1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phép biện chứng duy vật với đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam

23 1,1K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 164,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCCÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT2LỜI NÓI ĐẦU3I.Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam41.1Khái niệm kinh tế thị trường41.2Sự ra đời và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam41.3. Đặc trưng của KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam6II. Cơ sở phương pháp triết học để nhận thức đúng đắn về quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam92.1. Khái niệm phép biện chứng92.2. Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật102.2.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến102.2.2. Nguyên lý về sự phát triển11III. Những mâu thuẫn trong quá trình chuyển đổi cơ chế cũ sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam123.1 Mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị123.2 Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất143.3 Mâu thuẫn trong vấn đề sở hữu:153.4 Mâu thuẫn giữa KTTT với mục tiêu xây dựng con người XHCN173.5 Giải quyết mâu thuẫn18KẾT LUẬN21II.TÀI LIỆU THAM KHẢO23CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮTKTTTKinh tế thị trườngXHCNXã hội chủ nghĩaCNXHChủ nghĩa xã hộiLLSXLực lượng sản xuấtQHSXQuan hệ sản xuấtLỜI NÓI ĐẦUViệt Nam trong công cuộc đổi đã thực sự đem lại nhiều kết quả to lớn, làm thay đổi bộ mặt đất nước và cuộc sống nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế. Nhân tố quan trọng nhất quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới đó là chiến lược phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, được khởi xướng từ sau đại hội Đảng lần thứ VI. Ăng Ghen nói: “ Sự phát triển của chính trị, luật pháp, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật đều dựa trên cơ sở phát triển kinh tế ”. Kinh tế là nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động vật chất của con người, là yếu tố quan trọng nhất của đời sống xã hội. So với thế giới, nước ta vẫn là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn gặp rất nhiều khó khăn, những tàn dư của chế độ tập trung quan liêu bao cấp vẫn còn tồn tại khá nhiều. Khi chuyển sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, thì ngoài những khó khăn về kinh tế, còn tồn tại những mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới, kìm hãm sự phát triển. Chính vì thế mà việc nghiên cứu tìm ra hướng đi đúng đắn cho nền kinh tế, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước, phù hợp với khu vực, thế giới và thời đại là hết sức cần thiết.Nghiên cứu đề tài: “Phép biện chứng duy vật với đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam” dưới góc độ triết học, trong tổng thể các mối quan hệ biện chứng, sẽ giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc hơn, bản chất hơn những vấn đề xung quanh việc phát triển kinh tế.

Trang 1

MỤC LỤC

CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT 2

LỜI NÓI ĐẦU 3

I Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam 4

1.1 Khái niệm kinh tế thị trường 4

1.2 Sự ra đời và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 4

1.3 Đặc trưng của KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 6

II Cơ sở phương pháp triết học để nhận thức đúng đắn về quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 9

2.1 Khái niệm phép biện chứng 9

2.2 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật 10

2.2.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 10

2.2.2 Nguyên lý về sự phát triển 11

III Những mâu thuẫn trong quá trình chuyển đổi cơ chế cũ sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 12

3.1 Mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị 12

3.2 Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 14

3.3 Mâu thuẫn trong vấn đề sở hữu: 15

3.4 Mâu thuẫn giữa KTTT với mục tiêu xây dựng con người XHCN 17

3.5 Giải quyết mâu thuẫn 18

KẾT LUẬN 21

II TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam - trong công cuộc đổi đã thực sự đem lại nhiều kết quả to lớn, làmthay đổi bộ mặt đất nước và cuộc sống nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc

và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước ta trên trườngquốc tế Nhân tố quan trọng nhất quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới đó làchiến lược phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, được khởixướng từ sau đại hội Đảng lần thứ VI

Ăng Ghen nói: “ Sự phát triển của chính trị, luật pháp, triết học, tôn giáo, vănhọc, nghệ thuật đều dựa trên cơ sở phát triển kinh tế ” Kinh tế là nền tảng vững chắccho mọi hoạt động vật chất của con người, là yếu tố quan trọng nhất của đời sống xãhội So với thế giới, nước ta vẫn là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn gặp rấtnhiều khó khăn, những tàn dư của chế độ tập trung quan liêu bao cấp vẫn còn tồn tạikhá nhiều Khi chuyển sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, thì ngoàinhững khó khăn về kinh tế, còn tồn tại những mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới, kìmhãm sự phát triển Chính vì thế mà việc nghiên cứu tìm ra hướng đi đúng đắn chonền kinh tế, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước, phù hợp với khu vực, thếgiới và thời đại là hết sức cần thiết

Nghiên cứu đề tài: “Phép biện chứng duy vật với đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam” dưới góc độ triết

học, trong tổng thể các mối quan hệ biện chứng, sẽ giúp chúng ta hiểu một cách sâusắc hơn, bản chất hơn những vấn đề xung quanh việc phát triển kinh tế

Đề tài này sẽ chỉ rõ mối liên hệ phổ biến giữa kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa với các yếu tố khác trong nền kinh tế cũng như quá trình vận độngphát triển không ngừng của kinh tế thị trường Từ đó, hy vọng sẽ giải đáp được mộtphần băn khoăn trên

Trong giới hạn kiến thức còn hạn hẹp của mình, bài viết sẽ không tránh khỏinhững thiếu sót, rất mong được sự đóng góp của thầy cô để bài viết được hoàn thiệnhơn

Trang 4

I. Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

1.1 Khái niệm kinh tế thị trường

Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế- xã hội, mà trong đó sản phẩmsản xuất ra để trao đổi, để bán trên thị trường Mục đích của sản xuất trong kinh tếhàng hoá không phải để thoả mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất ra sản phẩm

mà nhằm để bán, tức là để thoả mãn nhu cầu của người mua đáp ứng nhu cầu xã hội

Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá, trong đótoàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường.Kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường không đồng nhất với nhau, chúng khác nhau

về trình độ phát triển Về cơ bản chúng có cùng nguồn gốc và cùng bản chất

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là nền kinh tế hànghoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước, theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa

1.2 Sự ra đời và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Theo nguyên tắc phát triển, mọi quá trình phát triển đều diễn ra một cáchkhách quan và tất yếu Kinh tế thị trường thường gắn liền với chủ nghĩa tư bản, pháttriển khá cao và phồn thịnh trong các nước tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, kinh tế thịtrường tư bản chủ nghĩa không phải là vạn năng Bên cạnh mặt tích cực nó còn cómặt trái, có khuyến tật từ trong bản chất của nó do chế độ sở hữu tư nhân tư bản chiphối Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất thì mâu thuẫn của chủ nghĩa tưbản càng bộc lộ sâu sắc, không giải quyết được các vấn đề xã hội, đào sâu thêm hốngăn cách giữa người giàu và người nghèo Hơn thế nữa, trong điều kiện toàn cầuhoá hiện nay, nó còn ràng buộc các nước kém phát triển trong quỹ đạo bị lệ thuộc

và bị bóc lột

Chính vì thế, như Các Mác đã phân tích và dự báo chủ nghĩa tư bản tất yếuphải nhường chỗ cho một phương thức sản xuất và chế độ mới văn minh hơn,nhân đạo hơn Chủ nghĩa tư bản mặc dù đang cố tìm mọi cách tự điều chỉnh, tựthích nghi nhưng do mâu thuẫn từ trong bản chất của nó nên bản thân nó khôngthể tự giải quyết được, có chăng chỉ tạm thời xoa dịu được chừng nào mâu thuẫn

mà thôi Vì vậy, nhân loại muốn tiến lên, xã hội muốn phát triển thì dứt khoátkhông thể dừng lại ở kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa

Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô Viết là một kiểu tổ chức xã hội, tổ chứckinh tế muốn sớm khắc phục những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản, nhanh chóngxây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp hơn, một phương thức sản xuất văn minh hiện

Trang 5

đại hơn chủ nghĩa tư bản Đó là một ý tưởng tốt đẹp, và trên thực tế suốt hơn mấychục năm tồn tại, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu

vĩ đại, làm thay đổi hẳn bộ mặt của đất nước và đời sống nhân dân Liên Xô Nhưng

do nôn nóng, làm trái quy luật không kịp thời điều chỉnh khi cần thiết cho nên rútcuộc đã không thành công Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩakhác ở Đông Âu vào cuối những năm 80, đầu năm 90 của thế kỷ XX đã làm lộ rõnhững khuyết tật mô hình kinh tế cứng nhắc phi thị trường

Việt Nam là một nước nghèo lạc hậu, trình độ kinh tế- xã hội còn thấp, lại bịchiến tranh tàn phá nặng nề Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý tưởng của nhữngngười cộng sản và nhân dân Việt Nam, là khát vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dântộc Việt Nam Suốt một thời gian dài, Việt Nam cũng như nhiều nước khác đã ápdụng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô Viết, mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trungmang tính bao cấp Mô hình này đã thu được những kết quả quan trọng, nhưng vềsau mô hình này bộc lộ nhiều khuyết điểm, nguyên nhân sâu xa là bệnh giáo điều,chủ quan, duy ý chí, không tôn trọng quy luật khách quan

Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam

đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn côngcuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Đại hội đưa ra quan niệm mới về con đường,phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hoá

xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuấthàng hoá và thị trường, phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, vàkhẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh

Hội nghị trung ương 6 (tháng 3- 1989), khoá VI, phát triển thêm một bước,đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm nhiều thành phần

đi lên chủ nghĩa xã hội, coi chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiếnlược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội Đến đại hội VII,Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõ hơn chủ trương này và khẳng định đây làchủ trương chiến lược, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đại hộiVIII của Đảng (tháng 6-1996) đưa ra một kết luận hết sức quan trọng: “Sản xuấthàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền vănminh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xãhội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng”, nhưng lúc đó cũng mới dùng từkinh tế hàng hoá, cơ chế thị trường, chưa dùng khái niệm “kinh tế thị trường” Phảiđến đại hội IX của Đảng mới chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định

Trang 6

hướng xã hội chủ nghĩa” Rõ ràng kinh tế thị trường đã phát triển trong thực tế và nócũng đã được thừa nhận trong định hướng của Đảng ta Như vậy, kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa đã được khẳng định là tổn tại cả trong lý thuyết và thựctế.

1.3 Đặc trưng của KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Qua gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được nhữngthành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xãhội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện Vị thế nước ta trên trường quốc tế khôngngừng nâng cao Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế vàlực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng Sức cạnh tranhcủa nền kinh tế còn kém Nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt: Đấtnước đang gặp nhiều khó khăn, thách thức không thể xem thường Xây dựng XHCN

là một quá trình, là mục tiêu mà chúng ta phải đạt tới Trong quá trình đó, phải từngbước xác lập, tạo ra những điều kiện, những tiền đề của CNXH, đồng thời tránhnguy cơ chệch hướng

Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là sự lựa chọn hoàntoàn phù hợp với quy luật phát triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại Kinh

tế thị trường là một phạm trù kinh tế riêng, có tính độc lập tương đối, phát triển theonhững quy luật riêng vốn có của nó dù nó tồn tại ở đâu và bất kể thời điểm nào củalịch sử Song, trong thực tế không có một nền kinh tế thị trường trừu tượng, chungchung cho mọi giai đoạn phát triển, mà gắn với mỗi giai đoạn phát triển nhất địnhcủa xã hội là những nền kinh tế hàng hóa cụ thể Thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ sởkinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường cũng là cơ sởkinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hóa Đó là sự phâncông lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa

quy định Có nghĩa là kinh tế thị trường tồn tại cả trong chủ nghĩa xã hội cũng như

trong thời kỳ quá độ lên CNXH Do vậy, trong chủ nghĩa tư bản và trong CNXH đềutồn tại kinh tế thị trường, nhưng có những đặc trưng khác nhau Kinh tế thị trường tưbản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, là nền kinh tế thị trườngphục vụ lợi ích của giai cấp tư sản Kinh tế thị trường XHCN dựa trên chế độ sở hữutoàn dân và tập thể do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mục đích của nền kinh tế thị trường

là phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, xóa bỏ chế độ bóclột, giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất

Trang 7

Sự lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam khôngphải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và CNXH, mà là sự nắm bắt vàvận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay;

là sự tiếp thu có chọn lọc thành tựu văn minh nhân loại, nhằm phát huy vai trò tíchcực của kinh tế thị trường trong việc phát triển sức sản xuất, xã hội hóa lao động, cảitiến kỹ thuật - công nghệ, nâng cao đời sống nhân dân Đồng thời, hạn chế nhữngmặt tiêu cực của kinh tế thị trường gây ra

Nói kinh tế thị trường định hướng XHCN có nghĩa là nền kinh tế nước takhông phải là nền kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu tập trung quan liêu; cũng khôngphải là kinh tế thị trường tự do theo kiểu tư bản chủ nghĩa; và cũng chưa hoàn toàn làkinh tế thị trường XHCN Bởi vì Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH,vừa có, vừa chưa có đầy đủ các yếu tố của CNXH, còn có sự đan xen và đấu tranhgiữa cái cũ và cái mới Cần hiểu rõ nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vừamang tính chất chung của nền kinh tế thị trường, vừa có tính chất đặc thù vì nó hoạtđộng trong khuôn khổ của những nguyên tắc và bản chất của CNXH

Theo nguyên lý biện chứng, phát triển chính là một quá trình thống nhất giữakhẳng định và phủ định Chính vì vậy mà quá trình phát triển có tính chu kỳ, pháttriển là kế thừa chứ không tách rời, trong cái cao hơn bao gồm cả nhân tố cũ đồngthời cũng thể hiện mặt mới Đảng ta trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển củathời đại và sự khái quát, đúc rút từ kinh nghiệm phát triển của kinh tế thị trường thếgiới đã đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, nhằm sử dụng kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu từng bước quá độ đilên chủ nghĩa xã hội, phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của Việt Nam

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là một nền kinh tếthị trường chung chung mà nó vừa kế thừa, tuân theo những quy luật của kinh tế thịtrường vừa dựa trên cơ sở các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiệntrên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối Nói cách khác, kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước nhằm thực hiện mụctiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” Kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có những đặc trưng như:

Mục tiêu hàng đầu của phát triển kinh tế thị trường ở nước ta là giải phóngsức sản xuất, động viên mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để thực hiện côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân, tăng

Trang 8

trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu hợppháp, gắn liền với xoá đói giảm nghèo.

Nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần Trong nền kinh tế nước ta tồntại ba loại hình sở hữu cơ bản là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân(gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư nhân tư bản) Từ ba loại hình sở hữu

cơ bản đó hình thành nhiều thành phần kinh tế, nhiều tổ chức sản xuất kinh doanh.Các thành phần kinh tế đó là: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểuchủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Các thành phần kinh tế nói trêntồn tại một cách khách quan và là những bộ phận cần thiết của nền kinh tế trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Vì vậy phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần

là một tất yếu đối với nước ta Chỉ có như vậy chúng ta mới khai thác được mọinguồn lực kinh tế, nâng cao được hiệu quả kinh tế, phát huy được tiềm năng của cácthành phần kinh tế vào phát triển chung nền kinh tế của đất nước nhằm thoả mãn nhucầu ngày càng tăng của nhân dân

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện nhiềuhình thức phân phối thu nhập, trong đó lấy phân phối theo lao động là chủ yếu.Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, tồn tại các hình thức phân phối thu nhập sauđây: phân phối theo lao động, phân phối theo vốn hay tài sản đóng góp, phân phốitheo giá trị sức lao động (nó được thực hiện trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân

và các doanh nghiệp mà vốn đầu tư là của nước ngoài), phân phối thông qua các quỹphúc lợi tập thể và xã hội Phân phối theo lao động là đặc trưng bản chất của nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nó là hình thức thực hiện về mặtkinh tế của chế độ công hữu Vì thế phân phối theo lao động được xác định là hìnhthức phân phối chủ yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước

xã hội chủ nghĩa Trong điều kiện ngày nay, hầu như tất cả các nền kinh tế của cácnước trên thế giới đều có sự quản lý của nhà nước để sửa chữa một mức độ nào đó

“những thất bại của thị trường” Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc kết hợp kế hoạch với thị trường Thị trường là một

bộ phận cấu thành nền kinh tế, nó tồn tại khách quan, tự vận động theo những quyluật vốn có của nó Còn kế hoạch hoá là hình thức thực hiện của tính kế hoạch, nó làsản phẩm chủ quan của chủ thể quản lý Kế hoạch và thị trường cần được kết hợp vớinhau trong cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đểkích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc

Trang 9

phục những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động,của toàn thể nhân dân.

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng là nền kinh tế mở,hội nhập Do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ, đang diễn ra quátrình quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự phát triển của mỗi quốc gia trong sự phụ thuộclẫn nhau Vì vậy, mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới là tất yếuvới nước ta Chỉ có như vậy mới thu hút được vốn, kỹ thuật công nghệ hiện đại, kinhnghiệm quản lý tiên tiến của các nước để khai thác tiềm năng và thế mạnh của nước

ta, thực hiện phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để xây dựng và phát triển kinh tếthị trường hiện đại theo kiểu rút ngắn

Như vậy có thể nói, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mộtkiểu tổ chức kinh tế của một xã hội đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tếcòn ở trình độ thấp sang nền kinh tế ở trình độ cao hơn hướng tới tiến bộ xã hội mới-

xã hội xã hội chủ nghĩa Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng cộng sản ViệtNam về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sảnxuất trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Lựa chọn mô hình đi lên chủ nghĩa

xã hội trên cơ sở vận dụng được ưu thế cũng như hạn chế được khuyết điểm của hai

cơ chế là kế hoạch và thị trường

II Cơ sở phương pháp triết học để nhận thức đúng đắn về quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

2.1 Khái niệm phép biện chứng

Kế thừa có phê phán chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong lịch sử triếthọc, dựa chắc vào các thành tựu khoa học đương thời, Mác và Ăngghen đã sáng lập

ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đem lại cho phép biệnchứng một sự phát triển mới về chất, đó là phép biện chứng duy vật Phép biệnchứng duy vật được Mác, Ăngghen khẳng định và được Lênin tiếp tục phát triển lêntầm cao mới, đã trở thành môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động

và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy con người Đây làhọc thuyết toàn diện nhất, sâu sắc nhất về sự liên hệ phổ biến và sự phát triển

Hệ thống quy luật của phép biện chứng duy vật vừa là quy luật của thế giớikhách quan, vừa là quy luật nhận thức của tư duy lô-gích Đó là sự thống nhất trên

cơ sở duy vật giữa phép biện chứng với lý luận nhận thức và lô-gích biện chứng Đặctrưng nổi bật của phép biện chứng duy vật là tính cách mạng và khoa học, vì thế nómang tính tự giác cao, có tác dụng trong việc chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động nhận

Trang 10

thức và thực tiễn Xét theo nội dung cấu trúc cơ bản, phép biện chứng duy vật khoahọc bao gồm hai nguyên lý cơ bản: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý

về sự phát triển

2.2 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật

2.2.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Trong phép biện chứng duy vật, mối liên hệ phổ biến dùng để khái quát mốiliên hệ, sự tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng haygiữa các mặt, các giai đoạn phát triển của một sự vật, hiện tượng Mối liên hệ đượchiểu là sự thống nhất của 3 phương diện: tính quy định, quá trình tương tác và dẫntới là quá trình biến đổi Trong ba phương diện trên, tính quy định là cơ sở kháchquan của các quá trình tương tác, quá trình tương tác là cơ sở, là nguyên nhân và quátrình biến đổi là hệ quả tất yếu Nhưng trong quá trình nhận thức về mối liên hệ thìthường ngược lại: từ quan sát đến những sự biến đổi, trên cơ sở đó xác định nguyênnhân và sự tương tác có được là do tính quy định Mối liên hệ phổ biến chính lànhững mối liên hệ của nó được thể hiện ở các mối liên hệ đặc thù trong mỗi trườnghợp đặc thù, có hai tính chất cơ bản là tính khách quan và tính phổ biến

Tính khách quan là cái vốn có của các tồn tại thế giới, được hiểu là không có

sự vật đồng nhất, giữa các sự vật hiện tượng không có tồn tại biệt lập tuyệt đối, còntính phổ biến được hiểu trên ba nội dung sau:

Thứ nhất: mọi sự vật hiện tượng, mọi lĩnh vực của thế giới luôn tồn tại các mối liên hệ và liên hệ phổ biến Theo nghĩa đó cũng đồng thời có nghĩa là không có

sự vật đồng nhất, đồng thời cũng không có sự tồn tại biệt lập giữa các sự vật

Thứ hai: với mỗi sự vật có vô vàn các mối liên hệ khác nhau bởi tính không

giới hạn của những tính quy định, mỗi tính quy định là một sự tồn tại Vậy sự tồn tạicủa nó là vô hạn, vì thế để nhận thức một đối tượng bao giờ cũng phải xét nó trongmối liên hệ

Thứ ba : mỗi sự vật biến đổi đều có thể dẫn tới những biến đổi khác Như

vậy có thể thấy, mối liên hệ phổ biến là cơ bản trong nhận thức khoa học Theonguyên tắc, khi nghiên cứu phải xem xét trên mọi mặt, mối liên hệ có thể có và cóthể làm được, tránh những phiến diện trong phân tích một vấn đề cụ thể

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi chủ thể phải có quan điểm toàndiện khi xem xét các sự vật, hiện tượng Quan điểm toàn diện trong phân tích hiệnthực trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của phương pháp biệnchứng Mác-xít Quan điểm này đòi hỏi chúng ta khi phân tích sự vật, hiện tượng phải

Trang 11

tính toán đến các điều kiện không gian, thời gian, phải xem xét đầy đủ mối quan hệqua lại đó với sự vật khác; phải nghiên cứu cả quá khứ, hiện tại và tương lai của nó.

Quán triệt quan điểm biện chứng vào việc phân tích toàn diện các mối liên hệcủa sự vật, hiện tượng giúp chúng ta nhận thức đúng bản chất của các sự vật, hiệntượng làm cơ sở cho việc xác định đường lối, nhiệm vụ, mục tiêu một cách đúngđắn, chỉ ra được nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản lâu dài và mục tiêu chủ yếu trước mắt;phối hợp chặt chẽ mọi hành động trong quá trình thực hiện, thúc đẩy sự vật, hiệntượng phát triển hợp quy luật khách quan, điều kiện và khả năng khách quan

2.2.2 Nguyên lý về sự phát triển

Trong phép biện chứng duy vật, phát triển dùng để khái quát quá trình vậnđộng đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiệnhơn Quá trình đó vừa diễn ra dần dần, vừa nhảy vọt làm cho sự vật, hiện tượng cũmất đi, sự vật, hiện tượng mới về chất ra đời Phát triển là tự thân Động lực của sựphát triển là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng Phát triển

đi theo đường “xoáy ốc”, cái mới dường như lặp lại một số đặc trưng; đặc tính củacái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn, thể hiện tính quanh co, phức tạp, có thể có nhữngbước thụt lùi tương đối trong sự phát triển

Vận động và phát triển là hai khái niệm không đồng nhất với nhau Vận động

là phương thức tồn tại của vật chất, là đặc tính cố hữu của vật chất, gắn với mọi dạngvật chất bất kể trong điều kiện, hoàn cảnh nào Sự phát triển là một kiểu vận độngđặc biệt, được đặc trưng bởi tính xu hướng, tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đếnphức tạp Vì thế không phải sự vận động nào cũng được coi là sự phát triển

Nguyên lý về sự phát triển cung cấp cho ta phương pháp nhận thức khoa học

về thế giới, chỉ cho chúng ta con đường đúng đắn để cải tạo tự nhiên và xã hội Nếuphát triển là một quá trình đổi mới không ngừng thì nhiệm vụ của khoa học là phảinghiên cứu xem xét các sự vật, hiện tượng của thế giới đang vận động, biến đổi từdạng này sang dạng khác, từ giản đơn đến phức tạp, từ thấp đến cao như thế nào.Điều đó đòi hỏi phải xem xét sự vật, hiện tượng trong sự phát triển; phải hành động

để đưa đến sự phát triển của sự vật; phải thấy phát triển là quá trình trong đó tất yếu

có sự ra đời của cái mới Song sự diệt vong của cái cũ và sự ra đời của cái mới là cảmột quá trình đấu tranh gay go, phức tạp Vì thế phép biện chứng yêu cầu chúng taphải hướng tới cái mới, phát hiện cái mới một cách nhạy bén, nhìn về tương lai pháttriển của nó Đồng thời trong phát hiện, hướng tới cái mới phải phân biệt cái mớithực sự với những cái giả danh để kịp thời ngăn chặn, loại trừ Chỉ những cái nào ra

Ngày đăng: 23/06/2014, 10:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w