Cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam, thực trạng và giải pháp và vấn đề tái cơ cấu sau khủng hoảng kinh tế.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ 2
1.1 Khái niệm 2
1.2 Những cơ sở lý thuyết xác định xu hướng dịch chuyển cơ cấu ngành kinh tế 3
1.2.1 Quy luật tiêu dùng của E.Engel 3
1.2.2 Quy luật về đổi mới kỹ thuật và tăng năng suất lao động của A.Fisher 5
1.3 Các xu thế dịch chuyển cơ cấu ngành kinh tế 6
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 7
1.4.1 Các nhân tố bên trong 7
1.4.2 Các nhân tố bên ngoài 8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CƠ CẤU NGÀNH VIỆT NAM 9
2.1 Cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam 9
2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam thời gian qua 9
2.2.1 Sự dịch chuyển về tỷ trọng các ngành trong cơ cấu và trong nội bộ từng ngành 9
2.2.2 Sự dịch chuyển theo xu hướng “mở” 12
2.3 Đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam thời gian qua 13
2.3.1 Kết quả đạt được 13
2.3.2 Hạn chế 14
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 15
Trang 2CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU SAU
KHỦNG HOẢNG 17
3.1 Định hướng cho cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam và sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam 17
3.2 Giải pháp thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và tái cơ cấu kinh tế sau khủng hoảng 18
3.2.1 Thay đổi cơ cấu đầu tư 18
3.2.2 Nhận thức đúng đắn hơn về chính sách bảo hộ thị trường nội địa 19
3.2.3 Phát triển khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực 19
3.2.4 Tạo lập đồng bộ các loại thị trường 20
3.2.5 Cổ phần hóa các tập đoàn, tổng công ty nhà nước 20
KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình tăng trưởng của mỗi quốc gia, chuyển dịch cơ cấungành linh hoạt và phù hợp với những điều kiện bên trong, bên ngoài có vaitrò vô cùng quan trọng trong việc tạo nên tính chất bền vững, hiệu quả củaquá trình tăng trưởng Nó có tác dụng củng cố thành quả của công nghiệp hóa
và tiếp theo là tác dụng đến các mục tiêu khác của công nghiệp hóa như mụctiêu về xã hội, môi trường
Thêm vào đó, trong nền kinh tế hội nhập quốc tế và khu vực ngày càngphát triển thì việc lựa chọn dạng và chuyển dịch cơ cấu ngành thể hiện đượccác lợi thế tương đối và khả năng cạnh tranh của một quốc gia trong nền kinh
tế toàn cầu, là cơ sở cho sự chủ động tham gia và thực hiện hội nhập thắnglợi, giành được vị trí xứng đáng và có hiệu quả cao trong việc tham gia vàochuỗi dây chuyền giá trị toàn cầu
Vì những lý do trên, việc đánh giá thực trạng cơ cấu ngành kinh tế,
phân tích những yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch của nó để đưa ranhững giải pháp để có một cơ cấu ngành hợp lý cũng như những giải pháp về
sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế để đạt cơ cấu hợp lý đó là rất cần thiết
Nhận thức được vấn đề trên, em lựa chọn đề tài “Cơ cấu ngành kinh
tế Việt Nam, thực trạng và giải pháp và vấn đề tái cơ cấu sau khủng hoảng kinh tế”.
Nội dung đề án bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về cơ cấu ngành
Chương 2: Thực trạng cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam
Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và vấn đề tái cơ cấu sau khủng hoảng kinh tế.
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
1.1 Khái niệm
Cơ cấu ngành kinh tế: là tương quan giữa các ngành trong tổng thể nềnkinh tế quốc dân, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về sốlượng và chất lượng giữa các ngành với nhau Các mối quan hệ này được hìnhthành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn vận động vàhướng vào những mục tiêu cụ thể
Theo liên hiệp quốc (UN), các ngành kinh tế được phân thành 3 khuvực hay gọi là 3 ngành gộp: Khu vực I bao gồm các ngành nông – lâm – ngưnghiệp, khu vực II là các ngành công nghiệp và xây dựng, khu vực III gồmcác ngành dịch vụ Trong mỗi nhóm ngành lại bao gồm các ngành khác nhau,gọi là các ngành cấp 1
Chuyển dịch cơ cấu ngành: Quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từtrạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơnvới môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự dịch chuyển cơ cấu ngànhkinh tế Chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ là thay đổi về số lượng cácngành, tỷ trọng của mỗi ngành mà còn bao gồm sự thay đổi về vị trí, tính chấtmối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phảidựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải tọa
cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoànthiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến đổi cơ cấu mới hiện đại và phù hợphơn
Trên khía cạnh các bộ phận cấu thành phát triển kinh tế thì cơ cấungành của nền kinh tế phản ánh mặt chất về kinh tế của quá trình phát triển.Dạng cơ cấu ngành được xem là quan trọng nhất, được quan tâm nghiên cứunhiều nhất, vì nó phản ánh về cơ bản sự phát triển của khoa học công nghệ,lực lượng sản xuất, phân công lao động chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất.Dấu hiệu thuyết phục nhất để đánh giá và so sánh trình độ phát triển kinh tế
Trang 5thường là dạng (trạng thái) cơ cấu ngành kinh tế mà mỗi quốc gia đạt được.Trong cuốn “Các giai đoạn phát triển kinh tế”, Rostow đã tổng kết sự lựachọn dạng cơ cấu ngành hợp lý, tương ứng với từng giai đoạn phát triển kinhtế.
Trong đó: dạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp hay nông – công nghiệpđược đặc trưng bởi tỷ trọng nông nghiệp chiếm từ 40-60%, công nghiệp từ10-20% , dịch vụ từ 10-30%, dạng cơ cấu công – nông nghiệp – dịch vụ haycông nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp thường có các tỷ trọng nông nghiệp,công nghiệp, dịch vụ tương ứng là 15-25%, 25-35%, 40-50%, khi nền kinh tếđạt được dạng cơ cấu dịch vụ - công nghiệp thì tỷ trọng nông nghiệp chỉ còndưới 10%, công nghiệp 35-40%, dịch vụ từ 50-60%
Chuyển dịch cơ cấu ngành là một quá trình diễn ra liên tục, gắn liền vớiquá trình công nghiệp hóa và được xem là kết quả của quá trình công nghiệphóa đối với các nước đang phát triển
Chuyển dịch cơ cấu ngành là một quá trình mang tính khách quan, dưới
sự tác động của các yếu tố phát triển: lực lượng sản xuất, phân công lao động
xã hội, thị trường, quan hệ cung – cầu hàng hóa Chúng ta không nên tạodựng một cơ cấu ngành theo ý muốn chủ quan của mình Sự tác động củachính phủ trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nằm ở chỗ: nắm bắt cácyếu tố có liên quan đến chuyển dịch cơ cấu, định hướng phát triển và sử dụngcác chính sách để thúc đẩy quá trình chuyển dịch phù hợp
1.2 Những cơ sở lý thuyết xác định xu hướng dịch chuyển cơ cấu ngành kinh tế
1.2.1 Quy luật tiêu dùng của E.Engel
Đây là quy luật phản ánh mối quan hệ giữa thu nhập và phân phối thunhập cho tiêu dùng cá nhân đối với hàng hóa lương thực thực phẩm Engelcho rằng, chi tiêu cho lương thực là một chỉ số tốt phản ánh về phúc lợi của
Trang 6quốc gia đó, cụ thể là phần chi tiêu cho hàng hóa lương thực càng thấp trongtổng thu nhập tiêu dùng dân cư, là biểu hiện phúc lợi càng cao.
Đường Engel (Engel Curve) là một đường biểu thị mối quan hệ giữathu nhập và tiêu dùng cá nhân về một loại hàng hóa cụ thể Đường Engelđược minh họa:
Độ dốc của đường Engel ở bất kỳ điểm nào chính là xu hướng tiêudùng biên của hàng hóa đó và cho thấy tỷ số thay đổi tiêu dùng so với thayđổi thu nhập, nó phản ảnh độ co giãn của tiêu dùng một loại hàng hóa cụ thểđối với thu nhập dân cư Bằng quan sát thực nghiệm, Engel đã nhận thấy rằngkhi thu nhập của các hộ gia đình tăng lên đến một mức độ nhất định thì tỷ lệchi tiêu của họ cho lương thực, thực phẩm giảm đi Như vậy, đường Engel thểhiện quy luật tiêu dùng đối với hàng hóa là lương thực thực phẩm có xuhướng dốc lên với độ dốc cao ở đoạn đầu, sau độ dốc giảm dần (độ co giãncủa cầu hàng hóa theo thu nhập dương) và cuối cùng là có xu hướng xuốngkhi thu nhập gia đình đạt một độ nhất định (độ co giãn âm) Do chức năngchính của khu vực nông nhiệp là sản xuất lương thực thực phẩm nên có thểsuy ra là tỷ trọng nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế sẽ giảm đi khi thunhập tăng lên đến một mức độ nhất định
Quy luật Engel được phát hiện cho sự tiêu dùng lương thực thực phẩmnhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng nghiên cứu xu hướngtiêu dùng của các hàng hóa khác Các nhà kinh tế gọi hàng hóa nông sản làhàng hóa thiết yếu, các hàng hóa công nghiệp là các hàng hóa lâu bền và cungcấp sản phẩm dịch vụ là hàng hóa cao cấp Qua quá trình nghiên cứu, họ pháthiện ra rằng: trong quá trình gia tăng thu nhập, thì tỷ lệ gia tăng chi tiêu chohàng hóa lâu bền có xu hướng gia tăng nhưng với mức độ nhỏ hơn mức độtăng thu nhập, còn tỷ lệ chi tiêu cho hàng hóa dịch vụ có xu hướng ngày càngtăng, độ đôc của đường Engel đối với hàng hóa này càng ngày càng cao và
Trang 7đến một mức thu nhập nào đó thì tốc độ tiêu dùng cao hơn tốc độ tăng thunhập.
1.2.2 Quy luật về đổi mới kỹ thuật và tăng năng suất lao động của A.Fisher
Năm 1935, trong cuốn “Các quan hệ kinh tế của tiến bộ kỹ thuật”, trên
cơ sở quan niệm nền kinh tế gồm 3 khu vực: khu vực thứ nhất bao gồm ngànhnông, lâm, ngư nghiệp và khai thác khoáng sản, khu vực thứ 2 bao gồm cácngành công nghiệp chế biến, xây dựng và khu vực thứ 3 gồm các ngành dịch
vụ A.Fisher đã phân tích: có hai nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình dịchchuyển cơ ngành đó là chuyên môn hóa và sự thay đổi trong công nghệ, tiến
bộ kỹ thuật Quá trình chuyên môn hóa, mở đường cho việc trang bị kỹ thuậthiện đại, hoàn thiện tổ chức, áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suấtlao động Theo xu thế phát triển khoa học công nghệ, ngành nông nghiệp dễ
có khả năng thay thế lao động nhất, việc tăng cường sử dụng máy móc thiết bị
và các phương thức canh tác mới tạo điều kiện cho nông dân nâng cao năngsuất lao động Trong khi đó nhu cầu tiêu dùng hàng hóa nông sản sẽ có xuhướng ngày càng giảm đi theo sự phát triển kinh tế Kết quả là để đảm bảonhu cầu lương thực thực phẩm cần thiết cho xã hội thì không cần đến một lưclượng lao động như cũ và như vậy, tỷ lệ lực lượng lao động nông nghiệp có
xu hướng giảm dần trong cơ cấu ngành kinh tế Trong khi đó, ngành côngnghiệp khó có khả ngăn thay thế lao động hơn nông nghiệp do tính chất phứctạp hơn của việc sử dụng kỹ thuật mới, mặt khác độ co giãn của cầu tiêu dùngloại sản phẩm này là đại lượng lớn hơn không vì vậy theo sự phát triển kinh
tế, tỷ trọng lao động công nghiệp có xu hướng tăng lên Quá trình chuyênmôn hóa cũng hình thành những ngành chế biến cao hơn, làm cho tỷ trọngcủa cá ngành truyền thống giảm đi, tỷ trọng các ngành đòi hỏi kỹ thuật mớităng lên Ngành dịch vụ được coi là khó có khả năng thay thế lao động nhất
do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của việc tạo ra nó, rào cản cho sự thay thế công
Trang 8nghệ và kỹ thuật mới rất cao Trong khi đó, độ co giãn của nhu cầu sản phẩmdịch vụ khi nền kinh tế ở trình độ phát triển cao là lớn hơn 1 tức là tốc độ tăngcầu tiêu dùng lớn hơn tốc độ tăng thu nhập Xã hội càng bước sang những giaiđoạn phát triển cao, nhu cầu tiêu dùng các hàng hóa dịch vụ, nhất là dịch vụcao cấp trở nên phong phú, đa dạng và quy mô lớn Vì vậy, tỷ trọng ngànhdịch vụ sẽ có xu hướng tăng và tăng càng nhanh khi nền kinh tế càng pháttriển Những kết luận của A.Fisher đã gợi ra những nội dung khá rõ nét khinghiên cứu về xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình pháttriển.
1.3 Các xu thế dịch chuyển cơ cấu ngành kinh tế
Từ những cơ sở lý thuyết nêu trên có thể tút ra một xu hướng có tínhquy luật chung của sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, đó là chuyển dịchtheo hướng CNH, HĐH đất nước Muốn chuyển từ một nền kinh tế nôngnghiệp sang nền kinh tế dựa trên cơ sở tiêu dùng cao, cần phải trải qua cácbước: chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công – nông nghiệp, để
từ đó chuyển từ sang nền kinh tế công nghiệp – dịch vụ, và cuối cùng là xãhội tiêu dùng cao với cơ cấu dịch vụ - công nghiệp Các xu hướng cụ thể đượcthể hiện như sau :
Trong quá trình phát triển, tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm đi, tỷtrọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên Tỷ trọng ngành dịch vụ ngày càng lấn
át trong cơ cấu kinh tế do tốc độ tăng của ngành dịch vụ có xu hướng ngàycàng nhanh hơn tốc độ tăng của ngành công nghiệp
Trong quá trình phát triển , tỷ trọng các ngành sản xuất sản phẩm códung lượng vốn cao chiếm ngày càng lớn và tăng trưởng với tốc độ nhanhhơn
Xu hướng “mở” trong cơ cấu ngành kinh tế: Đặc trưng nổi bật của dạngnày là cơ cấu sản xuất khác với cơ cấu tiêu dùng trong nước Theo đó, cho
Trang 9phép các nước chọn được một cơ cấu ngành sản xuất hiệu quả nhất Khi đóquốc gia có thể tạo ra một khối lượng tối đa các sản phẩm có lợi thế và thu lợinhuận từ việc xuất khẩu hàng hóa đó ra thị trường quốc tế Thêm vào đó, cơcấu mở đã giúp các nước tăng tiêu dùng hàng hóa (cả quy mô và chủng loại),
kể cả các hàng hóa không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất trong nướcthiếu hiệu quả thông qua con đường nhập khẩu hoặc trao đổi hai chiều Đểđánh giá và phân tích cơ cấu kinh tế mở, chúng ta cần lưu ý đến các câu hỏi:trước tiên, nền kinh tế của quốc gia này đã mở hay chưa? (căn cứ vào quy môcủa tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu so với quy mô thu nhập của toàn
bộ nền kinh tế), Nếu là nền kinh tế mở thì mở như thế nào? (thể hiện ở chỉ sốcán cân thương mại quốc tế so với GDP), Đi sâu vào hoạt động xuất và nhậpkhẩu như thế nào? (để xác định tính hiệu quả trong trao đổi xuất nhập khẩuhàng hóa của các nước và đánh giá xu hướng chuyển dịch của cơ cấu này)
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.4.1 Các nhân tố bên trong
Các lợi thế về tự nhiên của đất nước cho phép có thể phát triển ngànhsản xuất nào một cách thuận lợi; quy mô dân số của quốc gia; trình độ nguồnnhân lực; những điều kiện kinh tế, văn hóa của đất nước
Ngoài ra, nhu cầu của từng xã hội, thị trường ở mỗi giai đoạn lại là cơ
sở để sản xuất phát triển đáp ứng nhu cầu không chỉ về số lượng mà cả chấtlượng hàng hóa, từ đó dẫn đến những thay đổi về vị trí, tỷ trọng của cácngành nghề trong nền kinh tế
Mục tiêu, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế của từng quốc gia cótác động quan trọng đến sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế vì mặc dù cơ cấukinh tế mang tính khách quan, tính lịch sử xã hội nhưng lại chịu tác động, chiphối rất lớn bởi mục tiêu của Nhà nước Nhà nước có thể tác động gián tiếplên tỷ lệ của cơ cấu ngành kinh tế bằng các định hướng phát triển, đầu tư,
Trang 10những chính sách khuyến khích hay hạn chế phát triển các ngành nghề nhằmbảo đảm sự cân đối của nền kinh tế theo mục đích đề ra trong từng giai đoạnnhất định
Cuối cùng, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nước chophép sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hay chậm, hiệu quả đến mức nào
1.4.2 Các nhân tố bên ngoài
Bên cạnh những nhân tố tác động từ bên trong, những nhân tố tác động
từ bên ngoài đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế gồm có:
Xu hướng chính trị, kinh tế, xã hội của khu vực và thế giới Sự biếnđộng của chính trị, kinh tế, xã hội của một nước, hay một số nước, nhất là cácnước lớn sẽ tác động mạnh mẽ đến dòng hàng hóa trao đổi, từ đó ảnh hưởngđến nguồn thu hút vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ buộc các quốc giaphải điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế của mình nhằmbảo đảm lợi ích quốc gia và sự phát triển trong động thái chung của thị trườngthế giới
Xu thế toàn cầu hóa kinh tế quốc tế hiện nay có tác động rất mạnh mẽđến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng nước, vì chính sự phân công laođộng diễn ra trên phạm vi quốc tế ngày càng sâu sắc và cơ hội thị trường rộnglớn được mở ra trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế quốc tế, cho phép cácnước có khả năng khai thác những thế mạnh của nhau để trao đổi các nguồnlực, vốn, kỹ thuật, hàng hóa và dịch vụ một cách hiệu quả Quá trình đó vừabắt buộc, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các nước thực hiện chuyển dịch cơcấu kinh tế phù hợp với sự phân công lao động trên quy mô toàn thế giới
Những thành tựu của cách mạng khoa học, kỹ thuật, đặc biệt sự bùng
nổ của công nghệ thông tin tạo nên những bước nhảy vọt trong mọi lĩnh vựcsản xuất góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cácnước vì thông tin nhanh chóng làm cho sản xuất, kinh doanh được điều chỉnh
Trang 11nhanh nhạy, hợp lý hơn, dẫn đến cơ cấu sản xuất được thay đổi phù hợp hơnvới thị trường và lợi ích của từng nước
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CƠ CẤU NGÀNH VIỆT NAM
2.1 Cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam
Kinh tế Việt Nam được chia thành 3 khu vực (hay còn gọi 3 ngành lớn)kinh tế, đó là: 1) nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; 2) công nghiệp (bao gồmcông nghiệp khai thác mỏ và khoáng sản, công nghiệp chế biến, xây dựng vàsản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất và phân phối khí, điện, nước); 3) thươngmại, dịch vụ, tài chính, du lịch, văn hóa, giáo dục, y tế
2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam thời gian qua
2.2.1 Sự dịch chuyển về tỷ trọng các ngành trong cơ cấu và trong nội bộ từng ngành
Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau Nếu như trước thời kỳ đổi mới một trong
những khiếm khuyết lớn của tư duy cũ, của cơ chế kế hoạch hóa tập trung,quan liêu, bao cấp là cố gắng hình thành nên cơ cấu ngành kinh tế dựa trên ýchí chủ quan, bất chấp quy luật, do đó đã kéo theo tình trạng đầu tư lãng phí,không đem lại hiệu quả kinh tế, thì bước vào công cuộc đổi mới quá trìnhchuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của nước ta đã đem lại những kết quả rấttích cực Nhờ vậy, chỉ sau 3 năm của thời kỳ phôi thai về kinh tế thị trường(từ 1987 - 1989) nền kinh tế nước ta đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá trongnhững năm 1990 - 1997 Mọi dự kiến của kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 đềuđược thực hiện vượt mức khá cao Trong thời kỳ khủng khoảng tài chính tiền
tệ ở các nước châu Á, tuy tốc độ tăng trưởng của nước ta có sự giảm sút,nhưng về cơ bản chúng ta vẫn tránh được "cơn bão" của cuộc khủng khoảng,
để sau đó tiếp tục tăng quy mô GDP của đất nước, tăng xuất khẩu, phát triển
Trang 12công nghiệp, trở thành một nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực vàtrên thế giới (xem bảng).
Bảng: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế qua các năm, %
Năm 1990 1995 1997 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2007 Sơ bộ
2008
GDP 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0Nông - lâm
Xét trong từng ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
có nhiều bước tiến bộ, đi đúng hướng, đã khai thác được lợi thế cây, con và
vùng lãnh thổ, góp phần thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu phát triển Trong khi giátrị tuyệt đối của sản xuất nông nghiệp tiếp tục tăng, thì tỷ trọng nông nghiệptrong GDP ngày càng giảm (xem bảng) Trong ngành nông nghiệp, tỷ trọnggiá trị sản xuất trong lĩnh vực chăn nuôi tăng từ 19,3% (năm 2000) lên đến21,6% (năm 2004) và 27,4% (năm 2008); còn tỷ trọng trong trồng trọt lạigiảm từ 78,2% (năm 2000) xuống còn 75,4% (năm 2003), nhưng tăng nhẹ tới76,3% (năm 2004) và 70,5% (năm 2008) Điều đó thể hiện, nông nghiệp củanước ta đã từng bước phát triển theo một cơ cấu tiên tiến Trong trồng trọtdiện tích trồng lúa giảm dần để tăng diện tích trồng các loại cây có giá trị kinh
tế cao hơn (như cây công nghiệp ngắn ngày: bông, mía, đậu tương , cây côngnghiệp lâu năm: chè, cao su, hạt tiêu, cây ăn quả ), song vẫn bảo đảm được
an ninh lương thực quốc gia và tăng xuất khẩu gạo một cách đáng kể, phản