểm Dầu khí luôn bảo đảm tối đa quyền lợi của khách hàng theo cam kết bảo hiểm Khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm, Công ty Bảo hiểm
Trang 40Dầu khí đã luôn cùng các nhà giám định trong nước và quốc tế kịp thời xác định nguyên nhân tổn thất, tiền hành bồi thường bảo hiểm nhanh chóng và thỏa đáng Số tiền Công ty Bảo hiểm Dầu khí đã bồi thường cho khách hàng hàng năm lên tới hàng trăm tỷ đồng, điển hình như các vụ gẫy tam giác tàu Ba Vì (66 tỷ đồng), tổn thất hàng hóa trên tàu Duyên Phát (6,2 tỷ đồng), tổn thất gạo của khách hàng Vinafood – I (gần 3 tỷ đồng)… Một số tổn thất lớn đã được giải quyết dứt điểm như : giải quyết chìm tàu Mimosa với số tiền 2 triệu USD, cháy khoang mũi tàu Ba Vì 5,6 tỷ đồng… Việc giải quyết bồi thường của Công ty Bảo hiểm Dầu khí luôn đáp ứng yêu cầu của khách hàng, kể cả khi các nhà nhận tái bảo hiểm ngừng hoạt động, chưa hoặc không đòi được tiền tái bảo hiểm, Công ty Bảo hiểm Dầu khí vẫn luôn làm tròn trách nhiệm của mình với khách hàng
Với phương châm “Trung thành - Tận tụy với khách hàng”, cùng với sự năng động sáng của đội ngũ cán bộ công nhân viên và nghệ thuật quản lý của Ban giám đốc Công ty, Công ty Bảo hiểm Dầu khí ngày càng khẳng định vị thế của mình và trở thành một thương hiệu mạnh trên thị trường bảo hiểm trong và ngoài nước
2 Đánh giá hiệu quả kinh doanh bảo hiểm hàng hải của Công ty Bảo hiểm Dầu khí (2001-2005)
2.1 Đánh giá chung hiệu quả kinh doanh bảo hiểm hàng hải (2001-2005)
Bảng 1: Hiệu quả kinh doanh bảo hiểm hàng hải
2001 2002 2003 2004 2005
1 DT thuần KD BH hàng hải 19,686 30,338 39,548 51,599 54,599
2 Chi phí KD BH hàng hải 17,348 23,825 30,386 35,342 39,872