Từ đó rất nhiều cơ hội cũngnhư thách thức mà chúng ta cần phải lưu ý trong việc định hướng phát triển kinh tế.Trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã sử dụng các yếu tố sản xuất
Trang 1HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHOA KINH TẾ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 28 tháng 09 năm 2022
THUYẾT MINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN NĂM HỌC 2022 – 2023
A THÔNG TIN CHUNG
1 Tên đề tài: Tác động của các yếu tố sản xuất đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam
B MÔ TẢ NGHIÊN CỨU
1 Tính cấp thiết và tính mới của đề tài
Nền kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của một quốc gia, quyết định quốcgia đó giàu hay nghèo, trong đó sự gia tăng về sản lượng (GDP) hay còn được biết đến là
sự tăng trưởng kinh tế được xem là một trong những chỉ số quan trọng nhất để đánh giátình trạng sức khỏe hiện tại và dự báo nền kinh tế tương lai của mỗi quốc gia Tăngtrưởng kinh tế giúp sản lượng và thu nhập đều tăng, người dân sẽ chi tiêu thoải mái hơn,
từ đó góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Khi thu nhậpcủa người dân tăng lên dẫn đến ngân sách nhà nước thu được nhiều hơn, từ đó nhà nước
có điều kiện để tăng đầu tư công, phát triển nhiều mặt trong đời sống xã hội Bên cạnhnhững lợi ích mà tăng trưởng kinh tế mang lại thì còn có những mặt trái, được gọi lànhững chi phí mà xã hội phải gánh chịu do tăng trưởng quá cao, quá nóng
Trang 2Yếu tố sản xuất được hiểu là các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất vàbán sản phẩm, dịch vụ của nền kinh tế Bao gồm tất cả các yếu tố như con người, đất đai,vốn hiện vật, năng lực sản xuất.Qua đó có thể thấy được việc nghiên cứu tác động củacác yếu tố sản xuất đến sự tăng trưởng kinh tế là một đề tài thiết thực, đặc biệt với cuộccách mạng công nghiệp 4.0, đóng góp của các yếu tố sản xuất vào tăng trưởng kinh tế dầnthay đổi phụ thuộc vào sự vận dụng của từng nền kinh tế Từ đó rất nhiều cơ hội cũngnhư thách thức mà chúng ta cần phải lưu ý trong việc định hướng phát triển kinh tế.Trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã sử dụng các yếu tố sản xuấtnhư lao động, vốn và công nghệ để tạo tăng trưởng Việc tận dụng lực lượng lao động trẻ,dồi dào đồng thời kết hợp với những chính sách về đào tạo và phát triển nguồn nhân lựcđược thúc đẩy để đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp khác nhau đã giúp tăngnăng suất lao động và hiệu quả sản xuất có những thay đổi rõ rệt Chính phủ Việt Nam đãtăng đầu tư vào các ngành công nghiệp đòi hỏi vốn đầu tư lớn như năng lượng, điện tử, ô
tô, dược phẩm, dệt may, Bên cạnh đó, đầu tư công cũng được tăng cường để cải thiện
hạ tầng giao thông, giúp cho các sản phẩm được vận chuyển dễ dàng hơn, từ đó tăngcường thị trường xuất khẩu Việc ngày càng tăng thu hút đầu tư từ nước ngoài , đặc biệt
là từ các đối tác thương mại lớn như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ giúp tăngcường vốn đầu tư và chuyển giao công nghệ từ các quốc gia khác Quá trình đổi mớicông nghệ khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới và hiện đại để cảithiện năng suất sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm Nhiều doanh nghiệp cũng đangtìm cách tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu để tận dụng lợi thế đối với các thị trườngđang phát triển
Nền kinh tế hiện đại đang chuyển đổi và phát triển nhanh chóng trong thời kỳcông nghệ mới, từ đó yêu cầu sự thích nghi và sáng tạo trong việc sử dụng các yếu tố sảnxuất Giai đoạn trước và sau đại dịch Covid - 19 mặc dù có những tác động không hề nhỏđến nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng nhưng nhờ sử dụnghiệu quả nguồn nhân lực, lao động, một trong những yếu tố sản xuất ảnh hưởng đến nềnkinh tế Việt Nam, đã giúp tăng trưởng kinh tế Việt Nam ổn định Việc sử dụng các yếu tốsản xuất trong kinh tế hiện đại sẽ giúp cho các doanh nghiệp, chính phủ và các nhà quản
lý kinh tế có thể đưa ra quyết định đúng đắn, hiệu quả và ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độtăng trưởng để nền kinh tế Chính vì thế, nhóm tác giả đã quyết định tiến hành nghiên
cứu: “Tác động của các yếu tố sản xuất đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay”.
Mục tiêu cụ thể là: Tìm hiểu về những tác động của các yếu tố sản xuất đến tăng trưởngkinh tế Việt Nam giai đoạn 2016 – 2022
2 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và các yếu tố sản xuất, tác động củacác yếu tố sản xuất đến tăng trưởng kinh tế
Sử dụng dữ liệu thu thập được về nền kinh tế Việt Nam để nhìn nhận vai trò củatừng yếu tố sản xuất với tăng trưởng kinh tế
Trang 3 Đánh giá một cách toàn diện và đầy đủ các yếu tố sản xuất ảnh hưởng đến tăngtrưởng kinh tế (tăng trưởng GDP) Qua đó đưa ra các kiến nghị, đề xuất phù hợp
để cải thiện tăng trưởng kinh tế đồng thời phát huy những thế mạnh của Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Kết quả tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 – 2022
Các yếu tố sản xuất và tác động của những yếu tố đó đến tăng trưởng kinh tế
Các mô hình kinh tế
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Về thời gian: Nghiên cứu sự tác động của các yếu tố sản xuất đến tăng trưởngkinh tế
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này được thu
thập từ số liệu được thu thập bởi Tổng cục Thống kê và các tìm hiểu của tác giả.Các số liệu này liên quan cơ cấu kinh tế, lao động, vốn,…
Phương pháp phân tích số liệu: Các số liệu được phân tích để tìm mối quan hệ
và lập các bảng, biểu liên quan
Phương pháp thống kê mô tả: Phân tích thực trạng tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam thông qua các bảng số liệu, biểu đồ
Phân tích cân đối: Dựa trên các yêu cầu vốn đầu tư và đóng góp của vốn, sử dụng
lao động, sử dụng nguồn lực,… theo các mô hình/kịch bản phát triển để tiến hànhphân tích và dự báo sự chuyển dịch lao động, vốn đầu tư, và cơ cấu kinh tế theonhóm ngành, phân ngành, các thành phần kinh tế từ đó có thể đưa ra các nhận định
và dự báo về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong tương lai
Hồi quy mô hình kinh tế: Sử dụng phần mềm Eviews để tiến hành hồi quy mô
hình Hàm sản xuất tuyến Cobb-Douglas: sử dụng để mô hình hóa, xác định cácyếu tố sản xuất đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam
5 Đề cương chi tiết
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT
Trang 41 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng kết quả đầu ra hoạt động của nền kinh
tế trong một thời kỳ nhất định (thường là năm) so với kỳ gốc
Gia tăng về lượng: Chỉ sự tăng lên về số lượng, khối lượng hay quy mô của một thứ
gì đó trong một khoảng thời gian nhất định, ở đây sự gia tăng đó được thể hiện ở cả quy
mô và tốc độ của nền kinh tế Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng tuyệt đối, trongkhi đó tốc độ tăng trưởng thể hiện sự so sánh tương đối giữa các thời kỳ Để biểu thị tăngtrưởng kinh tế, người ta thường dùng mức tăng lên của GDP hay GNI, mức tăng đóthường được tính trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hay tính bình quân theo đầu ngườicủa thời kỳ sau so với thời kỳ trước đó
Kết quả đầu ra hoạt động của nền kinh tế: là tất cả những sản phẩm và dịch vụ đượcsản xuất trong một quốc gia hoặc khu vực trong một khoảng thời gian nhất định, thườngđược đo bằng chỉ số GDP (Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội) hay GNIbình quân đầu người Kết quả đầu ra này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánhgiá và so sánh sự phát triển kinh tế giữa các quốc gia và khu vực khác nhau
Thời kỳ nhất định: Phản ánh sự tăng trưởng của nền kinh tế trong một khoảng thờigian cụ thể Khoảng thời gian này thường là một năm hoặc một quý Tăng trưởng kinh tếphản ánh sự thay đổi tổng giá trị sản xuất hay GDP đầu người trong khoảng thời gian đó
Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào 2 quá trình: sự tích lũy tài sản (như vốn, laođộng và đất đai) và đầu tư những tài sản này có năng suất hơn Tiết kiệm và đầu tư làtrọng tâm, nhưng đầu tư phải hiệu quả thì mới đẩy mạnh tăng trưởng Chính sách chínhphủ, thể chế, sự ổn định chính trị và kinh tế, đặc điểm địa lý, nguồn tài nguyên thiênnhiên, và trình độ y tế và giáo dục, tất cả đều đóng vai trò nhất định ảnh hưởng đến tăngtrưởng kinh tế
1.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế.
Đo lường tăng trưởng kinh tế được phản ánh qua quy mô tăng trưởng kinh tế và tốc
độ tăng trưởng kinh tế
Quy mô tăng trưởng kinh tế (Mức tăng trưởng tuyệt đối):
GDPn=GDPn-GDP0Trong đó:
GDPn: Quy mô tăng trưởng GDP của nền kinh tế năm thứ n so với năm gốc so sánh.GDPn: Tổng sản phẩm trong nước năm nghiên cứu
Trang 5GDP0: Tổng sản phẩm trong nước năm gốc so sánh.
Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế:
g=GDPn-GDP0GDP0100(%)g=GDPnGDP0100(%)Trong đó:
g: Tốc độ tăng trưởng tính theo GDP của nền kinh tế năm thứ n so với năm gốc so sánh
Tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người:
gyn=Yn-Y0Y0100(%)gyn=YnY0100(%)Trong đó:
gyn: Tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người
Yn: GDP (GNI) bình quân đầu người của năm nghiên cứu
Y0: GDP (GNI) bình quân đầu người của năm gốc so sánh
Khi nghiên cứu GDP hay GNI bình quân đầu người cần lưu ý GDP hay GNI bìnhquân đầu người không chỉ phụ thuộc vào quy mô và tốc độ tăng trưởng của GDP hayGNI mà còn phụ thuộc vào quy mô và tốc độ tăng dân số của quốc gia Tất cả các chỉ tiêuphản ánh mức tăng trưởng của GDP, GNI hay GDP, GNI bình quân đầu người được tínhtheo các loại giá:
Giá thực tế (giá hiện hành): là giá của kỳ nghiên cứu, phản ánh đúng đắn thực tiễnkhách quan về kết quả kinh doanh và cơ cấu kinh tế Mối quan hệ giữa kết quả sảnxuất với phần huy động vào ngân sách nhà nước, mối quan hệ giữa sản xuất - tiêudùng - tích lũy và xem xét mức sống của dân cư trong từng thời kỳ (ở đây là GDPdanh nghĩa)
Giá gốc so sánh là giá của năm lấy làm mốc so sánh Khi so sánh không thể theogiá thực tế được, vì có các yếu tố biến động: Giá, lạm phát tới GDP, GNI, do vậy,khi so sánh giữa các năm, các thời kỳ cần sử dụng giá năm gốc so sánh, góp phầnđánh giá chính xác hơn GDP, GNI
Tính theo đồng tiền quốc tế nào đó (đồng USD, đồng EURO, đồng Bảng Anh,đồng Yên Nhật, ), việc tính các chỉ tiêu GDP, GNI, theo đồng tiền quốc tế chophép so sánh GDP, GNI hay GDP, GNI bình quân đầu người giữa các quốc gia vớinhau Tuy nhiên việc so sánh này không chính xác vì mỗi quốc gia có một tỷ giáhối đoái khác nhau
Trang 6 Tính theo sức mua tương đương (PPP - Purchasing power parity), việc tính các chỉtiêu GDP, GNI, theo PPP cho phép đưa GDp, GNI, về cùng một mặt bằng, vìvậy, cho phép đánh giá và so sánh các chỉ tiêu tăng trưởng chính xác hơn.
1.3 Một số chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế.
Để phản ánh tăng trưởng kinh tế cần sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu, đó là cácchỉ tiêu phản ánh quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm hay bình quân hàngnăm của một giai đoạn nhất định Các chỉ tiêu này có thể tính cho cả nền kinh tế hay theobình quân đầu người, cụ thể là:
Quy mô tăng trưởng kinh tế (Mức tăng trưởng tuyệt đối):
GDPn=GDPn-GDP0Trong đó:
GDPn: Quy mô tăng trưởng GDP của nền kinh tế năm hiện tại so với năm gốc
GDPn: Tổng sản phẩm trong nước theo năm gốc của năm hiện tại
GDP0: Tổng sản phẩm trong nước theo năm gốc
Mức tăng trưởng tuyệt đối của nền kinh tế thể hiện sự thay đổi tuyệt đối trong giátrị GDP (sản phẩm quốc nội) của đất nước trong một khoảng thời gian nhất định Nóđược tính bằng cách lấy giá trị GDP của năm hiện tại trừ đi giá trị GDP của năm gốc sosánh
Mức tăng trưởng kinh tế hàng năm:
GDPt=GDPt-GDPt-1Trong đó:
GDPt: Quy mô tăng trưởng GDP của nền kinh tế năm thứ t so với năm t - 1
GDPt: Tổng sản phẩm trong nước theo năm gốc của năm nghiên cứu (t)
GDPt-1: Tổng sản phẩm trong nước theo năm gốc của năm t - 1
Mức tăng trưởng hàng năm của nền kinh tế thể hiện sự thay đổi trong giá trị GDP(sản phẩm quốc nội) của đất nước trong một khoảng thời gian nhất định Nó được tínhbằng cách lấy giá trị GDP của năm hiện tại trừ đi giá trị GDP của năm trước đó.Mức tăng trưởng tuyệt đối và mức tăng trưởng hàng năm của nền kinh tế có ýnghĩa quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của nền kinh tế Nếu mức tăngtrưởng tuyệt đối và mức tăng trưởng hàng năm của nền kinh tế là dương và cao, điều nàycho thấy rằng nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ và có nhiều cơ hội cho sự tiến bộ và
Trang 7tài chính… 100% (27)
37
Phân tích tình hình tài chính CTCP May…Phân tích
tài chính… 100% (12)
68
CAU HOI VA DAP AN CUOC THI TIM HIEU…Phân tích
tài chính… 100% (4)
156
PHÂN TÍCH TÀI Chính Doanh NGHIỆPPhân tích
tài chính… 89% (9)
106
Tổng hợp dạng Phân tích
25
Trang 8tăng trưởng tương lai Ngược lại, nếu mức tăng trưởng tuyệt đối và mức tăng trưởng hàngnăm của nền kinh tế là âm hoặc thấp, điều này cho thấy rằng nền kinh tế đang trì trệ hoặcgiảm sút và cần được cải thiện để đạt được sự phát triển bền vững.
Mức tăng trưởng tuyệt đối và mức tăng trưởng hàng năm của nền kinh tế cũngđược sử dụng để so sánh với các nền kinh tế khác trong khu vực hoặc trên thế giới Tuynhiên, để đánh giá chính xác tình trạng phát triển của một nền kinh tế, cần phải xem xétthêm nhiều chỉ tiêu khác như mức độ phân bố thu nhập, mức độ bảo vệ môi trường, chấtlượng cuộc sống của người dân,
Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế:
g=GDPn-GDP0GDP0100(%)g=GDPnGDP0100(%)
Tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người:
gyn=Yn-Y0Y0100(%)gyn=YnY0100(%)Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng thể hiện tỷ lệ phần trăm mà GDP (tức sản phẩm quốcnội) của một quốc gia tăng trong một khoảng thời gian nhất định Chỉ tiêu tốc độ tăngtrưởng thu nhập bình quân đầu người phản ánh đúng đắn tình hình tăng trưởng kinh tế,bởi nó phản ánh sự biến đổi năng suất lao động, có tính đến quy mô và tốc độ tăng dânsố
Tốc độ tăng trưởng hàng năm phản ánh tốc độ tăng sản lượng thực tế của năm sau
so với năm trước
Công thức:
gt=GDPt-GDPt-1GDPt-1100%
gt=Yt-Yt-1Yt-1100%
Trong đó:
gt: Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm
GDPt /Yt: Sản lượng thực của quốc gia/ GDP (GNI) bình quân đầu người theo nămgốc ở thời kỳ t
GDPt-1 /Yt-1: Sản lượng thực của quốc gia/GDP (GNI) bình quân đầu người theonăm gốc ở thời kỳ (t-1)
Phân tíchtài chính… 100% (3)Bài tập phân tích tài chính doanh nghiệpPhân tích
tài chính… 100% (3)
24
Trang 9Nhóm chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất đểđánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia Mức tăng trưởng kinh tế cao cho thấynền kinh tế đang phát triển và có nhiều cơ hội tăng trưởng tiềm năng trong tương lai Tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao cũng có thể đóng góp vào việc giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp, nângcao mức sống của người dân và tăng thu nhập trung bình của đất nước
Tuy nhiên, chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế không đảm bảo cho một nền kinh tếđang phát triển bền vững và có lợi cho mọi người dân Chỉ tiêu này không phản ánh được
sự phân bố thu nhập, chất lượng cuộc sống của người dân, tình trạng bảo vệ môi trường
và các vấn đề khác liên quan đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế
Do đó, để đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia, cần phải sử dụng kết hợpcác chỉ tiêu khác nhau để đánh giá một cách toàn diện và đưa ra các quyết định và chínhsách phù hợp
2 Lý thuyết về các yếu tố sản xuất
Các yếu tố sản xuất là những yếu tố cơ bản và quan trọng nhất trong quá trình sảnxuất hàng hóa và dịch vụ của một nền kinh tế Các yếu tố sản xuất chính ảnh hưởng đếnsản lượng tiềm năng bao gồm: Vốn (K); lao động (L); tài nguyên thiên nhiên R và côngnghệ (T), mỗi yếu tố đóng vai trò vào quá trình sản xuất theo cách riêng biệt Việc sửdụng tối ưu hóa và kết hợp các yếu tố này rất quan trọng để tăng năng suất sản xuất vàđạt được hiệu quả kinh tế cao từ đó thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế Chính vì vậy,nghiên cứu lý thuyết về các yếu tố sản xuất đóng vai trò then chốt trong kinh tế học vàquản lý nền kinh tế của mỗi quốc gia Trước tiên, bài nghiên cứu sẽ tìm hiểu về từng yếu
tố để từ đó hiểu rõ hơn vấn đề đồng thời đưa ra những kiến nghị hợp lý
2.1 Khái niệm, vai trò với tăng trưởng kinh tế của từng yếu tố sản xuất 2.1.1 Tài nguyên thiên nhiên
Trang 10Tài nguyên thiên nhiên của một quốc gia bao gồm tất cả các loại tài nguyên có trênmặt đất, trong lòng đất, trong biển và dưới đáy biển; trong không gian vũ trụ thuộc chủquyền quốc gia đó.
Phân loại tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, đa dạng Tùy theo mục đích nghiên cứu, có thểphân loại theo những cách khác nhau:
Căn cứ thuộc tính tự nhiên: Nguồn đất đai, năng lượng, khoáng sản, nguồn nước,các nguồn tài nguyên rừng, biển và khí hậu…
Căn cứ khả năng tái sinh có: Tài nguyên hữu hạn và tài nguyên vô hạn Tài nguyênhữu hạn bao gồm hai loại: Tài nguyên có thể tái sinh được và loại tài nguyênkhông thể tái sinh được
Tài nguyên tái tạo là những tài nguyên có khả năng tự phục hồi sau khi sử dụnghoặc bị tàn phá một phần Các ví dụ về tài nguyên tái tạo bao gồm năng lượng tái tạo nhưnăng lượng mặt trời, gió, nước, sinh vật biển, đất đai và rừng Tuy nhiên, tài nguyên táitạo cũng có giới hạn về mức độ sử dụng và khả năng phục hồi của chúng Nếu được sửdụng một cách quá mức hoặc không bền vững, tài nguyên tái tạo cũng có thể bị suy giảm
và làm ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người Do đó, việc sử dụng tài nguyênthiên nhiên tái tạo một cách bền vững là rất quan trọng để đảm bảo tính bền vững của nềnkinh tế và bảo vệ môi trường
Tài nguyên thiên nhiên không tái tạo là những tài nguyên mà không có khả năng
tự phục hồi sau khi bị sử dụng hoặc bị tàn phá Các ví dụ về tài nguyên không tái tạo baogồm các khoáng sản như dầu mỏ, than đá, quặng sắt, vàng, bạc, kim cương, và các loạiđất đá khác Việc khai thác và sử dụng tài nguyên không tái tạo đòi hỏi phải thận trọng vàcân nhắc kỹ lưỡng để tránh gây thiệt hại lớn đến môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏecon người Khi các tài nguyên không tái tạo được sử dụng hết, chúng sẽ trở thành nguồntài nguyên cạn kiệt và không thể phục hồi được Do đó, việc sử dụng các tài nguyênkhông tái tạo một cách bền vững và hiệu quả là cực kỳ quan trọng để đảm bảo tính bềnvững của nền kinh tế và bảo vệ môi trường
Vai trò của tài nguyên thiên nhiên đối với tăng trưởng kinh tế
Hiện nay, cùng với sự phát triển và tăng trưởng của kinh tế Tài nguyên thiênnhiên được biết đến là điều kiện cần nhưng chưa đủ của tăng trưởng kinh tế Thực tế, nếucông nghệ là cố định thì lưu lượng của tài nguyên thiên nhiên có thể thấy là mức hạn chếtuyệt đối Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên cũng đóng một vai trò quan trọng trong tăngtrưởng kinh tế của một quốc gia Tài nguyên thiên nhiên không chỉ đóng vai trò là nguồncung cấp nguyên liệu và năng lượng cho các hoạt động sản xuất, mà còn là một phầnkhông thể thiếu trong quá trình sản xuất và tiêu thụ
Trang 11Vai trò của tài nguyên thiên nhiên với tăng trưởng kinh tế chỉ thực sự quan trọngkhi mà con người biết khai thác cũng như sử dụng chúng một cách hiệu quả Từ đó,chúng ta có thể nói, tài nguyên thiên nhiên là yếu tố giúp thúc đẩy quan trọng giúp tăngtrưởng kinh tế Các nước đang phát triển trên thế giới thường quan tâm tới việc xuất khẩucác sản phẩm thô Và các sản phẩm này được khai thác trực tiếp từ nguồn tài nguyênthiên nhiên, vẫn chưa qua chế biến và ở dạng sơ chế.
Bên cạnh đó, đây còn là cơ sở tích lũy vốn giúp phát triển ổn định với hầu hết tất
cả các nước Việc tích lũy vốn đòi hỏi quá trình lâu dài và phức tạp, nó còn có sự liênquan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Việc có sự ưu
ái từ thiên nhiên, nhiều quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú Từ
đó, có thể rút ngắn quá trình tích lũy vốn Bằng cách khai thác sản phẩm thô để bán hoặc
có thể đa dạng hóa nền kinh tế, các quốc gia sẽ tạo ra nguồn tích lũy vốn ban đầu cho sựcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nếu sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả và bền vững có thể đónggóp rất nhiều vào sự phát triển kinh tế của một quốc gia Ví dụ, tài nguyên rừng và đất đai
có thể được sử dụng để sản xuất lâm sản và nông sản, tạo ra thu nhập cho người dân vàđóng góp vào sản xuất nông nghiệp và ngành công nghiệp liên quan Tài nguyên nănglượng như dầu mỏ và than đá đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc sản xuất nănglượng cho các hoạt động cuộc sống nói chung và hoạt động kinh tế nói riêng Chính vìvậy, việc sử dụng phải được kiểm soát và quản lý một cách chặt chẽ, tối ưu để tránh lãngphí, gây thiệt hại đến môi trường và sức khỏe con người, gây ra những chi phí khôngmong muốn và có thể dẫn đến sự suy giảm và kiệt quệ các nguồn tài nguyên này Do đó,việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững và hiệu quả là rất quan trọng đểđảm bảo tính bền vững của nền kinh tế và bảo vệ môi trường
2.1.2 Nguồn lao động
Khái niệm
Nguồn lao động là một bộ phận của dân số trong độ tuổi quy định có khả năng laođộng và những người ngoài độ tuổi nhưng thực tế có tham gia lao động, những ngườikhông có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm Theo Bộ luật Lao động của nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014) độ tuổi lao động được quy định đối với nữ là
từ 15 đến 55 tuổi, đối với nam là từ 15 đến 60 tuổi Trong thực tế, nguồn lao động cònbao gồm cả những người ngoài độ tuổi quy định nhưng thực tế ghi tham gia lao động Vìvậy, trong thống kê ở Việt Nam hiện nay có khái niệm: Lao động trong độ tuổi và laođộng ngoài độ tuổi
Lao động trong độ tuổi: Là những người trong độ tuổi lao động theo quy định củaLuật lao động hiện hành có nghĩa vụ và quyền lợi đem sức lao động của mình ralàm việc
Trang 12 Lao động ngoài độ tuổi: Là những người chưa đến hoặc đã quá tuổi lao động theoquy định của Luật lao động hiện hành nhưng trên thực tế vẫn tham gia lao động( Sử dụng lao động dưới độ tuổi cần tuân thủ quy định của pháp luật).
Khái niệm trên đây mới phải ánh về mặt số lượng, chưa nổi lên mặt chất lượng laođộng Chất lượng của nguồn lao động được đánh giá thông qua các yếu tố làm cho laođộng có hiệu quả hơn Ở từng người lao động cụ thể, chất lượng lao động được thể hiệntrên các khía cạnh: Sức khỏe; trình độ học vấn; kiến thức, trình độ kỹ thuật và kinhnghiệm tích lũy được, ý thức, thái độ, tác phong của người lao động Ở tổng thể nguồnlao động, chất lượng lao động không chỉ xem xét dưới góc độ cá nhân từng người laođộng, mà còn thể hiện ở cơ cấu của nguồn lao động xét theo ngành nghề và cơ cấu laođộng trong từng ngành cụ thể, cũng như cơ cấu xét theo tính chất lành nghề của chấtlượng chuyên môn và trình độ tổ chức của lao động
Các nhân tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng lao động
Các nhân tố ảnh hưởng đến số lượng lao động bao gồm:
Dân số: Dân số là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến số lượng lao động Sốlượng lao động phụ thuộc vào tổng dân số của một quốc gia hoặc khu vực
Tỷ lệ sinh và tử: Tỷ lệ sinh và tử ảnh hưởng trực tiếp đến sự gia tăng hoặc giảm sốlượng lao động trong một quốc gia hoặc khu vực Khi tỷ lệ sinh cao hơn tỷ lệ tử,
số lượng lao động tăng, và ngược lại
Độ tuổi lao động: Độ tuổi lao động ảnh hưởng đến số lượng lao động có sẵn Cácquốc gia có tỷ lệ người trẻ cao thường có số lượng lao động lớn
Sức khỏe và giáo dục: Sức khỏe và giáo dục ảnh hưởng đến khả năng lao độnglàm việc Lao động có sức khỏe tốt và trình độ giáo dục cao thường có thể làmviệc hiệu quả hơn
Mức độ phát triển kinh tế: Mức độ phát triển kinh tế ảnh hưởng đến số lượng laođộng được tạo ra Khi kinh tế phát triển, nhu cầu về lao động tăng lên
Công nghệ và tổ chức sản xuất: Công nghệ và tổ chức sản xuất ảnh hưởng đến sốlượng lao động cần thiết để sản xuất ra sản phẩm và dịch vụ Khi công nghệ tiêntiến hơn và tổ chức sản xuất tối ưu hơn, số lượng lao động cần thiết sẽ giảm.Chất lượng lao động là một yếu tố quan trọng đóng vai trò quyết định đến sự pháttriển của một quốc gia, do đó nó được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhấttrong quá trình phát triển kinh tế Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động có thểđược liệt kê như sau:
Trình độ, kiến thức và kỹ năng của lao động: Trình độ, kiến thức và kỹ năng củalao động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất làm việc, đóng góp cho quá trình sảnxuất và chất lượng sản phẩm Để tăng cường chất lượng lao động, đào tạo và giáodục là rất quan trọng để cải thiện trình độ, kiến thức và kỹ năng của lao động
Sức khỏe và tình trạng thể chất của lao động: Sức khỏe và tình trạng thể chất củalao động ảnh hưởng đến khả năng làm việc và đóng góp của lao động vào quá
Trang 13trình sản xuất Để đảm bảo chất lượng lao động, việc bảo vệ sức khỏe và tình trạngthể chất của lao động là rất quan trọng.
Điều kiện làm việc và an toàn lao động: Điều kiện làm việc và an toàn lao động làyếu tố quan trọng đảm bảo cho sự an toàn và sức khỏe của lao động trong quátrình làm việc Việc đảm bảo môi trường làm việc an toàn và thuận lợi sẽ giúp tăngcường hiệu suất làm việc của lao động
Môi trường lao động và tình hình thị trường lao động: Môi trường lao động và tìnhhình thị trường lao động cũng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chấtlượng lao động Một thị trường lao động khó khăn có thể dẫn đến tình trạng thấtnghiệp và áp lực để giữ chân lao động, trong khi môi trường lao động thuận lợi cóthể hút được nguồn nhân lực tốt và giữ chân các nhân viên giỏi
Vai trò của nguồn lao động với tăng trưởng kinh tế
Lao động có vai trò đặc biệt hơn các yếu tố khác bởi lao động có vai trò 2 mặt:
Lao động là nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu được trong các hoạt độngkinh tế:
Lao động là yếu tố đầu vào, nó ảnh hưởng tới chi phí tương tự như việc sử dụngcác yếu tố sản xuất khác, là một trong những yếu tố sản xuất quan trọng nhất và khôngthể thiếu trong hoạt động kinh tế của bất kỳ quốc gia nào Khả năng và năng lực của laođộng ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và chất lượng sản phẩm, do đó, nó có một vai tròrất quan trọng trong tăng trưởng kinh tế
Số lượng lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sản xuất của một quốc giahoặc một khu vực Tuy nhiên, số lượng lao động không phải là yếu tố quyết định duynhất của sản xuất và tăng trưởng kinh tế Thay vào đó, các yếu tố khác như trình độ, kỹnăng, sức khỏe và giới tính của lao động đều ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng laođộng
So với các nguồn lực khác, trí tuệ, chất xám trong mỗi người lao động có thể coi là
vô tận, không bao giờ bị cạn kiệt Hơn thế nữa, nếu được bồi dưỡng, khai thác hợp lý thìlượng trí tuệ, chất xám ấy còn có cơ hội nhân lên nhiều lần Và như thế, đối với nhữngnước như Việt Nam, nguồn lao động - nhất là nguồn lao động có chất lượng cao - còn cótác động mạnh mẽ đến sự thành công trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, tăngkhả năng cạnh tranh cho nền kinh tế, từ đó góp phần rút ngắn khoảng cách tụt hậu giữanhững nước đang phát triển với những quốc gia phát triển
Ngoài ra, sự phát triển của công nghệ cũng có tác động lớn đến số lượng lao độngđược sử dụng trong các ngành sản xuất và dịch vụ Công nghệ mới có thể giúp tăng năngsuất lao động, tối ưu hóa quá trình sản xuất và giảm thiểu thời gian và chi phí sản xuất.Bên cạnh đó, năng lực, kỹ năng, sức khỏe và giới tính của lao động cũng đóng vai tròquan trọng trong sản xuất và tăng trưởng kinh tế
Trang 14 Lao động là một bộ phận của dân số và được xem là một trong những yếu tố sảnxuất quan trọng trong quá trình sản xuất và phát triển kinh tế của một quốc gia.Lao động là những người lao động, những người tham gia vào quá trình sản xuất,đưa ra năng lực, kỹ năng, kinh nghiệm, sức khỏe và thời gian để tạo ra các sản phẩm vàdịch vụ Lao động cũng là một bộ phận quan trọng của dân số, bao gồm cả những ngườiđang làm việc và những người đang tìm kiếm việc làm Lao động là người được hưởngthụ lợi ích của quá trình phát triển Vì vậy, việc tạo ra cơ hội việc làm cho người lao động
và nâng cao chất lượng lao động cũng là một trong những mục tiêu quan trọng của chínhsách kinh tế của một quốc gia Ngoài ra, sự phát triển của kinh tế cũng có thể tác độngđến tình hình dân số, ví dụ như khi tăng trưởng kinh tế cải thiện điều kiện sống, chăm sócsức khỏe và giáo dục, điều này có thể dẫn đến sự gia tăng dân số Do đó, chính sách kinh
tế cần cân nhắc đến việc đáp ứng nhu cầu lao động của quốc gia trong khi đảm bảo sựphát triển bền vững và cân bằng với tình hình dân số
Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu có thể chia ra khoa học tự nhiên và khoa học xãhội
Căn cứ vào vai trò và phương thức tổ chức nghiên cứu có thể chia ra khoa học cơbản và khoa học ứng dụng
Khi nói đến công nghệ người ta thường nêu lên 4 thành phần của công nghệ như sau:+ Phần phương tiện (hay phần kỹ thuật) bao gồm: Máy móc thiết bị, công cụ, nhà xưởng,
cơ sở hạ tầng vật chất
+ Phần con người thể hiện ở trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, thói quen.+ Phần thông tin bao gồm: Các bí quyết, qui trình, phương pháp được mô tả trong cáctài liệu và bản thiết kế
+ Phần tổ chức bao gồm: Cách thức phối hợp, quản lý và điều hành các phần phươngtiện, phần con người và phần thông tin nhằm đưa thực tiễn khoa học công nghệ vào thựctiễn hoạt động kinh tế
Trong bốn thành phần trên, phần phương tiện còn được gọi là “phần cứng”, cácthành phần còn lại được gọi là “phần mềm" Các thành phần đó tác động qua lại và tương
Trang 15thích lẫn nhau trong quá trình sản xuất Hiệu quả của công nghệ có phát huy được haykhông là phụ thuộc trực tiếp vào sự kết hợp giữa các thành phần này của công nghệ Nếuthiết bị máy móc hiện đại mà không có đội ngũ lao động lành nghề, có trình độ, khả năngsắp xếp, tổ chức tốt, hoặc không nắm bắt được đầy đủ thông tin, bí quyết liên quan đếncông nghệ thì khó có thể phát huy được hiệu quả của công nghệ.
Khoa học và công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Khoa học tạo cơ sở lý thuyếtcho việc sáng tạo và triển khai các hoạt động công nghệ Công nghệ tạo ra những phươngtiện quan trọng hỗ trợ cho nghiên cứu, phát hiện những kiến thức khoa học mới
Vai trò của khoa học công nghệ với tăng trưởng kinh tế
Khoa học và công nghệ có vai trò to lớn đối với tăng trưởng kinh tế đất nước Xét
về dài hạn và gắn với quan điểm phát triển bền vững, khoa học và công nghệ chính lànhân tố quyết định nhất đến tăng trưởng kinh tế Vai trò của khoa học và công nghệ đượcthể hiện thông qua các nội dung sau:
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua mở rộng việc sử dụng các nguồn lực củanền kinh tế, như: Tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, vốn và chính khoa học
và công nghệ, đồng thời nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực đó.Nhờ khoa học và công nghệ mà các quốc gia mới có khả năng phát hiện, khai thác
và đưa vào sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn có mà trước đây chưa đượcphát hiện hoặc chưa được sử dụng (biến đất đai trước đây xem như không có giá trị thànhđất đai sinh lợi, đưa các nguồn khoáng sản trước đây được coi không có "giá trị vào sửdụng) tạo ra hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại phục vụ cho tăng trưởng kinh tế.Khoa học và công nghệ góp phần làm biến đổi chất lượng nguồn lao động (cả về trình độ
và thể chất), thông qua đó phát huy được hiệu quả của con người trong quá trình pháttriển nền kinh tế; ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ còn tạo khả năng huy động,phân bổ, di chuyển nguồn vốn đầu tư một cách nhanh chóng, hiệu quả, chính xác và antoàn, thông qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn, góp phần thúc đẩy sản xuất pháttriển Sự phát triển của khoa học và công nghệ còn tạo điều kiện để sản sinh ra khoa học
và công nghệ với trình độ cao hơn, tiên tiến hơn, hiện đại hơn
Xem xét bốn nguồn lực kinh tế, có thể thấy rằng, trong thời kỳ đầu phát triển,những nguồn lực vật chất đóng vai trò quan trọng và chủ yếu (ví dụ như tài nguyên, laođộng chân tay, ) Nhưng trình độ phát triển càng cao, tính vật chất càng có xu hướng lu
mờ dần, vai trò của những nguồn lực phi vật chất ngày càng được nhấn mạnh (ví dụ nhưcông nghệ, chất xám, tri thức, ) và hiện đang trở thành nguồn lực quyết định đến tăngtrưởng, trình độ phát triển cũng như khả năng cạnh tranh của một quốc gia Những nguồnlực phi vật chất này tiếp tục tác động tới các nguồn lực kinh tế để hướng tới tính hiệu quảngày một cao hơn, từ đó tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và trong các ngành kinh tế theohướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Trang 16Khoa học và công nghệ là nguồn lực đặc biệt quan trọng thúc đẩy quá trình côngnghiệp hóa - hiện đại hóa trong các ngành kinh tế Nhờ có khoa học và công nghệ mà cácngành kinh tế có điều kiện phát triển đa dạng, có hiệu quả Mặt khác, khoa học và côngnghệ phát triển sẽ giúp các ngành, các doanh nghiệp tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm cóchất lượng cao hơn, giá hạ hơn và phù hợp hơn với nhu cầu tiêu dùng của xã hội, từ đókích thích các ngành phát triển Nhờ khoa học và công nghệ mà các ngành công nghiệpphát triển có tốc độ cao, có năng suất, hiệu quả do tận dụng được lợi thế so sánh và đảmbảo sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường, nhờ đó mà tỉ trọng của các ngành côngnghiệp chiếm ngày càng lớn trong tổng sản phẩm trong nước Đồng thời với quá trìnhphát triển công nghiệp kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ như là kết quả tất yếucủa phát triển công nghiệp đòi hỏi và sự tác động của gia tăng thu nhập làm tăng thêmnhu cầu của dịch vụ trong phát triển Quá trình phát triển công nghiệp đồng thời tác độngvào nông nghiệp kéo theo sự phát triển của nông nghiệp Kết quả là các ngành kinh tếquốc dân đều phát triển, trong đó, công nghiệp và sau đó là dịch vụ có tốc độ tăng trưởngcao hơn làm cho tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ chiếm tổ trọng càng lớn Hơn nữa, tiến
bộ khoa học và công nghệ còn làm thay đổi cơ cấu kinh tế trong nội bộ từng ngành theohướng tỷ trọng của các ngành có hàm lượng công nghệ cao sẽ ngày một tăng Kết quả là,nền kinh tế sẽ chuyển dần từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu.Tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và từng ngành kinh tế nói riêng.Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh, khoa học và công nghệ là nguồn lực hếtsức quan trọng giúp cho doanh nghiệp tăng năng suất và hiệu quả sử dụng các nguồn lực
và nâng cao chất lượng của các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đảm bảo nâng cao sức cạnhtranh của hàng hóa, nhờ đó giúp cho các doanh nghiệp giữ vững và mở rộng thị trường vàbằng cách đó đảm bảo duy trì sự phát triển lâu dài và tăng cường khả năng sinh lợi củacác doanh nghiệp
Khoa học và công nghệ còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống con người
Có rất nhiều thành tựu trong khoa học liên quan tới con người, góp phần làm cuộc sốngcủa con người ngày một hiệu quả, tiện nghi, chất lượng cuộc sống ngày một tốt hơn.Chẳng hạn, những tiến bộ trong y học đã góp phần giúp con người có sức khỏe tốt hơn;công nghệ thông tin giúp cho con người có thể tiếp cận với kho tàng tri thức khổng lồ củanhân loại, có thể cập nhật thông tin nhanh chóng
Như vậy, khoa học và công nghệ đóng góp to lớn vào việc nâng cao vị thế và sứccạnh tranh của nền kinh tế đất nước, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và
ổn định
Trong quá trình sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào đáp ứng nhucầu của sản xuất và đời sống, bên cạnh những đóng góp to lớn cũng bộc lộ những hạn chếnếu như không quan tâm giải quyết Ảnh hưởng to lớn nhất phải kể đến sự suy thoái môitrường lao động và môi trường sống nói chung Quá trình công nghiệp hóa dẫn tới giảiphóng sức lao động cho con người, nhưng môi trường làm việc lại chịu sự đe dọa của ônhiễm môi trường về không khí, bụi, tiếng ồn, độ ẩm và những ô nhiễm gắn với công
Trang 17nghệ hiện đại như: Bức xạ, siêu âm, dị ứng vật liệu đặc biệt, Do đó, làm ảnh hưởng trựctiếp tới sức khỏe con người.
Quá trình thâm canh trong nông nghiệp với việc sử dụng phân bón vô cơ, thuốc trừsâu, các hóa chất kích thích, đã gây ô nhiễm đất, phá hoại cân bằng sinh thái, ảnhhưởng sức khỏe người lao động làm việc tiếp xúc với các hóa chất độc hại và sự an toàn
vệ sinh thực phẩm Khoa học và công nghệ đều có vai trò to lớn trong tăng trưởng kinh tếcủa đất nước, song mỗi loại có vị trí và phương thức tác động khác nhau: Công nghệ trựctiếp đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế; còn khoa học tạo ra kiến thức để phát triển.Khoa học tạo ra tiến bộ về công nghệ và ngày càng tham gia trực tiếp vào tăng trưởng vàphát triển kinh tế, xã hội
2.1.4 Vốn đầu tư
Khái niệm
Vốn là một yếu tố sản xuất đầu vào nhưng lại là kết quả đầu ra của nền kinh tế Vốn vậtchất bao gồm: Máy móc thiết bị, nhà xưởng… hàng tồn kho của các doanh nghiệp và
hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của quốc gia
Để có vốn vật chất, đặc biệt là máy móc thiết bị, nhà xưởng, hệ thống kết cấu hạ tầngkinh tế (đường sá, cầu cống, các công trình thủy lợi, điện lực, thông tin liên lạc, sân bay,bến cảng, nhà ga ) cần phải tiến hành đầu tư
Vốn đầu tư là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong mộtthời kỳ nhất định Vốn đầu tư thường thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chươngtrình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố định và tài sản lưuđộng
Nguồn vốn dùng để tiến hành đầu tư tạo vốn sản xuất, xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh
tế quốc dân, suy cho cùng là tiết kiệm của các hộ gia đình, doanh nghiệp và Chính phủ
- Trong nền kinh tế quốc dân, để chuyển tiết kiệm (S) thành đầu tư (I) nhằm tạo vốn sảnxuất (K) cần phải thông qua hệ thống tài chính gián tiếp (thông qua các trung gian tàichính) và hệ thống tài chính trực tiếp (thị trường chứng khoán)
Các nguồn vốn đầu tư
Các nguồn vốn có thể huy động để đầu tư phát triển trong phạm vi một quốc gia khôngchỉ là các nguồn tiết kiệm của dân cư, Chính phủ và các doanh nghiệp mà cả từ bên ngoàidưới các hình thức đầu tư trực tiếp và gián tiếp khác nhau Nguồn vốn đầu tư có nhữngđặc điểm sau:
Tiết kiệm của ngân sách nhà nước
Trang 18Tiết kiệm của ngân sách nhà nước là phần vốn dành để chi cho đầu tư phát triển lấy từ thungân sách nhà nước không kể đến các nguồn mà Chính phủ nhận được từ vay nước ngoàicũng như vậy trong nước.
Đây là nguồn tài chính tập trung có quy mô lớn và có đặc điểm không hoàn trả trực tiếp.Quy mô tiết kiệm của ngân sách nhà nước phụ thuộc vào quy mô của nền kinh tế, tỷ lệđộng viên vào ngân sách nhà nước của Chính phủ và quy mô của các khoản chi tiêukhông phải là chỉ cho đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước
Do đặc điểm của nguồn vốn này, nó chủ yếu được dùng để đầu tư vào việc xây dựng cáccông trình công cộng (đường giao thông, cầu, sân bay, bến cảng, công trình phục vụ anninh, quốc phòng, giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ và các công trình văn hóa,
xã hội khác) hoặc một số ngành kinh tế quan trọng (điện lực, bưu chính viễn thông ) cần
có sự tham gia của Nhà nước
Tiết kiệm của các doanh nghiệp
Tiết kiệm của doanh nghiệp là phần lãi sau thuế được các doanh nghiệp để lại cho đầu tưphát triển (đầu tư thuần, nếu tính đến cả khấu hao thì bao gồm cả đầu tư thay thế) Đâychính là nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp do hiệu quả kinh doanh mang lại.Tiết kiệm của doanh nghiệp không chỉ làm gia tăng nguồn vốn của doanh nghiệp, mà làmgia tăng đáng kể nguồn vốn đầu tư của xã hội nếu như các doanh nghiệp hoạt động cóhiệu quả và Nhà nước có chính sách phù hợp để khuyến khích các doanh nghiệp tích lũy
để tái đầu tư
Quy mô và tốc độ tăng nguồn vốn này phụ thuộc vào quy mô và hiệu quả kinh doanh củacác doanh nghiệp: chính sách của Nhà nước, trực tiếp là chính sách thuế và chính sáchkhuyến khích đầu tư đối với các doanh nghiệp Chính sách phân phối lãi sau thuế của cácdoanh nghiệp cũng có ảnh hưởng đến quy mô của nguồn vốn này
Tiết kiệm của dân cư
Tiết kiệm của dân cư là phần thu nhập để dành, chưa tiêu dùng của các hộ gia đình Xéttrong từng gia đình, phần tiết kiệm này có thể không lớn, nhưng trên quy mô toàn quốc,đặc biệt khi thu nhập bình quân đầu người tương đối cao, quy mô dân số lớn, thì đây lànguồn vốn có vị trí hàng đầu đối với đầu tư phát triển
Quy mô nguồn vốn này phụ thuộc vào thu nhập bình quân đầu người; khuynh hướng tiêudùng của dân cư và trình độ động viên của Nhà nước, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhânđối với thu nhập dân cư Sự ổn định của nền kinh tế, sự đảm bảo về mặt pháp lý trongquá trình huy động các nguồn vốn đầu tư và sự vận hành tốt của thị trường vốn cũng lànhững nhân tố rất cơ bản đảm bảo gia tăng tỷ lệ tiết kiệm và chuyển được các khoản tiếtkiệm này cho hoạt động đầu tư
Viện trợ phát triển chính thức (ODA)
Trang 19Đây là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức của Chính phủ một số nước, hoặc củacác tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển, nhằm thúc đẩy, hỗ trợ quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội của nước này.
Trong toàn bộ nguồn vốn ODA cung cấp, chỉ có một bộ phận là viện trợ không hoàn lại(ở Việt Nam từ năm 2000 trở lại đây, khoản này chiếm khoảng 16%-20%) còn đại bộphận là cho vay ưu đãi Vốn vay dưới dạng ODA có hai đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất, đây là khoản cho vay ưu đãi trên các mặt Ưu đãi về lãi suất; thời hạn cho vaydài (nhiều khoản vay do WB cung cấp cho Việt Nam lãi suất 0,7% năm với thời hạn chovay là 32 năm) và có một thời gian ân hạn (trong thời hạn này chưa phải trả nợ gốc).Thứ hai, ODA là khoản cho vay mang tính ràng buộc (về mục đích sử dụng, nguồn sửdụng và các ràng buộc kinh tế khác phải có nguồn vốn đối ứng, phải mua máy móc thiếtbị của nước cấp ODA ) Để nhận được khoản này, vì thế phải tính đến hướng ưu đãicủa các nước cấp ODA, chuẩn bị những khoản để sử dụng ODA một cách có hiệu quả,nếu không, ODA dù là khoản vay ưu đãi nhưng vẫn làm gia tăng gánh nặng nợ nướcngoài và sự phụ thuộc của nền kinh tế với bên ngoài
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Đây là nguồn vốn chủ yếu do các công ty
tư nhân nước ngoài đầu tư trực tiếp vào một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) đểkinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận Khác với vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài,các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài họ vừa là chủ đầu tư, vừa trực tiếp chịu tráchnhiệm quản lý doanh nghiệp do họ đầu tư theo nguyên tắc “lời ăn, lỗ chịu" (trườnghợp có nhiều bên tham gia thì các bên cùng nhau tham gia quản lý, cùng nhau chia
sẻ rủi ro, lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn và theo quy định của pháp luật nước chủ nhà
và sự thỏa thuận của các bên tham gia)
Đối với nước chủ nhà, nhờ thu hút FDI mà có thể bù đắp sự thiếu hụt của vốn trong nước
để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm Đồng thời qua
đó tiếp nhận chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm và phương thức quản lý tiên tiến, tìmkiếm thị trường tiêu thụ ở ngoài nước Tuy nhiên, nếu nước chủ nhà không có quy hoạch,quy hoạch không hợp lý và quản lý yếu kém sẽ có thể dẫn đến đầu tư tràn lan, kém hiệuquả, tài nguyên bị khai thác quá mức và nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong khinhững tác động tích cực của FDI đối với phát triển kinh tế xã hội của đất nước lại bị hạnchế
Ở Việt Nam hiện nay, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện thông quacác hình thức: Hợp đồng hợp tác liên doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp100% vốn nước ngoài và các phương thức đầu tư dưới dạng BOT (xây dựng - kinh doanh
- chuyển giao), BT (xây dựng - chuyển giao), khu chế xuất
Với các nước đang phát triển, vốn luôn đóng vai trò hết sức quan trọng để thúc đẩy nềnkinh tế phát triển Trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều hạn chế, nhiều mục tiêu cần đầu
Trang 20tư, vẫn dễ quan trọng không chỉ là huy động mà còn phải chú ý phân bổ và sử dụngnguồn vốn sao cho hiệu quả nhất.
Vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế
Vốn có vai trò to lớn đối với quá trình tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia Sự gia tăngnhanh các nguồn vấn, phân bổ và sử dụng chúng một cách có hiệu quả có tác động rất lớnđến tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, gia tăng xuất khẩu và tăng tíchlũy của nền kinh tế
Mô hình Harrod-Domar (g=s/k) cho thấy, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế bị quyếtđịnh bởi cả tỷ lệ tiết kiệm (s) và tỷ lệ gia tăng vốn - sản lượng (k) của nền kinh tế Đểtăng trưởng, nền kinh tế phải tiết kiệm và đầu tư một tỷ lệ nhất định so với GDP Khảnăng tiết kiệm và đầu tư càng cao sẽ tăng trưởng càng nhanh Nhưng tốc độ tăng trưởngthực tế còn phụ thuộc vào cả hiệu suất của đầu tư, tức là mức sản lượng tăng thêm cóđược từ một đơn vị đầu tư tăng thêm (được tính bằng 1/k, tức là bằng nghịch đảo của tỷ
lệ gia tăng vốn- sản lượng) Trong thực tế, hệ số k không phải là không đổi mà có xuhướng tăng lên, nghĩa là xu hướng đầu tư ngày càng tốn vốn hơn Vì vậy, để giữ được tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao, cần phải bảo đảm sao cho k tăng chậm trong khi vẫn tiếp tụctăng được tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư hoặc có thể bổ sung thiếu hụt đó thông qua thu hút cácnguồn vốn bên ngoài
Như vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào cả hai nhân tố liên quan đến vốn Một
là, tỷ lệ tiết kiệm so với GDP Tỷ lệ này càng tăng, trong những điều kiện khác không đổithì tốc độ tăng trưởng càng cao Hai là, hệ số ICOR càng thấp, trong những điều kiệnkhác không đổi thì tốc độ tăng trưởng càng cao Nếu một quốc gia vừa duy trì được tỷ lệtiết kiệm cao và có hệ số ICOR thấp thì tốc độ tăng trưởng sẽ rất cao Nếu hệ số ICORkhông đổi (hay gia tăng chậm) thì tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia phụ thuộcchủ yếu vào khả năng tiết kiệm trong nước và ngoài nước cho tăng trưởng
Vốn là một nhân tố không thể thiếu được trong các hoạt động kinh tế Trong quá trìnhđầu tư, sự gia tăng của vốn làm gia tăng tổng cầu (gia tăng chi tiêu) và do đó tác độnglàm tăng sản lượng và công ăn việc làm Bên cạnh đó, kết quả của quá trình đầu tư làmgia tăng vốn sản xuất (tức là thêm nhiều nhà máy, phương tiện sản xuất, phương tiện vậntải mới) làm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế
Vốn không chỉ thúc đẩy tăng trưởng mà còn đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo ngành và vùng Đóng góp của vốn đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế chủ yếu thôngqua phân bổ vốn theo ngành và vùng Ngành nào, vùng nào có nhiều vốn thì có cơ hộităng trưởng hơn so với các ngành, vùng khác Tuy nhiên, nhiều vốn hơn mới chỉ là điềukiện cần, sử dụng vốn có hiệu quả hay không mới có ý nghĩa quyết định đối với quá trìnhtăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách bền vững
Trang 21Vốn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học và công nghệ, góp phần hiện đại hóa quátrình sản xuất, nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinhtế.
2.2 Hàm sản xuất
Hàm sản xuất phản ánh mối quan hệ hàm số giữa kết quả đầu ra của nền kinh tế (Y) với các yếu tố sản xuất đầu vào được biểu thị khái quát như sau:
Y=F(K, L, R, T) Trong đó:
K: Nguồn lực Vốn
L: Nguồn lực Lao động
R: Nguồn lực Tài nguyên thiên nhiên
T: Nguồn lực Tiến bộ khoa học công nghệ.
Nguồn Lực Vấn (K) bao gồm: Máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải, hàng tồn kho là những yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất trực tiếp Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (đường sá, cầu cống, kho bãi, sân bay, bến cảng, thông tin liên lạc, các công trình điện, nước, vận chuyển dầu, khí đốt ) nhằm hỗ trợ và kết hợp các hoạt động kinh tế với nhau Đầu tư tăng thêm vốn làm gia tăng năng lực sản xuất, tức là gia tăng sản lượng tiềm năng, là cơ sở để tăng thêm sản lượng thực tế có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế Đối với các nước đang phát triển, vốn đang là nhân tố khan hiếmnhất hiện nay, trong khi nó lại là khởi nguồn để có thể huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác cho tăng trưởng Vì vậy, vốn có vai trò hết sức to lớn đối với tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển Tuy vậy, tác động của yếu tố này đến một mức độ nhất định sẽ có xu hướng giảm dần và sẽ thay bằng các yếu tố khác
Nguồn lực lao động (L): Là một yếu tố đầu vào của sản xuất, có vai trò rất quan trọng đốivới tăng trưởng kinh tế Lao động không chỉ thể hiện ở số lượng lao động mà cả ở chất lượng của lao động, thể hiện đặc biệt ở kiến thức và kỹ năng mà người lao động có được thông qua giáo duc, đào tạo và tích lũy kinh nghiệm Trong các lý thuyết kinh tế hiện đại, người ta đánh giá rất cao vai trò của kiến thức và kỹ năng của lao động, coi đây là một loại vốn vốn h nhân lực làm tăng năng lực sản xuất của quốc gia Ở các nước đang phát triển thường có hiện tượng thừa lao động có chất lượng thấp, nhưng lại thiếu lao động có chuyên môn kỹ thuật và nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa đất nước cũng như yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và cả hai mặt đó đều có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế
Nguồn lực Tài nguyên thiên nhiên (R): Là yếu tố đầu vào của sản xuất do thiên nhiên bantặng, như: Đất đai, sông biển, rừng núi, các tài nguyên động thực vật, khí hậu thời tiết, tài
Trang 22nguyên khoáng sản Các nước đang phát triển có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, phong phú là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và tạo vốntrên cơ sở khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhất là ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển Tài nguyên thiên nhiên tuy quan trọng, song không quyết định năng suất sản xuất hàng hóa, dịch vụ Do đó, không phải là nhân tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.
Nguồn lực tiến bộ khoa học và công nghệ (T), cung cấp trí thức và phương pháp sản xuất.Việc đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế vì nó đem đến cách tốt nhất để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ Đây là nhân tố quyết định đối với tăng trưởng kinh tế của mọi quốc gia trong bối cảnh phát triển khoa học, công nghệ và toàn cầu hóa hiện nay, song đây cũng là yếu tố sản xuất khan hiếm củacác nước đang phát triển
Các mô hình tăng trưởng kinh tế tân cổ điển và mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại cố gắng lượng hóa sự đóng góp của các yếu tố sản xuất vào quá trình tăng trưởng kinh tế Trong các mô hình này, năng suất các yếu tổ tổng hợp (TFP - total factor productivity) được xem như là tác động của tiến bộ khoa học và công nghệ, đến tăng trưởng kinh tế Trong mô hình Solow, TFP được xác định bằng phần dư của tăng trưởng kinh tế sau khi
đã loại trừ đóng góp của các yếu tố vốn và lao động, tài nguyên
Trong điều kiện ngày nay TFP, còn đo lường cả các yếu tố không định lượng được như: Quản lý, khoa học công nghệ, trình độ năng lực người lao động
TFP thay đổi do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
- Thay đổi chất lượng lao động Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượnglao động chính là việc đầu tư nguồn lực con người bằng chính sách giáo dục - đào tạo:
- Thay đổi cơ cấu vốn;
- Thay đổi công nghệ
- Phân bố lại nguồn lực,
2.3 Lý thuyết về mô hình sử dụng để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến TTKT
Hàm sản xuất Cobb-Douglas
Trang 23Đã có rất nhiều các lý thuyết xây dựng để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố sảnxuất đến tăng trưởng kinh tế nhưng trong nội dung này, nhóm tác giả xin phép được trìnhbày và vận dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas để làm rõ nghiên cứu của mình
Hàm sản xuất Cobb-Douglas được đưa ra bởi Charles W Cobb và Paul H Douglas,
là một hàm sản xuất đồng nhất tuyến tính, trong đó hàm ý rằng, các yếu tố sản xuất có thểđược thay thế bởi một yếu tố khác đến một mức độ nhất định
Với sự gia tăng tỉ lệ trong các yếu tố đầu vào, đầu ra cũng tăng theo tỉ lệ tương tự
Vì vậy, lợi tức sẽ không đổi theo qui mô Trong hàm sản xuất Cobb-Douglas, chỉ có haiyếu tố đầu vào là lao động (L) và vốn (K) được xem xét, và độ co giãn của các yếu tốthay thế bằng 1 Người ta cũng giả định rằng, nếu có bất kì yếu tố đầu vào nào bằng 0 thìđầu ra cũng bằng 0
Tương tự, trong hàm sản xuất đồng nhất tuyến tính, đường mở rộng được tạo bởihàm Cobb-Douglas cũng là một đường thẳng đi qua gốc tọa độ
Biểu diễn hàm sản xuất Cobb-Douglas:
Hàm Cobb-Douglas có thể được biểu thị như sau:
Y=ALKTrong đó,
α và β cho thấy hệ số co giãn của đầu ra tương ứng cho L và K, chúng cố định và docông nghệ quyết định Đây là một hàm thuần nhất có bậc thuần nhất bằng α + β, vì khinhân L và K với hệ số k không đổi nào đó, sản lượng sẽ tăng với tỷ lệ k(α + β)
Trang 24Nếu: α + β = 1, thì hàm sản xuất có lợi tức không đổi theo qui mô, nghĩa là dù laođộng và vốn có tăng thêm 20% mỗi thứ, thì sản lượng cũng chỉ tăng thêm đúng 20%.Nếu: α + β < 1, thì hàm sản xuất có lợi tức giảm dần theo quy mô.
Còn nếu: α + β > 1 thì hàm sản xuất có lợi tức tăng dần theo quy mô
Trong trường hợp thị trường (hay nền kinh tế) ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo, α và
β có thể xem là tỷ lệ đóng góp của lao động và vốn vào sản lượng
3 Một số kinh nghiệm về sử dụng các yếu tố sản xuất tác động đến TTKT
3.1 Hoa Kỳ
Kinh tế Hoa Kỳ (Mỹ) là một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa hỗn hợp với kỹ nghệ, mức độcông nghiệp hóa và trình độ phát triển cao Đây không chỉ là một nền kinh tế phát triển
mà còn là nền kinh tế lớn nhất trên thế giới tính theo giá trị GDP danh nghĩa (Nominal)
và lớn thứ hai thế giới tính theo ngang giá sức mua (PPP) Mỹ có GDP bình quân đầungười đứng thứ 7 thế giới tính theo giá trị danh nghĩa và thứ 11 thế giới tính theo PPPnăm 2016 Đồng đô la Mỹ (USD) là đồng tiền được sử dụng nhiều nhất trong các giaodịch quốc tế và là đồng tiền dự trữ phổ biến nhất thế giới, được bảo đảm bằng nền khoahọc công nghệ tiên tiến, quân sự vượt trội, niềm tin vào khả năng trả nợ của chính phủ
Mỹ, vai trò trung tâm của Hoa Kỳ trong hệ thống các tổ chức toàn cầu kể từ sau Chiếntranh thế giới thứ 2 (WWII) và hệ thống đô la dầu mỏ (Petrodollar System) Một vài quốcgia sử dụng đồng đô la Mỹ là đồng tiền hợp pháp chính thức, và nhiều quốc gia khác coi
nó như đồng tiền thứ hai phổ biến nhất (de facto currency) Những đối tác thương mại lớnnhất của Hoa Kỳ bao gồm: Trung Quốc, Canada, Mexico, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc,Anh Quốc, Pháp, Ấn Độ và Đài Loan
Nền kinh tế Hoa Kỳ phát triển nhờ nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có, hệ thống cơ sở
hạ tầng phát triển đồng bộ và năng suất lao động cao Giá trị nguồn tài nguyên thiênnhiên đứng cao thứ hai thế giới, ước đạt 45 nghìn tỷ đô la năm 2016 Người Mỹ có mứcthu nhập hộ gia đình và mức tiền công trung bình cao nhất trong khối các quốc gia thuộc
Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), và đứng thứ 4 về mức thu nhập bình quânnăm 2010, giảm 2 bậc so với mức cao nhất năm 2007 Hoa Kỳ cũng có nền kinh tế quốcdân lớn nhất thế giới (không bao gồm vùng thuộc địa) kể từ những năm 1890 Hoa Kỳ lànhà sản xuất dầu mỏ và khí gas lớn thứ 3 thế giới Trong năm 2016, Mỹ là quốc gia cókim ngạch thương mại lớn nhất, cũng như là nhà sản xuất hàng hoá lớn thứ 2 toàn cầu,đóng góp vào một phần năm tổng sản lượng thế giới Nước Mỹ không chỉ có nền kinh tếlớn nhất, mà còn có sản lượng công nghiệp lớn nhất theo báo cáo Diễn đàn thương mại vàphát triển (UNCTAD) Nước Mỹ không chỉ có thị trường nội địa lớn nhất cho các loạihàng hoá, mà còn chiếm vị trí tuyệt đối trong thị trường dịch vụ Tổng giao dịch thươngmại đạt 4,92 nghìn tỷ đô la năm 2016 Trong tổng số 500 công ty lớn nhất thế giới, có
134 công ty đặt trụ sở tại Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một trong những thị trường tài chính lớn nhất và ảnh hưởng nhất trên toàn cầu.Thị trường chứng khoán New York (NYSE) hiện là thị trường chứng khoán có mức vốnhoá lớn nhất Các khoản đầu tư nước ngoài tại Mỹ đạt 2,4 nghìn tỷ đô la, trong khi những
Trang 25khoản đầu tư của Mỹ ra nước ngoài vượt 3,3 nghìn tỷ đô la Nền kinh tế Mỹ luôn dẫn đầutrong các khoản đầu tư trực tiếp và tài trợ cho nghiên cứu và phát triển Chi tiêu tiêu dùngchiếm 71% GDP năm 2013 Hoa Kỳ có thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới, với chi tiêutrung bình hộ gia đình lớn gấp 5 lần tại Nhật Bản Thị trường lao động Mỹ đã thu hútngười nhập cư từ khắp nơi trên thế giới và tỷ lệ nhập cư ròng tại đây luôn nằm trong mứccao nhất thế giới Hoa Kỳ nằm trong bảng xếp hạng một trong các quốc gia có nền kinh
tế cạnh tranh và hoạt động hiệu quả nhất theo các báo cáo của Ease of Doing Business,Báo cáo cạnh tranh toàn cầu và các báo cáo khác
Có tổng cộng xấp xỉ 160,4 triệu lao động đang được thuê trên khắp Hoa Kỳ trong năm
2017 Chính phủ Mỹ là đơn vị sử dụng nhiều lao động nhất với 22 triệu người, số liệuđược ước tính vào năm 2010 Các công ty (doanh nghiệp) quy mô nhỏ là nhà tuyển dụnglớn nhất khi sử dụng tới 37% trong tổng số lao động ở Mỹ Trong khi đó vị trí thứ 2 thuộc
về những công ty, tập đoàn có quy mô với số lượng lao động sử dụng chiếm 38% Khuvực kinh tế tư nhân sử dụng tổng cộng 85% tổng lực lượng lao động của Mỹ Chính phủchỉ sử dụng 8% tổng lao động Hơn 99% tổng các công ty doanh nghiệp tại Mỹ là cácdoanh nghiệp nhỏ 30 triệu doanh nghiệp nhỏ tại Mỹ đã tạo ra 64% tổng việc làm mới.Việc làm tại các công ty quy mô nhỏ chiếm 70% tổng số việc làm được tạo ra trong thập
kỷ vừa qua Tỷ lệ số lượng lao động Mỹ được thuê bởi các công ty, doanh nghiệp nhỏ sovới bộ phận công ty tập đoàn lớn hầu như không thay đổi qua các năm khi mà một bộphận các công ty nhỏ trở thành công ty lớn và chỉ có hơn một nửa số công ty nhỏ tồn tạihơn 5 năm Trong số các doanh nghiệp lớn, một vài công ty có nguồn gốc Mỹ Điển hìnhnhư Walmart là công ty tư nhân có quy mô lớn nhất và là đơn vị sử dụng lao động của tưnhân lớn nhất thế giới, hiện đang sử dụng 2,1 triệu lao động toàn cầu và 1,4 triệu laođộng tại Mỹ Hiện có gần 30 triệu công ty kinh doanh quy mô nhỏ tại Mỹ Các tộc ngườithiểu số như Người Mỹ gốc Tây Ban Nha, Mỹ gốc Phi, Mỹ gốc Á và người bản địa Mỹ(chiếm 35% tổng dân số Mỹ), sở hữu 4,1 triệu công ty/cơ sở kinh doanh tại Mỹ Các công
ty sở hữu bởi người thiểu số tạo ra gần 700 tỷ đô la danh thu và thuê gần 5 triệu nhâncông tại Mỹ Hoa Kỳ là quốc gia có mức thu nhập của lao động làm thuê cao nhất trong
số các quốc gia OECD Mức thu nhập trung bình hộ gia đình tại Mỹ năm 2008 là 52.029
đô la Khoảng 284.000 lao động Mỹ có 2 công việc toàn thời gian và 7,6 triệu người cócông việc bán thời gian bên cạnh công việc chính toàn thời gian 12% tổng số lao độngtham gia công đoàn; hầu hết các thành viên công đoàn là người làm thuê cho chính phủ
Sự sụt giảm của số lượng thành viên các công đoàn tại Mỹ trong những thập niên quadiễn ra song song với việc giảm thị phần lao động Ngân hàng thế giới xếp Hoa Kỳ đứngđầu về mức độ dễ tuyển dụng và sa thải nhân công Hoa Kỳ là nền kinh tế phát triển duynhất không quy định số ngày nghỉ phép cho người lao động, và nằm trong số ít quốc giakhông chi trả lương khi nghỉ phép, cùng với đó là Papua New Guinea, Suriname vàLiberia Năm 2014, Liên hiệp công đoàn thương mại quốc tế chấm điểm Mỹ thứ 4 trên5+, mức thấp thứ 3 về việc bảo đảm quyền lợi cho công đoàn lao động
Tại Hoa Kỳ, khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ do có hệ sinh thái phong phú vềcon người, thể chế, chính sách Hoa Kỳ có những chính sách phù hợp để đẩy nhanh conđường từ phòng thí nghiệm nghiên cứu đến các dự án phát triển và đến thị trường; tăngcường kết nối giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học, các trường đại học với ngành công
Trang 26nghiệp Hoa Kỳ xác định, đầu tư vào công nghệ là đầu tư cho tương lai Năm 2018, Hoa
Kỳ đầu tư 476,5 tỷ USD vào nghiên cứu và phát triển (R&D), tương đương khoảng 2,7%GDP và chiếm khoảng 25% R&D toàn cầu Mức chi cho nghiên cứu và phát triển củaHoa Kỳ cao hơn mức chi của toàn bộ châu Á, cao hơn khu vực EU, mức đầu tư chonghiên cứu và phát triển theo đầu người đạt mức cao hơn mức trung bình của OECD.Khu vực doanh nghiệp của Hoa Kỳ tài trợ hai phần ba tổng chi nghiên cứu và phát triển,thực hiện 73% nghiên cứu và phát triển quốc gia Chi tiêu cho nghiên cứu và phát triểncủa khu vực doanh nghiệp (BERD) đạt khoảng 2% GDP BERD ở Hoa Kỳ chủ yếu docác hãng lớn và chế tạo công nghệ cao thực hiện, các hãng công nghiệp công nghệ caochiếm tới 67% nghiên cứu và phát triển công nghiệp; trong khi đó các doanh nghiệp vừa
và nhỏ chỉ thực hiện 15% Điều này cho thấy, Hoa Kỳ tiếp tục duy trì sức mạnh về côngnghệ với mức thặng dư lớn trong tài sản trí tuệ Công nghiệp dịch vụ tăng trưởng nhanh
về hàm lượng công nghệ cao Khoảng 18 tỷ USD (4,9%) trong tổng chi tiêu nghiên cứu
và phát triển quốc gia năm 2006 của Hoa Kỳ chủ yếu được cung cấp bởi các quỹ của cáctrường đại học (9,9 tỷ USD) và các tổ chức phi lợi nhuận ngoài trường đại học (8,1 tỷUSD) Một phần lớn quỹ nghiên cứu của các trường đại học là từ các trợ cấp trực tiếp từchính quyền bang hay từ các quỹ chung Các tổ chức phi lợi nhuận ngoài trường đại học
đã đầu tư khoảng 8,1 tỷ USD vào nghiên cứu và phát triển, dành gần như toàn bộ chonghiên cứu cơ bản và ứng dụng Nguồn tài chính từ khu vực hàn lâm và phi lợi nhuậntăng hằng năm khoảng 6%, cao hơn nhiều so với khu vực doanh nghiệp và chính phủ.3.2 Nhật Bản
Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân sốthì quá đông, nên phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu Tuy nhiên, nhờ công cuộcMinh Trị duy tân, sự công nghiệp hóa cũng như việc chiếm được một số thuộc địa, vàotrước Thế Chiến thứ Hai, quy mô kinh tế Nhật Bản đã đạt mức tương đương với cáccường quốc châu Âu Năm 1940, tổng sản lượng kinh tế (GDP) của Nhật Bản (quy đổitheo thời giá USD năm 1990) đã đạt 192 tỷ USD, so với Anh là 316 tỷ USD, Pháp là 164
tỷ USD, Italy là 147 tỷ USD, Đức là 387 tỷ USD, Liên Xô là 417 tỷ USD Về tổng quan,sau Thế Chiến 2, kinh tế Nhật Bản bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với cácchính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945–1954) và pháttriển cao độ (1955–1973) làm cho thế giới phải kinh ngạc Người ta gọi đó là "Thần kìNhật Bản" Tuy nhiên, từ năm 1974 tới 1989, kinh tế tăng trưởng chậm lại, và đến năm
1990 thì lâm vào khủng hoảng trong suốt 10 năm Người Nhật gọi đây là Thập niên mấtmát Đến năm 2000, kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, nhưng vẫn ở trong tình trạng trì trệsuốt từ đó tới nay Từ giai đoạn 1960 đến 1980, tốc độ phát triển kinh tế Nhật Bản đượcgọi là "sự thần kì": tốc độ phát triển kinh tế trung bình 10% giai đoạn 1960, trung bình5% giai đoạn 1970 và 4% giai đoạn 1980 Giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng từ 4,1
tỷ USD năm 1950 lên 56,4 tỷ USD năm 1969 So với năm 1950, năm 1973 giá trị tổngsản phẩm GDP của Nhật tăng hơn 20 lần, từ 20 tỷ USD lên 402 tỷ USD, vượt Anh, Pháp,CHLB Đức, chỉ kém hơn Hoa Kỳ và Liên Xô
Nhật Bản thuộc nhóm các quốc gia dẫn đầu thế giới trong các lĩnh vực về nghiên cứukhoa học, công nghệ máy móc, nghiên cứu y học Năm 2006, gần 700.000 nhà nghiêncứu chia sẻ 130 tỷ USD của ngân sách nghiên cứu và phát triển, đứng hàng thứ 3 trên thế
Trang 27giới Nhật Bản nổi tiếng với công nghiệp điện tử trên toàn thế giới và các sản phẩm điện
tử của Nhật Bản chiếm một phần lớn trong thị trường thế giới, so với hầu hết các nướckhác Nhật Bản là một trong những quốc gia hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu khoahọc, công nghệ, máy móc thiết bị, và nghiên cứu y tế với ngân sách lớn thứ ba thế giới vềnghiên cứu và phát triển, đạt mức 130 tỷ USD, với hơn 677.731 nhà nghiên cứu Kể từnăm 1973, Nhật Bản tìm cách để trở nên ít phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu và bắt đầuphụ thuộc vào năng lượng hạt nhân Trong năm 2008, sau khi mở 7 lò phản ứng hạt nhânmới ở Nhật Bản, quốc gia này đã trở thành quốc gia sử dụng điện hạt nhân lớn thứ ba trênthế giới với 55 lò phản ứng hạt nhân Các lò này cung cấp 34.5% nhu cầu điện năng củatoàn Nhật Bản
Nhật Bản luôn là quốc gia có quy mô đầu tư FDI ra bên ngoài rất lớn trên thế giới, đặcbiệt là những năm gần đây Số liệu của UNCTAD cho thấy kể từ năm 2011 đến nay, NhậtBản đã đầu tư ra bên ngoài mỗi năm trên 100 tỉ USD, năm 2013 đạt mức cao nhất là gần
140 tỉ USD Quy mô đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản các năm 2013 và 2014 lần lượt
là 135,7 tỷ USD và 113,6 tỷ USD Theo Báo cáo đầu tư toàn cầu 2015 của UNCTAD,Nhật Bản hiện là nước đứng thứ 4 trong số 20 nền kinh tế có mức đầu tư nước ngoài lớnnhất trên thế giới Lượng vốn đầu tư ra nước ngoài trong hai năm 2013 và 2014 của NhậtBản chiếm lần lượt 10,4% và 8,4% tổng lượng vốn đầu tư ra nước ngoài của thế giới Xuhướng đẩy mạnh đầu tư ra bên ngoài hiện nay của các công ty Nhật Bản về cả quy môvốn đầu tư và tốc độ tăng vốn đầu tư là rất đáng chú ý Theo báo cáo đầu tư 2014 của Tổchức xúc tiến thương mại và đầu tư Nhật Bản (JETRO), Mỹ vẫn là đối tác đầu tư lớn nhấtcủa Nhật Bản với tổng lượng vốn FDI đầu tư vào Mỹ là 43,7 tỷ USD, tăng 36,7% Bêncạnh đó, các công ty Nhật Bản đang chuyển hướng đầu tư ra khỏi Trung Quốc và tăngcường đầu tư vào các nước ASEAN Nguyên nhân là do chi phí nhân công ngày càng cao
ở Trung Quốc và những căng thẳng ngày càng tăng giữa hai quốc gia về chủ quyền biểnđảo Lượng vốn FDI của Nhật Bản đầu tư vào Trung Quốc đã giảm 32,5% xuống còn 9,1
tỷ USD Ngược lại, ASEAN với thị trường 600 triệu dân đã thu hút được lượng FDI cao
kỷ lục từ Nhật Bản là 23,6 tỷ USD, tăng gấp 2,2 lần so với năm trước
Nhật Bản là quốc gia đang đứng trước tình trạng thiếu hụt lao động nghiêm trọng, đặcbiệt lao động chất lượng cao Theo kết quả khảo sát mức độ khó khăn trong đảm bảonhân lực chất lượng cao của hoạt động cung cầu lao động thế giới, Nhật Bản xếp thứ 2/34quốc gia (2019) Mặc dù nước này đã thoát khỏi vị trí thấp nhất vào năm 2018 nhưng tìnhtrạng nhân lực chất lượng cao không phù hợp vẫn tiếp diễn Năm 2017 tổng lực lượng laođộng Nhật Bản là 67 triệu người Dự kiến đến năm 2030, con số này sẽ giảm xuống còn
58 triệu người Là một trong những nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới, quá trìnhcông nghiệp hóa của Nhật Bản diễn ra mạnh mẽ trong khi nguồn cung nhân lực luôntrong tình trạng thiếu hụt trầm trọng do dân số Nhật Bản ngày càng già hóa Dân số trong
độ tuổi lao động của Nhật Bản liên tục giảm qua các năm Cụ thể, năm 2015, Nhật Bản
có 7,7 triệu người đang độ tuổi lao động trong tổng dân số 127 triệu người, ước tính đếnnăm 2060, con số này chỉ còn 4,4 triệu2 Đặc biệt, Nhật Bản đang thiếu hụt kỹ sư thôngtin ngày càng trầm trọng Năm 2016, Nhật Bản thiếu hơn 170 nghìn kỹ sư công nghệthông tin, những con số này dự kiến tăng lên khoảng 800 nghìn kỹ sư vào năm 20303.Đây là số kĩ sư (lao động chất lượng cao) có mức thu nhập khoảng 5 triệu JPY/năm
Trang 28(khoảng 1 tỷ VND) tạo cơ hội cho nguồn nhân lực IT chất lượng cao của Việt Nam đượctrọng dụng ở Nhật Bản Theo thống kê về lao động nước ngoài của Bộ Tư pháp Nhật Bảnnăm 2012, trong ống số 2,12 triệu lao động nước ngoài (chiếm 1,67% dân số Nhật Bản),chỉ có khoảng 200.000 lao động được đánh giá là "lao động có tay nghề cao" Ngay từ thế
kỷ XVII - XIX, Nhật Bản đã chấp nhận lao động nước ngoài có chuyên môn cao theohình thức thuê mướn tạm thời, chẳng hạn như các kỹ sư và giáo viên, những lao động cóchuyên môn cao để cung cấp những kiến thức và kỹ năng cho công nhân Nhật Bản.Những người này được định cư tạm thời ở Nhật Bản để cung cấp các kỹ năng còn thiếucho người Nhật và được coi là lao động chuyên môn, kỹ năng cao Năm 2018, có tổng số1.278.670 lao động nước ngoài đang làm việc tại Nhật Bản Đây là lần đầu tiên số laođộng nước ngoài vượt quá số lao động tạm thời của Nhật Bản Số lao động nước ngoài tạiNhật Bản tiếp tục tăng sau khi visa kỹ năng đặc định (Specified skills visa) được xác định
để trở thành nền kinh tế lớn thứ nhất thế giới vào năm 2013 Theo một báo cáo phân tích
186 quốc gia của McKinsey, Trung Quốc là điểm đến xuất khẩu lớn nhất của 33 quốc gia
và nguồn nhập khẩu lớn nhất của 65 quốc gia Từ năm 2015, Trung Quốc là nước đầu tưtrực tiếp ra nước ngoài lớn thứ hai thế giới và cũng là nước nhận đầu tư nước ngoài lớnthứ hai toàn cầu
Trung Quốc đã phát triển thành một nền kinh tế có mức độ đa dạng hóa cao và là mộttrong những nước đóng vai trò quan trọng nhất trong thương mại quốc tế Các lĩnh vựcchính của nền kinh tế Trung Quốc có sức mạnh cạnh tranh bao gồm sản xuất, bán lẻ, khaikhoáng, thép, dệt may, ô tô, năng lượng, năng lượng xanh, ngân hàng, điện tử, viễn
Trang 29thông, bất động sản, thương mại điện tử và du lịch Trung Quốc có ba trong số mười sàngiao dịch chứng khoán lớn nhất trên thế giới gồm Thượng Hải, Hồng Kông và ThâmQuyến— ba sàn này có tổng giá trị vốn hóa thị trường hơn 15,9 nghìn tỷ đô la, tính đếntháng 10 năm 2020 Trung Quốc có bốn trong số mười trung tâm tài chính cạnh tranhnhất thế giới (Thượng Hải, Hồng Kông, Bắc Kinh và Thâm Quyến), nhiều hơn bất kỳquốc gia nào khác trong Chỉ số Trung tâm Tài chính Toàn cầu năm 2020 Đến năm 2035,bốn thành phố của Trung Quốc (Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Châu và Thâm Quyến)
dự kiến sẽ nằm trong số mười thành phố lớn nhất toàn cầu tính theo GDP danh nghĩa theomột báo cáo của Oxford Economics
Trung Quốc có số lượng lớn các khoáng sản có giá trị như vàng, nhôm và chì Theo chínhphủ Trung Quốc năm 2013, lĩnh vực khai thác đóng góp khoảng 4, 3% tổng sản phẩmquốc nội của đất nước Bộ lao động Trung Quốc ước tính rằng trong năm 2014, ngànhkhai thác đã sử dụng khoảng 6 triệu người, chiếm khoảng 3, 2% lực lượng lao động củađất nước Chính phủ Trung Quốc ước tính trong năm 2014, nước này đã xuất khẩukhoảng 2, 34 nghìn tỷ đô la khoáng sản, chiếm khoảng 1, 7% tổng kim ngạch xuất khẩucủa cả nước Các công ty thuộc sở hữu của chính phủ Trung Quốc khai thác hầu hết cáckhoáng sản của đất nước Một trong những khoáng sản quan trọng nhất của Trung Quốc
là than đá được sử dụng chủ yếu để sản xuất điện Trung Quốc sản xuất và sử dụng nhiềuthan hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên trái đất Vào đầu năm 2015, chính phủ TrungQuốc ước tính rằng quốc gia này có 114 tấn than với than antraxit chiếm hơn một nửa trữlượng than của Trung Quốc Thách thức lớn đối với ngành than Trung Quốc là sự biếnđộng của giá than toàn cầu Sản lượng vàng của Trung Quốc cao hơn sản lượng vàng ởbất kỳ quốc gia nào khác vì ước tính từ chính phủ Trung Quốc chỉ ra rằng năm 2016,quốc gia này đã sản xuất khoảng 46 tấn vàng Các chuyên gia trong ngành ước tính rằngtrữ lượng vàng của Trung Quốc chiếm khoảng 7% toàn bộ trữ lượng vàng của thế giới.Hầu hết các hoạt động khai thác vàng ở Trung Quốc diễn ra ở khu vực phía đông của đấtnước tại các tỉnh như Liêu Ninh, Sơn Đông và Phúc Kiến Dự trữ vàng của Trung Quốc
đã thu hút đầu tư từ các quốc gia nước ngoài như Canada và Úc Ngoài việc khai thácvàng trong biên giới của đất nước, chính phủ Trung Quốc đã khuyến khích các công tyTrung Quốc khai thác vàng ở các nước khác Theo kết quả của chính sách vào năm 2015,các tập đoàn Trung Quốc đã sở hữu quyền khai thác đối với hơn 120 mỏ châu Phi TrungQuốc cũng có trữ lượng lớn dầu và khí tự nhiên, hầu hết trong số đó nằm ở khu vực đôngbắc của đất nước Hầu hết các sản phẩm dầu mỏ mà Trung Quốc sản xuất được tiêu thụtại địa phương với số lượng nhỏ được bán cho các quốc gia khác
Nguồn lao động giá rẻ không chỉ tạo nên phép lạ của kinh tế Trung Quốc mà ảnh hưởngđến giá cả hàng hóa trên khắp thế giới Tuy nhiên, số người trong độ tuổi từ 16 đến 59của Trung Quốc đã giảm dần kể từ năm 2012 Trong 3 năm 2019 - 2022, số người trongnhóm tuổi này đã giảm khoảng 38 triệu người xuống còn 857,6 triệu người, mức sụt giảmlớn hơn nhiều so với những giai đoạn trước Già hóa dân số không chỉ làm tăng quy mô
và tỷ trọng dân số cao tuổi mà còn xuất hiện những thay đổi tương ứng về dân số ở cácnhóm tuổi khác nhau, đặc biệt là quy mô và tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động Tỷ lệngười trong độ tuổi lao động ở Trung Quốc đã giảm từ 70,1% trong giai đoạn 2000 -
2010 xuống còn 63,3% vào năm 2020 Số lượng người trong độ tuổi lao động từ 15 - 59
Trang 30ở Trung Quốc đã giảm hơn 40 triệu người trong vòng 10 năm (2010 - 2020) Theo dự báocủa một số chuyên gia phân tích, Trung Quốc sẽ giảm 35 triệu lao động trong vòng 5 năm(2021 - 2025) và tỷ lệ người trong độ tuổi lao động sẽ chỉ chiếm một nửa dân số TrungQuốc vào năm 2050.
Mức tăng trưởng 5,38% phản ánh lo ngại về một cuộc khủng hoảng nhân khẩu học đangrình rập trong bối cảnh xã hội già hóa và tỷ lệ sinh chậm lại, với sự sụt giảm mạnh sốlượng công dân trong độ tuổi lao động ở nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Đây cũng là tốc
độ tăng trưởng chậm nhất kể từ những năm 1960
Trung Quốc đứng thứ 2 thế giới về sản xuất các sản phẩm công nghệ cao kể từ năm 2012,theo Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ Trung Quốc là thị trường bán lẻ lớn thứ hai trênthế giới, sau Hoa Kỳ Trung Quốc dẫn đầu thế giới về thương mại điện tử, chiếm 40% thịphần toàn cầu vào năm 2016 và hơn 50% thị phần toàn cầu vào năm 2019 Trong quá khứTrung Quốc đã đạt được một vài thành tựu về khoa học-kỹ thuật, đặc biệt từ năm 2015khi nước này bắt đầu thực hiện “Kế hoạch đột phá 10 năm Made in China 2025” nhằm tựchủ về Khoa học và công nghệ (KH&CN), nên đã đạt được nhiều thành tựu: Do ưu tiênphát triển 10 ngành công nghệ cao đã tạo ra được 7 “ông vua nội địa” về công nghệ thôngtin và viễn thông thế hệ mới và đã tiến ra chiếm lĩnh thị trường toàn cầu; Vì tăng cườngmua quyền sở hữu trí tuệ nên Trung Quốc đã bắt kịp và có ngành đã vượt sức mạnh côngnghệ của Mỹ Nước này hiện đứng thứ 14 về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), đạtmức đầu tư 2,4% GDP- khoảng 353,5 tỷ USD, tăng hơn 10% so với những năm trước đócho Nghiên cứu và phát triển (R&D) Ngân sách về R&D của Trung Quốc đã lớn hơn củacác nước châu Âu cộng lại và hiện bằng 85% ngân sách R&D của Mỹ Số bằng sáng chế
và các công trình nghiên cứu khoa học trong nước của Trung Quốc đã vượt Mỹ TrungQuốc ngày càng có ảnh hưởng lớn trong thiết lập tiêu chuẩn toàn cầu, nhất là ở các côngnghệ mới Hệ thống định vị vệ tinh Bắc Đẩu của họ được cho là ngang ngửa, có thể thaythế hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu GPS của Mỹ, thậm chí còn được đánh giá là có độchính xác hơn Thiết bị 5G Trung Quốc phổ dụng, chiếm hơn 40% thị phần toàn cầu, lensâu vào cả cơ sở hạ tầng viễn thông của các nước đồng minh của Mỹ Trung Quốc cònđang dần lấp đầy các “khoảng trống” kỹ thuật số, “vùng ảnh hưởng độc quyền” theo luậtchơi của họ trải rộng khắp thế giới Nước này có đội ngũ 1,87 triệu nhà nghiên cứu - lớnhơn Mỹ có 1,43 triệu người, số tiến sĩ kỹ thuật và kỹ sư cũng nhiều hơn Mỹ Trung Quốccòn tiên phong đưa vệ tinh liên lạc lượng tử vào không gian và dẫn đầu thế giới về hệthống vệ tinh 5G, chiếm ưu thế hơn Mỹ về công nghệ 5G và kỹ thuật số Họ bỏ xa Mỹ vềquy mô, tốc độ phủ sóng 5G cũng như ứng dụng 5G trong sản xuất công nghiệp, đã có hệsinh thái 5G mạnh, doanh nghiệp đã vận hành 5G đầy đủ, chẳng hạn như cảng Hạ Môn tựđộng hóa hoàn toàn từ năm 2020 với mạng 5G
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2010 – 2022
1 Thực trạng các yếu tố sản xuất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay
1.1 Tài nguyên thiên nhiên
Trang 31Việt Nam được coi là quốc gia có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng với hơn 5000điểm mỏ của 60 loại khoáng sản Trong đó, một số loại có trữ lượng quan trọng như bôxít (672,1 triệu tấn), apatit (0,778 triệu tấn), titan (15,71 triệu tấn), than (3.520 triệu tấn),đất hiếm (1,1 triệu tấn) và đá granit (15 tỷ m3) Trữ lượng dầu mỏ ước tính khoảng 6 tỷtấn và khí đốt khoảng 4.000 tỷ m3, phân bố chủ yếu ở vùng trầm tích từ Nam đến Bắc.Khoáng sản đóng góp rất lớn vào GDP của Việt Nam, đặc biệt là trong các năm gần đây.Trong năm 2020, tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm khoáng sản của Việt Nam đạtgần 30 tỷ USD, chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Một số sảnphẩm khoáng sản có đóng góp lớn vào GDP của Việt Nam bao gồm than đá, quặng sắt,quặng bauxite, kim loại màu, đá xây dựng, đá granit, phân bón, sắt thép, và dầu khí.Trong số này, dầu khí và quặng sắt là những nguồn tài nguyên chiếm tỷ trọng lớn nhấttrong tổng giá trị sản xuất và xuất khẩu của ngành khoáng sản ở Việt Nam Đặc biệt, dầukhí đóng góp tới 20-25% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Việt Nam, trong khi sảnlượng quặng sắt của Việt Nam cũng đang ở mức cao Ngoài ra, việc khai thác, chế biến
và sử dụng các sản phẩm khoáng sản cũng tạo ra nhiều công ăn việc làm và đóng góp vàothu ngân sách nhà nước
Rừng nước ta có diện tích khoảng 14,7 triệu ha, tương đương với khoảng 41% tổng diệntích đất nước Rừng Việt Nam được chia thành các loại rừng khác nhau, bao gồm rừngngập mặn ven biển, rừng thường xanh, rừng lá rụng, rừng đá vôi, rừng núi cao và rừngphòng hộ Tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc tăng từ 40,84% năm 2015 lên 41,89% năm 2019,ước năm 2020 đạt khoảng 42%, đạt chỉ tiêu đề ra tại Nghị quyết Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ XII của Đảng Đến cuối năm 2019, tổng diện tích rừng có chứng chỉ quản lýrừng bền vững toàn quốc đạt 269,1 nghìn ha trên địa bàn 24 tỉnh (trong đó, diện tích đượccấp chứng chỉ rừng theo Hệ thống chứng chỉ rừng của Việt Nam là 10 nghìn ha) Diệntích được cấp mới chứng chỉ quản lý rừng bền vững trong năm 2019 là gần 43 nghìn ha.Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt 2,0 triệu m3.Công tác bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng tiếp tục có nhiều tiến bộ, tình trạng
vi phạm pháp luật về lâm nghiệp đã giảm rõ rệt Theo số liệu của Tổng cục Thống kê,năm ngoái, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 273,6 nghìn ha; số câylâm nghiệp trồng phân tán đạt 81,1 triệu cây; sản lượng củi khai thác đạt 19,5 triệu ste;sản lượng gỗ khai thác đạt 16,1 triệu m3 Một số địa phương có sản lượng gỗ khai tháctăng cao: Quảng Ngãi tăng 28,7%; Nghệ An tăng 14,9%; Quảng Nam tăng 14,1%; QuảngTrị tăng 10,1%; Hòa Bình tăng 8,5% 6 tháng đầu năm 2020, diện tích rừng trồng mới tậptrung ước tính đạt 106,3 nghìn ha, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2019; số cây lâmnghiệp trồng phân tán đạt 44,5 triệu cây; sản lượng gỗ khai thác đạt 7.526 nghìn m3; sảnlượng củi khai thác đạt 9,85 triệu tấn
Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bềnvững Các tài nguyên này cung cấp nguyên liệu và sản phẩm cần thiết cho các ngànhcông nghiệp và nông nghiệp, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của conngười Tài nguyên thiên nhiên là một nguồn tài nguyên vô tận nếu được sử dụng và bảo
vệ đúng cách, góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững và đảm bảo sự phát triển chocác thế hệ tương lai Tuy nhiên, nếu tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, lãng phí