1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Câu hỏi ôn tập và bài tập có đáp án tình huống của luật tố tụng dân sự

262 29 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu Hỏi Ôn Tập Và Bài Tập Có Đáp Án Tình Huống Của Luật Tố Tụng Dân Sự
Định dạng
Số trang 262
Dung lượng 246,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Thế nào là “vụ án dân sự”, “việc dân sự”, “vụ việc dân sự”? Vụ án dân sự là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêu cầu tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó. Vụ việc dân sự là trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự.

Trang 1

CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ BÀI TẬP CÓ ĐÁP ÁN TÌNH HUỐNG

CỦA LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA

LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

1 Thế nào là “vụ án dân sự”, “việc dân sự”, “vụ việc dân sự”?

- Vụ án dân sự là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo quy địnhcủa Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặcthông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại tòa án có thẩm quyền đểyêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

- Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan tổ chức không có tranh chấp nhưng

có yêu cầu tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó

- Vụ việc dân sự là trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân (sau đâygọi là Tòa án) giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự

2 Phân biệt “vụ án dân sự” với “việc dân sự” Vì sao phải phân biệt “vụ án dân sự” với “việc dân sự”?

Chủ thể Cá nhân, tổ chức

Tranh chấp xảy

ra

Có tranh chấp xảy ra Không có tranh chấp xảy ra

Tính chất Là việc giải quyết tranh chấp

về các vấn đề dân sự giữa cánhân, tổ chức này với cá nhân,

tổ chức khác; có nguyên đơn và

bị đơn; Tòa án giải quyết trên

Là việc riêng của cá nhân, tổchức, không có nguyên đơn,

bị đơn mà chỉ có người yêucầu Tòa án giải quyết, từ yêucầu của đương sự, Tòa án

1

Trang 2

cở bảo vệ quyền lợi của người

có quyền và buộc người cónghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ

công nhận quyền và nghĩa vụcho họ

Hình thức giải

quyết của chủ

thể

Khởi kiện tại tòa Yêu cầu Tòa án công nhận

hoặc không công nhận một sựkiện pháp lý nào đó là căn cứphát sinh quyền và nghĩa vụdân sự

Xác minh, ra quyết định,tuyên bố theo yêu cầu của cánhân, tổ chức

Trình tự, thời

gian giải quyết

- Trình tự, thủ tục nhiều, chặtchẽ hơn giải quyết việc dân sự

- Giải quyết vụ án dân sự phải

mở phiên tòa

- Trình tự giải quyết gọngàng, đơn giản, thời gian giảiquyết nhanh

- Giải quyết việc dân sự bằngviệc mở phiên họp công khai

để xét đơn yêu cầu

Thành phần

giải quyết

Thẩm phán, Hội thẩm nhândân, Viện Kiểm sát

Thẩm phán (có thể 1 hoặc 3thẩm phán tùy từng vụ việcdân sự), Viện Kiểm sát, Trọngtài Thương mại (nếu yêu cầu

2

Trang 3

liên quan đến việc Trọng tàiThương mại Việt Nam giảiquyết tranh chấp theo quyđịnh của pháp luật về trọng tàithương mại) theo khoản 2Điều 31 của BLTTDS 2015.

Người yêu cầu và người cóquyền lợi nghĩa vụ liên quan.Các đương sự không có sự đốikháng với nhau về mặt lợi ích

Kết quả giải

quyết

Tuyên bằng bản án Tuyên bằng quyết định

- Cần phải phân biệt “vụ án dân sự” với “việc dân sự” vì vụ án dân sự vàviệc dân sự khác nhau, nên quy trình, thủ tục giải quyết vụ án dân sự thườngphức tạp hơn, tốn thời gian và tiền bạc hơn so với việc dân sự

1 Nêu và phân tích các nguyên tắc cơ bản đặc thù trong tố tụng dân sự.

Nguyên tắc cơ bản đặc thù trong tố tụng dân sự bao gồm:

3

Trang 4

- Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự

- Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

- Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự

Với nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự thì nguyên tắc này là mộttrong những nguyên tắc quan trọng của luật tố tụng hình sự Quyền tự định đoạtcủa đương sự là quyền của đương sự trong việc tự quyết định về quyền, lợi íchcủa họ và lựa chọn biện pháp pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích đó TạiĐiều 5 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về Quyền quyết định và tự địnhđoạt của đương sự:

“1 Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩmquyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi

có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơnkhởi kiện, đơn yêu cầu đó

2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thayđổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không viphạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.”

Cơ sở của nguyên tắc này chính là từ quyền tự định đoạt trong quan hệ dân

sự Các quan hệ dân sự đều phát sinh, xác lập, thay đổi hay chấm dứt trênnguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận giữa các bên tham gia Mà Luật Tố tụngDân sự là luật quy định về trình tự, thủ tục để giải quyết những yêu cầu, tranhchấp phát sinh từ quan hệ pháp luật nội dung (quan hệ pháp luật dân sự nóichung) nên nó luôn gắn liền với pháp luật nội dung Từ đó, pháp Luật Tố tụngDân sự quy định về quyền tự định đoạt của đương sự

Đầu tiên, nguyên tắc này xác định quyền của đương sự tự quyết định vềviệc tham gia tố tụng dân sự, đó chính là các chủ hoàn toàn tự quyết về việc cókhởi kiện vụ án dân sự hoặc yêu cầu giải quyết việc dân sự hay không? Các chủthể có thể tự mình thực hiện quyền này hoặc thông qua người đại diện hợp pháp

để thực hiện quyền Bên cạnh quyền khởi kiện thì nguyên tắc này còn được thể

4

Trang 5

hiện thông qua việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn và quyền đưa ra yêu cầuđộc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trong quá trình tố tụng, cácđương sự có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của mình trong các giai đoạnchuẩn bị xét xử và tại phiên tòa xét xử Bên cạnh đó, các đương sự hoàn toàn cóquyền tự quyết trong việc hòa giải, tự thỏa thuận…

Việc ghi nhận quyền tự định đoạt của đương sự là một nguyên tắc, Luật Tốtụng Dân sự đã đảm bảo cho đương sự được đảm bảo quyền, lợi ích của mình.Đồng thời, nguyên tắc này cũng xác định rõ ràng trách nhiệm của Tòa án là phảiđảm bảo quyền lợi tốt nhất về quyền, lợi ích của đương sự Và nguyên tắc nàycũng tạo điều kiện cho đương sự có thể tìm được cho mình một phương thức đểgiải quyết tranh chấp một cách hiệu quả

Với nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự thìTại Điều 6 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về nguyên tắc cung cấpchứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự như sau:

“1 Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ choTòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp

Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứngminh như đương sự

2 Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉtiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật nàyquy định.”

Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự xácđịnh khi đưa yêu cầu hay bác bỏ yêu cầu của người khác, đương sự có quyền,nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh để làm rõ căn cứ yêu cầu của mình haycăn cứ bác bỏ yêu cầu của người khác Trước tiên là đối với người khởi kiện khikhởi kiện thì có quyền, nghĩa vụ chứng minh cho việc thực hiện quyền yêu cầu,quyền khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp Và nếu bị đơn không chấp

5

Trang 6

nhận yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn cũng phải đưa ra các chứng cứ đểchứng minh cho sự phản đối đó.

Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì cũng có quyền, nghĩa vụ cung cấpchứng cứ và chứng minh như đương sự Mặc dù các cơ quan, tổ chức, cá nhânkhông có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc có tranh chấp nhưng các

cơ quan, tổ chức, cá nhân đó là chủ thể đưa ra yêu cầu nên họ cũng phải chứngminh cho yêu cầu của mình đó là có căn cứ và hợp pháp

Tòa án chỉ hỗ trợ đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong trườnghợp họ không thể tự mình thực hiện được và trong những trường hợp pháp luậtquy định Trường hợp các đương sự không cung cấp, giao nộp chứng cứ hoặcđưa ra không đủ chứng chứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo chứng cứ

đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc và do Tòa án thu thập được

Với nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự thì nguyên tắc này là mộtnguyên tắc cơ bản và đặc trưng trong Tố tụng dân sự Nguyên tắc xác định tráchnhiệm của Tòa án trong việc hòa giải vụ việc dân sự và tạo điều kiện thuận lợicho các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự trên cơ

sở tự nguyện (tự nguyện tham gia hòa giải, tự nguyện về nội dung hòa thỏathuận), nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạođức xã hội Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 10 Bộ Luật Tố tụng Dân sự2015: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi đểcác đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quyđịnh của Bộ luật này.”

Nguyên tắc này được thể hiện trong giai đoạn chuẩn bị giải quyết vụ việc,Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải cho các đương sự (Khoản 1 Điều 205

Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015) thông qua phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếpcận, công khai chứng chứ và hòa giải Trong thủ tục hòa giải, Tòa án đóng vaitrò là một bên trung gian, độc lập giúp các đương sự thương lượng, thỏa thuận

về việc giải quyết vụ việc dân sự Tại phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc,

6

Trang 7

Tòa án tạo điều kiện tốt nhất cho các đương sự có thể thỏa thuận với nhau vềviệc giải quyết vụ việc.

Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự có ý nghĩa rất lớn cho việc giảiquyết vụ việc dân sự Đó là cơ hội để các bên cùng thỏa thuận để giải quyết triệt

để vụ việc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành án Đồng thời, cũng giúpcho hoạt động giải quyết vụ việc dân sự tại tòa án thêm hiệu quả, linh hoạt hơn

2 Phân tích nguyên tắc “hòa giải trong tố tụng dân sự”

Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng

vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận khôngphù hợp với ý chí của mình;

b) Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm củaluật, không trái đạo đức xã hội

Thứ nhất, hòa giải phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắtbuộc, áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải Theo quy định tại Điều

205 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định Như vậy, khi các đương sự đã tựnguyện thỏa thuận tức là các đương sự tự lựa chọn quyết định các vấn đề tranhchấp bằng hòa giải và thương lượng, thỏa thuận với nhau giải quyết các vấn đềcủa vụ án

Thứ hai, hòa giải phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật, nộidung thỏa thuận không trái với pháp luật, đạo đức xã hội

Khi tòa án tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án dân sự ngoài yếu tố tựnguyện thỏa thuận của các đương sự thì việc tòa án hòa giải còn phải thỏa mãncác điều kiện: tuân thủ đúng trình tự, thủ tục hòa giải; phạm vi hòa giải theopháp luật quy định; nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được trái phápluật hoặc đạo đức xã hội

7

Trang 8

Thứ ba, hòa giải phải tích cực, kiên trì nhằm đạt được kết quả hòa giải.Tích cực để có thể giải quyết được nhanh chóng vụ án, không để việc hòa giảikéo dài vô ích khi không có khả năng hòa giải nhưng lại phải kiên trì giải thíchcho đương sự hiểu rõ pháp luật áp dụng giải quyết vụ án và đi sâu giải quyết cácmắc mớ trong tâm tư tình cảm của họ.

3 Phân tích nguyên tắc “bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự”.

Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS được cụ thể hóaquy định tại Điều 16 Hiến pháp 2013: “Mọi người đều bình đẳng trước phápluật” Nguyên tắc này khẳng định vị trí của “mọi người”, mọi cơ quan, tổ chứctrong TTDS là như nhau, không ai, không cơ quan, tổ chức nào có quyền đứngtrên pháp luật để được hưởng những ưu tiên, ưu đãi cũng như không ai bị phânbiệt đối xử về dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghềnghiệp, địa vị xã hội của mình và các dấu hiệu khác Để bảo đảm việc giải quyết

vụ việc dân sự được khách quan đúng pháp luật thì giữa các đương sự phải đượcbình đẳng về quyền và nghĩa vụ TTDS Bên này được đưa ra yêu cầu chứng cứ,

lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, thì bên kia cũng phải đượcđưa ra yêu cầu, chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.Nguyên tắc này là tiền đề chủ yếu để thực hiện tranh tụng trong TTDS tại phiêntòa

Nội dung cơ bản của nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trongTTDS xác định khi tham gia tố tụng và các đương sự bình đẳng với nhau trongviệc thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS, Tòa án có trách nhiệm thực hiệnnhững biện pháp do luật định để các đương sự được thực sự bình đẳng với nhautrong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ

Tuy nhiên, Điều này chỉ nói về sự bình đẳng của mọi người và cơ quan, tổchức trong TTDS với tư cách là các bên, những người tham gia tố tụng Điềunày không nói rằng những người tham gia tố tụng bình đẳng với cơ quan tiếnhành tố tụng hay người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, ở đây cơ quan, người

8

Trang 9

có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theoquy định của pháp luật, họ phải có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳngtrong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trongTTDS Họ không được gây cản trở, gây khó khăn, lạm quyền hoặc dùng nhữnghành vi làm ảnh hưởng đến quyền bình đẳng của mọi người, cơ quan, tổ chứctrong TTDS.

Như vậy, Điều luật đã khẳng định được chân lý của BLTTDS đó chính làkhi tham gia tố tụng mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, cơ quan, tổ chức,

cá nhân đều có quyền bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụngtrước Tòa án cũng như Tòa án, Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hiện quyền vànghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong TTDS

4 Phân tích nguyên tắc “cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự” Cho ví dụ minh họa.

- Nguyên tắc cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự:

Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và các cơquan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tốtụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định

và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ

án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợppháp

Thứ nhất, về nguồn của chứng cứ

Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định khá rõ chứng cứ đượcthu thập từ các nguồn: Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử;Vật chứng; Lời khai của đương sự; Lời khai của người làm chứng; Kết luật giámđịnh; Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; Kết quả định giá tài sản, thẩm địnhgiá tài sản; Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức nănglập; Văn bản công chứng, chứng thực; Các nguồn khác mà pháp luật quy định.Thứ hai, về xác định chứng cứ

9

Trang 10

Trên cơ sở kế thừa Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005, sửa đổi bổ sung năm

2011, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định các tài liệusau đây được coi là chứng cứ của vụ việc dân sự: Tài liệu đọc được nội dung làbản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan,

tổ chức có thẩm quyên cung cấp, xác nhận; Tài liệu nghe được, nhìn được đượcxuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu nếu họ tự thu âm, thuhình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình vềxuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản của sự việc liên quan tới việc thu âm, thuhình đó; Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữliệu điện tử, chứng cứ điện tử, thu điện tử, điện tín, điện báo, Fax và các hìnhthức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử; Vật chứng

là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc; Lời khai của đương sự,lời khai của người làm chứng được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm,băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy địnhhoặc khai bằng lời tại phiên tòa; Kết luận giám định nếu việc giám định đó đượctiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định; Biên bản ghi kết quả thẩmđịnh tại chỗ được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định; Kết quảđịnh giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được tiến hành theo đúng thủ tục

do pháp luật quy định; Văn bản ghi nhận, hành vi pháp lý do người có chứcnăng lập tại chỗ được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định như vibằng của Thừa phát lại; Văn bản công chứng, chứng thực được thực hiện theođúng thủ tục do pháp luật quy định; Các nguồn khác mà pháp luật có quy địnhđược xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định

Thứ ba, giao nộp tài liệu, chứng cứ

Giao nộp tài liệu, chứng cứ là quyền và nghĩa vụ của đương sự, việc giaonộp tài liệu, chứng cứ là một trong những nội dung quan trọng của tranh tụngcho nên đương sự phải giao nộp đầy đủ và công khai các tài liệu, chứng cứ, trừtrường hợp quy định được giũ bí mật Xuất phát từ quan điểm đó, Điều 96 Bộluật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định như sau:

10

Trang 11

+ Đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòaán: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự phải giao nộp tàiliệu, chứng cứ liên quan; Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưabảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giaonộp bổ sung tài liệu, chứng cứ Đương sự phải giao nộp, nếu đương sự khônggiao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu màkhông có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự

đã giao nộp và Tòa án đã thu thập để giải quyết vụ việc dân sự

+ Thủ tục giao nộp tài liệu, chứng cứ: Đương sự giao nộp tài liệu, chứng

cứ thì Tòa án phải lập biên bản; Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức,nội dung, đặc điểm của tài liệu, chứng cứ; số bản, số trang của chứng cứ và thờigian ghi nhận, chữ ký hoặc điểm chỉ của ngươi giao nộp, chữ ký của người nhận

và dấu của Tòa án; Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụviệc dân sự và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ

+ Đương sự giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ bằng tiếng dân tộcthiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt, được côngchứng, chứng thực hợp pháp

+ Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ: Do Thẩm phán được phân cônggiải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xửtheo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết vụ việc dân sự theo quy địnhcủa Bộ luật này; Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủtục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, đương sự mớicung cấp, giao nộp chứng cứ: trường hợp, Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưngđương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải chứngminh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó; Đối với tài liệu, chứng

cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ

mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục

sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiênhọp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giảiquyết vụ việc dân sự

11

Trang 12

+ Gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác: Khi đương sự giao nộp tàiliệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sựkhác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác; trừ tài liệu chứng cứđược giữ bí mật theo luật định hoặc tài liệu, chứng cứ không thể sao gửi đượcthì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự khác hoặc người đại diện hợppháp của đương sự khác.

Thứ tư, xác minh, thu thập chứng cứ

Để phù hợp với mô hình tố tụng “xét hỏi kết hợp tranh tụng”, Bộ luật Tốtụng dân sự năm 2015 đã quy định rõ ràng quyền thu thập chứng cứ của cơquan, tổ chức, cá nhân để chuẩn bị nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc trongquá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đồng thời quy định rõ trách nhiệm,quyền hạn của người tiến hành tố tụng đối với việc xác minh, thu thập chứng cứnhằm bảo đảm có đủ căn cứ khi giải quyết vụ việc dân sự, cụ thể:

a) Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình thu thập tài liệu, chứng

cứ (không dùng từ “đương sự” để cho phép họ có quyền thu thập tài liệu, chứng

cứ cho việc chuẩn bị hồ sơ gửi kèm theo đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và cả trongquá trình giải quyết vụ việc) bằng những biện pháp sau: Thu thập vật chứng;Xác định người làm chứng và lấy xác định của người làm chứng; Yêu cầu cơquan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quanđến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quảnlý; Yêu cầu Uỷ ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng;Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tàiliệu, chứng cứ; Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tàisản; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công việc khác theo quy địnhcủa pháp luật

b) Theo quy định cụ thể của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cóthể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ:Lời khai của đương sự, người làm chứng; Đối chất giữa các đương sự với nhau,giữa đương sự với người làm chứng; Trưng cầu giám định; Định giá tài sản;Xem xét, thẩm định tại chỗ; Uỷ thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; Yêu

12

Trang 13

cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặchiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự; Xác minh sự có mặthoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú; Các biện pháp khác theo quy địnhcủa Bộ luật này.

Khi tiến hành các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ, Tòa án phải raquyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án Trường hợp lấy lời khaicủa đương sự, người làm chứng; đối chất giữa các đương sự với nhau, giữađương sự với người làm chứng thì không phải ra quyết định

Việc quy định như trên nhằm thể hiện vai trò, trách nhiệm của Tòa án trongxác minh thu thập chứng cứ trong trường hợp rất cần thiết cho việc giải quyết vụ

án, đồng thời cũng khẳng định rõ không phải mọi thu thập chứng cứ đều do Tòa

án chủ động thực hiện, như: “Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sựkhi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng”.c) Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, Thẩm tra viên có thể tiến hànhcác biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ sau đây:

(1) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;

(2) Yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìnđược hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự;

(3) Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú

Khi thẩm tra viên tiến hành yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọcđược, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụviệc dân sự thì Tòa án phải ra quyết, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu Tòa án.d) Trách nhiệm thông báo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án:Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày tòa án thu thập được tài liệu, chứng

cứ, Tòa án phải thông báo về tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự để họ thực hiệnquyền, nghĩa vụ của mình

đ) Viện kiểm sát có quyền và trách nhiệm thu thập tài liệu, chứng cứ để bảođảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giámđốc thẩm, tái thẩm

Thứ năm, trưng cầu giám định, yêu cầu giám định

13

Trang 14

Để phù hợp với quy định của Luật Giám định tư pháp, ngoài việc đương sự

có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định như quy định của Bộ luật Tố tụngdân sự năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định khi đương sự

đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương

sự thì đương sự có thể yêu cầu giám định Quyền yêu cầu giám định được thựchiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm,quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự

Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kếtluận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trườnghợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Luật Giám định tư pháp.Thứ sáu, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định Tòa án ra quyết định định giátài sản và thành lập Hội đồng định giá khi thuộc trường hợp đương sự có yêucầu hoặc các bên thỏa thuận với nhau theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi

có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhànước Trong thực tế có rất nhiều vụ án, đương sự không thỏa thuận được giá đốivới tài sản đang tranh chấp nhưng không có đương sự nào yêu cầu Tòa án raquyết định định giá nên không thể định giá đối với tài sản đang tranh chấp làmcho Tòa án lúng túng trong việc giải quyết vụ án Vì vậy, để khắc phục vướngmắc đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định trong trường hợpcác đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa

ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản thì Tòa án raquyết định định giá tài sản

- Nguyên tắc cung cấp chứng minh trong tố tụng dân sự

Quy định rõ về nghĩa vụ chứng minh đối với các đương sự là một trongnhững nội dung quan trọng trong tố tụng dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 là nhằm làm cơ sở cho các đương sự xác định những nghĩa vụ của mìnhkhi đưa ra yêu cầu, thực hiện tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân

sự Nếu đương sự không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho

14

Trang 15

yêu cầu của mình là có căn cứ và Tòa án không thể thu thập chứng cứ có đượcthì có khả năng đương sự sẽ bị Tòa án tuyên bác yêu cầu Đồng thời trong quátrình giải quyết phải bảo đảm cho người yếu thế không thể cung cấp được tàiliệu, chứng cứ vẫn có điều kiện thực hiện việc tranh tụng, bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của mình cho nên có một số trường hợp cụ thể nghĩa vụ chứngminh phải thuộc về người bị yêu cầu (bị đơn) Vì vậy, Bộ luật Tố tụng dân sựnăm 2015 (Điều 91) đã quy định rất cụ thể về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụngdân sự:

Thứ nhất, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ đểchứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp sauđây thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người bị yêu cầu:

– Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổchức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tổ chức, cá nhân kinh doanh hànghóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hạitheo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

– Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp,giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang

do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có tráchnhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án

– Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao độngthuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơnphương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luậtlao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thìnghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động

– Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh

15

Trang 16

Thứ hai, đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thểhiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu,chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.

Thứ ba, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng,lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củangười khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ đểchứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp

Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa

vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quyđịnh của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Thứ tư, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà khôngđưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụviệc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc

Tuy nhiên, bên cạnh nghĩa vụ phải chứng minh thì Bộ luật Tố tụng dân sựnăm 2015 cũng quy định cụ thể những tình tiết, sự kiện không cần phải chứngminh: (1) Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết được và đượcTòa án thừa nhận; Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyếtđịnh của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật; Những tình tiết, sự kiện đã được ghitrong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp; trường hợp có dấuhiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính kháchquan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương

sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính; (2)Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tàiliệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thìbên đương sự đó không phải chứng minh; (3) Đương sự có người đại diện thamgia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận củađương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện

16

Trang 17

Như vậy, chứng cứ, chứng minh trong trong tố tụng dân sự đóng một vaitrò rất quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án; để xác địnhchứng cứ nào là có thật, giúp cho việc giải quyết vụ án được đúng đắn, kháchquan, đòi hỏi Kiểm sát viên và Thẩm phán phải có trình độ nghiệp vụ, có kiếnthức xã hội và khả năng nhạy bén trong quá trình xác minh, thu thập, đánh giáchứng cứ và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có những quy định phù hợpvới thực tế, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

5 Phân biệt “nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của nguyên đơn” với “nghĩa

vụ cung cấp chứng cứ của bị đơn” Vì sao có sự khác biệt đó?

Khi nguyên đơn đưa ra yêu cầu bằng cách khởi kiện thì họ có nghĩa vụcung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợppháp, bị đơn đưa ra yêu cầu bác bỏ ý kiến của nguyên đơn thì họ có cũng cónghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho việc bác bỏ đó là có căn cứ

Có sự khác biệt vì nhằm bảo vệ lợi ích cho cả bên nguyên đơn và bị đơn

6 Phân tích nguyên tắc “quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự” Cho ví dụ minh họa.

Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS là một trongnhững nguyên tắc cơ bản và quan trọng để họ tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợppháp của chính mình trong quá trình tham gia tố tụng Đây được xem là nguyêntắc có cội nguồn từ các nguyên tắc trong giao lưu dân sự Trong đó các quan hệdân sự được xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận,

tự chịu trách nhiệm và bình đẳng giữa các chủ thể

Xuất phát từ khái niệm quyền tự định đoạt của đương sự: “Là một quyền tốtụng được quy định trong pháp luật TTDS, theo đó đương sự có quyền tự quyếtđịnh về việc tham gia TTDS, tự quyết định và sử dụng những biện pháp cầnthiết mà pháp luật trao cho nhằm bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp tạiTòa án theo quy định của pháp luật” Từ đó cho thấy, nguyên tắc quyền tự địnhđoạt của đương sự chính là sự ghi nhận về mặt nội dung quyền tự định đoạt củađương sự trong TTDS, đây được xem là những quyền năng cơ bản của các

17

Trang 18

đương sự khi tham gia vào hoạt động tố tụng, chính vì vậy pháp luật quy địnhquyền tự định đoạt của đương sự là một trong nhưng nguyên tắc cơ bản và quantrọng đối với đương sự nói riêng và trong hoạt động TTDS nói chung.

Từ những phân tích trên, có thể rút ra một kết luận: “Nguyên tắc quyền tựđịnh đoạt của đương sự trong TTDS là một trong những nguyên tắc cơ bản củaluật tố tụng dân sự Việt Nam, theo đó đương sự có quyền tự do thể hiện ý chícủa mình trong việc lựa chọn thực hiện các hành vi tố tụng nhằm bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp của mình, quyết định các quyền, lợi ích của mình trong quátrình giải quyết vụ việc dân sự và trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảmcho đương sự thực hiện được quyền tự định đoạt của họ trong TTDS”

Mặc dù, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS là sự thểhiện ý chí tự do của đương sự trong việc giải quyết tranh chấp nhưng không cónghĩa là đương sự được phép sử dụng nó một cách tùy tiện mà phải được thựchiện trong khuôn khổ của pháp luật

Ý nghĩa của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dânsự

Nguyên tắc quyên tự định đoạt của đương sự trong TTDS là một trongnhững nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Ngoài những ý nghĩachung là bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, là cơ sở để xây dựng và thực hiệncác quy phạm khác của pháp luật TTDS thì nguyên tắc này còn mang những ýnghĩa riêng của nó:

Thứ nhất, việc Nhà nước thể chế hóa quyền tự định đoạt của đương sự làmột nguyên tắc quan trọng trong pháp luật TTDS là sự khẳng định pháp luậtthực sự đã ghi nhận và bảo đảm cho các đương sự có điều kiện bằng hành vi củamình quyết định quyền, lợi ích hợp pháp của họ và việc thực hiện các quyền,nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của của chính mình

Thứ hai, bên cạnh việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sựthì nguyên tắc này còn có ý nghĩa trong việc xác định rõ trách nhiệm của Tòa ántrong việc bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự, tòa án chỉ tiến hành giảiquyết vụ việc dân sự khi có yêu cầu của đương sự, điều đó đồng nghĩa với việc

18

Trang 19

Tòa án sẽ không được xem xét và giải quyết vụ việc dân sự khi không có yêucầu của đương sự Quy định trên đã góp phần giúp Tòa án xác định được tráchnhiệm của mình trong việc thực hiện chức năng xét xử.

Thứ ba, hoạt động xét xử có vai trò rất lớn trong việc ổn định trật tự phápluật, giữ vững kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích của mọi người… Việcquy định nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS càng khẳngđịnh quan điểm nhất quán của nhà nước ta đó là đương sự được quyền tự do thểhiện ý chí của mình bằng việc tự mình lựa chọn các hành vi tố tụng nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình Nhờ đó mà các hoạt động xét xử đảm bảođược tính đúng đắn, khách quan và phát huy được vai trò của hoạt động này đốivới việc ổn định trật tự kỉ cương xã hội

Ví dụ: Ông Thắng xây cây cầu trên phần đất của bà Thương nhưng chưađược sự đồng ý của bà Thương Sau đó hai bên xảy ra cự cãi, ông Thắng khôngđồng ý phá vỡ cây cầu Vì vậy bà Thương đã viết đơn khởi kiện lên tòa án, yêucầu tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc Trong quá trình tòa án thụ lý giảiquyết vụ việc, ông Thắng và bà Thương đã thỏa thuận được nên ông Thắng phá

vỡ cây cầu vì vậy Thương đã rút đơn khởi kiện không yêu cầu khởi kiện đối vớiông Thắng

7 Phân tích nguyên tắc “bảo đảm tranh tụng trong xét xử”.

- Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử:

Tranh tụng xuất hiện từ những giai đoạn khởi tố đầu tiên để việc tiến hànhtranh tụng và hoạt động tranh tụng được thực hiện có hiệu quả Tại giai đoạn xét

xử tranh tụng được thể hiện giữa bên buộc tội và bên gỡ tội cùng với bên xét xử,giải quyết vụ án

Bảo đảm tranh tụng là hoạt động nâng cao chất lượng xét xử, triệt tiêunhững hạn chế và bất cập, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sựhiệu quả hơn Đảm bảo tranh tụng trong xét xử giúp các chủ thể tham gia tố tụng

có thể thuận tiện và dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm, vẫn dụng và áp dụng phápluật vào vụ án

19

Trang 20

- Nội dung của nguyên tắc Bảo đảm tranh tụng trong xét xử:

Nội dung của nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử được quy địnhtại điều 24 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 như sau:

“Điều 24 Bảo đảm tranh tụng trong xét xử

1 Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm,phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này

2 Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cóquyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự

và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày,đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật ápdụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầucủa người khác theo quy định của Bộ luật này

3 Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ,khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theoquy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này Tòa án điều hành việc tranhtụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án,quyết định.”

Tranh tụng không chỉ đặt ra trong giai đoạn xét xử mà nó xuyên suốt cảmột quá trình tố tụng kể từ giai đoạn bắt đầu cho đến khi vụ án kết thúc

Để đảm bảo tranh tụng xét xử được hoạt động hiệu quả thì chủ thể buộc tội(Điều tra viên, Kiểm sát viên, Tòa án và các chủ thể có nghĩa vụ, quyền lợi liênquan) và chủ thể bên gỡ tội – người bị buộc tội (người bị giữ trong trường hợpkhẩn cấp, người bị bắt; người bị tạm giữ; bị can; bị cáo) phải bình đẳng với nhautrong việc thực hiện nghĩa vụ của mình Sự bình đẳng của các chủ thể tố tụnggiúp các chủ thể thực hiện được quyền của mình và bảo vệ được các lợi ích hợppháp

20

Trang 21

Ngoài ra, việc thực hiện tranh tụng sẽ hiệu quả hơn khi bảo đảm được sựkhách quan tại phiên tòa xét xử Sự thể hiện được thông qua việc công khaichứng cứ tại phiên tòa; việc đánh giá, kiểm chứng và sử dụng chứng cứ đượcthực hiện công khai.

Thực hiện được hiệu quả những vấn đề đó thì hoạt động xét sử sẽ hạn chếcác hoạt động vi phạm tố tụng, hoặc những sai lầm, sơ xuất không đáng có trongquá trình giải quyết vụ án, đưa ra phán quyết nghiêm minh, công bằng, tránh bỏlọt tội phạm và kết án oan người vô tội

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm là một trong nhữngnguyên tắc về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân được Hiến pháp năm

2013 quy định Có thể hiểu việc áp dụng nguyên tắc này phải được pháp luật ghinhận, cụ thể hóa trong hoạt động tố tụng xét xử của Tòa án nhân dân ở các lĩnhvực: hình sự, dân sự và hành chính Muốn hiểu rõ về nguyên tắc này, trước hếtcần phải hiểu “tranh tụng” là gì?

Theo Từ điển tiếng Việt, “tranh tụng” có nghĩa là kiện cáo lẫn nhau Theonghĩa Hán Việt thì thuật ngữ tranh tụng được ghép từ 2 từ “tranh luận” và “tốtụng” Tranh tụng là tranh luận trong tố tụng Trong tố tụng bao giờ cũng có sựtham gia của các bên có quyền và (hoặc) lợi ích trái ngược nhau yêu cầu Tòa ánphân xử Để có cơ sở cho Tòa án có thể phân xử, pháp luật quy định cho các bêntham gia tố tụng quyền khởi kiện vụ việc ra trước Tòa án, chứng minh và tranhluận để bảo vệ yêu cầu của mình Như vậy, tranh tụng bao giờ cũng gắn liền vớihoạt động tài phán của Tòa Theo đó, tranh tụng là hoạt động của các bên thamgia xét xử đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận lại để bác bỏ một phầnhoặc toàn bộ quan điểm của phía bên kia; là cơ sở để Tòa án đánh giá toàn bộnội dung vụ án và đưa ra phán quyết cuối cùng đảm bảo tính khách quan, đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật

Tuy nhiên, vấn đề tranh tụng vẫn còn có nhiều quan điểm, nhận thức khácnhau Đến nay, chúng ta chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụthể vấn đề “tranh tụng” “Tranh tụng” là nguyên tắc hay một thủ tục trong tố

21

Trang 22

tụng cũng chưa được xác định rõ ràng Thuật ngữ “tranh tụng” chỉ mới được đềcập trong các văn bản của Đảng và trong các tài liệu hội thảo nên hiện còn nhiềucách hiểu, nhận thức về “tranh tụng”, ngay cả Bộ luật tố tụng hình sự cũng chỉ

có quy định về tranh luận là một giai đoạn của xét xử mà chưa có quy định thếnào là “tranh tụng” Bản chất và mục đích yêu cầu của tranh tụng là quá trìnhxác định sự thật khách quan về vụ án, bảo đảm các phán quyết là đúng đắn vàchính xác Phiên tòa xét xử là cuộc điều tra công khai, thực hiện bằng lời nóigồm có phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, phần xét hỏi, phần tranh luận, nghị án vàtuyên án Tranh luận là giai đoạn các bên trình bày luận điểm của mình vềnhững vấn đề đã được thẩm tra làm rõ ở giai đoạn trước, trên cơ sở đối chiếu vớinhững quy định của pháp luật đề xuất hướng xử lý phù hợp Kiểm sát viên trìnhbày quan điểm luận tội, tranh luận đối đáp về những vấn đề mà bị cáo, ngườibào chữa, người tham gia tố tụng khác đưa ra; và ngược lại bị cáo hoặc ngườibào chữa trình bày lời bào chữa, ý kiến phản bác đối với luận tội, đối đáp các ýkiến của kiểm sát viên và chủ thể khác có liên quan Hội đồng xét xử là “trọngtài” điều hành việc tranh luận, đối đáp theo trình tự tố tụng nhằm làm rõ sự thậtkhách quan của vụ án Như vậy, quá trình tranh tụng được tiến hành thông quahoạt động của các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên bào chữa và Tòa án với bachức năng tương ứng: buộc tội, bào chữa và xét xử

Cụm từ “tranh tụng” được xuất hiện đầu tiên tại văn kiện của Đảng, cụ thể

là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2001 của Bộ Chính trị Nghị quyết cóxác định quan điểm chỉ đạo hoạt động đối với Tòa án nhân dân là: “Khi xét xửcác Tòa án phải bảo đảm cho mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực

sự dân chủ, khách quan, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuântheo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quảtranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ýkiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bịđơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết địnhđúng pháp luật, có tính thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định” Thểchế hóa quan điểm chỉ đạo nêu trên của Đảng, Tố tụng Hình sự, Tố tụng Dân sự,

22

Trang 23

và Tố tụng hành chính đã sửa đổi bổ sung về các nội dung “tranh tụng” theođịnh hướng mà Nghị quyết số 08 của Bộ chính trị đã xác định.

Như vậy, từ những diễn giải nêu trên, có thể hiểu “Tranh tụng” là hoạtđộng của các bên tham gia xét xử đưa ra các quan điểm của mình và tranh luậnlại để bác bỏ một phần hoặc toàn bộ quan điểm của phía bên kia Tranh tụng là

cơ sở để Tòa án đánh giá toàn bộ nội dung vụ án và đưa ra phán quyết cuối cùngđảm bảo tính khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Vậy, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo, có nội dung:

Hoạt động xét xử phải bảo đảm tranh tụng giữa Kiểm sát viên, bị hại,nguyên đơn dân sự với bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự, giữa các đương sựvới nhau và những người này có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tàiliệu, đồ vật, yêu cầu, đưa ra các luận điểm, luận cứ, luận chứng của mình, bìnhđẳng trong việc đối đáp, tranh luận, chứng minh bác bỏ quan điểm lẫn nhau Cáchoạt động tranh tụng diễn ra trên tinh thần trách nhiệm, trên cơ sở chứng cứkhách quan và quy định của pháp luật, các bên tôn trọng lẫn nhau Tòa án cótrách nhiệm bảo đảm các điều kiện theo quy định của pháp luật để họ thực hiệnđầy đủ các quyền và nghĩa vụ trong việc tranh tụng Bản án, quyết định của Tòa

án phải căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh tụng và những chứng cứ đã được kiểmtra, đánh giá tại phiên tòa, đảm bảo cho việc xét xử là khách quan, minh bạch,công bằng và dựa trên công lý

8 Phân tích nguyên tắc “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự”.

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là giám sát, kiểm tra tínhhợp pháp và tính có căn cứ đối với hành vi của các chủ thể tiến hành và tham gia

tố tụng, đối với văn bản áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dân sự của chủ thểtiến hành tố tụng và đó là hình thức thực hiện quyền lực Nhà nước, một trong

23

Trang 24

những hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp củaVKSND

Mục đích của hoạt động Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS lànhằm bảo đảm cho các hành vi xử sự của các chủ thể tiến hành, tham gia tố tụng

và văn bản áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dân sự được thực hiện theo quyđịnh của pháp luật

Nội dung hoạt động Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là việcVKSND sử dụng các biện pháp, quyền năng pháp lý do BLTTDS quy định đểkịp thời phát hiện và loại bỏ vi phạm, tiêu cực của cơ quan, người tiến hành tốtụng và những người tham gia tố tụng, nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấphành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích côngcộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự

Với những phân tích trên đây, có thể đưa ra định nghĩa về nguyên tắc Kiểmsát việc tuân theo pháp luật trong TTDS như sau:

Nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là tư tưởng chỉđạo, xuyên suốt trong quá trình TTDS; là cơ chế pháp lý (kiểm tra, giám sát) dochủ thể VKSND thực hiện thông qua việc sử dụng các biện pháp, quyền năngpháp lý do pháp luật TTDS quy định để ngăn ngừa, phát hiện và loại bỏ viphạm, tiêu cực của cơ quan, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tốtụng nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng, kịp thời vàđúng quy định của pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng,quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự

Từ định nghĩa này, có thể rút ra năm đặc điểm của nguyên tắc Kiểm sátviệc tuân theo pháp luật trong TTDS:

- Là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình giải quyết các vụ việc dân sự.Quá trình tố tụng kéo dài từ khi toà án thụ lý vụ việc dân sự cho đến khi cóphán quyết giải quyết hoặc chấm dứt tranh chấp Quá trình này đòi hỏi phải có

cơ chế pháp lý (kiểm tra, giám sát) bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sựnhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật Vì vậy, nguyên tắc Kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong TTDS là một trong những nguyên tắc chỉ đạo cho hầu hết

24

Trang 25

các giai đoạn, hành vi tố tụng; được xây dựng dựa trên chức năng “kiểm sát hoạtđộng tư pháp” của VKSND trong TTDS.

- Được ghi nhận và thể hiện thông qua các quy phạm của pháp luật TTDS.Khi xây dựng pháp luật, nhất là việc soạn thảo dự án luật, những nguyêntắc cơ bản như là những rường cột hoạch định khung cấu trúc của cả dự án luật.Việc xác định rõ những nguyên tắc cũng là bước đầu tiên của hoạt động xâydựng, soạn thảo pháp luật Như vậy, từ nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo phápluật trong TTDS, nhà làm luật sẽ tiến hành xây dựng những chế định và điềukhoản để cụ thể hóa nguyên tắc này, để việc Kiểm sát viêc tuân theo pháp luậtđược thể hiện xuyên suốt quá trình giải quyết các vụ việc dân sự Những quyđịnh của phần nội dung cụ thể hoặc những văn bản hướng dẫn có hiệu lực phápluật thấp hơn không được trái với nguyên tắc này Nếu trái thì những văn bản đó

sẽ bị bãi bỏ hoặc Tòa án mặc nhiên không áp dụng

- Là cơ chế pháp lý (kiểm tra, giám sát trong TTDS) do chủ thể VKSNDthực hiện

VKSND là cơ quan thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát trong quá trìnhgiải quyết vụ việc dân sự Chức năng này được Nhà nước trao quyền choVKSND thực hiện và được ghi nhận trong các bản Hiến pháp, các Luật Tổ chứcVKSND đồng thời được cụ thể hóa trong BLTTDS Nếu như trong tố tụng hình

sự là khi có sự tham gia của Nhà nước, với mối quan hệ một bên là Nhà nước,một bên là công dân, vai trò của VKS là thực hành quyền công tố nghĩa là thựchiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, thì trong TTDS khôngthực hiện quyền công tố mà chỉ thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp.Mặc dù, dân sự là việc của đôi bên nhưng việc tự định đoạt của đôi bên hoặc khiđôi bên không tự thỏa thuận được mà phải do Tòa án giải quyết đều phải đúngvới đường lối, chính sách và pháp luật, phù hợp với phong tục, truyền thống vàđạo đức xã hội Vì thế, việc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyếtcác vụ việc dân sự là tất yếu khách quan, nhằm đảm bảo pháp chế thống nhất,nhằm kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự

25

Trang 26

để đảm bảo lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên trongquan hệ dân sự.

- Nội dung là việc sử dụng các biện pháp, quyền năng pháp lý do BLTTDSquy định để ngăn ngừa, phát hiện và loại bỏ vi phạm, tiêu cực của cơ quan,người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng

Khi thực hiện chức năng Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt độnggiải quyết vụ việc dân sự của TAND, VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sátthông bảo, quyết định và các văn bản có liên quan đến việc giải quyết vụ việcdân sự của Tòa án; kiểm sát việc chuyển giao các loại văn bản trên của Tòa án

có đúng quy định của BLTTDS hay không… Qua đó góp phần hoàn thiện, hạnchế những tiêu cực, sai sót trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa

án, đồng thời góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của những người tiếnhành tố tụng khi giải quyết các vụ việc dân sự

- Mục đích là nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự đúng pháp luật,bảo đảm công bằng và bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền vàlợi ích hợp pháp của các đương sự

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự giúp pháthiện ra các vi phạm, sai lầm trong tố tụng, các phán quyết của Tòa án từ đó kiếnnghị, kháng nghị để giúp Tòa án nhận ra các sai lầm mắc phải và khắc phục cácsai lầm đó Việc kiểm tra, giám sát làm cho Tòa án phải có ý thức thực hiệnđúng theo quy định của pháp luật, từ đó bảo vệ được quyền và lợi ích hợp phápcủa các đương sự

Thực tiễn TTDS cho thấy, khi tham gia tố tụng có nhiều đương sự ít amhiểu pháp luật, tin tuyệt đối vào các phán quyết của Tòa án mà không thể nhận

ra được các sai lầm, vi phạm trong các bản án, quyết định đó của Tòa án Vì vậyVKSND với chức năng của mình Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong cácthủ tục, phán quyết đó giúp bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của cácđương sự, giúp việc thực thi pháp luật được chính xác, bảo vệ trật tự công cộngtrong hoạt động của cơ quan nhà nước

Ý nghĩa của nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng

26

Trang 27

dân sự

Việc ghi nhận Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là một trongnhững nguyên tắc cơ bản của TTDS có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện ở các nộidung sau đây:

Trước hết, nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật có ý nghĩa to lớntrong việc bảo vệ tính thượng tôn của pháp luật Đây là mục đích được xác địnhngay từ đầu khi thành lập cơ quan kiểm sát và vai trò này luôn được khẳng địnhqua các lần sửa đổi, bổ sung luật Trong hệ thống bộ máy nhà nước, VKSND cóchức năng Kiểm sát việc tuân theo pháp luật cho thấy tầm quan trọng củaVKSND trong đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất.Nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật và VKS có nhiệm vụ giám sát việc thựcthi pháp luật của cơ quan tư pháp, đảm bảo pháp luật được tôn trọng trong cáchoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và của những người tham gia tố tụng.Không chỉ vậy, nguyên tắc góp phần hoàn hiện, hạn chế những tiêu cực, saisót trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án, đồng thời góp phầnnâng cao tinh thần trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng khi giải quyếtcác vụ việc dân sự Nguyên tắc này chống sự lạm quyền của TAND là cơ quanduy nhất nhân danh Nhà nước thực hiện quyền tư pháp quốc gia tiến hành cáchoạt động xét xử Với uy tín và vị thế đặc biệt của Nhà nước nên yêu cầu đặt ra

là tất cả mọi hoạt động của Tòa án – cơ quan đại diện cho quyền lực Nhà nướcphải tuân thủ pháp luật vì thế sự bố trí của nguyên tắc này trong BLTTDS đượccoi là nguyên tắc chỉ đạo toàn bộ hoạt động của Tòa án Nguyên tắc khẳng địnhvai trò của VKS trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, từ đó đảm bảogiải quyết vụ việc dân sự ở Tòa án các cấp được nhanh chóng, khách quan, toàndiện, đầy đủ và kip thời; bảo đảm mọi bản án quyết định của Tòa án có căn cứ

và đúng pháp luật; bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệulực pháp luật được đưa ra thi hành đúng pháp luật

BLTTDS quy định Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử phải độc lập

và chỉ tuân theo pháp luật, bên cạnh đó lại quy định quyền quyết định và tự địnhđoạt của đương sự Muốn đảm bảo được những điều đó thì nhất thiết phải có sự

27

Trang 28

kiểm sát của VKSND, bởi hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng donhiều nguyên nhân khác nhau có thể không được khách quan Nhiều khi vì lý dolịch sử để lại, không phải người tiến hành tố tụng nào cũng nhận thức vấn đềgiống nhau, do đó cần sự giám sát của VKSND để đảm bảo cho hoạt động tốtụng đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

Cuối cùng, nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đặc biệt là quyền con người, quyền công dân củacác đương sự Có thể nói, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyềncông dân là tư tưởng xuyên suốt trong Hiến pháp năm 2013 cũng như trong cảBLTTDS Quyền con người và quyền công dân là quyền nói chung trong luậtnhà nước Trong TTDS, bảo đảm quyền con người, quyền công dân tức là bảođảm các quyền khởi kiện của đương sự; quyền được cung cấp chứng cứ; quyềnđược thỏa thuận trong hoạt động hòa giải; quyền được tranh luận tại phiên tòa;quyền được phản đối bản án, quyết định của Tòa án… Nguyên tắc Kiểm sát việctuân theo pháp luật trong TTDS chính là bảo đảm quyền con người trong TTDSphải được tiếp cận trong tổng thể quyền dân sự của con người, gắn với toàn bộquá trình TTDS: từ giai đoạn khởi kiện, nộp án phí, thụ lý đến giai đoạn xét xử,

ra quyết định xét xử, ra bản án và thi hành án dân sự Đây chính là cơ chế pháp

lý (kiểm tra, giám sát) bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng,kịp thời, đúng pháp luật; đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án có căn cứ

và đúng pháp luật

CHƯƠNG II CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

9 Phân tích ý nghĩa, căn cứ, thẩm quyền, thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự.

Để giải quyết đúng đắn các vụ việc dân sự, sự vô tư của những người tiếnhành tố tụng trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn là điều rất quan trọng Vì

28

Trang 29

vậy, pháp luật quy định những người tiến hành tố tụng dân sự phải từ chối tiến

hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp có thể dẫn đến sự không

vô tư của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn

Các căn cứ để thay đổi người tiến hành tố tụng

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì có 03 căn cứ đểthay đổi người tiến hành tố tụng là:

(i) Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đươngsự;

(ii) Họ đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ

án đó;

(iii) Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệmvụ.”

Ngoài những căn cứ chung trên, dựa vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,

vị trí tham gia tố tụng của từng người tham gia tố tụng mà pháp luật còn có thêmnhững quy định về việc thay đổi người tiến hành tố tụng đối với từng vị trí cụthể

Một là, căn cứ thay đổi Kiểm sát viên

Căn cứ thay đổi kiểm sát viên bao gồm 03 căn cứ chung nêu trên và thêmmột căn cứ nữa là: "Họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách

là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án"

Hai là, căn cứ thay đổi thẩm phán, hội thẩm nhân dân

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, ngoài những căn cứ chung, việcthay đổi thẩm phán, hội thẩm nhân dân còn được thực hiện khi có một trong cáccăn cứ sau:

(i) Họ cùng trong một Hội đồng xét xử là người thân thích với nhau;

29

Trang 30

(ii) Họ đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám độc thẩm hoặc táithẩm vụ án đó, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán tòa án nhân dân cấp tỉnh thì vẫn được thamgia xét xử nhiều lần cùng một vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;

(iii) Họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm sátviên, Thư ký Toà án

Ba là, căn cứ thay đổi thư kí tòa áncũng như những vị trí tiến hành tố tụngkhác, ngoài những căn cứ chung thư ký Tòa án cũng có những căn cứ riêng đểthay đổi khi tiến hành tố tụng, đó là: "Họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ

án đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký Toàán"

Thẩm quyền và thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng

Hiện nay, thủ tục, thẩm quyền thay đổi người tiến hành tố tụng trong giảiquyết vụ án dân sự được thực hiện theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự

2015 Thẩm quyền và thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng được thực hiện ởtrước phiên tòa và tại phiên tòa có sự khác nhau nhất định Vì giải quyết vụ ándân sự trước phiên tòa do thẩm phán thực hiện, ở tại phiên tòa do hội đồng xét

xử thực hiện Việc thay đổi thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư kí tòa án trướckhi mở phiên tòa do chánh án tòa án quyết định Nếu thẩm phán bị thay đổi làchánh án thì chánh án tòa án cấp trên trực tiếp quyết định Việc thay đổi kiểmsát viên trước phiên tòa do viện trưởng viện kiểm sát quyết định Nếu người bịthay đổi là viện trưởng viện kiểm sát thì viện trưởng viện kiểm sát cấp trên trựctiếp quyết định Việc thay đổi thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên, thư

kí tòa án tại phiên tòa do hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến củangười bị yêu cầu thay đổi

Để đảm bảo tính minh bạch của các hoạt động tố tụng dân sự, việc thay đổingười tiến hành tố tụng phải được thực hiện bằng văn bản Trước khi mở phiên

30

Trang 31

tòa nếu từ chối hoặc yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng thì người từ chốihoặc người có yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng phải làm văn bản, trong

đó nêu rõ lý do và căn cứ từ chối hoặc yêu cầu thay đổi Tại phiên tòa, việc từchối hoặc yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng phải được ghi và biên bảnphiên tòa Người có thẩm quyền quyết định giải quyết việc thay đổi người tiếnhành tố tụng bằng văn bản

10 Trường hợp nào Kiểm sát viên, thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi?

Theo quy định tại Điều 52 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì:

“Người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổitrong những trường hợp sau đây:

1 Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đươngsự

2 Họ đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trongcùng vụ việc đó

3 Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệmvụ.”

Ngoài những căn cứ chung trên, dựa vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,

vị trí tham gia tố tụng của từng người tham gia tố tụng mà pháp luật còn có thêmnhững quy định về việc thay đổi người tiến hành tố tụng đối với từng vị trí cụthể

Thứ nhất, thay đổi Kiểm sát viên khi:

Ngoài những căn cứ chung trên, việc thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viêncòn được thực hiện khi có một trong các căn cứ sau:

31

Trang 32

(i) Họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ việc đó với tư cách làThẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên,Kiểm tra viên.

Thứ hai, thay đổi thư ký Tòa án khi:

Ngoài những căn cứ chung trên, việc thay đổi Thư ký Tòa án, Thẩm traviên còn được thực hiện khi có một trong các căn cứ sau:

(i) Họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ việc đó với tư cách là Thẩmphán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểmtra viên

(ii) Là người thân thích với một trong những người tiến hành tố tụng kháctrong vụ việc đó

11 Phân tích các điều kiện để xác định tư cách của “nguyên đơn” trong

vụ án dân sự Cho ví dụ minh họa.

Để trở thành nguyên đơn thì cá nhân, cơ quan, tổ chức phải đáp ứng nhữngyêu cầu sau:

- Thứ nhất: khi các chủ thể cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bịxâm hại Điều này cho thấy việc nguyên đơn tham gia tố tụng mang tính chủđộng, khi nhận thấy quyền lợi của bản thân bị xâm hại chủ thể tự mình yêu cầu

cơ quan chức năng bảo vệ quyền lợi cho mình Nó trái ngượi lại với tính bị độngcủa bị đơn khi tham gia tố tụng Việc yêu cầu bảo vệ quyền lợi bị xâm hại xuấtphát từ ý chí chủ quan của nguyên đơn Vì việc xác định quyền lợi của chủ thể

có bị xâm hại hay không thì phải được khẳng định trong các bản án, quyết địnhcủa TA có hiệu lực Khi bản án, quyết định của TA chưa có hiệu lực pháp luậtkhẳng định vấn đề đó, thì quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn mới chỉdừng lại là giả thiết bị xâm phạm Về nguyên tắc, quyền lợi chỉ có thể có đượchoặc bị xâm phạm khi khi các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung(quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình…) mà nguyên đơn là một bên chủ thể

32

Trang 33

- Thứ hai: Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi Để tham gia vàoquan hệ pháp luật TTDS thì nguyên đơn phải có năng lực pháp luật và năng lựchành vi TTDS Vì ngoài việc có khả năng pháp luật quy đingj nguyên đơn cònphải tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ TTDS hoặc ủy quyền cho người đạidiện tham gia tố tụng lúc đó họ trở thanh nguyên đơn.

- Thứ ba: Các chủ thể trở thành nguyên đơn khi yêu cầu TA bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng, lợi ích thuộc lĩnh vực mìnhphụ trách: Đối với chủ thể là cá nhân có năng lực hành vi TTDS đầy đủ hoặc cơquan, tổ chức thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự được

TA thụ lý thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức đó trở thành nguyên đơn Trườnghợp cá nhân không có năng lực hành vi TTDS đầy đủ mà được người đại diệnhợp pháp của người này thì người được bảo vệ quyền lợi cũng được xác định lànguyên đơn Việc quy định nhiều chủ thể có thể trở thành nguyên đơn cho thấy

sự quan tâm của pháp luật tới việc đảm bảo lợi ích của mọi chủ thể trong xã hội

- Thứ tư: Đơn khởi kiện Để khởi kiện và xác định tư cách là nguyên đơnthì chủ thể phải có đơn khởi kiện và và gửi đơn kiện tới TA Tư cách của chủ thểđược xác định là nguyên đơn hành vi chủ thể gửi đơn tới Tòa và TA thụ ly đơnkhởi kiện Đơn khởi kiện phải đầy đủ nội dung được quy định tại khoản 2 Điều

164 BLTTDS

Trong trường hợp cả hai bên chủ thể của một quan hệ pháp luật nội dungtrong tranh chấp mà cùng khởi kiện để yêu cầu TA giải quyết quan hệ nội dungtranh chấp đó thì TA thụ lý đơn khởi kiện của bên nào trước thì bên đó được xácđịnh là nguyên đơn

Ví dụ: A đưa cho B 900.000 triệu đồng để nhờ xin việc, sau đó B không xinđược việc cho A cũng không trả lại tiền cho A.,A làm đơn khởi kiện/tố cáo B vềhành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình.,Lúc này, A chính là nguyên đơndân sự

33

Trang 34

12 Phân tích các điều kiện để xác định tư cách của “bị đơn” trong vụ án dân sự Cho ví dụ minh họa.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xác định là bị đơn trong vụ án dân sự khi đápứng được điều kiện sau:

- Thứ nhất: là người bị nguyên đơn theo của BLTTDS khởi kiện Xét vềtính chất việc tham gia tố tụng cảu bị đơn mang tính thụ động, do bị bắt buộctham gia tố tụng Họ tham gia tố tụng không phải do họ gửi đơn khởi kiên tới

TA mà buộc phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn Điềunày trái ngược với tính chủ động của nguyên đơn gửi đơn tói Tòa khi nhận thấyquyền lợi bị xâm hại cùng lúc với việc nguyên đơn khởi kiện vụ án dân sự tại

TA thì bị đơn cũng được xác lập, đó là người mà nguyên đơn cho rằng đã xâmphạm đến quyền lợi của mình và khi xét xử thì bị đơn được triệu tập nhằm giảiquyết quyền lợi của nguyên đơn Bị đơn tham gia tố tụng để trả lời về việc kiện

do bị nguyên đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật

- Thứ hai: có năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự

Cũng giống như nguyên đơn, bị đơn cũng phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu vềnăng lực chủ thể tham gia tố tụng Vì quá trình giải quyết vụ án dân sự là mộtquá trình phức tạp bao gồm nhiều thủ tục, nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau,trong đó bị đơn có thể tham gia vào tất cả các giai đoạn khác nhau của quá trình

đó để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng Thông thường cá nhân đượccoi là có năng lực hành vi TTDS khi đã đủ 18 tuổi trở lên, không bị mất nănglực hành vi dân sự Đối với người chưa đủ 18 tuổi, người bị mất năng lực hành

vi dân sự thì người đại diện hợp pháp của họ là người thay mặt họ để thực hiệnnhững quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự trước TA (khoản 4, 5, 6 Điều 72 BLTTDS)

Thứ ba: Bị đơn là người được giả thiết là có tranh chấp hay vi phạm đếnquyền lợi của nguyên đơn Bị đơn được xác định cùng với nguyên đơn khởi kiện

vụ án dân sự tại Tòa Nguyên đơn trong vụ án dấn sự là người giả thiết cho rằngquyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, tranh chấp nên bị đơn cũng làngười được giả thiết xâm phậm quyền lợi của nguyên đơn Việc xác định quyền

34

Trang 35

lợi của bị đơn có xâm phạm đến quyền lợi của nguyên đơn hay không phải dựavào quyết định của TA.

13 Phân tích các điều kiện để xác định tư cách của “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” trong vụ án dân sự Cho ví dụ minh họa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác với nguyên đơn và bị đơn, họkhông phải là người khởi kiện cũng không phải là người bị kiện Việc tham gia

tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự có thể do

họ chủ động hoặc theo yêu cầu của đương sự khác hoặc theo yêu cầu của TA

Do đó để có thể xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ ándân sự mà TA đang giải quyết, đồng thời phải được TA đưa họ vào tham gia tốtụng do thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của chính họ

Một trong những căn cứ chủ yếu để có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thamgia tố tụng là quyền đòi bồi hoàn như: quyền của chủ phương tiện đối với ngườilái xe của họ trong trường hợp chủ phương tiện phải bồi thường cho người bị hại

do người lái xe gây ra; quyền và nghĩa vụ của người thứ ba liên quan khi giảiquyết chia tài sản chung với vợ chồng…

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có hai loại: người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quankhông có yêu cầu độc lập hay còn gọi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quantham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vào vụ án dân sự đã xảy ra giữa nguyênđơn và bị đơn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, việc tham gia tố tụngcủa họ độc lập với nguyên đơn, bị đơn Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

có yêu cầu độc lập cho rằng đối tượng, phần đối tượng tranh chấp giữa nguyênđơn và bị đơn là thuộc về họ chứ không phải thuộc về nguyên đơn hay bị đơn

Do vậy, yêu cầu của họ chỉ chống nguyên đơn hoặc chỉ chống lại bị đơn Tuynhiên trong mọi trường hợp yêu cầu của họ đều độc lập với yêu cầu của nguyênđơn, bị đơn và không phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn Vì có yêu

35

Trang 36

cầu độc lập với cả nguyên đơn và bị đơn, do vậy thông thường người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có đủ điều kiện pháp lý để kiện vụ ándân sự để TA giải quyết yêu cầu của mình, nhưng do vụ án dân sự đã phát sinhgiữa nguyên đơn và bị đơn, nên họ phải tham gia tố tụng để để bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của mình, nếu không tham gia ngay vào vụ án dân sự đã phátsinh giữa nguyên đơn và bị đơn mà khởi kiện thành vụ án dân sự khác để bảo vệquyền lợi cho mình thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ sau đó sẽgặp khó khăn phức tạp hơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phíanguyên đơn hoặc bị đơn là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vào

vụ án đã xảy ra giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa mình thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cảu họ luôn phụ thuộc vàoviệc tham gia tố tụng của nguyên đơn hoặc bị đơn

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phíanguyên đơn và bị đơn do có quyền, lợi ích luôn phụ thuộc và gắn liền với quyền

và lợi ích cảu nguyên đơn hoặc bị đơn nên họ không thể đưa ra yêu cầu độc lậpvới yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn mà yêu cầu của họ bao giờ cũng đi kèm vàphụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn hoặc bị đơn Vì vậy, họ không thể khởikiện để TA giải quyết mà quyền lợi của họ sẽ được giải quyết ngay trong vụ án

đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn

Ví dụ: A cho B mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp vayvốn tại ngân hàng C, sau đó A khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng thế chấpgiữa B và ngân hàng C do những sai phạm trong ký kết hợp đồng thế chấp.Trong trường hợp này, A là người khởi kiện, ngân hàng C là bên bị kiện; B làngười có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

14 Điều kiện để trở thành “người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp” của đương sự Phạm vi tham gia?

36

Trang 37

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tốtụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi có yêu cầu củađương sự và được Toà án đồng ý Người đó có thể là luật sư, trợ giúp viên pháp

lý, đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động, công dân Việt Nam, Ngườibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương giúp đương sự nhận thức đúngquyền, nghĩa vụ của mình và bảo vệ các quyền lợi đó trước Toà án khi có sự viphạm thông qua việc xác minh, thu thập chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ, tham giatại phiên toà,…Do đó, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sựtrước hết phải là người am hiểu pháp luật Bởi lẽ chỉ khi hiểu rõ về quy địnhpháp luật thì họ mới có thể bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp cho đương sự mộtcách tốt và thành công nhất Ngoải ra, người đó còn phải đáp ứng đủ các điềukiện tham gia tố tụng dân sự theo quy định pháp luật

Những người sau đây được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự khi có yêu cầu của đương sự và được Tòa án làm thủ tục đăng kýngười bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:

a) Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư;

b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý theo quyđịnh của pháp luật về trợ giúp pháp lý;

c) Đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động là người bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của người lao động trong vụ việc lao động theo quy định củapháp luật về lao động, công đoàn;

d) Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không có án tíchhoặc đã được xóa án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử

lý hành chính; không phải là cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, Việnkiểm sát và công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an

15 Điều kiện để trở thành “người làm chứng” Phạm vi tham gia?

37

Trang 38

Người làm chứng phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vidân sự đầy đủ và không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ liên quan đến việc côngchứng.

Người làm chứng do người yêu cầu công chứng mời, nếu người yêu cầucông chứng không mời được thì công chứng viên chỉ định”

Người làm chứng phải là người không thuộc các trường hợp sau:

(i) Người không có khả năng nhận thức được hành vi của mình

(ii) Người bị mất năng lực hành vi dân sự

(ii) Người có nhược điểm về thể chất không thể nhận thức được sự việc.Phạm vi: Bất cử người nào biết được các tình tiết của vụ việc dân sự đều cóthể tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng để làm rõ vụ việc dân sự.Tuy nhiên, đối với những người không có khả năng nhận thức được hành vicủa mình như người chưa thành niên còn quá nhỏ tuổi, người bị mất năng lựchành vi dân sự, người có nhược điểm về thể chất không thể nhận thức được

sự việc thì không thể làm chứng được

16 Điều kiện để trở thành “người giám định” Phạm vi tham gia?

Người giám định phải có kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn cần thiết vềlĩnh vực cần giám định Việc tham gia tố tụng dân sự của người giám định dotòa án quyết định theo yêu cầu của đương sự

Phạm vi: là người có kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹthuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến vụviệc dân sự

17 Điều kiện để trở thành “người phiên dịch” Phạm vi tham gia?

Người phiên dịch là người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếngViệt và ngược lại trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng

38

Trang 39

được tiếng Việt Người biết chữ của người khuyết tật nhìn hoặc biết nghe, nóibằng ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật nghe, nói cũng được coi là ngườiphiên dịch.

Phạm vi: người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt vàngược lại trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếngViệt

20/ Điều kiện để trở thành “người đại diện” Phạm vi tham gia?

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, người đại diện trong tốtụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủyquyền Họ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự Theo đó, người đại diện theo pháp luật của cá nhân bao gồm các trường hợpsau, trừ trường hợp người bị hạn chế quyền đại diện theo quy định tại Điều 87

Bộ luật Tố tụng Dân sự:

_Cha, mẹ đối với con chưa thành niên

_Người giám hộ đối với người được giám hộ Người giám hộ của người có khókhăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được_Tòa án chỉ định

_Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đạidiện theo hai trường hợp trên

_Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự là người đại diện theo ủyquyền được quy định trong Bộ luật Dân sự Theo đó, người đại diện theo ủyquyền của các nhân bao gồm các trường hợp sau:

_Cá nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giaodịch dân sự

39

Trang 40

_Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diệntheo ủy quyền, ngoại trừ trường hợp pháp luật quy định các giao dịch dân sựphải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.

Phạm vi tham gia của người đại diện của đương sự

(1)Người đại diện theo pháp luật của đương sự đương nhiên được tham gia tốtụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự khi xét thấy cần thiết.Phạm vi tham gia tố tụng của họ không bị hạn chế trong các loại việc

(2)Người đại diện do Tòa án chỉ định tham gia tố tụng từ khi có quyết định củaTòa án chỉ định họ đại diện cho đương sự Phạm vi tham gia tố tụng của ngườiđại diện do Tòa án chỉ định không bị hạn chế trong các loại việc

(3)Người đại diện theo ủy quyền: Do đương sự có thể ủy quyền cho người đạidiện thực hiện toàn bộ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình Tuy vậy, do tínhchất, yêu cầu của việc giải quyết vụ việc dân sự, sau khi ủy quyền cho người đạidiện đương sự vẫn có quyền tham gia tố tụng để bổ sung cho hoạt động củangười được ủy quyền Đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện tham gia tốtụng trong các loại việc trừ việc ly hôn

21/ Phân biệt “người đại diện theo pháp luật” với “người đại diện theo ủy quyền” của đương sự.

ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT

(Điều 136,137 BLDS 2015)

Khái niệm

40

Ngày đăng: 07/01/2024, 19:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình   thức   giải - Câu hỏi ôn tập và bài tập có đáp án tình huống của luật tố tụng dân sự
nh thức giải (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w