Nghiên cứu được thực hiện với mục đích xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định tiêu dùng xanh và hành vi mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TP. Long Xuyên. Dữ liệu được thu thập từ 290 người tiêu dùng tại TP. Long Xuyên có nghe nói đến sản phẩm xanh. Phương pháp phân tích EFA, CFA và cấu trúc tuyến tính SEM được dùng để đánh... Đề tài Hoàn thiện công tác quản trị nhân sự tại Công ty TNHH Mộc Khải Tuyên được nghiên cứu nhằm giúp công ty TNHH Mộc Khải Tuyên làm rõ được thực trạng công tác quản trị nhân sự trong công ty như thế nào từ đó đề ra các giải pháp giúp công ty hoàn thiện công tác quản trị nhân sự tốt hơn trong thời gian tới.
Trang 1CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA VÀ HÀNH VI MUA
SẢN PHẨM XANH CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI THÀNH PHỐ
LONG XUYÊN
Huỳnh Đình Lệ Thu 1* , Dương Tú Hảo 2 và Hà Nam Khánh Giao 3
1 Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
2 Sinh viên, Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
3 Học viện Hàng không Việt Nam ( * Email: hdlthu@agu.edu.vn)
Ngày nhận: 01/12/2021
Ngày phản biện: 15/02/2022
Ngày duyệt đăng: 01/3/2022
TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện với mục đích xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định tiêu
dùng xanh và hành vi mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TP Long Xuyên Dữ liệu
được thu thập từ 290 người tiêu dùng tại TP Long Xuyên có nghe nói đến sản phẩm xanh
Phương pháp phân tích EFA, CFA và cấu trúc tuyến tính SEM được dùng để đánh giá độ tin
cậy của thang đo và kiểm định mô hình lý thuyết Kết quả cho thấy có 4 yếu tố có tác động
đến ý định mua sản phẩm xanh: Sẵn lòng chi trả có tác động mạnh nhất, tiếp theo là thái độ
hướng đến tiêu dùng xanh, nhận thức kiểm soát hành vi, tác động thấp nhất là thói quen
xanh Bên cạnh đó, ý định mua sản phẩm xanh có tác động đến hành vi mua sản phẩm xanh
Một số hàm ý quản trị được đề xuất cho chiến lược phát triển thị trường sản phẩm xanh
Từ khóa: Hành vi mua, sản phẩm xanh, sẵn sàng chi trả, thói quen xanh, TP Long Xuyên,
ý định mua
Trích dẫn: Huỳnh Đình Lệ Thu, Dương Tú Hảo và Hà Nam Khánh Giao, 2022 Các nhân tố
ảnh hưởng đến ý định mua và hành vi mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại Thành phố Long Xuyên Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô 14: 1-21
*
Ths Huỳnh Đình Lệ Thu - Giảng viên Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học An
Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 21 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhận thức được tầm quan trọng của
vấn đề môi trường có liên quan đến hành
vi của người tiêu dùng để quyết định mua
các sản phẩm xanh, thân thiện với môi
trường (Kilbourne et al., 2009; Laroche et
al., 2001) Dưới góc độ tiêu dùng, tiêu
dùng bền vững có thể đạt được bằng cách
khuyến khích tiêu dùng sản phẩm xanh
(Paul et al., 2016) Trong đó, sản phẩm
xanh là sản phẩm được thiết kế sao cho ít
tác động xấu đến môi trường nhất trong
quá trình sản xuất và tiêu dùng, sử dụng
các nguyên vật liệu tái chế, tiết kiệm năng
lượng hoặc nước, sản phẩm hữu cơ, giảm
thiểu sử dụng bao bì và giảm thải chất độc
hại ra môi trường (Esmaeilpour &
Bahmiary, 2017; Nimse et al., 2007)
Theo nghiên cứu của Nielsen ở Việt Nam
cho thấy, các thương hiệu có cam kết
“xanh” và “sạch” có mức tăng trưởng
cao, khoảng 4% và có tới khoảng 80%
người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng chi
trả nhiều hơn để mua các sản phẩm có
nguyên liệu đảm bảo thân thiện với môi
trường Tuy nhiên, các nhà tiếp thị đã
không thành công trong việc bán sản
phẩm xanh phổ biến do sự ưa thích của
người tiêu dùng dao động đối với các sản
phẩm này (Ha & Janda, 2012; Kilbourne
& Pickett, 2008) Để giải quyết vấn đề
này, Barber (2010) khuyến nghị các nhà
nghiên cứu thị trường nên khảo sát ý định
mua của người tiêu dùng đối với sản
phẩm xanh
Mô hình lý thuyết hành vi hoạch định
(TPB) cải thiện mô hình ý định mua hàng
có khả năng dự đoán cho các sản phẩm
xanh (Jebarajakirthy & Lobo, 2014) Mô
hình TPB đã được thực hiện trong một số
nghiên cứu liên quan đến ý định mua sản phẩm xanh (Vũ Thị Bích Viên, 2013;
Paul et al., 2016), ý định và hành vi tiêu dùng xanh (Hoàng Thị Bảo Thoa, 2017;
Hoàng Trọng Hùng et al., 2018; Phạm Thị Huyền et al., 2020; Chaudhary &
Bisai, 2018; Jaiswal & Kant, 2018;
Emekci, 2019; Wang et al., 2020), ý định phân loại rác thải nhựa (Shen et al., 2019)
và ý định tái chế chất thải điện tử (Aboelmaged, 2021) Do đó, nghiên cứu này sử dụng mô hình TPB làm cơ sở lý thuyết để phát triển mô hình nghiên cứu
Theo thuyết TPB, thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng trực tiếp đến ý định và ý định ảnh hưởng đến hành vi (Ajzen, 1991) Thêm vào đó, ý định tiêu dùng xanh chịu ảnh hưởng bởi sẵn sàng chi trả (Chaudhary, 2018; Khoiriyah và Toro, 2018;
Setyawan et al., 2018) và thói quen xanh (Aboelmaged, 2021; Ghazali et al., 2018) Vì vậy, nghiên cứu mở rộng và làm phong phú hơn mô hình TPB bằng cách kết hợp hai nhân tố sẵn sàng chi trả
và thói quen vào mô hình tác động đến ý định mua sản phẩm xanh tại TP Long Xuyên
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về ý định
và hành vi mua sản phẩm xanh, ý định và hành vi tiêu dùng xanh cũng được thực hiện trong những bối cảnh khác nhau đã tìm thấy các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua như thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, mối quan tâm về môi trường, hiệu quả nhận thức, sự trải nghiệm, kiến thức và ý định ảnh hưởng đến hành vi mua (Vũ Thị Bích Viên, 2013; Hoàng Thị Bảo Thoa, 2017; Hoàng Trọng Hùng et al., 2018; Phạm Thị
Trang 3Huyền et al., 2020) Tuy nhiên, số lượng
các nghiên cứu còn hạn chế và vẫn chưa
có nghiên cứu nào về ý định mua và hành
vi mua sản phẩm xanh của người tiêu
dùng tại địa bàn TP Long Xuyên Vì thế,
nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá
các nhân tố có ảnh hưởng đến ý định mua
sản phẩm xanh và hành vi mua sản phẩm
xanh của người tiêu dùng tại TP Long
Xuyên để cung cấp thông tin, làm cơ cở
cho các nhà kinh doanh trong lĩnh vực sản
phẩm xanh có chiến lược phát triển thị
trường tại TP Long Xuyên
2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ
PHÁT TRIỂN GIẢ THUYẾT
2.1 Tổng quan lý thuyết
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng rộng
rãi lý thuyết hành động hợp lý (TRA)
(Ajzen and Fishbein, 1980; Fishbein &
Ajzen, 1975) và lý thuyết hành vi hoạch
Emekci, 2019; Wang et al., 2020; Shen et al., 2019; Aboelmaged, 2021)
Thuyết TRA nhấn mạnh về việc biết trước hành vi của con người bằng cách đề xuất rằng hành vi của một người bị ảnh hưởng bởi các ý định hành vi trong đó ý định chịu ảnh hưởng bởi 2 yếu tố: Thái
độ, chuẩn chủ quan (Emekci, 2019)
Thuyết TPB là mô hình mở rộng hơn
để giải quyết hạn chế của thuyết TRA
Theo Ajzen (1991), thuyết TPB gồm ba yếu tố quyết định độc lập về mặt ý định:
(1) Thái độ đối với hành vi; (2) Chuẩn chủ quan; (3) Nhận thức kiểm soát hành
vi
Thuyết hành vi hoạch định (TPB) khắc phục được hạn chế của thuyết hành động hợp lí (TRA) Do đó, nghiên cứu này sử dụng mô hình của thuyết hành vi hoạch định (TPB) làm cơ sở lý thuyết để phát triển mô hình nghiên cứu
Trang 4Bảng 1 Một số nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước
STT Đề tài nghiên cứu Tác giả, năm Phạm vi Thang đo/Khám phá mới
NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ
Ấn Độ
Thang đo:
+ Thái độ + Chuẩn chủ quan + Nhận thức kiểm soát hành vi + Mối quan tâm về môi trường + Sự sẵn lòng chi trả
+ Ý định mua xanh + Hành vi mua xanh
+ Hành vi mua xanh
4
Hành vi mua xanh:
Khung khái niệm và
nghiên cứu thực nghiệm
người tiêu dùng tại Ấn
+ Nhận thức kiến thức về môi trường
+ Ý định mua sản phẩm xanh + Hành vi mua sản phẩm xanh
Thổ Nhĩ
Kỳ
Thang đo:
+ Thái độ + Chuẩn chủ quan + Nhận thức kiểm soát hành vi + Nhận thức hiệu quả
+ Mối quan tâm về môi trường + Kiến thức về môi trường + Ý định mua
+ Hành vi mua xanh
6
Ý định mua xanh của
người dân trong bối cảnh
đất nước đang phát triển:
Wang et al., (2020)
Trung Quốc
Thang đo:
+ Thái độ + Chuẩn chủ quan
Trang 5Kết hợp phương pháp
PLS-SEM và MGA
+ Nhận thức kiển soát hành vi + Mối quan tâm về môi trường + Thói quen
Trung Quốc
Thang đo:
+ Thái độ +Quan tâm môi trường + Nghĩa vụ đạo đức cá nhân + Nhận thức kiểm soát hành vi + Chuẩn mực chủ quan + Ý đinh hành vi
Sharjah, Ajman, Dubai
Thang đo:
+ Thói quen tái chế + Thái độ đối với tái chế + Chuẩn chủ quan + Kiểm soát hành vi + Ý định sử dụng
NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM
9
Nghiên cứu các yếu tố
ảnh hưởng đến ý định
mua sản phẩm xanh của
người tiêu dùng tại thành
phố Hồ Chí Minh
Vũ Thị Bích Viên (2013)
Hồ Chí Minh
Thang đo:
+ Thái độ đối với tiêu dùng sản phẩm xanh
+ Chuẩn chủ quan + Kiểm soát hành vi nhận thức + Hiệu quả hành vi nhận thức + Mối quan tâm đến môi trường + Ý định mua
+ Hành vi tiêu dùng
10
Nghiên cứu những nhân
tố tác động tới mối quan
hệ giữa ý định và hành vi
tiêu dùng xanh của người
tiêu dùng Việt Nam
Hoàng Thị Bảo Thoa (2017)
Việt Nam
Thang đo:
+ Thái độ với môi trường + Thái độ với hành vi tiêu dùng xanh
+ Chuẩn mực chủ quan về tiêu dùng xanh
+ Nhận thức hiệu quả hành vi tiêu dùng
+ Sự không sẵn có của sản phẩm xanh
+ Độ nhạy cảm về giá + Ý định tiêu dùng xanh + Hành vi tiêu dùng xanh
Huế
Thang đo:
+ Thái độ + Chuẩn chủ quan + Mối quan tâm tới môi trường + Nhận thức kiểm soát hành vi + Tính sẵn có của sản phẩm xanh + Ý định tiêu dùng xanh
Trang 6Việt Nam
Thang đo:
+ Sự trải nghiệm + Kiến thức + Mối quan tâm tới sức khỏe + Thái độ tích cực với tiêu dùng xanh
+ Ý định tiêu dùng xanh + Hành vi tiêu dùng xanh
2.2 Phát triển giả thuyết
2.2.1 Thái độ hướng đến tiêu dùng sản
phẩm xanh
Thái độ được nhấn mạnh là một trong
những tiền đề quan trọng của ý định và
hành vi trong nghiên cứu về tiêu dùng xanh
(Jaiswal & Kant, 2018) Theo Ajzen
(1991), thái độ hướng đến hành vi đề cập
đến mức độ mà một người có đánh giá tích
cực hay tiêu cực đối với hành vi được đề
cập Theo thuyết TPB, thái độ đối với hành
vi càng tích cực thì ý định phải thực hiện
hành vi càng mạnh mẽ (Ajzen, 1991)
Birgelen, Semeijn and Keicher (2009)
nhận thấy rằng nếu người tiêu dùng có thái
độ tích cực với việc giữ gìn môi trường, họ
sẽ thích thức uống đóng chai có bao bì thân
thiện với môi trường Theo kết quả nghiên
cứu của Vũ Thị Bích Viên (2013), Paul et
al., (2016), thái độ là nhân tố có tác động
mạnh nhất đến ý định mua sản phẩm xanh
Khi người tiêu dùng có thái độ tích cực, họ
sẽ có nhiều khả năng có ý định mua các sản
phẩm xanh (Paul et al., 2016) Thái độ tích
cực đối với tiêu dùng xanh có ý nghĩa quan
trọng trong việc tác động tới ý định và hành
vi tiêu dùng xanh, thế hệ Millennials cảm
thấy vui sướng và bản thân trở nên văn
minh hơn khi tiêu dùng các sản phẩm xanh
thay vì những sản phẩm gây hại cho môi
trường (Phạm Thị Huyền et al., 2020)
Thêm vào đó, các nghiên cứu của Emekci (2019), Wang et al., (2020), Chaudhary and Bisai (2018), Jaiswal and Kant (2018) và Hoàng Thị Bảo Thoa (2017) cũng đã chứng minh thái độ có tác động tích cực đến ý định tiêu dùng xanh Từ các cơ sở trên, nghiên cứu đề xuất giả thuyết như sau:
H 1 : Thái độ hướng đến tiêu dùng sản
phẩm xanh có mối quan hệ cùng chiều với
ý định mua sản phẩm xanh
2.2.2 Chuẩn chủ quan
Trong mô hình thuyết hành vi hoạch định (TPB) của Ajzen (1991), chuẩn chủ quan là yếu tố quyết định thứ hai tác động đến ý định hành vi Theo Ajzen (1991), chuẩn chủ quan đề cập đến áp lực xã hội
mà con người cảm nhận được nhằm thực hiện hay không thực hiện hành vi Áp lực
xã hội có thể xuất phát từ luật pháp, quy định, chính sách khuyến khích của Nhà nước và nó có thể ảnh hưởng đến ý định hành vi của cá nhân (Wang et al., 2020)
Theo Hee (2000), chuẩn chủ quan của một
cá nhân là sự ảnh hưởng của những người quan trọng đối với họ, chẳng hạn như gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp…
Nghiên cứu của Wang et al., (2020) cho thấy chuẩn chủ quan là nhân tố dự báo mạnh nhất về ý định mua xanh, nghĩa là ý định mua của người tiêu dùng bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi các yếu tố khách quan như
Trang 7các luật và quy định do chính phủ ban hành
để thúc đẩy tiêu dùng xanh, trợ cấp mua
hàng và các chính sách ưu đãi, và lời
khuyên từ những người quan trọng xung
quanh Kết quả nghiên cứu của Chaudhary
and Bisai (2018) cũng cho thấy chuẩn chủ
quan không có mối quan hệ cùng chiều với
ý định mua xanh Tuy nhiên, Các nghiên
cứu của Hoàng Thị Bảo Thoa (2017) và
Emekci (2019) cũng đã chứng minh chuẩn
chủ quan có ảnh hướng tích cực đến ý định
tiêu dùng xanh Từ các cơ sở trên, nghiên
cứu đề xuất giả thuyết như sau:
H 2 : Chuẩn chủ quan có mối quan hệ
cùng chiều với ý định mua sản phẩm xanh
2.2.3 Nhận thức kiểm soát hành vi
Nhận thức kiểm soát hành vi đề cập đến
mức độ dễ dàng hoặc khó khăn được nhận
thức khi thực hiện hành vi và phản ánh
những kinh nghiệm trong quá khứ và
những trở ngại được dự đoán trước Ajzen
(1991) đề nghị nhân tố nhận thức kiểm soát
hành vi tác động trực tiếp đến ý định thực
hiện hành vi, và nếu bản thân chính xác
trong cảm nhận về mức độ kiểm soát của
mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả
hành vi Trái ngược với khái niệm của
Bandura (1991) về nhận thức hiệu quả
được coi là “niềm tin của một cá nhân vào
khả năng của họ trong việc thực hiện các
hành vi cần thiết để tạo ra các thành tựu”
Sự tự nhận thức hiệu quả xem xét các yếu
tố kiểm soát nội bộ (Bandura, 1991); nhận
thức kiểm soát hành vi nhấn mạnh các yếu
tố bên ngoài và yếu tố chung (Armitage &
Conner, 2001) Người tiêu dùng sẽ xem xét
khả năng tiếp cận, sự tiện lợi và chủng loại
của sản phẩm khi chuẩn bị mua một sản
phẩm xanh (Paul et al., 2016) Nhiều
nghiên cứu cho thấy nhận thức kiểm soát
hành vi có tác động tích cực đến ý định
trong nhiều bối cảnh nghiên cứu khác nhau, chẳng hạn như ý định phân loại rác thải nhựa đô thị (Shen et al., 2019), ý định mua sản phẩm xanh (Vũ Thị Bích Viên, 2013;
Paul et al., 2016; Nguyễn Thị Hoàng Yến
& Nguyễn Vũ Hùng, 2020) và ý định tiêu dùng xanh (Wang et al., 2020) Trong nghiên cứu của Chaudhary and Bisai (2018), nhận thức kiểm soát hành vi được xác định là nhân tố tác động tích cực và mạnh nhất đến cả ý định và hành vi mua xanh Từ các cơ sở trên, nghiên cứu đề xuất giả thuyết như sau:
H 3 : Nhận thức kiểm soát hành vi có mối
quan hệ cùng chiều với ý định mua sản phẩm xanh
2.2.4 Sẵn lòng chi trả
Sự sẵn lòng chi trả mô tả thái độ sẵn lòng trả thêm tiền hơn Trong nghiên cứu này, sẵn lòng chi trả là một nhân tố đo lường mức độ một cá nhân sẵn lòng chi trả cho sự chênh lệch giá giữa sản xanh và sản phẩm thông thường (Khoiriyah & Toro, 2018)
Các sản phẩm xanh thường đắt tiền hơn do chi phí sản xuất và chế biến cao (Ling, 2013) Một số nghiên cứu chỉ ra rằng những người có ý thức bảo vệ môi trường không nhạy cảm với giá cả và giá cả không ảnh hưởng đáng kể đến việc mua các sản phẩm xanh (Grankvist & Biel, 2001;
Cronin et al., 2011) Mặt khác, nghiên cứu của Choi and Parsa (2006) tại Hoa Kỳ nhận thấy rằng người tiêu dùng do dự khi phải trả thêm tiền cho các sản phẩm và dịch vụ xanh Tại Việt Nam, nghiên cứu của Hà Nam Khánh Giao (2018) cho thấy rằng giá sản phẩm có mối quan hệ cùng chiều với hành vi tiêu dùng xanh, người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin nên họ hiểu được lý
do sản phẩm xanh có giá cao hơn các sản
Trang 8phẩm thông thường Các nghiên cứu liên
quan đến tiêu dùng xanh đã cho thấy sự sẵn
lòng chi trả có ảnh hưởng tích cực đến ý
định tiêu dùng xanh, chẳng hạn như: Ý định
mua xanh (Chaudhary, 2018); ý định mua
sản phẩm xanh (Khoiriyah & Toro, 2018;
Setyawan et al., 2018) Mức độ sẵn lòng chi
trả của người tiêu dùng càng cao thì khả
năng họ có ý định mua các sản phẩm xanh
càng cao (Khoiriyah & Toro, 2018) Theo
Chaudhary (2018), người tiêu dùng sẵn
sàng trả thêm tiền để mua các sản phẩm
xanh vì người tiêu dùng nhận thức được giá
trị do các sản phẩm xanh tạo ra, điều này
đã nâng cao khả năng sẵn lòng trả thêm tiền
cho chúng Từ các cơ sở trên, nghiên cứu
đề xuất giả thuyết sau:
H 4 : Sẵn lòng chi trả có mối quan hệ
cùng chiều với ý định mua sản phẩm xanh
2.2.5 Thói quen xanh
Thói quen là hành động tinh thần lặp đi
lặp lại có xu hướng tự duy trì sau một thời
gian nhất định của một cá nhân, giống như
họ quen với nó mà không cần suy nghĩ tìm
hiểu nhiều (James, 1890) Việc thực hiện
lặp đi lặp lại một hành vi có thể hình thành
thói quen, khi đó cá nhân sẽ có khả năng sử
dụng các quy tắc quyết định được đơn giản
hóa để tiếp tục hành vi (Conner &
Armitage, 1998) Theo Wang et al., (2020),
thói quen xanh là việc tiêu thụ các sản
phẩm xanh hàng ngày tạo ra một loại hành
vi quán tính, người tiêu dùng sẽ tiếp tục
mua các sản phẩm xanh trong tương lai
Wang et al., (2020) giả thuyết rằng có thể
nhận thấy sự khác biệt giữa thói quen trong
quá khứ và ý định mua trong tương lai
thông qua việc điều tra thói quen mua của người tiêu dùng về các sản phẩm xanh, những người tiêu dùng đã hình thành thói quen tiếp tục duy trì ý định mua cao hơn
Kết quả nghiên cứu của Aboelmaged (2021) đã cho thấy thúc đẩy thói quen tái chế sẽ làm tăng ý định tái chế rác thải điện
tử của người tiêu dùng trẻ và kết quả nghiên cứu của Ghazali et al., (2018) đã cho thấy thói quen xanh có ảnh hưởng tích cực đến ý định tiêu dùng xanh Từ các cơ
sở trên, nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:
H 5 : Thói quen xanh có mối quan hệ
cùng chiều với ý định mua sản phẩm xanh
2.2.6 Ý định mua sản phẩm xanh và hành vi mua
Yếu tố trung tâm trong lý thuyết về hành
vi hoạch định là ý định của cá nhân thể hiện một hành vi nhất định (Ajzen, 1991) Ý định đề cập đến sự sẵn sàng của một cá nhân để thực hiện một hành vi nhất định (Yadav & Pathak, 2017) Theo Ajzen (2002), ý định hành vi ngụ ý sự sẵn sàng của một cá nhân để thực hiện một hành vi cho trước, nó được coi là tiền đề và dự đoán tốt nhất về hành vi Nhiều nghiên cứu của các tác giả như Emekci (2019), Siddique et al., (2020), Jaiswal and Kant (2018), Hoàng Trọng Hùng et al., (2018), Phạm Thị Huyền et al., (2020) và Hoàng Thị Bảo Thoa (2017) kết luận rằng ý định tiêu dùng xanh có ảnh hưởng tích cực đến hành vi tiêu dùng xanh Từ các cơ sở trên, nghiên cứu đề xuất giả thuyết như sau:
H 6 : Ý định mua sản phẩm xanh có mối quan hệ cùng chiều với hành vi mua sản phẩm xanh
Trang 93 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mô hình nghiên cứu
Hình 1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Nghiên cứu này sử dụng mô hình của
thuyết TPB mở rộng làm cơ sở lý thuyết
để phát triển mô hình nghiên cứu Theo
thuyết TPB, thái độ, chuẩn chủ quan và
nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng
trực tiếp đến ý định và ý định ảnh hưởng
đến hành vi (Ajzen, 1991) Thêm vào đó,
nghiên cứu mở rộng và làm phong phú
hơn mô hình TPB bằng cách kết hợp hai
nhân tố sẵn sàng chi trả và thói quen,
trong đó, ý định được ảnh hưởng bởi sẵn
sàng chi trả (Chaudhary, 2018; Khoiriyah
& Toro, 2018; Setyawan et al., 2018) và
thói quen (Leung & Chen, 2017;
Amoroso & Lim, 2017; Nguyen et al.,
2020; Aboelmaged, 2021)
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai giai đoạn: (1) Nghiên cứu sơ bộ (định tính) qua thảo luận với 16 người tiêu dùng
có kiến thức về tiêu dùng xanh tại TP
Long Xuyên Từ kết quả thảo luận, nghiên cứu chính thức qua chọn mẫu theo phương pháp phi xác suất và kỹ thuật lấy mẫu thuận tiện với 290 người tiêu dùng có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên và có nghe nói đến sản phẩm xanh tại TP Long Xuyên Phương pháp kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích EFA, phân tích CFA và phân tích SEM được dùng để kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu Đo lường các ý kiến dựa trên thang đo Likert với 5 mức độ
Trang 10Bảng 2 Diễn giải các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu
Mã
Thái độ hướng đến tiêu dùng sản phẩm xanh
ATT1 Tôi thích ý tưởng tiêu dùng xanh Paul et al.,
(2016);
Emekci (2019)
ATT2 Tiêu dùng xanh là một ý tưởng hay
ATT3 Tôi luôn có thái độ tích cực đối với tiêu dùng xanh
Chuẩn chủ quan
SN1 Những người quan trọng với tôi (gia đình, bạn bè…) nghĩ rằng tôi
nên tiêu dùng sản phẩm xanh
Paul et al., (2016) SN2 Quyết định mua sắm của tôi chịu ảnh hưởng của những người trong gia đình Ajzen (2002)
(trích trong Hoàng Trọng Hùng and et al.,2018)
SN3 Các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài, TV, internet…) hiện
nay đưa nhiều thông tin về sản phẩm xanh
SN4 Chính phủ hiện nay khuyến khích người tiêu dùng mua sản phẩm
xanh
Nhận thức kiểm soát hành vi
PBC1 Tôi tin tôi có khả năng mua các sản phẩm xanh
Paul et al., (2016)
PBC2 Nếu việc mua sắm tiêu dùng phụ thuộc vào tôi, tôi tự tin rằng tôi sẽ
mua các sản phẩm xanh
PBC3 Tôi thấy mình có thể mua các sản phẩm xanh trong tương lai
PBC4 Tôi có nguồn lực, thời gian và sự sẵn lòng để mua các sản phẩm xanh
PBC5 Các sản phẩm xanh thường có sẵn trong các cửa hàng nơi tôi thường
hay mua sắm
PBC6 Có rất nhiều cơ hội để tôi mua các sản phẩm xanh
PBC7 Tôi cảm thấy rằng việc mua các sản phẩm xanh hoàn toàn nằm trong
kiểm soát của tôi
Sẵn lòng chi trả
WP1 Tôi sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho sản phẩm xanh Khoiriyah
and Toro (2018) WP2 Tôi sẵn sàng trả đắt hơn một chút để có được sản phẩm bền vững với môi trường
WP3 Tôi cảm thấy tự hào khi có các sản phẩm xanh trong nhà mặc dù chúng đắt hơn sản phẩm thông thường Chaudhary (2018)
Thói quen xanh
GH1 Tôi/Gia đình tôi đã từng mua các thiết bị tiết kiệm năng lượng (điện,
(2020) GH2 Tôi đã từng mua hàng hoá có dán nhãn sinh thái, ít gây hại cho môi
trường
GH3 Tôi luôn cố gắng sử dụng những bao bì có thời hạn sử dụng dài (túi
vải, hộp đựng, bình nước…) thay vì bao bì sử dụng một lần Siddique et
al., (2020) GH4 Tôi luôn cố gắng giảm thiểu mua các sản phẩm và bao bì khó phân
huỷ không cần thiết