Muốn vậy, thủ trưởng phải là người có học vấn cơ bản và toàn diện; có năng lực tạo các mối quan hệ, năng lực phán đoán, giải quyết vấn đề.- Là người có khả năng điều hành công việc hành
Trang 1TIỂU LUẬNMÔN: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI
Đề tài:
VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA QUẢN LÝ Ở THỦ ĐÔ HÀ NỘI
TRONG THỜI KỲ MỚI
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài .3
2 Mục đích nghiên cứu .1
3 Nhiệm vụ nghiên cứu .2
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của tiểu luận .2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA QUẢN LÝ 3
1.1 Các khái niệm cơ bản .3
1.2 Đặc trưng của văn hóa quản lý 6
1.3 Biểu hiện của văn hóa quản lý 7
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI XÂY DỰNG VĂN HÓA QUẢN LÝ Ở THỦ ĐÔ HÀ NỘI TRONG THỜI KỲ MỚI 13
2.1 Về lợi thế .13
2.2 Về thách thức .16
2.3 Những yêu cầu đặt ra đối với xây dựng văn hóa quản lý ở thủ đô Hà Nội hiện nay .14
CHƯƠNG 3: NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VĂN HÓA QUẢN LÝ Ở THỦ ĐÔ HÀ NỘI TRONG THỜI KỲ MỚI 18
3.1 Những quan điểm cơ bản của việc xây dựng văn hóa quản lý ở Việt Nam hiện nay 18
3.2 Biện pháp xây dựng văn hóa quản lý ở thủ đô Hà Nội trong thời kỳ mới19 KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, việc nâng cao trình độ lãnh đạo và quản lý ở tất cả các cấp khác nhau đang trở thành yêu cầu khách quan, nhất là khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu sắc và toàn diện vào nền kinh tế thế giới Những cơ hội và thách thức của quá trình phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnhcông nghiệp hoá gắn với kinh tế tri thức, của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang đặt ra những vấn đề bức thiết phải đổi mới và nâng cao tầm văn hoá của dân tộc, trước hết và trên hết là tầm văn hoá trong lãnh đạo và quản lý đất nước ở tất cả các lĩnh vực, các ngành, các cấp khác nhau
Văn hoá quản lý là bội số của sản xuất Hàng loạt các song đề đặt ra cho văn hoá quản lý ở Thủ đô hiện nay là giữa quy mô, tốc độ tăng trưởng kinh tế vàchất lượng tăng trưởng; giữa tăng trưởng nhanh và sự phát triển bền vững, giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hoá; giữa hội nhấp quốc tế và giữ gìn, phát huy bản sắc của Thủ đô; giữa hiện đại hoá và giữ gìn truyền thống; giữa công nghiệp, nông nghiệp và phát triển dịch vụ; giữa phát triển nội đô và ven đô; giữalợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường; giữa việc phát triển tự do cá nhân và đảm bảo tự do của toàn thể xã hội; giữa đầu tư cho cơ sở hạ tầng kinh tế và đầu tư cho cơ sở hạ tầng văn hoá, xã hội Hàng loạt những vấn đề trên cần được làm sáng tỏ để làm cơ sở cho công tác hoạch định chính sách phát triển của Thủ đô
Hà Nội hiện nay Vì vậy, tăng cường đầu tư cho các chương trình nghiên cứu khoa học lý luận chính trị của Thủ đô sẽ góp phần hữu ích và thiết thực vào việc nâng cao chất lượng văn hoá quản lý ở Thủ đô trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay
Chính vì lý do đó nên em chọn “Vấn đề xây dựng văn hóa quản lý ở
Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ mới” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về vấn xây dựng văn hóa quản lý ở Thủ đô Hà Nội hiện
Trang 4nay từ đó đề xuất các biện pháp xây dựng và đổi mới văn hóa quản lý ở Thủ đô
Hà Nội trong thời kỳ mới
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng thể cơ sở lý luận về xây dựng văn hóa quản lý
- Phân tích những vấn đề còn tồn tại trong văn hóa quản lý ở Thủ đô Hà Nội và đưa ra các biện pháp xây dựng và đổi mới văn hóa quản lý ở Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ mới
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về đạo đức, kế thừa có chọn lọc những giá trị của công trình nghiên cứu cóliên quan đến đề tài
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng một số phương pháp cụ thể
như: phân tích - tổng hợp, đối chiếu - so sánh, lịch sử - logic, tra cứu tài liệu tạithư viện và các phương pháp khác để đạt được mục đích đề ra
5 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phần kết luận thì bài tiểu luận gồm có 3 chương và 8 tiết
Trang 5CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA QUẢN LÝ
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Văn hóa
Bước vào thế kỷ XXI, thuật ngữ văn hoá ngày càng thâm nhập vào đời sống xã hội một cách sâu sắc, làm thay đổi nhận thức của con người trong các hướng tiếp cận mới phù hợp với xu thế phát triển của khoa học công nghệ Văn hoá đã và đang trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội
và nhân văn Từ đó tạo ra những bước ngoặt quan trọng trong việc hình thành khung lý thuyết mới trên nhiều lĩnh vực có liên quan đến văn hoá - xã hội
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa ở cấp độ khái quát về văn hoá: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày
về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và những phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn"
1.1.2 Quản lý
Xã hội càng phát triển, vai trò của quản lý ngày càng quan trọng Nó hiện diện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đã có nhiều nhà khoa học khác nhau nghiên cứu về quản lý và họ đã đưa ra rất nhiều quan niệm khác nhau
về quản lý tùy theo mỗi cách tiếp cận H.Fayol (1841-1925), người được coi là cha đẻ của thuyết “Quản lý hành chính tổng hợp" cho rằng: "Quản lý hành chính
là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra"
Các quan niệm về quản lý trong nửa đầu thế kỷ XX vẫn còn được nhiều người nhắc đến như những khái niệm đầu tiên, có tính chất kinh điển Nhưng với sự thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ của xã hội, thực tiễn quản lý đã thay đổi và
Trang 6đòi hỏi những khái quát lý luận cũng phải phản ánh đúng những thay đổi này
Theo PGS.TS Phạm Ngọc Thanh, “Quản lý là một loại hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể tác động lên các đối tượng bằng các công cụ và phương pháp khác nhau, thông qua qui trình quản lý nhất định, nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường" Quản lý được hiểu là hoạt động thực tiễn phổ biến trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong tất cả các loại hình
tổ chức khác nhau, trong tất cả các cấp, các khẩu quản lý”
1.1.3 Văn hóa quản lý
Văn hoá quản lý là phạm trù hình thành từ phạm trù văn hoá và phạm trù quản lý Đó là giá trị văn hoá mà chủ thể quản lý - người thủ lĩnh và đối tượng quản lý - người chịu sự quản lý cùng tiếp nhận thành hành trang suy nghĩ, hành động đưa tiến trình quản lý vận động phù hợp với định hướng phát triển chung của chính trị, văn hoá, xã hội
Từ điển Bách khoa tri thức phổ thông, định nghĩa về văn hóa quản lý như sau: "Văn hóa quản lý là sự biểu thị trình độ tổ chức và quản lý có chất lượng cao lề lối làm việc khoa học của các cơ quan và nhân viên quản lý thể hiện trangthiết bị máy móc, kỹ thuật, tiếp xúc và chính xác dùng trong bộ máy quản lý Tính thân thiện và thái độ phục vụ thỏa mãn mọi yêu cầu của khách hàng ở mối quan hệ tin cậy, tôn trọng, hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức quản lý với nhau, giữa cơ quan quản lý với cấp dưới, giữa đơn vị phục vụ và đối tượng phục vụ"
1.1.4 Xây dựng văn hóa quản lý
Xây dựng văn hóa quản lý, về bản chất, là làm thay đổi niệm và hành vi ứng xử của các nhà quản lý và của các thành viên trong tổ chức, hình thành một chuỗi các nội dung chủ yếu cấu thành văn hóa quản lý của người quản lý và tổ chức
1.2 Đặc trưng của văn hóa quản lý
2.2.1 Văn hóa quản lý trong lý tưởng quản lý
Lý tưởng quản lý quán triệt sâu sắc sắc thái VHQL là lý tưởng quản lý
Trang 7trên nền tảng quan điểm thân dân, nhân chính, hướng thiện Các mục tiêu quản
lý đặt ra xét cho cùng đều phải vì hạnh phúc của con người và coi thành quả hoạt động quản lý là do con người, do các thành viên của tổ chức xây dựng nên
Lý tưởng này cũng phải đặt thêm quan điểm thực hiện hài hoà lợi ích và nghĩa
vụ Quản lý phải tạo ra hiệu quả: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả chính trị, vì nếu không thì tổ chức tiêu vong Song, cùng với cái lợi còn phải tạo
ra cái nghĩa: gắn bó được các thành viên trong tổ chức với nhau, gắn bó sự tồn tại, phát triển của tổ chức với sự tồn tại, phát triển của cộng đồng
Người thủ trưởng kế tục tinh thần người sáng lập tổ chức với điểm nhân văn, dân chủ, khoa học, hợp lý phải cụ thể hoá lý tưởng hoạt động của tổ chức trong các hoàn cảnh khác nhau, thời điểm khác nhau, làm cho tổ chức ổn định, đổi mới và phát triển bền vững trong động thái phát triển chung của môi trường
xã hội
1.2.2 Văn hóa quản lý trong phương thức quản lý
Trong điều kiện mở rộng nền dân chủ xã hội, phát huy cao độ trách nhiệmcông dân, người ta nói đến phương thức quản lý tâm hồn Quản lý tâm hồn đòi hỏi người thủ trưởng thực hiện được các giải pháp thức dậy lương tâm, lương tri, lương năng của các thành viên trong tổ chức:
+ Làm cho các thành viên thấm nhuần lý tưởng, triết lý hoạt động của tổ chức
+ Coi trọng thành quả lao động của họ; tuỳ theo năng lực, hoàn cảnh của từng thành viên mà giao công việc phù hợp với các yêu cầu về lượng và chất, trao quyền hạn, thông tin, điều kiện tương ứng để họ hoàn thành công việc; biết đánh giá đúng kết quả của họ và lưu giữ trân trọng ở bộ phận nhân sự
+ Điều hoà mục tiêu của tổ chức kết hợp với yêu cầu của cấp trên và mong muốn của đa số thành viên trong tổ chức, biết lưu ý nguyện vọng của từngngười Theo A.Maslow, con người khi đã được đáp ứng nhu cầu tồn tại sinh học
và bảo đảm sự an toàn bản thân, đều mong muốn đưoc giao lưu, đưoc làm việc
có ích, được thăng tiến Vì vậy, quản lý vừa phải chú ý các nhu cầu bậc thấp
Trang 8(sinh học, an toàn bản thân), vừa phải đáp ứng các nhu cầu bậc cao (giao lưu, khẳng định, thăng tiến) Có như vậy, con người mới tự nguyện hăng hái làm việc
Phương thức quản lý tâm hồn thấm nhuần văn hóa quản lý đích thực, tạo điều kiện cho các thành viên trưởng thành qua công việc, luôn luôn sống có viễncảnh, được bồi dưỡng, học tập suốt đời, đem sự tiến bộ của mình phục vụ sự tiến
bộ của tổ chức, lấy tiến bộ của tổ chức hoàn thiện bản thân mình
1.2.3 Văn hóa quản lý trong nhân cách người thủ trưởng
- Là người dầu đàn của tổ chức, biết cách làm việc theo tinh thần đồng đội:
Quản lý là biết thông qua người khác để đạt được mục tiêu của mình, cũng là mục tiêu chính trị của tổ chức Ngưoi thủ trưởng phải có vai trò người đầu đàn, biết học đồng sự, biết hỏi đồng sự, biết nâng đồng sự theo tầm suy nghĩ, tầm làm việc của mình Người thủ trưởng phải thu hút, lôi cuốn các thành viên trong tổ chức vào cuộc, thúc đẩy họ hãng hái tự giác làm việc
- Là người có tầm nhìn rộng, có hiểu biết sâu về sứ mệnh, nhiệm vụ, hoàn cảnh của tổ chức:
Biết phát triển, tổng hợp cái mạnh, cái yếu (mặt chủ quan),thuận lợi, khó khăn (mặt khách quan) của tổ chức Muốn vậy, thủ trưởng phải là người có học vấn cơ bản và toàn diện; có năng lực tạo các mối quan hệ, năng lực phán đoán, giải quyết vấn đề
- Là người có khả năng điều hành công việc hành chính của tổ chức:
Biết dự báo quy hoạch, kế hoạch hoá phát triển đơn vị; biết cụ thể hoá chiến lược, chính sách của cấp trên vào tình hình thực tiễn của tổ chức do mình phụ trách; đề ra được quyết sách hợp lý cho sự phát triển của đơn vị, tổ chức thực hiện công việc có hiệu quả
- Là người biết xúc tiến, ủng hộ, thúc đẩy đổi mới:
Người thủ trưởng có văn hóa quản lý là người biết thanh lý cái đã qua, dự đoán được cái sẽ tới Muốn vậy, phải là người dám đổi mới, biết đổi mới, thúc
Trang 9đẩy cái mới, ủng hộ cái mới bằng việc cải tiến hay cải cách các mặt hoạt động khác nhau của tổ chức.
- Là người biết phối hợp nội lực và ngoại lực:
Người thủ trưởng có văn hóa quản lý là người biết tạo lập cho đơn vị không bao giờ tồn tại trong thế cô lập, biết huy động được sự ủng hộ của cấp trên, của các đối tác, biết phối hợp, kết hợp nội lực và ngoại lực, tạo động lực cho tổ chức phát triển không ngừng
Văn hóa quản lý làm cho lý tưởng quản lý, phương thức quản lý và nhân cách người thủ trưởng phát triển nhất quán theo các hướng tích cực, bảo đảm cho tiến trình quản lý đạt tới chất lượng tổng thể Tổ chức có lý tưởng quản lý cao đẹp, có phương thức quản lý khơi dậy được lòng người , song nếu nhân cách người thủ trưởng hãng hụt về tầm nhìn hoặc về năng lực phối hợp nội lực
và ngoại lực thì rút cục tiến trình quản lý sẽ có sự đứt đoạn Tuy nhiên, người thủ trưởng dù có nhân cách toàn vẹn, tổ chức có ý tưởng hoạt động cao đẹp, nhưng phương thức quản lý không kích thích được lòng người thì mục tiêu quản
lý khó hoàn thành Cuối cùng phải nói tới tình trạng có phương tiện quản lý đẹp,thủ trưởng có nhân cách trong sạch, nhưng lý tưởng quản lý không bắt kịp các giá trị văn hoá thời đại thì tiến trình quản lý sẽ bị trì trệ
1.3 Biểu hiện của văn hóa quản lý
1.3.1 Các biểu hiện hữu hình
Nghi lễ, nghi thức:
Một trong số các biểu trưng của văn hóa quản lý là các nghi lễ, nghi thức
Nó là những hoạt động được dự kiến từ trước và chuẩn bị kĩ lưỡng dưới hình thức các hoạt động, sự kiện văn hóa chính thức, nghiêm trang, tình cảm được thực hiện định kì hay bất thường, nhằm thắt chặt mối quan hệ bên trong và bên ngoài của tổ chức Đây cũng là dịp để mọi thành viên cùng chia sẻ các giá trị văn hóa tốt đẹp của tổ chức, để nêu gương khen thưởng những tấm gương điển hình đại biểu cho những niềm tin và cách thức hành động cần được tôn trọng
Biểu tượng:
Trang 10Biểu tượng được hiểu là một công cụ biểu trưng, đặc trưng của văn hóa quản lý Nó biểu thị niềm tin, giá trị mà nhà quản lý muốn đề cao Hệ thống các biểu trưng của tổ chức như: hình ảnh logo, quần áo, dày, mũ, áo đi mưa, đồng phục của nhân viên, phong bì, giấy viết thư, phong bao dùng đề phát lương Trong số đó, logo là biểu trưng đơn giản nhưng lại có nghĩa nhất, nó thể hiện những giá trị chủ đạo mà tổ chức muốn lưu lại hay truyền lại cho người thấy nó
Vì vậy việc thiết kế logo luôn được các nhà quản lý rất chú trọng Các nhà quản
lý luôn biết cách sử dụng các biểu tượng này nhằm giáo dục cho mọi nhân viên hiểu rõ những giá trị cơ bản của tổ chức, triết lý quản lý của tổ chức, truyền cảmhứng cho nhân viên, cổ vũ sự đoàn kết và tinh thần sáng tạo của đội ngũ nhân viên
Ngôn ngữ, khẩu hiệu:
Một dạng biểu trưng khác thường được các nhà quản lý sử dụng để thế hiện văn hóa quản lý là ngôn ngữ Các tổ chức thường sử dụng những câu chữ đặc biệt, để truyển tải một thông điệp đến nhân viên của mình và những người hữu quan Trong các tổ chức đa văn hóa, sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau, các nhà quản lý luôn tìm cách tốt nhất có lợi cho công việc quản lý và hoạt độngcủa tổ chức Khẩu hiệu là cách diễn đạt cô đọng nhất các triết lý của tổ chức Ngoài ra, chúng thường được sử dụng để phát động các phong trào sản xuất và kinh doanh nhằm khơi dậy sự nhiệt tình cống hiến của nhân viên và để nâng cao năng suất lao động của tổ chức Các nhà quản lý lựa chọn các nội dung, hình thức của khẩu hiệu phù hợp với yêu cầu của tổ chức trong các giai đoạn, các chương trình cụ thể
Nội dung, quy định của tổ chức:
Văn hóa quản lý còn bao gồm các nội quy, quy định hành vi ứng xử của
tổ chức Ví dụ, quy định ứng xử giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cấp dưới với cấp trên, giữa nhân viên với nhân viên, với khách hàng Nó còn bao gồm hệ thống các nguyên tắc như: quy định bảo mật, quy định về giờ làm việc, nghỉ ngơi, đồng phục, phù hiệu, các hình thức tuyên dương khen thưởng, nội quy sử
Trang 11dụng, bảo quản máy móc, bảo vệ môi trường, phòng cháy chữa cháy tất cả những quy định này góp phần phản ánh văn hóa quản lý.
1.3.2 Các biểu hiện vô hình
Lịch sử và truyền thống:
Lịch sử phát triển và truyền thống của tổ chức là những giá trị tốt đẹp của
tổ chức được gìn giữ và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Nó thể hiện quá trình hình thành và phát triển của tổ chức, nó chứa đựng những bài học kinh nghiệm trong quản lý tổ chức và trong kinh doanh, nó tổng kết lại toàn bộ các bước đi của tổ chức từ trong quá khứ đến hiện tại Lịch sử phát triển và truyền thống của tổ chức có vai trò quan trọng trong việc xây dựng, điều chỉnh, phát triển văn hóa quản lý Các nhà quản lý có thể xây dựng các phòng truyền thống của đơn vị để trưng bày các hiện vật, phản ánh lịch sử và truyền thống của đơn
vị Ở những nơi không có điều kiện, các nhà quản lý có thể đưa vào các hoạt động học tập đầu năm, nhân dịp các chương trình đặc biệt của tổ chức, có thể xuất bản tài liệu về truyền thống, lịch sử của đơn vị Nhờ có các hoạt động như vậy, các nhà quản lý có thể động viên nhân viên làm việc tốt hơn, gắn bó với đơn vị tốt hơn, nhân viên hiểu rõ nhau qua các hoạt động chung và đoàn kết với nhau hơn trong công việc
Các tập tục không thành văn:
Văn hóa quản lý còn bao gồm các tập tục không thành văn, do các nhân viên trong tổ chức tự nguyện lập nên vì lợi ích chung Đó là các tập tục như: tập quántrung thực, cởi mở, đấu tranh thẳng thắn, tập quán mừng sinh nhật, mừng năm mới, thăm ốm đau những tập quán tốt đẹp này sẽ gắn bó mọi người trong tổ chức, và dần dần nó trở thành những giá trị văn hóa tốt đẹp được truyền từ thế
hệ này sang hệ khác trong tổ chức Các nhà quản lý luôn biết thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các tập tục tốt, ngăn ngừa các tập tục xấu, dự báo trước các vấn đề trong tương lai để giúp cho các nhóm tự giác tự quản trong nhóm và tạo thành các mối liên hệ hữu ích với các nhóm khác trong tổ chức Sử dụng các tập tục này trong quản lý phụ thuộc vào nghệ thuật quản lý của các nhà quản lý
Trang 12Hội họp:
Họp là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình quản lý, điều hành
tổ chức Nó được hiểu như một cuộc thảo luận, xử lý thông tin nhằm đi đến những quyết định để giải quyết một hay một số vấn đề nào đó Nói như vậy nghĩa là các cuộc họp là cần thiết và chỉ khi cần người ta mới tổ chức các cuộc họp Tuy nhiên, vấn đề cần bàn lại không nằm ở tính cần thiết của các cuộc họp,
mà là ở chỗ các cuộc họp ấy được tổ chức như thế nào và có đạt được hiệu quả mong muốn hay không
Các nhà quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức thành công một cuộc họp Các kỹ năng chuẩn bị và điều hành cuộc họp mang ý nghĩa quyết định Trước hết, cuộc họp cần được xác định mục đích, nội dung và chuẩn bị mọi vấn đề có liên quan (thời gian, địa điểm, thành phần tham dự, tài liệu ) mộtcách phù hợp Trong quá trình diễn ra cuộc họp, nhà quản lý - người chủ trì cần hiểu rõ vai trò của mình, nắm chắc và đầy đủ các thông tin về cuộc họp, phải có
kỹ năng điều hành và duy trì tiến độ cuộc họp, có một số kỹ năng khác như biết lắng nghe, biết tóm tắt, biết ngăn chặn những hành vi tiêu cực Bất cứ yêu cầu nào trong khâu chuẩn bị hay điều hành không được đáp ứng cũng có thể gây ảnhhưởng không tốt tới chất lượng các cuộc họp
Văn hóa thưởng – phạt:
Thưởng và phạt là hai hành động trái ngược, được các nhà quản lý áp dụng như những công cụ quản lý phổ biến Việc vận dụng những công cụ này có thể được nâng tầm thành một dạng phong cách quản lý - phong cách thưởng phạt Phong cách quản lý sử dụng quy chế thưởng - phạt liên quan đến việc sử dụng những động cơ thúc đẩy bên ngoài Ở một góc độ nào đó, có thể nói hầu hết các nhà quản lý đều sử dụng quy chế thưởng phạt, chỉ khác nhau ở liểu lượng ít hay nhiều Điều này là điều dễ hiểu bởi “tiến trình trao đổi" là một phần rất cơ bản trong mối khuyến khích, ghi nhận những nỗ lực và thành quả trong làm việc là một nhu cầu chính đáng của mọi người lao động Bên cạnh đó, “phạt" hay các hình thức xử lý những vi phạm mà người lao động mắc phải trong quá trình làm
Trang 13việc cũng là một biện pháp kiểm soát, răn đe ngăn chặn những vi phạm có thể xảy ra
Giao tiếp trong quản lý:
Giao tiếp là hoạt động đóng vai trò quan trọng trong tổ chức và quản lý,
nó là yếu tố cơ bản để đảm bảo hiệu quả cho công việc quản lý, giúp nhà quản lýthực hiện thành công mục tiêu mà mình đã để ra cho tổ chức mình Mọi quyết định, mọi kế hoạch quản lý chỉ có ý nghĩa sau khi được truyền đạt một cách minh bạch, thấu đáo tới các thành viên trong tổ chức Giao tiếp kém hiệu quả là nguyên nhân dẫn đến nhiều vấn đề, như không quản lý được kết quả làm việc của nhân viên, để tồn tại bất đồng giữa các thành viên, tổ chức thiếu đi tính sángtạo và thiếu hiểu biết về đối tượng phục vụ và hậu quả cuối cùng là làm giảm chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức
Trong tổ chức có thể tồn tại nhiều dạng giao tiếp khác nhau, theo một cách phân chia phổ biến và có ý nghĩa trong quản lý Giao tiếp trong tổ chức được phân chia thành 2 dạng là giao tiếp chính thức và phi chính thức Cả 2 dạng giao tiếp này đều tồn tại phổ biến, song song và đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản lý của tổ chức
Không chỉ giao tiếp bên ngoài thông thường, việc các nhà quản lý chú, tâm khen ngợi nhân viên sẽ tạo tâm lý phần khởi và động lực thúc đẩy nhân viênlàm việc tích cực, hiệu quả hơn rất nhiều, bởi vì ai cũng thích được khen ngợi, động viên tinh thần Một lời khen đúng lúc sẽ khiến cho các nhân viên phấn khởi, hăng say làm việc và gắn bó với tổ chức hơn Động viên cấp dưới bằng những lời khen ngợi, hoan nghênh khi họ làm tốt hoặc khi làm vượt chi tiêu công việc, có thể có phần thưởng cho họ Phần thưởng dù không lớn, nhưng được khen thưởng trước nhiều người, khiến nhân viên vui sướng và hãnh diện Nhà quản lý có thể khen người này, biểu dương người kia, khi đó nhân viên sẽ phấn chấn làm việc hăng say hơn, năng suất làm việc sẽ tăng lên Nếu không khích lệ, tinh thần nhân viên sẽ sa sút, công việc không hiệu quả Do vậy, người quản lý nên thường xuyên khuyến khích nhân viên Điều này có thể rất nhiều