Khái niệm về chuẩn mực đạo đức?1 Chuẩn mực đạo đức là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi đối với hành vi xã hội của con người, trong đó xác lập những quan điểm, quan niệm chung về cô
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LUẬT
-*** -BÀI TẬP HỌC KỲ PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC MÔN: XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG
HỌ VÀ TÊN : TRẦN MINH ĐỨC
MÃ SINH VIÊN : 2326963010 LỚP : FTU.F7A-LTMQT
KHOÁ: GVHD : PHẠM THỊ LUYỆN
Trang 21 Định nghĩa – Khái niệm
a Khái niệm về pháp luật?
1) Pháp luật là hệ thống các quy tắc và nguyên tắc được thiết lập và thi hành bởi các
tổ chức và cơ quan quyền lực của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm điều chỉnh hành vi và hoạt động của các công dân, tổ chức, và các thực thể khác trong
xã hội Mục tiêu chính của pháp luật là đảm bảo sự công bằng, trật tự, an toàn, và
sự ổn định trong xã hội, cũng như bảo vệ quyền và nghĩa vụ của cá nhân và tổ chức
2) Pháp luật bao gồm các quy tắc được thể hiện trong các tài liệu pháp lý như hiến pháp, luật pháp, quy định, nghị định, và các quyết định của tòa án Nó định rõ các hành vi được coi là hợp pháp và hành vi bị cấm, cùng với các hình phạt và hệ thống xử lý vi phạm pháp luật
3) Pháp luật có vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự và công bằng trong xã hội, cũng như trong việc xây dựng và duy trì các hệ thống chính trị và kinh tế của một quốc gia Nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp và bảo
vệ quyền của cá nhân và tổ chức
b Các đặc trưng cơ bản của pháp luật
1) Đặc trưng thứ nhất của pháp luật là tính quy định xã hội của pháp luật Đặc trưng này nói lên rằng, pháp luật trước hết được xem xét như một hiện tượng xã hội, nảy sinh từ các tiền đề có tính chất xã hội, tức là những nhu cầu khách quan của thực tiễn đời sống xã hội, phản ánh các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của
xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định Trong xã hội luôn luôn tồn tại nhiều mối quan hệ xã hội với tính chất đa dạng và phức tạp; vì vậy, mục đích xã hội của pháp luật là hướng tới điều chỉnh các quan hệ xã hội
2) Đặc trưng thứ hai của pháp luật nằm ở tính chuẩn mực của pháp luật Tính chuẩn mực của pháp luật nói lên những giới hạn cần thiết mà nhà nước quy định để mọi chủ thể có thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ cho phép, thường biểu hiện dưới dạng “cái có thể”, “cái được phép”, “cái không được phép” và “cái bắt buộc thực hiện”… Vượt ra khỏi phạm vi, giới hạn đó là vi phạm pháp luật Chuẩn mực
Trang 3pháp luật được thể hiện ra thành những quy tắc, yêu cầu cụ thể dưới dạng các quy phạm pháp luật Chuẩn mực pháp luật khác với các loại chuẩn mực xã hội khác ở một điểm cơ bản là nó mang tính cưỡng bức của nhà nước Các chuẩn mực xã hội, khi được nhà nước thừa nhận, sử dụng và bảo đảm bằng khả năng cưỡng bức sẽ trở thành chuẩn mực pháp luật Và chuẩn mực pháp luật được thực hiện chừng nào
nó còn phù hợp với các quan hệ xã hội và các lợi ích của giai cấp thống trị nảy sinh từ các quan hệ xã hội này
3) Tính ý chí là đặc trưng thứ ba của pháp luật Pháp luật thể hiện các quan hệ xã hội
và ý chí giai cấp có gốc rễ từ trong các quan hệ xã hội được thể hiện ra trong hệ thống các chuẩn mực pháp luật Xét về bản chất, ý chí của pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền trong xã hội, được thể hiện rõ ở mục đích xây dựng pháp luật, nội dung pháp luật và dự kiến hiệu ứng của pháp luật khi triển khai vào thực tế đời sống xã hội Tính ý chí nói lên mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời nhau giữa pháp luật và nhà nước Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực đó chỉ có thể được triển khai và phát huy có hiệu lực trên cơ
sở các quy định của pháp luật Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành, luôn phản ánh các quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp nắm quyền lực nhà nước và bảo đảm cho quyền lực đó được triển khai nhanh chóng, rộng rãi trên quy mô toàn xã hội Chính vì vậy, nhà nước không thể tồn tại và phát huy quyền lực nếu thiếu pháp luật; ngược lại, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và có hiệu lực khi nó dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực nhà nước
c Khái niệm về chuẩn mực đạo đức?
1) Chuẩn mực đạo đức là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi đối với hành vi xã hội của con người, trong đó xác lập những quan điểm, quan niệm chung về công bằng và bất công, về cái thiện và cái ác, về lương tâm, danh dự, trách nhiệm và những phạm trù khác thuộc đời sống đạo đức tinh thần của xã hội
2) Chuẩn mực đạo đức được xây dựng để hướng dẫn con người về cách hành xử đúng đắn, công bằng, và đúng mực trong các tình huống khác nhau
3) Những yếu tố quan trọng trong chuẩn mực đạo đức bao gồm:
Trang 41 Điều đúng và sai: Chuẩn mực đạo đức giúp định rõ điều nào là đúng và điều nào là sai trong hành vi và quyết định của con người Nó định rõ giới hạn của hành vi và quyết định dựa trên nguyên tắc đạo đức
2 Công bằng: Chuẩn mực đạo đức thúc đẩy công bằng và đối xử bình đẳng đối với tất cả mọi người Điều này bao gồm việc tránh phân biệt đối xử dựa trên giới tính, tôn giáo, sắc tộc, và các yếu tố khác
3 Trách nhiệm: Chuẩn mực đạo đức đặt ra trách nhiệm cá nhân và tổ chức để hành động đúng đắn và chịu trách nhiệm về hậu quả của hành vi của họ Nó thúc đẩy tư duy về trách nhiệm cá nhân và xã hội
4 Tôn trọng: Chuẩn mực đạo đức khuyến khích tôn trọng người khác, ý kiến khác nhau, và đa dạng trong xã hội Nó giúp xây dựng mối quan hệ tốt lành và tương tác xã hội tích cực
5 Đạo lý: Chuẩn mực đạo đức thường dựa trên các nguyên tắc đạo lý, giúp định hình hành vi và quyết định dựa trên những giá trị cao quý như lòng nhân
ái, tốt lành, và lòng trắc ẩn
Chuẩn mực đạo đức thường được thể hiện thông qua luật pháp, đạo đức cá nhân, quy tắc xã hội, và các nguyên tắc của tổ chức và ngành nghề cụ thể Để duy trì một xã hội ổn định và hài hòa, con người cần tuân thủ và thúc đẩy chuẩn mực đạo đức trong cuộc sống hàng ngày
d Các đặc điểm của chuẩn mực đạo đức
- Chuẩn mực đạo đức là loại chuẩn mực xã hội bất thành văn, nghĩa là các quy tắc, yêu cầu của nó không được ghi chép thành văn bản dưới dạng một “bộ luật đạo đức” nào cả, mà nó tồn tại dưới hình thức là những giá trị đạo đức, những bài học về luân thường đạo lý, phép đối nhân xử thế giữa con người với nhau trong xã hội Chuẩn mực đạo đức thường được củng cố, giữ gìn và phát huy vai trò, hiệu lực của nó thông qua con đường giáo dục truyền miệng, thông qua
Trang 5quá trình xã hội hóa cá nhân; được củng cố, tiếp thu và lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác
Ví dụ như việc ta đi đường nhìn thấy một bà cụ muốn sang đường nhưng trên đường rất đông xe qua lại, bà đứng mãi mà không qua được đường Nhìn thấy như vậy chẳng lẽ ta lại ngoảnh mặt quay đi? Tất nhiên là sẽ không có bất kì điều luật nào quy định nhìn thấy cảnh tượng như vậy ta phải quay lại giúp bà
cụ sang đường và cũng không có tòa án nào xử lí vụ việc nếu không giúp bà cụ qua đường ta sẽ nhận một mức án tù hay bị phạt tiền Có chăng tòa án ở đây chỉ là tòa án lương tâm và hình phạt mà ta nhận lấy chính là sự cắn rứt lương tâm Vì vậy, chuẩn mực đạo đức là một loại chuẩn mực bất thành văn nhưng nó lại tác động to lớn đến việc con người sẽ hành xử như thế nào trong một vài trường hợp cụ thể như trong hoàn cảnh nêu trên
- Chuẩn mực đạo đức mang tính giai cấp, mặc dù tính giai cấp của nó không thể hiện mạnh mẽ, rõ nét như tính giai cấp của chuẩn mực pháp luật Tính giai cấp của chuẩn mực đạo đức thể hiện ở chỗ, nó được sinh ra cũng là nhằm để củng cố, bảo vệ hay phục vụ cho các nhu cầu, lợi ích vật chất, tinh thần của giai cấp này hay giai cấp khác trong một xã hội nhất định
- Chuẩn mực đạo đức được đảm bảo tôn trọng và thực hiện trong thực tế xã hội
là nhờ vào hai nhóm các yếu tố: các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan.Các yếu tố chủ quan là các yếu tố tồn tại, thường trực trong ý thức, quan điểm của mỗi cá nhân, chi phối và điều khiển hành vi đạo đức của họ, bao gồm:
a) Một là, những thói quen, nếp sống trong sinh hoạt hàng ngày của mỗi người; chúng được lặp đi lặp lại nhiều lần trong quá trình xã hội hóa cá nhân, trở thành cái thường trực trong mỗi người và điều khiển hành vi đạo đức của họ một cách tức thời, gần như mang tính tự động
Chẳng hạn như việc không ai và cũng không có pháp luật nào quy định việc con người trong cuộc sống, trong công việc luôn phải làm việc đúng giờ, làm việc thật cẩn thận, tỉ mỉ, kĩ càng nhưng sự thật là trong cuộc sống vẫn luôn có
Trang 6những con người quy củ với những quy tắc đã trở thành thói quen, nếp sống sinh hoạt của bản thân Bác Hồ là một tấm gương điển hình về làm việc quy củ
và đúng giờ Đây chính là tác động của chuẩn mực đạo đức lên hành vi của con người
b) Hai là, sự tự nguyện, tự giác của mỗi con người trong việc thực hiện hành vi đạo đức phù hợp với các quy tắc của chuẩn mực đạo đức Nếu như pháp luật được tuân thủ và thực hiện chủ yếu nhờ vào sức mạnh cưỡng bức của các chế tài thì chuẩn mực đạo đức chủ yếu dựa vào sự tự nguyện, tự giác của mỗi cá nhân
c) Ba là, sức mạnh nội tâm, chịu sự chi phối bởi lương tâm của mỗi người Lương tâm thường được ví như một thứ “tòa án” đặc biệt, chuyên phán xét các hành
vi sai trái, vi phạm chuẩn mực đạo đức Một hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức có thể không bị pháp luật trừng phạt, nhưng nó lại bị lương tâm “cắn rứt” Đây là một cơ chế đặc biệt của việc thực hiện chuẩn mực đạo đức
Ví dụ như việc ta đi đường nhìn thấy một người ăn xin, đói, rách rưới, mặc dù không có một quy phạm pháp luật nào quy định ta phải thương cảm, giúp đỡ
họ nhưng “tòa án lương tâm” của ta sẽ không cho phép ta dửng dưng với họ
Các yếu tố khách quan là những yếu tố tồn tại bên ngoài ý thức của mỗi người, nhưng lại luôn giữ vai trò chi phối, điều chỉnh hành vi đạo đức của họ; hoặc ít nhất cũng tác động đến việc tuân thủ chuẩn mực đạo đức, chúng bao gồm:
1 Một là, sự tác động, ảnh hưởng của các thuần phong mỹ tục trong xã hội, hành
vi hợp đạo đức của những người xung quanh tới ý thức và hành vi đạo đức của mỗi cá nhân Đây là biểu hiện của quá trình tâm lý bắt chước
2 Hai là, sức mạnh của dư luận xã hội trong việc định hướng và điều chỉnh hành
vi đạo đức của con người Chẳng hạn như thái độ phẫn nộ của các cộng đồng người khi chứng kiến hoặc nghe thông tin về một vụ giết người dã man, đòi hỏi các cơ quan pháp luật phải trừng phạt thật nghiêm khắc kẻ phạm tội để răn đe
Trang 7Discover more
from:
XHHH101
Document continues below
Xã hội học đại
cương
Trường Đại học…
13 documents
Go to course
Ôn tập Xã hội học đại cương
Xã hội học đại
37
XHH - Phân tích các
mô hình nghiên cứu…
Xã hội học đại
12
Tiểu-luận-XHH - Tiểu luận XHH
Xã hội học đại
14
MID 5 - up de lay luot tai a mng oi…
Xã hội học đại
5
BTN Xhhpl NHÓM 08
4721 1 2 bản đi in
56
Trang 8những kẻ khác Đây chính là tác động tích cực của dư luận xã hội đến việc điều chỉnh hành vi đạo đức của con người
Chuẩn mực đạo đức được sinh ra từ sự mâu thuẫn được quy định về mặt vật chất giữa các lợi ích chung và lợi ích riêng, từ thể hiện cái có và cái cần có, nó thể hiện năng lực của con người đối với sự hoàn thiện và phát triển năng lực, nhân cách của mình
2 Mối liên hệ giữa pháp luật và chuẩn mực đạo đức:
2.1 Những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật và đạo đức
Đạo đức và pháp luật có bốn điểm giống nhau cơ bản, đó là:
1) Thứ nhất, pháp luật và đạo đức đều gồm những quy tắc xử sự chung để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội hay gồm nhiều những quy phạm
xã hội cho nên chúng có các đặc điểm của các quy phạm xã hội là:
Chúng là khuôn khổ những khuôn mẫu, chuẩn mực để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội, để bất kỳ ai khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh do chúng dự liệu thì đều phải xử sự theo cách thức mà chúng đã nêu ra Căn cứ vào pháp luật, đạo đức, các chủ thể sẽ biết mình được làm gì, không được làm
gì và làm như thế nào khi ở vào một điều kiện, hoàn cảnh nhất định
Chúng là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người Căn cứ vào các quy định của pháp luật, các quy tắc đạo đức, có thể xác định được hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là hợp đạo đức, hành vi nào là trái pháp luật, hành vi nào là trái đạo đức
Chúng được đặt ra không phải cho một chủ thể cụ thể hay một tổ chức, cá nhân cụ thể đã xác định được mà là cho tất cả các chủ thể tham gia vào quan
hệ xã hội do chúng điều chỉnh
2) Thứ hai là tính phổ biến và xu hướng phù hợp với xã hội Đạo đức và pháp luật mang tính quy phạm phổ biến, chúng đều là khuôn mẫu chuẩn mực trong hành vi của con người Chúng tác động đến các cá nhân tổ chức trong xã hội,
Xã hội học đại
Bài tập thuyết trình môn xã hội học đại…
Xã hội học đại
7
Trang 9tác động đến hầu hết các lĩnh vực trong đời sống Để có phạm vi ảnh hưởng lớn như vậy, pháp luật và đạo đức phải có sự phù hợp với các tiêu chuẩn nhất định
3) Thứ ba, pháp luật và đạo đức đều phản ánh sự tồn tại của xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử Chúng là kết quả của quá trình nhận thức đời sống của chính mình Pháp luật và đạo đức đều chịu sự chi phối, đồng thời tác động lại đời sống kinh tế xã hội
4) Thứ tư, chúng được thực hiện nhiều lần trong thực tế cuộc sống vì chúng được ban hành ra không phải để điều chỉnh một quan hệ xã hội cụ thể, một trường hợp cụ thể mà để điều chỉnh một quan hệ xã hội chung, tức là một trường hợp khi điều kiện hoàn cảnh do chúng dự kiến xảy ra
Bên cạnh những điểm giống nhau, pháp luật và đạo đức còn có những điểm khác nhau:
1) Thứ nhất, về con đường hình thành nhà nước, pháp luật hình thành thông qua hoạt động xây dựng pháp lý của nhà nước Trong khi đó đạo đức được hình thành một cách tự do nhận thức của cá nhân
2) Thứ hai, hình thức thể hiện của pháp luật và đạo đức Hình thức thể hiện của đạo đức đa dạng hơn với hình thức thể hiện của pháp luật, nó được biểu hiện thông qua dạng không thành văn như văn hoá truyền miệng, phong tục tập quán…và dạng thành văn như kinh, sách chính trị,…còn pháp luật lại biểu hiện rõ ràng dưới dạng
hệ thống của văn bản quy phạm pháp luật
3) Thứ ba, đạo đức có nguồn gốc giá trị lâu dài, khi con người ý thức hành vi tự do sẽ điều chỉnh hành vi đó Do sự điều chỉnh đó xuất phát từ tự thân chủ thể nên hành
vi đạo đức có tính bền vững Ngược lại, pháp luật là sự cưỡng bức, tác động bên ngoài, dù muốn hay không người đó cũng phải thay đổi hành vi của mình Sự thay đổi này có thể là không bền vững vì nó có thể lập lại nơi này hay nơi khác nếu vắng bóng pháp luật
4) Thứ tư, về biện pháp thực hiện, pháp luật đảm bảo rằng nhà nước thông qua bộ máy cơ quan như cơ quan lập pháp, tư pháp,…còn đạo đức lại được đảm bảo bằng
dư luận và lương tâm của con người
5) Thứ năm, pháp luật có tính quyền lực nhà nước, nó chỉ do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp quyền lực nhà nước, từ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục cho đến áp dụng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước Trong khi đó, đạo đức được hình thành một cách tự phát trong xã hội, được lưu truyền từ đời này sang đời khác theo phương thức truyền miệng;
Trang 10được đảm bảo bằng thói quên, bằng dư luận xã hội, bằng lương tâm, niềm tin của mỗi người và bằng biện pháp cưỡng chế phi nhà nước
6) Thứ sáu, pháp luật có tác động tới mọi tổ chức và cá nhân có liên quan trong xã hội, còn đạo đức tác động tới các cá nhân trong xã hội
7) Thứ bẩy, pháp luật có những quan hệ xã hội điều chỉnh mà đạo đức không điều chỉnh
8) Thứ tám, pháp luật có tính hệ thống, bởi vì nó là một hệ thống các quy tắc xử sự chung đề điều chỉnh mọi loại quan hệ xã hội phát sinh trong những lĩnh vực khác nhau của đời sống như dân sự, kinh tế, lao động,…song các quy phạm đó không tồn tại một cách độc lập mà giữa chúng có mối quan hệ nội tại thống nhất với nhau
để tạo nên một chỉnh thể là hệ thống pháp luật Ngược lại, đạo đức không có tính
hệ thống
9) Thứ chín, pháp luật luôn thể hiện ý chí của nhà nước, còn đạo đức thường thể hiện
ý chỉ của một cộng đồng dân cư, ý chí chung của xã hội
2.2 Pháp luật và đạo đức có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau
2.2.1 Tác động của đạo đức đối với pháp luật
Chuẩn mực đạo đức là nền tảng tinh thần để thực hiện các quy định của pháp luật Trong nhiều trường hợp, các cá nhân trong xã hội thực hiện một hành vi pháp luật hợp pháp không phải vì họ hiểu các quy định của pháp luật, mà hoàn toàn xuất phát từ các quy tắc của đạo đức Nhiều quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi các chuẩn mực đạo đức được nhà nước sử dụng và nâng lên thành quy phạm pháp luật Khi xây dựng và ban hành pháp luật, nhà nước không thể không tính tới các quy tắc chuẩn mực đạo đức Ví dụ như “Tội không tố giác tội phạm” (Điều 314 Bộ luật hình sự năm 1999), nếu tội phạm đó không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng thì nhà nước không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị, em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội
vì về mặt đạo đức và tâm lý, không ai muốn người thân mình dính vào vòng tù tội
– Đối với việc hình thành pháp luật:
+ Nhiều quan điểm đạo đức được thể chế hoá trong pháp luật, nhiều quy tắc đạo đức phù hợp với ý chí của nhà nước được thừa nhận trong pháp luật qua đó góp