1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ vận dụng quy luật mâu thuẫn trong giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tỉnh quảng nam hiện nay

124 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Quy Luật Mâu Thuẫn Trong Giải Quyết Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Tăng Trưởng Kinh Tế Và Bảo Vệ Môi Trường Tỉnh Quảng Nam Hiện Nay
Tác giả Phan Thi Thanh Nga
Người hướng dẫn TS. Dương Anh Hoàng
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 45,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam hiện nay (43)
  • 2.2. THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TÉ VÀ BẢO (0)
    • 2.2.1. Những thành tựu......................-- - 2s %+s£SE+E£EE£EeEEEEEEEEEEEEEeErkererkrrerker 39 2.2.2. Những hạn chê. ........................ -¿- St Sk*EE SE EkEEEEx TT ggrtntrrvy, 51 2.2.3. Những nguyên nhân cơ bản ............................... -- ¿5+ << S333 **vvvvceeees 57 2.3. MOT SO VAN DE DAT RA TU THUC TRANG GIAI QUYET TANG (46)
    • 2.3.2. Mâu thuẫn giữa lợi ích và trách nhiệm của doanh nghiệp (68)
    • 2.3.3. Mâu thuẫn giữa mục đích của tăng trưởng kinh tế với khả năng của (70)
    • 3.2.3. Tăng cường tiềm lực về đội ngũ cán bộ, tài chính, khoa học công nghệ đề đủ năng lực giải quyết các vấn đề môi trường (85)
    • 3.2.4. Tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ....................---s- se: 85 3.2.5. Thúc đây tăng trưởng xanh đề kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, tạo động lực cho phát triển bền vững (92)

Nội dung

Trang 1 PHAN THI THANH NGA VAN DUNG QUY LUAT MAU THUAN TRONG GIAI QUYET MOI QUAN HE BIEN CHUNG GIU'A TANG TRUONG KINH TE VA BAO VE MOI TRUONG TINH QUANG NAM HIEN NAY LUAN VAN THAC Si TRI

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam hiện nay

Sau 20 năm tái lập tỉnh, từ một tỉnh khó khăn với xuất phát điểm thấp, tỉnh Quảng Nam đã vươn lên trở thành địa phương phát triển trong khu vực duyên hải miền Trung Trong những năm qua, tỉnh đã tập trung nhiều nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Sự phát triển nhanh của các ngành kinh tế, đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã góp phân đây nhanh tốc độ tăng trưởng, chuyên dịch cơ cầu kinh tế và lao động của tỉnh theo hướng hợp lý, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm cho lao động, tăng thu nhập bình quân đầu người và nâng cao mức sống cho người dân

Khi mới tái lập tỉnh (1997), tổng sản phẩm trên địa bàn Quảng Nam chỉ đạt 2.917 tỷ đồng với mức tăng trưởng 8,9% Giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh tăng lên 11,53% (Bảng 2.1), GRDP theo giá so sánh tăng liên tục từ 27.708 tỷ đồng năm 2011 lên 44.283 tỷ đồng năm 2015, tăng gần 15 lần so với năm 1997

Tính riêng năm 2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 11,56%, tăng 2,66% so với năm 1997 Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao làm tăng GRDP bình quân đầu người từ 22,4 triệu đồng năm 1997 lên 41,4 triệu đồng năm 2015, tăng gấp hơn 1,8 lần [8], [9].

Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và GRDP bình quân đầu người tỉnh

Năm GRDP theo giá so sanh | Téc d6 ting | GRDP binh quan/ người năm 2010 (tỷ đông) trưởng (%) (triệu đông)

Nguôn: Niên giám thông kê Quang Nam 2015

Cơ câu kinh tế tỉnh Quảng Nam trong những năm gân đây chuyên dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; song tốc độ chuyển dịch còn chậm Tỷ trọng khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản trong GRDP giảm từ 20,67% năm 2011 xuống còn 15,9% năm 2015; trong khi đó, tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng tăng từ 40,5% lên 42% và ngành dịch vụ, du lich tăng từ 38,83% năm 2010 lên 42,1% nam 2015, cu thể như sau:

Bang 2.2 Cơ câu kinh tế tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2015

Nông - Lâm - Thủy sản (%) 20,67 | 20,17 | 17,00 | 17,10 | 15,90 Cong nghiép - Xay dung (%) 40,50 | 40,91 | 42,00 | 41,00 | 42,00 Dich vu (%) 38,83 | 38,92 | 41,00 | 41,90 | 42,10

Nguôn: Niên giám thông kê Quảng Nam 2015

Giá trị sản xuất các khu vực kinh tế tăng trưởng liên tục qua các năm, đóng góp đáng kế vào GRDP của tỉnh Giai đoạn 2011-2015, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng trưởng bình quân 14,7%, khu vực dịch vụ - du lịch đạt tốc độ tăng trưởng 11,6%, khu vực nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản tăng trưởng bình quân gần 4,9%

Vùng kinh tế Đông Nam (hay còn gọi là vùng đồng băng ven biến, hải đảo) là vùng kinh tế động lực phát triển công nghiệp của tỉnh Quảng Nam

Lợi thế so sánh của vùng là kinh tế biển, công nghiệp, dịch vụ, du lịch Giai đoạn 2010-2015, các thành phần kinh tế hoạt động trong vùng đóng góp trên 90% tông thu ngân sách toàn tỉnh Riêng ngành kinh tế biển, năm 2015, đạt trên 455 tàu công suất lớn, giá trị sản lượng khai thác thủy hải sản đạt 3.700 tân/ năm và giá trị nuôi trồng thủy sản trên 01ha đất canh tác đạt 335 triệu đồng: dịch vụ, du lịch biển, hàng hải ngày càng phát triển và đạt hiệu quả

Khu kinh tế mở Chu Lai là khu kinh tế trọng điểm của vùng có cơ sở hạ tầng tương đối đồng bộ, thu hút nhiều dự án, tạo ra nhiều việc làm mới, đóng góp bình quân trên 60% tổng thu ngân sách hàng năm trên địa bàn tỉnh

Vùng kinh tế phía Tây (hay còn gọi là vùng trung du, miền núi) có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển bền vững tỉnh Quảng Nam Trong 5 năm qua, tông vốn đầu tư cho vùng đạt hơn 7.750 tỷ đồng Lợi thế của vùng là công nghiệp chế biến nông, lâm sản, vật liệu xây dựng, nguyên liệu, kinh tế rừng Khu kinh tế cửa khẩu Nam Giang và cửa khâu phụ Tây Giang là hai khu kinh tế quan trọng của vùng, thúc đây liên kết phát triển kinh tế khu vực và hành lang kinh tế Đông - Tây, thúc đây giao thương hàng hóa với các tỉnh Nam Lào, phát triển các ngành công nghiệp gắn với dịch vụ, thương mại

Hệ thống các khu, cụm công nghiệp có những đóng góp quan trọng, tạo thuận lợi cho sự phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, góp phân thúc đầy tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Nam Hiện nay, toàn tỉnh có 09 khu công nghiệp (Điện Nam - Điện Ngọc, Đông - Quế Sơn, Thuận Yên, Phú Xuân, Tam Anh, Tam Hiệp, Tam Thăng, An Phú, Bắc Chu Lai), 108 cụm công nghiệp; trong đó, có 05 khu công nghiệp năm trong Khu kinh tế mở Chu Lai Năm 2015, các khu, cụm công nghiệp đóng góp trên 36,55% giá trị sản xuất

THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TÉ VÀ BẢO

Những thành tựu - 2s %+s£SE+E£EE£EeEEEEEEEEEEEEEeErkererkrrerker 39 2.2.2 Những hạn chê -¿- St Sk*EE SE EkEEEEx TT ggrtntrrvy, 51 2.2.3 Những nguyên nhân cơ bản ¿5+ << S333 **vvvvceeees 57 2.3 MOT SO VAN DE DAT RA TU THUC TRANG GIAI QUYET TANG

Trong những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyên, các đoàn thể, doanh nghiệp và người dân tỉnh Quảng Nam đã có nhiều có gắng, nỗ lực đạt được những thành tựu đáng khích lệ trên lĩnh vực kinh tế và môi trường Tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ khá (trên 10%/ năm) với quy mô và tiềm lực ngày càng nâng lên; công tác bảo vệ môi trường đã tạo được sự chuyên biên tích cực, bước đầu đạt được một số kết quả quan trọng

Thứ nhất, chủ trương, cơ chế, chính sách chỉ đạo gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường được tăng cường

Trong hoạch định chủ trương, chính sách, Quảng Nam luôn lồng ghép công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường vào nhiều nghị quyết, chỉ thị, chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Chủ trương chung của tỉnh là xem công tác bảo vệ môi trường là mục tiêu và nội dung của phát triển bền vững, khắc phục tư tưởng đặt nặng phát triển kinh tế mà coi nhẹ vấn đề bảo vệ môi trường

Thời gian qua, Tỉnh ủy Quảng Nam đã ban hành nhiều chủ trương lãnh dao, chi dao gan tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường kịp thời, có hiệu quả, như: Chương trình hành động số 24, ngày 27/8/2013 về “thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đối khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”; Kết luận số 245, ngày 16/01/2015 về “tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41 của Bộ Chính trị (khóa IX)”; Thông tri số 07, ngày 21/6/2016 về “triển khai thực hiện Kết luận số 02 của Ban Bí thư về tông kết 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số

41 của Bộ Chính trị (khóa IX)”; Nghị quyết số 06 về “tăng cường công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ rừng và tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quang Nam giai đoạn 2016 - 2020” Đề cụ thể hóa các chủ trương trên, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách cụ thê về gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường có tính thực thi cao, như: Chiến lược Bảo vệ môi trường tỉnh

Quảng Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, Chiến lược quản lý vùng bờ tỉnh Quảng Nam, Kế hoạch hành động kiểm soát ô nhiễm, Đề án Quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2020 và Đề án quản lý chất thải rắn các vùng nông thôn tỉnh Quảng Nam đến năm 2020, Quy chế Bảo vệ môi trường trên địa bàn tính Quảng Nam, Chỉ thị số 26 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, Chương trình Bảo vệ và Phát triển nguôn lợi thủy sản tỉnh Quảng Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường tỉnh Quảng Nam 2015-2020 Ngoài ra, còn thầm định nhiều Đề án chỉ tiết về bảo vệ môi trường như: Đề án Bảo vệ môi trường cảng hàng không Chu Lai (2013), Khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng Hội An (2013), Đối với chủ trương, chính sách chi ngân sách cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam đã ban hành Nghị quyết số 14 ngày 19/7/2016, về “quy định mức thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thấm định Đề án bảo vệ môi trường chi tiết trên dia ban tinh Quang Nam” dé quan ly va phân bồ có hiệu quả các nguồn kinh phí bảo vệ môi trường

Các chủ trương, cơ chế, chính sách về kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường được tỉnh Quảng Nam ban hành đúng đắn, kịp thời làm nâng cao rõ rệt nhận thức và tạo ra những chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị, doanh nghiệp và người dân trên địa ban tỉnh

Thứ hai, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được đẩy mạnh thực hiện quyết liệt

Thời gian qua, các cơ quan chức năng tỉnh Quảng Nam đã thực hiện thường xuyên các hoạt động thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất ngoài kế hoạch theo đơn thư phản ánh, tố cáo về môi trường đối với việc chấp hành và tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, tô chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh; có chế tài xử lý nghiêm minh đối với những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, công tác thâm định, cấp phép và xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường được tỉnh thực hiện kịp thời, góp phần kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Trong giai đoạn 2011-2014, Quảng Nam đã tô chức thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường tại 68 cơ sở sản xuất kinh doanh phát sinh lượng nước thải lớn, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, xảy ra các điểm nóng về môi trường Kết quả đã xử phạt 13 đơn vị với tổng số tiền trên 1,1 tỷ đồng Cũng trong giai đoạn này, tỉnh đã thẩm định và phê duyệt 1.459 hồ sơ môi trường, trong đó có 171 hồ sơ đánh giá tác động môi trường, 345 đề án bảo vệ môi trường chỉ tiết và đơn giản, 943 bản cam kết bảo vệ môi trường [27, tr 63 | Đối với hoạt động quan trắc môi trường, đến nay, tỉnh đã triển khai 24 đợt quan trắc mỗi năm, mạng lưới quan trắc gồm 114 điểm; trong đó có: 2l điểm quan trắc không khí, 37 điểm nước mặt, 26 điểm nước ngầm, I1 điểm nước biến ven bờ, 7 điểm môi trường đất, 6 điểm trầm tích và 6 điểm quan trắc phóng xạ trong không khí [27, tr.164] Hoạt động quan trắc môi trường cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến và những tác động xấu đối với môi trường, góp phần kiểm soát ô nhiễm môi trường phát sinh trong các hoạt động kinh tế của tỉnh Đối với hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường, từ năm 2010 đến nay, Ủy ban nhân dân Quảng Nam phê duyệt danh mục gồm 13 cơ sở, trong đó có

09 cơ sở thuộc khu vực công ích và 04 cơ sở thuộc khu vực tư nhân Đến nay, đã hoàn thành việc khắc phục ô nhiễm tại 05 cơ sở, 02 cơ sở đã xây dựng hoàn thành hệ thống xử lý nước thải, 06 cơ sở đang triển khai xây dựng và làm các thủ tục đầu tư hệ thống xử lý nước thải [27, tr.162]

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường từng bước được kiện toàn Bộ máy được phân theo 3 cấp: tỉnh, huyện và xã Cấp tỉnh có Chi cục Bảo vệ môi trường thực hiện chức năng tham mưu, quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong toàn tỉnh, được cơ cầu 14 cán bộ, nhân viên Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường thực hiện công tác phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh phòng chống tội phạm và các vi phạm pháp luật về môi trường Ban quản lý các khu công nghiệp, Khu kinh tế, Ban

Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai đều bố trí đội ngũ cán bộ quản lý môi trường theo chức năng, nhiệm vụ đặc thù Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện thực hiện chức năng tham mưu công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn với tông số 38 cán bộ phụ trách Bộ máy quản lý về môi trường cấp xã đang hoàn thiện tô chức và cán bộ chuyên môn

Ngoài ra, Quảng Nam đã xây dựng hệ thống quản lý môi trường chuyên ngành trong một số lĩnh vực như quản lý chất thải rắn, môi trường nước, biển và hải đảo, bảo tồn đa dạng sinh học và phân công trách nhiệm cụ thé cho các cơ quan chức năng

Thứ ba, công tác quản lý, bảo vệ rừng và tài nguyên khoảng sản đạt được những kết quả tích cực

Công tác quản lý, bảo vệ rừng ở tỉnh Quảng Nam hiện nay được thực hiện theo Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Nam giai đoạn

2011-2020 (được phê duyệt tại Quyết định số: 2462/QĐ-UBND, ngày

9/8/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam) Đến nay, Quảng Nam đã quy hoạch 719.922 ha diện tích đất lâm nghiệp; 03 khu rừng đặc dụng được quy hoạch chuyền tiếp, 05 khu rừng đặc dụng được thành lập mới Đề tăng cường bảo vệ và phát triển rừng, Quảng Nam có cơ chế khuyến khích, bảo tồn, phát triển sâm Ngọc Linh giai đoạn 2014-2020, cho thuê rừng đề trồng sâm Ngọc Linh, phát triển kinh tế - xã hội miền núi gắn với định hướng thực hiện một số dự án lớn tại vùng Tay cua tinh va cơ ché khuyén khích, bảo tồn và phát triển một số cây dược liệu giai đoạn 2016-2020

Các hành vi khai thác gỗ trái phép đã được các cơ quan chức năng tỉnh Quảng Nam ngăn chặn, xử lý kịp thời Từ năm 2011 đến nay, tỉnh đã phát hiện 6.845 vụ vi phạm; tịch thu: 4.302 mỡ gỗ xẻ, [ỉ7 xe ụ tụ, 290 xe mỏy, 103 xe bò kéo, 108 cưa xăng cùng nhiều tang vật phương tiện khác; khởi tố 129 vụ án hình sự và thu nộp ngân sách khoảng 66 tỷ đồng [34 tr.3] Đối với công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản có những chuyền biến tích cực Năm 2012, Quảng Nam đã ban hành Chương trình hành động và Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày 25/4/2011 của

Bộ Chính trị về “định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” nhằm quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản của tỉnh, đảm bảo quốc phòng an ninh, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa chính quyên, doanh nghiệp và người dân nơi có khoáng sản được khai thác

Mâu thuẫn giữa lợi ích và trách nhiệm của doanh nghiệp

Lợi ích và trách nhiệm là một trong những vấn đề quyết định sự tôn tại và phát triển của doanh nghiệp Tuy nhiên, thực tế cho thấy răng, giữa lợi ích và trách nhiệm của doanh nghiệp có mâu thuẫn nhau do chịu sự tác động của cơ chế thị trường Nếu mâu thuẫn này được giải quyết tốt thì doanh nghiệp và xã hội sẽ phát triên theo hướng tích cực và bền vững hơn

Tại Quảng Nam, doanh nghiệp là đội ngũ đóng vai trò, vị trí quan trọng trong phát triên kinh tế - xã hội Bên cạnh đóng góp vào GRDP, thúc đầy tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm cho nhiều lao động trong tỉnh, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là nhóm tác động và gây ô nhiễm môi trường nhiều nhất Đề đạt được lợi ích kinh tế trước mắt, không ít doanh nghiệp Quảng Nam thiếu trách nhiệm, gây ô nhiễm môi trường Như vậy, ở đây xuất hiện mâu thuẫn giữa lợi ích và trách nhiệm của doanh nghiệp Quảng Nam trong vấn đề bảo vệ môi trường

Trong điều kiện cơ chế thị trường, để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, việc thiếu trách nhiệm, không quan tâm đầu tư chi phí để nâng cấp hạ tầng bảo vệ môi trường là nguyên nhân chính đây các doanh nghiệp Quảng Nam gây ô nhiễm môi trường Hoạt động gây ô nhiễm môi trường do đặt nặng vấn đề lợi ích mà thiếu ý thức trách nhiệm của các doanh nghiệp đã làm thiệt hại cho các ngành, lĩnh vực kinh tế của cả tỉnh nói chung và doanh nghiệp Quảng Nam nói riêng lên đến hàng chục tỷ đồng để xử lý ô nhiễm, khắc phục, cải tạo môi trường, kiểm soát dịch bệnh Theo thong ké cua so Y tế Quảng Nam, giai đoạn 2011-2014, toàn tỉnh có khoảng 14,8 nghin ca mac các bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí, khoảng 99 nghìn ca mắc các bệnh liên quan đến ô nhiễm nguồn nước; tổng chi phí khám và điều trị sốt xuất huyết giai đoạn này lên đến 3,35 tỷ đồng Ngoài ra, ô nhiễm môi trường gây thiệt hại lớn đến sự phát triển của các khu vực kinh tế như hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, phát triển du lịch, Bên cạnh đó là sự gia tăng chi phí xử lý chất thải rắn hàng năm (giai đoạn 2011- 2014, tổng chi phí xử lý chất thải rắn khoảng 141,51 tỷ đồng)

Ngoài ra, ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ tuân thủ, thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường của đa số các doanh nghiệp Quảng Nam chưa cao Nhiều doanh nghiệp vì lợi ích kinh tế đã vi phạm pháp luật, gây ô nhiễm môi trường, bị xử phạt hành chính hoặc bị ngừng hoạt động Điền hình như, năm 2011, Uỷ ban nhân dân Quảng Nam đã ký Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với các công ty: công ty Cô phần Đồng Xanh, cụm Công nghiệp xã Đại Tân (huyện Đại Lộc); Công ty Giày Ricker, khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc (huyện Điện Bàn); công ty Cổ phần Kính nổi Chu Lai - INDEVCO, khu công nghiệp Bắc Chu

Lai (huyện Núi Thành) với tổng số tiền 330 triệu đồng Năm 2015, Ủy ban nhân dân tỉnh xử phạt 210 triệu đồng đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Indochina Resort (Hội An) vì đã xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật, vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Đầu năm 2016, Ủy ban nhân dân tỉnh đã rút giấy chứng nhận đầu tư của Công ty cổ phần kính nổi

Chu Lai đối với dự án Nhà máy xử lý phế thải và cao su plastic theo quy định, không cho đầu tư trở lại do gây ô nhiễm môi trường và yêu cầu công ty Sô đa Chu Lai dừng hoạt động vì có hành vi vi phạm xả thải trái phép ra môi trường, hiện công ty này đã di đời ra Ninh Bình đề sản xuất

Rõ ràng, doanh nghiệp sẽ không thể phát triển bền vững khi không quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường Do vậy, để giải quyết mâu thuẫn trên cần kết hợp hài hòa lợi ích kinh tế và trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh

Mâu thuẫn giữa mục đích của tăng trưởng kinh tế với khả năng của

Thúc đây tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững đề vươn lên trở thành tỉnh khá của cả nước và sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại là mục đích tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Nam trong 5 năm tới Mục tiêu này đã được đề ra trong Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần XXI Tuy nhiên, việc thực hiện mục đích thúc đầy tăng trưởng kinh tê nhanh và bền vững với khả năng hiện có của tỉnh Quảng Nam bên cạnh sự thống nhất cơ bản, trong thực tế vẫn xuất hiện mâu thuẫn nhất định, thể hiện ở các khía cạnh sau:

Một là, về khía cạnh kinh tế, Quảng Nam hướng tới mục tiêu thúc đây tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững nhăm thoát nghèo (nhất là ở khu vực các huyện trung du miền núi), tăng thu ngân sách địa phương, tăng thu nhập bình quân đầu người, tránh tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các tỉnh, thành phố trong cả nước và hướng tới giàu có, thịnh vượng Tuy nhiên, việc thực hiện mục đích tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững có thể mâu thuẫn với khả năng hiện có của Quảng Nam

Hiện nay, tăng trưởng kinh tế của Quảng Nam đạt tốc độ trên 10%/ năm (năm 2015 đạt 11,56%, tăng 2,66% so với khi mới tái lập năm 1997) là tương đối cao, nhưng chưa bên vững do chất lượng tăng trưởng chưa đạt yêu cầu Tỷ trọng đóng góp của các ngành kinh tế vào tốc độ tăng trưởng chưa tạo ra đột phá Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, số lượng lao động, gia tăng vốn đầu tư trong khi đó chưa chú trọng đến tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu như áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và chất lượng nguồn nhân lực Thực tế cho thấy, Quảng Nam chưa phát huy hết lợi thế so sánh về tài nguyên, vị trí địa lý, địa hình, nguồn lực nên khó có thê đạt được mục đích tăng trưởng kinh tế bền vững trong ngắn hạn

Các chính sách thúc đầy tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Nam đều bao hàm việc đảm bảo các vấn đề môi trường, bình đăng, công băng xã hội Song, nhiệm vụ chính của các chính sách kinh tế là phải giải quyết tốt các vẫn đề kinh tế, đảm bảo hiệu quả kinh tế cao Do đó, chính sách kinh tế dù có gắn với các vấn đề môi trường và xã hội thì cũng không thê giải quyết hết những vân đề môi trường và xã hội phức tạp Vì vậy, mục đích tăng trưởng kinh tế sẽ mâu thuẫn với khả năng thực hiện các chính sách kinh tế của Quảng Nam

Hai la, tăng trưởng kinh tế tạo khoản tích lũy tài chính cho ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường như: phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, đầu tư cho y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, nâng cao đời sông vật chất và tỉnh thần của người dân, đầu tư khoa học công nghệ đề xử lý, khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, bảo vệ môi trường sinh thái Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện mục đích tăng trưởng kinh tế này, nếu không đi đúng định hướng, Quảng Nam có thể sẽ mâu thuẫn trong khả năng thực hiện, làm tốn hại đến các lĩnh vực xã hội và môi trường, từ đó gây khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững Hiện nay, tăng trưởng kinh tế Quảng Nam đạt tốc độ khá nhưng chưa bền vững, ngân sách tích lũy chưa nhiều, trong khi đó trình độ khoa học công nghệ còn lạc hậu, chất lượng nguồn nhân lực chưa được nâng cao nên tỉnh khó có thể thực hiện được mục đích tích lũy ngân sách từ tăng trưởng kinh tế để giải quyết tốt các vấn đề xã hội và môi trường

Trong cơ chế thị trường, tăng trưởng kinh tế không thê tránh khỏi mặt trái của nó Vì vậy, để giải quyết mâu thuẫn giữa mục đích của tăng trưởng kinh tế với khả năng của Quảng Nam, về cơ bản, trong quá trình thực hiện, ngay từ đầu cần kết hợp hài hòa ba lĩnh vực: tăng trưởng kinh tế bền vững, phát triển xã hội bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế những tác động tiêu cực của tăng trưởng kinh tế đối với xã hội và môi trường, hạn chế tích lũy tăng trưởng kinh tế đề giải quyết các vân đề xã hội và môi trường.

Tỉnh Quảng Nam có nhiều cơ hội, tiềm năng và lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội để thực hiện mục tiêu kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường

Trong thời gian qua, tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường của tỉnh Quảng Nam có nhiều chuyền biến tích cực và đạt được những thành tựu quan trọng trong: công tác ban hành chủ trương, cơ chế, chính sách thực hiện gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường: nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác quản lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: đây mạnh công tác quản lý, bảo vệ rừng và tài nguyên khoáng sản; bước đầu đầu tư hạ tầng xử lý nước thải, chất thải rắn góp phần ngăn ngừa, xử lý ô nhiễm môi trường: gia tăng nguồn kinh phí và thu hút nhiều dự án cho sự nghiệp bảo vệ môi trường Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, việc giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở tỉnh Quảng Nam vẫn còn nhiều hạn chế: công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chưa chặt chẽ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao, còn xảy ra nhiều điểm nóng về khai thác gỗ, khoáng sản trái phép và ô nhiễm môi trường, trong khi đó hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường của tỉnh còn thiếu và lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường

Thực trạng trên đã đặt ra một số mâu thuẫn: mâu thuẫn trong lợi ích giữa cá nhân, tập thể và cộng đồng: mâu thuẫn giữa lợi ích và trách nhiệm của doanh nghiệp; mâu thuẫn giữa mục đích của tăng trưởng kinh tế với khả năng của tỉnh Quảng Nam Vì vậy, việc tìm ra các giải pháp đồng bộ, mang tính đột phá đề giải quyết những mâu thuẫn này là đòi hỏi mang tính cấp thiết.

CHUONG 3 GIẢI PHAP THUC HIEN MOI QUAN HE GIUA

TANG TRUONG KINH TE VA BAO VE MOI TRUONG

TINH QUANG NAM HIEN NAY

Vận dụng sáng tạo quy luật mâu thuẫn của triết học Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho răng một sự việc phát sinh mâu thuẫn thì phải tìm cách giải quyết Người nhân mạnh cần phải nghiên cứu cho rõ cái gốc của mâu thuẫn là vẫn đề gì, phải điều tra các mâu thuẫn đó, phải phân tích rõ ràng, có hệ thống, phải biết cái nào là mâu thuẫn chính, cái nào là mâu thuẫn phụ và phải đề ra cách giải quyết mâu thuẫn đó

Cùng với cả nước, phát triển bền vững là nội dung trọng tâm trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam Trong đó, mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường thuộc nhóm các mối quan hệ lớn, nằm trong nội hàm của phát triển bền vững và có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững

Thực trạng mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Nam thời gian qua đã phát sinh nhiều mâu thuẫn cần được nghiên cứu và giải quyết cho phù hợp để đảm bảo sự phát triển hài hòa, đúng định hướng Và vận dụng quy luật mâu thuẫn của triết học Mác - Lênin để giải quyết những mâu thuẫn này là việc làm hết sức quan trọng

3.1 PHUONG HUONG TANG TRUONG KINH TE GAN VOI BAO VE MOI TRUONG TINH QUANG NAM

Từ nay đến năm 2020, Quảng Nam sẽ phấn đấu sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại Đề góp phần thực hiện thành công mục tiêu trên, xin đề xuất các phương hướng cơ bản nhăm thực hiện tốt việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở tỉnh Quảng Nam hiện nay:

Mot la, tiép tục nghiên cứu, quán triệt và tô chức thực hiện tốt hơn nữa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; cụ thể hóa trong từng nghị quyết, chỉ thị, chiến lược, kế hoạch, định hướng phát triển của tỉnh với lộ trình và bước đi thích hợp

Hai là, xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chương trình hành động quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường trong từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; giảm thiêu tối đa sức ép từ các hoạt động kinh tế lên môi trường

Tăng cường tiềm lực về đội ngũ cán bộ, tài chính, khoa học công nghệ đề đủ năng lực giải quyết các vấn đề môi trường

Trong bôi cảnh cơ chê thị trường và hội nhập quôc tê sâu rộng, cán bộ, tài chính và khoa học công nghệ là những nguồn lực có ý nghĩa rất quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại trong sự nghiệp bảo vệ môi trường của cả nước nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng Do đó, cần phải tăng cường tiềm lực về đội ngũ cán bộ, tài chính, khoa học công nghệ đề đủ năng lực thực thi các nhiệm vụ bảo vệ môi trường, góp phần vào việc giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở tỉnh Quảng Nam hiện nay Đề thực hiện được vấn đề này, chú ý tập trung vào từng nguồn lực cụ thê sau:

Thứ nhất, tăng cường tiêm lực đội ngũ cán bộ quản lý môi trường để náng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ moi truong

Thời gian qua, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở tỉnh Quảng Nam chưa chặt chẽ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao Hạn chế này xuất phát từ nguyên nhân là do đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, thực thi công vụ bảo vệ môi trường chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra hiện nay, còn thiếu về số lượng và chưa đạt về chất lượng

Vì vậy, trước hết cần tiếp tục kiện toàn bộ máy quản lý môi trường từ tỉnh đến cơ sở theo hướng tinh gọn, đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng Cần bỗổ sung vào bộ máy quản lý môi trường ở cấp huyện và cơ sở những cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợp và có nhiều kinh nghiệm thực tế, đề có thể giải quyết tốt các vấn đề môi trường (vì hiện nay cán bộ quản lý môi trường ở cấp huyện và cơ sở còn mỏng, chủ yêu là kiêm nhiệm nên nhiều nơi buông lỏng nhiệm vụ bảo vệ môi trường) Xây dựng Quy chế hoạt động, phân công lại chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể cho đội ngũ cán bộ trong bộ máy để tránh sự chồng chéo, bất cập trong sự phối kết hợp thực thi công vụ bảo vệ môi trường ở các ngành, lĩnh vực như hiện nay

Tiếp tục thực hiện điều chỉnh, hoàn thiện chiến lược và làm tốt công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý môi trường theo từng giai đoạn cụ thể Chú trọng quy hoạch những cán bộ có đủ phâm chất đạo đức, có năng lực chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có nhiều kinh nghiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Có cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ môi trường tại các ngành, địa phương trong tỉnh đề nâng cao trình độ, năng lực quản lý, giải quyết các vấn đề môi trường Đồng thời, có chính sách tuyển dụng, đãi ngộ xứng đáng nhằm khuyên khích, động viên, thu hút những cán bộ có đạo đức công vụ tốt, năng lực chuyên môn giỏi, tỉnh thần trách nhiệm cao với công tác quản lý tài nguyên và môi trường: góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, ngăn ngừa tình trạng quan liêu, tham nhũng, gây phiền hà cho doanh nghiệp và người dân trong thực thi nhiệm vụ bảo vệ môi trường

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ quản lý môi trường thường xuyên, kịp thời Có hình thức biểu dương, khen thưởng những cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; đồng thời, xử lý nghiêm minh theo đúng quy định đối với những cán bộ vi phạm, tiếp tay cho các đối tượng làm thất thoát tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh

Nghiên cứu xây dựng và triển khai Đề án phát triển nguôn nhân lực quản lý môi trường tỉnh Quảng Nam tầm nhìn dài hạn Đề án cần đề ra những định hướng cụ thể, các mục tiêu và giải pháp phù hợp với từng giai đoạn; trong đó, cần tập trung ưu tiên đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên gia, cán bộ khoa học công nghệ và nhóm các kỹ sư có trình độ cao trong lĩnh vực môi trường Thứ hai, tăng cường tiêm lực tài chính để phục vụ cho công tác bảo vệ moi truong Đề thực hiện nội dung này, Quảng Nam cần có chính sách tài chính đủ mạnh đề quản lý có hiệu quả nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước chỉ cho bảo vệ môi trường và có cơ chế huy động các nguồn lực tài chính trong xã hội hội đầu tư cho sự nghiệp bảo vệ môi trường Đối với nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước chi cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, cần được phân bồ lại và sử dụng có hiệu quả hơn Đề tránh tình trạng nguồn kinh phí phân bổ tràn lan, kém hiệu quả, dẫn đến thất thoát trong quá trình sử dụng, việc phân bồ phải xác định rõ ràng, cụ thể từng nội dung, lĩnh vực cần chi Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra quy trình phân bồ, sử dụng và quyết toán kinh phí hằng năm Nâng cao tính minh bạch trong việc giải trình các hạng mục sử dụng kinh phí và báo cáo kinh phí môi trường công khai, khách quan, trung thực Đồng thời, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong việc phân bồ va sử dụng kinh phí Có chế tài xử lý nghiêm minh đối với các tô chức, các nhân sử dụng nguồn kinh phí này không đúng mục đích Nâng cao đạo đức, trách nhiệm của những cán bộ làm công tác quản lý và sử dụng nguôn kinh phí môi trường, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong sử dụng kinh phí

Trong ngắn hạn, cần ưu tiên kinh phí để đầu tư hạ tầng xử lý ô nhiễm môi trường, công tác truyền thông, nâng cấp các cơ sở vật chất kỹ thuật đối với cơ quan quản lý môi trường các cấp, kinh phí triển khai thực hiện Đề án chất thải rắn nông thôn, tăng kinh phí đầu tư cho các dự án xử lý rác thải, nước thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại

Trong dài hạn, cần tăng kinh phí nghiên cứu và nhập khẩu các trang thiết bị khoa học công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường hiện đại, vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao, vừa đảm bảo môi trường tự nhiên được trong lành, hệ sinh thái phát triển bền vững

Trong bối cảnh Quảng Nam còn khó khăn về kinh tế, ngân sách còn hạn hẹp, đê giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, cân đây mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn tài chính đầu tư cho bảo vệ môi trường Việc huy động các nguồn tài chính viện trợ cho sự nghiệp bảo vệ môi trường có ý nghĩa quan trọng trong kiểm soát, ngăn ngừa, giảm thiêu ô nhiễm và suy thoái môi trường do phát triển kinh tế

Tranh thủ tận dụng những cơ hội do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế dem lai dé huy động thêm nhiều dự án, chương trình tài trợ, viện trợ của các tô chức quốc tế, chính phủ các nước cho bảo vệ môi trường, đặc biệt vào các lĩnh vực thu gom, xử lý chất thải, tái trồng rừng, phục hồi môi trường Tổ chức các diễn đàn kêu gọi thu hút đầu tư, có cơ chế trao đồi thông tin, học hỏi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ kỹ thuật bảo vệ môi trường của các nước tiên tiến

Xây dựng cơ chế, chính sách huy động sự tham gia đóng góp của các tô chức, cá nhân, doanh nghiệp, người dân trong và ngoài tỉnh vào công tác bảo

VỆ môi trường Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vốn vào các địch vụ bảo vệ môi trường như: phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn, xử lý nước thải, khí thải, cấp thoát nước, Đồng thời, có chính sách hỗ trợ về thuế, phí, đất và các ưu đãi về dịch vụ công cho các doanh nghiệp

Bên cạnh đó, cần đây mạnh áp dụng các công cụ kinh tế như thuế, phí môi trường, áp dụng các chính sách, cơ chế hỗ trợ về vốn, khuyến khích về thuế, trợ giá đối với hoạt động bảo vệ môi trường, xem đây không chỉ là giải pháp để giảm ô nhiễm và suy thoái môi trường mà còn là phương thức hiệu quả để tăng nguồn tài chính cho công tác bảo vệ môi trường Để thực hiện được nhiệm vụ này cần quán triệt quan điểm chỉ đạo được đề ra trong Nghị quyết số 41 của Bộ Chính trị (khóa IX) về “bảo vệ môi trường trong thời kỳ day mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”: Áp dụng các biện pháp kinh tế trong bảo vệ môi trường: thực hiện nguyên tắc người gây thiệt hại đối với môi trường phải khắc phục, bồi thường Từng bước thực hiện việc thu phí, ký quỹ bảo vệ môi trường, buộc bồi thường thiệt hại về môi trường Áp dụng các chính sách, cơ chế hỗ trợ về vốn, khuyến khích về thuế, trợ giá đối với hoạt động bảo vệ môi trường [3 |

Tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường -s- se: 85 3.2.5 Thúc đây tăng trưởng xanh đề kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, tạo động lực cho phát triển bền vững

Công tác tuyên truyền có tác dụng thay đổi nhận thức trong tư duy, từ đó định hướng hành động đúng đắn C Mác đã khăng định răng, vai trò của tuyên truyền chính là làm cho lý luận thâm nhập vào quan chúng dé qua đó trở thành lực lượng vật chat

Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường là sự nghiệp của cả nước nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng Do đó, tuyên truyền, nâng cao nhận thức là việc làm rất quan trọng Tuyên truyền nhằm mục đích làm thay đổi tư duy, nhận thức sai lầm trong tư tưởng về việc quá coi trọng vai trò tăng trưởng và phát triển kinh tế mà xem nhẹ hoặc buông lỏng quản lý nhà nước về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đồi khí hậu Trên cơ sở đó, nâng cao nhận thức, tạo ra sự thống nhất, đồng thuận và những chuyền biến tích cực trong hành động đề thực hiện tốt việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường Đối tượng tuyên truyền là cả hệ thống chính trị (các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận tô quốc, tô chức chính trị - xã hội), cộng đồng doanh nghiệp, người lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh Cần đặc biệt chú ý tuyên truyền cho đội ngũ cán bộ quản lý tham gia hoạch định chính sách và thực thi công vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường trong các công ty, nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trong các ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế đang hoạt động trên địa bàn Quảng Nam Ngoài ra, cần chú trọng tập trung tuyên truyền ở khu vực miền núi của tỉnh, nơi có nhiều tài nguyên gỗ, khoáng sản quý hiếm, để vận động, giáo dục người dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số không khai thác tài nguyên trái phép, tham gia bảo vệ môi trường

Về nội dung tuyên truyền, cần tập trung chủ yêu vào các vẫn đề: những quan điểm, chủ trương, chính sách của Dang, Nha nước và của tỉnh Quảng Nam về kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường: vai trò và tầm quan trọng của việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên đối với phát triển bền vững của tỉnh và cuộc sống của người dân trong tỉnh; các mô hình sản xuất công nghệ sạch, thân thiện với môi trường; các mô hình xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn theo công nghệ hiện đại, đảm bảo các tiêu chuân kỹ thuật về môi trường; van đề đạo đức sinh thái; sự cần thiết phải chuyền đối sang kinh tế xanh và các nội dung liên quan đến thực hiện tăng trưởng xanh

Về hình thức và phương pháp tuyên truyền cần phong phú, đa dạng Tuyên truyền trực tiếp thông qua đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên băng phương pháp lồng ghép nội dung kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường trong các kỳ Hội nghị Báo cáo viên Tỉnh ủy được tô chức định kỳ hang thang, trong cac buồi báo cáo, thông tin thời su tai cac co quan, don vi, nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh; hoặc tuyên truyền trực quan sinh động với nhiều hình thức như tờ rơi, panô, áp phích, băng rôn, khẩu hiệu, Tuyên truyền gián tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng thông qua các kênh truyền thông, truyền hình như: Báo Quảng Nam, Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Nam, các Đài Phát thanh địa phương, các ấn phẩm (sách, tạp chí, bản tin), các Trang thông tin điện tử của tỉnh

Các cơ quan chức năng liên quan cần tô chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm, cuộc thi tìm hiểu với các chuyên đề: kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường, hướng tới thúc đây tăng trưởng xanh, phát triển bền vững Đồng thời, tổ chức biên soạn các tài liệu tuyên truyền với các nội dung hữu ích và hình thức phong phú, đa dạng lôi cuốn người đọc; tô chức và phát động các phong trào thi đua bảo vệ môi trường trong các cơ quan, doanh nghiệp và người dân trong tỉnh

Công tác tuyên truyền cần phải được thực hiện có chiều sâu, thiết thực, hiệu quả về nội dung, đa dạng và phong phú về phương pháp, nội dung phù hợp với từng đối tượng, tránh mang tính hình thức

3.2.5 Thúc day tăng trưởng xanh để kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, tạo động lực cho phát triển bền vững

Ngày nay, tăng trưởng xanh đã trở thành xu thế tất yếu của thời đại Tăng trưởng xanh không chỉ là sự lồng ghép vấn đề môi trường vào phát triển kinh tế mà nó còn là sự phát triển cân băng, hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế với mục tiêu bảo vệ môi trường Tăng trưởng xanh là cách thức để đạt được mục tiêu phát triển bền vững

Kinh nghiệm thực hiện tăng trưởng xanh của một số quốc gia trên thế giới và một số địa phương trong nước đã chỉ ra rằng: thúc đấy tăng trưởng xanh, chuyên đôi nên kinh tê từ “nâu” sang “xanh” sẽ tạo ra động lực mới cho nên kinh tế, giúp giải quyết đồng thời các vấn đề: thúc đây tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, giảm phát thải khí nhà kính, ngăn chặn thiếu hụt tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái, giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu

Nhìn về tương lai, để đáp ứng và giải quyết những vẫn đề bức thiết đặt ra từ thực tiễn cuộc sông, thực hiện tăng trưởng xanh, chuyển đồi mô hình tăng trưởng kinh tế từ “nâu” sang “xanh” là xu hướng tất yếu đề tỉnh Quảng Nam phát triển bền vững Tuy nhiên, đây là quá trình khó khăn, phức tạp, lâu dài, đòi hỏi không thể thực hiện một sớm một chiều mà cần phải thực hiện từng bước với kế hoạch, lộ trình và cách làm khoa học

Thực hiện “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh” (được phê duyêt tại Quyết định số: 1393/QĐ-TTg, ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ), năm 2015, Quảng Nam đã ban hành Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2015-2020 và tầm nhìn đến năm 2025” (tại Quyết định số: 2975/QĐ-UBND, ngày 21/8/2015) Kế hoạch đề ra 7 nội dung chính:

(1) Định hướng tăng trưởng xanh Quảng Nam; (2) Thực trạng phát triển kinh tế-xã hội và việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đồi khí hậu, phát triển tỉnh Quảng Nam theo hướng tăng trưởng xanh; (3)

Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) của tỉnh

Quảng Nam khi xác định phát triển theo hướng tăng trưởng xanh; (4) Báo cáo kết quả xây dựng đường cong chi phí biên giảm phát thải khí nhà kính

(MACC) đôi với tỉnh Quảng Nam; (5) Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh tỉnh Quảng Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025: (6) Đề xuất dự án trọng điểm và dự án thí điểm của Quảng Nam cho kế hoạch hành động tăng trưởng xanh; (7) Phân công nhiệm vụ các cơ quan của tỉnh và lộ trình thực thi kế hoạch hành động tăng trưởng xanh [39, tr.2]

Tuy nhiên cho đến nay, Kế hoạch này chưa được triển khai thực hiện sâu rong Vay, đề triển khai thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ đã đề ra trong

Kế hoạch, xin đề xuất một số nội dung sau:

Một là, hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy tăng trưởng xanh

Trong hoạch định chính sách, thực hiện rà soát và lồng ghép những nội dung liên quan đến tăng trưởng xanh vào quy hoạch, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và dài hạn; vào thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, ứng phó với biến đối khí hậu, giảm nghèo bên vững, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, vệ sinh an toàn thực phẩm, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, các văn bản pháp luật về tăng trưởng xanh, trong đó chú trọng đến sản xuất cácbon thấp, xanh hóa sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, thay đổi thói quen tiêu dùng và đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện môi trường Nghiên cứu, xây dựng hệ thống các tiêu chí, quy định, tiêu chuẩn về tăng trưởng xanh phù hợp với điều kiện của Quảng Nam Ban hành các quy định cụ thể đề thực hiện tăng trưởng xanh trong sản xuất kinh doanh và tiêu dùng nhăm đảm bảo phát triển kinh tế

Ngày đăng: 07/01/2024, 23:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê Hữu Ái, Nguyễn Tấn Hùng (2010), Giáo trình triết học (dùng cho học viên sau đại học), Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học (dùng cho học viên sau đại học)
Tác giả: Lê Hữu Ái, Nguyễn Tấn Hùng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2010
[3] Bộ Chính trị khóa IX (2004), Nghi quvét s6 41-NO/TW ngay 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đấy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi quvét s6 41-NO/TW
Tác giả: Bộ Chính trị khóa IX
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
[4] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), G7áo frình kinh tế chính trị Mac - Lénin, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: G7áo frình kinh tế chính trị Mac - Lénin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2006
[7] Doãn Chính, Trương Văn Chung, Nguyễn Thế Nghĩa, Vũ Tình (1992), Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại
Tác giả: Doãn Chính, Trương Văn Chung, Nguyễn Thế Nghĩa, Vũ Tình
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1992
[10] Bùi Văn Dũng (2005), “Cơ sở triết học nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường”, 7ạp chí triết học, sô 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở triết học nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
Tác giả: Bùi Văn Dũng
Năm: 2005
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lân thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lân thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
[13] Nguyễn Hùng Hậu (2013), “Tư tưởng của Ăngghen về mối quan hệ con người - tự nhiên”, Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng của Ăngghen về mối quan hệ con người - tự nhiên
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu
Nhà XB: Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam
Năm: 2013
[20] V.I. Lênin (2005), 7oàn tap, t.29, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 7oàn tap
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
[2] Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam (2015), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lân thứ XXI (nhiệm kỳ 2015-2020), Công ty CP In - PHS &amp; TBTH Quảng Nam Khác
[5] Lê Thạc Cán (2009), Giáo #rình kinh tẾ môi trường, Nxb Thông kê, Hà Nội Khác
[8] Cục thống kê Quảng Nam, Các Báo cáo số 556, 576, 502, 488, 526 về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam các năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015 Khác
[9] Cục thống kê tỉnh Quảng Nam (2016), Niên giám thống kê tỉnh Quảng Khác
[11] Dự án VIE/01/021(2004), Kỷ yếu hội nghị toàn quốc về Phát triển bên vững, Hà Nội Khác
[14] Dương Anh Hoàng (2015), Bài giảng triết học xã hội (dùng cho Sau đại học chuyên ngành Triết học), Trường Đại học kinh tế Đà Nẵng Khác
[15] Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam (2016), Nghị quyết số: 14/2016/NÓ- HĐND ngày 19/7/2016 về quy định mức thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định đề án bảo vệ môi trường chỉ tiết trên địa bàn tỉnh,Quảng Nam Khác
[16] Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lên, tư tưởng Hồ Chí Minh (2003), Giáo trình triếthọc Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
[17] Phan Thúc Huân (2006), Giáo trình kinh tế phát triển, Nxb Thông kê, thành phố Hồ Chí Minh Khác
[18] Nguyễn Tan Hùng (2005), Mau thuân - Một số vấn dé lý luận và thực tiên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
[19] Đỗ Trọng Hưng (2015), Kế: hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1.  Tốc  độ  tăng  trưởng  kinh  tế  và  GRDP  bình  quân  đầu  người  tỉnh - luận văn thạc sĩ vận dụng quy luật mâu thuẫn trong giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tỉnh quảng nam hiện nay
ng 2.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế và GRDP bình quân đầu người tỉnh (Trang 44)
Bảng  2.3.  Chúng  loại  và  sản  lượng  khai  thác  khoáng  sản  tỉnh  Quảng  Nam - luận văn thạc sĩ vận dụng quy luật mâu thuẫn trong giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tỉnh quảng nam hiện nay
ng 2.3. Chúng loại và sản lượng khai thác khoáng sản tỉnh Quảng Nam (Trang 51)
Bảng  2.6.  Các  chương  trình,  dự  án  quốc  tế  đầu  tư  cho  lĩnh  vực  bảo  vệ - luận văn thạc sĩ vận dụng quy luật mâu thuẫn trong giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tỉnh quảng nam hiện nay
ng 2.6. Các chương trình, dự án quốc tế đầu tư cho lĩnh vực bảo vệ (Trang 57)
Hình  dân  trí  hiện  nay  liệu  người  dân  có  đu  trình  độ  đề  tư  vấn,  giám  định,  phản  biện  một  chính  sách  nào  đó  không?  Vụ  Fomosa  nếu  trước  khi  đưa  ra  thực  hiện  hỏi  dân - luận văn thạc sĩ vận dụng quy luật mâu thuẫn trong giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tỉnh quảng nam hiện nay
nh dân trí hiện nay liệu người dân có đu trình độ đề tư vấn, giám định, phản biện một chính sách nào đó không? Vụ Fomosa nếu trước khi đưa ra thực hiện hỏi dân (Trang 123)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w