Các giải pháp huy động vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật ở quận Hoàng Mai,thành phố Hà Nội
Trang 1MỞ ĐẦU 1.Sự cần thiết nghiên cứu đề tài này
Cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở hạ tầng kĩ thuật nói riêng là điều kiện tiênquyết đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia nói chung, một địaphương, một đô thị nói riêng.Cơ sở hạ tầng không đáp ứng kịp nhu cầu phát triểnkinh tế đã và đang là một trong những nút thắt cản trở việc thu hút đầu tư nướcngoài nói riêng và quá trình phát triển kinh tế nói chung.Có một cơ sở hạ tầng kĩthuật đồng bộ, hoàn thiện và hiện đại thì chúng ta mới có thể phát triển nền sản xuất
và dịch vụ.Nhận thức được vai trò to lớn của cơ sở hạ tầng nên trong những nămqua địa phương nào cũng chú trọng việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật củađịa phương mình tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế Và chính quyềnquận Hoàng Mai cũng vậy
Quận Hoàng Mai là một quận mới thành lập năm 2003, cơ sở hạ tầng kĩ thuật cònnhiều hạn chế, thiếu đồng bộ Chính vì vậy việc đầu tư cơ sở hạ tầng ở quận là việclàm rất cần thiết hiện nay
Nhưng đầu tư vào cơ sở hạ tầng kĩ thuật đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng thời hạnthu hồi vốn dài và tỷ suất lợi nhuận thấp nên nhiệm vụ huy động vốn cho đầu tưphát triển cơ sở hạ tầng phải được đặt lên hàng đầu
Nhận thấy tầm quan trọng đó nên em đã chọn đề tài: “Các giải pháp huy động vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật ở quận Hoàng Mai,thành phố Hà Nội”.làm nội dung nghiên cứu đề án môn học kinh tế và quản lý đô thị.
2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề án đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủnghĩa Mác-Lê Nin làm cơ sở phương pháp luận để xem xét vấn đề Khi phân tích,đánh giá tình hình thực tiễn quá trình huy động nguồn vốn cho phát triển cơ sở hạtầng kĩ thuật ở quận Hoàng Mai, để tìm ra giải pháp phù hợp, đề án sử dụng cácphương pháp thu thập thông tin, phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh, phươngpháp quy nạp và phương pháp diễn giải
Trang 2Bên cạnh đó, đề án còn sử dụng hệ thống phương pháp luận của các môn chuyênngành như: Quy hoạch đô thị, Kinh tế đô thị, Quản lý đô thị, Lý thuyết về tài chínhtiền tệ, về kinh tế đầu tư để đạt được mục đích nghiên cứu.
3.Kết cấu đề án
Đề án gồm ba phần:
Phần I: Mở đầu
Phần II: Nội dung
Chương I: Cơ sở lý luận về huy động vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kĩthuật
đô thị
Chương II: Thực trạng huy động vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật ở quận
Hoàng Mai
Chương III: Chương 3:Những giải pháp huy động vốn cho đầu tư phát triển
CSHTKT ở quận Hoàng Mai
Phần III: Kết luận
Trang 3CHƯƠNG I :CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU
TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ
1.1.Tổng quan về cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị
1.1.1.Khái niệm cơ sở hạ tầng đô thị
Cơ sở hạ tầng đô thị là toàn bộ cơ sở vật chất –kĩ thuật nhằm đảm bảo tiện nghi
trong sinh hoạt và sản xuất của cộng đồng dân cư
Căn cứ vào tính chất ngành cơ bản có thể chia các công trình thành ba loại: Cơ sở
hạ tầng kĩ thuật, cơ sở hạ tầng sản xuất và cơ sở hạ tầng xã hội
Cơ sở hạ tầng kĩ thuật là “xương sống”của hạ tầng đô thị, là yếu tố then chốt của
sự phát triển bền vững đô thị
1.1.2.Khái niệm cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị
Cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị bao gồm tất cả các cơ sở vật chất kĩ thuật của giao
thông vận tải hàng hoá và hành khách đường sắt, đường bộ, đường thủy và đườnghàng không, các cơ sở dịch vụ kĩ thuật cho giao thông đô thị, hệ thống đường vậntải và cung ứng điện năng cho sản xuất và tiêu dùng, hệ thống thu gom và xử lý rác,
hệ thống thu gom và xử lý nước bẩn, hệ thống thoát nước mưa và hệ thống thôngtin-bưu điện, viễn thông
Để có biện pháp quản lý hiệu quả sự phát triển của cơ sở hạ tầng kĩ thuật, cần
phải quản lý trên từng thành phần cấu thành cơ sở hạ tầng kĩ thuật
1.1.3.Các thành phần của cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị
Cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị bao gồm:
-Hệ thống giao thông đô thị
Giao thông đô thị gồm hai bộ phận –giao thông đối ngoại và giao thông nội thị.Giao thông đối ngoại là các đầu nút giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt,đường hàng không nối liền hệ thông giao thông nội thị với hệ thống giao thôngquốc gia và quốc tế Giao thông nội thị bao gồm: Mạng lưới đường giao thông (lòngđường, vỉa hè);hệ thống giao thông tĩnh (nhà ga, bến xe ô tô, điểm đỗ xe khi đếncông sở, cửa hàng và nơi gửi xe qua đêm của dân cư và khách vãng lai)
Trang 4-Hệ thống các công trình cấp điện đô thi bao gồm: Nguồn điện, lưới điện, hệthống chiếu sáng.
-Hệ thống cung cấp nước nước sạch bao gồm: Nguồn nước, hệ thống nhà máy, hệthống đường ống dẫn
-Hệ thống thoát nước bao gồm: Hệ thống nhà máy xử lý nước, hệ thống đườngống thoát nước
-Hệ thông công trình bưu chính, viễn thông
-Hệ thống công trình kĩ thuật bảo vệ môi trường
-Hệ thống cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụthể: Đường giao thông,điểm đỗ xe, hệ thống cung cấp điện, hệ thống thu gom và xử
lý rác thải, hệ thống cấp nước sạch, hệ thống thoát nước…nên nó cấu thành “cơ thểvật chất” của đô thị, tạo nên dáng vẻ của đô thị
-Nếu như tăng trưởng kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệpsang công nghiệp dịch vụ là điều kiện cần cho quá trình đô thị hóa thì hệ thống cơ
sở hạ tầng đô thị là điền kiện đủ để chuyển một số điểm dân cư thành một đô thị,bởi vì cuộc sống đô thị gắn liền với các dịch vụ cơ bản do hệ thống cơ sở hạ tầng kĩthuật đô thị cung cấp như: Hệ thống cung cấp nước sạch, hệ thống đường giaothông, hệ thống thu gom và xử lý rác thải…
Trang 51.1.4.2 Tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư trong nước và ngoài nước để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong thời đại ngày nay, bất kì nước nào bước vào việc thực hiện công nghiệphóa, hiện đại hóa cũng cần có vốn đầu tư Tình trạng thiếu vốn diễn ra khá phổ biến,nhất là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam Vì vậy, việc thu hút vốn đầu
tư nước ngoài là hết sức cần thiết đối với nước ta, để đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước nhằm thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa nước tavới nước khác Và cơ sở hạ tầng kĩ thuật hiện đại là một trong các điều kiện cơ bản
để thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Cơ sở hạ tầng đô thị cũng tạo môi trường để thu hút các nguồn vốn đầu tư trongnước cho đầu tư phát triển.Những nhà đầu tư trong nước và ngoài nước cũng rấtquan tâm tới lĩnh vực đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng kĩ thuật và sẵnsàng bỏ vốn đầu tư lĩnh vực này dưới nhiều hình thức
Như vậy, cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị vừa tạo ra môi trường hấp dẫn, vừa tạo cơhội cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực phát triển cơ sở hạtầng kĩ thuật đô thị Việt Nam
1.1.4.3 Là công cụ của chính quyền đô thị để thực hiện chức năng quản lý đô thị đồng thời thực hiện quy hoạch phát triển đô thị
Theo quan diểm của các chuyên gia quản lý ở các nước tiên tiến, trong nền kinh
tế thị trường hiện đại, chức năng quản lý của các chính quyền đô thị bao gồm:
-Cung cấp các dịch vụ công cộng từ hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản
-Bảo đảm các thị trường đô thị hoạt động hữu hiệu
-Bảo vệ môi trường
Việc cung cấp dịch vụ công cộng cơ bản là chức năng quan trọng của chínhquyền đô thị, bởi lẽ trong nền kinh tế thị trường, hàng hóa và dịch vụ công cộng lànhững thứ mà thị trường rất khó đảm bảo mà chủ yếu do chính phủ cung cấp.Cónhững mặt hàng mà thị trường có thể đáp ứng, tuy nhiên sẽ nảy sinh tình trạng: cácdịch vụ đó không được cung ứng đầy đủ hoặc chất lượng không đảm bảo và giá cảđộc quyền
Trang 6Như vậy, cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị là điều kiện cung cấp các dịch vụ cơ bảngiúp chính quyền thực hiện chức năng quản lý của mình.
1.1.4.4 Tác động đến việc bảo vệ môi trường, góp phần phát triển bền vững các đô thị
Vấn đề bảo vệ môi trường có liên quan chặt chẽ tới việc phát triển bền vững các
đô thị Hệ thống cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị là một trong những điều kiện cơ bảngóp phần bảo vệ môi trường, nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế như ngày nay,khi mà mỗi ngày các đô thị phải đảm nhận một lượng rác khổng lồ các chất thảicông nghiệp, rác thải sinh hoạt, làm ô nhiễm môi trường tới mức báo động Và một
hệ thống cơ sở hạ tầng đúng tiêu chuẩn, phù hợp với quy hoạch sẽ giải quyết nhữngvấn đề trên
Như vậy cơ sở hạ tầng kĩ thuật có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triểnkinh tế xã hội của đô thị Do đó, cần phải tăng cường đầu tư vào phát triển cơ sở hạtầng kĩ thuật đô thị hiện đại, đồng bộ và hoàn chỉnh Tuy nhiên ,đây là một ngànhđòi hỏi vốn lớn , nhưng thời hạn thu vốn dài, tỷ suất lợi nhuận không cao Nên huyđộng nguồn vốn là nhiệm vụ hàng đầu của quá trình thực hiện phát triển cơ sở hạtầng kĩ thuật đô thị
1.2.Huy động vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị
1.2.1.Các khái niệm
1.2.1.1.Vốn
Vốn được hiểu là các của cải vật chất do con người tạo ra và tích luỹ lại Nó cóthể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc vốn tài chính Cống nghiệp hoá hiện đại hoá củanước ta hiện nay đòi hỏi phải có nhiều vốn, trong đó nguồn vốn trong nước đóngvai trò quyết định, vốn ngoài nước đóng vai trò chủ đạo Vốn trong nước bao gồmcác tài nguyên thiên nhiên, các tài sản được tích luỹ qua nhiều thế hệ, vị trí địa lý Việc tích luỹ vốn từ nội bộ nền kinh tế được thực hiện trên cơ sở hiệu quả sản xuất,nguồn của nó là lao động thặng dư của người lao động thuộc mọi thành phần kinh
tế Tăng năng suất lao động xã hội là con đường cơ bản để giải quyết vấn đề tích luỹvốn trong nước
Trang 71.2.1.2.Huy động vốn
Huy động vốn là sự tập trung các nguồn lực tài chính hay cụ thể các khoản tiềnnhàn rỗi trong nhân dân và trong nền kinh tế nhằm phục vụ cho một mục tiêu cụ thểnhất định
1.2.1.3.Huy động vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị
Huy động vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật là sự tập trung các khoản tiềnnhàn rỗi trong nhân dân và trong nền kinh tế phục vụ cho mục tiêu cải tạo, duy tu,bảo dưỡng và xây dựng mới các công trình hạ tầng kĩ thuật
1.2.2.Các nguồn huy động vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị
1.2.2.1.Vốn ngân sách nhà nước của chính quyền đô thị
Ngân sách Nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước được tậptrung từ các nguồn khác nhau và được sử dụng để chi tiêu thực hiện các chức năngcủa Nhà nước ở các cấp chính quyền khác nhau
Ngân sách của chính quyền đô thị là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của đô thịđược huy động từ các nguồn khác nhau.Trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế củathành phố, Nhà nước là cơ quan quản lý cấp trên xét duyệt kế hoạch thu chi,chínhquyền đô thị sẽ có kế hoạch thu chi để phát triển đô thị mình
Đặc điểm chung của vốn ngân sách nhà nước là khối lượng nhỏ lại phải chi chonhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội cũng như nền kinh tế vì vậy lượng vốn ngânsách nhà nước chi cho phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật thường chiếm tỉ trọng khácao 60-65% tổng ngân sách nhà nước nhưng khối lượng vốn không nhiều Ngoài ranguồn thu của ngân sách nhà nước phân bổ cho phát triển cơ sở hạ tầng là nguồn dotrung ương cấp xuống, nguồn thu từ đất (vốn từ quỹ đất tái định cư, thuế sử dụngđất…)
Khi các nguồn vốn trong nước không đáp ứng được nhu cầu phát triển cơ sở hạtầng kĩ thuật thì Nhà nước và chính quyền đô thị cần huy động thêm các nguồn tàichính nước ngoài
1.2.2.2.Tài chính nước ngoài
Trang 8Nguồn tài chính nước ngoài bao gồm vốn phát triển chính thức (OfficialDevelopment Funds-ODF) và dòng vốn tư nhân ODF lại bao gồm chủ yếu phầncho vay chính thức giữa các quốc gia và viện trợ(ODA),trong đó ODA là mộtnguồn vốn quan trọng cho các nước đang phát triển trong thời kì đầu của quá trìnhcông nghiệp hóa.Tuy nhiên hiện nay ODA đang có xu hướng giảm tại các nướcđang phát triển vì áp lực cân đối ngân sách của các nước viện trợ và hiệu quả củaviệc sử dụng viện trợ lại phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của nền kinh tế bao gồmnăng lực hoạt động các thể chế công, hiệu quả chính sách và tính minh bạch củachính phủ nhận viện trợ.Thường các công ty quốc doanh mới có thể tiếp cận vớinguồn vốn ODA, đến tháng 2/2009 mới có quy định cho doanh nghiệp tư nhân tiếpcận ODA.
FDI là một trong những nguồn vốn quan trọng của dòng vốn tư nhân nước ngoài.Điều này càng quan trọng hơn cho các nước đang phát triển khi có sự sụt giảm lớn
về quy mô và khi tính cạnh tranh của vốn ODA tăng cao…Nhìn chung vốn FDIđang ngày càng ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nguồn vốn đầu tư nướcngoài do xu hướng chuyên môn hóa ngày càng cao,nhu cầu tăng cao lao động giá rẻtại các nước phát triển Tuy nhiên khi tỉ lệ FDI càng lớn thì nền kinh tế phát triểnkhông bền vững, ảnh hưởng đến môi trường, mất cân đối cơ cấu
1.2.2.3.Huy động từ các tổ chức cá nhân trong nước
Các khoản huy động từ các tổ chức, cá nhân trong nước phục vụ cho phát triển cơ
sở hạ tầng kĩ thuật thông qua các hình thức công trái, trái phiếu, quỹ đầu tư, nhànước và nhân dân cùng đóng góp Đây là nguồn vốn quan trọng trong huy động vốncho phát triển cơ sở hạ tầng nhưng vẫn chưa có chính sách thu hút thích hợp
1.2.3 Các công cụ huy động vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật
Trang 9thị trường của bất động sản Những người chủ sở hữu của bất động sản sẽ đóng thuếnày cho chính quyền đô thị.
Thuế tiêu thụ hàng hóa: nhà thương nghiệp và người tiêu dùng sẽ đóng thuế tiêudùng các sản phẩm của thành phố
Thuế thu nhập
Thuế trước bạ
Thuế tắc nghẽn giao thông
Thuế ô nhiễm môi trường
1.2.3.2.Công cụ phí và lệ phí
Phí là khoản phải trả của người tiêu dùng cho một loại dịch vụ, đó là điểm khácbiệt cơ bản so với thuế Phí thu từ các dịch vụ do Nhà nước đầu tư là khoản thuthuộc Ngân sách nhà nước, được Nhà nước quản lý và sử dụng
Lệ phí: Là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nướchoặc tổ chức được ủy quyền phục vụ công việc quản lý Nhà nước
Lệ phí xả thải đối với các doanh nghiệp: các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa khi
xả thải ra ngoài môi trường thì phải đóng phí
Lệ phí chất thải đối với người tiêu dùng: người tiêu dùng khi tiêu dùng hàng hóaphải nộp lệ phí xả thải
1.2.3.3 Công cụ vay nợ
Vay nợ có thể vay trong nước và vay nước ngoài
1.2.3.3.1.Vay trong nước
Vay trong nước có thể thông qua việc phát hành trái phiếu đô thị
Trái phiếu đô thị là các loại trái phiếu do chính quyền các thành phố lớn, thường làcác đô thị, phát hàng nhằm bổ sung vốn cho nguồn vốn đầu tư phát triển hoặc huyđộng vốn cho các dự án xây dựng lớn Trái phiếu này thường có thời hạn từ 2-10năm, lãi suất cao hơn lãi suất trái phiếu Chính phủ và lãi suất đi vay của ngân hàng,nhưng thấp hơn lãi suất cho vay trung và dài hạn của ngân hàng Chính vì trái
Trang 10phiếu đô thị do chính quyền thành phố phát hành và dùng vào mục tiêu chung pháttriển thành phố nên việc mua bán loại trái phiếu này không phải nộp thuế
Việc huy động vốn thông trái phiếu đô thị chưa được sử dụng rộng rãi
Vay trong nước cũng có thể là vay nguồn vốn kho bạc nhà nước
1.2.3.3.2.Vay nước ngoài
Vay nước ngoài có thể là vốn ODA,FDI…
Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ Official DevelopmentAssistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu
tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gianvay dài Đôi khi còn gọi là viện trợ Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của cáckhoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư Gọi
là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay
Với các nước đang phát triển, nguồn vốn vay ODA để tạo nên sức bật kinh tế,đặc biệt quan trọng để kiến thiết hạ tầng Tuy nhiên, để tiếp nhận nguồn vốn ODA,cần phải có một bộ máy mang tính chuyên môn kỹ thuật cao và hệ thống hành chínhphải hết sức minh bạch, nếu không sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn: nước nghèo cần vốnODA nhưng sử dụng vốn ODA không hiệu quả, gánh nặng nợ quốc gia chồng chất,
và cuối cùng nghèo vẫn hoàn nghèo
Không thể phủ nhận rằng trong nhiều năm qua, nguồn vốn ODA đã phát huy một
số tác động tích cực trong việc phát triển kinh tế, quốc kế dân sinh Nhưng bên cạnh
đó, vẫn còn bộc lộ nhiều điểm yếu kém mà nếu không có biện pháp chấn chỉnh thìkhi tiếp tục nhận vay nguồn vốn ODA, nhất là với nguồn vốn lớn cho các “siêu dựán”, sẽ nảy sinh vô số vấn đề phức tạp
1.2.3.4 Huy động qua thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn mà chúng ta nên sử dụng Khicác nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họđược đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất
xã hội Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huyđộng được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh
tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội
Trang 111.2.3.5 Đổi đất lấy hạ tầng
Đổi đất lấy hạ tầng có nhiều biến thể như BOT, BTO,BT, PPP…, nhưng ứng với
nó vẫn là dạng không đổi: nhà đầu tư bỏ tiền để đầu tư hạ tầng, Nhà nước đổi lại hạtầng đó bằng diện tích đất ở vị trí mà nhà đầu tư quan tâm
-BOT(xây dựng-kinh doanh-chuyển giao): nhà đầu tư tiến hành xây dựng côngtrình,vận hành công trình đến khi thu được lãi thì trả cho chính quyền
-BTO(xây dựng-chuyển giao-kinh doanh): nhà đầu tư tiến hành thi công côngtrình sau đó cùng chính quyền vận hành đến khi thu lãi thì trả cho chính quyền -BT(xây dựng-chuyển giao): nhà đầu tư xây dựng xong thì chuyển giao ngay chochính quyền
-PPP:mô hình nhà nước và tư nhân kết hợp
1.2.4.Kinh nghiệm huy động vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị của thành phố Hồ Chí Minh
Sau hơn 30 năm đổi mới thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều thành tựutrong công tác phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật, trong đó tuyến đường nối tây thànhphố và đông thành phố là một thành tựu đáng ghi nhận Đại lộ Đông Tây dài gần
22 km nối từ quốc lộ 1A đến xa lộ Hà Nội, đi qua tám quận huyện là quận1,2,4,5,6,8, Bình Tân và Bình Chánh, có tổng vốn đầu tư 9864 tỉ đồng, trong đó
6394 tỉ đồng từ vốn vay ODA của ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản, còn lại lànguồn vốn của thành phố
Kinh nghiệm huy động vốn đầu tư của thành phố có thể thấy một số nét cơ bảnsau mà chúng ta có thể học hỏi
-Từng bước hoàn chỉnh cơ chế quản lý đầu tư xây dựng phù hợp với từng giaiđoạn phát triển của thành phố, giảm bớt các thủ tục phiền hà trong đăng kí đầu tư -Đối với các dự án có nguồn vốn đầu tư nước ngoài luôn đảm bảo đáp ứng đủvốn đối ứng tránh tình trạng treo dự án vì không đủ vốn đối ứng
Ví dụ cụ thể là dự án “Đại lộ Đông Tây”
Thông thường với mỗi dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kĩ thuật có vốn ODAthì yêu cầu vốn đối ứng phải đạt từ 10% tổng số vốn đầu tư trở lên, nhưng với dự án
Trang 12này thành phố Hồ Chí Minh đã huy động được 3470 tỉ đồng vốn đối ứng đạt 35%tổng vốn đầu tư.
-Thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng và bàn giao mặt bằng đã giải phóngxong cho nhà đầu tư
-Có nhiều biện pháp khuyến khích các tổ chức công ty tư nhân tham gia vào pháttriển cơ sở hạ tầng kĩ thuật như: đổi đất lấy hạ tầng, phát hành trái phiếu côngtrình…
Trang 13CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU
TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KĨ THUẬT Ở QUẬN
HOÀNG MAI 2.1 Giới thiệu về quận Hoàng Mai
Quận Hoàng Mai là một quận của thành phố Hà Nội, được thành lập theo Nghịđịnh số 132/20003/NĐ-CP ngày 6/11/2003 của Chính phủ Sự kiện này đánh dấu sựphát triển tất yếu để đẩy mạnh quá trình đô thị hóa Thủ đô theo quy hoạch đến năm
2020 đã được Thủ tướng phê duyệt Với quận Hoàng Mai, đây là một thời cơ lớn,một vận hội mới để đi lên và phát triển trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đạihóa Thủ đô và đất nước
Nằm ở phía đông nam Thành phố Hà Nội, Hoàng Mai có diện tích tự nhiên là4.104,1 ha với tổng dân số là 272.145 người Phía đông quận giáp Gia Lâm, phíatây và nam giáp huyện Thanh Trì, phía bắc giáp quận Thanh Xuân và quận Hai BàTrưng, với 14 đơn vị hành chính trực thuộc là 14 phường được hình thành trên cơ
sở 9 xã của huyện Thanh Trì và 5 phường của quận Hai bà Trưng Về tổ chức Đảng,Đảng bộ quận Hoàng Mai được thành lập với 26 ủy viên Ban chấp hành lâm thời doThành ủy chỉ định với 53 chi Đảng bộ trực thuộc Bộ máy hành chính và các thiếtchế tương ứng của chính quyền và đoàn thể cũng được thành lập và chính thức đivào hoạt động từ ngày 01/01/2004
Với những lợi thế cơ bản như có đường giao thông thủy chính nối Thủ đô vớiphương Nam của đất nước, có các đường giao thông quan trọng đi qua: Quốc lộ 1A,1B, đường vành đai 3, cầu Thanh Trì, đường vành đai 2,5 và đường thủy sông Hồngnối mạch giao thông giữa Hoàng Mai với các tỉnh phía bắc, phía tây và phía nam,quận Hoàng Mai là một trong những quận có vị trí quan trọng về chính trị, quân sự
và kinh tế của Thủ đô Hà Nội
Bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế, Hoàng Mai hướng tới mục tiêu đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung tăng trưởng kinh tế theo hướng tăng dần tỷtrọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mai – dịch vụ, giảm dần tỉ trọngnông nghiệp Giá trị sản xuất trên địa bàn có tốc độ tăng trưởng khá, tăng bình quân17,47%/năm
Trang 14Hoàng Mai là một quận có tốc độ đô thị hóa nhanh, bộ mặt của quận đang đổithay từng ngày với những công trình nhà chung cư cao tầng, các khu đô thị mới.Cơ
sở hạ tầng được xây dựng khá đồng bộ và hoàn chỉnh; tuy nhiên còn một số mặt tồntại cần phải được phân tích, đánh giá để đưa ra những giải pháp khắc phục trongthời gian tới
Những tồn tại này tập trung chủ yếu ở hệ thống các công trình: giao thông, cấp điện,cấp nước sạch, thu gom xử lý nước bẩn và hệ thống thu gom và xử lý rác thải.Đây
là những nội dung chính trong phân tích, đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng kĩ thuật
ở quận Hoàng Mai
2.2.Thực trạng cơ sở hạ tầng kĩ thuật ở quận Hoàng Mai
2.2.1.Hệ thống giao thông
Trên địa bàn quận hiện có 29 tuyến đường với tổng chiều dài 53km Hầu hết cáctuyến đường có mặt cắt ngang nhỏ, hè đường, cây xanh, thoát nước chưa đồng bộ,chưa đáp ứng được lưu lượng phương tiện tham gia giaothông
Hàng loạt các tuyến đường trên địa bàn đã bị xuống cấp nghiêm trọng từ lâu cầncải tạo nâng cấp, xây dựng mới Có 3 tuyến đường mà mặt đường đang bị xuốngcấp nặng nề cần sửa chữa ngay là đường Nguyễn Đức Cảnh, Đại Từ, Lĩnh Nam Tạicác tuyến đường này, hàng ngày đang bị các loại xe quá khổ, quá tải thường xuyên
đi qua gây xuống cấp trầm trọng với nhiều ổ trâu, ổ gà trên mặt đường rất bụi bẩn
và mất an toàn giao thông nghiêm trọng
Quận mới thành lập với nhiều xã chuyển lên thành phường nên hạ tầng giaothông còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển Nó hạn chế sự pháttriển của quận nói riêng và thành phố nói chung
Như vậy nhu cầu cải tạo, xây dựng mới hệ thống giao thông trên địa bàn quậntrong thời gian tới là rất lớn Tuy nhiên những năm qua việc đầu tư cho hệ thốnggiao thông của quận diễn ra như thế nào?Chúng ta sẽ có câu trả lời trong phần thựctrạng huy động vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật trên địa bàn quận
2.2.2.Hệ thống cấp nước sạch
Nhà máy mặt nước sông Đà, Nhà máy nước Pháp Vân cung cấp nước cho quậnHoàng Mai
Trang 15Là quận còn nhiều phường vẫn thiếu nước sạch: Đầu tháng 10/2010 Công tyNước sạch Hà Nội thi công xong và cấp nước vào nhà cho 15.855 hộ dân thuộc cácphường Thịnh Liệt, Yên Sở, Trần Phú, Lĩnh Nam.
Đến thời điểm này, việc cấp nước cho 6 phường quận Hoàng Mai đã cơ bản hoànthành, hiện còn 4 phường chưa có hệ thống cấp nước: Định Công, Đại Kim, HoàngLiệt và một phần phường Thịnh Liệt
Chúng ta đang hướng tới mục tiêu tất cả các phường trên địa bàn quận đều cónước sạch để dùng Để hoàn thành mục tiêu đó thì việc xây dựng mạng lưới đườngống dẫn nước, mở rộng công suất nhà máy nước là việc cần phải làm ngay
2.2.3.Hệ thống thoát nước bẩn
Trên địa bàn quận Hoàng Mai sử dụng hệ thống cống thoát nước chunggồm:thoát nước mưa, nước thải sinh hoạt,nước thải công nghiệp đã qua xử lý cục bộtại cơ sở sản xuất, sau đó thải vào hệ thống chung
Trên đường Lĩnh Nam còn hệ thống thoát nước kiểu chẵn lẻ, một bên đườngkhông có hệ thống cống thoát nước mà còn làm cống thông qua mặt đường chảysang cống bên kia đường chảy vào hệ thống cống Mặt đường thì các loại xe quákhổ, quá tải thường xuyên đi qua gây xuống cấp trầm trọng với nhiều ổ trâu, ổ gàlàm nát các hệ thống cống chạy qua mặt đường nên xảy ra tình trạng nước thải chảytràn ra mặt đường
Trên địa bàn quận Hoàng Mai lại có một số khu vực thường xuyên úng ngập như:Khu vực bến xe vận tải hàng hóa đoạn cuối đường Trương Định giao với đườngGiải Phóng, Khu Tân Mai; Tuyến phố Vĩnh Hưng, phố Lĩnh Nam, phố Đại Từ, phốGiáp Nhị, phố Nguyễn Đức Cảnh, đường Nguyễn Tam Trinh…do hệ thống thoátnước không tốt
Việc cải tạo hệ thống thoát nước trên địa bàn quận là rất cần thiết để tránh tìnhtrạng ngập úng
2.2.4.Hệ thống cung cấp điện
Nguồn điện cung cấp cho quận Hoàng Mai hiện nay là nguồn điện lưới quốc gia110kv khu vực phía Bắc thông qua trạm biến áp 110kv Văn Điển